1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông

128 1,7K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, khi dạy- học phần này, đòi hỏi có những phương pháp dạy học phù hợp, để có thể giúp học sinh hình thành, khắc sâu các kiến thức một cách chủ động, nâng cao hiệu quả việc học tập;

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN PHẦN SINH THÁI HỌC -

SINH HỌC LỚP 12- TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN PHẦN SINH THÁI HỌC

SINH HỌC LỚP 12- TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN SINH HỌC)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thế Hưng

HÀ NỘI – 2012

Trang 3

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các chữ viết tắt ii

Danh mục các bảng iii

Danh mục các hình iv

Mục lục v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ……… 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Cơ sở lý luận của các phương pháp dạy học tích cực 6

1.1.2 Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án 13

1.2 Cơ sở thực tiễn 47

1.2.1 Thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy chương trình Sinh học ở các trường THPT huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình 47

1.2.2 Thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học Sinh học ở các trường THPT huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình 49

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC - SINH HỌC 12……….53

2.1 Phân tích chương trình Sinh học 12 53

2.1.1 Cấu trúc chương trình sinh học 12 53

2.1.2 Mục tiêu chương trình sinh học 12 56

2.1.3 Nội dung chương trình sinh học 12 57

Trang 4

2.1.4 Cấu trúc, mục tiêu, nội dung, vị trí phần Sinh thái học - Sinh học 12 60

2.2 Thiết kế và tổ chức dạy học dự án phần Sinh thái học (Sinh học 12) 63

2.2.1 Quy trình dạy học dự án 63

2.2.2 Các nội dung tổ chức dạy học theo dự án trong phần Sinh thái học (Sinh học 12) 68

2.2.3 Xây dựng công cụ đánh giá sản phẩm của học sinh 84

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 88

3.1 Mục đích thực nghiệm 88

3.2 Tổ chức thực nghiệm 88

3.3 Kết quả thực nghiệm 91

3.3.1 Sản phẩm của dự án 92

3.3.2 Bài kiếm tra học sinh 93

3.3.3 Phiếu điều tra sau học tập 94

3.4 Đánh giá thực nghiệm 97

3.4.1 Các phân tích định tính 97

3.4.2 Các phân tích định lượng 98

Kết luận và khuyến nghị 101

Tài liệu tham khảo 103

Phụ lục 105

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh đặc trưng của PPDH truyền thống và PPDH mới 8

Bảng 1.2 Các mức độ nhận thức theo Bloom 11

Bảng 1.3 Các loại dự án học tập 15

Bảng 1.4 Kết quả điều tra thực trạng vận dụng các PPDH tích cực 47

Bảng 1.5 Kết quả điều tra thực trạng vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học Sinh học THPT 49

Bảng 2.1 Cấu trúc, mục tiêu, nội dung chương trình Sinh thái học (Sinh học12) 60

Bảng 2.2 Các nội dung đánh giá sản phẩm học sinh 84

Bảng 2.3 Các tiêu chí đánh giá sản phẩm học sinh 85

Bảng 3.1 Kết quả thực hiện dự án của các nhóm 92

Bảng 3.2 Kết quả các bài kiểm tra ở lớp thí nghiệm và lớp đối chứng 93

Bảng 3.3 Kết quả điều tra sau học tập về việc vận dụng phương pháp dạy học theo dự án phần Sinh thái học ( Sinh học 12) 94

Bảng 3.4 Kết quả các bài kiểm tra của lớp thí nghiệm và lớp đối chứng 98

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Các đặc điểm của dạy học theo dự án 18

Hình 1.2 Tỷ lệ tiếp thu trung bình với các hình thức học tập khác nhau 31

Hình 3.1 Biểu đồ điểm TB các lần kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC 98

Hình 3.2 Biểu đồ biến thiên điểm số các bài kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC 99

Hình 3.3 Biểu đồ điểm các bài kiểm tra của lớp thí nghiệm và lớp đối chứng 99

Trang 8

về phía người học Như vậy, nhiệm vụ quan trọng của người dạy là hình thành cho người học phương pháp tự học, hướng dẫn, định hướng người học tự xây dựng, củng cố, khắc sâu các kiến thức

1.2 Xuất phát từ đặc điểm môn sinh học

Hiện nay khoa học kỹ thuật có tốc độ phát triển rất nhanh chóng Trong sự phát triển chung đó, Sinh học thuộc nhóm ngành khoa học có tốc độ gia tăng lớn nhất

Sự gia tăng kiến thức Sinh học chi phối không nhỏ đến nội dung, chương trình dạy học sinh học trong các trường nói chung và trường Trung học phổ thông nói riêng

Do vậy rất cần một phương pháp dạy- học thực sự có chất lượng, hiệu quả, giúp người học có thể tự học suốt đời, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện nay

Sinh học là một ngành khoa học thực nghiệm, kiến thức sinh học xuất phát từ đời sống sản xuất và được ứng dụng mạnh mẽ vào thực tiễn sản xuất Phần Sinh thái học (Sinh học 12) theo chương trình cải cách được bổ sung rất nhiều kiến thức mới

và hiện đại Cấu trúc chương trình phần này được thể hiện từ cấp độ cá thể  quần thể  quần xã  Hệ sinh thái  Sinh quuyển, có rất nhiều kiến thức liên quan đến thực tiễn Vì vậy, khi dạy- học phần này, đòi hỏi có những phương pháp dạy học phù hợp, để có thể giúp học sinh hình thành, khắc sâu các kiến thức một cách chủ động, nâng cao hiệu quả việc học tập; Có thể áp dụng những phương pháp dạy học gắn với thực tế

1.3 Xuất phát từ thực trạng dạy và học chương trình Sinh thái học (Sinh học 12)

Trang 9

Hiện nay chương trình Sinh học Trung học phổ thông nói chung và Sinh thái học (Sinh học 12) nói riêng có nhiều đổi mới cả về cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức Vì vậy việc dạy và học bộ môn sinh học nói chung, Sinh thái học (Sinh học 12) nói riêng cần nhiều đổi mới, để phát huy được năng lực tư duy hệ thống –

tư duy, năng lực sáng tạo của học sinh nhằm giải quyết các vấn đề tiếp thu được trong tài liệu sách giáo khoa và thực tiễn cuộc sống

Việc sử dụng hình thức kiểm tra, đánh giá trong sinh học hiện nay là 100% trắc nghiệm nên học sinh còn yếu các kỹ năng: tư duy, tiếp nhận, trình bày các vấn đề, các cấu trúc kiến thức một cách hoàn chỉnh, nhất là các kỹ năng sáng tạo, phát triển các vấn đề

Cách dạy, học của một bộ phận giáo viên, học sinh ngày nay còn phiến diện, ít liên hệ với thực tế; Học sinh ít khi được giao các bài tập, công việc về nhà liên quan đến thực tế Người học thiếu các cơ hội hình thành các kỹ năng cần thiết trong nghiên cứu khoa học Do đó, sự hình thành thái độ, nhân sinh quan, thế giới quan trong cuộc sống còn chưa rõ nét

1.4 Xuất phát từ ưu điểm của dạy học theo dự án

Dạy học theo dự án là phương pháp dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm Trong suốt quá trình dạy học, người dạy hướng cho người học đạt đến mục tiêu của bài học nhưng gắn liền với thực tế Với phương pháp dạy học này, người học phải tự mình nghiên cứu, tự giải quyết các vấn đề để lĩnh hội được các kiến thức và cho ra những kết quả thực tế Do đó, dạy học theo dự án thực sự là phương pháp rất linh hoạt, tạo hứng thú cho người học Nó kích thích được sự mong muốn học tập và tự tìm hiểu kiến thức của học sinh Dạy học theo dự án còn rèn cho người học các kĩ năng cần thiết của xã hội hiện nay như kĩ năng học tập và đổi mới,

kĩ năng thu thập, xử lý thông tin, kĩ năng giao tiếp và cộng tác Đây là những kĩ năng hết sức cần thiết để học sinh Việt Nam có thể dễ dàng hòa nhập với học sinh quốc tế khi học tập, sinh hoạt cùng nhau Trong dạy học theo dự án, giáo viên chỉ là hướng dẫn viên và tham vấn khi cần để học sinh phát huy hết khả năng học tập và sáng tạo cũng như xử lý các tình huống nảy sinh trong quá trình học tập

Trang 10

Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học có đặc trưng định hướng vào người học, định hướng hoạt động, dạy học theo quan điểm tích hợp Dạy học theo dự án góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, giúp người học nâng cao năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, rèn luyện tinh thần trách nhiệm và khả năng làm việc cộng tác Thực tế cho thấy, nếu học sinh tự mình thiết kế được quá trình học tập, làm ra được các sản phẩm học tập thì hiệu quả học tập sẽ cao hơn là thụ động tiếp thu từ người dạy

