Nghiên cứu về Sinh lí thực vật là nghiên cứu các khái niệm, các cơ chế sinh lí, hoá sinh trong tế bào và cơ thể thực vật, từ đó rút ra được cái nhìn tổng quan và đầy đủ về cơ thể thực vậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
LÊ THỊ BÍCH THUỶ
SỬ DỤNG MỘT SỐ PHẦN MỀM THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ DẠY CHUYÊN ĐỀ SINH LÍ THỰC VẬT CHO HỌC SINH
CHUYÊN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN SINH HỌC
Mã số: 601410
Người hướng dẫn khoa học: TSKH Mai Văn Hưng
HÀ NỘI 2009
Trang 2Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1.2 Các đặc điểm ưu việt của giáo án điện tử 14 1.1.3 Vai trò của công nghệ thông tin trong việc thiết kế giáo án điện tử 17 1.1.4 Các phần mềm công cụ sử dụng trong giáo án điện tử
1.1.5 Hoạt động nhận thức và phát triển tư duy của học sinh
chuyên Sinh trong quá trình dạy - học chuyên đề Sinh lí thực vật 23
Trang 31.2 Cơ sở thực tiễn 29 1.2.1 Thực trạng sử dụng giáo án điện tử trong dạy học
ở một số trường Trung học phổ thông ở Hải Phòng hiện nay 29 1.2.2 Thực trạng sử dụng giáo án điện tử trong chuyên đề
Chương 2: SỬ DỤNG CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC TRONG XÂY
DỰNG CÁC GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ CHUYÊN ĐỀ SINH LÍ THỰC VẬT 36 2.1 Vai trò của các phần mềm công cụ trong dạy học hiện nay 36 2.2 Nguyên tắc sử dụng các phầm mềm công cụ trong dạy học sinh học 37 2.3 Sử dụng các phần mềm công cụ trong thiết kế giáo án
điện tử dạy học chuyên đề Sinh lí thực vật 39 2.4 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử 39 2.4.1 Những kĩ năng cần có để soạn giáo án điện tử 39
2.4.3 Các yêu cầu sư phạm trong việc thiết kế giáo án điện tử 40 2.4.4 Mẫu kế hoạch xây dựng giáo án điện tử
2.4.6 Các bước thiết kế bài giảng điện tử trên PowerPoint 48
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
PPDH Phương pháp dạy học CNTT Công nghệ thông tin
GV Giáo viên
HS Học sinh THPT Trung học phổ thông GAĐT Giáo án điện tử PTDH Phương tiện dạy học SGK Sách giáo khoa
SH Sinh học
TN Thực nghiệm
ĐC Đối chứng Nxb Nhà xuất bản
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là đào tạo những con người và thế hệ trẻ có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học, công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo…Nghị quyết TW 2 khoá VIII và Nghị quyết TW 6 khoá
IX của Đảng cộng sản Việt Nam xác định chiến lược phát triển giáo dục năm
2001- 2010: “Giáo dục - Đào tạo hướng vào mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Nâng cao mặt bằng dân trí đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, có kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm đến hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới có ý thức vươn lên về khoa học công nghệ”
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, chúng ta đang chứng kiến những đổi thay trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người nhất là trong lĩnh vực học tập Sự phát triển của CNTT đã góp phần tạo ra nền kinh tế tri thức, tác động vào hầu hết các lĩnh vực làm thay đổi sâu sắc đời sống, kinh tế, xã hội, trong đó có giáo dục Sự phát triển đó tạo ra các vận hội mới đồng thời với nhiều thách thức cho ngành giáo dục Việt Nam
Việc đổi mới PPDH nhờ ứng dụng CNTT là một chủ đề lớn mà UNESCO chính thức đưa vào chương trình trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI UNESCO cũng đã dự đoán rằng sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản do ảnh hưởng của CNTT Với những bước tiến nhanh chóng CNTT ngày càng trở thành một phương tiện không thể thiếu trong nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục Nhờ CNTT con người có thể cập nhập thường xuyên được những kiến thức khoa học tiến tiến nhất trên thế giới vào đời sống thực tế
Chuyên đề “Sinh lí thực vật” là một trong 6 chuyên đề quan trọng của môn Sinh học, nhất là đối với học sinh chuyên Sinh
Trang 7Nghiên cứu về Sinh lí thực vật là nghiên cứu các khái niệm, các cơ chế sinh lí, hoá sinh trong tế bào và cơ thể thực vật, từ đó rút ra được cái nhìn tổng quan và đầy đủ về cơ thể thực vật, nêu được mối liên hệ giữa cơ thể thực vật với môi trường sống và mối liên hệ với các sinh vật khác
Kiến thức về sinh lí thực vật khó và trừu tượng bởi nhiều các cơ chế sinh
lí, hoá sinh nên sử dụng các mô hình, hình ảnh động, hình ảnh tĩnh, các thí nghiệm ảo được xây dựng trên các phần mềm ứng dụng của công nghệ thông tin
sẽ làm cho học sinh dễ hiểu, tiếp cận được vấn đề chi tiết và gần gũi hơn, từ đó
có thể giúp học sinh có thể tiếp thu được lượng kiến thức cần thiết và mở rộng được kiến thức và cuối cùng là áp dụng được các kiến thức học được trong thực tiễn đời sống và sản xuất
Vì những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: "Sử dụng một
số phần mềm thiết kế giáo án điện tử dạy chuyên đề sinh lí thực vật cho học sinh chuyên Sinh bậc Trung học phổ thông"
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Trên thế giới
Việc xuất hiện chiếc máy tính điện tử đầu tiên tại Mỹ năm 1946 là khởi đầu cuộc cách mạng CNTT Sau một thời gian phát triển, chiếc máy vi tính cá nhân có tốc độ tính toán đạt hàng triệu phép tính trong một giây ra đời
Để tăng hiệu quả và năng lực tính toán của máy vi tính cá nhân, người ta nối một số máy lại với nhau Việc nối các máy lại với nhau xuất hiện một điều
kỳ diệu: xuất hiện khả năng tương tác linh hoạt giữa các máy vi tính cá nhân với nhau, khi xuất hiện khả năng nối máy tính thành một mạng toàn cầu, sức mạnh của hệ thống tăng lên rất nhiều đó là Internet Internet là một hệ thống gồm các dịch vụ truyền thông dữ liệu như đăng nhập từ xa, truyền các tệp tin, thư điện tử
và các nhóm thông tin
Trang 8Trong các thập niên cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 với sự gia tăng mạnh mẽ tốc độ của cuộc cách mạng công nghệ, đặc biệt sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin (Communication technology), vấn đề dạy và học được đặt ra, được tổ chức bàn bạc một cách nghiêm chỉnh chu đáo hơn trên phạm vi toàn thế giới, với cách tiếp cận thông tin là cần thiết…
Giáo dục bậc Phổ thông và Đại học cho thế kỷ 21, người ta có thể nêu ra nhiều mô hình giáo dục, đó là các mô hình như: mô hình truyền thống, mô hình thông tin, mô hình tri thức…Trong đó, ta sẽ phân tích mô hình giáo dục hiện đại nhất của thế giới hiện tại để có thể nhìn cái đích tương lai mà ta phải tiến đến:
mô hình tri thức Mô hình “tri thức” là mô hình lấy nhóm người học làm trung tâm, vai trò người học thích nghi, với công nghệ chủ yếu khai thác mạng internet Đây là mô hình giáo dục hiện đại nhất hình thành khi xuất hiện thành tựu mới quan trọng nhất của công nghệ thông tin và mạng internet Cũng với mô hình mới nhất này, chúng ta hãy lưu ý đến các yếu tố thay đổi sâu sắc sau đây của việc học:
