1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường Trung học phổ thông

118 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VŨ THỊ THANH TUYỀN SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG DẠY HỌC THƠ XUÂN DIỆU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THỊ THANH TUYỀN

SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG DẠY HỌC THƠ XUÂN DIỆU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Ái Học

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Danh mục các bảng iii

Mục lục iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG DẠY HỌC VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 10

1.1 Cơ sở lý luận 10

1.1.1 Biện pháp dạy học so sánh 10

1.1.2 Biện pháp so sánh trong dạy học văn 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 19

1.2.1 Thực trạng dạy văn, học văn ở nhà trường trung học phổ thông 19

1.2.2 Điều tra thực trạng 20

Tiểu kết 31

Chương 2: SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG DẠY HỌC THƠ XUÂN DIỆU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 32

2.1 Vị trí nhà thơ Xuân Diệu 32

2.1.1 Vị trí nhà thơ Xuân Diệu trong văn học Việt Nam 32

2.1.2 Vị trí nhà thơ Xuân Diệu trong nhà trường THPT Việt Nam 35

2.2 Các chặng đường sáng tác và trong phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu 37

2.2.1 Các chặng đường sáng tác 37

2.2.2 Một số đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ Xuân Diệu 40

2.2.3 Định hướng sử dụng biện pháp so sánh khi dạy thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám 61

Trang 3

2.3 Định hướng sử dụng biện pháp so sánh khi dạy bài thơ “Vội vàng” 77 2.3.1 Vị trí của “Vội vàng” trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông 77 2.3.2 Cách thức sử dụng biện pháp so sánh khi dạy bài thơ “Vội vàng”

(So sánh lịch đại và đồng dại) 78

Tiểu kết 2 90

Chương 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 91

3.1 Những vấn đề chung 91

3.1.1 Yêu cầu thực nghiệm 91

3.1.2 Mục đích của việc thực nghiệm 91

3.1.3 Thời gian và địa bàn thực nghiệm 91

3.1.4 Nội dung, phương pháp tiến hành thực nghiệm 91

3.2 Thiết kế bài soạn thực nghiệm 92

3.3 Kết quả thực nghiệm 107

3.3.1 Nhận xét giáo án đối chứng 107

3.3.2 Nhận xét giáo án thực nghiệm 108

3.3.3 Kết quả thực nghiệm 108

Tiểu kết 3 110

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1.1: Bảng thống kê việc sử dụng biện pháp so sánh trong giáo án

dạy bài thơ “Vội vàng” 24 Bảng 1.2: Bảng thống kê tình trạng học văn, học bài thơ “Vội vàng” của HS 25 Bảng 3.1: Bảng thống kê kết quả bài viết của học sinh sau khi học bài

thơ “Vội vàng” 109

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước vào thế kỷ XXI là bước vào một thế kỷ của khoa học kỹ thuật, của công nghệ thông tin Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự gia tăng như thác lũ của lượng thông tin đòi hỏi con người phải có cách ứng

sử khoa học kỹ năng thích hợp hơn so với thời đại trước Con người muốn tồn tại, muốn hoà nhập, muốn tự khẳng định mình thì nhất định phải là những thành viên năng động, tích cực, sáng tạo, có óc quan sát nhạy bén, trí tuệ linh hoạt, có thái độ lựa chọn thông tin và hiểu thông tin một cách sáng tạo Đáp ứng yêu cầu đó của xã hội, nhiệm vụ hiện đại hoá giáo dục được đặt ra như một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác phát triển giáo dục, trong

đó đổi mới nội dung phương pháp dạy và học là vấn đề then chốt trong chiến

lược: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước

áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh viên đại học” (Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành

Trung ương Đảng khoá VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 1997, tr.4) Trên tinh thần đó, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khoá IX khi nói về giáo dục đào tạo đã nhấn mạnh “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ

và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn… ” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia 2001, tr108,109)

Như vậy trên con đường hội nhập với thế giới, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt chú trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, trong đó yêu cầu phải đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy là vấn đề then chốt

Trang 7

Gần đây nhất, trong lần thay sách giáo khoa Ngữ văn 2006, việc đổi mới chương trình sách giáo khoa đã đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học Chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy và học chúng ta mới

có thể tạo được sự đổi mới trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức

Môn Văn vừa nằm trong hệ thống các môn khoa học xã hội và nhân

văn, bộ môn thuộc lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ, vừa là một bộ môn có tính chất công cụ Nó không những nuôi dưỡng tâm hồn mà còn giúp con người hình

thành và phát triển và hoàn thiện nhân cách Dạy Văn có thể coi là một nghệ thuật, nghệ thuật cảm thụ cái đẹp và phô diễn cái đẹp, nó lắng đọng trong tâm hồn, là khát vọng vươn tới chân, thiện, mỹ Người giáo viên là chiếc cầu nối không thể thiếu để học sinh đến được với những giá trị đích thực của tác phẩm văn chương Bằng tâm huyết, tri thức và khả năng sư phạm của mình, người thầy sẽ đem đến cho học sinh những điều mới mẻ, củng cố niềm tin, sự hứng thú, khơi dậy niềm đam mê và tình yêu văn học, để rồi văn học chiếm vị trí xứng đáng trong hành trang tri thức của các em Cũng từ đây, các em sẽ lớn dần lên qua những giờ dạy Văn hiệu quả ấy, bởi văn học có khả năng thanh lọc tâm hồn con người, thấy yêu đời, yêu người và hoàn thiện mình hơn

Trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông, khối lượng thơ lãng mạn khá lớn nên việc giảng dạy sao cho đạt hiệu quả là điều hết sức cần thiết

Nó có tác dụng nâng cao trình độ thưởng thức, nâng cao phẩm chất đạo đức, nhân cách cho học sinh trong thời đại mới

Thơ lãng mạn- phong trào Thơ Mới (1930-1945) đánh dấu bước chuyển mình của nền văn học dân tộc từ truyền thống sang hiện đại, không ít tác phẩm giai đoạn này được đánh giá ngang tầm với các tác phẩm xuất sắc của nền văn học phương Tây hiện đại Trong giai đoạn này, vai trò của chủ thể sáng tạo (cái Tôi cá nhân, cá thể) in dấu ấn đậm nét và chính điều đó đã tạo nên sự đa dạng về phong cách cũng như bút pháp nghệ thuật Mỗi người

Trang 8

một quan điểm, một phong cách riêng nhưng đều đóng góp vào quá trình cách tân, hiện đại hoá giúp cho thơ Việt nam phát triển mạnh mẽ cả bề rộng lẫn chiều sâu, đánh dấu mốc son chói lọi trên thi đàn văn học

Trong số những cây bút lãng mạn xuất sắc đóng góp to lớn vào sự phát triển, trưởng thành và cách tân thơ Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nói riêng

và của nền Văn học Việt Nam thế kỷ XX nói chung được đưa vào giảng dạy ở trường trung học phổ thông, không thể không kể tới Xuân Diệu – nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ Mới Một nhà thơ lãng mạn số một của văn học Việt Nam lúc bấy giờ, ông hoàng của thơ tình Ông là một trong số không nhiều nhà thơ đã có nhiều cống hiến cho nền văn chương Việt Nam thế kỷ XX Mỗi trang viết của ông đều thể hiện dạt dào cảm xúc, sự táo bạo, mới lạ Xuân Diệu đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ với nhiều thể loại: Thơ, văn xuôi, tiểu luận, phê bình, dịch thuật Văn nghiệp của Xuân Diệu trải qua hai giai đoạn, trước và sau cách mạng tháng Tám Trước cách mạng tháng Tám Ông xứng đáng được coi là một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn Năm 1983, ông được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hoà dân chủ Đức Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I)

Xuân Diệu và tác phẩm của ông được đưa vào giảng dạy từ sau năm

1980 cùng một số nhà thơ cùng thời một họ dần dần đã có chỗ đứng trong chương trình và sách giáo khoa phổ thông Đặc biệt từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước lại đây, học sinh được học nhiều hơn về Xuân Diệu, học tới 5 tiết ở lớp

11 (sau Nam Cao; bằng Tố Hữu và ngang bằng Nguyễn Tuân), trong đó bài

thơ "Vội vàng" rút ra từ tập “Thơ thơ” in năm 1938, được đưa vào giảng dạy

trong chương trình Ngữ văn lớp 11 hiện nay là tác phẩm có nhiều mới, lạ và độc đáo Bài thơ tập trung cao nhất niềm khát khao giao cảm với đời đến cuống quýt; là hồn thơ hăm hở, sôi nổi, yêu đời yêu sống đến cuồng nhiệt; là cái khát vọng của mình giữa tuổi trẻ và xuân tình; là một cảm xúc triết học một quan niệm nhân sinh mới mẻ Mà để chiếm lĩnh, cảm nhận được những

Trang 9

niềm cảm xúc đó và cảm nhận được cái mới mẻ xưa nay chưa từng có trong tác phẩm vậy phải tìm đến biện pháp dạy học so sánh

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường trung học phổ thông”