Xuất phát từ viê ̣c nghiên cứu lý luâ ̣n về phương pháp dạy học và ưu điểm của dạy học dự án, từ thực tiễn công tác, chúng tôi nhâ ̣n thấy sự cấp thiết của việc nghiên cứu và đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy- học môn Sinh học Trung học phổ thông nói chung và phần Sinh thái học (Sinh học 12) nói riêng bằng phương pháp dạy học theo dự án

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh thái học (Sinh học 12) - Trung học phổ thông”

2 Mục đích nghiên cứu

Tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh thái học (Sinh học 12) - Trung học phổ thông nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, hình thành kỹ năng nghiên cứu khoa học, phát triển kỹ năng thực hành, kỹ năng tư duy bậc cao, rèn luyện khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn

3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo dự án trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12) - Trung học phổ thông

Trang 11

Các biện pháp tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh thái học (Sinh học 12) luận văn đề xuất sẽ nâng cao chất lượng dạy và học; phát huy tính tính cực, chủ động và sáng tạo của người học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học dự án: đặc điểm dạy học theo dự án, ý nghĩa của dạy học theo dự án, quá trình thiết kế và tổ chức dạy học theo dự án nhằm phát triển các hoạt động nhận thức tích cực, chủ động của học sinh

- Đánh giá thực trạng việc dạy, học phần Sinh thái học (Sinh học 12) ở một số trường Trung học phổ thông huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình

- Phân tích cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức phần Sinh thái học ( Sinh học 12)- Trung học phổ thông và các tài liệu khoa học liên quan

- Đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh thái học (Sinh học 12)- Trung học phổ thông nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

- Tổ chức dạy học dự án một số nội dung trong phần Sinh thái học (Sinh học 12)

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc phát huy tính tích cực, chủ động của người học thông qua dạy học theo dự án

6 Phạm vi nghiên cứu

Dạy học theo dự án phần Sinh thái học (Sinh học 12)- Trung học phổ thông (Ban

cơ bản)

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phân tích cơ sở lý luận về các phương pháp dạy học tích cực

- Phân tích phương pháp dạy học dự án: Khái niệm, đặc điểm, ưu nhược điểm, các loại dự án học tập, quy trình dạy học theo dự án…

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phân tích cấu trúc chương trình, sách giáo khoa, nội dung kiến thức Sinh học

12, phần Sinh thái học và các tài liệu khoa học liên quan

Trang 12

- Điều tra thực trạng việc dạy học phần Sinh thái học- Chương trình Sinh học 12

ở một số trường Trung học phổ thông huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình theo một số tiêu chí: Kết quả học tập, hứng thú của người học, tính tích cực của người học, phương pháp dạy và phương pháp học

7.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia

Phỏng vấn các giáo viên Sinh học, cán bộ lãnh đạo nhà trường và một số cán bộ, giáo viên khác

7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm sư phạm trên 2 nhóm đối tượng: nhóm đối chứng và nhóm thí nghiệm là học sinh lớp 12- Trường Trung học phổ thông Đông Tiền Hải- Huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình

7.5 Phương pháp thống kê toán học

Xử lý số liệu thu được và kiểm định giả thuyết thống kê các tham số

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Tổ chức dạy học dự án phần Sinh thái học - Sinh học 12

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

Khái niệm phương pháp dạy học tích cực: “Active teaching” là một thuật

ngữ được dùng để chỉ những PP giáo dục hay dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học; trong đó các hoạt động học tập được thực hiện và điều khiển, định hướng bởi người dạy, người học không thụ động mà tự lực lĩnh hội nội dung học tập; hoạt động học tập được thực hiện trên cơ sở hợp tác và giao tiếp trong học tập ở mức độ cao PPDH tích cực không phải là một PPDH cụ thể mà là một khái niệm rộng bao gồm nhiều PP, hình thức, kỹ thuật cụ thể khác nhau [4]

Mục đích của các PPDH tích cực: giúp người học phát huy tính tích cực, tự

giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác,

kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập; Làm cho “học” là quá trình kiến tạo; người học tìm tòi khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin tự hình thành sự hiểu biết, năng lực, phẩm chất [4]

đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức, kỹ năng mới, và

Trang 14

nắm được PP “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó, không dập khuôn theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo [4] [5]

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của người học PP tích cực xem việc rèn luyện PP học tập cho người học không chỉ

là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

Trong các PP học thì cốt lõi là PP tự học Nếu rèn luyện cho người học có được PP, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy ngày nay người ta nhấn mạnh mặt “học” trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra

sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học ngay cả trong tiết học có sự hướng dẫn của người dạy [5]

- Dạy học tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một

lớp mà trình độ kiến thức, tư duy của người học không đồng đều thì khi áp dụng PP tích cực phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến động hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi hoạt động độc lập

Trong nhà trường, PP học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ, tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn; ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ được phát triển [5]

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò Trong dạy học, việc đánh

giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của người dạy Trong PP tích cực, người dạy hướng dẫn người học phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, người dạy cần tạo điều kiện thuận lợi để người học được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho người học

Trang 15

Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với người dạy, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn

để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học [5]

- Tăng cường khả năng, kỹ năng vận dụng vào thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, về đội ngũ GV, khả năng của HS, tối ưu các điều kiện hiện

mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của người học Người dạy phải có trình độ chuyên môn sâu, rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của HS

mà nhiều khi diễn biến ngoài dự kiến của người dạy [5]

Có thể so sánh đặc trưng của PPDH truyền thống và dạy học mới như sau:

Bảng 1.1 So sánh đặc trưng của PPDH truyền thống và PPDH mới

PPDH truyền thống Các mô hình dạy học mới Quan

niệm

Học là quá trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức,

kỹ năng, tư tưởng, tình cảm

Học là quá trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất

Bản chất Truyền thụ tri thức, Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS Dạy

Trang 16

truyền thụ và chứng minh chân lý của GV

HS cách tìm ra chân lý

Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri

thức, kỹ năng, kỹ xảo

Học để đối phó với thi

cử Sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc

ít dùng đến

Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác, ) dạy PP và kỹ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển

XH

Nội dung Từ SGK, GV Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV, các

tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế gắn với:

- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của

HS

- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương

- Những vấn đề HS quan tâm Phương

pháp

Các PP diễn giải, truyền thụ kiến thức một chiều

Các PP tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương tác

Hình thức

tố chức

Cố định: Giới hạn trong 4 bức tường của lớp học, GV đối diện với cả lớp học

Cơ động, linh hoạt: học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế; học cá nhân, học đôi bạn, học theo nhóm; cả lớp đối diện với GV

Do đó những phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở trường THPT bao gồm: Dạy học vấn đáp, Dạy học giải quyết vấn đề, dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ, dạy học theo dự án [4],[5]

1.1.1.2 Lý thuyết phân loại các trình độ nhận thức của Bloom

Trang 17

Benjamin Bloom đưa ra học thuyết về phân loại tư duy chú trọng đến lĩnh vực

nhận thức trong cuốn sách “Thang phân loại tư duy” vào năm 1956 [15] Ông đã

đưa ra cách phân loại mục tiêu giáo dục theo hai lĩnh vực tri thức (cognitive

domain) và cảm xúc (affective domain) “Phân loại Bloom” được dùng như là công

cụ quan trọng trong xây dựng mục tiêu giáo dục, đo lường giáo dục, đặt câu hỏi

trong giảng dạy và nghiên cứu, xây dựng và thiết kế bài giảng cũng như hướng dẫn giảng dạy để đạt mục tiêu đã đề ra Theo Bloom, mục tiêu về kiến thức được chia

thành sáu bậc chủ yếu, sắp xếp theo mức độ tăng dần gồm Biết (Knowledge), Hiểu (Comprehension), Ứng dụng (Application), Phân tích (Analysis), Tổng hợp (Synthesis) và Đánh giá (Evaluation)

Biết (knowledge): Được định nghĩa là sự nhớ lại các dữ liệu đã học được trước đây Điều đó có nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh vực nhận thức Thường mục tiêu giáo dục không dừng ở việc dạy các tri thức thuộc mức “Biết” này

Thông hiểu (comprehension): Được định nghĩa là khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu Điều đó có thể thể hiện bằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sang dạng khác (từ các từ sang số liệu), bằng cách giải thích tài liệu (giải thích hoặc tóm tắt)

và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng) Ở mức độ này, người học phải chỉ ra các mối liên hệ giữa các khái niệm Mục tiêu giáo dục loại này đòi hỏi người học phải giải thích, phân biệt, lựa chọn cho phù hợp hay suy diễn từ các dữ kiện đã cho Kết quả học tập ở cấp độ này cao hơn so với nhớ, và là mức thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật

Ứng dụng (application): Được định nghĩa là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới Điều đó có thể bao gồm việc áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết Kết quả học tập trong lĩnh vực này đòi hỏi cấp độ thấu hiểu cao hơn so với cấp độ hiểu trên đây Phân tích (analysis): Được định nghĩa là khả năng phân chia một tài liệu ra thành các phần của nó sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó Điều

đó có thể bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích môí quan hệ giữa các bộ

Trang 18

phận, và nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm Kết quả học tập ở đây thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng vì nó đòi hỏi một sự thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu

Tổng hợp (synthesis): Được định nghĩa là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình thành một tổng thể mới Điều đó có thể bao gồm việc tạo ra một cuộc giao tiếp đơn nhất (chủ đề hoặc bài phát biểu), một kế hoạch hành động (dự án nghiên cứu), hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ để phân lớp thông tin) Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh các hành vi sáng tạo, đặc biệt tập trung chủ yếu vào việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới

Đánh giá (evaluation): Được định nghĩa là khả năng xác định giá trị của tài liệu (tuyên bố, tiểu thuyết, thơ, báo cáo nghiên cứu) Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định Đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí Kết quả học tập trong lĩnh vực này là cao nhất trong các cấp bậc nhận thức vì nó chứa các yếu tố của mọi cấp bậc khác [20]

Bảng 1.2 Các mức độ nhận thức theo Bloom

Biết Nhớ lại thông tin Xác định, miêu tả, gọi tên, phân loại,

nhận biết, mô phỏng, làm theo Hiểu Hiểu nghĩa, diễn giải khái niệm Tóm tắt lại, biến đổi, biện hộ, giải thích,

lĩnh hội, lấy ví dụ Vận

dụng

Sử dụng thông tin hay khái

niệm trong tình huống mới

Thiết lập, thực hiện, tạo dựng, mô phỏng,

dự đoán, chuẩn bị Phân tích Chia nhỏ thông và khái niệm

thành những phần nhỏ hơn để

hiểu đầy đủ hơn

So sánh/đối chiếu, phân chia, phân biệt, lựa chọn, phân tách

Tổng

hợp

Ghép các ý với nhau để tạo nên

nội dung mới

Phân loại, khái quát hoá, cấu trúc lại

Trang 19

Đánh giá Đánh giá chất lượng Đánh giá, phê bình, phán đoán, chứng

minh, tranh luận, biện hộ

Nguồn: http://www.intel.com[21]

Giống như bất cứ mô hình lý thuyết nào, phân loại tư duy của Bloom cũng có những mặt mạnh và mặt yếu Điểm mạnh nhất của nó là đã đề cập đến một chủ đề rất quan trọng về tư duy và đề ra một cấu trúc các bậc thang tư duy rất tiện lợi cho việc vận dụng Tuy nhiên, để phân loại một nhóm các câu hỏi và các hoạt động học tập dựa trên thang phân loại tư duy thì những thuật ngữ như “phân tích”, “đánh giá”

ít được thể hiện Thêm vào đó, có rất nhiều hoạt động quan trọng không thể được sắp xếp trong thang phân loại tư duy và nếu cố gắng thực hiện điều đó sẽ làm giảm thế mạnh của các cơ hội học tập Hơn nữa, sự hiểu biết về cách thức học tập của học sinh, cũng như cách thức dạy học của giáo viên đã được tăng lên rất nhiều; và các nhà giáo dục đã nhận ra rằng dạy và học chứa đựng nhiều điều hơn là chỉ có phát triển tư duy Mặt khác, các nhà giáo dục học và tâm lý học hiện nay còn nhận thấy ranh giới giữa các bậc mục tiêu nhận thức của Bloom khá mờ nhạt nên đã đề nghị

phân chia mục tiêu nhận thức ra làm 3 bậc: Bậc 1: Nhớ; Bậc 2: Hiểu, vận dụng;

Bậc 3: Tổng hợp, đánh giá Hiện nay, phần lớn các nhà sư phạm đều phân chia các

bậc mục tiêu nhận thức theo các tiêu chí này

1.1.1.3 Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của người học

Tính tích cực là khả năng biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng, là khả năng biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm

vụ, giải quyết một vấn đề nào đấy Tính tích cực học tập - về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích cực học tập là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục

Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa

đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước

Trang 20

những tình huống khó khăn Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao: Bắt chước  Tìm tòi  Sáng tạo.[22]

Xét về cơ sở sinh học của tính tích cực trong hoạt động nhận thức của người học, có thể nhận thấy quá trình thực hiện các hoạt động học tập của người học có 3 giai đoạn: Nhập dữ liệu (nghe, nhìn, đọc)  Xử lý dữ liệu (qua hoạt động của não bộ)  Xuất dữ liệu (Nói, viết, các hoạt động ngoài ngôn ngữ) Mỗi giai đoạn có những vai trò nhất định trong việc phát huy tính tích cực của học sinh Để phát huy tính tích cực ở giai đoạn nhập dữ liệu, người dạy cần phải chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng, thúc đẩy các yếu tố tích cực và hạn chế các yếu tố tiêu cực Một trong các yếu tố tích cực là động cơ học tập của học sinh Học sinh có thể học tập dưới tác động của các động cơ bên ngoài ( yêu cầu của người dạy, bạn bè, thi đua, thưởng phạt) hoặc động cơ bên trong ( hứng thú, ý thức học tập, mong muốn, khát khao…); càng lên cấp học cao hơn, động cơ bên trong càng phát huy rõ rệt hơn Do vậy, để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập cần chú ý tới tất cả các yếu tố làm nên tính tích cực của chúng

1.1.2 Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án

1.1.2.1 Khái niệm dạy học theo dự án

Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học theo dự án Dạy học theo dự án được nhiều tác giả coi là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự

án, có nhiều PPDH cụ thể được sử dụng Tuy nhiên khi không phân biệt giữa hình thức và PPDH, người ta cũng gọi là PP dự án, khi đó cần hiểu đó là PPDH theo nghĩa rộng, một PPDH phức hợp [6]

Dạy học theo dự án là phương pháp dạy học mà người dạy và người học

cùng nhau giải quyết không chỉ về mặt lý thuyết mà còn về thực tiễn một nhiệm vụ học tập có tính chất tổng hợp, tạo điều kiện cho người học cùng nhau và tự quyết trong tất cả các giai đoạn học tập, kết quả là tạo ra được một sản phẩm hoạt động nhất định; Là phương pháp dạy học mà người dạy đóng vai trò là người định hướng các nhiệm vụ học tập, định hướng quá trình thực hiện cũng như quá trình tạo ra sản phẩm, người học trực tiếp thực hiện các giai đoạn của dự án học tập; Là phương pháp dạy học mà người học không thụ động tiếp nhận kiến thức từ người dạy mà

Trang 21

chủ động tìm tòi, khám phá các kiến thức cần thiết thông qua các nhiệm vụ thực tế liên quan đến bài học

Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện

một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Sản phẩm này có thể là các báo cáo khoa học, mô hình, phần mềm, mẫu vật, tư liệu sưu tầm Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế họach, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Trong dạy học theo dự án, người học thường phải giải quyết các vấn đề khá lớn, qua nhiều công đoạn Vì vậy, làm việc nhóm là hình thức cơ bản của dạy học theo dự án Người học thực hiện nhiệm vụ học tập thông qua quá trình hợp tác với người dạy và bạn bè trong nhóm cũng như thu thập thông tin từ thực tế và nhiều nguồn khác nhau.[6]

Dạy học theo dự án là chiến lược giáo dục mà người học được cung cấp các

tài nguyên, các chỉ dẫn để áp dụng trên các tình huống cụ thể, qua đó người học tích lũy được kiến thức và khả năng giải quyết vấn đề Thông qua các dự án học tập mà nhiều mục tiêu giáo dục được thực hiện và đem lại các hiệu quả trong thời gian dài

Dạy học theo dự án là một mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Theo đó, các nhóm HS, dưới sự hướng dẫn của giáo viên mà thực hiện các nhiệm

vụ học tập một cách tự lực, độc lập qua những giai đoạn nhất định: đề xuất ý tưởng, lập kế hoạch, thực hiện ý tưởng, tạo sản phẩm, công bố sản phẩm Qua đó, giúp phát triển kiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính

mở, khuyến khích học sinh tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình Chương trình dạy học theo dự án được xây dựng dựa trên những câu hỏi định hướng quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao trong những bối cảnh thực tế [12] [14]

Tóm lại, Dạy học theo dự án vừa là PPDH vừa là hình thức, mô hình dạy học

tích cực khác với các PPDH truyền thống, trong đó các nhiệm vụ học tập, các bài học được thể hiện dưới dạng các dự án, dưới sự hướng dẫn của người dạy, các dự

án được thực hiện bởi sự cộng tác làm việc tích cực của các thành viên trong nhóm,