- Yếu tố thời gian: xuất hiện khả năng giáo dục không đồng bộ
- Yếu tố không gian: xuất hiện khả năng sinh viên tham gia học tập mà không cần đi đến trường học
- Sự chuyển giao tri thức không còn chiếm vị trí hàng đầu của giáo dục nữa; học sinh, sinh viên phải học cách truy tìm thông tin họ cần, đánh giá và xử
lý thông tin để biến thành tri thức giao tiếp…
Nói tóm lại, ở bước ngoặc đi vào nền văn minh trí tuệ hiện nay, những công nghệ mới về thông tin đang tạo ra những thay đổi mang mầm mống của một cuộc cách mạng giáo dục thực sự
2.2 Ở Việt Nam
Từ năm 1945 đến nay đã có 3 lần cải cách giáo dục, đó là các năm 1951,
1956 và 1979 Môi trường cải cách của 3 lần có khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn
Trang 9cảnh kinh tế, chính trị, xã hội và điều kiện phát triển khoa học kỹ thuật của đất nước Với 3 lần cải cách giáo dục, chúng ta đã cải thiện được tình hình giáo dục nước nhà, đã thu hẹp được khoảng cách về trình độ so với khu vực và thế giới Luôn chú trọng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là phương châm trong mọi hoàn cảnh của đất nước Cùng với việc phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và xã hội hoá giáo dục, chúng ta đã trở thành một trong những nước có tỉ lệ số người mù chữ thấp nhất thế giới Tuy vậy, cũng còn nhiều bất cập cần phải giải quyết [2,5]:
- Đó là “bệnh” thành tích và tiêu cực vẫn đang len lỏi vào tư tưởng, vào hành động của một bộ phận nhà giáo dục và của nhận thức của một bộ phận người dân
- Chương trình, SGK vẫn chưa thật thống nhất, khoa học
- Khả năng thực hành, áp dụng kiến thức vào thực tế, khả năng tư duy sáng tạo, độc lập giải quyết vấn đề còn hạn chế
- Các tiêu chí giáo dục còn thấp so với các nước tiên tiến
- Một số GV chưa đáp ứng được tay nghề, vẫn có tình trạng HS ngồi nhầm lớp, GV đứng nhầm bục giảng và cán bộ giáo dục ngồi nhầm “ghế”…
Theo Đinh Quang Báo [5,6] “Dạy học mà hướng chủ yếu vào khối lượng kiến thức ghi nhớ, mà khối lượng đó là một đại lượng vô cùng bé về lượng và biến đổi nhanh chóng về chất Điều đó dẫn đến sự biến đổi nhanh chóng lạc hậu của người được đào tạo, làm cho người học không tự cập nhật, bổ sung, thích ứng với những kiến thức mới” Và tác giả cũng tính nếu trung bình 3-4 năm tri thức tăng gấp đôi thì một người tốt nghiệp đại học ở độ tuổi 22 đến 60 tuổi, họ
đã qua 38 năm công tác, họ phải qua ít nhất 9 chu kỳ tăng gấp đôi tri thức nhân loại, vậy họ phải học lại ít nhất 9 lần đại học nữa
Vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của HS nhằm đào tạo những con người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngành giáo dục từ
Trang 10những năm 1960 Phát huy tính tích cực của HS là một trong các phương hướng của cải cách giáo dục được triển khai ở các trường phổ thông từ 1980 Cho đến nay, sự đổi mới về PPDH cũng luôn luôn mới chỉ là bắt đầu, PPDH phổ biến vẫn
là thuyết trình giảng giải xen kẽ, vấn đáp, tái hiện, biểu diễn trực quan minh hoạ vẫn là chủ yếu Cũng đã có nhiều GV thiết kế các giáo án điện tử cho bài giảng nhưng chưa phổ biến, chủ yếu là những nơi có điều kiện như các thành phố lớn, trung tâm các tỉnh thành phố hay chỉ xuất hiện trong các giờ thao giảng mẫu, các giờ có thanh tra chuyên môn hay thi GV giỏi các cấp
Tình trạng trên có nhiều nguyên nhân như công tác bồi dưỡng GV theo định kỳ và không định kỳ chưa tốt, đời sống vật chất và tinh thần của GV nói chung còn nhiều khó khăn, phương tiện, thiết bị còn nghèo nàn, số tiết/tuần của mỗi GV còn cao (từ năm học 2006 - 2007, GV THPT còn tới 17 tiết/tuần) Việc chuẩn bị cho 1 tiết dạy theo phương pháp tích cực tốn rất nhiều thời gian, công sức, tiền của Mặt khác GV còn yếu về phương pháp, HS thiếu động lực học tập
Định hướng đổi mới PPDH ở Việt Nam đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương khoá VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương khoá VIII (12/1996), được thể chế hoá trong Luật Giáo dục (năm 2005), được cụ thể hoá trong các Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt Chỉ thị số 14 (4/1999)
Luật Giáo dục, điều 28.2 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” Với môi trường giáo dục phổ thông là “giúp HS phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm
Trang 11công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học: Triển khai áp dụng CNTT trong dạy và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi
có điều kiện thiết bị tin học; xây dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục Phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng internet của người học; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; xóa bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý đem lại Khuyến khích giáo viên, giảng viên soạn bài trình chiếu, bài giảng điện
tử và giáo án trên máy tính Khuyến khích giáo viên, giảng viên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy qua website của các cơ sở GD và ÐT và qua Diễn đàn giáo dục trên website bộ Triển khai mạnh mẽ công nghệ học điện tử (e-Learning) Tổ chức cho giáo viên, giảng viên soạn bài giảng điện tử e-Learning trực tuyến; tổ chức các khóa học trên mạng, tăng tính mềm dẻo trong việc lựa chọn cơ hội học
tập cho người học [7]
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nêu ra cách giảng dạy chuyên đề sinh lí thực vật ban nâng cao dành cho học sinh chuyên Sinh bằng cách ứng dụng một số phần mềm tin học như Powerpoint, Flash slide show, Mindmap (bản đồ tư duy) và sơ bộ đánh giá hiệu quả của phần mềm trong thực tế giảng dạy
4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
Hệ thống kiến thức thuộc chuyên đề "Sinh lí học thực vật"
Mẫu khảo sát gồm các lớp chuyên Sinh và các lớp chuyên tự nhiên, xã hội của trường THPT chuyên Trần Phú:
- Học sinh 3 lớp chuyên Sinh (10Sinh, 11Sinh, 12Sinh)
- Học sinh lớp 11 chuyên Tin, 11 chuyên Hoá và 11 Song ngữ
Trang 125 Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề "Sinh lí thực vật" được chia làm 4 chương nhỏ:
- Trao đổi nước và muối khoáng
- Quang hợp ở thực vật
- Hô hấp ở thực vật
- Sinh trưởng và phát triển ở thực vật
6 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng các phần mềm dạy học chuyên đề "Sinh lí thực vật" trong việc thiết kế các giáo án điện tử trong giảng dạy sẽ giúp học sinh nắm vững kiến thức và phát triển tư duy, nâng cao hiệu quả của quá trình dạy - học
7 Vấn dề nghiên cứu
Làm thế nào để xác định được việc giảng dạy theo tiến trình của giáo án điện tử có hiệu quả hơn các giáo án truyền thống nhằm phát triển tư duy của HS
