1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng bản đồ điện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954, lớp 12 trường trung học phổ thông (chương trình chuẩn

128 566 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đặc trưng cơ bản của kiến thức lịch sử là mang tính quá khứ, tính cụ thể, tính không lặp lại… song quá trình nhận thức nói chung, nhận thức trong học tập lịch sử của HS nó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - -

BÙI THỊ KHÁNH LY

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1954, LỚP 12 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH ĐÌNH TÙNG

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, với xu thế phát triển của thời đại thông tin và công nghệ, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh t ế - xã hội Từ đa ̣i hô ̣i VI của Đảng các nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương II khóa VIII đã xác

đi ̣nh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đa ̀ o tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học ” Chính vì

lẽ đó, trong những năm gần đây có những thay đổi ma ̣nh mẽ theo hướng áp dụng các phương pháp tiên tiến , phương tiê ̣n hiê ̣n đa ̣i vào quá trình d ạy học, đảm bảo điều kiê ̣n thời gian tự ho ̣c , tự nghiên cứu cho HS và phù hợp với từng môn ho ̣c

Đổi mới phương pháp d ạy học là yêu cầu bắt buô ̣c đối với ngành giáo dục nói chung và GV nói riêng đ ể đáp ứng được yêu cầu của giáo dục trong thời đại mới, không chỉ là truyền thụ kiến thức đơn thuần đến HS mà quan trọng hơn phải phát huy tính tích cực chủ đô ̣ng sáng ta ̣o của HS trong h ọc tập Đặc biệt đối với bộ môn Lịch sử, khi vẫn còn nhiều quan niệm cho rằng: Lịch

sử là môn phụ; chỉ cần học thuộc sự kiện, không cần tư duy sáng tạo, học Lịch sử không phục vụ nhiều cho cuộc sống thì yêu cầu dạy học để khơi dậy

sự hứng thú của HS là vô cùng quan trọng

Với đặc trưng cơ bản của kiến thức lịch sử là mang tính quá khứ, tính cụ thể, tính không lặp lại… song quá trình nhận thức nói chung, nhận thức

trong học tập lịch sử của HS nói riêng tuân theo quy luật: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”, nên trong

dạy học Lịch sử ở trường phổ thông nguyên tắc trực quan là nguyên tắc tối cần thiết Nguyên tắc này được thể hiện rõ nét nhất thông qua phương pháp sử

dụng đồ dùng trực quan Có thể nói, đồ dùng trực quan là “cầu nối” sinh động

Trang 3

Trong hệ thống đồ dùng trực quan của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, bản đồ là một trong những loại đồ dùng trực quan quy ước phổ biến nhất Cùng với những thành tựu của công nghệ thông tin ứng dụng trong dạy học, nâng cao hiệu quả của việc sử dụng bản đồ và tạo ra những bản

đồ điện tử có khả năng ứng dụng cao Bản đồ điện tử không chỉ giúp người học xác định địa điểm của sự kiện trong thời gian và không gian nhất định, giúp những sự kiện đó trở nên sinh động hơn, trên cơ sở đó người học suy nghĩ, giải thích các hiện tượng lịch sử về mối liên hệ nhân quả, về tính quy luật và trình tự phát triển của quá trình lịch sử và củng cố kiến thức đã học Mặt khác, việc lưu giữ hình ảnh, sử dụng BĐĐT cũng khá đơn giản và thuận tiện khi có sự hỗ trợ của CNTT Những trên thực tế trong các trường phổ thông hiện nay việc sử dụng bản đồ điện tử kết hợp với bài giảng vẫn còn hạn chế: chủ yếu là giáo viên sử dụng luôn những bản đồ có sẵn trong sách giáo khoa, không cần tốn thời gian sưu tầm, chỉnh sửa… Tuy nhiên, do giới hạn của khổ giấy nên kích thước bản đồ nhỏ, khó theo dõi chung cả lớp, và khó thu hút sự chú ý của học sinh Vì vậy, để bài giảng lịch sử sinh động, hấp dẫn, giúp người học có những biểu tượng sinh động, cụ thể về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, trong quá trình dạy học, giáo viên cần sưu tầm, sử dụng đa dạng hơn các loại bản đồ, đặc biệt là bản đồ điện tử với những hiệu ứng sinh động để phát huy được thế mạnh, hiệu quả của nó trong dạy học Lịch sử, làm cho giờ học sinh động, hấp dẫn, tạo được sự hứng thú cho người học và từ đó, hiệu quả học tập sẽ được nâng lên rõ rệt Chính vì vậy tôi xin mạnh dạn