Trang 22

được hoàn thành dưới dạng các sản phẩm Kiến thức tự lĩnh hội được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau, làm phong phú tri thức của người học, đáp ứng các mục tiêu gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học [12] [14]

1.1.2.2 Các loại dự án học tập

Dạy học theo dự án có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Tùy theo tiêu chí phân loại, mỗi tác giả khi nghiên cứu về dạy học dự án có sự phân chia khác nhau Tiêu chí phân loại có thể là thời gian, số lượng người tham gia hoặc quy mô của dự án, v.v… Sau đây là một số cách phân loại dạy học theo dự án:

Bảng 1.3 Các loại dự án học tập Tiêu chí phân

Phân loại theo

chuyên môn

Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học

Đánh giá độ đa dạng sinh học ở rừng ngập mặn Tiền Hải

Dự án liên môn: trọng tâm nội

dung nằm ở nhiều môn khác nhau

Tìm hiểu ô nhiễm môi trường và biện pháp khắc phục

Dự án ngoài chuyên môn: Là các

dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học

Nghiên cứu các biện pháp phát triển du lịch sinh thái ven biển Tiền Hải

Phân loại theo sự

Dự án toàn lớp

Tìm hiểu mối quan hệ giữa các loài trong rừng ngập mặn Tiền Hải

Trang 23

Dự án toàn trường

Tìm hiểu vai trò của nước sạch trong đời sống con người

Phân loại theo sự

tham gia của GV

Dự án dưới sự hướng dẫn của một giáo viên

Tìm hiểu quá trình diễn thế sinh thái trong quá trình bồi tụ ven biển

Dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV

Nghiên cứu các biện pháp tạo môi trường xanh- sạch- đẹp ở địa phương

Phân loại theo quỹ

thời gian

Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học

Mối quan hệ giữa các loài trong quần xã ngập mặn Tiền Hải

Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc

40 giờ học

Nghiên cứu tình hình ô nhiễm môi trường và biện pháp khắc phục

Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)

Nghiên cứu vai trò của phi lao trong quá trình ngọt hóa đất cát ven biển

Phân loại theo

nhiệm vụ

Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng

Tìm hiểu quá trình sinh trưởng của cây vẹt trong quá trình bồi tụ ven biển

Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình

Nghiên cứu các nguồn tài nguyên ven biển

Dự án thực hành: có thể gọi là dự

án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác

Thiết kế các sản phẩm thu hút chim làm tổ trên rừng ngập mặn

Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên

Các giải pháp phòng chống ô nhiễm môi trường ven biển

Trang 24

Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong quá trình tiến hành dự án, giáo viên có thể tùy vào từng điều kiện cụ thể cũng như nội dung môn học để lựa chọn và sử dụng các loại hình trên một cách có hiệu quả

Đối với dự án môn học, quy mô trung bình hoặc nhỏ đối với chương trình THPT, phổ biến nhất là dự án nhóm hoặc dự án cá nhân, dự án trung bình [12]

1.1.2.3 Mục tiêu của dạy học theo dự án

Dạy học theo dự án nhằm vào các mục tiêu sau đây:

- Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội dung học với cuộc sống thực; Tạo ra một sản phẩm (Ví dụ: Tổ chức buổi trồng rừng ngập mặn; Tổ chức giới thiệu một sản phẩm phục vụ du lịch sinh thái; Tổ chức cuộc thi “ Hành trình sinh học” trong trường )

- Thực hành nghiên cứu (Ví dụ: Động vật và phân loại; Tác động của âm nhạc đối với bò sữa; Dự án nghiên cứu về rác và cách giảm bớt rác trong nhà trường; Nghiên cứu và so sánh cây phả hệ …)

- Giải quyết một vấn đề (Ví dụ: Làm thế nào để học sinh tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường trong nhà trường; Tại sao loài khủng long lại biến mất; Video trong dạy học sinh học …)

- Rèn luyện, phát triển nhiều kĩ năng: kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề,

kĩ năng tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, làm việc theo nhóm, kĩ năng sử dụng CNTT vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm [23]

1.1.2.4 Đặc điểm của dạy học theo dự án

Trong các tài liệu về dạy học dự án có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ 20 khi xác lập cơ sở lý thuyết cho PPDH này đã nêu ra

3 đặc điểm cốt lõi của dạy học theo dự án: định hướng người học, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của dạy học theo dự

án như sau:

Trang 25

Hình 1.1 Các đặc điểm của dạy học theo dự án

Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của

thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ dự

án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Thông qua đó, có thể kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học; dự án còn kết hợp tri thức của nhiều môn học hay lĩnh vực khác nhau để giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp Do đó, có thể nói dạy học theo dự án có đặc điểm: gắn liền với hoàn cảnh, có ý nghĩa thực tiễn xã hội, kết hợp giữa lý thuyết với thực hành

và mang nội dung tích hợp

Định hướng hứng thú người học: người học được tham gia chọn đề tài, nội

dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân, được tham gia thực hiện nhiệm vụ cũng như tạo ra các sản phẩm, do đó thúc đẩy mong muốn học tập của người học, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng và mong muốn được đánh giá Khi người học có cơ hội kiểm soát được việc học của chính mình, giá trị của việc học cũng tăng lên Cộng tác với các bạn trong nhóm, trong lớp hay tự mình giải quyết các vấn đề được giao cũng là cơ hội làm tăng hứng thú học tập của người học

Tính phức hợp: Nội dung các dự án học tập có sự kết hợp tri thức của nhiều

lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính

Trang 26

phức hợp Trong quá trình thực hiện dự án, người học phải tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau Nguồn thông tin càng phong phú, sự hiểu biết của người học càng rộng và sâu, kỹ năng vận dụng kiến thức liên môn càng thành thạo thì kết quả dự án đạt được càng cao

Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa

nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Những kiến thức lý thuyết được thấy, được thực hiện, được thể hiện qua thực

tế và các nghiên cứu thực tế của chính người học Qua các nghiên cứu thực tế mà đúc kết được các kiến thức lý thuyết Vì vậy, thông qua các dự án học tập có thể hình thành, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học

Tính tự lực cao của người học : Trong dạy học theo dự án, người học tham

gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học: Xác định mục đích,

đề xuất dự án, lập kế hoạch, thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện, trình bày kết quả dự án Mỗi giai đoạn đều đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học Người dạy chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Vì vậy vừa đòi hỏi, vừa rèn luyện tính tự lực cao của người học

Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm,

trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa người học và người dạy cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội

Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được

tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể công bố, giới thiệu, sử dụng Chính những sản phẩm này có vai trò tác động rất lớn đến quá trình học tập và hứng thú của người học [12]

Trang 27

Những đặc điểm của bài học được thiết kế theo dự án một cách hiệu quả

Có rất nhiều kiểu dự án được tiến hành trong lớp học Một dự án được coi là hiệu quả khi nó đạt được sự cân bằng giữa khả năng thực hiện của người học với ý

đồ thiết kế của giáo viên, chỉ rõ những công việc người học cần làm Những đặc điểm dưới đây sẽ giúp nhận diện rõ thế nào là bài học theo dự án hiệu quả

Học sinh là trung tâm của quá trình dạy học Bài học theo dự án được thiết

kế cẩn thận, lôi cuốn người học vào những nhiệm vụ mở và có tính thực tiễn cao Các nhiệm vụ của dự án kích thích khả năng ra quyết định, niềm cảm hứng, say mê của người học trong quá trình thực hiện và tạo ra sản phẩm cuối cùng Người học lĩnh hội kiến thức bài học thông qua việc tìm hiểu và tự quyết định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ của dự án Người dạy giữ vai trò người hỗ trợ hay hướng dẫn Người học hợp tác làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khi đảm nhận những vai trò khác nhau

Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn

Những dự án tốt được phát triển dựa trên những nội dung cốt lõi của chương trình đáp ứng các chuẩn quốc gia và địa phương Dự án có các mục tiêu rõ ràng gắn với các chuẩn và tập trung vào những hiểu biết của người học sau quá trình học Từ việc định hướng vào mục tiêu, người dạy sẽ chọn lựa hình thức dạy học phù hợp, lập kế hoạch đánh giá và tổ chức các hoạt động dạy và học Kết quả của dự án được thể hiện, kết tinh trong sản phẩm của người học và quá trình thực hiện nhiệm vụ

Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình Câu hỏi khung

chương trình sẽ giúp các dự án tập trung vào những hoạt động dạy học trọng tâm Người học được giới thiệu về dự án thông qua các câu hỏi gợi mở những ý tưởng lớn, xuyên suốt và có tính liên môn Người học sẽ buộc phải tư duy sâu hơn về các vấn đề nội dung của môn học theo các chuẩn và mục tiêu Có ba dạng câu hỏi khung chương trình: câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung Câu hỏi khái quát là các câu hỏi rộng, có tính mở, đề cập đến các ý tưởng lớn và các khái niệm xuyên suốt Các câu hỏi bài học được gắn trực tiếp với dự án, hỗ trợ việc tìm kiếm lời giải cho câu hỏi khái quát, thể hiện mức độ hiểu những khái niệm cốt lõi về