2 Lịch sử vấn đề

Xuân Diệu một tác gia lớn, có vị trí quan trọng trong nền văn học hiện đại Việt nam Hơn nửa thế kỷ cầm bút ông đã để lại cho đời một di sản văn học đồ sộ Thực tế cho thấy các tác phẩm của Xuân Diệu ngay từ khi mới ra đời đã gây xôn xao dư luận bởi trong thơ ông một phong cách mới, lạ, độc đáo một phong cách rất Tây Tác phẩm của ông được nhiều thế hệ đón nhận với niềm say mê, yêu thích, được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Những

tác phẩm ấy đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Trên thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Xuân Diệu, về biện pháp giảng dạy thơ Xuân Diệu

2.1 Nghiên cứu của chuyên ngành văn học Việt Nam

Trước cách mạng tháng Tám

- Thế Lữ giới thiệu tập “Thơ thơ”(1938) của Xuân Diệu: “Xuân Diệu là

một người của đời, một người ở giữa loài người Lầu thơ của ông xây trên đất của một tấm lòng trần gian… ”

- Năm 1941, trong cuốn “Thi nhân Việt Nam”NXB Văn học,2003, Hoài

Thanh đã ca ngợi Xuân Diệu là một “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”

- Năm 1942, Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Nhà văn hiện đại”(Hà Nội tân

dân, 1942) đã khẳng định: “Xuân Diệu mới nhất, đằm thắm và nồng nàn nhất

trong tất cả thơ mới” Và trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu”, Dương

Quảng Hàm có đánh giá tập “Thơ thơ”: “Thơ thơ là một tập thơ chan chứa tình cảm lãng mạn, trong đó có nhiều từ mới lạ, tỏ ra tác giả thật có tâm hồn thi sĩ nhưng cũng có nhiều câu vụng về, non nớt chứng tỏ tác giả chưa lão luyện về kĩ thuật của nghề thơ”[tr.18 - 82]

Trang 10

Sau Cách mạng tháng Tám năm đến năm 1975

Phong trào Thơ mới nói chung, thơ ca Xuân Diệu nói riêng trở thành đối tượng bị phê phán, công kích

Mãi đến cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, các công trình nghiên cứu đề cập đến thơ ca Xuân Diệu mới xuất hiện

- Trong “Nhà thơ Việt Nam hiện đại”(công trình tập thể), các tác giả

Mã Giang Lân, Nguyễn Văn Long coi Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ và rực rỡ của phong trào Thơ mới

Giữa những năm 1975 đến nay

- Trong cuốn “Xuân Diệu – về tác gia và tác phẩm” của Lưu Khánh

Thơ tuyển chọn và giới thiệu, cuốn sách tập hợp khá đầy đủ và tương đối có

hệ thống những bài viết về sự nghiệp văn và cuộc đời của tác giả

- Trong cuốn “Con mắt thơ”, Đỗ Lai Thúy đã phản ánh những cố gắng,

tìm tòi của các nhà nghiên cứu về phong cách và thi pháp thơ Xuân Diệu

- Trong cuốn “Thơ mới những bước thăng trầm”, tác giả Lê Đình Kỵ đã

thể hiện tâm hồn nồng nàn, nồng nhiệt của Xuân Diệu và chỉ rõ đặc sắc nghệ thuật của ông

Ngoài những công trình nghiên cứu trên còn có những công trình khác

như: “Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca”(do Huy Cận và Hà Minh Đức chủ biên), “Thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám năm 1945”(qua

“Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”) của Lý Hoài Thu, luận án tiến sĩ “Thế giới nghệ thuật thơ ca Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám 1945” của tác giả Lê Quang Hưng, và cuốn “Ba đỉnh cao Thơ mới” của Chu Văn Sơn

Ngoài ra còn một số bài viết như: “Trường nghĩa của từ yêu trong thơ Xuân Diệu (So sánh với Nguyễn Bính)” Của Vũ Thi Ân Báo Ngôn ngữ số 9 [tr 27-37]- 2003; “Hư từ và giá trị biểu đạt của hư từ trong bài thơ “Vội vàng”- Xuân Diệu” của Bùi Thanh Hoa-Tạp chí khoa học số 2 [tr 42-45] 2005;…

Tóm lại, Xuân Diệu là nhà thơ lớn trong phong trào Thơ mới nói riêng

và nền văn học hiện đại nói chung Xuân Diệu đã là một mảnh đất nghiên cứu

Trang 11

lớn cho nhiều nhà nghiên cứu và sẽ còn nhiều vấn đề được khai thác và tìm hiểu ở tác giả này qua những tác phẩm của ông

2.2 Nghiên cứu của chuyên ngành phương pháp

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về việc giảng dạy thơ văn của

Xuân Diệu trong nhà trường cũng đã có những đóng góp đáng kể: “Phương pháp dạy học văn chương trong nhà trường” của PGS.TS.Nguyễn Viết Chữ

đã gợi ý phân tích tác phẩm “Thơ duyên” và “Vội vàng” của Xuân Diệu”;;

“Thiết kế bài giảng ngữ văn 11” của Nguyễn Văn Đường…

Ngoài ra còn có một số khóa luận như: “Phương pháp phân tích tác phẩm trữ tình của Xuân Diệu trong nhà trường PT” của Nguyễn Kim Hằng,

“Một số phương pháp và biện pháp dạy học thơ lãng mạn của Xuân Diệu trong chương trình lớp11 THPT” của Nguyễn Thị Mai Phương, luận văn thạc

sĩ “Hướng dạy học mới bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu” của Trương Văn Thắng, “Phương pháp giảng dạy thơ mới từ góc độ thi pháp” của Nguyễn

Thị Lượm…

Về biện pháp dạy học so sánh cũng có một số công trình nghiên cứu

như: cuốn “Phương pháp dạy học văn” của GS Phan Trọng Luận; Luận văn thạc sỹ “So sánh nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Nam Cao (Việt Nam)

và Ruinôxkê Akutagawa (Nhật Bản)” của nguyễn Thị Thuỳ Dương; sáng kiến kinh nghiệm “Sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu trong dạy học Ngữ văn 7” và “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương từ tư duy hệ thống”

của TS Nguyễn Ái Học đã so sánh thời gian trong thơ Xuân Diệu và thời gian trong thơ Hàn Mạc Tử trong bài “dạy “Đây thôn Vĩ Dạ” từ tư duy hệ thống

Đã có nhiều luận văn về Xuân Diệu, biện pháp dạy học thơ Xuân Diệu, song vẫn chưa có ai nghiên cứu vận dụng biện pháp dạy học so sánh trong dạy thơ Xuân Diệu ở trường phổ thông Hơn nữa, việc cảm nhận thơ Xuân Diệu đối với học sinh trong nhà trường trung học phổ thông luôn là một khó khăn chính vì vậy để tăng hiệu quả tiếp nhận cho học sinh chúng tôi đi nghiên cứu

Trang 12

cụ thể hơn về việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường trung học phổ thông

3 Mục tiêu nghiên cứu

Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu lớp 11 cơ bản

và thiết kế phương án dạy học với biện pháp đó

4 Đối tƣợng nghiên cứu

7 Giả thuyết khoa học

Việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở lớp 11

cơ bản sẽ nâng cao khả năng cảm nhận thơ Xuân Diệu của học sinh trung học phổ thông

8 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài để xác định cơ sở lí luận của việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường trung học phổ thông

- Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học thơ Xuân Diệu trong trường trung học phổ thông

Trang 13

- Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 ban cơ bản ở trường trung học phổ thông

- Thiết kế phương án dạy học cho bài thơ “Vội vàng” - Xuân Diệu - Ngữ văn 11 cơ bản có sử dụng biện pháp so sánh

- Thực nghiệm sư phạm, kiểm nghiệm tính hiệu quả của việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu trong sách giáo khoa ngữ văm

11 ban cơ bản ở trường trung học phổ thông

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Sử dụng biện pháp nghiên cứu các tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài để xác định cơ sở lí luận của đề tài

9.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra giáo dục, sử dụng phương pháp này để khảo sát tình hình dạy học ngữ văn nói chung, dạy học bằng biện pháp so sánh nói riêng ở một số trường trung học phổ thông trong tỉnh Bắc Giang thông qua hình thức phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh Từ biện pháp này, người viết

sẽ có được những số liệu thực tế của vấn đề nghiên cứu

- Quan sát sư phạm: phương pháp này được sử dụng trong quá trình dự giờ giáo viên

- Tọa đàm với giáo viên về biện pháp dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học sử dụng biện pháp so sánh trong dạy Ngữ văn nói riêng

- Thực nghiệm sư phạm: sử dụng biện pháp này để kiểm nghiệm tính khoa học, khả thi, hiệu quả của biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu

9.3 Sử dụng phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê trong quá trình nghiên cứu với mục đích xử lí số liệu điều tra thực tế và thực nghiệm sư phạm

9.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu

So sánh, đối chiếu được sử dụng trong luận văn với mục đích làm nổi bật những ưu thế của việc sử biện pháp so sánh khi giảng dạy thơ Xuân Diệu với các biện pháp khác

Trang 14

9.5 Phương pháp phân tích hệ thống

Sử dụng phương pháp phân tích hệ thống đặt tác phẩm được nghiên cứu và các biện pháp giảng dạy vào hệ thống mang tính đặc thù, từ đó có điều kiện để tìm hiểu sâu sắc hơn đối tượng

