1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức dạy học phần Phương trình lượng giác của sách giáo khoa đại số và giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh

126 771 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn Toán là một khoa học được mệnh danh “Nữ hoàng của trí tuệ”, vì thế dạy học toán ở nhà trường phổ thông theo định hướng tích cực không còn đơn thuần là cung cấp kiến thức toán học cho

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM TOÁN

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN CHUYÊN NGHÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN TOÁN)

Mã số : 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Nhụy

HÀ NỘI – 2011

Trang 3

MỤC LỤC Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1 2 Lịch sử nghiên cứu 4

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5

5 Phạm vi nghiên cứu 5

Trang 4

1.2.1.2 Phương pháp tích cực 9

Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN “ PHƯƠNG TRÌNH LƯỢNG GIÁC” CỦA SÁCH GIÁO KHOA ĐẠI SỐ VÀ GIẢI TÍCH LỚP 11 THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG

Trang 5

2.2 Tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác” theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh

20

2.2.1 Các nội dung có thể tổ chức dạy học theo hướng tự học 20 2.2.2 Đặc điểm hoạt động của tổ chức dạy học tự học 21

2.2.3 Nguyên tắc tổ chức dạy học tự học cho học sinh phổ thông 21 2.2.4 Các hình thức tổ chức dạy học tự học 22 2.2.4.1 Hình thức tổ chức hoạt động học tập tự học với sách giáo khoa

Trang 6

3.4.1 Cơ sở để đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 103

3.4.2.1 Nhận xét của giáo viên qua tiết dạy thực nghiệm 109

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ

ĐS&GT Đại số và Giải tích

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước sang thế kỷ 21, giáo dục đào tạo nước ta đứng trước những thách thức lớn, đó là xu hướng toàn cầu hóa ngày càng phát triển và lan nhanh, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển manh mẽ, sự bùng nổ thông tin khắp toàn cầu, nền kinh tế tri thức có vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển ở mỗi quốc gia Những thách thức đó đòi hỏi giáo dục phải thay đổi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu của đất nước về phát triển nguồn nhân lực

Trong công cuộc đổi mới giáo dục thì một trong những vấn đề cấp thiết là đổi mới phương pháp dạy học Định hướng đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là phương pháp dạy học môn toán đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII( 01-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (năm 2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là trong chỉ thị 14 (01-1999) Tại đó đã nêu rất rõ: Vấn đề cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường phổ thông là làm cho học sinh học tập với thái độ tích cực, chủ động, sáng tạo Trong quá trình giáo dục, học sinh đóng vai trò là chủ thể của hoạt động nhận thức, hướng vào cải biến bản thân để tích lũy kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, dần dần phát triển tư duy của bản thân Quá trình này phụ thuộc vào hoạt động của mỗi học sinh, không ai

có thể làm thay được Sự tác động của môi trường và hoàn cảnh như sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè có tác dụng hỗ trợ cho quá trình này đạt kết quả tốt hơn Vì vậy, phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh là một yêu cầu đặt ra cho nền giáo dục Việt Nam nhằm tạo ra những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước

Trang 9

Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy

sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý

chí vươn lên” (Luật Giáo dục 1998, Chương I, Điều 4)

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ

động, tư duy sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của lớp học, môn

học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào

thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh” (Luật Giáo dục 1998, Chương I, Điều 24)

Tự học là một trong những vấn đề được Nghị quyết Đại hội Đảng VIII và

Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII đề cập rất đậm nét: “Tập trung sức nâng cao

chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của học sinh, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp toàn dân”

Bác hồ đã dạy: “Về cách học phải lấy tự học làm cốt”, “Học đi đôi với

hành”, “Nâng cao năng lực tự học và thực hành cho học sinh…”

Các nhà tâm lý học, giáo dục học đã khẳng định: “Con người chỉ thực sự

nắm vững cái mà chính mình đã giành được bằng hoạt động tự học của bản

thân” Xu thế của hoạt động giáo dục thế giới trong thế kỉ XXI là hướng vào việc xây dựng một xã hội học tập, mỗi con người phải học tập suốt đời Để học tập

suốt đời con người phải có năng lực tự học, tự nghiên cứu

Dưới ảnh hưởng của lý thuyết cổ điển về nhận thức, phương pháp dạy học

là do người thầy thuyết trình và truyền thụ các niềm tin về chân lý cho người học với sự cảm hóa bằng các lập luận logic và thực nghiệm Và dĩ nhiên, nhiệm vụ của người học là tiếp thu một cách đầy đủ và trung thành, nhưng thụ động, các

Trang 10

này phù hợp với quan điểm giáo dục của nhà triết học và giáo dục lớn của Mỹ: Jonh Dewey đề ra từ buổi giao thời của thế kỷ 19 và thế kỷ 20 khi chủ trương “ học sinh đến trường không phải chỉ để tiếp thu những tri thức được ghi vào một chương trình và có lẽ không bao giờ dùng đến, mà chính là để giải quyết các bài toán của nó, những bài toán thực tế mà nó gặp hằng ngày Về phía người thầy, ông ta sẽ hành động như một người bạn có kinh nghiệm, khuyên nhủ và hướng dẫn học sinh biết những gì mà thầy biết về vấn đề được đặt ra”

Môn Toán là một khoa học được mệnh danh “Nữ hoàng của trí tuệ”, vì thế dạy học toán ở nhà trường phổ thông theo định hướng tích cực không còn đơn thuần là cung cấp kiến thức toán học cho học sinh đã được quy định trong chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mà phải làm cho các em phát triển

năng lực tư duy đặc trưng của toán học Dạy phương pháp học, đặc biệt là tự

học, tăng cường năng lực làm việc với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo, rèn

luyện kĩ năng tự học toán, hết sức coi trọng việc trang bị kiến thức về các

phương pháp học toán của học sinh Như vậy một tiết dạy học tích cực trong môn toán là một tiết dạy phải cuốn hút được sự chú ý, say mê học tập của học sinh Thông qua tổ chức hoạt động toán học, học sinh có thể chủ động khám phá bản chất của các khái niệm, định lí, tính chất toán học dưới sự hướng dẫn của thầy cô để chuyển thành kiến thức của chính mình, từ đó tự hình thành năng lực

và phẩm chất toán học cho bản thân

Chủ đề Phương trình lượng giác là một chủ đề khó, chưa gây được hứng thú đối với học sinh THPT Học sinh với tâm lý ngại và sợ học chủ đề này dẫn tới hiệu quả của việc dạy và học không cao Để cải thiện tình hình nói trên, giáo viên phải có những biện pháp tích cực, trong đó việc sử dụng những phương pháp dạy học tích cực là cần thiết Thay đổi phương pháp dạy học như thế nào là một bài toán khó, cần nhiều thời gian và công sức tìm tòi của giáo viên, tuy

Trang 11

nhiên quan trọng hơn cả là sử dụng phương pháp dạy học như thế nào để đạt được hiệu quả cao trong quá trình dạy và học Ngoài ra, để thực thi một tiết dạy học toán theo định hướng tích cực, người giáo viên còn phải biết vận dụng những thành quả của công nghệ thông tin vào bài giảng của mình một cách hợp

lí Có rất nhiều công cụ, phần mềm hỗ trợ trong việc giảng dạy toán như sketchpad, cabri,… Nếu giáo viên biết sử dụng, khai thác hiệu quả trong bài dạy thì sẽ kích thích rất tốt tư duy trực quan hình tượng, khắc sâu kiến thức cho học sinh, tăng hiệu quả bài dạy