8 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài
- Điều tra thực trạng việc học tập sinh học nói chung và chuyên đề "Sinh lí thực vật" nói riêng
- Xác định việc áp dụng các phần mềm cho từng nội dung thích hợp
- Thiết kế các giáo án điện tử bằng việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ thông tin
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết của đề tài
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm công cụ làm cơ sở lý thuyết cho việc vận dụng vào thiết kế giáo
án điện tử dạy học sinh học chuyên đề Sinh lí thực vật
Trang 13- Nghiên cứu các nguyên tắc và yêu cầu sư phạm của việc sử dụng giáo án điện tử trong môn sinh học nói chung và chuyên đề Sinh lí thực vật nói riêng
- Phân tích chương trình, nội dung sách giáo khoa, tài liệu tham khảo chuyên sâu chương trình sinh học trung học phổ thông, nội dung chuyên đề Sinh
lí thực vật có thể áp dụng để xây dựng các giáo án điện tử để dạy học
9.2 Phương pháp điều tra
- Bằng các phiếu hỏi dành cho giáo viên, điều tra thực trạng và hiệu quả của việc dạy học bằng các giáo án điện tử trong môn Sinh học nói chung và chuyên đề Sinh lí thực vật nói riêng
- Trao đổi trực tiếp với giáo viên, dự giờ, nghiên cứu giáo án của giáo viên
và vở ghi của học sinh
9.3 Phương pháp chuyên gia
Phối hợp với một số giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy, vững vàng về chuyên môn để cùng thực hiện, với tư cách là cộng tác viên Sau đó thống nhất nội dung, phương pháp, phương thức, câu hỏi và phần mềm ứng dụng chung
Phối hợp với các chuyên gia sư phạm, tư vấn về việc sử dụng các giáo án điện tử và phương pháp tiến hành để đạt hiệu quả cao nhất
9.4 Thực nghiệm sư phạm
9.4.1 Thực nghiệm thăm dò
Tiến hành thực nghiệm bằng các giáo án được xây dựng đơn giản để tìm hiểu về trình độ nhận thức, tư duy của học sinh Từ đó đưa ra các biện pháp, phương pháp và cách thức tổ chức giờ học hợp lí
Trang 14phương thức cổ truyền, có sử dụng tranh ảnh và mô hình tĩnh sẵn có trong phòng thí nghiệm Các bài giảng ở lớp thực nghiệm được sử dụng theo phương thức tích cực hoá người học, có sử dụng các phần mềm tin học dạy học kết hợp với máy tính, màn hình lớn, bảng dạy học tương tác Sau mỗi tiết học tiến hành kiểm tra, đánh giá học sinh Các lớp thực nghiệm và đối chứng đều được kiểm tra theo chế độ như nhau bằng các đề kiểm tra giống nhau được đảm bảo tuyệt đối bí mật, sau đó so sánh kết quả thu được với kết quả ban đầu và so sánh với đối chứng
Ngoài các số liệu thu được thu được qua các bài kiểm tra viết, còn tiến hành kiểm tra vấn đáp qua từng bài giảng, và sau mỗi chương nhằm xác định thêm kết quả giữa thực nghiệm và đối chứng
9.4.3 Xử lí số liệu
Các số liệu điều tra cơ bản được tính toán theo tỉ lệ % số bài đạt khá, giỏi cũng như số bài đạt yếu, kém trên tổng số bài Việc làm này có tác dụng đánh giá chất lượng có tính định lượng, đồng thời thấy được khả năng tiến bộ của học sinh khi có sự tích cực hoá của phương pháp giảng dạy
Các số liệu xác định chất lượng của các lớp thực nghiệm và đối chứng được chấm theo thang điểm 10 Việc định tính này rất quan trọng để xác định mức độ lĩnh hội của học sinh về nội dung nghiên cứu
Về mặt định lượng, chúng tôi tiến hành sử dụng các tham số sau [4]:
a Trung bình cộng: X đo độ trung bình của một tập hợp
b Sai số trung bình cộng
c Độ lệch chuẩn S: độ phân tán của các số liệu quanh giá trị trung bình
d Hệ số biến thiên Cv biểu thị mức độ biến thiên trong nhiều tập hợp có khác nhau
e Độ đáng tin cậy sai khác giữa hai giá trị trung bình phản ánh kết quả của hai phương án thực nghiệm và đối chứng
Trang 159.5 Phương pháp chứng minh luận điểm
Đọc và tổng hợp các tài liệu liên quan để làm cơ sở lí luận của đề tài như:
- Lý luận về dạy học sinh học
- Tài liệu về đổi mới dạy học sinh học
- Các luận án, luận văn tiến sĩ, thạc sĩ có liên quan
- Tài liệu hướng dẫn chuyên môn
- Các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của ngành giáo dục
10 Những đóng góp mới của đề tài
- Xác định được thực trạng dạy học chuyên đề "Sinh lí thực vật" cấp bậc trung học phổ thông
- Nêu được các phần mềm dạy học có ý nghĩa lớn trong dạy học sinh học
- Xác định được việc áp dụng các phần mềm cụ thể cho từng loại kiến thức trong chuyên đề "Sinh lí thực vật"
- Kết quả thí nghiệm sư phạm khẳng định được tính khả thi của các phương thức đã đề xuất
11 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Sử dụng Sử dụng các phần mềm dạy học trong xây dựng các giáo án điện tử chuyên đề "Sinh lí thực vật"
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Giáo án là những chỉ dẫn cho giáo viên Đồng thời, giáo án là một bảng liệt kê được sắp xếp theo trình tự dựa trên các mục tiêu giảng dạy Điều quan trọng là các mục tiêu mà giáo viên đặt ra phải rõ ràng nhằm giúp cho chính giáo viên dễ dàng kiểm tra học sinh đã tiếp thu được những gì sau bài giảng
Một bài giảng được lên kế hoạch sẽ giúp đảm bảo tính liên tục và sự tiến
bộ trong quá trình học tập Giáo viên nên bắt đầu bài giảng bằng cách dành một chút thời gian để hỏi học sinh với mục đích tìm hiểu xem học sinh nhớ bài cũ như thế nào và họ hiểu biết về chủ đề của bài học mới ra sao Người giáo viên kiểm tra dựa trên các câu hỏi với từng cá nhân học sinh chứ không phải cả tập thể lớp trả lời Sau khi hỏi học sinh xong, giáo viên nên bắt đầu bài giảng bằng cách nói với học sinh các thông tin mới hoặc chỉ cho họ làm thế nào để thực hành các kỹ năng mới
Giáo viên chuẩn bị giáo án trước khi bắt tay vào công việc giảng dạy Người GV sẽ viết ra giấy kế hoạch giảng bài của mình trước khi vào lớp Có rất nhiều phần cơ bản trong một giáo án, mặc dù có nhiều cách để viết ra chúng
Bảng dưới đây sẽ minh họa cho các phần cơ bản này và cung cấp những gợi ý hữu ích cho việc thiết kế thành công một giáo án [13]
Trang 17Các phần của
Mục đích Đặt ra mục đích rõ ràng vào phần đầu giáo án
Nội dung Học sinh đã biết những gì rồi và mình (người giáo
viên) định dạy gì cho họ?
Thời gian Bài học kéo dài trong bao lâu? Mỗi hoạt động kéo
dài bao lâu? Giáo viên bắt đầu và kết thúc bài giảng như thế nào?
Phương pháp giảng dạy Lưu ý đến sự phân bố thời gian giảng dạy: giáo
viên phải bắt đầu và dừng bài giảng một cách rõ ràng Nên nhớ khi chuẩn bị giáo án, giáo viên phải tính thời gian chuẩn bị (ví dụ như: khi kiểm tra, giáo viên dành ít phút cho việc phát bài và thu bài)
Tài liệu giảng dạy Giáo viên sẽ dùng phương pháp và hoạt động nào
trong công tác giảng dạy? Học sinh sẽ tham gia hoạt động nào trong lớp? Làm cách nào giáo viên thu hút học sinh tham gia vào các hoạt động đó?
-Các công cụ dạy học đã đầy đủ chưa?
Đánh giá - Làm thế nào để giáo viên kiểm tra những gì mình
vừa dạy?