nghiên cứu đề tài: “Sử dụng bản đồ điện tử nhằm năng cao chất lượng dạy

học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 lớp 12 ở trường THPT (chương trình chuẩn)” để đưa ra những biện pháp sử dụng bản đồ điện tử

hợp lý, giúp GV nâng cao chất lượng bài giảng và phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập lịch sử

Trang 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

* Nguồn tài liệu của các nhà giáo dục học và giáo dục lịch sử ở nước ngoài:

Đầu tiên phải kể đến nhà giáo dục lịch sử Liên Xô (cũ) - N G Đairi với công trình: Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào? (Đặng Bích Hà và

Nguyễn Cao Lũy dịch “Chương 1: Những yêu cầu quan trọng nhất của giờ học và của việc chuẩn bị giờ học”, Nxb GD, H, 1973) Trong cuốn sách dịch này, ở phần III – “Tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh” (chiếm phần

lớn dung lượng của sách, tác giả nhấn mạnh đến hoạt động nhận thức độc lập của người học: bản chất của hoạt động độc lập của học sinh, biểu hiện của hoạt động độc lập của học sinh; các biện pháp tổ chức hoạt động độc lập của học sinh trong dạy học lịch sử)

Cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào” của

I.F.Kharlamôp (Nguyễn Thị Trang và Nguyễn Ngọc Quang dịch, Nxb GD, H, 1978) đã đề cập tới những biện pháp nhằm kích thích hoạt động nhận thức cua học sinh khi trình bày bài mới, khi củng cố kiến thức, khi ôn tập tài liệu đã học và khi tổ chức công tác tự học cho học sinh

Cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả” của nhóm tác giả Robert J

Marzano, Debra J Pickering, Jane E Pollock (Hồng Lạc dịch, Nxb GD, TP HCM, 2005) gồm 13 chương trong đó từ chương 2 đến chương 10 trình bày các phương pháp dạy học dựa trên các công trình nghiên cứu giáo dục ở Mỹ tương ứng với 9 phương pháp dạy học có hiệu quả Sách gợi mở cho độc giả các phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học

* Tài liệu của các nhà giáo dục học ở trong nước

Giáo trình “Giáo dục học” của Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt (Tập 1,

Nxb GD, H, 1987) có đề cập đến các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh

Bài viết “Dạy học cá biệt – một biện pháp nâng cao tính tích cực”

Trang 5

học theo xu hướng cá biệt hóa có vai trò lớn trong phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Bài viết “Phương pháp dạy học tích cực” của GS TS Trần Bá Hoành

(Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 4/2000) đã phác thảo bức tranh tổng quát về phương pháp dạy học tích cực

TS Đặng Thành Hưng trong cuốn “Dạy học hiện đại: lí luận – biện pháp – kĩ thuật” (Nxb ĐHQG, H, 2002) đề cập đến nhiều vấn đề của lí luận

dạy học hiện đại, trong đó có lí luận, biện pháp, và kĩ thuật phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Nguồn tài liệu của các nhà giáo dục trong và ngoài nước dù không liên quan trực tiếp đến vấn đề sử dụng bản đồ nhưng có vai trò quan trọng trong định hướng việc phát huy tính tích cực của HS khi vận dụng cụ thể qua phương tiện trực quan là bản đồ mà đề tài nghiên cứu, áp dụng

* Tài liệu của các nhà phương pháp dạy học Lịch sử Việt Nam

Có thể khẳng định rằng, việc sử dụng đồ dùng trực quan nói chung và việc sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử nói riêng luôn được các nhà giáo dục Việt Nam quan tâm từ lâu Cho đến nay, tác giả đã tiếp cận được những công trình, bài viết chủ yếu liên quan đến đề tài như sau:

Trước hết là cuốn: “Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử” (Nxb

Giáo dục, H, 1975) của tác giả Phan Ngọc Liên, Phạm Kỳ Tá đã đề cập khá căn bản về phân loại phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan có tính chất phổ biến trong dạy học Lịch sử, trong đó, cách sử dụng các loại bản đồ được đề cập khá sâu sắc Tuy nhiên, vì xuất bản từ những năm 70 của thé kỉ XX, do điều kiện cụ thể lúc đó, phần ứng dụng các phương tiên kĩ thuật trong dạy học lịch sử còn chưa được sách đề cập đến

Giáo trình “Bản đồ giáo khoa (sách dùng cho sinh viên khoa Lịch sử)”

của tác giả Lâm Quang Dốc (Nxb ĐHSP, H, 1997) đã đề cập những vấn đề cơ bản về khái niệm, đặc điểm, tính chất, cách sử dụng và xây dựng các loại bản

Trang 6

đồ trong dạy học Lịch sử Tuy nhiên, giáo trình do tác giả là chuyên gia bản

đồ học của khoa Địa lý viết nên vấn đề phương pháp sử dụng bản đồ lịch sử

còn chưa được phân tích sâu sắc, còn thiếu yếu tố lịch sử, nhiều khi “quá nặng” về bản đồ học của khoa học Địa lý

Tiếp theo, phải kể đến các “đời” giáo trình phương pháp dạy học lịch sử: giáo trình “Phương pháp dạy học Lịch sử” (Nxb ĐHSP, H, tái bản lần thứ nhất, 1998) của Trần Văn Trị và Phan Ngọc Liên; giáo trình “Phương pháp dạy học Lịch sử” (2 tập, Nxb ĐHSP, H, 2002 và tái bản có sửa chữa năm

2009) của nhóm tác giả Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi đã dành dung lượng khá lớn đề cập đến biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, trong đó có cách sử dụng các loại bản

đồ thông thường; giáo trình “Hệ thống phương pháp dạy học Lịch sử ở trường trung học cơ sở” (Nxb ĐHSP, H, 2005) do PGS.TS Trịnh Đình Tùng chủ biên

đề cập đến hệ thống đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử khá chi tiết, đầy đủ gồm hệ thống các đồ dùng trực quan truyền thống và hệ thống đồ dùng trực quan hiện đại

Trong đề tài cấp Bộ “Bản đồ lịch sử cải cách giáo dục ở trường phổ thông” mã số B93 – 24 – 1C – 53) do PGS TS Trịnh Đình Tùng chủ nhiệm,

các tác giả đã đề cập một cách căn bản cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của vấn

đề sử dụng một số loại bản đồ lịch sử Tuy nhiên sách mới dùng lại ở nêu nội dung chính, một số hướng dẫn sử dụng bản đồ dạy học lịch sử giai đoạn trước

1945 của lịch sử Việt Nam

Các sách bồi dưỡng thường xuyên chi GV lịch sử THPT hoặc các tài liệu bồi dưỡng thay sách giáo khoa lớp 10, 11, 12 THPT đều đề cập đến nguyên tắc chung về sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh

Bài viết “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng phát huy

Trang 7

mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông (một số chuyên đề)” do

GS TS Phan Ngọc Liên chủ biên (Nxb ĐHSP, H, 2005) đã phản ảnh một cách toàn diện về quan niệm tính tích cực học tập của học sinh trong dạy hoc lịch sử, về đặc điểm của quá trình dạy học lịch sử trong mối liên hệ với việc phát huy tính tích cực của học sinh, về các biện pháp chủ yếu nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử

Bài viết “Thiết kế và sử bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học lịch sử

ở trường phổ thông” của GS TS Nguyễn Thị Côi và Đoàn Văn Hưng trong

Tạp chí Thiết bị Giáo dục số 35- 2008 đã đưa ra một số yêu cầu cơ bản của việc thiết kế bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông đồng thời thiết kế và sử dụng bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học

bài “Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973 -1975)” – lớp 12 Từ đó, phát huy năng lực ứng dụng CNTT

của GV và HS trong việc khắc phục những khó khăn về thiết bị dạy học và đáp ứng kịp thời, hiệu quả những yêu cầu dạy học của bộ môn