Biển học là vô bờ, học nữa học mãi, nguồn tri thức là vô hạn Thiết nghĩ nhiệm vụ của giáo viên là giúp học sinh khám phá nguồn tri thức ấy Học sinh Việt Nam thông minh nhưng đã quen trong việc thụ động tiếp thu kiến thức Trong trường học SGK và giáo viên là nguồn cung cấp thông tin duy nhất Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, nguồn tri thức tiếp nhận trong nhà trường

chưa đủ đáp ứng yêu cầu của xã hội Do vậy năng lực tự học là một trong những

năng lực then chốt, cần thiết và phải được nâng cao đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao nền tri thức xã hội

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đã gợi ý cho người viết ý tưởng “Tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và Giải tích lớp

11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh”

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài

Ở Anh, vào những năm 1920 đã hình thành nhà trường kiểu mới, khuyến khích hoạt động tự quản của học sinh

Ở Hoa Kì, từ những năm 1970, gần 200 trường đã dạy học thử nghiệm: giáo viên hướng dẫn học sinh cách học, học sinh độc lập làm việc theo nhịp độ

Trang 12

Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực của học sinh

đã được nhân rộng khắp trên thế giới

2.2 Những vấn đề nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài

Việc tìm tòi nghiên cứu để có phương pháp dạy học sinh tiếp nhận thông tin đã có từ xa xa khi con người biết truyền đạt tri thức cho nhau Cha ông ta đã

có câu “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” là nói về sự cần thiết của việc tự học

Ngày nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự đổi mới trong công tác giảng dạy đổi mới trong phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh

3 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng qui trình tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và Giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động tự học phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và

Giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Giáo viên dạy Toán tại trường THPT Đan Phượng – Hà Nội

- Học sinh lớp 11 tại trường THPT Đan Phượng – Hà Nội

Trang 13

6 Vấn đề nghiên cứu

Tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và Giải tích lớp 11 như thế nào để tăng cường hoạt động tự học của học sinh

7 Giả thuyết khoa học

Nếu tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và Giải tích lớp 11 theo định hướng bồi dưỡng kỹ năng tự học cho học sinh thì sẽ làm cho học sinh nắm vững kiến thức, phát triển tư duy

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan như: Lý luận dạy học Toán học, tâm

lý học sư phạm, lí luận về tự học, nghiên cứu nội dung phần “Phương trình lượng giác”, các tài liệu liên quan đến tổ chức dạy học tự học

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Qua điều tra tại trường THPT Đan Phượng cho thấy với phương pháp dạy học truyền thống, học sinh đa phần ít chịu vận động học tập Học sinh chỉ tiếp nhận tri thức trong sách giáo khoa qua sự giảng dạy của giáo viên

- Qua quan sát tại trường THPT Đan Phượng, việc tổ chức dạy học theo phương pháp dạy học tích cực, học sinh hăng hái tham gia vào bài học, kiến thức học sinh nắm vững, nắm sâu hơn phương pháp truyền thống Giáo viên chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn, học sinh là trung tâm của quá trình học Học sinh tự tìm cách tiếp nhận tri thức qua sự hướng dẫn của giáo viên nên tạo ra sự say mê, hứng thú, hăng say của học sinh trong việc học tập môn Toán, đồng thời phát triển năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo, tính chủ động tích cực trong học tập… Qua đó nâng cao năng lực của học sinh

- Dùng phiếu điều tra giáo viên dạy môn Toán tại trường THPT Đan

Trang 14

- “Tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và Giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh”

Điều tra nhận thức của giáo viên và học sinh về vấn đề dạy và học phần

“Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và Giải tích lớp 11

8.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Soạn một số giáo án theo phương pháp hướng dẫn học sinh tự học

- Thực nghiệm sư phạm một phần kết quả nghiên cứu để đánh giá tính khả thi của đề tài

9 Những đóng góp mới của luận văn

- Trình bày rõ cơ sở lí luận của dạy học tự học

- Đề xuất 03 biện pháp tổ chức dạy học theo hướng tăng cường hoạt động

tự học của học sinh

- Soạn 05 giáo án cụ thể phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số

và Giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh”

- Xây dựng qui trình tổ chức dạy học theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác ” theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Những quan điểm về dạy học

1.1 1 Quan điểm dạy học cổ điển

Học sinh được đánh giá về năng lực học tập theo điểm số thầy giáo cho, vì vậy không thấy được tầm nhìn về hành vi tương lai của mình, sự đóng góp của mình Việc đánh giá bằng điểm số này được thực hiện thường xuyên và công khai Quan điểm giáo dục cổ điển này thực tế đã tạo ra những học sinh thiếu năng động và linh hoạt trong cuộc sống, thiếu nhiều kỹ năng rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại Nhiều kỹ năng làm việc liên quan người, cộng tác trong các nhóm lao động thực tế rất cần cho xã hội vẫn chưa được đưa vào huấn luyện cho học sinh Nhiều kĩ năng truy tìm tri thức mới có trên thế giới chưa được giới thiệu cho học sinh Sự tách rời giữa thành tựu mới đang được sử dụng trong xã hội với những tri thức của học sinh được trang bị trong nhà trường đã dẫn đến việc xã hội phải mất thêm thời gian đào tạo lại người lao động trong các cơ sở sản xuất

1.1.2 Quan điểm dạy học hiện đại

Ngày nay có nhiều quan điểm khác nhau về quá trình dạy - học, nhưng các quan niệm đều thống nhất cho rằng: học là quá trình trình tự làm phong phú kiến thức của bản thân và tự biến đổi mình Dạy là quá trình giúp con người đi học tự chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng Tất cả mọi phương pháp dạy học đều hướng đến lấy người học làm trung tâm, phát huy tính chủ động của người học

Trong quá trình giảng bài, giáo viên không chỉ truyền đạt thông tin tri thức

mà phải khơi dậy, lôi kéo người học phát huy khả năng, tư duy sáng tạo của mình trong quá trình học tập để biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, từ việc

Trang 16

bắt buộc phải đến lớp dưới sự quản lí khắt khe của nhà trường thành việc hứng thú đi học, tự học

Quan điểm dạy học truyền thống xoay quanh vai trò chủ đạo của giáo viên trong tổ chức học tập cho học sinh Giáo án của giáo viên chính là bản kế hoạch trung tâm cho các hoạt động dạy học diễn ra Giả định ban đầu là giáo viên cần soạn giáo án, lập kế hoạch giảng dạy chi tiết và tiến hành giảng dạy theo giáo án Với sự phổ cập giáo dục, với nhiều giáo viên tham gia giảng dạy, điều e ngại chính là nếu không có giáo án chi tiết nhiều giáo viên sẽ không dạy được hiệu quả Và giáo án cần được soạn tuân theo các chuẩn mực đã được những người có kinh nghiệm giảng dạy thiết lập ra Do đó dần dần dạy theo giáo án trở thành một yêu cầu bắt buộc với các giáo viên Tuy nhiên những người phê bình “ dạy theo giáo án” lo ngại việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh bị suy giảm khi giáo viên coi vai trò của mình chủ yếu là tuân thủ chặt chẽ giáo án Bản chất vấn đề dạy học không phải chỉ là hoàn thành những kế hoạch được vạch sẵn mà không tính tới những biến tạo và tân canh

1.2 Cơ sở lí luận của dạy học tích cực

1.2.1 Một số khái niệm

1.2.1.1 Tính tích cực

Tính tích cực là phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong tự nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần cho sự tồn tại của xã hội Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, sáng tạo và thích ứng với xã hội