Nhận xét Nên dành một phần cuối trong giáo án để giáo viên
ghi lại những thuận lợi và khó khăn trong tiết dạy
Trang 181.1.1.2 Giáo án điện tử và bài giảng điện tử
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra Cần lưu ý bài giảng điện
tử không phải đơn thuần là các kiến thức mà học sinh ghi vào tập mà đó là toàn
bộ hoạt động dạy và học - tất cả các tình huống sẽ xãy ra trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức của học sinh Bài giàng điện tử càng không phải là một công cụ để thay thế “bảng đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò định hướng trong tất cả các hoạt động trên lớp [24]
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy
được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành
Giáo án điện từ là một bản kế hoạch lên lớp của giáo viên được xây dựng bằng phần mềm tin học Cần phải phân biệt giáo án điện tử với bài giảng điện tử, đây là những tập tin có chức năng chuyển tải nội dung giáo dục đến học sinh Như vậy, bài giảng là công cụ tương tác giữa người học và người dạy để thực hiện các mục tiêu của giáo án Xét về mặt hình thức, giáo án điện tử có thể là trang văn bản hay một file có đuôi HTML với các đường liên kết trực tuyến
Giáo án của một bài học phải bao gồm mục đích, yêu cầu của bài giảng, phân bổ thời gian, các bước lên lớp, hoạt động của thầy - của trò (Lesson plan & Activity sheet) Trong giáo án điện tử các nội dung trên được tổ chức và thực hiện dựa trên nền công nghệ thông tin (các phần mềm dạy học) và các phương tiện dạy học hiện đại như máy tính, máy chiếu, máy ảnh, máy quay phim kĩ thuật số [7]
Trang 19Song thực chất có thể nói rằng giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, do đó xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử
Các đơn vị của bài học đều phải được Multimedia hóa Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền dưới các dạng:
- Văn bản (text)
- Đồ hoạ (graphics)
- Hoạt ảnh (animation)
- Ảnh chụp (image)
- Flash movies hoặc các scientific movies (phim khoa học)
- Âm thanh (audio)
- Phim video (video clip)
1.1.2 Các đặc điểm ưu việt của giáo án điện tử
Xu hướng toàn cầu hoá và sự xuất hiện nền kinh tế tri thức đã và đang đưa
xã hội loài người tới một kỉ nguyên mới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải có một hệ thông giáo dục mới để thích nghi với môi trường xã hội thay đổi [26,27]
Dạy học, khi xét về hình thức tiến hành thì nó là quá trình truyền thông tin hai chiều Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy - học nói chung, vào nâng cáo tính tích cực trong dạy - học nói riêng là xu hướng tất yếu của thời đại Sở dĩ như vậy là vì công nghệ thông tin có những ưu thế: tốc độ cao, nhất quán, chính xác và ổn định Công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi không chỉ nội dung và cả phương pháp truyền đạt của người thầy trong dạy học, cụ thể:
- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh vedeo, camera … với âm thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan
Trang 20- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường
- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet … có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu
- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, HS có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới
Cái được lớn nhất ở mỗi tiết giảng bằng giáo án điện tử chính là một lượng lớn kiến thức, hình ảnh trực quan sinh động được chuyển tải đến các em học sinh Nó không những giúp cho tiết học trở nên lôi cuốn hơn mà còn hạn chế việc giáo viên bị cháy giáo án vì thời gian được kiểm soát bằng máy Nếu như trong mỗi tiết học thông thường, giáo viên phải dành khá nhiều thời gian để treo tranh ảnh, thao tác các hoạt động thí nghiệm thì trong tiết học có sử dụng giáo án điện tử, những chuyện đó chỉ cần một cú kích con chuột [23]
Trang 21Giảng dạy ứng dụng công nghệ thông tin có nhiều ưu điểm: giúp bài giảng sinh động, tạo cho học sinh sự hứng thú và yêu thích môn học, đạt hiệu quả cao, kiểm tra kiến thức của nhiều học sinh, hỗ trợ đắc lực cho các giờ thực hành
Giáo viên được giảm nhẹ việc thuyết giảng, có điều kiện tăng cường đối thoại, thảo luận với học sinh, qua đó kiểm soát được HS, HS được thu hút, kích thích khám phá tri thức qua thông tin thu nhận được, có điều kiện quan sát vấn
đề, chủ động nêu câu hỏi để hỏi giáo viên, giúp cho giờ học thêm hứng thú, có hiệu quả
GV không phải soạn giáo án nhiều lần mà chỉ cần đầu tư thời gian một lần
và chỉnh sửa cho bài học tốt hơn vào những lần sau
Có thể giúp người thầy trao đổi kinh nghiệm cho nhau nhanh chóng, dễ dàng, thuận tiện Nó cũng tăng cường tính thẩm mỹ cho học sinh Nó cho phép người thầy thay đổi, cập nhật hằng ngày
Như vậy có thể tóm tắt những đặc điểm ưu việt của giáo án điện tử so với các giáo án truyền thống soạn tay như sau:
- Có thể minh họa bài giảng một cách sinh động thông qua hình ảnh, âm thanh, đặc biệt là các cơ chế sinh học
- Giáo viên chuẩn bị bài dạy một lần có thể sử dụng nhiều lần
- Có thể tiến hành các thí nghiệm minh họa trực tiếp trong khi giảng
- Có thể chỉ ra các tài liệu tham khảo cần thiết ngay trong lúc giảng
- Nguồn thông tin đa dạng, phong phú, sinh động và có cả yếu tố bất ngờ
- Có thể hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu
Đặc biệt, riêng đối với các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội giáo
án điện tử dùng PowerPoint có ưu thế rất lớn ở chỗ:
- Giúp giáo viên thực hiện được nhiều thứ mà cách dạy “bảng phấn” không thể làm được như: sơ đồ động, tài liệu minh họa đa dạng và phổ biến được đến từng học sinh, …
Trang 22- Cho phép giáo viên liên kết sử dụng các phần mềm chuyên dụng phục vụ
bộ môn
1.1.3 Vai trò của công nghệ thông tin trong việc thiết kế giáo án điện tử
1.1.3.1 Đặc điểm của môn sinh học
Sinh học là khoa học về sự sống (bắt nguồn từ Hy Lạp Bios là sự sống, và logos là môn học) Nó miêu tả những đặc điểm và tập tính của sinh vật, cách thức các cá thể và loài tồn tại, và những tác động qua lại lẫn nhau và với môi trường [11,14]
Sinh học bao hàm nhiều ngành học khác nhau được xây dựng dựa trên những nguyên lý riêng Các môn học này có mối quan hệ qua lại với nhau, giúp
ta hiểu về sự sống với các mức độ, phạm vi khác nhau
Sự sống ở mức độ nguyên tử và phân tử được nghiên cứu thông qua sinh học phân tử (molecular biology), hóa sinh (biochemistry) và di truyền phân tử (molecular genetics) Ở mức độ tế bào, nó được hiểu biết thông qua tế bào học (cell biology) và mức độ đa bào thì thông qua sinh lý học (physiology), giải phẫu học (anatomy) và mô học (histology) Sinh học phát triển (developmental biology) nghiên cứu sự sống ở các giai đoạn phát triển khác nhau hoặc phát triển
cá thể (ontogeny) của sinh vật
Với mức độ lớn hơn, di truyền học quan tâm đến tính di truyền giữa cha