Hệ thống hóa lại những ý kiến đánh giá của người đi trước, cùng với sự tìm hiểu, cảm nhận của bản thân, chúng tôi phân tích các vấn đề liên quan tới biện pháp so sánh vận dụng vào dạy học thơ Xuân Diệu trong trường trung học phổ thông nhằm làm nổi bật đặc điểm riêng nhà thơ lãng mạn này Chọn một tác phẩm giảng dạy trong chương trình trung học phổ thông (lớp 11) để tìm ra hướng khơi gợi làm tăng hứng thú cho học sinh khi tiếp nhận văn bản

Các phương pháp nghiên cứu trên không tồn tại độc lập mà luôn có sự đan

xen, hỗ trợ nhau trong quá trình nghiên cứu tạo ra sự cộng hưởng về hiệu quả

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

của luận văn gồm có 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về biện pháp so sánh trong dạy

học văn ở trường trung học phổ thông

Chương 2: Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở

trường trung học phổ thông

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG

DẠY HỌC VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Cơ sở lý luận

Thuyết trình kiểu so sánh, tổng hợp: Nếu nội dung của vấn đề trình bày

chứa đựng những mặt tương phản thì giáo viên cần xác định những tiêu chí để

so sánh từng mặt, thuộc tính hoặc quan hệ giữa hai đối tượng đối lập nhau nhằm rút ra kết luận cho từng tiêu chí so sánh Mặt khác, giáo viên có thể sử dụng số liệu thống kê để phân tích, so sánh rút ra kết luận nhằm góp phần làm tăng tính chính xác và tính thuyết phục của vấn đề

Cuốn “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê (chủ biên) đã đưa ra cách hiểu về so sánh là:“nhìn vào cái này để thấy cái kia, để thấy sự giống và khác nhau hoặc sự hơn kém” [30, tr.861] Cuốn “Phong cách học Tiếng Việt hiện đại” của tác giả Hữu Đạt cũng đưa ra khái niệm so sánh là việc “đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra sự giống và khác nhau giữa chúng”[13, tr.294] Cuốn “Giáo trình tâm lí học đại cương”, tác giả Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) đã đưa ra cách hiểu về so sánh

“là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức (sự vật, hiện tượng)”[49, tr.116] Như vậy, cách hiểu về so

sánh của “Từ điển Tiếng Việt”, của tác giả Hữu Đạt và của giáo trình tâm lí học đại cương đều có quan điểm chung về so sánh là để thấy sự giống và khác

Trang 16

nhau của các sự vật, hiện tượng, từ đó thấy rõ đặc điểm và giá trị của mỗi sự vật, hiện tượng

Cuốn “Lôgic học” của tác giả Phan Trọng Hoà tuy không trực tiếp bàn

về so sánh, nhưng đã bàn đến việc đem so sánh các sự vật, hiện tượng với nhau mà hình thành các phán đoán, nhận xét Chẳng hạn, để hình thành khái niệm niệm “nước”, con người phải trải qua một quá trình phân tích, so sánh, đối chiếu nó với một số chất khác gần gũi với nó như “không khí”, “mực”,

“dầu”,” “rượu trắng”… và cuối cùng người ta rút ra một số nhận xét “nước trong suốt”, “nước không có màu”, “nước không có mùi”, “nước không có vị”… [19, tr.46] Như vậy so sánh là thao tác lôgic dùng để rút ra các phán đoán, nhận xét để nhận thức đối tượng được cụ thể Và để so sánh, người ta phải dựa trên cùng một tiêu chí, nếu khác tiêu chí, so sánh sẽ trở nên khập khiễng, thiếu sức thuyết phục, từ đó dễ dẫn đến nhận xét, đánh giá sai lệch

Tác giả Ngô Doãn Tá trong “Giáo trình lôgic học” đưa ra ba dạng định

nghĩa bằng so sánh: so sánh tương đồng, so sánh ngược, so sánh khác biệt [46, tr.69- 70] Như vậy so sánh là thao tác lôgic đem đối tượng này đặt cạnh

đối tượng khác vạch ra các dấu hiệu “tương tự dấu hiệu cơ bản của đối tượng trong các đối tượng khác” hay “dấu hiệu không tồn tại ở đối tượng cần định nghĩa nhưng lại có trong đối tượng dùng để so sánh với nó khi định nghĩa”

Từ đó chúng ta có thể hiểu muốn nhận thức đối tượng sâu sắc cần so sánh, đặt nó với đối tượng khác

Trong cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 6 thì “So sánh là đối chiếu sự vật,

sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng, nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt”

Trong thực tế đời sống, trong giao tiếp hàng ngày, chúng ta rất hay dùng biện pháp so sánh, đối chiếu để làm nổi bật đặc điểm riêng, những nét riêng độc đáo của một đối tượng nào đó Như thế, so sánh là một thao tác nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật hoặc là các mặt trong cùng một sự vật để thấy sự giống và khác nhau So sánh cũng được đưa vào giảng dạy trong nhà

Trang 17

trường phổ thông như một thao tác chủ đạo Đây là một thao tác thúc đẩy quá trình vận động tư duy để tìm tòi cái mới

Tác dụng của biện pháp so sánh

So sánh vừa có tác dụng gợi hình, giúp cho việc miêu tả sự vật, sự việc được cụ thể, sinh động, vừa có tác dụng biểu hiện tư tưởng, tình cảm sâu sắc của người nói hay người nghe

Chẳng hạn để giúp người nghe hình dung rõ sự vật, đối tượng người nói

có thể lấy những sự vật, đối tượng có những nét tương đồng để so sánh: Khi miêu tả con mèo người nói có thể lấy những hình ảnh của con hổ để so sánh, muốn diễn tả hoạt động của mèo có thể so sánh với một số con vật khác có nét tương đồng, nhưng cũng có khi lấy những nét khác biệt để so sánh làm nổi bật đối tượng

1.1.1.2 Biện pháp so sánh trong dạy học

Trong dạy học ở các cấp học nói chung và ở trường trung học phổ thông nói riêng biện pháp so sánh được sử dụng tương đối rộng dãi Bởi để tăng hiệu quả tiếp nhận cho học sinh ngoài các biện pháp dạy học tích cực khác thì biện pháp so sánh là một trong những biện pháp đem lại hiệu quả cao trong dạy học Để nắm bài sâu sắc giáo viên có thể so sánh đối chiếu các bài, các sự vật hiện tượng có những nét tương đồng để học sinh nắm bài vững hơn ở bất kỳ môn học nào

1.1.2 Biện pháp so sánh trong dạy học văn

1.1.2.1 Khái niệm biện pháp dạy học so sánh trong dạy học văn

Biện pháp so sánh trong văn chương là so sánh đối chiếu tác phẩm với tác phẩm, giai đoạn với giai đoạn: hình tượng; nội dung; nghệ thuật: tình tiết, sự kiện nhân vật ngôn từ, các biện pháp tu từ, để bật lên sự giồng và khác nhau của đối tượng làm cho giờ học đạt hiệu quả cao, tạo sự hứng thú học sinh

1.1.2.2.Tác dụng của biện pháp dạy học so sánh trong dạy học văn

Trong phân tích văn học, so sánh đã trở thành một biện pháp khá phổ biến So sánh không giới hạn mà có thể sử dụng so sánh rộng rãi nhiều mặt

Trang 18

Theo khảo sát công trình nghiên cứu, phê bình văn học có giá trị của một

số nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình nhận thấy biện pháp so sánh được sử dụng rộng rãi và có hiệu lực thực sự Đọc Hoài Thanh, nhà phê bình văn học nửa thế

kỷ nay, ta thấy biện pháp so sánh đặc biệt đã được sử dụng một cách tài tình và linh hoạt Các nhà văn, nhà thơ Nam Cao, Chế Lan Viên, Xuân Diệu,… trong những bài phê bình, phân tích văn học của mình luôn sử dụng biện pháp so sánh

để phát hiện những vẻ đẹp độc đáo của bài văn bài thơ

Có thể nhận thấy một cách rõ ràng là tuy mục đích và nhất là kết quả có thể rất khác nhau nhưng trong phân tích văn học biện pháp so sánh khá phổ biến và giới hạn của so sánh thì đa diện

Rất nhiều công trình phê bình, nghiên cứu khoa học có giá trị của một

số nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình quen thuộc khác chúng ta thấy biện pháp so sánh đặc biệt đã được sử dụng một cách tài tình và linh hoạt Những nhà văn, nhà thơ nhà phê bình nghiên cứu Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Hoài Chân trong những bài phê bình, phân tích văn học của mình cũng đã luôn sử dụng biện pháp so sánh để phát hiện vẻ đẹp độc đáo của bài văn, bài thơ

Ngày nay, biện pháp so sánh Văn học đã vượt quá giới hạn và tính chất của một phương pháp khoa học để trở thành một khuynh hướng, một trào lưu nghiên cứu văn học ở nhiều nước Ở đây, chỉ giới hạn vấn đề trong phạm vi một phương pháp văn học Trong thực tế so sánh nghiên cứu phê bình lí luận cũng như giảng dạy văn học trở thành một biện pháp có hiệu lực và khá quen thuộc của nhiều nhà khoa học có kinh nghiệm Mặc dù chưa được công nhận trong các công trình biện pháp phân tích văn học, thậm chí ngay cả trong ý thức của bản thân những người sử dụng nó lấy đó làm một công cụ có hiệu lực thực sự Chúng ta cần trả nó về đúng vị trí ban đầu của nó trong các công trình lí luận về biện pháp phân tích văn học trong cũng như ngoài nhà trường