1.2.1.2 Phương pháp tích cực

Phương pháp tích cực để chỉ những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.Phương pháp tích cực hướng tới việc

Trang 17

hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không tập trung vào người dạy

1.2.2 Đặc trƣng của dạy học tích cực

Dạy học tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua

tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, trong phương pháp tổ chức, người học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, qua đó học sinh tự khám phá những điều mình chưa rõ

Dạy học phát huy năng lực tự học của học sinh Nếu rèn luyện cho học sinh có được phương pháp kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho học sinh lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi con người làm kết quả học tập được nhân lên gấp bội

1.2.3 Yêu cầu của dạy học tích cực

1.2.3.1 Yêu cầu chung

Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Dạy học kết hợp giữa học tập cá thể và học tập hợp tác Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực giữa nội dung bài học với thực tiễn

Dạy học tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu

Dạy học tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học

Dạy học chú trọng các hình thức tổ chức dạy học tăng cường các hình thức kiểm tra đánh giá

1.2.3.2 Yêu cầu đối với học sinh

Tích cực chủ động học tập tự tìm tòi, tự khám phá và rèn luyện kĩ năng tự học

Trang 18

Xây dựng các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng học tập của mình Chủ động trong việc giải quyết các tình huống có vấn đề

Mạnh dạn trình bày ý kiến, quan điểm cá nhân

Biết tự đánh giá hoạt động học tập của bản thân và đánh giá ý kiến quan điểm của bạn bè

1.2.3.3 Yêu cầu đối với giáo viên

Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh

Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo và quá trình khám phá và lĩnh hội kiến thức

Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát biểu tư duy và rèn luyện kĩ năng

Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của môn học, nội dung bài học, trình

độ của học sinh, điều kiện dạy học của trường

học thuộc lòng Cung cấp kiến thức cơ bản có chọn lọc

2 Giáo viên là nguồn kiến

thức duy nhất

Ở lớp có nhiều nguồn kiến thức khác, bạn bè, phương tiện thông tin đại

Trang 19

chúng…

3 Học sinh làm việc một

mình

Tự học, kết hợp với nhóm, tổ và sự giúp

đỡ của thầy giáo

4 Dạy thành từng bài riêng

7 Chỉ dừng lại ở câu hỏi bài

8 Không gắn lí thuyết với

thực hành

Lí thuyết kết hợp với thực hành, vận dụng kiến thức vào cuộc sống

10 Nguồn kiến thức hạn hẹp Nguồn kiến thức rộng lớn

Mô hình dạy học hợp tác hai chiều như đã trình bầy ở trên có nhiều khả năng để phát huy tính tự lực trong học tập của học sinh THPT Qua phân tích mô hình, chúng tôi rút ra một số nhận định như sau liên quan chặt chẽ đến tổ chức hoạt động học tập tự học:

Trang 20

- Trong mô hình dạy học hợp tác hai chiều, học sinh phải là trung tâm của quá trình dạy học Bản thân học sinh được cuốn hút vào các hoạt động do giáo viên tổ chức, hướng dẫn Không khí lớp học linh hoạt và cởi mở về mặt tâm lý Học sinh và giáo viên cùng nhau khảo sát các khía cạnh của vấn đề học tập hơn

là giáo viên giao cho học sinh giải pháp của vấn đề đặt ra Vai trò của giáo viên

là tạo ra các tình huống giúp học sinh phát hiện vấn đề , thu thập tư liệu và số liệu có thể sử dụng được để đề xuất và chứng minh giả thuyết, tự rút ra kết luận

- Mô hình dạy học hợp tác hai chiều phát huy tối đa tính tự chủ và kích thích tính sáng tạo của học sinh Trong mỗi ý kiến phát biểu của học sinh khi giải quyết vấn đề, giáo viên cần cố gắng tìm ra một phần nào là hợp lý để nâng cao lòng tự tin của học sinh về khả năng của họ Giáo viên luôn đòi hỏi học sinh phải chứng minh chặt chẽ, nhưng đồng thời giáo viên cũng phải sẵn sàng chứng minh

ý kiến của chính mình Giáo viên cần bác bỏ một cách nghiêm túc lời giải sai, gợi sự tranh luận trong học sinh và hướng sự tranh luận đó đi đúng đường

- Mô hình dạy học hợp tác hai chiều nhấn mạnh khía cạnh tự đánh giá Trước đây quan niệm về đánh giá còn phiến diện: giáo viên giữ độc quyền đánh giá, học sinh là đối tượng đánh giá

- Vì vậy, học sinh nhất thiết phải được đánh giá để điều chỉnh cách học của mình Mặt khác để giúp học sinh hiểu đúng và hiểu sâu sắc vấn đề bên cạnh việc phát huy tính tự chủ, độc lập giải quyết nhiệm vụ học tập cần đảm bảo cho học sinh được tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau trong quá trình thảo luận Kết quả đánh giá không chỉ sử dụng cho mục đích duy nhất là xếp hạng thứ bậc học sinh mà được dung để động viên, khích lệ sự cố gắng của học sinh; cung cấp thông tin phản hồi để điều chỉnh phương pháp giảng dạy phù hợp

- Một đặc trưng quan trọng nữa của mô hình dạy học hợp tác hai chiều là:

“Thầy là thầy học, chuyên gia về việc học, dạy trò cách học; trò học cách học,

Trang 21

cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách sống” Ngày nay, học sinh luôn được tiếp xúc với rất nhiều nguồn thông tin cập nhập, mới mẻ từ báo chí, truyền hình, internet Nếu người giáo viên chăm chỉ ép học sinh học thuộc kiến thức lý thuyết trong sách giáo khoa sẽ gây tâm lý phản kháng từ phía học sinh Hậu quả là ảnh hưởng lớn tới uy tín người thầy và rất khó để có thể giảng dạy môn học đem lại hiệu quả cao Vậy rõ ràng người giáo viên phải là người nắm vững về phương pháp học tập chung và phương pháp nghiên cứu khoa học trong bộ môn đảm nhiệm Từ đó, thông qua kiến thức môn học mình giảng dạy, rèn cho học sinh phương pháp học, khả năng bình phẩm, xem xét, giải quyết, các vấn đề thực tiễn cuộc sống xã hội Như vậy thầy là thầy học, dạy cho trò cách học; kiến thức môn học thực chất là phương tiện tổ chức hoạt động học tập tự lực

- Để thực hiện được yêu cầu trên giáo viên không chỉ am hiểu các tri thức khoa học cơ bản mà còn am hiểu các vấn đề của khoa học, các quan điểm khác nhau về các vấn đề đó

Rõ ràng, mô hình dạy học hợp tác hai chiều như đã trình bày ở trên có nhiều khả năng để pháp huy tính tự học trong học tập của học sinh THPT

1.3 Cơ sở lí luận của dạy học tự học

1.3.1 Một số khái niệm về tự học

1.3.1.1 Tự học hoàn toàn: Tự học yêu cầu người học có tính độc lập cao, tự giác

cao Khi tự học hoàn toàn, người học không có thầy trực tiếp dạy, không có mẫu

để bắt chước HS chủ động hoàn toàn trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp hoạt động Tuy vậy HS rất khó trong việc lụa chọn nội dung phù hợp vì có nhiều loại thông tin, đồng thời không kiểm tra được kết quả học tập của mình dẫn đến

dễ chán nản

1.3.1.2 Tự học không có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên: Ngoài thời gian

Trang 22

tập về nhà, kể cả khi thư giãn đều có thể tự học Nhưng không có sự giám sát vì thế tính tự giác học chưa cao