mẹ và con cái Di truyền học quần thể (population genetics) xem xét toàn bộ quần thể và hệ thống học (systematics) quan tâm đến sự tiến hóa của nhiều loài thuộc các nhánh tiến hóa (lineage) Mối quan hệ qua lại giữa các quần thể với nhau và với ổ sinh thái của chúng là đối tượng của sinh thái học (ecology) và sinh học tiến hóa (evolutionary biology) Một lĩnh vực tương đối mới là sinh học
vũ trụ (astrobiology hoặc xenobiology) nghiên cứu về khả năng tồn tại sự sống ngoài Trái Đất [11]
Trang 23Các môn học trên chung quy lại bao gồm: kiến thức giải phẫu, cơ chế sinh
lí, sinh hoá, các quá trình sinh học, các quy trình công nghệ v.v Chúng đều là kiến thức thực nghiệm, khó nhận thấy bằng các giác quan thông thường
1.1.3.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong thiết kế giáo án điện tử
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng, dạy học qua cầu truyền hình Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của học sinh Như vậy, việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn
Việc ứng dụng công nghệ thông tin công nghệ thông tin trong dạy học sinh học, tập trung ở một số hoạt động: soạn thảo văn bản, báo cáo, quản lý điểm, quản lý học sinh, thiết kế giáo án điện tử nhưng trong khuôn khổ của báo cáo, chỉ giới hạn ở thiết kế bài giảng điện tử tức là sử dụng công nghệ thông tin
và truyền thông như một công cụ dạy học, hỗ trợ quá trình dạy và học ở mức thấp như sử dụng các phương tiện nghe nhìn, xem băng, đĩa hình để minh họa cho các tiết dạy hoặc sử dụng tư liệu hình ảnh thay thế tranh vẽ trong dạy học truyền thống Ở mức cao sẽ là giáo án điện tử, giáo viên dạy dựa chủ yếu trên
Trang 24máy tính xách tay và máy chiếu projector và có thể dạy và học từ xa qua mạng nội bộ (mạng LAN), mạng Internet
Công nghệ thông tin đã và đang có những đóng góp đa dạng và quan trọng vào quá trình dạy và học Công nghệ thông tin có thể hỗ trợ công tác giảng dạy
và nâng cao chất lượng các hoạt động học tập cho hiệu quả hơn, tạo ra nhiều phương pháp tiếp cận học tập, bảo đảm sự tiếp cận với chương trình dạy và học Với sự hỗ trợ của máy tính, mạng Internet, học sinh có điều kiện tiếp xúc với các chương trình giảng dạy đa phương tiện: thí nghiệm mô phỏng, hình ảnh động, các phần mềm hỗ trợ vẽ hình như bài toán quĩ tích trong Toán học, các Movie trực quan…
Công nghệ thông tin có thể cải thiện việc đánh giá quá trình dạy và học bằng cách đưa ra những phân tích và phản hồi nhanh chóng và bằng cách hỗ trợ giáo viên sử dụng những đánh giá của học sinh để cải tiến chương trình giảng dạy Những thông tin phản hồi tích cực được thiết kế cho các phản ứng riêng của học sinh, từ đó đưa ra các đánh giá chính xác về cách tiếp cận và vận dụng tri thức mới Tác động của công nghệ thông tin đối với quá trình dạy và học còn phụ thộc vào nhiều yếu tố và trong từng điều kiện cụ thể Công nghệ thông tin cũng có thể không có tác dụng gì hoặc thậm chí có những ảnh hưởng bất lợi Bởi
vì công nghệ thông tin không phải là “biến trung tâm” trong quá trình cải tiến chất lượng giáo dục Hơn nữa, hiệu quả của nó đối với giáo viên và học sinh còn phụ thuộc rất quan trọng vào việc nó được ứng dụng như thế nào đối với các chương trình giảng dạy, hướng dẫn và đánh giá Tác động lớn nhất của công nghệ thông tin đối với kết quả học tập của học sinh được ghi nhận trong những trường hợp khi việc sử dụng công nghệ thông tin phù hợp với nội dung giảng dạy và với việc đánh giá về kết quả dự kiến Dù các thầy cô là một người không chuyên về tin học nhưng các thầy cô vẫn hoàn toàn có thể thiết kế được các bài giảng điện tử hấp dẫn, sử dụng được nhiều lần Thầy cô cũng có thể chia sẻ các
Trang 25sản phẩm của mình cho nhiều người cùng sử dụng, cùng đồng nghiệp hoàn thiện
và quan trọng hơn là nhiều lớp học sinh được hưởng lợi
1.1.4 Các phần mềm công cụ sử dụng trong giáo án điện tử dạy học chuyên
đề Sinh lí thực vật
Hiện nay các công cụ, các phần mềm ứng dụng được dùng cho việc dạy học bằng công nghệ thông tin là không thiếu về số lượng và đảm bảo cả về chất lượng, từ các phần mềm thương mại cho đến các phần mềm miễn phí, mã nguồn
mở Tuy nhiên với chi phí bản quyền phần mềm như hiện nay, với việc phổ biến diện rộng và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục cần phải đặc biệt chú trọng đến các phần mềm miễn phí và mã nguồn mở
Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học có nghĩa là việc đầu tiên
mà người giáo viên phải thực hiện là có các giáo án điện tử Giáo án điện tử cần phải được hiểu thống nhất như là một phương pháp dạy học trong đó giáo viên khai thác tiện ích của công nghệ thông tin để thiết kế các nội dung học tập nhằm giúp học sinh không chỉ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng phát triển tư duy, nhận thức
mà còn phát triển cả kỹ năng xử lý thông tin và kỹ năng giao tiếp [16]
Sự lựa chọn số 1 cho một giáo viên thuộc một trường có điều kiện máy chiếu projector) và PC thì là PowerPoint Với các trường không có điều kiện như vậy thì có thể in bài giảng ra tờ giấy trong và chiếu lên máy Overhead projector Nếu trường có điều kiện tối thiểu thì giáo viên có thể in bài giảng ra các tờ giấy A4 phát cho học sinh và một số tờ A1/A0 để treo như poster để làm công cụ giảng dạy trong giờ học
Nếu chỉ đơn thuần máy tính điện tử mà thiếu đi các phần mềm dạy học thì hiệu quả của việc dạy học với trợ giúp của máy tính điện tử sẽ rất hạn chế Mặt khác, chất lượng của việc dạy học với sự trợ giúp của máy tính điện tử phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của các phần mềm, trong đó có các phần mềm dạy học Người ta dự đoán rằng, đến cuối thế kỉ này, phần mềm tin học dạy hoc sẽ trở
Trang 26thành phần mềm rộng rãi nhất trên thế giới Nhiều hội nghị tin học quốc tế về dạy học với sự hỗ trợ của máy tính điện tử (CAI - Computer - Aided instruction)
đã được tiến hành hàng năm
Ở nước ta đang ở giai đoạn đầu của các dự án tin học vào nhà trường phổ thông Máy tính đã được trang bị trong các nhà trường nhưng chúng ta vẫn thiếu giáo viên, nội dung tin học và các phần mềm dạy học đặc biệt là các phần mềm dạy học hiệu quả thích hợp đối với học sinh [2]
Vì thế khi nghiên cứu sử dụng máy tính điện tử làm công cụ trợ giúp dạy học không thể tách rời việc nghiên cứu thiết kế và cài đặt các hệ mềm, đồng thời việc sử dụng các hệ mềm này cũng cần phải quán triệt các quan điểm như đã trình bày ở trên
Hiện nay, nghiên cứu thiết kế và cài đặt các phần mềm hỗ trợ cho quá trình dạy học đã và đang được tập trung theo một số hướng sau đây:
Nếu nói một công cụ giáo án điện tử mạnh nhất mà một cơ sở đào tạo phải nghĩ đến để xây dựng cho dự án giáo án điện tử của mình chính là các file HTML trực tuyến hay ngắn gọn là các website Bởi vì trên những file HTML, nội dung bài giảng có thể liên kết trực tiếp với nguồn cơ sở dữ liệu khổng lồ trên internet, các giáo viên, học sinh và người quan tâm có thể tương tác với nhau vượt qua các khoảng cách địa lý Đây chính là cơ sở của việc xây dựng các thư viện thư liệu, các thư viện trực tuyến trên các website khoa học
Trang 27Có thể thấy các ứng dụng này hiện nay rất được phổ biến như:
- MS Office, OpenOffice (soạn văn bản giáo trình), MathCAD, Cabri, Sketpach (Toán), MultiSIM (Điện) Working Model (Vật Lý), GIF Movie Gear (làm hoạt hình), Windows Movie Maker (làm phim),…
- Crocodille Clips (tạo các thí nghiệm mô phỏng)
- Microsoft Producer (miễn phí): Công cụ giúp đưa thêm multimedia (audio và video) vào các bài trình bày của Microsoft PowerPoint, giúp bài trình bày trở nên sống động gấp nhiều lần
- eXe (Mã nguồn mở): Giáo viên không cần các kiến thức chuyên sâu về tin học mà vẫn có thể phát triển các bài giảng điện tử offline (không cần kết nối vào mạng Internet) sau đó kết xuất ra dưới dạng các trang Web hoặc một gói tuân theo chuẩn SCORM
- Claroline: Là ứng dụng Web miễn phí cho phép tạo hoặc quản lý các khóa học thông qua Web
Như vậy, tùy theo quá trình tiếp cận và kỷ năng của từng giáo viên mà các công cụ hay phần mềm ứng dụng được sử dụng để tạo ra các bài giảng điện tử có nhiều khuynh hướng khác nhau Điều này sẽ dẫn đến việc phổ biến kinh nghiệm
và chia sẻ tài nguyên cho nhau bị hạn chế, không đồng bộ và tốn rất nhiều thời gian Do vậy, Sở Giáo dục hay các trường học cần tổ chức lựa chọn các phần mềm ứng dụng phục vụ cho việc soạn các giáo án điện tử Công việc này cần có
sự đầu tư rất lớn từ phía cơ sở, để giảm bớt gánh nặng này, các trường học có thể lựa chọn các đơn vị chuyên nghiệp về tư vấn và chuyển giao về các giải pháp nguồn mở để có được các kế hoạch triển khai chuyên nghiệp
Một số phần mềm được ứng dụng phổ biến trong dạy học sinh học là Power Point, Macromedia Flash MX 2004, Violet;
Trang 28- Phần mềm Macromedia Breeze, đây là phần mềm cung cấp đầy đủ các tính năng từ việc tạo bài trình bày có multimedia, phát bài trình bày qua mạng, cũng như khả năng quản lý các bài trình bày
- Phần mềm Dreamweaver tạo website vào loại tốt nhất thế giới hiện nay Bạn có thể dễ dàng tạo ra các trang HTML mà không phải biết nhiều kiến thức
về nó
- Phần mềm soạn bài giảng điện tử Lectora Publisher Đây là phần mềm rất dễ học, chỉ trong khoảng 30 phút bạn đã có thể tạo nội dung học tập của riêng bạn Bạn không cần biết kĩ năng về lập trình Bạn cũng có thể tạo được các bài kiểm tra v.v…
- Phần mềm Mindmap (bản đồ tư duy): là phần mềm hệ thống hoá kiến thức một cách đầy đủ theo kiểu dạng sơ đồ cây, sơ đồ nhánh,… và có thể trình chiếu như powerpoint Phần mềm này rất đơn giản và dễ học
- FSB (Flash show builder): Phần mềm tự tạo flash, đơn giản dễ làm và khi trình chiếu khá sinh động
1.1.5 Hoạt động nhận thức và phát triển tư duy của học sinh chuyên Sinh trong quá trình dạy - học chuyên đề Sinh lí thực vật
1.1.5.1 Khái niệm nhận thức
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý của con người (nhận thức, tình cảm, ý chí) Nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có quan
hệ chặt chẽ với chúng và với các hiện tượng tâm lý khác
Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau Có thể chia hoạt động nhận thức thành hai giai đọan lớn:
- Nhận thức cảm tính (Cảm giác và tri giác)
- Nhận thức lý tính (Tư duy và tưởng tượng)
a Nhận thức cảm tính (Cảm giác và tri giác)
Trang 29Là một quá trình tâm lý, nó là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của
sự vật và hiện tượng thông qua sự tri giác của các giác quan
Cảm giác là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức, nó chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật và hiện tượng
Tri giác phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn và theo cấu trúc nhất định
b Nhận thức lý tính (Tư duy và tưởng tượng)
Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ
sở những biểu tượng đã có
Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết Như vậy, tư duy là một qúa trình tìm kiếm
và phát hiện cái mới về chất một cách độc lập Nét nổi bật của tư duy là tính "có vấn đề" tức là trong hoàn cảnh có vấn đề, tư duy này được nảy sinh Tư duy là mức độ lý tính nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính Nó có khả năng phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng
Như vậy quá trình tư duy là khâu cơ bản của quá trình nhận thức Nắm bắt được quá trình này, người giáo viên sẽ hướng dẫn tư duy khoa học cho học sinh trong suốt quá trình dạy và học môn hoá học ở trường phổ thông
1.1.5.2 Những phẩm chất của tư duy
Những công trình nghiên cứu về tâm lý học và giáo dục đã khẳng định rằng:
Sự phát triển tư duy nói chung được đặc trưng bởi sự tích luỹ các thao tác tư duy thành thạo vững chắc của con người Những phẩm chất tư duy cơ bản là:
- Tính định hướng: thể hiện ở ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng
cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và những con đường tối ưu để đạt mục đích đó
- Bề rộng: Thể hiện ở chỗ có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng
khác
Trang 30- Độ sâu: thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc bản chất của
sự vật, hiện tượng
- Tính linh hoạt: thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri
thức và cách thức hành động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo
- Tính mềm dẻo: thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo các
hướng xuôi và ngược chiều (Ví dụ: Từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể )
- Tính độc lập: thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất
cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề
- Tính khái quát: thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra
mô hình khái quát Từ mô hình khái quát này có thể vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ cùng loại
1.1.5.3 Rèn luyện các thao tác tư duy trong dạy học môn sinh học ở trường trung học phổ thông
Trong logic học, người ta thường biết có ba phương pháp hình thành những phán đoán mới: Quy nạp, suy diễn và loại suy Ba phương pháp này có quan hệ chặt chẽ với những thao tác tư duy : phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá Chúng ta sẽ tìm hiểu các thao tác tư duy cụ thể [16,18,19]:
a Phân tích
"Là quá trình tách các bộ phận của sự vật hoặc hiện tượng tự nhiên của hiện thực với các dấu hiệu và thuộc tính của chúng cũng như các mối liên hệ và quan hệ giữa chúng theo một hướng xác định"
Xuất phát từ góc độ phân tích các hoạt động tư duy đi sâu vào bản chất thuộc tính của bộ phận từ đó đi tới những giả thiết và kết luận khoa học Trong học tập, hoạt động này rất phổ biến
Trang 31Như vậy, từ một số yếu tố, một vài bộ phận của sự vật hiện tượng tiến đến nhận thức trọn vẹn các sự vật hiện tượng Vì lẽ đó, môn khoa học nào trong trường phổ thông cũng thông qua phân tích của cả giáo viên cũng như học sinh
để bảo đảm truyền thụ và lĩnh hội
Tuỳ lứa tuổi, thể hiện hình thức phân tích cảm tính thực tiễn hay trí tuệ để đạt được những kiến thức sơ đẳng và tiến tới kiến thức sâu sắc Quá trình hoạt động phân tích cũng đi từ phiến diện tới toàn diện nghĩa là từ phân tích thử, phân tích cục bộ, từng phần và cuối cùng là sự phân tích có hệ thống
b Tổng hợp
