1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao

121 697 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo năng lực tự học, tự nghiên cứu của người học, phát huy khả năng làm việc hợp tác và làm việc nhóm của học sinh, rèn luyện kĩ năng vận

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Danh mục các bảng iii

Danh mục các hình, sơ đồ iv

Mục lục v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN 1

1.1 Quá trình dạy học 6

1.2 Phương pháp dạy và học tích cực 6

1.3 Tính tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh 7

1.3.1 Khái niệm 8

1.3.2 Biểu hiện của tính tích cực, tư duy sáng tạo của học sinh 9

1.4 Dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực 10

1.4.1 Tổ chức dạy học để rèn luyện PP tự học 10

1.4.2 Tổ chức dạy học để rèn luyện hoạt động học tập của mỗi cá nhân, phối hợp với học hợp tác 11

1.4.3 Dạy và học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu và lợi ích của xã hội 11

1.4.4 Dạy học coi trọng hướng dẫn tìm tòi 12

1.4.5 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò 12

1.5 Đổi mới PP dạy và học theo hướng tích cực như thế nào? 13

1.6 Dạy học dự án 14

1.6.1 Khái niệm dự án và dạy học theo dự án 14

1.6.2 Mục tiêu của dạy học dự án 15

1.6.3 Đặc điểm của DHDA 15

1.6.4 Các dạng của dạy học theo dự án 16

1.6.5 Tiến trình thực hiện DHDA 17

1.6.6 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học dự án 26

1.6.7 Điều kiện để thực hiện có hiệu quả 27

1.7 Hoạt động ngoại khóa trong nhà trường phổ thông 27

1.7.1 Vai trò của hoạt động ngoại khóa 27

1.7.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa 28

1.7.3 Một số hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa 29

Trang 2

1.7.4 Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa 30

1.8 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần “Công- Năng lượng” vật lý 10, ở một số trường trong huyện Kinh Môn - Kinh Môn – Hải Dương 32

1.8.1.Mục đích điều tra 32

1.8.2 Phương pháp điều tra 33

1.8.3 Đối tượng điều tra 33

1.8.4 Kết quả điều tra 33

1.8.5 Đề xuất giải pháp 35

Kết luận chương 1 36

Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA NỘI DUNG KIẾN THỨC PHẦN “CÔNG -

NĂNG LƯỢNG’’ VẬT LÍ LỚP 10 NÂNG CAO 37

2.1 Phân tích nội dung kiến thức phần “ Công - Năng lượng” 37

2.1.1 Nội dung kiến thức phần “Công - Năng lượng” trong sách giáo khoa vật lí THCS và THPT 37

2.1.2 Mục tiêu dạy học phần kiến thức “ Công - Năng lượng’’ 39

2.1.3 Sơ đồ cấu trúc lôgic kiến thức phần “Công- Năng lượng” 40

2.2 Thiết kế một số dự án phần công và năng lượng 41

2.2.1 Dự án 1: Năng lượng xung quanh ta 41

2.2.2 Dự án 2: Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các thiết bị phục vụ đời sống và sản xuất cho bà con dân tộc miền núi, vùng sâu vùng xa 43

2.3 Kế hoạch triển khai dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa 45 2.3.1 Kế hoạch 45

2.3.2 Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ việc thực hiện dự án 48

2.4 Nội dung của hội thi giữa các đội tham gia học dự án 49

2.4.1 Kế hoạch của hội thi vật lí 49

2.4.2 Nội dung của hội thi 49

2.4.3 Các tiêu chí đánh giá cho hội thi 51

2.4.4.Tổng kết quá trình thực hiện dự án và hội thi đánh giá và rút kinh nghiệm 64

Kết luận chương 2 65

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 66

3.2 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 66

Trang 3

3.3 Thời gian thực nghiệm sư phạm 66

3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 66

3.5 Tiến hành thực nghiệm sư phạm và phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 67

3.6 Đánh giá hiệu quả của dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa đối với việc phát huy tính tích cực của học sinh 86

3.7 Đánh giá hiệu quả của dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa đối với việc phát huy tính chủ động của học sinh 88

3.8 Đánh giá hiệu quả của dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa đối với việc phát huy tính sáng tạo của học sinh 89

Kết luận chương 3 91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 93

2 Khuyến nghị 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 96

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

DHDA Dạy học dự án ĐHGD Đại học Giáo dục ĐHQG Đại Học Quốc Gia

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Triển khai kế hoạch dạy học dự án 45

Bảng 2.2 Đánh giá kết quả sổ theo dõi dự án 59

Bảng 2.3 Đánh giá phần giới thiệu 60

Bảng 2.4 Đánh giá bài trình bày đa phương diện 60

Bảng 2.5 Đánh giá bài trình bày đa phương diện 62

Bảng 2.6 Phiếu chấm điểm của từng giám khảo 63

Bảng 2.7 Phiếu chấm điểm tổng hợp 63

Bảng 3.1 Phiếu kết quả chấm điểm của giám khảo 86

Bảng 3.2 Phiếu kết quả chấm điểm của các giám khảo 87

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Kĩ thuật khăn trải bàn 25

Hình 3.1 Ảnh nhóm study thuyết trình 69

Hình 3.2 Ảnh nhóm Friendship thuyết trình 69

Hình 3.3 Ảnh nhóm Brave heart đang vẽ sơ đồ tư duy 70

Hình 3.4 Ảnh nhóm Thunderstorm thuyết trình ý tưởng 70

Hình 3.5 Nhóm Brave heart đang hoạt động nhóm dùng kĩ thuật khăn trải bàn 71

Hình 3.6 Ảnh khăn trải bàn nhóm Brave heart tạo ra 71

Hình 3.7 Nhóm Study đang say sưa thuyết trình về sản phẩm của mình và trả lời chất vấn 74

Hình 3.8 Nhóm Thunderstorm đang say sưa thuyết trình về sảnphẩm của mình và trả lời chất vấn 74

Hình 3.9 Nhóm Brave heart đang say sưa thuyết trình và trả lời chất vấn trong hội thi 76

Hình 3.10 Ảnh sản phẩm nhóm Brave heart, thuyền đồ chơi 77

Hình 3.11 Ảnh sản phẩm nhóm Brave heart,Tuabin gió 77

Hình 3.12 Ảnh sản phẩm nhóm Study, ếch đồ chơi 78

Hình 3.13 Ảnh sản phẩm nhóm Study,Tua bin nước 78

Hình 3.14 Ảnh sản phẩm nhóm Thunderstorm, máy bay đồ chơi 79

Hình 3.15 Ảnh sản phẩm nhóm Thunderstorm, Cối giã gạo 79

Hình 3.16 Ảnh sản phẩm nhóm Friendship, Ô tô đồ chơi 80

Hình 3.17 Ảnh sản phẩm nhóm Friendship, Guồng nước 80

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1.Vai trò của người dạy và người học trong dạy và học tích cực 13

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cấu trúc lôgic kiến thức phần “Công- Năng lượng” 40

Trang 7

mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực trí tuệ

Mục đích giáo dục Việt nam cũng như thế giới trong thế kỉ 21 này là không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ cho học sinh những kiến thức kĩ năng loài người đã tích lũy trước đây, mà còn đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo ra những tri thức mới, phương pháp mới, cách giải quyết vấn đề phù hợp với hoàn cảnh đất nước, mỗi dân tộc.Trong thời điểm này, người lao động phải luôn biết đổi mới kiến thức và năng lực của mình cho phù hợp với sự phát triển của khoa học và kĩ thuật Lúc đó người lao động có khả năng tự định hướng và tự học

để thích ứng với sự đòi hỏi mới của xã hội Giáo dục không chỉ chú ý yêu cầu xã hội đối với người lao động, mà còn phải chú ý đến quyền lợi, nguyện vọng năng lực, sở trường của cá nhân Sự phát triển đa dạng của cá nhân sẽ dẫn đến sự phát triển mau lẹ, toàn diện và hài hòa của xã hội [10]

Vật lý ở trường phổ thông chủ yếu là vật lý thực nghiệm, trong đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lí thuyết từ đó rút ra được những kết quả thực tiễn thống nhất với lí luận Những ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật không những phụ thuộc vào nhu cầu đời sống và sản suất mà còn phục vụ những công việc nghiên cứu vật lý học, nâng cao khả năng hoạt động chính của người nghiên cứu, học tập vật lý

Nội dung kiến thức về “Công - Năng lượng” trong chương trình vật lý phổ thông rất quan trọng đối với học sinh Đặc biệt định luật “Bảo toàn và chuyển hóa

Trang 8

năng lượng” định luật này là định luật tổng quát, mọi hiện tượng trong tự nhiên đều liên quan đến Ở chương trình lớp 9 các em đã được học định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, lớp 10 lại được học trong chương “Các định luật bảo toàn‟‟ lớp 12 lại được học trong chương “Dao động cơ” và nói chung định luật bảo toàn còn được vận dụng trong nhiều hiện tượng vật lí Khi học kiến thức này nếu học sinh chỉ dừng lại kiến thức sách giáo khoa thì chưa đủ, các em cần phải tìm hiểu thêm rất nhiều các hiện tượng khác trong thực tế liên quan đến hiện tượng này, hoặc các em phải tạo ra được các thiết bị hoạt động dựa trên nguyên tắc bảo toàn và chuyển hóa năng lượng để từ đó các em sẽ hiểu sâu kiến thức sách giáo khoa và gắn liền được kiến thức lí thuyết vào thực tiễn từ đó phát huy được, tính tích cực chủ động, sự độc lập sáng tạo trong học vật lý và trong nhận thức khoa học