1.3.1.3 Tự học có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên: Hình thức này được

thực hiện ở lớp dưới sự giám sát chặt chẽ của GV vì vậy HS có thể lựa chọn nội dung học phù hợp, không mất nhiều thời gian tìm kiếm thông tin đồng thời cũng

có thể kiểm tra, đánh giá được kết quả học tập của mình

Qua việc nghiên cứu các hình thức tự học ở trên thấy rằng mỗi hình thức

tự học có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định Để nhằm khắc phục được những nhược điểm của các hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm của

HS trường THPT Đan Phượng chúng tôi đề xuất một hình thức tự học :tự học theo tài liệu hướng dẫn , tự học theo SKG , tự học theo chương trình hóa và có

sự giúp đỡ trực tiếp một phần của GV gọi tắt là "tự học có hướng dẫn"

1.3.2 Ƣu nhƣợc điểm của tự học

1.3.2.1 Ưu điểm

- Kiến thức người học được khắc sâu, vững chắc vì những gì họ tự tìm ra

bao giờ cũng nhớ lâu, hiểu rõ

- Tự học giúp người ta có thể học suốt đời, học ở mọi nơi, mọi lúc

- Trong tự học người học tự chủ động lựa chọn nội dung học tạo nên phong cách học tập riêng của mỗi người

- Tự học giúp người học làm quen với hoạt động nghiên cứu sau này

- Tự học giúp người học hình thành và phát triển nhân cách: rèn luyện tính độc lập, tự giác cao

1.3.2.2 Nhược điểm

- Người học khó xác định được trọng tâm bài học Nhược điểm này có thể

khắc phục khi GV giao nhiệm vụ có thể nêu rõ mục đích, yêu cầu, trọng tâm của

bài học

Trang 23

- Khi học không có GV, người học khó có thể giải đáp được những thắc mắc Nhược điểm này có thể khắc phục thông qua trao đổi thông tin liên lạc với thầy cô và bạn bè như dùng điện thoại, email

- Khi tự học, người học khó kiểm tra kết quả học tập của mình Nhược điểm này có thể khắc phục qua phiếu học tập của GV hoặc so đáp án

- Không gian tự học yên tĩnh, không sôi nổi nên khó tạo hứng thú học Tuy nhiên đó cũng là ưu điểm để người học tập trung học nhiều hơn

Bảng 1.2 Kết quả điều tra vai trò của hoạt động tự học của học sinh trường THPT

1 Tự học giúp em nhớ kiến thức lâu hơn 95

2 Tự học giúp em tự tin hơn trong giao tiếp 72

3 Tự học giúp em mở rộng tri thức 76

4 Tự học giúp em vững vàng hơn 51

1.3.3 Phân tích thực trạng tự học ở trường THPT hiện nay

1.3.3.1 Thực trạng tự học Toán ở trường THPT hiện nay

- Hầu hết học đều thấy cần thiết phải học Toán nhưng chưa có ý thức tự giác tự học ,ít có hứng thú mà chủ yếu do áp lực kiểm tra, thi cử, gia đình Học sinh chưa thấy được ý nghĩa của việc tự học sẽ tạo hứng thú học tập, tạo phong cách làm việc khoa học, rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề , tạo thế chủ động trong việc lựa chọn kiến thức cần ghi nhớ

- Việc tự học của học sinh hầu như chỉ dừng lại ở việc học bài cũ, làm bài tập về nhà Học sinh chưa chú ý tìm hiểu sâu về các kiến thức liên quan đến bài học qua các tài liệu tham khảo, học sinh cũng chưa có ý thức tự học kiến thức

Trang 24

mới Ở trên lớp gần như học sinh chỉ nghe giảng, trả lời các câu hỏi giáo viên đặt

ra

- Phần lớn giáo viên chưa chú ý đến việc tự học của học sinh, ít chú ý đến việc tự học tập ở nhà Hầu hết giáo viên vẫn chưa dạy học sinh phương pháp tự học Việc học ở trường THPT hiện nay hầu như vẫn sử dụng phương phấp thuyết trình là chủ yếu Một số giáo viên đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học nhưng gần như chỉ dừng lại ở việc dạy vấn đáp nhiều hơn

- Đa số các em có góc học tập riêng ở nhà tuy nhiên thời gian tự học còn ít ,chủ yếu chỉ ôn lại bài cũ nên chất lượng tự học chưa cao Chương trình SGK hiện nay được biên soạn theo hướng gợi mở, giảm tải chương trình.Nhưng các

em không có nhiều thời gian cho việc tự học ở nhà ,thời gian của các em gần như

bị bít kín vì thời khóa biểu học thêm Theo tác giả Lê Đức Thuận [20,tr25] thì có tới 77,32% học sinh cho rằng nguyên nhân chính khiến các em không có thời gian tự học ở nhà vì các em phải đi học thêm

- Các tài liệu tham khảo cho môn Toán nhiều nhưng lại tập trung chủ yếu vào hướng dẫn giải bài tập chứ chưa hướng dẫn hoạt động tự học, dẫn đến các

em học lực trung bình và kém gần như ghi ngay lời giải không chịu tự mình suy nghĩ

1.3.3.2 Thực trạng tự học Toán ở trường THPT Đan Phượng

- Trong những năm dạy học Toán tại trường THPH Đan Phượng tôi nhận thấy: Đa số học sinh chưa có thói quen tự học Toán, mà đó là một trong các yếu

tố tạo nên hứng thú, hăng say đối với việc học Toán

- Ngoài một số ít HS cần cù, chăm học, học khá môn Toán có học bài và làm bài tập trước khi đến lớp, còn lại đại đa số các em thường có những biểu hiện sau: Thường xuyên không thuộc bài, không làm bài tập về nhà, một số có làm chỉ làm qua loa hoặc đi chép bài cho đầy đủ, thụ động trong học tập

Trang 25

- Chính vì vậy mà chất lượng học môn Toán tại trường THPT Đan Phượng đạt hiệu quả thấp cụ thể trong các hai đợt kiểm tra toàn trường năm 2011, môn toán có số học sinh đạt điểm từ trung bình trở lên là 49,7 % Từ đó dẫn đến nhiều

em chây lười, thiếu tự tin, thụ động trong học tập, không có phương hướng rõ ràng và sợ học Toán

- Đối với GV việc kiểm tra bài cũ không thường xuyên theo một kế hoạch định trước nên không tạo cho HS thể hiện hiểu biết khả năng của mình

Để khắc phục tình trạng này, yêu cầu GV phải có những biện pháp kích

thích, điều khiển, kiểm tra việc tự học của HS

Kết luận chương I

Xuất phát từ cơ sở thực tiễn như trình bày ở trên, chúng tôi nhận thấy rằng: Việc tự học của học sinh thực sự phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập nhưng không tách khỏi vai trò điều khiển của giáo viên

Trong thời gian lên lớp, vai trò của giáo viên ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động học và chất lượng học tập của học sinh cả ở trường và ngoài trường Nếu giáo viên biết hướng dẫn học sinh phương pháp học hiệu quả thì vừa tiết kiệm được thời gian vừa mang lại kết quả học tập tốt Từ đó học sinh có thể học được

ở mọi nơi, mọi lúc, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau

Phương pháp dạy học tự học là một trong những đổi mới phương pháp dạy học nhằm tăng cường khả năng chiếm lĩnh tri thức mới, khả năng tự khám phá

do đó học sinh đều rất hào hứng trong học tập

Tuy phương pháp dạy học tự học là một phương pháp tích cực nhưng lại đòi hỏi nhiều thời gian Trong khi đó thời gian trên lớp có hạn, khối lượng kiến thức các em phải ghi nhớ nhiều và không phải khối kiến thức nào cũng có thể áp dụng phương pháp dạy học tự học, do đó giáo viên không nên lạm dụng nó mà