Có thể thấy gắn với việc dạy học văn trong nhà thường phổ thông thì so sánh trong dạy học có một vai trò quan trọng

Trang 19

Giáo viên sẽ cung cấp được cho học sinh những kiến thức không chỉ trong tác phẩm mà còn ngoài tác phẩm Đặc biệt khi sử dụng biện pháp so sánh lịch đại học sinh sẽ nắm rõ hơn tiến trình phát triển của văn học Khi sử dụng biện pháp so sánh đồng đại học sinh sẽ nắm khái quát, tổng hợp và mở rộng kiến thức

Nhưng giáo viên dạy văn học so sánh cần phải đảm bảo được những yêu cầu sau: Thứ nhất, nắm vững, sâu sắc kiến thức trong bài mình định dạy Thứ hai, nắm, thông hiểu kiến thức ngoài văn bản để vận dụng biện pháp so sánh chỉ ra điểm giống và khác nhau trong văn bản thứ ba, nội dung đem ra phải vừa phải vừa sức phù hợp, không xa rời văn bản và thời lượng giảng dạy

Đối với học sinh thì cần chuẩn bị bài kỹ theo câu hỏi sách giáo khoa và của giáo viên hướng dẫn

1.1.3.3 Những nguyên tắc so sánh trong dạy học văn

Giới hạn của so sánh trong phân tích tác phẩm văn học theo GS Phan Trọng Luận phải dựa vào cơ cấu nội tại của tác phẩm và những mối quan hệ hữu cơ vốn có của tác phẩm với cuộc sống sản sinh, nuôi dưỡng nó Cho nên

so sánh trong phân tích văn học thật đa dạng và phong phú Tuy vậy, khả năng và giới hạn của so sánh không phải là chuyện có thể tuỳ tiện, chủ quan Việc so sánh luôn được xác định trên những cơ sở những nguyên tắc chặt chẽ Trên thực tế phê bình văn học cũng như giảng văn không phải là hiếm những hiện tượng lạm dụng so sánh làm cho hiệu quả phân tích không được như mong muốn mà còn gây hoài nghi đối với bàn thân phương pháp so sánh vốn

có những cơ sở khoa học xác đáng

Nếu lạm dụng so sánh dẫn tới hiện tượng thoát li tác phẩm; và việc phân tích văn học đi sang lĩnh vực xã hội học dung tục Những khuynh hướng lệch lạc vượt quá giới hạn cho phép đều bắt nguồn từ sự vi phạm những nguyên tắc khách quan đã xác định

Một nguyên tắc hàng đầu trong so sánh văn học là không được lấy nội dung thay thế cho việc khám phá, phân tích tác phẩm So sánh không phải là

Trang 20

mục đích, so sánh chỉ là phương tiện, là con đường đi vào tác phẩm Chính sự bất lực trước tác phẩm mà nhiều người lạm dụng việc so sánh tác phẩm với yếu tố ngoài tác phẩm Như vậy nhu cầu biểu hiện, khám phá bản thân tác phẩm lại không được thoả mãn

Nguyên tắc thứ hai là khi liên hệ so sánh ngoài tác phẩm không được làm dứt mối với đường dây chủ đề của tác phẩm Liên tưởng vốn là một hiện

tượng rất chủ quan Một liên tưởng vượt quá giới hạn sẽ biến phân tích thành một công việc bình luận không căn cứ Có trường hợp người phân tích đi rất sâu, rất rộng, rất xa bằng cách so sánh với nhiều tác phẩm cổ kim, nhiều tác phẩm gần gũi hoặc đối lập về chủ đề nhưng bạn đọc vẫn cảm thấy có thể chấp nhận được

Một nguyên tắc rất quan trọng nữa trong so sánh là khi so sánh phải tôn trọng tính chỉnh thể của bài văn Trong phân tích không được tách chọn một

từ ngữ, một chi tiết, một hình ảnh ra khỏi chính thể để so sánh với các yếu tố

ít liên quan với tác phẩm rồi bình luận một cách chủ quan, xa rời chủ đề của tác phẩm

1.1.3.4 Giới hạn so sánh trong dạy học văn

Trong phân tích văn học phạm vi của so sánh khá rộng rãi Theo GS Phan Trọng Luận có thể chia so sánh thành ba nhóm chính như sau:

Trang 21

nhiên và phong phú mà bản thân việc phân tích tác phẩm cũng được thuận lợi sâu sắc hơn

Nhóm so sánh thứ hai

So sánh đối tượng phân tích với cuộc sống lớn và nhỏ của tác phẩm

Việc so sánh này không những là để khám phá vẻ đẹp riêng của tác phẩm mà còn là vấn đề vận dụng cụ thể của phương pháp luận Mác xít vào việc nghiên cứu tác phẩm văn học cụ thể

Những mối liên hệ này thật đa dạng vì đó là bản thân cuộc sống sản sinh ra tác phẩm, nơi tác phẩm đi đến và có cuộc sống đích thực của nó trong lòng công chúng

Có khi so sánh trực tiếp với sự kiện thực làm cơ sở cho tác phẩm Khi

phân tích “Chí Phèo” so sánh nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến với các nguyên mẫu mà Nam Cao đã sử dụng Khi phân tích “Những ngày thơ ấu” mà không

so sánh sự kiện của bản thân tác giả thì mất hẳn sự hấp dẫn của tác phẩm

Có khi cũng cần so sánh nhân vật trong tác phẩm với nguyên mẫu: Khi

phân tích mẹ Tơm trong thơ Tố Hữu so sánh với mẹ Tơm có thật và những

mẹ Tơm khác trong cuộc đời Đó cũng là việc làm quen thuộc với các nhà giáo có kinh nghiệm; khi phân tích tác phẩm “Bà mẹ” Hay khi phân tích

“Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi, chúng ta không thể không đối chiếu với cuộc đời thực của người mẹ anh hùng, chị Út Tịch, trong thực tiễn đấu

tranh cách mạng miền Nam Hay khi phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của

Hàn Mạc Tử không thể không liên tưởng đến Hoàng Cúc- là tứ thơ cho Hàn

Mạc Tử sáng tác bài thơ này,…

Có khi so sánh nội dung tác phẩm với những sự kiện hay nhân vật điển hình của thời đại Việc so sánh như vậy không những giúp học sinh hiểu được

bản thân tác phẩm mà còn khơi sâu được giá trị khái quát của hình tượng nhân vật hay ý nghĩa tiêu biểu của tư tưởng trong tác phẩm Dạy những tác phẩm cách mạng nếu không đem so sánh với con người cộng sản trong cuộc đấu

Trang 22

tranh sinh tử để bảo vệ quê hương đất, chắc hẳn là một thiếu sót không nhỏ về phương pháp và quan điểm thực tiễn

Cũng có thể phân tích bằng cách so sánh với những tác phẩm cùng chủ

đề, cùng đề tài của bản thân tác giả hoặc của những tác giả khác Phân tích

một số bài thơ Xuân Diệu đã có thể so sánh với thơ văn Việt Nam với một số

nhà thơ trung đại, nhà thơ cùng thời Chẳng hạn khi phân tích bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu chúng ta có thể so sánh với một số tác phẩm có cùng đề tài tình yêu như “Chân quê” của Nguyễn Bính hay “Đây thôn Vĩ Dạ” của

Hàn Mạc Tử,… để thấy được cùng là đề tài tình yêu nhưng mỗi tác giả lại có một quan điểm, một cách thể hiện riêng So sánh những bài thơ sáng tác trong những thời điểm khác nhau của một tác giả cũng cần làm rõ sự chuyển biến hay sự phát triển trong quan niệm sáng tác cũng như thế giới quan của nhà văn thể hiện trong tác phẩm Giảng “Tiếng hát sông Hương” của Tố Hữu, nhiều giáo viên đã làm công việc so sánh với “Đời mưa gió” của Khải Hưng

để hiểu rõ hơn quan điểm sáng tác và nhân sinh quan của nhà thơ cộng sản qua bài thơ này

Nhóm so sánh thứ ba

Nhóm so sánh những yếu tố trong bản thân tác phẩm Như chúng ta đã

biết những yếu tốc hợp thành bản thân tác phẩm vốn là một tập hợp, một hệ thống nhiều yếu tố hữu hình và vô hình, của nhiều yếu tố vi mô và vĩ mô Phân tích bằng con đường so sánh những mối liên hệ phức tạp và đa dạng giữa các yếu tố đó cũng là cách phát hiện ra vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm Phương pháp hệ thống trong giảng văn của Đái Xuân Ninh cũng căn cứ vào đặc điểm đó của tác phẩm văn học Mối liên hệ giữa các yếu tố đó được phân loại theo nhiều tầng lớp Có thể so sánh các từ, các tập hợp từ, các hình tượng, các chi tiết, các chặng kết cấu khác nhau của tác phẩm Có khi là sự so sánh giữa các phần trong kết cấu của tác phẩm Khi phân tích “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, chúng ta thấy tư tưởng chủ đề của tác phẩm được thể hiện rõ nét qua các chặng phát triển của nhân vật A Phủ và Mỵ Cuộc đời của họ trải qua