Để phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo năng lực tự học, tự nghiên cứu của người học, phát huy khả năng làm việc hợp tác và làm việc nhóm của học sinh, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, khắc phục kiểu dạy học áp đặt, lấy giáo viên làm trung tâm, chống lại thói quen học tập thụ động, đem lại hứng thú cho học sinh học tập vật lý thì mỗi giáo viên cần cần sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại, phù hợp với học sinh thì mới đạt được mục tiêu đó Hiện nay các nước trên thế giới đã đưa ra rất nhiều phương pháp dạy học hiện đại, nước ta cũng áp dụng các phương pháp đó cho phù hợp với tình hình thực tiễn về cơ sở vật chất, kĩ thuật ở nước

ta Ở nước ta các trường miền núi vùng sâu vùng xa do công nghệ thông tin chưa được phổ cập tới các trường, các lớp học chưa được trang bị máy tính máy chiếu để phục vụ cho việc học tập nên việc tổ chức dạy học theo các phương pháp dạy học hiện đại là rất khó khăn Để áp dụng dạy học dự án cần có thời gian để HS làm quen với kiểu tổ chức dạy học mới này, muốn vậy các giáo viên nên triển khai các các dự án phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật, với lí do trên chúng tôi chọn và nghiên cứu đề

tài “Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần “Công - Năng lƣợng’’ vật lý lớp 10 nâng cao

2 Lịch sử nghiên cứu

Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh là projicere và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay

Trang 9

một kế hoạch, trong đó đề án, dự thảo hay kế hoạch này cần được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế-xã hội: trong sản xuất, doanh nghiệp, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong quản lý xã hội

Đầu thế kỷ 20 các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sơ lý luận cho phương pháp dự án (The Project Method) và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi thầy giáo là trung tâm Ban đầu, phương pháp dự án (PPDA) được

sử dụng trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các môn học khác, cả các môn khoa học xã hội Sau một thời gian phần nào bị lãng quên, hiện nay PPDA được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và đại học trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển

Ở Việt Nam, các đề án môn học, đề án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng trong đào tạo đại học, các hình thức này gần gũi với dạy học theo dự án Tuy vậy trong lĩnh vực lý luận dạy học, dạy học dự án chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thích đáng, nên việc sử dụng chưa đạt hiệu quả cao

Gần đây tác giả Nguyễn Diệu Linh đã nghiên cứu đề tài: Tổ chức dạy học dự

án thông qua hoạt động ngoại khóa chương “Các định luật bảo toàn”ở lớp 10 THPT trong luận văn thạc sĩ sư phạm vật lý năm 2010 của ĐHGD- ĐHQG Hà nội Tác giả

đã tổ chức cho học sinh thực hiện các dự án khi học các kiến thức định luật bảo toàn động lượng, bảo toàn cơ năng, bảo toàn năng lượng, chế tạo được một số dụng cụ đơn giản hoạt động theo nguyên tắc chuyển động bằng phản lực, ứng dụng định luật bảo toàn động lượng để giải thích một số hiện tượng thực tế có liên quan, tác giả còn đề cập đến định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng Tác giả Tạ Đăng Thái với đề tài: Tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khoá khi dạy học nội dung kiến thức bài "Định luật bảo toàn động lượng" vật lý lớp 10, trong luận văn thạc sĩ năm 2011 ĐHGD- ĐHQG Hà nội Tác giả Tạ Đăng Thái đã tổ chức một dự án lớn trong toàn trường đó là: chế tạo dụng cụ tên lửa nước hoạt động theo nguyên tắc định luật bảo toàn động lượng Qua tìm hiểu một số luận văn thạc sĩ chúng tôi thấy các tác giả cũng đã áp dụng được dạy học dự án tuy nhiên nội dụng về định luật bảo

Trang 10

toàn và chuyển hóa năng lượng chưa được nghiên cứu sâu sắc vì vậy tôi sẽ tiếp tục áp dụng dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa để giải quyết một số dự án thuộc

phần kiến thức „Các định luật bảo toàn‟ cụ thể phần kiến thức “Công – Năng lƣợng”

3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa vào việc dạy nội dung kiến thức phần “Công- năng lượng‟‟vật lý lớp 10 nâng cao nhằm giúp

HS hướng đến hoạt động nhận thức tích cực, chủ động, sáng tạo trong tìm tòi giải quyết vấn đề từ đó học sinh sẽ gắn được các kiến thức lí thuyết với thực tiễn, hiểu sâu sắc vấn đề

4 Đối tƣợng nghiên cứu

Hoạt động dạy và hoạt động học của giáo viên và học sinh qua tiến trình dạy học dự án nội dung kiến thức phần “ Công - Năng lượng ”Vật lý 10 nâng cao

7 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng quan điểm của lí luận dạy học hiện đại về tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa khi dạy học thuộc phần “Công – Năng lượng” thì sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong tìm tòi và giải quyết vấn đề

8 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu quan điểm của lí luận dạy học hiện đại về dạy học dự án

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của hoạt động ngoại khóa

- Nghiên cứu các tài liệu giáo khoa liên quan phần “Công - năng lượng” trong chương trình vật lý phổ thông và các tài liệu thí nghiệm liên quan đến phần này

- Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần

“Công và năng lượng ” Vật lý lớp 10 Nâng cao

Trang 11

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính đúng đắn của đề tài, rút kinh nghiệm và hoàn chỉnh để thực hiện đồng loạt trên các khối lớp

9 Phương pháp chứng minh luận điểm

- Nghiên cứu tài liệu

- Thực nghiệm giảng dạy trên lớp 11THPT

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học dự án

Chương 2: Tổ chức dạy học dạy án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần “Công - Năng lượng‟‟ Vật lý lớp 10 nâng cao

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

Quá trình dạy học là một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như một hệ thống bao gồm nhiều thành tố cấu trúc: Mục đích và nhiệm vụ dạy học, phương tiện dạy học, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, nội dung dạy học, điều kiện dạy học, chủ thể dạy học, đối tượng dạy học, kết quả dạy học

Tất cả những thành tố trong cấu trúc quá trình dạy học tồn tại trong mối quan

hệ thống nhất biện chứng với nhau thống và toàn bộ hệ được đặt trong môi trường kinh tế xã hội và trong môi trường khoa học công nghệ [3, tr.3]

Theo quan điểm hiện đại về dạy học (Dạy học bằng hoạt động, thông qua hoạt động) thì việc tổ chức dạy học thực chất là tổ chức cho người học hoạt động tự lực thông qua đó mà chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực và hình thành thái

độ Trong mỗi hình thức tổ chức dạy học lại có nhiều cách thức tổ chức hoạt động của người học Lựa chọn phương pháp hay hình thức nào tổ chức hoạt động nào là tuỳ thuộc vào mục đích, nội dung, phương tiện dạy học và trình độ người học Mỗi hình thức, phương pháp, tổ chức dạy học có ưu điểm riêng, đáp ứng được việc thực hiện một số mặt trong mục tiêu chung của dạy học vật lí Việc phối hợp khéo léo, hài hòa các hình thức tổ chức dạy học sẽ mang lại hiệu quả cao, tạo ra một chất lượng toàn diện ở người học

Trang 13

Tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến thức ,vận dụng kiến thức để tìm kiếm vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo.[1]

Trong dạy và học tích cực, hoạt động học tập được thực nghiệm trên cơ sở hợp tác và giao tiếp ở mức độ cao PP dạy và học tích cực không phải không phải là một PP dạy học cụ thể, mà là một khái niệm, bao gồm nhiều PP hình thức kĩ thuật

cụ thể khác nhau nhằm tích cực hóa, tăng cường sự tham gia của người học, tạo điều kiện cho người học phát triển tối đa năng lực học tập, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề

PP dạy và học tích cực đem lại cho người học hứng thú, niềm vui trong học tập, nó phù hợp với đặc tính ưa thích hoạt động của trẻ em Việc học của học sinh khi đã trở thành niềm hạnh phúc sẽ giúp các em tự khẳng định mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo Như vậy dạy và học tích cực nhấn mạnh đến tính tích cực hoạt động của người học và tính nhân văn của giáo dục

Bản chất của dạy và học tích cực là:

- Khai thác động lực học tập ở người học để phát triển chính họ

- Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích ứng với đời sống xã hội.[1]

Trong dạy và học tích cực, mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh là mối quan hệ tác động qua lại trong môi trường học tập an toàn

Trong bối cảnh của thời kỳ đổi mới các nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí quan trọng trong đổi mới PP dạy và học như sau:

- Tiêu chí hàng đầu của việc dạy và học là cách học

- Phẩm chất cần phát triển mạnh mẽ là tính chủ động của người học

- Công cụ cần khai thác triệt để là công nghệ thông tin và đa phương tiện.[1]

1.3 Tính tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh

Trong quá trình hoạt động nhận thức học sinh phải phát huy được cao độ tính tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh

Trang 14

1.3.1 Khái niệm

Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua

sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập - nhận thức Trong quá trình học tập người học phải phát huy cao nhất các chức năng tâm lí Tính tích cực nhận thức chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố tình cảm,

ý chí và hướng thú học tập Tính tích cực nhận thức phát triển tới mức độ cao sẽ làm hình thành tính tự chủ nhận thức