Trang 26

CHƯƠNG 2

TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN “ PHƯƠNG TRÌNH LƯỢNG GIÁC”

CỦA SÁCH GIÁO KHOA ĐẠI SỐ VÀ GIẢI TÍCH LỚP 11 THEO

HƯỚNG TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH

Trong chương trình Đại số và Giải tích lớp 11 có các loại Phương trình lượng giác sau:

Phương trình lượng giác cơ bản

Phương trình lượng giác thường gặp

2.1 Giới thiệu nội dung kiến thức phần “Phương trình lượng giác” sách giáo khoa ĐS&GT lớp 11

Trang 27

2.2 Tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác” theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh

2.2.1 Các nội dung có thể tổ chức dạy học theo hướng tự học

Phương trình lượng giác cơ bản sinx = a

Phương trình lượng giác cơ bản cosx = a

Phương trình lượng giác cơ bản tanx = a

Phương trình lượng giác cơ bản cotanx = a

Phương trình bậc nhất đối với một hàm số lượng giác

Phương trình bậc hai đối với một hàm số lượng giác

Phương trình bậc nhất đối với sinx và cosx

Ôn tập chương phương trình lượng giác

2.2.2 Đặc điểm hoạt động của tổ chức dạy học tự học

2.3.2.1 Hoạt động của giáo viên

- Chuẩn bị tài liệu tự học cho học sinh, hướng dẫn học sinh cách tìm tài liệu

- Hướng dẫn HS làm việc với tài liệu: Chỉ cách đọc tài liệu, làm quen với

các giáo cụ

- Phân nhóm làm việc: Theo tổ, theo năng lực, sở thích

- Dự kiến một số câu hỏi trọng tâm của bài học hướng cho các nhóm thảo luận Trong mỗi hoạt động, GV dự kiến hệ thống câu hỏi xen kẽ với những yêu cầu HS hoạt động để hướng dẫn HS tiếp cận, tự phát hiện và chiếm lĩnh tri thức mới

- GV phải có kiến thức ấy vừa sâu vừa rộng để có thể theo dõi những tranh luận của người học, tự tin để tổng hợp, tóm lược được những gì được phát biểu một cách lộn xộn trong lớp học

Trang 28

- GV phải tập trung tư tưởng rất cao để theo dõi diễn biến của lớp học , điều chỉnh hoạt động học tập của HS và nắm vững phản hồi từ phía HS

- Kích thích học sinh tự học bằng việc khen ngợi và tiếp thu những ý kiến hoặc câu hỏi, lời giải hay

- Kiểm tra hiệu quả của hoạt động tự học của HS thông qua các phiếu học tập, các ý kiến tranh luận giữa các nhóm và các báo cáo cá nhân

- Nhận xét hoạt động học tập của HS

- Tổng kết bài học qua việc kết nối các nội dung trọng tâm của bài học thành một tổng thể logic

- Giao nhiệm vụ học tập ở nhà cho HS

2.2.2.2 Hoạt động của học sinh

- Chuẩn bị các kiến thức đã học liên quan đến nội dung bài học mới

- Chuẩn bị các tài liệu theo tham khảo của GV

- Tự đọc SGK, tài liệu tham khảo, xác định hình thức cơ bản, trọng tâm nội dung của bài học

- Phân tích, đánh giá thông tin, sử dụng thông tin bằng việc tự đặt ra các câu hỏi và câu trả lời

- Tham gia thảo luận trong nhóm, đưa ra các ý kiến nhận xét từ đó có thể

tự kiểm tra, đánh giá kết quả, chất lượng học tập của bản thân và bạn bè

- Làm các phiếu học tập và bài kiểm tra của GV

- Thực hiện các nhiệm vụ được giao về nhà

2.2.3 Nguyên tắc tổ chức dạy học tự học cho học sinh phổ thông

Qua việc điều tra, phỏng vấn các GV, chúng tôi cho rằng khi tổ chức tự học cho học sinh THPT, người GV cần phải chú ý một số nguyên tắc sau:

- Phải làm cho học sinh thấy việc tự học là cần thiết và có thể thực hiện được

Trang 29

- Đảm bảo cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống, đảm bảo hình thành ở HS kĩ năng tự học từ thấp lên cao, tự học từng phần cho đến tự học hoàn toàn

- Trong từng đơn vị kiến thức, các câu hỏi và bài tập phải được sắp xếp theo hướng tăng dần về độ khó

- Phải đảm bảo cho tất cả học sinh đều được tham gia vào hoạt động học tập

- Nguyên tắc bảo đảm cho GV thu nhận thông tin phản hồi về kết quả học tập của HS sau quá trình tự học và giúp đỡ điều chỉnh nhị độ học tập của HS khi cần thiết

Trong khuôn khổ đề tài luận văn này, chúng tôi thực hiện tổ chức dạy học

tự học có hướng dẫn

2.2.4 Các hình thức tổ chức dạy học tự học

Có nhiều hình thức dạy tự học khác nhau nhưng hình thức dạy tự học trên lớp chủ yếu là các hình thức sau:

2.2.4.1 Hình thức tổ chức hoạt động học tập tự học với sách giáo khoa

Giảng dạy Toán trong trường THPT hiện nay, hình thức phổ biến là giáo viên hệ thống nội dung trong sách giáo khoa thành các ý một cách rõ ràng mạch lạc; sau đó sử dụng phương pháp thuyết trình để giảng giải cho học sinh nội dung đã phân tích Hình thức tổ chức dạy học tích cực hơn là giáo viên soạn sẵn các câu hỏi theo logic cấu trúc nội dung; sau đó dạy học theo hình thức vấn đáp Ngay khi dạy học bằng hình thức vấn đáp, học trò vẫn ở trạng thái bị động vì khi học sinh chưa nắm được nội dung tổng thể của bài học nhưng đã phải trả lời các câu hỏi của thầy Vậy, để phát huy tối đa tính tự lực trong học tập, giáo viên cần chuyển hai hoạt động này cho học sinh tự thực hiện Đây chính là hoạt động tự

Trang 30

* Ưu điểm, nhược điểm của SGK

các bài sau

* Quy trình tổ chức hoạt động học tập tự học với sách giáo khoa

Sơ đồ 2.1 Quy trình tổ chức hoạt động học tập tự học với sách giáo khoa

Học sinh đọc SGK

Học sinh tự tóm tắt nội dung bài học

Tổ chức thảo luận các vấn đề trọng tâm của bài học

Học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình với đáp án

Trang 31

Bước 1: Học sinh đọc SGK

Bước này có 3 vai trò quan trọng là:

- Giúp học sinh hiểu rõ mục đích bài học

- Giúp HS có cái nhìn bao quát nội dung kiến thức bài học

- Giúp học sinh quen dần với kĩ năng tự đọc tài liệu (chọn cách đọc phù hợp như tìm hiểu nội dung tổng quát của tài liệu, đọc lướt qua nhưng

có trọng điểm Khi đọc phải tập trung chú ý, tích cực phân tích, suy nghĩ, khi đọc phải ghi chép)

Tiến trình thực hiện như sau:

Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị sẵn sách giáo khoa và bút chì, GV phát tài liệu tham khảo; HS tự đọc nội dung mục kiến thức của bài trong thời gian qui định