Trang 28

dự án của người học Các câu hỏi nội dung thường mang tính thực tiễn cao, bám sát các chuẩn và mục tiêu đã đề ra

Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên Ngay từ khi

triển khai dự án, các kết quả dự kiến cần phải được làm rõ và phải luôn được rà soát nhiều lần để kiểm chứng mức độ lĩnh hội bằng các phương pháp đánh giá khác nhau Học sinh sẽ được xem mẫu và hướng dẫn trước để thực hiện công việc có chất lượng nhất, và phải biết rõ điều gì đang chờ đợi ngay từ khi bắt đầu dự án Cần phải tạo cơ hội để rà sóat, phản hồi hay điều chỉnh trong suốt quá trình thực hiện dự án

Dự án có liên hệ với thực tế Dự án phải gắn với đời sống thực tế của học

sinh, có thể mời các chuyên gia ngoài cùng tham gia để tạo ra những tình huống dạy học Học sinh có thể thể hiện việc học của mình trước những đối tượng thực tế, liên

hệ với các nguồn lực cộng đồng, tham khảo các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu, hoặc trao đổi thông qua công nghệ hiện đại

Học sinh thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm hoặc quá trình thực hiện Thông thường các dự án được kết thúc với việc học sinh thể hiện thành

quả học tập của mình thông qua các bài thuyết trình, các văn bản tài liệu, các mô hình dàn dựng, các đề án hoặc thậm chí là các sự kiện mô phỏng như một hội thảo giả Những sản phẩm cuối cùng này giúp học sinh thể hiện khả năng diễn đạt và làm chủ quá trình học tập

Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của học sinh Người học

được tiếp cận với nhiều công nghệ khác nhau giúp hỗ trợ phát triển kỹ năng tư duy, cho ý kiến đánh giá về nội dung và hỗ trợ tạo ra sản phẩm cuối Với sự trợ giúp của công nghệ, học sinh tự chủ hơn với kết quả cuối cùng, có cơ hội “cá nhân hoá sản phẩm” Người học có thể cộng tác với các lớp học từ xa qua email và các trang web

tự tạo, hoặc trình bày việc học của mình qua các chương trình đa phương tiện

Kỹ năng tư duy là không thể thiếu trong làm việc theo dự án Làm việc theo

dự án sẽ hỗ trợ phát triển cả kỹ năng tư duy siêu nhận thức lẫn tư duy nhận thức như hợp tác, tự giám sát, phân tích dữ liệu, và đánh giá thông tin Trong suốt quá trình thực hiện dự án, các câu hỏi khung chương trình sẽ kích thích người học tư duy và liên hệ với các khái niệm mang ý nghĩa thực tiễn cao

Trang 29

Chiến lược dạy học đa dạng hỗ trợ phong cách học đa dạng Các chiến lược

dạy học sẽ tạo ra một môi trường học tập đa dạng hơn, thúc đẩy tư duy bậc cao hơn Những chiến lược dạy học sẽ giúp đảm bảo cho người học được tiếp cận với tòan

bộ học liệu của chương trình, tạo cơ hội thành công cho mỗi học sinh Trong giảng dạy có thể kết hợp các kỹ thuật dạy học hợp tác, làm việc nhóm, phân nhánh tổ chức, nhận xét phản hồi từ giáo viên hoặc từ bạn học [21]

1.1.2.5 Các giai đoạn của dạy học theo dự án

Dựa trên cấu trúc chung của một dự án trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế, nhiều

tác giả phân chia cấu trúc của dạy học theo dự án theo 4 giai đoạn: Quyết định, lập

kế hoạch, thực hiện, kết thúc dự án Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp,

người ta có thể chia cấu trúc của dạy học dự án làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn

Với góc độ tiếp cận theo Chương trình dạy học cho tương lai của Intel, có

thể xác định dạy học theo dự án gồm 5 giai đoạn chính như sau:

ý đến hứng thú của người học, cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài

Người dạy cũng có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học sinh lựa chọn

và cụ thể hóa Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ học sinh Giai đoạn này được K.Frey chia thành hai giai đoạn nhỏ là đề xuất ý kiến và thảo luận sáng kiến

Trang 30

Hình thành ý tưởng dự án Khi hình thành dự án thì thường kết hợp sự hình

thành ý tưởng từ yêu cầu của nội dung, mục tiêu chương trình, yêu cầu của người dạy và hứng thú của người học

Phân tích ý tưởng dự án: Các nhóm học tập phải thảo luận ý tưởng dự án có

thể phát triển thành đề án Người dạy cần khuyến khích động viên người học bày tỏ suy nghĩ thông qua việc thảo luận Các mục tiêu phân tích gồm: hứng thú của người học, giá trị đề án đối với việc đào tạo, khả năng thực hiện và giá trị sử dụng của dự

án [14]

Giai đoạn 2: Thiết kế dự án

Bước 1: Lập hồ sơ bài dạy

Xây dựng kế hoạch bài dạy Kế hoạch bài dạy thể hiện mục tiêu bài dạy theo

chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chứa đựng thông tin về người soạn bài, tổng quan về bài dạy, các phương tiện, thời gian cần thiết, những môn học có liên quan đến bài dạy, đối tượng bài dạy hướng tới, các bước tiến hành bài dạy, đánh giá học sinh Đây là phần rất quan trọng trong hồ sơ bài dạy và thể hiện nội dung quan trọng nhất của dự án Phần này thể hiện ý tưởng dự án, nhiệm vụ cụ thể của từng nhóm người học và kiến thức cơ bản của bài dạy [12]

Xây dựng bộ câu hỏi khung định hướng Bộ câu hỏi khung định hướng được

thể hiện trong kế hoạch bài dạy và có nhiệm vụ rất quan trọng Bộ câu hỏi khung định hướng tạo ra một bối cảnh học tập có ý nghĩa thông qua việc thiết lập mối liên

hệ giữa bài học và nhiều lĩnh vực khác trong thực tiễn đồng thời định hướng các dự

án học tập tập trung vào đơn vị kiến thức quan trọng Khi người học thật sự bị lôi cuốn vào việc tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi, đó là lúc các em cảm thấy thích thú với việc học Khi câu hỏi giúp người học nhận ra được mối liên hệ giữa môn học với đời sống bản thân, đó là lúc việc học trở nên có ý nghĩa Những câu hỏi này nhằm khuyến khích người học vận dụng các kĩ năng tư duy mức cao, giúp người học hiểu rõ bản chất các vấn đề và hình thành được một hệ thống kiến thức

Bộ câu hỏi khung chương trình bao gồm các loại câu hỏi: Câu hỏi khái quát,

Câu hỏi bài học và Câu hỏi nội dung [21]

Trang 31

Câu hỏi khái quát: là những câu hỏi mở, có vai trò khơi dậy tính hứng thú, sự

quan tâm của người học; có phạm vi rất rộng, bao quát toàn diện nhiều lĩnh vực, có thể liên quan đến nhiều bài học và nhiều môn học; Là những câu hỏi không có những câu trả lời cụ thể Câu hỏi khái quát mang những đặc điểm:

- Là yếu tố trọng tâm của dạy học theo dự án Những câu hỏi khái quát thường cần đến rất nhiều lĩnh vực mới có thể trả lời được và giải quyết theo những khía cạnh khác nhau và có thể được sử dụng cho nhiều thời gian nhất Những câu trả lời của chúng ngày càng tối ưu và phức tạp hơn

- Lặp lại một cách tự nhiên trong suốt quá trình học tập và lịch sử của môn học

- Từ câu hỏi khái quát dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác Những câu hỏi khái quát sẽ mở rộng vấn đề, mở rộng tính phức tạp và phong phú của chủ đề, gợi

mở hướng nghiên cứu cho cả người dạy và người học

- Giúp giáo viên tập trung vào các khía cạnh quan trọng trong chương trình suốt năm học và có ý nghĩa xuyên suốt các lĩnh vực của môn học

- Đề cập đến những ý quan trọng xuyên suốt nội dung nhiều lĩnh vực (Toán, Khoa học, Văn học, Lịch sử, v.v…)

- Tập trung vào những vấn đề, mối quan tâm, hoặc các chủ đề được đề cập trong các bài khác

- Giúp học sinh so sánh, đối chiếu và phát hiện những tương đồng Do đó, câu hỏi khái quát cần thích hợp, hấp dẫn và được đề xuất phù hợp với lứa tuổi và vốn ngôn ngữ của học sinh

- Giúp phát triển trí tưởng tượng và tạo mối liên hệ giữa môn học với kiến thức

và ý tưởng của học sinh

- Không có một câu trả lời hiển nhiên “đúng” cho câu hỏi khái quát, bởi vậy học sinh được thử thách trong việc tìm ra nhiều kết quả khác nhau Vì vậy, GV cần khuyến khích HS thảo luận và nghiên cứu chuyên sâu, đặt nền tảng cho các câu hỏi sau này