* Các luận văn về phương pháp dạy học lịch sử

Luận văn thạc sĩ “Thử nghiệm một loại bản đồ giáo khoa lịch sử treo tường” của học viên Đoàn Văn Hưng (ĐHSP, H, 1998) đã phân tích cụ thể về

quan niệm, vai trò, ý nghĩa, biện pháp sử dụng, cách thức xây dựng của một dạng bản đồ treo tường thử nghiệm trong dạy học Lịch sử

Luận văn thạc sĩ “Sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1945 –

1954 ở trường THPT tỉnh Sơn La (chương trình chuẩn)” - 2009 của học viên

Nguyễn Phùng Tám đã nghiên cứu toàn diện về quan niệm đặc điểm, vai trò biện pháp sử dụng của các bản đồ giáo khoa treo tường trong dạy học Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn 1945 – 1954

Khóa luận tốt nghiệp ngành SP Lịch sử trường Đại học Giáo dục - Đại

học Quốc gia Hà Nội năm 2011 “Xây dựng và sử dụng bản đồ điện tử trong

Trang 8

dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 (chương trình chuẩn) với sự hỗ trợ của phần mềm Macromedia flash 8.0” của Nguyễn Thị Nụ đã khái quát đặc điểm, yêu

cầu và quy trình sử dụng chung của BĐĐT, trên cơ sở đó ứng dụng phần mềm mới để thiết kế hai BĐĐT về chiến dịch Việt Bắc thu – đông năm 1947 và chiến dịch Biên giới thu – đông năm 1950, sử dụng trong DHLS rất hiệu quả

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình sử dụng BĐĐT trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 – 1954 (Lịch sử lớp 12, chương trình chuẩn) nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

4.1 Mục đích

Đề xuất các biện pháp sử dụng BĐĐT nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam) giai đoạn 1945 – 1954 lớp 12 ở trường THPT (chương trình chuẩn)

- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 –

1954 Lịch sử lớp 12, chương trình chuẩn

- Đề xuất các biện pháp pháp sử dụng BĐĐT nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam) giai đoạn 1945 – 1954 lớp 12 ở trường THPT (chương trình chuẩn)

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi, tính đúng đắn của đề tài nghiên cứu

5 Phạm vi nghiên cứu

Trang 9

Các biện pháp pháp sử dụng BĐĐT nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam) giai đoạn 1945 – 1954 lớp 12 ở trường THPT (chương trình chuẩn) áp dụng cho bài nghiên cứu kiến thức mới và tiến hành thực nghiệm sư phạm nội dung một tiết học cụ thể ở trường THPT Hà Nội

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tác phẩm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, của Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng, Nhà nước ta bàn về nhận thức, về giáo dục nói chung

và giáo dục lịch sử nói riêng

- Nghiên cứu các công trình của các nhà giáo dục, các nhà giáo dục lịch

sử và các tài liệu khác

- Nghiên cứu hệ thống các BĐĐT cùng những phầm mềm ứng dụng cơ bản (PowerPoint, Plash 7.0,…) trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn

1945 – 1954 hiện có cả về nội dung lịch sử và hình thức của BĐ

- Phương pháp điều tra: kết hợp cả hai dạng điều tra cơ bản và điều tra

xã hội học

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm toàn phần ở một số trường THPT có tính điển hình trong cụm Ba Đình – Tây Hồ (Hà Nội)

7 Giả thuyết khoa học

Trong dạy học Lịch sử ở nhà trường THPT, nếu có được các biện pháp

sử dụng BĐĐT theo đúng những yêu cầu mà luận văn đưa ra sẽ là một trong những biện pháp quan trọng nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử nói chung

và Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 lớp 12 ở trường THPT nói riêng

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

8.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn làm phong phú thêm lý luận phương pháp dạy học lịch sử nói chung, lý luận sử dụng BĐĐT nói riêng nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 10

- Là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn cao đối với sinh viên ngành

sư phạm lịch sử trong quá trình học tập môn Lý luận và phương pháp dạy học Lịch sử