Bước 2: Học sinh tự tóm tắt nội dung bài học

Bước này có vai trò quan trọng là: Giúp HS nắm được trọng tâm của bài học Từ đó giúp học sinh chủ động đưa ra những câu hỏi thắc mắc, chủ động nắm được mạch kiến thức trong quá trình thảo luận

Tiến trình thực hiện như sau:

Sau khi đọc SGK và tài liệu tham khảo, HS cần:

- Căn cứ vào nội dung, chia mục kiến thức thành các ý Các ý có sự phân cấp lớn nhỏ rõ ràng

- Tìm trong ý đó một từ khái quát thể hiện nội dung của cả ý; sau đó dùng bút chì viết từ đó vào lề của cuốn sách SGK ngang hàng hoặc viết ra nháp

- Xác định mối liên hệ về mặt nội dung giữa các ý và vai trò của từng ý trong việc làm rõ nội dung tổng thể của cả mục kiến thức

Trang 32

- Điều chỉnh lại các thao tác trên nếu cần thiết; sau đó đánh số thứ tự ngay bên cạnh các từ khóa cho các ý theo phân cấp lớn nhỏ

- Sau khi tập hợp kết quả GV sử dụng các từ khóa lập thành giàn ý nội dung lên bảng Hình thức dàn ý dưới dạng đề mục (có các kí hiệu gạch đầu dòng thể hiện sự phân cấp các ý), hoặc dưới dạng sơ đồ nếu có thể được sau đó yêu cầu học sinh ghi lại dàn ý này vào vở

Phạm vi sử dụng:

- Chúng tôi nhận thấy, hình thức tổ chức dạy học này nên thực hiện đối với những bài hoặc những kiến thức có nhiều ý, đòi hỏi học sinh cần hệ thống và làm rõ vai trò của từng ý

- Nội dung SGK khá đơn giản, do đó GV chỉ cần tổ chức cho học sinh tự tóm tắt nội dung bài học trong một số tiết đầu giúp các em có thể nắm vững kỹ năng Những tiết học sau, giáo viên làm nhanh bước này với mục tiêu chỉ là giúp học sinh có cái nhìn bao quát, từ đó tự đặt ra câu hỏi phát hiện kiến thức

Giải pháp đảm bảo hiệu quả:

Trong bước này học sinh chưa cần hiểu sâu nội dung mà chỉ cần hình dung được logic tổng thể của nội dung Giáo viên có thể tạo áp lực cho học sinh bằng cách gọi một số em trình bầy kết quả của mình sau khi tự đọc sách

Bước 3: Tổ chức thảo luận các câu hỏi trọng tâm

- Hình thức dạy học phổ biến hiện nay là giáo viên căn cứ trên logic nội dung bài học, xây dựng một loạt các câu hỏi và thông qua phương pháp vấn đáp hướng học sinh chiếm lĩnh kiến thức theo mức độ khó tăng dần hoặc chuyển tiếp giữa các nội dung kiến thức Tuy nhiên, theo chúng tôi cần tổ chức cho học sinh

tự thảo luận vì hoạt động này có ý nghĩa quan trọng là:

- Giúp giáo viên có được thông tin phản hồi đầu tiên về vốn hiểu biết của các HS về bài học Từ đó lựa chọn nội dung thảo luận phù hợp các em

Trang 33

- Kích thích hứng thú của học sinh, vì nội dung thảo luận được lấy từ chính những thắc mắc của các em chứ không phải là những thách thức đưa ra từ phía giáo viên

- Việc huy động được các câu hỏi từ phía học sinh có thể gặp những khó khăn nhất định Chúng tôi nhận thấy hình thức tổ chức hợp lý cho việc rèn luyện

kỹ năng đặt câu hỏi cho học sinh là tổ chức dạy học nhóm

Tiến trình thực hiện như sau:

- Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm sẽ đặt ra các câu hỏi về phần nội dung vừa xây dựng dàn ý

- Sau thời gian hoạt động nhóm, giáo viên yêu cầu các nhóm ghi các câu hỏi của nhóm ra giấy, đồng thời cử đại diện viết các câu hỏi của nhóm mình lên bảng

 Định hướng trọng tâm nội dung thảo luận: Các câu hỏi của học sinh rất đa dạng và có thể vượt ra phạm vi nội dung bài học, chính vì thế giáo viên căn cứ vào phần trình bày của các nhóm trên bảng để đánh dấu những câu hỏi cần thảo luận trong bài học

 Giáo viên thuyết trình nội dung cơ bản trong sách giáo khoa, đây là bước quan trọng giúp học sinh giải tỏa các câu hỏi dễ và một số câu hỏi khó mà các em đưa ra Giáo viên thuyết trình nội dung bài học theo sơ đồ dàn ý bài học Sau đó lần lượt chỉ ra các câu hỏi cần thảo luận mà các em đã phát hiện

 Giáo viên tổ chức cho học sinh lần lượt thảo luận các câu hỏi trọng tâm của bài học

Giải pháp đảm bảo hiệu quả:

- Trong trường hợp các câu hỏi học sinh đưa ra thiếu một số câu hướng vào trọng tâm kiến thức, giáo viên cần bổ sung vào những câu cần thảo luận

Trang 34

- Cuối cùng, trong số các câu hỏi đưa ra của học sinh, giáo viên cần chỉ ra hết sức rõ ràng mối liên hệ giữa các câu hỏi cần thảo luận với những nội dung cơ bản bài học và tổ chức thảo luận các câu hỏi theo một trình tự logic hợp lý

- Với các câu hỏi khó chỉ có một số học sinh tham gia tranh luận, các học sinh yếu chưa kịp nghĩ ra phương án trả lời Vậy làm thế nào để pháp huy được tính tích cực của học sinh yếu Giải pháp là giáo viên có thể hỏi các HS yếu là có đồng ý với phương án của bạn không ? Tại sao?

Bước 4: Học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình với đáp án

- Bước này có ý nghĩa giúp học sinh nắm được mình đã đạt được kiến thức bài học đến đâu Đồng thời giúp giáo viên nhận được sự phản hồi từ kết quả tự học của HS

- Hình thức tiến hành: GV cho học sinh làm các phiếu học tập

2.2.4.2 Tổ chức hoạt động học tập tự học theo chương trình hóa

Dạy học theo chương trình hóa là thuật ngữ chỉ cách học được điều khiển bởi chương trình tương tự như chương trình máy tính GV xây dựng chương trình và sử dụng các chương trình đó để điều khiển quá trình học tập

Nội dung chính của phương pháp dạy học này nhờ các phiếu học tập mà học sinh được dẫn dắt từng bước để đạt tới mục tiêu dạy học Nhờ nội dung dạy học được phân nhỏ ra từng phần, nhờ hệ thống mục tiêu chuyên biệt và hệ thống phiếu học tập, học sinh có thể tự học và tự kiểm tra mức độ nắm vững các kiến thức, kỹ năng Bằng cách này họ có thể tự học theo nhịp độ riêng của mình

Trong phương pháp tự học có hướng dẫn theo chương trình hóa thì GV chỉ giúp đỡ khi học sinh cần thiết, chẳng hạn như: giải đáp các thắc mắc, sửa chữa những sai sót của học sinh, động viên họ học tập Kết thúc mỗi mỗi phiếu học tập, giáo viên đánh giá kết quả học tập của họ Nếu đạt học sinh chuyển sang phiếu học tập tiếp theo Nếu không đạt học sinh thảo luận với giáo viên về những

Trang 35

khó khăn của mình và sẽ học lại một phần nào đó của phiếu học tập với nhịp độ riêng

Ưu điểm, nhược điểm của phương pháp tự học theo chương trình hóa

Ưu điểm:

Giúp học sinh học tập ở lớp và ở nhà có hiệu quả vì các phiếu học tập là tài liệu tự học học sinh có thể mang theo mình để học tập bất cứ đâu và bất cứ lúc nào có điều kiện

Tạo điều kiện cho học sinh học tập với nhịp độ cá nhân, luyện tập việc tự đánh giá kết quả học tập, học tập theo cách giải quyết vấn đề, do đó nâng cao được chất lượng dạy học thực tế

Đảm bảo tính thiết thực của nội dung dạy học

Đảm bảo được tính vững chắc của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vì người học

tự chiếm lĩnh nó, đồng thời hình thành và rèn luyện được thói quen tự học để họ

tự đào tạo suốt đời

Nhược điểm:

Việc thiết kế hệ thống các phiếu học tập dạy học và biên soạn tài liệu dạy học theo chương trình hóa khá công phu và tốn kém Cần khoảng 5 đến 7 giờ biên soạn cho một giờ học theo chương trình hóa

Đòi hỏi học sinh phải có động cơ học tập tốt, có năng lực học tập nhất định (vì tự học đòi hỏi họ có trình độ và sự nỗ lực cao hơn các phương pháp học tập khác)

Có thể nảy sinh tâm lý buồn chán do tính đơn điệu của việc tự học

Các tình huống sử dụng:

Với các ưu, nhược điểm nói trên có thể sử dụng phương pháp tự học có hướng dẫn theo chương trình hóa trong các trường hợp sau

Trang 36

Dạy học những nội dung, kiến thức có liên quan nhiều đến nội dung đã được học ở lớp dưới, các kiến thức nâng cao cập nhập không nhiều và không quá khó

Dạy học những nội dung có tính biến động cao, thường xuyên phải đổi mới vì các phiếu học tập có khả năng lắp ghép và tháo gỡ nên có nhiều thuận lợi trong việc thay đổi nội dung, chương trình dạy học

Khắc phục những nhược điểm của hệ thống dạy học cũ như: đồng loạt, không phân hóa, không tiến triển theo nhịp độ cá nhân

* Qui trình hướng dẫn tự học theo chương trình hóa

Trang 37

Sơ đồ 2.2 Qui trình hướng dẫn tự học theo chương trình hóa

Học sinh nghiên cứu phiếu học tập thứ

Nghiên cứu phiếu học tập tiếp theo

Giáo viên đánh giá bằng các phiếu

học tập kết thúc

Đạt Không đạt

Trang 38

Phương pháp tự học có hướng dẫn theo chương trình hóa đảm bảo tuân theo những nguyên tắc cơ bản của quá trình dạy học sau đây:

- Nguyên tắc cá thể hóa trong học tập

- Nguyên tắc đảm bảo hình thành ở học sinh kỹ năng tự học từ thấp đến cao

- Nguyên tắc giáo viên thu thập thông tin về kết quả học tập của học sinh sau quá trình tự học, giúp đỡ họ khi cần thiết, điều chỉnh nhịp độ học tập

2.2.4.3 Hình thức tổ chức xemina

Xemina là một trong những dạng bài học thực hành cơ bản, tổ chức để học sinh thảo luận những thông báo hay những bảng tóm tắt kết quả mà học sinh đã đạt được dưới sự hướng dẫn của giáo viên

* Ưu điểm của biện pháp hướng dẫn tổ chức xemina

- Mục tiêu đặt ra là đào tạo con người chủ động, sáng tạo, biết giải quyết các vấn đề thực tiễn, có kỹ năng làm việc theo nhóm, có khả năng tự học và học tập suốt đời, thích nghi với sự biến động của môi trường xã hội

Mặc dù, hầu hết các tài liệu về phương pháp giảng dạy đều thống nhất có

ba mục tiêu trong dạy học là: mục tiêu kiến thức, mục tiêu kỹ năng, mục tiêu thái

độ Trong mục tiêu kỹ năng còn có thể chia ra: Kỹ năng thực hành, kỹ năng tư duy, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tư duy và kĩ năng giao tiếp là hai kỹ năng vô cùng quan trọng giúp mỗi cá nhân có thể giao tiếp hiệu quả và tự học suốt đời Tuy nhiên, các sách giáo viên cũng như tài liệu tham khảo hướng dẫn soạn bài giảng chưa thực sự chú trọng đến những mục tiêu trên Phần mục tiêu thường quan tâm đến mục tiêu kiến thức, còn kỹ năng tư duy và kỹ năng giao tiếp thường không được đề cập đến

Trong sách giáo khoa có những nội dung liên quan rất chặt chẽ với kiến thức thực tiễn, nhưng có thể chỉ được trình bày một cách khái lược Tuy nhiên

Trang 39

nội dung đó phong phú trong các sách tham khảo và trên mạng internet Việc tổ chức cho học sinh làm xemina về vấn đề đó sẽ phát huy tối đa tính độc lập của học sinh cũng như rèn được kỹ năng học, kỹ năng giao tiếp Do đó giáo viên cần tận dụng những nội dung kiến thức sách giáo khoa để tổ chức cho học sinh làm xemina về vấn đề đó

* Quy trình hướng dẫn tổ chức xemina

Qua khảo sát thực tế ở trường THPT Đan Phượng, chúng tôi đưa ra năm bước tổ chức dạy học tự học bằng hình thức xemina như sau:

Bước 1: Lựa chọn nội dung xemina

- Nội dung xemina phải được xây dựng từ một nội dung quan trọng trong sách giáo khoa Tiêu chí này để đảm bảo mục tiêu kiến thức của chương trình môn học, không làm mất thời gian, công sức của giáo viên và học sinh cho nội dung ngoài chương trình

- Với học sinh thì nên có nội dung mới lạ , hấp dẫn nhưng dễ thực hiện Bước 2: Phân nhóm và giao chủ đề cho các nhóm

- Có thể một học sinh học hoặc một nhóm học sinh cùng chuẩn bị một nội dung Nếu số lượng chủ đề ít, giáo viên có thể đưa chủ đề trước lớp và cho học sinh tự lập nhóm để nhận chủ đề Với hình thức này, giáo viên nên đưa ra tối thiểu 2 chủ đề giao cho 2 nhóm để có sự cạnh tranh giữa các nhóm Nếu nhiều nhóm muốn tham gia, giáo viên cho các nhóm bốc thăm nhận chủ đề

- Tuy nhiên khi phân nhóm giáo viên cần đảm bảo cân bằng trình độ giữa các nhóm Mỗi nhóm phải có thành viên khá hoặc rất khá đồng thời phải có sự say mê, thích thú đề tài, khá tiếng anh, tin học và chuyên môn để phân công trách nhiệm giữa các thành viên trong nhóm

Bước 3: Chuẩn bị tài liệu

Trang 40

Vì học sinh chưa quen nên GV có thể hướng dẫn học sinh tìm tài liệu, giới thiệu sách tham khảo liên quan đến chủ đề

Bước 4: Hướng dẫn thực hiện xemina

Sau khi chuẩn bị đầy đủ tài liệu, GV hướng dẫn HS các bước thực hiện xemina:

- Vạch kế hoạch làm việc giữa các thành viên trong nhóm, giữa GV và các nhóm

- GV hướng dẫn HS làm việc với tài liệu( phân loại tài liệu, chỉ cách đọc, hướng dẫn làm thí nghiệm) Các em cần đọc từng tài liệu, xác định xem tài liệu nào có nội dung khái quát, bao hàm các nội dung khác, tài liệu nào có nội dung chi tiết thể hiện các khía cạnh nhỏ của vấn đề