Trang 32

Ví dụ: “ Làm thế nào để con người hòa nhập cùng thiên nhiên?” có phạm vi rất rộng, cần dùng kiến thức của nhiều lĩnh vực để trả lời, có thể sử dụng trong nhiều môn học khác nhau, nhiều bài học khác nhau…

Câu hỏi bài học: Cũng là câu hỏi mở nhưng bó hẹp trong một chủ đề hoặc

bài học cụ thể, gắn với nội dung bài học cụ thể, vì vậy sẽ dễ tiếp cận hơn đối với người học Câu hỏi bài học hỗ trợ và phát triển câu hỏi khái quát Nhiều câu hỏi bài học trong một khóa học có thể khám phá ra nhiều khía cạnh khác nhau của các câu hỏi khái quát Câu hỏi bài học có những đặc điểm sau:

- Đưa ra các chỉ dẫn liên quan đến chủ đề và môn học cụ thể đối với các câu hỏi khái quát

- Câu trả lời đối với câu hỏi bài học không thuộc loại tự minh chứng Các câu hỏi bài học thường mở ra và gợi ý những hướng nghiên cứu, bàn luận; Câu hỏi bài học khai thác các phương diện, tính phức tạp phong phú của vấn đề Chúng được dùng để tranh luận chứ không phải dẫn đến một câu trả lời rõ ràng

- Được thiết kế để nhằm khuyến khích và duy trì hứng thú của người học Các câu hỏi bài học sẽ có hiệu quả hơn nếu như chúng được thiết kế với mục đích nhằm khuyến khích người học Những câu hỏi như thế thường thúc đẩy và sự tranh luận làm phương tiện để duy trì khám phá của người học Các câu hỏi nên có tính

mở để phù hợp với các sở thích khác nhau, các kiểu học khác nhau, cho phép có những câu trả lời duy nhất ứng với câu hỏi và hướng tiếp cận sáng tạo, thậm chí cả những vấn đề người dạy không đề cập

Sự khác biệt giữa câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học không quá rõ ràng Bản thân câu hỏi không xác định nó là câu hỏi khái quát hay câu hỏi bài học Một câu hỏi được sử dụng như câu hỏi khái quát hay câu hỏi bài học phụ thuộc vào việc

sử dụng nó như thế nào Ví dụ câu hỏi: “ Làm thế nào để phát triển bền vững?” Nó

có thể là câu hỏi khái quát nếu nó được sử dụng ở các lớp liên môn như Lịch sử, các lớp khoa học tự nhiên cùng thảo luận về các khía cạnh khác nhau của câu hỏi Nó có thể là câu hỏi bài học nếu nó chỉ được sử dụng trong một bài cụ thể ( Sinh thái môi trường)

Trang 33

Câu hỏi nội dung: là các câu hỏi về từng nội dung trong bài dạy Nó trực tiếp

hỗ trợ những chuẩn kiến thức, mục tiêu học tập và có những câu trả lời “đúng” cụ thể Là những câu hỏi trợ giúp quan trọng cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học

Nó yêu cầu người học trả lời dựa trên nội dung bài học cụ thể Và câu trả lời ở đây phải rõ ràng, cụ thể, thường là mệnh đề đơn Các câu hỏi này được xếp vào loại các câu hỏi “đóng”, kiểm tra khả năng ghi nhớ của người học, yêu cầu người học phải xác định: ai, cái gì, ở đâu, khi nào và chúng được sắp xếp theo tiêu chuẩn về mục

tiêu dạy học Vì thế, trong dạy học theo dự án, người dạy cần tổ chức việc hướng

dẫn của mình xoay quanh hệ thống câu hỏi nhằm kết nối những điều người học quan tâm với các chuẩn kiến thức trong chương trình để đảm bảo người học được học những nội dung và kĩ năng thích hợp Thông thường, đây là những câu hỏi liên quan đến các định nghĩa, nhận diện thông tin đã biết, nhớ lại nội dung bài học, đây cũng là những câu hỏi thường gặp trong các bài kiểm tra

Các câu hỏi định hướng bài dạy đòi hỏi người học phải nắm vững, hiểu rõ các câu hỏi nội dung, câu hỏi bài học, câu hỏi khái quát Các câu hỏi này sẽ là kim chỉ nam dẫn dắt nội dung và cách làm việc cho toàn bộ hồ sơ dạy học

Bước 2: Phân công nhiệm vụ cụ thể cho người học

Sau khi hoàn thiện hồ sơ bài dạy, giáo viên phân công rõ ràng nhiệm vụ cho

học sinh Mỗi nhóm thực hiện một phần hoặc nhiều phần cụ thể của dự án Việc phân công và giao nhiệm vụ chi tiết của các dự án là cơ sở để kiểm tra quá trình học tập của người học Người dạy phân công nhiệm vụ càng khoa học, dễ hiểu thì người học càng dễ hình dung cấu trúc của dự án Làm việc theo nhóm là một trong những cách thức làm việc hiệu quả nhất trong dạy học theo dự án

Với học sinh THPT, do đặc điểm của tiết học và chương trình học nên người dạy cần chú ý đến số lượng nhóm và số người trong từng nhóm sao cho khoa học

nhằm phát huy được tính tích cực và sáng tạo của từng cá nhân Đặc biệt, việc giao nhiệm vụ cho từng nhóm phải thật chi tiết để sẵn sàng với các vướng mắc của người học

Trong bước này, người dạy cần định hướng cho học sinh bộ công cụ hỗ trợ

dự án để học sinh có thể tiến hành thực hiện dự án Bộ công cụ hỗ trợ thực hiện dự

Trang 34

án sẽ là hướng dẫn chi tiết để người học có cơ sở hoàn thành các nhiệm vụ Bộ công

cụ cung cấp ban đầu càng đầy đủ thì quá trình làm việc của người học càng ít vướng mắc Tùy từng ý tưởng và hình thức của dự án mà người dạy xây dựng nên những

bộ công cụ hỗ trợ khác nhau Về cơ bản, công cụ hỗ trợ dự án mà người dạy cần cung cấp bao gồm: nguồn học liệu hỗ trợ cho người học và bộ tiêu chí đánh giá các sản phẩm của người học Người học sẽ được biết về các tiêu chí đánh giá trước khi

bắt tay vào thiết kế các dự án Nguồn học liệu là công cụ hỗ trợ thông tin cho giáo viên và học sinh trong suốt quá trình tiến hành dự án

Với sự hướng dẫn của người dạy và sau khi được tham khảo bài mẫu và xuất phát từ yêu cầu cụ thể của dự án, người học thảo luận xây dựng kế hoạch thực hiện

dự án Tuy nhiên, mỗi dự án có cách triển khai khác nhau song về cơ bản cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc

Một việc quan trọng nữa của người dạy là có thể xây dựng giáo án giới thiệu

dự án Giáo án cho phép người dạy hình dung cụ thể nhất về tiến trình thực hiện bài học trên lớp theo phương pháp dạy học theo dự án Nói cách khác, giáo án là một bước cụ thể hóa nữa của quy trình dạy học theo dự án đã đưa ra [23]

Giai đoạn 3: Thực hiện dự án

Trong bước này, dự án được định hình Đây là giai đoạn quan trọng nhất của dạy học theo dự án, vì đây là giai đoạn thực sự trải nghiệm của người học; Qua giai đoạn này kiến thức được hình thành, được kiểm nghiệm qua các hoạt động thực tiễn Quan trọng nhất không chỉ là kiến thức mà các kỹ năng, hành vi, thái độ đều được hình thành ở giai đoạn này và phát huy hiệu quả đến các giai đoạn sau này trong

cuộc sống

Về phía người học Với sự giúp đỡ của người dạy, người học nghiên cứu,

biến đổi hoặc tạo ra thông tin mới trong sự hợp tác để đi đến kết quả chung Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này, người học thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, các hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Người học thu thập dữ liệu, tiến hành các thí nghiệm, trao đổi và hợp tác với các bạn cùng lớp để phân tích, so sánh,

Trang 35

tính toán, tranh luận Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó, sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra

Về phía người dạy Trong quá trình này, người dạy theo dõi quá trình thực

hiện kế hoạch đã xây dựng và sự hợp tác giữa các học sinh nhằm tạo ra một cộng đồng với việc học tập là trung tâm Do vậy, người dạy cần tạo thuận lợi cho sự trao đổi thường xuyên và mở giữa các người học, tạo sự tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu hỗ trợ, sự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ học tập; tạo điều kiện để các nhóm thường xuyên đánh giá sự tiến triển của công việc và thường xuyên hướng dẫn, hỗ trợ, động viên, kích thích và điều chỉnh để cùng đạt đến đích.[23]

Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm học sinh

Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo… Trong nhiều dự án, các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm học sinh trong lớp, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội Thông thường, sản phẩm học sinh phải hoàn thành gồm:

- Bài mẫu trình bày đa phương tiện học sinh (power point)

- Bài mẫu ấn phẩm học sinh (tờ rơi, áp phích, sản phẩm thật)

- Mẫu trang web học sinh (dạng tệp Publisher hoặc dạng html)

Về phía người dạy, cần tạo mọi điều kiện thuận lợi về thời gian, phương tiện

để người học báo cáo sản phẩm Trong buổi báo cáo, người dạy vừa đóng vai trò là quan sát viên, giám khảo và đặc biệt người dạy phải tôn trọng ý kiến người học Mặt khác, kết thúc buổi báo cáo của người học, người dạy nhận xét và tổng hợp định hướng kiến thức bài học từ các sản phẩm của người học

Về phía người học, các nhóm báo cáo phải chuấn bị sẵn sàng từ phân công

nhiệm vụ báo cáo đến việc thực hiện sao cho người học phải thể hiện được :

- Ý tưởng đã sử dụng để thực hiện dự án

- Tất cả các nhiệm vụ được giao đã được hoàn thành

Trang 36

- Các thành viên trong nhóm đã tham gia vào quá trình học tập và phải trên nguyên tắc khoa học và đảm bảo về mặt thời gian Đồng thời các nhóm sẽ có sự chất vấn chéo, đánh giá chéo và tranh luận bảo vệ ý kiến Tuy nhiên, người dạy cũng phải làm chủ được quá trình thảo luận của người học[23]

Giai đoạn 5: Đánh giá dự án

Người dạy và người học đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được Việc đánh giá các sản phẩm của người học cần căn cứ vào các tiêu chí đã công bố từ trước bao gồm: công cụ đánh giá Power Point, công cụ đánh giá ấn phẩm, công cụ đánh giá trang web Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài Việc đánh giá sẽ gồm các mặt sau:

+ Nội dung (tiêu chí) – giá trị của sản phẩm là ở chỗ nào?

+ Rút ra được bài học gì? (kiến thức, kĩ năng, thái độ,…)

+ Làm việc tập thể như thế náo?

+ Sự thoải mái và tích cực tham gia ở mức độ nào?

+ Điều gì cần tiếp tục phát huy ở những lần sau?

+ Điều gì cần thay đổi? Những điểm nào cần được cải thiện?

Kế hoạch đánh giá bài học theo dự án, phải đảm bảo được:

- Sử dụng nhiều hình thức đánh giá khác nhau

- Đánh giá định kỳ trong các chu trình dạy học

- Đánh giá những mục tiêu quan trọng của bài học

- Khuyến khích học sinh tham gia trong quá trình đánh giá

Nên tích hợp đánh giá liên tục trong dạy học:

- Trước khi bắt đầu dự án, cần sử dụng dữ liệu đánh giá để xác định điểm bắt đầu bằng cách chú trọng vào những câu hỏi sau:

+ Học sinh cần chú trọng vào những kiến thức sẵn có nào?

+ Những loại hoạt động chính nào cần phải thực hiện?

+ Học sinh hoạt động nhóm như thế nào để học tập hợp tác?

- Trong suốt dự án, có thể thực hiện cùng đánh giá với học sinh để:

+ Chia sẻ mục tiêu và tiêu chuẩn học tập

Trang 37

+ Tạo cơ hội cho học sinh tự định hướng, xác lập mục tiêu, lên kế hoạch và thực hành trong quá trình học

+ Giám sát quá trình hướng đến mục đích

+ Giám sát việc học tập và mức độ thấu hiểu

+ Thúc đẩy phản hồi từ bạn học

+ Phân tích quan niệm sai lầm

+ Xác định xem kiến thức có được vận dụng trong các tình huống mới hay không

- Sau khi hoàn thành dự án, có thể thực hiện cùng đánh giá với học sinh để: + Xác định những lĩnh vực học tập sau tiếp theo

+ Lập kế hoạch cho các cơ hội học tập sớm nhất ngay sau đó

+ Xác lập mục tiêu mới

Như vậy, học sinh sẽ được đánh giá qua các bài tập, hoạt động bằng những công cụ đánh giá với các tiêu chí cụ thể, rõ ràng Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo

Giai đoạn thu thập kết quả và công bố sản phẩm của học sinh và đánh giá dự

án cũng có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án

Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế, chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau, có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án

1.1.2.6 Những ưu - nhược điểm của dạy học theo dự án

Cũng giống như bất kì phương pháp dạy học nào khác, dạy học theo dự án có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Sử dụng dạy học theo dự án, người dạy cần tìm ra các giải pháp để phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu để đạt được kết quả cao nhất

Ưu điểm của dạy học theo dự án:

- Dạy học theo dự án phát huy tính tích cực, chủ động của người học trong toàn bộ quá trình học tập, làm cho người học năng động hơn, làm việc hiệu quả hơn,

Trang 38

kiến thức về bài học trở nên sâu rộng hơn Hoạt động học chỉ thực sự có chiều sâu khi người học chủ động Các nhà nghiên cứu phương Tây đã bổ sung và mở rộng quan điểm của Khổng Tử thành phương pháp học chủ động (the Active learning Credo) như sau:

“Tôi nghe, tôi quên

Tôi nghe và nhìn, tôi nhớ chút ít

Tôi nghe, nhìn, hỏi, thảo luận, tôi bắt đầu hiểu

Tôi nghe, nhìn, thảo luận và thực hành, tôi bắt đầu học được kĩ năng và kiến thức”

Tỷ lệ%

100

90

Truyền đạt lại cho người khác

80

70

Thực hành

40

30

tả, trình bày

20

Nghe nhìn

Trang 39

- Dạy học theo dự án đặt người học vào một vai trò chủ động Học tập theo

dự án, người học sẽ phát triển các kĩ năng của cuộc sống thật và các kĩ năng của thế

kỉ 21 Cụ thể:

+ Với vai trò là “tác giả tích cực” của quá trình học tập, người học tự đề xuất hoặc lựa chọn vấn đề nghiên cứu và tự tiến hành các công việc Nhờ đó, HS có điều kiện phát triển các kĩ năng tự học, tự định hướng và xử lý các vấn đề xã hội phức tạp Điều đó cũng đồng nghĩa với việc phát huy được tính tự lực, sáng tạo và tính trách nhiệm của người học cũng như rèn luyện cho họ tính bền bỉ, kiên nhẫn vượt qua thách thức

+ Hình thức làm việc phổ biến trong dạy học theo dự án là làm việc theo nhóm và đó là cơ sở để người học rèn luyện và phát huy các kĩ năng sống quan trọng Kĩ năng làm việc nhóm giúp người học phát triển năng lực cộng tác, năng lực đánh giá và năng lực lĩnh hội Kỹ năng thuyết trình, trình bày, phỏng vấn, quan sát

có ý nghĩa rất lớn giúp người học tự tin và mạnh dạn hơn trong cuộc sống hoặc khi gặp hoàn cảnh mới

+ Do tính định hướng sản phẩm, dạy học theo dự án có đặc trưng riêng biệt

là người học thể hiện mức độ tiếp thu kiến thức thông qua sản phẩm lẫn hình thức thể hiện Nhiệm vụ học tập này đòi hỏi ở người học thao tác tư duy mang tính trí tuệ tổng hợp như kỹ năng tư duy phê phán, so sánh, giải quyết vấn đề, Và khi phải hoàn thành sản phẩm đúng thời hạn, dạy học theo dự án sẽ tạo động lực và giúp người học chịu được áp lực của những khó khăn mà việc học đòi hỏi

Với rất nhiều kĩ năng đó, dạy học theo dự án xây dựng cho người học thái độ chủ động trong công việc và là chìa khóa đưa người học đến thành công

- Dạy học theo dự án tạo ra bầu không khí học tập cởi mở và dân chủ trong lớp học

+ Nội dung học tập gắn với sở thích, nhu cầu của người học nên dạy học theo

dự án tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều phong cách, tiềm năng học tập khác nhau cùng có thể được phát triển

Trang 40

+ Dạy học theo dự án tạo môi trường tương tác giữa thầy và trò; đặc biệt tạo

cơ hội cho sự hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau trong người học và người học được tự tìm hiểu chính mình, khẳng định mình Ở đây, người học không bị áp đặt mà luôn có cơ hội để thể hiện hiểu biết, năng lực của bản thân mình Sự thành công trong việc kiến tạo ra một sản phẩm hay những ý kiến được ghi nhận, chia sẻ sẽ tạo ra một hiệu ứng tích cực, làm cho người học có cảm giác hài lòng, hạnh phúc khi tham gia học tập