Tính tự chủ (chủ động) nhận thức theo nghĩa rộng là sự sẵn sàng về mặt tâm lí đối

với sự học Theo nghĩa hẹp tính tự chủ nhận thức là năng lực phẩm chất và nhu cầu học tập và khả năng tự tổ chức học tậpcho phép người học tự phát hiện vấn đề, tự giải quyết vấn đề, tự kiểm tra đánh giá hoạt động của mình tạo cơ sở cho việc tự học Trong quá trình học tập ,dưới sự định hướng của giáo viên, học sinh có thể tự lực phát hiện vấn đề bài học và tự mình đề ra giải pháp cho vấn đề đặt ra, đó là biểu hiện tự chủ trong học tập Điều này thể hiện rõ nét tính tự chủ trong hoạt động nhận thức của học sinh

Sáng tạo theo các nhà tâm lý học thì hoạt động sáng tạo được xem là dạng hoạt

động cao nhất của con người Năng lực sáng tạo là cốt lõi của hoạt động sáng tạo, làm tiền đề bên trong của hoạt động sáng tạo, nó được xác định từ chất lượng đặc biệt của các quá trình tâm lý mà trước hết là quá trình trí nhớ, tư duy xúc cảm ý chí

Tư duy sáng tạo là kiểu giải quyết vấn đề dựa trên sự động não tối đa nhằm tạo điều kiện tìm ra phương án tối ưu dựa trên những phương án được nêu ra Điều này thoạt đầu nghe có vẻ đơn giản nhưng thực ra là cả một quá trình rất phức tạp đòi hỏi sự

nỗ lực cao độ của hoạt động trí óc Trước một vấn đề nan giải, khi tất cả các phương

án cũ đều không thể giải quyết được, con người buộc phải tìm ra càng nhiều giải pháp càng tốt, sau đó sàng lọc và chọn ra giải pháp hay nhất trong số những giải pháp đã đưa ra Tuy nhiên, con đường và quá trình tìm ra những giải pháp mới không hề đơn giản, đó là cả một quá trình “vật lộn” của trí não cho đến lúc cảm thấy

“lóe sáng” để rồi tìm ra vấn đề

Như vậy tính tích cực, tự chủ, tư duy sáng tạo có liên hệ mật thiết với nhau Tính tích cực là biểu hiện của sự nảy sinh phát triển tính tự chủ trong nhận thức, khi tự

Trang 15

chủ trong nhận thức thì chúng ta có khả năng tư duy sáng tạo trong tìm tòi và giải quyết vấn đề

1.3.2 Biểu hiện của tính tích cực, tư duy sáng tạo của học sinh

1.3.2.1.Tính tích cực

*Các cấp độ của tính tích cực trong học tập

Khi nói về tính tích cực người ta thường đánh giá nó ở cấp độ cá nhân người học trong quá trình thực hiện mục đích hoạt động chung Tính tích cực được chia làm ba cấp độ:

+ Tính tích cực bắt chước, tái hiện (xuất hiện do tác động bên ngoài): học

sinh bắt chước hành động của giáo viên, của bạn bè

+ Tính tích cực tìm tòi (đi liền với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết

tình huống nhận thức): học sinh tìm cách độc lập giải quyết vấn đề đã nêu ra, tìm ra cách giải quyết hợp lí nhất

+ Tích cực sáng tạo (thể hiện khi chủ thể tìm tòi kiến thức mới): học sinh

nghĩ ra cách thiết kế, chế tạo sản phẩm

* Những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của học sinh

+ Sự gần gũi với thực tế: Xây dựng tình huống có vấn đề, tạo mâu thuẫn

nhận thức, tạo động cơ, hứng thú tìm cái mới để kích thích hứng thú và tính tích cực học tập của học sinh với những nội dung có tính thực tiễn, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em, gắn với thực tế hoặc những vấn đề có tính mới mẻ nhưng không quá xa lạ với các em

+ Sự phù hợp với mức độ phát triển: Cần có sự lựa chọn kĩ các vấn đề vừa

sức và xác định mức độ mà học sinh có thể tham gia trong việc giải quyết từng vấn

đề cụ thể Cần tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển của từng đối tượng học sinh Các yêu cầu đưa ra phải rõ ràng, tránh mơ hồ, đa nghĩa

+ Không khí và các mối quan hệ trong nhóm: Kích thích hứng thú học tập

cho các em bằng những phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một môi trường học tập thoải mái, tạo điều kiện để các em phải làm việc, động viên và giúp đỡ lớp học sao cho các học sinh mạnh dạn tham gia thảo luận, đưa học sinh vào thế học tập chủ động

Trang 16

+ Mức độ và sự đa dạng của hoạt động: Kết hợp xen kẽ nhiều hình thức tổ

chức dạy học như làm việc cá nhân, hoạt động nhóm, tập thể, lớp Đảm bảo hỗ trợ đúng mức (các học sinh trong nhóm hỗ trợ nhau và hỗ trợ từ phía giáo viên)

+ Phạm vi tự do sáng tạo: học sinh được lựa chọn hoạt động, đánh giá hoạt

động, quyết định quá trình thực hiện Giáo viên động viên, khuyến khích các em tự mình giải quyết vấn đề

1.3.2.2 Năng lực sáng tạo

* Các biểu hiện của năng lực sáng tạo của học sinh

Trong học tập, năng lực sáng tạo của học sinh được biểu hiện qua các hành động cụ thể như:

+ Học sinh đề xuất được các phương án làm các sản phẩm với nhiều nguyên liệu khác nhau, đề xuất được các phương án giải thích nguyên tăc hoạt động của sản phẩm + Học sinh đưa ra được phương án cuối cùng làm sản phẩm để có tính khả thi và có ứng dụng vào thực tiễn

+ Học sinh sáng tạo trong cách làm bản trình chiếu và cách thuyết trình

* Các phương pháp dạy học tích cực đều hướng tới việc bồi dưỡng tính tích cực và

tư duy sáng tạo của học sinh trong đó có phương pháp Dạy học dự án

1.4 Dấu hiệu đặc trƣng của dạy và học tích cực

1.4.1 Tổ chức dạy học để rèn luyện PP tự học

- GV rèn cho học sinh tự khám phá những điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết Bằng cách cho học sinh tham gia vào hoạt động học tập, đặt người học vào những tình huống, trực tiếp quan sát thảo luận, trao đổi làm thí nghiệm … ,động viên người học trình bày quan điểm về vấn đề đó theo quan điểm của mình, qua đó người học không những chiếm lĩnh được kiến thức kĩ năng mà còn làm chủ cách thức xây dựng kiến thức, từ đó tự chủ và sáng tạo được bộ lộ và được rèn luyện.[1, tr 23]

- GV phải lập được kế hoạch hướng dẫn học sinh phát triển các năng lực cần thiết, trong cuộc sống cũng như trong và ngoài nhà trường, phù hợp với thời đại

- Trong quá trình dạy học, phải dạy làm sao để bám sát các vấn đề của thực tiễn, chứ không được nhồi nhét thông tin, đó chính là quá trình giúp học sinh

thông hiểu kiến thức vận dụng được kiến thức vào thực tiễn cuộc sống

Trang 17

- GV cần rèn luyện cho học sinh PP tự học: bằng cách tạo cho họ thói quen ý chí tự tìm tòi kiến thức từ đó sẽ tạo cho họ lòng say mê học tập, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người và kết quả học tập sẽ được tăng cao

1.4.2 Tổ chức dạy học để rèn luyện hoạt động học tập của mỗi cá nhân, phối hợp với học hợp tác

Trong dạy học tích cực, giáo viên cần quan tâm đến sự phân hóa về trình độ nhận thức, cường độ và tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mỗi học sinh

Để người học có điều kiện bộc lộ, phát triển khả năng của mình, cần đặt vào môi trường học tập hợp tác trong mối quan hệ thầy trò, trò - trò Trong mối quan hệ quan hệ tương tác đó, người học không chỉ được học qua thầy mà còn học được qua bạn, chia sẻ kinh nghiệm kích thích tính tích cực, chủ động của mỗi cá nhân, đồng thời hình thành và phát triển ở người học năng lực tổ chức, điều khiển, lãnh đạo, các kĩ năng hợp tác, giao tiếp, trình bày giải quyết vấn đề và tạo môi trường học tập thân thiện Tuy nhiên, để học hợp tác có hiệu quả, giáo viên cần hình thành cho người học thói quen học tập tự giác, tôn trong giúp đỡ lần nhau Đồng thời nhiệm vụ được giao phải rõ ràng, cụ thể, mỗi thành viên trong nhóm đều được phân công, xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của mình để tránh tình trạng dựa dẫm ỷ lại và có những biểu hiện không hợp tác “phá rối ” làm cho hoạt động hợp tác mất thời gian, kém hiệu quả.[1, tr 24]

Khái niệm học tập hợp tác ngoài việc nhấn mạnh vai trò quan trọng của cá nhân trong quá trình học sinh làm việc cùng nhau, còn đề cao sự ràng buộc và tương tác lẫn nhau giữa các học sinh

1.4.3 Dạy và học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu

và lợi ích của xã hội

- Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được lựa chọn vấn đề mà mình quan tâm ham thích, tự lực tiến hành nghiên cứu giải quyết vấn đề, trình bày kết quả Đó

là đặc trưng lấy học sinh làm trung tâm theo nghĩa đầy đủ của thuật ngữ này Việc nghiên cứu có thể tiến hành theo cá nhân hoặc nhóm nhỏ