"Là hoạt động nhận thức phản ánh của tư duy biểu hiện trong việc xác lập tính chất thống nhất của các phẩm chất và thuộc tính của các yếu tố trong một sự vật nguyên vẹn có thể có được trong việc xác định phương hướng thống nhất và xác định các mối liên hệ, các mối quan hệ giữa các yếu tố của sự vật nguyên vẹn
đó, trong việc liên kết và liên hệ giữa chúng và chính vì vậy là đã thu được một
sự vật và hiện tượng nguyên vẹn mới"
Theo định nghĩa trên tổng hợp không phải là số cộng đơn giản của hai hay nhiều sự vật, không phải là sự liên kết máy móc các bộ phận thành chỉnh thể Sự tổng hợp chân chính là một hoạt động tư duy xác định đặc biệt đem lại kết quả mới về chất, cung cấp một sự hiểu biết mới nào đó về hiện thực
Cũng như phân tích, tổng hợp cũng có thể tiến hành trong hoàn cảnh trực quan khi học sinh tác động vào sự vật đồng thời tổng hợp bằng "trí tuệ" Học sinh THPT có thể tư duy tổng hợp bằng vốn tri thức, khái niệm cũ
Như vậy tư duy tổng hợp cũng được phát triển từ sơ đẳng đến phức tạp với khối lượng lớn
Phân tích và tổng hợp không phải là hai phạm trù riêng rẽ của tư duy Đây
là hai quá trình có liên hệ biện chứng Phân tích để tổng hợp có cơ sở và tổng hợp để phân tích đạt được chiều sâu bản chất hiện tượng sự vật Sự phát triển
Trang 32của phân tích và tổng hợp là đảm bảo hình thành của toàn bộ tư duy và các hình thức tư duy của HS
c So sánh
"Là xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật hiện tượng của hiện thực" Trong hoạt động tư duy của học sinh thì so sánh giữ vai trò tích cực quan trọng
Việc nhận thức bản chất của sự vật hiện tượng không thể có nếu không có
sự tìm ra sự khác biệt sâu sắc, sự giống nhau của các sự vật hiện tượng
Việc tìm ra những dấu hiệu giống nhau cũng như khác nhau giữa hai sự vật hiện tượng là nội dung chủ yếu của tư duy so sánh Cũng như tư duy phân tích, tư duy tổng hợp thì tư duy so sánh có thể ở mức độ đơn giản (tìm tòi, thống kê, nhận xét) cũng có thể thực hiện trong quá trình biến đổi và phát triển
Có thể tiến hành so sánh những yếu tố dấu hiệu bên ngoài có thể trực tiếp quan sát được, nhưng cũng có thể tiến hành so sánh những dấu hiệu quan hệ bên trong không thể nhận thức trực tiếp được mà phải bằng hoạt động tư duy
Trong dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng thực tế trên sẽ đưa tới nhiều hoạt động tư duy đầy hứng thú
Nhờ so sánh, người ta có thể tìm thấy các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật Ngoài ra, còn tìm thấy những dấu hiệu không bản chất thứ yếu của chúng
d Khái quát hoá
Khái quát hoá là hoạt động tư duy tách những thuộc tính chung và các mối liên hệ chung, bản chất của sự vật và hiện tượng tạo nên nhận thức mới dưới hình thức khái niệm, định luật, quy tắc
Khái quát hoá được thực hiện nhờ khái niệm trừu tượng hoá nghĩa là khả năng tách các dấu hiệu, các mối liên hệ chung và bản chất khỏi các sự vật và
Trang 33hiện tượng riêng lẻ cũng như phân biệt những cái gì là không bản chất trong sự vật hiện tượng
Tuy nhiên, trừu tượng hoá chỉ là thành phần của hoạt động tư duy khái quát hoá nhưng là thành phần không thể tách rời của quá trình khái quát hoá Nhờ tư duy khái quát hoá ta nhận ra sự vật theo hình thức vốn có của chúng mà không phụ thuộc vào độ lớn, màu sắc, vật liệu chế tạo hay vị trí của nó trong không gian Hoạt động tư duy khái quát hoá của học sinh phổ thông có ba mức
độ [18]:
*Khái quát hoá cảm tính: diễn ra trong hoàn cảnh trực quan, thể hiện ở
trình độ sơ đẳng
*Khái quát hoá hình tượng khái niệm: là sự khái quát cả những tri thức có
tính chất khái niệm bản chất sự vật và hiện tượng hoặc các mối quan hệ không bản chất dưới dạng các hình tượng hoặc trực quan, các biểu tượng Mức độ này ở lứa tuổi học sinh đã lớn nhưng tư duy đôi khi còn dừng lại ở sự vật hiện tượng riêng lẻ
*Khái quát hoá khái niệm: Là sự khái quát hoá những dấu hiệu và liên hệ
chung bản chất được trừu xuất khỏi các dấu hiệu và quan hệ không bản chất được lĩnh hội bằng khái niệm, định luật, quy tắc Mức độ này thực hiện trong học sinh THPT
Tư duy khái quát hoá là hoạt động tư duy có chất lượng cao, sau này khi học ở cấp học cao, tư duy này sẽ được huy động một cách mạnh mẽ vì tư duy khái quát hoá là tư duy lý luận khoa học [15]
Phần trên là hoạt động tư duy của học sinh Những hoạt động này xuất hiện từ lúc trẻ em bắt đầu có hoạt động nhận thức Tuy nhiên những hoạt động
đó có ý nghĩa tích cực khi trẻ em vào tuổi đến trường Ở trường học, hoạt động
tư duy của học sinh ngày càng phong phú, ngày càng đi sâu vào bản chất của sự
Trang 34vật và hiện tượng Người giáo viên phổ thông có trách nhiệm trong việc tổ chức hướng dẫn uốn nắn những hoạt động tư duy của học sinh
Sự bùng nổ của Công nghệ thông tin nói riêng và Khoa học công nghệ nói chung đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội Trong bối cảnh đó, để ngành giáo dục phổ thông đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chúng ta cần cải cách phương pháp dạy học theo hướng vận dụng công nghệ thông tin và các trang thiết bị dạy học hiện đại phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành để nâng cao chất lượng dạy học Bộ giáo dục và Đào tạo cũng đã có những chủ trương rất cụ thể trong toàn ngành về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác dạy và học Đặc biệt năm học 2008 – 2009 sẽ được phát động là
“Năm học công nghệ thông tin” trong toàn ngành giáo dục
Việc “Bồi dưỡng khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ”
là một việc làm thiết thực triển khai những định hướng của bộ Giáo dục và Đào tạo về công nghệ thông tin
Nhận xét chung về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn một
số tồn tại:
Trang 35- Bài giảng còn nặng về "kênh chữ", chưa khai thác được "kênh hình" nên chưa khai thác được tính ưu việt của công nghệ trong dạy học Một số bài giảng còn trình bày thông tin trên máy tính thay bảng viết, học sinh khó nắm được bố cục bài giảng
- Một số tính năng của PowerPoint có thể được sử dụng có hiệu quả trong thiết kế bài giảng nhưng chưa được giáo viên khai thác hiệu quả, ví dụ như sử dụng các công cụ để vẽ hình, sử dụng các hiệu ứng cho các đối tượng, kỹ thuật chèn các ảnh video, flash nên bài giảng có sử dụng công nghệ thông tin nhưng chưa sử dụng như một công cụ hữu hiệu điều khiển tiến trình bài giảng
- Kỹ năng khai thác thông tin trên Internet của giáo viên chưa được tốt nên các tư liệu đưa vào bài giảng điện tử chưa được phong phú
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học mới dừng ở các bài giảng trình diễn trên lớp, chưa hỗ trợ học sinh tự học, tự đánh giá kết quả học tập, cũng như giúp học sinh tìm kiếm những kiến thức mới
Tuy vậy, hiện nay việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học bên cạnh sự hoàn thiện về cơ sở vật chất, một trong những thuận lợi là mỗi trường đều có đội ngũ cốt cán trong ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác giảng dạy
Trên thực tế, ở các trường Trung học Phổ thông của Hải Phòng, không phải trường nào, giáo viên nào cũng thường xuyên giảng dạy bằng giáo án điện