Trang 23

nhiều tủi nhục dưới ách của bọn thống lý Pá Tra đến những ngày tự phát đứng lên xây dựng cuộc sống có vợ có chồng ở Hòn Ngài cho đến chặng đường được thực sự giải phóng dưới sự lãnh đạo của Đảng

GS Phan Trọng Luận đã hệ thống hoá các nhóm liên hệ so sánh để phân tích tác phẩm như sau:

Nhóm 1

+ Tác phẩm gần gũi hoặc khác biệt:

(Đề tài) (Tác giả) + Cùng hoặc khác thời điểm sáng tác:

Loại hình Tranh minh hoạ

Trang 24

Quan hệ sự kiện chi tiết

Quan hệ các tuyến nhân vật

Quan hệ của nhân vật chung quanh

Quan hệ nội tâm với ngoại hình nhân vật

Quan hệ nhân vật với tác giả

Khi nhắc đến phương pháp nghiên cứu của Lênin, N.K.Krupxkaia có viết: “Lấy những tác phẩm của Mác có phân tích những tình huống tương tự, đem phân tích tỉ mỉ các tình huống tương tự, đem phân tích tỉ mỉ các tình huống đó, so sánh với các yếu tố đã thể nghiệm, vạch ra chỗ giống nhau và khác nhau Đó là phương pháp của Lênin”

Dĩ nhiên, giữa phân tích khoa học, xã hội và văn học có những chỗ khác biệt nhưng trong hoạt động nhận thức biện pháp so sánh nếu được sử dụng một cách thích hợp với đối tượng phân tích, chắc chắn sẽ đưa đến hiệu quả tốt đẹp So sánh là một trong những biện pháp quen thuộc và hữu hiệu trong phân tích văn học cũng được hoàn thiện trong thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy văn học làm sao cho việc phân tích và giảng dạy văn học vừa có tính khoa học nghiêm ngặt vừa có tính nghệ thuật đậm đà

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng dạy văn, học văn ở nhà trường trung học phổ thông

Văn học là bộ môn nghệ thuật dễ lôi cuốn và hấp dẫn song không thể phủ nhận một thực tế đáng buồn: Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước học sinh càng lên lớp trên càng không có hứng thú học văn, đó

là mối băn khoăn không chỉ riêng của nhà giáo và ngành giáo dục mà đã trở thành mối quan tâm chung của xã hội Giờ học văn không hứng thú, học sinh lạnh lùng thờ ơ với những vấn đề đặt ra trong bài văn Những tâm tư tình cảm, số phận của các nhân vật ít nhận được sự đồng cảm của học sinh qua những giờ giảng văn trong nhà trường ([tr.128] – phương pháp dạy học Văn) Theo thống kê mới nhất về kỳ thi đại học, trong số 64000 hồ sơ dự thi chỉ có

Trang 25

rất ít hồ sơ đăng ký thi khối C Theo điều tra của Viện Khoa học Giáo dục năm 2007 trên khoảng 4000 học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thong

ở các địa phương trong toàn quốc, số học sinh không hứng thú với việc học tập môn Ngữ văn chiếm tới 47,6%, số học sinh hứng thú với môn học chỉ chiếm 13,8%, số còn lại 40,6% cảm thấy bình thường [19.tr.66]

Nguyên nhân ở đâu? Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng không hứng thú khi học môn văn của học sinh hiện nay trong đó phải kể tới phương pháp dạy của giáo viên còn nhiều hạn chế, bài giảng chưa sâu, chỉ phân tích, bình dập khuôn máy móc, chung chung ít so sánh khi giảng dạy khiến các em còn thờ ơ trong giờ giảng văn…

Khảo sát tình hình thực tế học sinh lớp 11 ở 3 trường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang: thành thị: trường THPT Lạng Giang số 1; nông thôn: trường THPT Lạng Giang số 2, trường THPT Lạng Giang số 3: Khi phỏng vấn các

em, hầu hết các em đều trả lời không thích học môn văn Nguyên nhân: Sự phát triển của xã hội (công nghiệp hoá, hiện đại hoá), do sự lự chọn ngành nghề và một nguyên nhân quan trọng là do các phương pháp giảng dạy của giáo viên kém hứng thú hầu hết chỉ đi vào bề nổi ít đi vào chiều sâu

Kết quả khảo sát thu được từ phiếu điều tra (Bảng kết quả điều tra 1.2.2.8)

1.2.2 Điều tra thực trạng

1.2.2.1 Mục đích điều tra

Đánh giá chung những việc đã làm được và cả những tồn tại trong quá trình DH

Tìm nguyên nhân và đưa ra giải pháp hiệu quả (Định hướng phân tích

tác phẩm “Vội vàng” theo biện pháp so sánh)

1.2.2.2 Đối tượng điều tra

GV, HS lớp 11 tại một số trường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Tài liệu học tập, thiết bị phục vụ dạy học “Vội vàng”

1.2.2.3 Phạm vi điều tra

- Việc dạy học của GV và HS lớp 11 THPT

Trang 26

- Những thuận lợi, khó khăn khi giáo viên dạy “Vội vàng”

- Phương hướng khai thác “Vội vàng” hiện nay

1.2.2.4 Tư liệu điều tra

Phiếu điều tra

Sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu tham khảo

Chúng tôi tiến hành khảo nghiệm trên SGK Ngữ Văn 11, SGV Ngữ văn

11 (tập II, bao gồm chương trình chuẩn và chương trình nâng cao), sách tham

khảo, sách hướng dẫn, các bài viết của học sinh

Giáo án

Chúng tôi khảo nghiệm bài soạn của GV trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và

một số bài soạn trong sách Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 11

1.2.2.5 Thời gian, địa điểm điều tra

Học kì II năm học 2010 – 2011

Hai địa bàn chính huyện Lạng Giang: nông thôn và thành thị

1.2.2.6.Hình thức điều tra

Nghiên cứu tài liệu phục vụ DH, giáo án của GV, vở chuẩn bị bài của

HS; thực hiện dự giờ, phỏng vấn, phát phiếu, xem xét vở ghi, vở soạn bài, thiết bị DH được sử dụng…

1.2.2.7 Quá trình điều tra

Tiến hành điều tra tại 2 địa bàn chính thành thị: THPT Lạng Giang số 1; nông thôn: THPT Lạng Giang số 2, THPT Lạng Giang số 3 ( Lạng Giang - Bắc Giang)

* Điều tra tƣ liệu

Phiếu dành cho học sinh

Thông tin cá nhân

Họ và tên………

Trường………

Huyện……… Tỉnh………

Trang 27

Nội dung câu hỏi:

1 Anh (chị) hãy cho biết, trước cách mạng, Xuân Diệu sáng tác theo khuynh hướng nào?

2 Trước mỗi giờ học văn anh ( chị) thường chuẩn bị những gì?

A Đọc và tìm hiểu trước tác phẩm và những tài liệu liên quan

B Chuẩn bị theo những câu hỏi trong sách giáo khoa và sách để học tốt?

C Không chuẩn bị gì cả

3 Trong giờ học văn anh ( chị) học như thế nào?

A Chăm chú nghe giảng

Phần Tiểu dẫn, (SGK cơ bản) trình bày ngắn gọn về tác giả, tác phẩm có liên quan trực tiếp đến dạy học “Vội vàng” Về tác giả: quê quán, năm sinh, năm

mất, quá trình tác giả lớn lên, tham gia hoạt động chính trị, xã hội, đặc biệt là quá trình sáng tác văn học của nhà văn và những sáng tác tiêu biểu của Xuân Diệu Dung lượng không nhiều, chưa thật chi tiết nhưng theo khảo sát thì 90% bao

Trang 28

gồm cả GV và HS đều thấy như thế là vừa đủ Về tác phẩm, sách chỉ cung cấp

đôi nét về xuất xứ và tên truyện khi mới ra đời giúp GV và HS có điều kiện mở rộng hiểu biết ban đầu về TPVC chuẩn bị học SGK nâng cao thông tin sơ lược

về tác phẩm, không trích dẫn về tác giả vì sẽ học ở bài tác gia Xuân Diệu trong SGK Ngữ Văn 11 nâng cao nên đã gây không ít khó khăn cho HS

Phần văn bản “Vội vàng” của Xuân Diệu được trích dẫn đầy đủ, đảm bảo tính chỉnh thể tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy học

Phần Hướng dẫn học bài, các tác giả soạn sách đã thông qua câu hỏi,

bài tập, định hướng việc học tập của HS, GV cũng có thể dựa vào đó để thiết

kế bài học, khai thác tác phẩm

Phần Ghi nhớ, tổng hợp những kiến thức cơ bản người học cần nắm vững

sau khi học xong văn bản này Nó vừa định hướng người học vừa có chức năng gợi ý kiểm tra lại kết quả cho GV (SGK nâng cao không có mục này)

Phần cuối cùng là Luyện tập – củng cố (SGK cơ bản), khắc sâu thêm

trọng tâm bài học, yêu cầu người học trình bày những suy nghĩ của mình sau khi học bài thơ “Vội vàng” Nhìn chung, tuy chưa thoả mãn tất cả yêu cầu của người học nhưng SGK cũng đã phần nào giúp người học phát huy tính năng động, tích cực và gián tiếp định hướng hoạt động dạy của GV