- Các chủ đề /nội dung tìm hiểu, nghiên cứu có thể do học sinh tự đề xuất hoặc lựa chọn trong các chủ đề /nội dung cần gắn với nhu cầu, lợi ích của người học cũng như thực tiễn xã hội

Trang 18

Dạy và học chú trong đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu lợi ích, của xã hội nhằm phát huy cao độ tính tích cực, chủ động rèn luyện cho học sinh cách làm việc độc lập, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng tổ chức công việc, trình bày kết quả.[1, tr 25]

1.4.4 Dạy học coi trọng hướng dẫn tìm tòi

Coi trong hướng dẫn tìm tòi là giúp học sinh phát triển kĩ năng giải quyết vấn

đề và nhấn mạnh rằng học sinh có thể học được phương pháp học thông qua hoạt động Dấu hiệu đặc trưng này có thể áp dụng cho học sinh nhỏ tuổi nếu có tài liệu cụ thể có sự giúp đỡ của giáo viên, đặc biệt có hiệu quả với học sinh ở lớp cao hơn vì học sinh đã có khả năng làm việc độc lập, tự giác tư duy lôgic, khả năng phân tích tổng hợp đánh giá phát triển, dạy và học coi trong hướng dẫn tìm tòi về phía người học sự học tập tích cực để tìm lời giải đáp cho vấn đề đặt ra và về phía người dạy cần

có hướng dẫn kịp thời giúp cho sự tìm tòi của người học đạt kết quả.[1, tr 26]

1.4.5 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong dạy học đánh giá là nhiệm vụ của GV, học sinh là đối tượng được đánh giá Đánh giá tập trung vào kết quả học tập của học sinh thông qua các bài kiểm tra đánh giá thi cử, cách đánh giá như vậy là cách đánh giá thụ động không đám ứng được yêu cầu của xã hội

Trong dạy và học tích cực, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh mà đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của giáo viên

Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà học sinh tự liên hệ phần nhiệm vụ

đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học tập, học sinh nỗ lực và tiến bộ, nhìn lại quá trình và phát hiện những điểm cần thay đổi hoàn thiện bản thân

Cùng với tự đánh giá, giáo viên tổ chức cho học sinh đánh giá lẫn nhau hay còn gọi là đánh giá đồng đẳng dánh giá đồng đẳng chỉ giúp cho học sinh nhìn nhận chính mình ,từ đó điều chỉnh để giải quyết vấn đề, chia sẻ kinh nghiệm từ kết quả của mình và của bạn thúc đẩy kết quả học tập ngày càng một tốt hơn.[1, tr 27]

Trang 19

1.5 Đổi mới PP dạy và học theo hướng tích cực như thế nào ?

Đổi mới PP dạy học theo hướng tích cực chính là phát huy tính tích cực của nhận thức của học sinh, nói cách khác là “Dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm”

Trong dạy và học tích cực, dưới sự thiết kế tổ chức định hướng của giáo viên người học tham gia vào quá trình hoạt động học tập từ khâu phát hiện vấn đề, tìm giải pháp cho vấn đề đặt ra, thực hiện giải pháp và rút ra kết luận Qua trình đó giúp người học lĩnh hội nội dung học tập đồng thời phát triển năng lực sáng tạo.[1]

Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực có nghĩa là hoạt động học tập phải được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động hợp tác, trong mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò, trò - trò trong môi trường học tập thân thiện an toàn

Trong dạy và học tích cực, học sinh là chủ thể hoạt động học tập, giáo viên đóng vai trò người tổ chức hướng dẫn, đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức sâu, rộng

và có kĩ năng sư phạm ,đặc biệt phải có tình cảm nghề nghiệp thì việc đổi mới PP dạy học theo hướng tích cực mới đạt kết quả

Hoạt động của giáo viên và học sinh trong dạy học tích cực được thể hiện ở

Nguồn: [1, tr 29]

Sơ đồ 1.1.Vai trò của người dạy và người học trong dạy và học tích cực

Trang 20

Mục đích của dạy học tích cực so với dạy học thụ động là:

- Học có hiệu quả hơn, bài học sinh động hơn

- Quan hệ giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh phải tốt hơn

- Hoạt động học tập phải phong phú hơn, học sinh hoạt động nhiều hơn

- Giáo viên có nhiều cơ hội giúp đỡ học sinh hơn.[1]

- Quan tâm nhiều tới sự phát triển của cá nhân, tính sáng tạo của người học

Trong hệ thống dạy học không có PP nào hoàn toàn thụ động và PP nào hoàn toàn tích cực Đổi mới PP dạy học không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống mà vấn đề là ở chỗ giáo viên sử dụng phương pháp đó như thế nào

để phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh Điều đó đòi hỏi giáo viên phải có năng lực chuyên môn, năng động, sáng tạo trong việc tìm kiếm kiến thức, giải quyết vấn đề.[1]

1.6 Dạy học dự án

1.6.1 Khái niệm dự án và dạy học theo dự án

Dạy học dự án (DHDA) là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện

quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành,

tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học

Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh là projicere và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch, trong đó đề án, dự thảo hay kế hoạch này cần được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra

Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế-xã hội: trong sản xuất, doanh nghiệp, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong quản

lý xã hội

Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp hay hình thức dạy học Khái niệm Project được sử dụng trong các trường dạy kiến trúc-xây dựng ở Ý từ cuối thế kỷ 16 Từ đó tư tưởng dạy học theo

Trang 21

dự án lan sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và Mỹ, trước hết là trong các trường đại học và chuyên nghiệp.[9, tr 246]

Dạy học dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế họach, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của DHDA.[1]

1.6.2 Mục tiêu của dạy học dự án

Dạy học dự án giúp cho người học đạt được những mục tiêu:

- Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội dung học với cuộc sống thực

- Rèn luyện cho người học phát triển kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề liên quan đến nội dung học tập và cuộc sống

- Rèn luyện cho người học nhiều khả năng: tổ chức kiến thức, kỹ năng sống, làm việc theo nhóm

- Giúp người học nâng cao kỹ năng sử dụng CNTT vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm

Tóm lại hướng tới sự phát triển kĩ năng tư duy bậc cao, có khả năng vận dụng linh hoạt vào thực tế cuộc sống.[1]

1.6.3 Đặc điểm của DHDA

Trong các tài liệu về dạy học dự án có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ 20 khi xác lập cơ sở lý thuyết cho PPDH này đã nêu ra

3 đặc điểm cốt lõi của DHDA: định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của DHDA như sau:

- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống

của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ

dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học

- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập

trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

Trang 22

- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung

học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án

- Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực

hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp

- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp

giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học

-Tính tự lực cao của người học: Trong DHDA, người học cần tham gia tích

cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò

tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ

- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm,

trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội

- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được

tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong

đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu

1.6.4 Các dạng của dạy học theo dự án

* Phân loại theo chuyên môn

- Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học

- Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau

- Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường

Trang 23

* Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân Dự

án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu Trong trường phổ thông còn

có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học

* Phân loại theo sự tham gia của GV: dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án

với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV

* Phân loại theo quỹ thời gian: K.Frey đề nghị cách phân chia như sau:

- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học

- Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học

- Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)

Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông Trong đào tạo đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn

*Phân loại theo nhiệm vụ

- Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau:

- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng

- Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình

- Dự án thực hành: có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác

- Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên

Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng.[9]

1.6.5 Tiến trình thực hiện DHDA

1.6.5.1 Qui trình thực hiện dạy học dự án

Trang 24

- Sản phẩm dự kiến

- Cách triển khai thực hiện hoàn thành dự án

- Thời gian thực hiện và hoàn thành

+ Lựa chọn chủ đề : Chủ đề khởi đầu bằng một ý tưởng có liên quan đến nội

dung học tập, gắn với thực tiễn mà HS quan tâm

Ví dụ:

Đời sống hàng ngày (trường học, gia đình, chăm sóc vật nuôi )

Văn hoá và xã hội (Lễ hội, phong tục, .)

Các vấn đề thời sự cập nhật (an toàn giao thông, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, tiết kiệm năng lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, )

Địa lí và sinh thái (địa hình vùng miền, đa dạng sinh học ở địa phương, vật nuôi cây trồng điạ phương, )

Trang 25

+ Bài học kinh nghiệm sau khi thực hiện dự án: Sau khi trình bày báo cáo các nhóm, đánh giá kết quả của nhau và cùng nhìn lại quá trình thực hiện

dự án.[1]

1.6.5.2 Các bước chuẩn bị của giáo viên và học sinh khi tổ chức dự án học tập

* Triển khai bài học thành dự án

Giáo viên phải xác định được chuẩn kiến thức mà giáo viên muốn cho học sinh mình đạt được sau khi thực hiện dự án từ đó phát triển thành mục tiêu dạy học cho bài học: Mục tiêu về kiến thức, mục tiêu về kĩ năng, mục tiêu về thái độ, chú ý vào thiết lập vào những mục tiêu tập chung vào hoạt động với tư duy bậc cao Từ nội dung bài học hoặc một chương giáo viên phải hình thành ý tưởng

thành bài học dự án.[9]

* Xây dựng bộ câu hỏi định hướng bài dạy

Câu hỏi khái quát (CHKQ):

- Giới thiệu khái quát, đầy đủ những ý tưởng xuyên suốt các môn học Câu hỏi khái quát cung cấp cầu nối giữa các bài, phạm vi môn học, thậm chí cả khóa học trong một năm

- Đưa ra nhiều câu trả lời Đối với các câu hỏi loại này, câu trả lời thường không có trong 1 cuốn sách Chúng thường là những câu hỏi khái quát về thực tế