+ Dạy học theo dự án gắn với các nhiệm vụ học tập có chủ đích, sát với cuộc sống Mà người học ở mọi độ tuổi đều có động lực cao hơn khi họ ý thức được sự hữu ích của những gì được học và khi họ có thể sử dụng chúng để làm những việc

có ảnh hưởng tới người khác và cộng đồng Do đó, dạy học theo dự án lôi cuốn người học tự nguyện hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập Điều đó đồng nghĩa với việc dạy học theo dự án thu hút người học đến lớp nhiều hơn và cải thiện được thái độ học tập

Như vậy, các đặc điểm của dạy học theo dự án đã thể hiện những ưu điểm

của phương pháp dạy học này Có thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản của dạy học theo dự án như sau:[23]

- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội

- Phát triển kỹ năng tự học, tự định hướng

- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học

- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm

- Phát triển khả năng sáng tạo

- Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp

- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn

- Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc

- Phát triển năng lực đánh giá

- Rèn luyện và phát huy các kỹ năng xã hội quan trọng

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và Đào tạo (2008), Sách giáo khoa Sinh học 12. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Sinh học 12
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
2. Bộ giáo dục và Đào tạo (2008), Sách giáo viên Sinh học 12. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Sinh học 12
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
3. Bộ giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Sinh học lớp 12. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Sinh học lớp 12
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
4. Bộ giáo dục và Đào tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông môn Sinh học. Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông môn Sinh học
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2007
5. Bộ giáo dục và Đào tạo (2008), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 THPT môn Sinh học. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 THPT môn Sinh học
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
6. Nguyễn Văn Cường, Bern Meier (2010), Một số vấn đề chung về đổi mới PPDH ở trường THPT. Dự án phát triển giáo dục THPT (LOAN N O 1979- VIE) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về đổi mới PPDH ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Bern Meier
Năm: 2010
7. Vũ Văn Dụng (2008), Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức phần máy điện chương “Dòng điện xoay chiều” sách giáo khoa Vật lí lớp 12 nâng cao trung học phổ thông. Luận văn thạc sỹ, Đại học Giáo dục- Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức phần máy điện chương “Dòng điện xoay chiều” sách giáo khoa Vật lí lớp 12 nâng cao trung học phổ thông
Tác giả: Vũ Văn Dụng
Năm: 2008
8. Đặng Hòa Hiếu (2009), Tổ chức dạy học dự án trong chương trình Sinh học 11. Luận văn thạc sỹ, Đại học Giáo dục- Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học dự án trong chương trình Sinh học 11
Tác giả: Đặng Hòa Hiếu
Năm: 2009
9. Nguyễn Thị Phương Hoa, Võ Thị Bảo Ngọc (2004), “Tình hình vận dụng phương pháp project trong dạy học ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội”, Tạp chí chuyên san ngoại ngữ (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình vận dụng phương pháp project trong dạy học ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội”, "Tạp chí chuyên san ngoại ngữ
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa, Võ Thị Bảo Ngọc
Năm: 2004
10. Ngô Văn Hƣng (chủ biên) (2008), Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 môn Sinh học. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 môn Sinh học
Tác giả: Ngô Văn Hƣng (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
11. Ngô Văn Hƣng (2008), Giới thiệu giáo án Sinh học 12. Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu giáo án Sinh học 12
Tác giả: Ngô Văn Hƣng
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2008
12. Nguyễn Thế Hƣng (2009), Tài liệu tập huấn giáo viên THPT. Đại học giáo dục- Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn giáo viên THPT
Tác giả: Nguyễn Thế Hƣng
Năm: 2009
13. Trần Thị Thanh Hương (2010), Vận dụng phương pháp dạy học dự án trong môn ngữ văn ở trường THPT. Luận văn thạc sỹ, Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng phương pháp dạy học dự án trong môn ngữ văn ở trường THPT
Tác giả: Trần Thị Thanh Hương
Năm: 2010
14. Trần Thu Hường (2009), Thiết kế dự án trong dạy học sinh học lớp 11 trung học phổ thông. Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế dự án trong dạy học sinh học lớp 11 trung học phổ thông
Tác giả: Trần Thu Hường
Năm: 2009
15. Nguyễn Diệu Linh (2009), Tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khóa khi dạy các nội dung kiến thức chương "các định luật bảo toàn" vật lí 10. Luận văn thạc sỹ, Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: các định luật bảo toàn
Tác giả: Nguyễn Diệu Linh
Năm: 2009
16. Nguyễn Dục Quang (2007), “Học để cùng chung sống – một con đường giáo dục nhân cách cho học sinh”, Tạp chí giáo dục (155) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Học để cùng chung sống – một con đường giáo dục nhân cách cho học sinh”," Tạp chí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Dục Quang
Năm: 2007
17. Nguyễn Thị Diệu Thảo – Nguyễn Văn Cường (2004), “Dạy học theo dự án – một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên”, Tạp chí giáo dục số (80 ), tr.17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo dự án – một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên”", Tạp chí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Thảo – Nguyễn Văn Cường
Năm: 2004
18. Đỗ Hương Trà (2007), “Dạy học dự án và tiến trình thực hiện”, Tạp chí giáo dục (157), tr. 30 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học dự án và tiến trình thực hiện”," Tạp chí giáo dục
Tác giả: Đỗ Hương Trà
Năm: 2007
19. Website: tusach.thuvienkhoahoc.com 20. Website: duongtrongtan.worpress.com 21. Website: Intel.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: tusach.thuvienkhoahoc.com" 20. Website: "duongtrongtan.worpress.com 21. "Website
22. Website: vi.Scridd.com 23. Website: ioer.edu.vn 24. Website:Wikipedia.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Website: "vi.Scridd.com 23. "Website: "ioer.edu.vn "24. Website

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. So sánh đặc trƣng của PPDH truyền thống và PPDH mới - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Bảng 1.1. So sánh đặc trƣng của PPDH truyền thống và PPDH mới (Trang 15)
Hình thức  tố chức - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Hình th ức tố chức (Trang 16)
Bảng 1.2. Các mức độ nhận thức theo Bloom - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Bảng 1.2. Các mức độ nhận thức theo Bloom (Trang 18)
Bảng 1.3. Các loại dự án học tập  Tiêu chí phân - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Bảng 1.3. Các loại dự án học tập Tiêu chí phân (Trang 22)
Hình 1.1. Các đặc điểm của dạy học theo dự án - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Hình 1.1. Các đặc điểm của dạy học theo dự án (Trang 25)
Hình 1.2. Tỷ lệ tiếp thu trung bình với các hình thức học tập khác nhau. - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Hình 1.2. Tỷ lệ tiếp thu trung bình với các hình thức học tập khác nhau (Trang 38)
Bảng 1.4. Kết quả điều tra thực trạng vận dụng các PPDH tích cực - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Bảng 1.4. Kết quả điều tra thực trạng vận dụng các PPDH tích cực (Trang 54)
Bảng 1.5. Kết quả điều tra thực trạng vận dụng phương pháp dạy học  theo dự án  trong dạy học Sinh học THPT - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Bảng 1.5. Kết quả điều tra thực trạng vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học Sinh học THPT (Trang 56)
Bảng 2.3. Các tiêu chí đánh giá sản phẩm học sinh - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Bảng 2.3. Các tiêu chí đánh giá sản phẩm học sinh (Trang 92)
Bảng 3.1. Kết quả thực hiện dự án của các nhóm - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Bảng 3.1. Kết quả thực hiện dự án của các nhóm (Trang 99)
Bảng 3.2. Kết quả các bài kiểm tra ở lớp thí nghiệm và lớp đối chứng - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Bảng 3.2. Kết quả các bài kiểm tra ở lớp thí nghiệm và lớp đối chứng (Trang 100)
Bảng 3.3. Kết quả điều tra sau học tập về việc vận dụng phương pháp dạy  học theo dự án phần Sinh  thái học ( Sinh học 12) - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Bảng 3.3. Kết quả điều tra sau học tập về việc vận dụng phương pháp dạy học theo dự án phần Sinh thái học ( Sinh học 12) (Trang 101)
Bảng 3.4. Kết quả các bài kiểm tra của lớp thí nghiệm và lớp đối chứng - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Bảng 3.4. Kết quả các bài kiểm tra của lớp thí nghiệm và lớp đối chứng (Trang 105)
Hình 3.2. Biểu đồ biến thiên điểm số các bài kiểm tra của  lớp TN và lớp ĐC - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Hình 3.2. Biểu đồ biến thiên điểm số các bài kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC (Trang 106)
Hình 3.3. Biểu đồ điểm các bài kiểm tra của lớp thí nghiệm và lớp đối chứng - Tổ chức dạy học theo Dự án phần Sinh thái học - Sinh học lớp 12 - Trung học phổ thông
Hình 3.3. Biểu đồ điểm các bài kiểm tra của lớp thí nghiệm và lớp đối chứng (Trang 106)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w