*Sách giáo viên

SGV là tài liệu gợi ý giảng dạy cho người GV trên nhiều phương diện:

Bắt đầu từ mục tiêu bài học (cả về nội dung và nghệ thuật) Phần thứ hai là những điều cần lưu ý, trong phần này lại chia làm bốn phần nhỏ: Nội dung cung cấp, lưu ý về đặc điểm riêng của bài học, định hướng trọng tâm bài học vào “Phân tích tác phẩm “Vội vàng” Tiếp theo là gợi ý về PP và tiến trình tổ chức DH, gợi dẫn về PPDH và tiến trình khai thác theo trình tự câu hỏi hướng dẫn học bài Phần kiểm tra đánh giá để xác định được mức độ cảm thụ tác phẩm và gợi ý của GV nếu cần thiết Cuối cùng là tài liệu tham khảo – giới

thiệu tài liệu tham khảo khi tác giả soạn bài nhưng nó cũng cho thấy những gợi ý của tác giả về nguồn tư liệu sử dụng… Với yêu cầu về dung lượng và

Trang 29

tính sáng tạo trong DH phù hợp với nhà trường… theo phần lớn GV được hỏi đều cho rằng việc gợi dẫn của SGV là vừa phải

*Tài liệu tham khảo

Tài liệu về “Vội vàng” phong phú, đa dạng Trường THPT nào cũng có

một số cuốn sách quan trọng: Xuân Diệu về tác gia, tác phẩm… cũng như

nhiều sách tham khảo, báo, tạp chí khác, đáng tiếc HS vẫn chưa biết cách khai thác giá trị của nó nhằm phục vụ cho việc cảm thụ tác phẩm

Điều tra giáo án và hoạt động dạy bài thơ “Vội vàng” của giáo viên lớp 11 THPT

Chúng tôi tiến hành khảo sát một số giáo án, bài dạy của giáo viên tại trường THPT Lạng Giang số 1 tại các lớp 11A2, 11A8 và một số giáo án, bài dạy của giáo viên tại trường THPT Lạng giang số 2 tại các lớp 11A1, 11A4; trường THPT Lạng giang số 3 tại các lớp 11A3, 11A9 Những nội dung cơ bản trong các bài soạn và hoạt động dạy trên lớp của GV mà chúng tôi trực tiếp khảo nghiệm sẽ được trình bày cụ thể trong mục 1.2.2.8 kết quả khảo nghiệm dưới đây:

1.2.2.8.Kết quả điều tra

Căn cứ vào kết quả các phiếu mà chúng tôi đã phát cho học sinh và xem giáo án thu được kết quả điều tra như sau:

*Kết quả theo thống kê phiếu điều tra

- Đối với giáo viên

Bảng 1.1: Bảng thống kê việc sử dụng biện pháp so sánh

trong giáo án dạy bài thơ “Vội vàng”

STT

Trường

Số lượng giáo án

Có sử dụng

so sánh nhưng rất ít

Chủ yếu sử dụng so sánh

Không sử dụng so sánh

Trang 30

- Đối với học sinh

Bảng 1.2: Bảng thống kê tình trạng học văn, học bài thơ “Vội vàng” của HS

*Kết quả về mức độ tiếp nhận bài thơ “Vội vàng” của HS hiện nay

Nhìn chung các em nắm được những kiến thức cơ bản về tác gia Xuân Diệu (dựa vào SGK là chính)

Về tác phẩm, phần lớn học sinh có những hiểu biết, bước đầu cảm nhận được những nét chính:

- Tình yêu cuộc sống tha thiết của Xuân Diệu

- Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người và sự trôi chảy của thời gian

- Quan niệm sống, tuyên ngôn sống của nhà thơ là sống vội vàng, sống cuống quýt để tận hưởng cuộc sống của nhà thơ

Những kiến thức HS nhận thức được như trên mới chỉ là những tri thức

ở dạng tối thiểu, dừng lại ở dạng gợi nhớ, chưa thể hiện được nhiều những khám phá riêng, mang tính chiều sâu của tác phẩm Có thể những kiến thức trên thu lượm được thông qua hình thức đối thoại trên lớp

Việc dạy học bài thơ “Vội vàng” ở trường phổ thông nhìn chung khá phong phú, đa dạng, tuỳ vào quan điểm, năng lực của GV và của người học

mà đưa ra biện pháp dạy học phù hợp

Ở đây, người dạy chọn cách sử dụng biện pháp so sánh là chủ yếu trong dạy bài thơ “Vội vàng” để học sinh nắm bài học sâu sắc hơn

Trang 31

Qua khảo sát hoạt động dạy của GV chúng tôi nhận thấy một số điểm sau:

Về hiện tượng “Vội vàng” nhiều cách khai thác khác nhau: sử dụng hệ thống câu hỏi, bình giảng, đọc sáng tạo… quan trọng đặt ra là cần tìm hướng khai thác nào để đảm bảo tối ưu nhất, khai thác có trọng tâm, trọng điểm nhưng phải đảm bảo tính chỉnh thể, phù hợp với năng lực HS mình phụ trách

Số lượng GV đi theo hướng khai thác trong tài liệu hướng dẫn SGK và SGV chiếm tỉ lệ nnhiều hơn cả (70%) Khi soạn SGK, nhóm biên soạn thường dựa trên mặt bằng chung của trình độ nhận thức HS, vì vậy “dạy theo hướng dẫn của SGK và SGV là đạt yêu cầu” – không ít GV quan niệm như vậy Tuy nhiên, tính vừa sức trong DH cũng cần được hiểu theo nghĩa rộng, có nghĩa là nên kết hợp hướng dẫn trong SGK, SGV với những tìm tòi, sáng tạo của người dạy và đặc điểm HS mình phụ trách thì hiệu quả sẽ cao Mỗi người thầy lại có những thế mạnh, hạn chế khác nhau và chính người GV đứng lớp phải nắm vững về sở trường, sở đoản của HS mình… từ đó mà đưa ra PPDH sao cho hợp lý

Hình thức khai thác, nhìn chung vẫn đi theo hướng tách nội dung và hình thức ra làm hai mặt tương đối độc lập (khai thác xong nội dung thì khai thác hình thức) Cách khai thác này đã tồn tại từ khá lâu theo thói quen, phần lớn là do GV ngộ nhận là để đảm bảo tính “mạch lạc” Mặt khác do một số vùng, một số lớp trình độ người học chưa cao, một vài GV chưa dành nhiều thời gian nghiên cứu bài, ngại đổi mới BPDH Quan niệm tách bạch nội dung

và hình thức như vậy là không đúng, lí luận văn học ngày nay cho thấy TPVC rất khó có thể tách biệt rạch ròi yếu tố nào thuần tuý nội dung, yếu tố nào hoàn toàn là hình thức – khái niệm “hình thức mang tính nội dung” minh chứng cho ta thấy điều vừa nói Cần khai thác kết hợp cả nội dung và hình thức, vận dụng so sánh với các tác giả, tác phẩm khác thì sẽ đem lại hiệu quả tiếp nhận cao hơn Đó là cách khai thác mang tính văn chương hơn nhưng nó cũng khó hơn, đòi hỏi người GV phải mất nhiều thời gian nghiên cứu tác

Trang 32

phẩm và tài liệu tham khảo khác nhau, kiến thức phải rộng, sâu (phải cảm và hiểu sâu sắc tác phẩm), có bản lĩnh sư phạm mới thực hiện tốt được Thực tế

DH cho thấy nhiều GV vẫn luôn tìm tòi, sáng tạo trong cách dạy, vận dụng sáng tạo tư tưởng, nội dung của BPDH mới, tích cực – đối thoại và bước đầu cũng có những kết quả nhất định

Phân tích kết quả điều tra

Từ kết quả điều tra, chúng tôi rút ra được một số nhận xét về cách dạy của giáo viên và sự cảm thụ của học sinh

*Đối với giáo viên:

Nhìn chung, tình trạng dạy học theo lối đọc – chép không tồn tại tràn lan, trong giờ học đã xuất hiện sự luân phiên lượt lời của GV và HS Bước đầu ở một số trường, một số lớp đã phần nào phát huy tính tích cực, năng động của người học

Song hầu hết GV và HS mới chỉ nắm được yêu cầu tối thiểu liên quan đến mục đích giờ học tác phẩm này Các giáo viên chỉ chú ý vào việc khai thác nội dung bản thân tác phẩm mà không đầu tư đúng chỗ vào yếu tố ngoài mang tính đặc trưng của văn bản “Vội vàng” được phân phối chương trình 2 tiết (90 phút) nhưng học sinh chỉ nắm được những kiến thức rất cơ bản: hoàn cảnh ra đời tác phẩm, bố cục văn bản, nội dung, nghệ thuật chính của tác phẩm, chưa so sánh, đối chiếu với các tác phẩm, tác giả, trào lưu khác nếu có đối chiếu, so sánh thì rất ít