- Thu hút được sự quan tâm của học sinh với yêu cầu tư duy bậc cao; CHKQ buộc học sinh phải phân tích tư duy, áp dụng những giá trị và giải thích những kinh nghiệm của mình

Trang 26

- Dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác: CHKQ sẽ mở rộng vấn đề, mở rộng tính phức tạp và phong phú của chủ đề, gợi mở hướng nghiên cứu chứ không đẫn đến những kết luận sớm hay những câu trả lời mơ hồ

Các CHKQ giúp giáo viên tập trung vào các khía cạnh quan trọng trong chương trình suốt năm học và có ý nghĩa xuyên suốt các lĩnh vực của môn học CHKQ đề cập đến những ý quan trọng xuyên suốt nội dung nhiều lĩnh vực CHKQ tập trung vào vấn

đề, mối quan tâm hoặc các chủ đề được đề cập trong các bài khác [2]

Đối với học sinh CHKQ cần thích hợp, hấp dẫn, được đề xuất phù hợp với lứa tuổi và vốn ngôn ngôn ngữ của học sinh CHKQ giúp phát triển trí tưởng tượng

và tạo mối liên hệ giữa môn học với kiến thức và ý tưởng của học sinh Do không

có một câu trả lời hiển nhiên “đúng” nên học sinh được thử thách trong việc tìm ra nhiều kết quả khác nhau, CHKQ khuyến khích thảo luận và nghiên cứu chuyên sâu đặt nền tảng cho các câu hỏi sau này

Câu hỏi trên có phậm vi rất rộng, có thể sử dụng được trong các môn học

như vật lý, hóa học, sinh học ,…và ở nhiều bài học khác nhau.[9]

Câu hỏi bài học (CHBH):

- Có đáp án mở, lôi cuốn các em vào việc khám phá những ý tưởng cụ thể đối với từng chủ đề, môn học hoặc bài học Các nhóm giáo viên ở các môn khác nhau có thể dùng một CHBH của nhóm cho một vấn đề chung, việc thống nhất CHKQ thông qua nhóm

- Đưa ra những vấn đề hoặc kích thích thảo luận nhằm bổ trợ cho câu hỏi khái quát

- Khuyến khích khám phá, duy trì hứng thú, cho phép học sinh trả lời theo cách tiếp cận sáng tạo, độc đáo Các câu hỏi loại này kích thích học sinh tự kiến giải các sự kiện

Các CHBH sẽ có hiệu quả cao hơn nếu như chúng được thiết kế với mục đích khuyến khích học sinh Những câu hỏi như thế thường thúc đẩy sự tranh luận

và làm phương tiện để duy trì sự khám phá của học sinh Các CHBH nên có tính mở

để phù hợp với các sở thích khác nhau, các kiểu học khác nhau, cho phép có những câu trả lời duy nhất ứng với câu hỏi và hướng tiếp cận sáng tạo, thậm trí cả những vấn đề mà giáo viên không đề cập

Trang 27

Nhiều CHBH trong một khóa học có thể khám phá ra nhiều khía cạnh khác nhau của các CHKQ Các nhóm giáo viên của nhiều môn học khác nhau có thể sử dụng các CHBH của mình để hỗ trợ một CHKQ chung, thống nhất Những CHBH hướng tới các độ tuổi khác nhau có thể hỗ trợ một CHKQ tổng hợp được phát triển xuyên suốt nhiều cấp học.[9]

Sự khác biệt giữa CHBH và CHKQ không quá rõ ràng , ngược lại chúng nên được xem như là một thể thống nhất Điểm mấu chốt không phải là để ngụy biện về việc cho trước một câu hỏi, đó là CHBH hay CHKQ mà là để chú trọng đến mục đích lớn hơn của nó, đó là: định hướng cho việc học, khuyến khích người học, liên kết đến nhiều câu hỏi cụ thể hơn, nhiều câu hỏi tổng quát hơn và hướng dẫn khám phá, khai thác những ý tưởng hay, quan trọng

Câu hỏi nội dung ( CHND):

- Điển hình là có câu trả lời phải rõ ràng, phải đúng hay cụ thể, thường được xếp vào loại các câu hỏi “đóng”

- Sắp xếp theo những tiêu chuẩn về nội dung, mục tiêu dạy học, hỗ trợ cho các câu hỏi khái quát cũng như câu hỏi nội dung

Kiểm tra khả năng ghi nhớ của học sinh dựa trên các thông tin, thường yêu cầu học sinh phải xác định:ai, cái gì, ở đâu, và khi nào

- Đòi hỏi các yêu cầu về kiến thức và kĩ năng đọc hiểu để trả lời

Ví dụ: Người ta thường hay mắc tật khúc xạ về mắt nào ?

Khi bị mắc tật khúc xạ về mắt ư ta nhìn thấy mọi vật như thế nào ?

* Thiết kế dự án : Trước một nội dung dự định thực hiện một dự án ,giáo viien cần phải nghiêm túc trả lời câu hỏi

- Trong thực tế ai cần hiểu biết này ?

Trang 28

- Chọn một đối tượng cụ thể

- Đưa ra một dự án gồm : Mục tiêu dự án, giải pháp thực hiện dự án công việc chính cần làm (thể hiện ở động từ dùng trong tên dự án , dự án thực hiện ở đâu ) từ nội dung ý tưởng của dự án và nội dung cần giáo viên hướng dẫn học sinh thiết kế các sản phẩm để trả lời bộ câu hỏi định hướng.[9]

* Thiết kế tài liệu hỗ trợ giáo viên và người học

Giáo viên chuẩn bị hỗ trợ cần thiết cho học sinh trong quá trình thực hiện các sản phẩm của dự án :

- Một số sản phẩm minh họa

- Nội dung bài học

- Các nguồn tài liệu tham khảo

- Các phiếu mẫu phân công công việc trong nhóm

- Các mẫu phiếu đánh giá từng sản phẩm

- Sổ theo dõi dự án

Chuẩn bị tài liệu hỗ trợ giáo viên :

Trong quá trình hướng dẫn học sinh thực hiện các bài tập, các giáo viên cần chuẩn

bị trước cho mình tất cả những gì có thể hỗ trợ giáo viên một cách tốt nhất.[9]

* Chuẩn bị các điều kiện thực hiện dự án

Dự án được tiến hành với học sinh trung học cơ sở Học sinh cần chuẩn bị tuyên truyền, tập hợp mọi người tham dự, cần chuẩn bị cơ sở vật chất, mời các chuyên gia tham dự, xem xét các nguồn hỗ trợ.[9]

1.6.5.3.Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học dự án

a Giáo viên

Không dạy nội dung bài học mà:

- Tạo vai trò cho học sinh và làm sao để gắn vai trò của họ với nội dung bài học

- Hướng dẫn tham vấn chứ không cầm tay chỉ việc

- Không phải dạy kiến thức mà tạo ra hỗ trợ cần thiết Năng lực vai trò của giáo viên thể hiện ở các hỗ trợ học sinh ( không chỉ bằng các chỉ dẫn mà bằng các sản phẩm mẫu, tài liệu các nguồn thông tin, chuyển giao các công việc, các phiếu đánh giá.[9]

Trang 29

b Học sinh

Học sinh phải tham gia tích cực, chủ động vào cả 3 giai đoạn của quá trình ( Nhập

dữ liệu: nghe, nhìn, đọc; Xử lí dữ liệu: xử lí phân tích, xử lí tổng hợp, xử lí khái quát hóa; Xuất dữ liệu) Trong đó, giai đoạn 3 là giai đoạn hoạt động quan trọng, thể hiện các kết quả của giai đoạn trước và là giai đoạn học sinh phát huy được các phong cách tư duy, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề của mình :

- Học sinh được giao những nhiệm vụ cụ thể, có thật trong cuộc sống, bằng những kiến thức theo sát chương trình học và có phạm vi liên môn bằng những kĩ năng sống của người lớn, qua đó rèn luyện kĩ năng sống làm việc với người khác, đưa ra quyết định chín chắn, chủ động giải quyết vấn đề phức tập )

- Học sinh tự tiếp cận các vấn đề và các hoạt động

- Học sinh phải hoàn thành dự án với một số sản phẩm cụ thể (chú trọng tới sự tích hợp công nghệ cơ bản trong sản phẩm ,cũng là cách giải quyết công việc của tất cả mọi người trông thế kỷ 21): Bài trình diễn, sản phẩm, trang Web.[9]

1.6.5.4 Các kĩ thuật dạy học

Trong phương pháp dạy học tích cực, có sử dụng rất nhiều các kĩ thuật dạy học Sau đây là một vài kĩ thuật dạy học mà chúng tôi đã sử dụng trong thực nghiệm của đề tài

1.6.5.4.1 Kĩ thuật “Sơ đồ tư duy”

* Ý nghĩa:

Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy, là con đường dễ nhất để truyền tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não, đồng thời là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó “sắp xếp‟‟ ý nghĩ

Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình ảnh, đường nét, từ ngữ, để mở rộng và đào sâu ý tưởng Nhờ sự kết nối giữa các nhánh

,các ý tưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ tư duy được bao quát có thể bao quát được các ý tưởng

Sử dụng trong dạy học và mang lại hiệu quả cao, phát triển tư duy logic ,khả năng phân tích tổng hợp, học sinh hiểu bài nhớ lâu, thay cho ghi nhớ dưới dạng thuộc lòng học vẹt.[1]