tử, vì những trở ngại như thiếu máy tính, máy chiếu, phòng chức năng Thêm nữa, một giáo viên trung bình dạy 20 tiết trong một tuần, mỗi ngày thực hiện 4 tiết đều bằng giáo án điện tử đòi hỏi phải thật nhiệt tâm mới hiệu quả Cho đến nay, khá nhiều trường vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm Hầu hết các trường đều đưa máy chiếu projecter về phòng Tin học để dạy Phòng máy của trường hoạt động liên tục Từng tổ, từng giáo viên đăng ký các tiết soạn giảng bằng giáo
án điện tử, nhất là những người có máy tính xách tay riêng tỏ ra rất thích được
Trang 36dạy ở phòng máy Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng quy định chung các tiết thao giảng, dự giờ, thi giáo viên giỏi buộc phải sử dụng giáo án điện tử Cán bộ quản lý từ trường đến phòng đều phải khai thác, sử dụng thông tin qua trang Web của ngành Các báo cáo, thông báo, lịch công tác… không phải in ấn để phát ra như trước mà đều tải từ Website Để khơi dậy phong trào, sự say mê sáng tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng đã tổ chức khá thành công "Ngày hội công nghệ thông tin" hàng năm với các hoạt động như: ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, trong quản lý Giáo dục; thi sản phẩm ứng dụng công nghệ thông tin của học sinh và giáo viên; hướng nghiệp công nghệ thông tin Hầu hết các gian hàng trưng bày sản phẩm, kết quả ứng dụng công nghệ thông tin cũng khá thu hút Qua điều tra ở một số trường Trung học phổ thông trong thành phố (Ví dụ như trường THPT Thái Phiên, THPT Ngô Quyền,…Hải Phòng), chúng tôi thấy các giáo đều vận dụng kỹ năng của Chương trình dạy học Intel, biết sử dụng hiệu ứng kỹ thuật vi tính để khai thác thiết kế trò chơi trên máy, tạo ra các bài dạy trình chiếu thực hành, giới thiệu nhiều hình ảnh trò chơi phong phú cho trẻ khám phá luyện tập trong giờ học; đầu tư tập trung xây dựng giáo án điện tử, sưu tầm tư liệu thiết kế phần mềm phục vụ chương trình giảng dạy theo 9 chủ đề giáo dục trong năm học Từ việc vận dụng Chương trình dạy học Intel, Ban giám hiệu cũng đã khai thác ứng dụng xây dựng phần mềm quản
lý giáo, học sinh, các phần mềm quản lí hồ sơ, lí lịch; tham gia biên tập xây dựng Website của trường và duy trì trang thông tin điện tử; tạo điều kiện cho phụ huynh học sinh thường xuyên cập nhật, giao lưu trao đổi kinh nghiệm, phối hợp giáo dục học sinh [2]
Đổi mới trong phương pháp giảng dạy với sự ứng dụng công nghệ thông tin thông qua các bài giảng điện tử đã mang lại một bầu không khí học tập hứng
thú trong các lớp học
Trang 37Mặc dù có rất nhiều ưu điểm khi ứng dụng Công nghệ thông tin vào trong bài giảng, song để tận dụng được những ưu điểm đó cũng những khó khăn trở ngại rất lớn mà thầy cô cần phải vượt qua
- Trở ngại thứ nhất là phải có một hệ thống máy tính, máy chiếu là những thiết bị đắt tiền, khấu hao lớn và một điều kiện nữa không thể thiếu là phải có điện Nếu chẳng may, giữa giờ học mà bị cúp điện hay các thiết bị của thầy cô bỗng nhiên trục trặc thì có thể giờ dạy của thầy cô sẽ không thành công Các thầy
cô luôn cần phải có phương án dự phòng cho các tình huống như vậy
- Phải có trình độ tin học khá tốt
- Phải có khả năng thiết kế tốt
- Chi phí cho giờ dạy có thể còn cao
Một số nguyên nhân chính khiến một số giờ dạy có ứng dụng CNTT không cải thiện được hiệu quả:
- Thiết kế không tốt, chuẩn bị các tư liệu sơ sài
- Sử dụng thiết bị không hợp lý: Sử dụng máy tính, máy chiếu chỉ để thay thế cho phấn, bảng và một số hình vẽ, tranh vẽ
- Kỹ năng sử dụng máy tính chưa tốt
1.2.2 Thực trạng sử dụng giáo án điện tử trong chuyên đề Sinh lí thực vật trong trường chuyên
Theo nhận định của một số chuyên gia, thì việc đưa công nghệ thông tin
và truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở các trường chuyên nói riêng bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn Chẳng hạn:
- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với
Trang 38một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà
cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho học sinh, vì giáo viên sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “vận dụng” đòi hỏi giáo viên phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được kĩ năng cho học sinh
- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho học sinh, cũng như dạy học sinh cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên và đòi hỏi giáo viên phải kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học đồng thời phát huy ưu điểm của phương pháp dạy học này làm hạn chế những nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó
- Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học
Trang 39bằng phương tiện chiếu projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả
- Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền Công tác đào tạo, Công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học một cách có hiệu
quả
Tóm lại, từ thực tế của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học sinh học nói chung và chuyên đề Sinh lí thực vật nói riêng ở trường chuyên hiện nay có những thuận lợi và khó khăn sau:
Như vậy, hiện nay hầu hết giáo viên đã có những nhận thức đúng đắn về vai trò của phương thức trực quan nói chung và vai trò của công nghệ thông tin nói riêng trong dạy học Song tình hình sử dụng trong thực tế thì còn gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế
* Khó khăn:
- Cơ sở hạ tầng cho ứng dụng công nghệ thông tin còn thấp là một trong những vấn đề nan giải nhất hiện nay Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đi liền với việc trang bị máy vi tính và các thiết bị ngoại vi khác như: máy chiếu (Projector) hệ thống điện lưới, mạng cục bộ, phòng máy đạt tiêu chuẩn và
Trang 40các phần mềm dạy học Trong các lý do trên thì phầm mềm dạy học chuyên dụng đang là hàng rào lớn nhất trong tình hình thực tế ở nước ta hiện nay Chúng
ta còn thiếu quá nhiều các lập trình chuyên nghiệp cho môn Sinh học để có thể lập trình mô phỏng các quá trình sinh học mà các phương tiện máy móc khác không thể thực hiện được Trong khi đó, các nước có trình độ tin học phát triển
đã rất thành công nhưng trong tương lai chúng ta không thể sử dụng để cung cấp trên thị trường với nhiều lý do khác nhau trong đó có vấn đề bản quyền Bên cạnh đó việc trang bị các trang thiết bị dạy học hiện nay chưa đồng bộ hầu hết các trường THPT đã được trang bị máy vi tính và mạng internet, song các thiết
bị ngoại vi phục vụ cho dạy học hiện nay chưa có hoặc không đồng bộ
- Hình thức tổ chức lớp học theo kiểu áp dụng CNTT đòi hỏi phải có những điều chỉnh về cách thức tổ chức lớp học, thói quen dạy học theo kiểu truyền thống đã và sẽ gây khó khăn cho GV, HS và cả các nhà quản lý giáo dục
Ví dụ: Muốn sử dụng phần mềm dạy học và CNTT vào tổ chức giờ học thì không có Projector riêng cho từng lớp học vì vậy học sinh phải di chuyển địa điểm học tập đến phòng học chuyên dụng, điều này khó khăn cho việc xếp thời khoá biểu và thời gian di chuyển của HS