- Học sinh căn cứ trên tài liệu có nội dung khái quát, xây dựng dàn ý chung cho bài trình bày Sau đó căn cứ trên dàn ý, lập các thư mục để xếp tài liệu vào các thư mục

- Hướng dẫn nội dung sẽ trình bày

- Trong bước này, học sinh cần đọc kĩ nội dung của từng tài liệu, trong mỗi tài liệu, trích dẫn ra các đoạn quan trọng, lựa chọn các tranh ảnh, biểu đồ phù hợp để bổ sung vào bài thuyết trình Cân đối số lượng các slide cho mỗi phần một cách hợp lý GV gợi ý học sinh trình bày bằng powepoint trong đó tuân thủ một số nguyên tắc như: Thời gian trình bày, cấu trúc chung, thời hạn tiến hành ximena, phông chữ, hiệu ứng

- Chuẩn bị tài liệu để phát cho các HS nhóm khác tham khảo (tốt nhất là đánh máy rồi phôtô)

Bước 5: Tổ chức xemina

- Chuẩn bị phòng, thiết bị, giáo cụ trực quan

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình triết học Mac-Lê nin. Nxb Chính trị Quốc gia, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mac-Lê nin
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
2. Bùi Văn Nghị, Giáo trình Phương pháp dạy học những nội dung cụ thể môn Toán, Nxb Đại học Sư phạm, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp dạy học những nội dung cụ thể môn Toán
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
3. Vũ Cao Đàm, Phương phápluận nghiên cứu khoa học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương phápluận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
4. Lê Bích Ngọc, Lê Hồng Đức, Học và ôn tập Toán lượng giác 11, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học và ôn tập Toán lượng giác 11
Tác giả: Lê Bích Ngọc, Lê Hồng Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
5. Lê Đức, Các dạng toán điển hình Đại số và Giải tích, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dạng toán điển hình Đại số và Giải tích
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
6. Lê Hải Châu, Các bài thi chọn học sinh giỏi Toán trung học phổ thông toàn quốc, Nxb Giáo dục, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài thi chọn học sinh giỏi Toán trung học phổ thông toàn quốc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Nguyễn Huy Đoan (chủ biên), Nguyễn Xuân Liêm, Nguyễn Khắc Minh, Đoàn Quỳnh, Ngô Xuân Sơn Sách Giáo khoa Giải tích 11, Nxb Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Giáo khoa Giải tích 11
Tác giả: Nguyễn Huy Đoan, Nguyễn Xuân Liêm, Nguyễn Khắc Minh, Đoàn Quỳnh, Ngô Xuân Sơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
8. Nguyễn Thị Phương Hoa, Lý luận dạy học hiện đại, Tập bài giảng dành cho học viên cao học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại, Tập bài giảng dành cho học viên cao học
9. Bùi Thị Hường, Giáo trình Phương pháp dạy học môn Toán ở trung học phổ thông theo định hướng tích cực, Nxb giáo dục Việt nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp dạy học môn Toán ở trung học phổ thông theo định hướng tích cực
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt nam
10. Nguyễn Bá Kim, Phương pháp dạy học môn toán, Nxb Đại học Sư Phạm, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn toán
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
11. Nguyễn Vũ Lương (Chủ biên), Nguyễn Ngọc Thắng, Các bài giảng về phương trình lượng giác, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về phương trình lượng giác
Tác giả: Nguyễn Vũ Lương, Nguyễn Ngọc Thắng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
12. Trần Phương, Tuyển tập các chuyên đề luyện thi đại học môn toán Phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các chuyên đề luyện thi đại học môn toán Phương
Tác giả: Trần Phương
13. Võ Đại Mau, Phương trình Bất phương trình lượng giác Các phương pháp giải đặc biệt, Nxb Trẻ, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương trình Bất phương trình lượng giác Các phương pháp giải đặc biệt
Nhà XB: Nxb Trẻ
14. Vũ Tuấn (chủ biên), Lê Thị Thiên Hương, Nguyễn Tiến Tài, Nguyễn Thu Nga, Phạm Thu, Sách bài tập Giải tích 11, Nxb Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách bài tập Giải tích 11
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15. Vũ Hồng Tiến, Một số phương pháp dạy học tích cực, Tailieu.net 16. Một số trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp dạy học tích cực
Tác giả: Vũ Hồng Tiến
Nhà XB: Tailieu.net

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Quy trình tổ chức hoạt động học tập tự học với sách giáo khoa                                                 Học sinh đọc SGK - Tổ chức dạy học phần  Phương trình lượng giác  của sách giáo khoa đại số và giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
Sơ đồ 2.1. Quy trình tổ chức hoạt động học tập tự học với sách giáo khoa Học sinh đọc SGK (Trang 30)
Sơ đồ 2.2. Qui trình hướng dẫn tự học theo chương trình hóa - Tổ chức dạy học phần  Phương trình lượng giác  của sách giáo khoa đại số và giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
Sơ đồ 2.2. Qui trình hướng dẫn tự học theo chương trình hóa (Trang 37)
Hoạt động 1: Hình thành khái khái niệm phương trình lượng giác cơ bản - Tổ chức dạy học phần  Phương trình lượng giác  của sách giáo khoa đại số và giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
o ạt động 1: Hình thành khái khái niệm phương trình lượng giác cơ bản (Trang 45)
Bảng  viết  câu  hỏi  và  câu  trả  lời  của - Tổ chức dạy học phần  Phương trình lượng giác  của sách giáo khoa đại số và giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
ng viết câu hỏi và câu trả lời của (Trang 47)
Bảng trình bày bài làm của mình - Tổ chức dạy học phần  Phương trình lượng giác  của sách giáo khoa đại số và giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
Bảng tr ình bày bài làm của mình (Trang 49)
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ dạy học theo chương trình hóa - Tổ chức dạy học phần  Phương trình lượng giác  của sách giáo khoa đại số và giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
Sơ đồ 2.3 Sơ đồ dạy học theo chương trình hóa (Trang 80)
Bảng 3.1. Bảng thống kê điểm số bài kiểm tra lần 1. - Tổ chức dạy học phần  Phương trình lượng giác  của sách giáo khoa đại số và giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
Bảng 3.1. Bảng thống kê điểm số bài kiểm tra lần 1 (Trang 117)
Bảng 3.3. Phân loại trình độ HS qua lần kiểm tra thứ nhất. - Tổ chức dạy học phần  Phương trình lượng giác  của sách giáo khoa đại số và giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
Bảng 3.3. Phân loại trình độ HS qua lần kiểm tra thứ nhất (Trang 118)
Bảng 3.4. Tần suất cộng dồn trong thực nghiệm - Tổ chức dạy học phần  Phương trình lượng giác  của sách giáo khoa đại số và giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
Bảng 3.4. Tần suất cộng dồn trong thực nghiệm (Trang 119)
Bảng 3.5. Bảng điểm kiểm tra của học sinh lần 2 trong thực nghiệm - Tổ chức dạy học phần  Phương trình lượng giác  của sách giáo khoa đại số và giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
Bảng 3.5. Bảng điểm kiểm tra của học sinh lần 2 trong thực nghiệm (Trang 120)
Bảng  3.6.  Phân  loại  trình  độ  HS  qua  lần  kiểm  tra  thứ  hai  trong  thực  nghiệm - Tổ chức dạy học phần  Phương trình lượng giác  của sách giáo khoa đại số và giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
ng 3.6. Phân loại trình độ HS qua lần kiểm tra thứ hai trong thực nghiệm (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w