Trang 30

+ Cứ như thế sự phân nhánh tiếp tục và các khái niệm / nội dung /chủ đề trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng

Vậy khái niệm nội dung /chủ đề chính được gắn kết với các tiểu nội dung chủ đề liên quan Nội dung tiểu chủ đề chính đóng vai trò là điểm hội tụ của những mối liên hệ với các nội dung / tiểu chủ đề liên quan khác kết cấu này là tạm thời và hữu

cơ, cho phép có thể thêm và điều chỉnh chi tiết Bản chất của quá trình này là quá trình khuyến khích tạo nên mối liên hệ giữa các ý tưởng.[1]

1.6.5.4.2 Kỹ thuật “ tia chớp‟‟

* Ý nghĩa:

Là một kỹ thuật huy động sự tham gia của các thành viên đối với một cau hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như tia chớp) ý kiến của mình về một câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề.[1]

* Cách tiến hành: Có thể áp dụng bất cứ ở thời điểm nào, lần lượt từng người nói

suy nghĩ của mình về một câu hỏi đã thỏa thuận

Trong luận văn của tôi, tôi đã sử dụng trong kĩ thuật này để lấy thông tin phản hồi từ học sinh ở trong buổi sinh hoạt thứ hai.[1]

1.6.5.4.3 Kĩ thuật 3 lần 3

* Ý nghĩa:

Trang 31

Là một kĩ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động sự tham gia tích cực từ học sinh

* Cách tiến hành : Học sinh được yêu cầu cho ý kiến phản hồi về một vấn đề nào đó (nội dung thảo luận, phương pháp tiến hành thảo luận ) mỗi người cần viết ra 3 điều tốt, 3 điều chưa tốt, 3 đề nghị cải tiến Sau khi thu tập ý kiến thì xử lí và thảo luận

về Trong luận văn của tôi kĩ thuật này tôi dùng để lấy ý kiến tốt và chưa tốt, những

đề nghị cần cải tiến trong một số buổi sinh hoạt.[1]

1.6.5.4.4 Kĩ thuật khăn trải bàn

* ý nghĩa:

Kỹ thuật khăn trải bàn là kỹ thuật để tổ chức hoạt động học tập mang tính kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm

- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực

- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS

- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS.[1]

*Cách tiến hành:

Chia HS thành các nhóm và phát giấy A0 cho các nhóm

- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh (ví dụ nhóm 4)

- Mỗi người ngồi vào vị trí tương ứng với phần xung quanh

- Cá nhân HS tập trung vào câu hỏi, chủ đề, viết câu trả lời hoặc giải pháp của mình vào phần xung quanh (Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong vài phút)

- Nhóm thảo luận và ghi ý kiến thống nhất của nhóm vào chính giữa

Hình 1.1 Kĩ thuật khăn trải bàn

Trang 32

Chú ý:

Kĩ thuật này giúp cho hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều phải đưa

ra ý kiến của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn học khá, giỏi

- Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với một chủ đề nhỏ trong tiết học, toàn thể học sinh cùng nghiên cứu một chủ đề

- Sau khi các nhóm hoàn tất công việc giáo viên có thể gắn các mẫu giấy “khăn trải bàn” lên bảng để cả lớp cùng nhận xét Có thể dùng giấy nhỏ hơn, dùng máy chiếu phóng lớn

- Có thể thay số bằng tên của học sinh để sau đó giáo viên có thể đánh giá được khả năng nhận thức của từng học sinh về chủ đề được nêu

Trong luận văn của tôi tôi đã sử dụng kĩ thuật này trong trong buổi sinh hoạt thứ hai để các em học sinh nhau tìm ra tên sản phẩm của dự án mà mình đã chọn

Ngoài các kĩ thuật dạy học trên trong quá trình học tập theo dự án còn áp dụng một số các kĩ thuật dạy học khác Ví dụ: 5W1H, KWL…

1.6.6 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học dự án

1.6.6.1 Ưu điểm

Các đặc điểm của DHDA đã thể hiện những ưu điểm của kiểu dạy học này

Có thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của dạy học dự án:

- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội;

- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học

- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm

- Phát triển khả năng sáng tạo

- Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp

- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn

- Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc

- Phát triển năng lực đánh giá

1.6.6.2 Nhược điểm

Trong các phương pháp dạy học mới tuy có nhiều ưu điểm song bên cạnh đó còn tồn tại những nhược điểm

Trang 33

- DHDA không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính trừu tượng, hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản;

- DHDA đòi hỏi nhiều thời gian Vì vậy DHDA không thay thế cho PP thuyết trình

và luyện tập, mà là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các PPDH truyền thống

- DHDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp, nghiệp vụ sư phạm, tích cực yêu nghề

1.6.7 Điều kiện để thực hiện có hiệu quả

Để thực hiện dạy học dự án có hiệu quả thì chúng ta phải:

- Xác định rõ mục tiêu học tập của học sinh, học sinh đạt được gì và kiến thức kĩ năng thái độ Tập trung vào tư duy bậc cao, không chỉ là kĩ năng đọc sách hay sử dụng công nghệ thông tin

- Nội dung /chủ đề gắn với thực tiễn, hoặc những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống xung quanh mang tính thời sự, xã hội có liên quan đến nội dung bài học ví dụ:

về an toàn giao thông, vấn đề thực phẩm, vấn đề bệnh tật, ô nhiễm môi trường …

Vậy dạy học dự án là một phương pháp dạy học đáp ứng quan điểm lấy người học làm trung tâm Học theo dự án góp pphần gắn lí thuyết với thực hành,

tư duy và hành động, nhà trường và xã hội góp phần tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo ,năng lực giải quyết vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng công tác của người học

1.7 Hoạt động ngoại khóa trong nhà trường phổ thông

1.7.1 Vai trò của hoạt động ngoại khóa

Do sự hạn chế của thời gian lên lớp trong chương trình chính khoá, đồng thời với sự gia tăng không ngừng của tri thức đã làm xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu nhận thức của học sinh với tính kế hoạch của chương trình Để giải quyết mâu thuẫn này, người ta tổ chức các hoạt động ngoại khoá nhằm tạo điều kiện cho mỗi học sinh có thể mở rộng, đào sâu kiến thức, phát triển những hứng thú, năng lực cá nhân và kích thích thiên hướng của các em về một mặt hoạt động nào đó.[3]

Hoạt động ngoại khóa có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học vì những lí do sau:

Trang 34

+ Nâng cao chất lượng kiến thức: hoạt động ngoại khóa giúp học sinh củng

cố, đào sâu, mở rộng những tri thức đã học trên lớp, ngoài ra giúp học sinh vận dụng những tri thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống đặt ra, tạo điều kiện để học đi đôi với hành, lí thuyết đi đôi với thực tiễn

+ Rèn luyện kĩ năng: hoạt động ngoại khóa rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm việc tập thể, kĩ năng chế tạo dụng cụ, xử lí kết quả thí nghiệm

+ Tinh thần thái độ: hoạt động ngoại khóa tạo hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, tự lực và năng lực sáng tạo của học sinh

+ Ngoài ra dạy học thông qua hoạt động ngoại khóa còn giúp tích hợp các môn học

1.7.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa

Hoạt động ngoại khoá là một hình thức tổ chức dạy học có đặc điểm:

+ Hoạt động ngoại khoá được thực hiện ngoài giờ học, nó không mang tính bắt buộc mà tuỳ thuộc vào hứng thú, sở thích, nguyện vọng của mỗi học sinh trong khuôn khổ khả năng và điều kiện tổ chức có được của nhà trường

+ Hoạt động ngoại khoá có thể được tổ chức dưới nhiều dạng: dạng tập thể

cả lớp, dạng nhóm theo năng khiếu, dạng học tập, dạng vui chơi, dạng thường kì, dạng đột xuất nhân những dịp kỉ niệm hay lễ hội

+ Hoạt động ngoại khoá có thể được tổ chức theo những hình thức như: tổ ngoại khoá; câu lạc bộ khoa học; dạ hội khoa học; dạ hội nghệ thuật v.v

+ Nội dung ngoại khoá rất đa dạng, bao gồm cả mặt văn hoá, khoa học công nghệ, thể dục thể thao, kĩ thuật nhằm giúp học sinh mở rộng, đào sâu, làm phong phú thêm những điều đã được học trong các giờ nội khoá của môn học tương ứng

+ Ngoại khoá do giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và học sinh của một lớp hay một số lớp thực hiện

Để tiến hành các hoạt động ngoại khoá đạt hiệu quả tốt đẹp đòi hỏi phải có

sự tổ chức chặt chẽ, tỉ mỉ của giáo viên, sự giúp đỡ của nhà trường, của hội cha mẹ học sinh và những tổ chức đỡ đầu, kết nghĩa Bên cạnh đó, giáo viên cần động viên được sự tham gia nhiệt tình của tập thể của học sinh, của mỗi cá nhân, cần tạo dựng được những hạt nhân nòng cốt trong mỗi dạng hoạt động ngoại khoá.[3]

Trang 35

1.7.3 Một số hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa

1.7.3.1 Hội thi vật lí

Hội thi là một cách thức hoạt động lôi cuốn hấp dẫn lôi cuốn học sinh, đạt hiệu quả tốt trong vấn đề giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho người tham gia Hội thi là dịp để mỗi cá nhân hoặc tập thể thể hiện khả năng của mình, khẳng định thành tích, kết quả của quá trình tu dưỡng, rèn luyện và phấn đấu trong học tập Quy mô của hội thi đối tượng tham gia, cách thức tổ chức hội thi như thế nào phụ thuộc vào mục đích yêu cầu, ý nghĩa tính chất và nội dung của hội thi Quy mô của hội thi có thể tổ chức trong phạm vi một lớp, một khối toàn trường Hoặc có thể

tổ chức vào các thời gian khác nhau của năm học Đối tượng tham gia là các các nhân hoặc nhóm HS