Về việc chuẩn bị bài ở nhà: phần lớn GV chỉ yêu cầu HS chuẩn bị bài ở nhà theo hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa không yêu cầu HS tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến tác phẩm Học sinh chưa thực sự hứng thú với giờ học do khi dạy giáo viên chưa chú tâm đến tính chất lãng mạn độc đáo rất Tây của Xuân Diệu- “nhà thơ mới nhất trong những nhà Thơ mới”

Thời đại ngay nay, học sinh không chỉ tiếp cận tác phẩm văn học dưới hình thức trực tiếp đọc văn bản nữa mà có thể gián tiếp qua kênh nghe, nhìn, xem qua các tài liệu, các bìa bình luận trên sách, báo, internet Các hình thức

Trang 33

tiếp cận gián tiếp thì rất phong phú, hấp dẫn, trong khi đó giáo viên giảng dạy trên lớp thì đơn điệu một chiều: phần lớn thầy giảng –trò ghi, hay giáo viên là trung tâm của giờ học Từ đó không gây hứng thú cho học sinh

* Đối với học sinh:

Việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh chủ yếu vẫn đơn thuần là đọc tác phẩm và trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa Các yếu tố ngoài văn bản và đặc trưng loại thể của tác phẩm không được chú ý đến Chính vì vậy học sinh không hiểu sâu sắc tác phẩm, không thể tự mình lí giải được một số chi tiết

mà chủ yếu dựa vào các tài liệu tham khảo, sách để học tốt Ngữ văn

Trên lớp học vẫn thụ động nghe giảng, ghi chép lại kiến thức, còn rụt rè

ít tham ra vào đối thoại với các bạn và thầy cô giáo về tác phẩm Không tạo ra được những vấn đề cho tác phẩm Chính vì vậy khó khăn nhất cho học sinh là nắm bắt được đặc trưng của tác phẩm

Chúng tôi tìm hiểu thêm một số bài viết kiểm tra của học sinh 6 lớp 11 của trường THPT Lạng Giang số 1, Lạng Giang số 2, Lạng Giang số 3 (Lạng Giang, Bắc Giang)– chúng tôi thấy có hiện tượng nổi bật sau:

Các bài viết chỉ chung chung không có ý kiến riêng của mình Kiến thức về tác phẩm chưa sâu sắc

Có một số bài thoát khỏi tình trạng liệt kê kiến thức, biết bình luận kiến thức, phân tích nhưng chủ yếu nói theo những điều của giáo viên, không cảm thụ sâu sắc tác phẩm Các em chỉ gói gọn những hiểu biết của mình trong tác phẩm Chưa so sánh được với các tác giả, tác phẩm khác, hoặc nếu có so sánh thì rất ít

Như vậy, về cơ bản tình hình dạy học “Vội vàng” một tác phẩm không thể thiếu trong chương trình THPT mà vấn đề giảng dạy còn nhiều bất cập và chưa thống nhất Một tác phẩm đã cũ nhưng vẫn chưa được tìm hiếu một cách thấu đáo và xác thực, chưa thực sự gây hứng thú với cho học sinh Về cơ bản, tình hình dạy học “Vội vàng” hiện nay ở THPT vẫn chưa đáp ứng hết đầy đủ được các yêu cầu của quá trình dạy học, chưa khai thác được hết giá trị và ý

Trang 34

nghĩa của tác phẩm, chưa phát huy được tối đa vai trò của học sinh, biến quá trình dạy học thành tự học, giáo dục thành tự giáo dục

Mặc dù vậy, từ khả năng, quan điểm, quyết tâm của các thầy, cô dạy Văn cũng như khả năng, nguyện vọng của bản thân người học và sự hấp dẫn

kì diệu của văn chương, cùng sự đồng thuận của các cấp quản lý, xã hội… hy vọng việc tổ chức dạy học “Vội vàng” ở THPT theo biện pháp so sánh sẽ khắc phục được những hạn chế nêu trên, đáp ứng được phần nào sự kỳ vọng

về chất lượng dạy học Văn hiện nay và trong tương lai

Nguyên nhân

Từ phân tích kết quả khảo nghiệm chúng tôi nhận thấy, dẫn tới thực trạng dạy tác phẩm “Vội vàng” như hiện nay trong nhà trường THPT, trong sách thiết kế, tài liệu tham khảo chủ yếu từ những nguyên nhân sau:

Nguyên nhân khách quan

Bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu đưa vào trong chương trình Ngữ Văn THPT, đều là những tác phẩm đặc sắc, tiêu biểu cho phong cách sáng tác của Xuân Diệu, một phong cách riêng độc đáo Mà bản thân nhà thơ lại là một nhà thơ “Mới nhất trong các nhà Thơ mới’, cho nên việc nắm chắc phong cách nhà văn và quan trọng hơn là việc hướng HS tiếp nhận những giá trị trong tác phẩm theo đúng tinh thần “Văn tức là người” là một khó khăn lớn đối với GV

Mặt khác, những chương trình giáo dục thường xuyên về chuẩn kiến thức, kỹ năng văn học, và việc đổi mới phương pháp dạy học cho GV THPT thường xuyên, liên tục Đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến những lúng túng trong dạy học TPVC trong nhà trường nói chung và trong thơ Xuân Diệu này nói riêng

Nguyên nhân chủ quan

Trước yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục theo hướng lấy HS là trung tâm, HS là chủ thể tiếp nhận, chủ thể sáng tạo, GV còn nhiều lúng túng trong việc tìm ra những biện pháp, phương pháp áp dụng cho một giờ dạy để đạt hiệu quả tối ưu

Trang 35

Trong dạy học, GV còn coi nhẹ khâu hướng dẫn học sinh đọc văn bản tác phẩm, theo dõi 6 tiết dạy, chúng tôi thấy việc đọc tác phẩm rất ít, thậm chí

có giờ dạy, giáo viên chỉ cho học sinh đọc một lần ngay từ đầu giờ học Thực

tế, việc đọc đúng giọng điệu rất quan trọng, bởi vì “ở những áng văn hay, cái giọng của câu văn mở đầu có ý nghĩa quyết định cho sự cảm nhận cảm hứng chủ đạo và nội dung của toàn bộ tác phẩm”(tài liệu, lv nttc)

Hơn nữa, khi tìm hiểu tác phẩm, đa phần giáo viên chưa chú ý nhiều đến so sánh dẫn đến hiện tượng học sinh học tác phẩm một cách xơ cứng, đơn điệu, nhàm chán, chưa thấy hết được cái riêng, độc đáo trong phương thức trình bày nghệ thuật của Xuân Diệu ở bài thơ “Vội vàng” Tiếp nhận tác phẩm còn mang tính chủ quan Đối với giáo viên am hiểu phần nào thì dạy kĩ phần đó

Trang 36

Tiểu kết 1

Trong phần này chúng tôi đã nghiên cứu tổng hợp các cơ sở lí luận phục

vụ cho việc tiến hành đề tài Các cơ sở lí luận đã nghiên cứu:

- Biện pháp so sánh và việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học văn

- Thực tiễn dạy và học văn ở nhà trường phổ thông hiện nay

- Khảo sát đánh giá của giáo viên về việc dạy tác gia Xuân Diệu và bài thơ “Vội vàng” trong chương trình Ngữ văn lớp 11

- Khảo sát việc học văn ở trường THPT đối với học sinh và phân tích thực trạng học văn ở trường THPT

Từ việc phân tích cơ sở lí luận chúng tôi nhận thấy việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học văn nói chung và trong dạy học bài thơ “Vội vàng” nói riêng ở nhà trường THPT kết hợp với các biện pháp dạy học khác

là cần thiết Việc so sánh vừa làm học sinh hiểu được sâu sắc hơn về tác phẩm đang học, mặt khác còn đặt tác phẩm đang học trong mối quan hệ với các tác phẩm văn chương khác, với đời sống hiện thực, với bối cảnh ra đời… Từ đó, làm tăng hứng thú học tập của học sinh

Từ đó chúng tôi đã đưa ra hướng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu

Sử dụng biện pháp so sánh 3.1 trong dạy học bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu Để thực hiện được theo hướng nghiên cứu này, chúng tôi cũng đã dựa trên cơ sở lí luận về biện pháp so sánh và những yêu cầu, nguyên tắc của nó

để thực hiện trong việc so sánh lịch đại và so sánh đồng đại về đặc điểm thơ Xuân Diệu và định hướng dạy học bài thơ “Vội vàng”

Trang 37

CHƯƠNG 2

SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG DẠY HỌC

THƠ XUÂN DIỆU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Vị trí nhà thơ Xuân Diệu

2.1.1 Vị trí nhà thơ Xuân Diệu trong văn học Việt Nam

*Tiểu sử Xuân Diệu

Xuân Diệu sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916, mất ngày 18 tháng 12 năm

1985 tại Hà Nội Tên khai sinh của ông là Ngô Xuân Diệu Thân sinh của thi sĩ

là ông Ngô Xuân Thọ một nhà nho, quê quán ở làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh “Ông đồ nghệ” vào Quy Nhơn dạy học, lấy bà Nguyễn Thị Hiệp người vạn Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước làm vợ lẽ- “ông đồ Nho lấy cô hàng nước mắm”- sinh ra Xuân Diệu tại Gò Bồi, thôn Tùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định Ít lâu sau, bà cả vào Mẹ của ông không ở được, phải về sống với bà ngoại của Xuân Diệu ở vạn Gò Bồi