- Quá trình tiến hành của một hội thi vật lí:

+ Nêu chủ chương của hội thi

+ Dự thảo kế hoạch tổ chức hội thi

+ Thông qua kế hoạch hội thi và triển khai thực hiện nội dung của kế hoạch hội thi Ban tổ chức giám khảo họp triển khai nhiệm vụ của mình

+ Tổ chức thi và công bố kết quả

+ Tổng kết hội thi

- Tổ chức hội thi:

+ Khai mạc

+ Thi từng tiết mục theo sự điều khiển của người dẫn chương trình

+Giữa phần thi có thể chuẩn bị tiết mục văn nghệ xen kẽ

- Công bố kết quả, trao giải hoặc quà lưu niệm.[3, tr.14-15]

Chúng tôi đã vận dụng hình thức hội thi vật lí` để tổ chức ngoại khóa trong buổi sinh hoạt thứ 7

1.7.3.2 Hội vui Vật lí

Đây là một hình thức phổ biến của hoạt động ngoại khóa Hội vui có thể tổ chức theo từng lớp hoặc toàn trường Một số hình thức của hội vui Vật lí như: thi nói chuyện về tiểu sử các nhà bác học Vật lí, biểu diễn các thí nghiệm, giới thiệu

ứng dụng của Vật lí trong kĩ thuật hay các thành tựu của Vật lí hiện đại

Trang 36

1.7.3.3 Tham quan ngoại khóa Vật lí

Tham quan ngoại khoá là một hình thức tổ chức dạy học trong thực tế nhờ quan sát trực tiếp của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên và cơ sở tham quan nhằm nghiên cứu sự vật, hiện tượng cần tìm hiểu trong nội dung dạy học

Hình thức tham gia ngoại khoá có thể được tổ chức trước, trong và sau khi học một đề mục nào đó Tham quan ngoại khoá vật lí có dụng:

+ Mở rộng, nâng cao tầm hiểu biết xung quanh những vấn đề do chương trình qui định

+ Bồi dưỡng phương pháp nhận thức như quan sát, phân tích, tổng hợp những

tư liệu cụ thể đã thu thập được trong quá trình tham quan

+ Nâng cao hứng thú học tập, phát triển óc quan sát, tính tò mò khoa học + Góp phần giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đảm bảo dạy học gắn liền với lao động sản xuất

+ Góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh: Qua tham quan ngoại khoá các em có nhận thức đúng đắn về lao động của con người, bồi dưỡng lòng yêu lao động, yêu tổ quốc

Tham quan tìm hiểu máy móc, thiết bị dùng trong sản xuất, thiết bị công, nông nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc

1.7.3.4 Câu lạc bộ Vật lí

Câu lạc bộ Vật lí nhằm mở rộng tầm nhận thức, hiểu biết văn hóa, khoa học giáo dục lòng yêu lao động, ý thức đạo đức, giúp phát triển toàn diện các khả năng sáng tạo và năng khiếu của con người Hoạt động của câu lạc bộ có thể tổ chức các buổi thảo luận, tổ chức thi giữa các nhóm tham gia ngoại khóa, tổ chức các buổi giao lưu tìm hiểu kiến thức

1.7.4 Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa

Qua tìm hiểu, nghiên cứu và tổng hợp các tài liệu chúng tôi thấy quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lí có thể diễn ra theo các bước sau:

1.7.4.1 Lựa chọn chủ đề ngoại khóa

Dựa vào vai trò của hoạt động ngoại khóa, căn cứ nội dung chương trình và tình hình thực tế dạy học chính khóa của bộ môn, xuất phát từ nhu cầu nhận thức

Trang 37

của học sinh, đặc điểm của học sinh và điều kiện thực tế của nhà trường, giáo viên lựa chọn và xác định chủ đề của hoạt động ngoại khóa cần tổ chức Việc lựa chọn này cần phải rõ ràng để có tác dụng định hướng tâm lí và kích thích tính tích cực, sự sẵn sàng của học sinh ngay từ đầu

1.7.4.2 Lập kế hoạch ngoại khóa

+ Xác định mục tiêu

+ Dự kiến hình thức tổ chức

+ Dự kiến thời gian thực hiện các giai đoạn của hoạt động ngoại khóa

+ Dự kiến những việc cần sự ủng hộ của các lực lượng giáo dục khác

1.7.4.3 Tiến hành hoạt động ngoại khóa theo kế hoạch

Khi tổ chức ngoại khóa theo kế hoạch, giáo viên lưu ý những nội dung sau: + Theo dõi học sinh thực hiện các nhiệm vụ để giúp đỡ kịp thời, đặc biệt là những vấn đề nảy sinh ngoài dự kiến, kịp thời điều chỉnh những nội dung diễn ra không theo kế hoạch

+ Đối với các hoạt động có quy mô lớn, đông học sinh tham gia thì giáo viên

là người tổ chức, điều khiển hoạt động Đặc biệt là giáo viên phải đóng vai trò là trọng tài để tổ chức cho học sinh thảo luận, tranh luận rộng rãi những nội dung ngoại khóa, làm sao để học sinh tự nhận thấy được những công việc mình cần làm,

tự phân công nhau thực hiện những công việc đó

+ Đối với những hoạt động có quy mô nhỏ như tổ, nhóm học sinh thì cần để cho học sinh hoàn toàn tự chủ cả việc tổ chức và thực hiện những nhiệm vụ được giao, giáo viên chỉ xuất hiện khi học sinh ở vào tình huống gặp khó khăn, lúng túng

mà không tự xử lý được

+ Mỗi giai đoạn của hoạt động ngoại khóa cần thực hiện theo thời gian đã

dự kiến để thúc đẩy học sinh quyết tâm và cố gắng trong việc thực hiện các nhiệm

vụ được giao

1.7.4.4 Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả, rút kinh nghiệm, khen thưởng

+ Việc đánh giá hoạt động ngoại khóa phải dựa vào cả quá trình diễn ra hoạt động, giáo viên đánh giá hiệu quả thông qua sự hứng thú, tính tích cực, những biểu hiện của sự sáng tạo, những nội dung kiến thức, kĩ năng, tình cảm, thái độ mà học sinh có

Trang 38

được Ngoài ra sản phẩm mà học sinh làm được cũng là căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động Vì vậy cần tổ chức cho học sinh báo cáo, giới thiệu sản phẩm đã làm được trong thời gian tham gia hoạt động ngoại khóa, ngoài ra đây còn là việc nhằm khích

lệ, động viên học sinh tích cực hơn trong những hoạt động sau này

+ Sau mỗi lần tổ chức hoạt động ngoại khóa giáo viên cần phải đánh giá, rút kinh nghiệm, điều chỉnh nội dung, hình thức và phương pháp hướng dẫn để những đợt ngoại khóa sau đạt hiệu quả cao hơn

Trên đây là quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa Tuy nhiên, tùy thuộc vào nội dung hoạt động ngoại khóa, yêu cầu giáo dục và điều kiện hoàn cảnh của từng trường, từng lớp mà có thể vận dụng một cách mềm dẻo các bước để hoạt động đạt hiểu quả cao nhất

Từ cơ sở lí luận về dạy học theo dạy học Dự án và hình thức hoạt động ngoại khóa, chúng tôi thấy việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa thông qua dạy học theo

dự án có nhiều thuận lợi vì:

Khi vận dụng dạy học Dự án thông qua hoạt động ngoại khóa sẽ dễ dàng hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh, tạo ra một môi trường học tập thoải mái, kích thích sáng tạo ở học sinh, tạo cơ hội để học sinh giao tiếp, thể hiện quan điểm, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác trong các hoạt động học tập thông qua hoạt động nhóm

Dạy học theo Dự án cần có thời gian nhất định để học sinh vận dụng toàn diện những hiểu biết của mình, học sinh tập giải quyết những vấn đề yêu cầu trong bài học, bằng một cách phức hợp và từ đó vận dụng vào thực tế sáng tạo, linh hoạt

Để khắc phục về mặt thời gian có thể vận dụng phương pháp dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa

1.8 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần “Công- Năng lượng” vật lý 10, ở một

số trường trong huyện Kinh Môn - Kinh Môn – Hải Dương

1.8.1 Mục đích điều tra

Tìm hiểu thực tế dạy và học phần “Công- Năng lượng” vật lý lớp 10 nâng cao THPT để xác định hiệu quả của việc dạy học chương này và tìm hiểu việc tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa vật lý ở trường THPT

Trang 39

1.8.2 Phương pháp điều tra

- Điều tra GV: Thông qua phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp, thma khảo giáo án, dự giờ dạy trên lớp

- Điều tra học sinh: Thông qua phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp, quan sát học sinh trong các giờ học trên lớp

- Tham quan phòng thí nghiệm, phòng học vi tính của trường

- Phỏng vấn một số giáo viên

1.8.3 Đối tượng điều tra

- GV Vật lý ở các trường THPT Nhị Chiểu, THPT Kinh Môn, THPT Phúc Thành, THPT Kinh Môn II của huyện Kinh Môn - Tỉnh Hải Dương và học sinh khối 11của trường THPT Kinh Môn- Kinh Môn - Hải Dương

- Phòng thí nghiệm và phòng máy của các trường trên

1.8.4 Kết quả điều tra

Chúng tôi tiến hành điều tra 4 trường trong khu vực thuộc huyện Kinh môn như sau:

+ Quá trình điều tra:

- Tham khảo giáo án vật lý chương “ Các định luật bảo toàn” lớp 10 của mỗi trường

1 GV

- Dự giờ 4 tiết dạy vật lý

- Phát phiếu điều tra với 4 GV viên dạy Vật lý của 4 trường trong khu vực huyện Kinh Môn, mỗi trường 1 GV

- Phát phiếu điều tra cho 10 lớp 11 mỗi lớp 5 học sinh

- Phỏng vấn mỗi trường 4 GV vật lí khác

- Tham quan phòng thí nghiệm và phòng máy vi tính của 4 trường trong khu vực

* Kết quả điều tra:

 Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học

- Là các trường nằm trong huyện miền núi của Tỉnh Hải Dương, cơ sở vật chất kĩ thuật còn nghèo nàn và lạc hậu có trang bị một phòng học vi tính cho các em học sinh để học môn Tin Học, mỗi trường có 1 đến 3 máy chiếu để thực hiện dạy học trong phòng máy, vì vậy cả học sinh và giáo viên rất ít được tiếp cận với công nghệ

Trang 40

thông tin trong dạy học cho nên để tổ chức dạy học dự án ở trong giờ học chính khóa là rất khó khăn

- Về dụng cụ thí nghiệm trong các phòng thí nghiệm hầu như là các đồ dùng cũ, lạc hậu, làm thí nghiệm không chính xác, hỏng nhiều vì vậy trong dạy học muốn làm các thí nghiệm trong giờ học là rất khó khăn, mất nhiều thời gian, khi đó không đủ thời gian để hoàn thành bài học, vì vậy giáo viên rất ngại làm thí nghiệm, học sinh ít được tiếp xúc với các thí nghiệm vật lý trong học tập cho nên kĩ năng thực hành kém

 Về sử dụng phương pháp dạy học tích cực ( là dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa)

- Các giáo viên trong trường chủ yếu dạy học bằng giáo viết tay và không sử dụng máy chiếu, máy tính để dạy học cho nên ứng dụng công nghệ thông tin

trong dạy học bị hạn chế nhiều, chính vì vậy học sinh cũng chưa biết đến được các

PP dạy học hiện đại

- GV chưa thực hiện đổi mới PP dạy học, có những giáo viên chưa biết làm thế nào

để đổi mới PP dạy học

- Các kĩ năng tiến hành thực nghiệm của giáo viên còn hạn chế, vì các giáo viên ít tiến hành thí nghiệm trên lớp

- Các trường hầu như cũng đã tổ chức hoạt động ngoại khóa cho các môn học khác, riêng môn vật lý có tổ chức hoạt động ngoại khóa nhưng rất ít, trong khu vực thì chưa có trường nào tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa một nội dung kiến thức vật lý

- Học sinh chưa được tiếp cận với PP dạy học hiện đại nên nên chưa có kĩ năng làm việc nhóm

- Học sinh vẫn quen với PP dạy học truyền thống thụ động nghe giảng và đợi chờ kết quả

- Khi dạy học chưa chú trọng đến liên hệ thực tế, học sinh chỉ được học các kiến thức lí thuyết xa rời với thực tiễn cuộc sống, không biết đến ứng dụng của khoa học

kĩ thuật vào thực tế cuộc sống

- Chương các định luật bảo toàn đã học qua 4 tháng nên các em đã quên nhiều kiến thức

Cho nên việc tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa vẫn là một đề rất mới đối các trường trong khu vực, chưa sự ủng hộ của các giáo viên và ban giám hiệu cho nên gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức dạy học

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (dự án Việt - Bỉ). Dạy và học tích cực. Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
2. Vũ cao Đàm (2005). Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nxb khoa học và kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ cao Đàm
Nhà XB: Nxb khoa học và kĩ thuật
Năm: 2005
3. Nguyễn Quang Đông (2006). Phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lý. Thái nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lý
Tác giả: Nguyễn Quang Đông
Năm: 2006
4. Nguyễn Ngọc Hƣng. Thí nghiệm vật lí với dụng cụ tự làm từ chai nhựa và vỏ non, Tập1, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiệm vật lí với dụng cụ tự làm từ chai nhựa và vỏ non, Tập1
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
5. Ngô Văn khoát (chủ biên ). Quan sát và giải thích hiện tượng vật lí (tập 1,cơ học ). Nxb giáo dục việt nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan sát và giải thích hiện tượng vật lí (tập 1,cơ học
Nhà XB: Nxb giáo dục việt nam
6. Nguyễn Thế Khôi (tổng chủ biên).Vật lý 10 nâng cao (sách giáo viên). Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 10 nâng cao (sách giáo viên)
Nhà XB: Nxb giáo dục
7. Nguyễn Thế Khôi (tổng chủ biên ). Vật lý 10 nâng cao. Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 10 nâng cao
Nhà XB: Nxb giáo dục
8. Nguyễn Diệu Linh. Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa chương „‟Các định luật bảo toàn‟‟SGK vật lý 10 cơ bản. Luận văn thạc sĩ sư phạm vật lí, Đại học giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa chương „‟Các định luật bảo toàn‟‟SGK vật lý 10 cơ bản
9. Đỗ hương Trà. Các kiểu tổ chức dạy học hiện đại trong dạy học vật lí ở trường phổ thông. Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kiểu tổ chức dạy học hiện đại trong dạy học vật lí ở trường phổ thông
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
10. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hƣng (2001). Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lý ở trường phổ thông. Nxb Đại học quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lý ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hƣng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà nội
Năm: 2001
11. Nguyễn Đức Thâm (chủ biên), Nguyễn Ngọc Hƣng, Phạm Xuân Quế Phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông. Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
12. Phạm Hữu Tòng (2004). Dạy học vật lý ở trường phổ thông theo định hướng phát triển theo định hướng hoạt động tích cực tự chủ sáng tạo và tư duy khoa học.Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học vật lý ở trường phổ thông theo định hướng phát triển theo định hướng hoạt động tích cực tự chủ sáng tạo và tư duy khoa học
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2004
13. Vũ Quang (tổng chủ biên). Vật lý 8 ( tái bản lần thứ tám). Nxb giáo dục Việt nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 8 ( tái bản lần thứ tám)
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt nam
14. Vũ Quang (tổng chủ biên). Vật lý 9 (tái bản lần thứ nhất). Nxb giáo dục Việt nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 9 (tái bản lần thứ nhất)
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt nam

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ sau: - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Sơ đồ sau (Trang 19)
Hình 1.1. Kĩ thuật khăn trải bàn - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Hình 1.1. Kĩ thuật khăn trải bàn (Trang 31)
2.1.3. Sơ đồ cấu trúc lôgic kiến thức phần “Công- Năng lượng” - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
2.1.3. Sơ đồ cấu trúc lôgic kiến thức phần “Công- Năng lượng” (Trang 46)
Bảng 2.2. Đánh giá kết quả sổ theo dõi dự án. - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Bảng 2.2. Đánh giá kết quả sổ theo dõi dự án (Trang 65)
Bảng 2.4. Đánh giá bài trình bày đa phương diện - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Bảng 2.4. Đánh giá bài trình bày đa phương diện (Trang 66)
Hình 3.1. Ảnh nhóm study thuyết trình   Hình 3.2. Ảnh nhóm Friendship thuyết trình - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Hình 3.1. Ảnh nhóm study thuyết trình Hình 3.2. Ảnh nhóm Friendship thuyết trình (Trang 75)
Hình 3.4. Ảnh nhóm Thunderstorm - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Hình 3.4. Ảnh nhóm Thunderstorm (Trang 76)
Hình 3.6. Ảnh khăn trải bàn nhóm Braver - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Hình 3.6. Ảnh khăn trải bàn nhóm Braver (Trang 77)
Hình 3.10. Ảnh sản phẩm nhóm Braver heart, thuyền đồ chơi - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Hình 3.10. Ảnh sản phẩm nhóm Braver heart, thuyền đồ chơi (Trang 83)
Hình 3.11. Ảnh sản phẩm nhóm Braver heart,Tuabin gió - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Hình 3.11. Ảnh sản phẩm nhóm Braver heart,Tuabin gió (Trang 83)
Hình 3.13. Ảnh sản phẩm nhóm Study,Tua bin nước - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Hình 3.13. Ảnh sản phẩm nhóm Study,Tua bin nước (Trang 84)
Hình 3.15. Ảnh sản phẩm nhóm Thunderstorm, Cối giã gạo - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Hình 3.15. Ảnh sản phẩm nhóm Thunderstorm, Cối giã gạo (Trang 85)
Hình 3.14. Ảnh sản phẩm nhóm Thunderstorm, máy bay đồ chơi - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Hình 3.14. Ảnh sản phẩm nhóm Thunderstorm, máy bay đồ chơi (Trang 85)
Hình 3.17. Ảnh sản phẩm nhóm Frienship, guồng nước - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Hình 3.17. Ảnh sản phẩm nhóm Frienship, guồng nước (Trang 86)
Hình 3.16. Ảnh sản phẩm nhóm Frienship, Ô tô đồ chơi - Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công-năng lượng vật lý lớp 10 nâng cao
Hình 3.16. Ảnh sản phẩm nhóm Frienship, Ô tô đồ chơi (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w