Lớn lên ở Quy Nhơn, Xuân Diệu học hết bậc thành trung thì ra Hà Nội, sau đó lại vào Huế học tiếp Tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức một thời gian ở Sở Đoan Mĩ Tho (Sở thuế quan) (nay là Tiền Giang)

Ông ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, Xuân Diệu bắt đầu có thơ đăng báo từ năm 1935 Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho

các tờ Ngày Nay và Tiên Phong Ông là một trong những người sáng lập

Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam

Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, "nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới" (Hoài Thanh), "ông hoàng của thơ tình"

Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào "Thơ Mới" Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai

đoạn này: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), truyện ngắn Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945)

Trang 38

Hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió được giới văn học xem như là

hai kiệt tác của ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi

sự sống, niềm vui và đam mê sống Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không

ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu Và Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh (Huy Cận, tháng 4 năm 2000)

Năm 1943, ông tốt nghiệp cử nhân Luật và làm tham tá thương chánh ở

Mỹ Tho một thời gian trước khi chuyển về ở Hà Nội nhưng chủ yếu hạt động văn học

Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí

Tiền phong của Hội Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc

Xuân Diệu tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam

Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một "dòng thơ công dân" Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ

tự sự trữ tình Tiêu biểu là: Ngọn quốc kỳ (1945), Một khối hồng (1964), Thanh ca (1982), Tuyển tập Xuân Diệu (1983)

Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học

Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983

Trang 39

Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996)

Giờ đây, tên của ông được đặt cho một đường phố ở Hà Nội, và cũng được đặt cho một trường trung học phổ thông ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định

Đời sống riêng

Xuân Diệu đã lập gia đình riêng một lần với NSND Bạch Diệp nhưng hai người đã ly dị và họ không có con chung Sau khi ly dị ông sống độc thân cho đến lúc mất vào năm 1985

Xuân Diệu là người cùng quê Hà Tĩnh với Huy Cận (làng Ân Phú, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh) nên khi gặp nhau, hai ông đã trở thành đôi bạn thân Vợ của Huy Cận, bà Ngô Thị Xuân Như là em gái của Xuân Diệu Chính vì thế, có người đã cho rằng Xuân Diệu cùng với Huy Cận là hai nhà thơ đồng tính luyến ái Huy Cận và Xuân Diệu từng sống với nhau nhiều năm Những bài thơ "Tình trai", "Em đi" của Xuân Diệu và "Ngủ chung" của Huy

Cận được cho là viết về đề tài đó Theo hồi ký Cát bụi chân ai của Tô Hoài

thì Xuân Diệu từng bị kiểm điểm về việc này

*Con người Xuân Diệu

“Cha ở đàng ngoài, mẹ ở đàng trong- Ông đồ nghệ đeo khăn gói đỏ”

(Thơ Xuân Diệu, bài Cha ở đàng ngoài, mẹ ở đàng trong) Xuân Diệu đã học

được ở cha đức tính cần cù, kiên nhẫn trong học tập và lao động nghệ thuật Với ông học tập, rèn luyện sáng tạo vừa là một quyết tâm khắc khổ, vừa là niềm say mê lớn, vừa là lẽ sống

Sinh ra và lớn lên ở quê mẹ, thiên nhiên nơi đây tác động rất lớn đến hồn thơ sôi nổi, nồng nàn của ông đặc biệt là những ngọn gió nồm “Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát ” và những con sóng biển “Như hôn mãi ngàn năm không thoả - Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!” Người ta còn nghĩ tới một lý do khác: ông là con vợ lẽ, phải xa mẹ từ nhỏ và thường bị hắt hủi Chính hoàn cảnh ấy khiến ông luôn khao khát tình thương và sự cảm thông của người đời

Trang 40

Xuân Diệu một mặt là trí thức Tây học, đã hấp thụ ảnh hưởng của tư tưởng và văn hoá Pháp một cách có hệ thống Mặt khác, do xuất thân từ một gia đình nhà Nho (con ông tú kép- hai lần đỗ tú tài), nên lại tiếp thu được một các tự nhiên ảnh hưởng của nền văn hoá truyền thống Vì thế, ta có thể tìm thấy ở nhà thơ sự kết hợp hai yếu tố cổ điển và hiện đại, Đông và Tây trong tư tưởng và tình cảm thẩm mỹ Tất nhiên, văn hoá và văn học phương Tây vẫn

có ảnh hưởng sâu đậm hơn

Ông là một tài năng nhiều mặt: làm thơ, viết văn, nghiên cứu phê bình văn học, dịch thuật Nhưng ông trước hết là một nhà thơ – một trong những nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam

2.1.2 Vị trí nhà thơ Xuân Diệu trong nhà trường THPT Việt Nam

Về bài văn học sử tác gia Xuân Diệu và ba bài giảng văn thơ của ông ở lớp 11 Trước 1980 Xuân Diệu và những nhà thơ lãng mạn Việt Nam cũng như thơ của các ông không được đưa vào giảng dạy ở bậc học phổ thông Sau

1980 một số nhà thơ này và các sáng tác của họ dần dần đã có chỗ đứng trong chương trình và sách giáo khoa phổ thông Với Xuân Diệu lúc này, có bài thơ

"Ngói mới" được đưa vào giảng ở lớp 12 (1 tiết) Từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước lại đây, học sinh được học nhiều hơn về Xuân Diệu, học tới 5 tiết ở lớp

11 (sau Nam Cao; bằng Tố Hữu và bằng Nguyễn Tuân), trong 5 tiết đó có bài văn học sử tác gia Xuân Diệu 2 tiết, giảng văn ba bài thơ của ông là các bài

"Thơ duyên", "Đây mùa thu tới" và bài "Vội vàng" mỗi bài 1 tiết Xuân Diệu

là một tác gia lớn của nền thơ ca hiện đại Việt Nam, một ông hoàng thơ tình Ông mất đi như một cây đại thụ trong vườn cây ngã xuống làm cả một khoảng trời trống vắng Và ông cũng đã được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1 năm 1996), cho nên đưa ông vào văn học như một tác gia là xứng đáng Chương trình chỉnh lý hợp nhất năm 2000, Xuân Diệu được dạy ở lớp 11 với phong cách là một tác gia (Sách giáo khoa Ngữ văn lớp

11, tập I) Chương trình làm nổi bật Xuân Diệu nhà thơ đầy tài năng Mặc dù Xuân Diệu có viết văn xuôi, viết phê bình văn học, hoạt động văn học của ông

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thanh Biệt (biên khảo). Thơ tình Nguyễn Bính. Nhà xuất bản văn hoá thông tin, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tình Nguyễn Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá thông tin
2. Lê Bảo. Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường- Xuân Diệu. Nhà xuất bản giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường- Xuân Diệu
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
3. Nguyễn Viết Chữ. Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường. Nhà xuất bản giáo dục Việt nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Việt nam
4. Hà Minh Đức – Đoàn Đức Phương. Tác giả và phẩm Nguyễn Bính. Nhà xuất bản giáo dục,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả và phẩm Nguyễn Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
5. Bùi Thanh Hoa. Hư từ và giá trị biểu đạt của hư từ trong bài thơ “Vội vàng”.Tạp chí khoa học số 2, tr42-45, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hư từ và giá trị biểu đạt của hư từ trong bài thơ “Vội vàng”
6. Ngu.yễn Ái Học (2010), Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học văn, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học văn
Tác giả: Ngu.yễn Ái Học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2010
7. Lê Quang Hƣng. Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kỳ trước 1945. Đại học Quốc gia Hà Nội. 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kỳ trước 1945
8. Phan Trọng Luận(chủ biên) – Trương Dĩnh - Nguyễn Thanh Hùng – Trần Thế Phiệt. Phương pháp dạy học văn. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
9. Nguyễn Đăng Mạnh. Những bài văn bình giảng hay. Nhà xuất bản trẻ, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài văn bình giảng hay
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ
10. Hoài Thanh – Hoài Chân. Thi nhân Việt Nam. Nhà xuất bản văn hoá, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá
11. Lưu Khánh Thơ. Tác gia và tác phẩm Xuân Diệu. Nhà xuất bản giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác gia và tác phẩm Xuân Diệu
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
12. Vũ Thị Un. Trường nghĩa của từ yêu trong thơ Xuân Diệu (so sánh với thơ Bính). Ngôn ngữ số 9, tr27-37, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường nghĩa của từ yêu trong thơ Xuân Diệu (so sánh với thơ Bính)

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Bảng thống kê việc sử dụng biện pháp so sánh   trong giáo án dạy bài thơ “Vội vàng” - Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường Trung học phổ thông
Bảng 1.1 Bảng thống kê việc sử dụng biện pháp so sánh trong giáo án dạy bài thơ “Vội vàng” (Trang 29)
Bảng 1.2: Bảng thống kê tình trạng học văn, học bài thơ “Vội vàng” của HS - Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường Trung học phổ thông
Bảng 1.2 Bảng thống kê tình trạng học văn, học bài thơ “Vội vàng” của HS (Trang 30)
Hình ảnh ấy? - Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường Trung học phổ thông
nh ảnh ấy? (Trang 106)
Bảng thống kê kết quả bài viết của HS bốn lớp - Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường Trung học phổ thông
Bảng th ống kê kết quả bài viết của HS bốn lớp (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w