- Là tài liệu tham khảo thiết thực cho GV Lịch sử ở các trường phổ thông

9 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, về nội dung

đề tài gồm hai chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng bản đồ điện tử trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Chương II: Các biện pháp sử dụng bản đồ điện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945- 1954 lớp 12 trường THPT

(chương trình chuẩn) Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢN

ĐỒ ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài

1.1.1 Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông

Theo “Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử” do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2006, về mục tiêu tổng quát, “nhằm giúp học sinh

có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới; góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội”

[1,tr 5] Các mục tiêu cụ thể của môn Lịch sử ở trường phổ thông được thể hiện trên ba phương diện

Về kiến thức:

- Biết được các sự kiện lịch sử tiêu biểu, những bước phát triển chủ yếu, những chuyển biến quan trọng của lịch sử thế giới từ thời nguyên thủy đến nay Chú trọng đến những nội dung quan trọng nhất để hiểu biết về quá trình phát triển của lịch sử loài người, những nền văn minh, những mô hình xã hội tiêu biểu, lịch sử của các nước trong khu vực và các sự kiện lịch sử thế giới có ảnh hưởng lớn, liên quan đến lịch sử nước ta

- Hiểu rõ quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ nguồn gốc đến nay, trên cơ sở nắm vững những sự kiện tiêu biểu từng thời kì, những chuyển biến lịch sử và sự phát triển hợp quy luật của lịch sử dân tộc trong sự phát triển chung của thế giới

- Hiểu biết về một số nội dung cơ bản, cần thiết về nhận thức xã hội như: kết cấu xã hội loài người, mối quan hệ giữa các yếu tố trong cơ cấu hệ

Trang 12

thống xã hội, vai trò to lớn của sản xuất (vật chất, tinh thần) trong tiến trình lịch sử, vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân, nguyên nhân và động lực tạo ra các chuyển biến lịch sử, quy luật vận động của lịch sử…

Về kĩ năng:

- Hình thành các kĩ năng cần thiết trong học tập bộ môn như:

+ Xem xét các sự kiện lịch sử trong các quan hệ thời gian, không gian + Làm việc với sách giáo khoa và các nguồn sử liệu

+ Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, đánh giá các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử

- Bồi dưỡng năng lực phát hiện, đề xuất và giải quyết các vấn đề trong học tập lịch sử (từ kĩ năng điều tra, thu thập, xử lý thông tin…, đến kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào tiếp thu kiến thức mới và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống…)

- Hình thành năng lực tự học, tự làm giàu tri thức lịch sử cho học sinh thông qua các nguồn sử liệu khác nhau (đã có và phát hiện mới)

Về tình cảm, thái độ, tư tưởng:

- Có tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào dân tộc, có thái độ trân trọng đối với các di sản trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc

- Trân trọng nền văn hóa của các dân tộc trên thế giới, có tinh thần quốc tế chân chính, vì hòa bình, tiến bộ xã hội

- Có niềm tin và sự phát triển từ thấp đến cao, từ lạc hậu đến văn minh của lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc

- Có những phẩm chất cần thiết của người công dân: thái độ tích cực trong việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đất nước – cộng đồng; yêu lao động; sống nhân ái, có kỉ luật, tôn trọng và làm theo pháp luật, có tinh thần đoàn kết và đoàn kết quốc tế cao…

Trang 13

Để thực hiện mục tiêu của môn Lịch sử nêu trên và nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử ở trường THPT, cần tiến hành tổng thể các biện pháp Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh là một trong những biện pháp hành đầu, có vai trò quyết định

1.1.2 Đặc điểm của kiến thức lịch sử

Kiến thức lịch sử mang tính quá khứ: Lịch sử là một một môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ Đặc trưng cơ bản của môn Lịch sử là đi nghiên cứu tìm hiểu từ xa đến gần, từ quá khứ đến hiện tại, từ phức tạp đến đơn giản Chính vì thế nhiệm vụ của dạy học lịch sử là khôi phục lại bức tranh quá khứ để từ đó rút ra bài học từ quá khứ, vận dụng

nó vào trong cuộc sống hiện tại và tương lai Trong việc khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, phương tiện trực quan là một yếu tố hết sức cần thiết Để đảm bảo nguyên tắc trực quan trong dạy học lịch sử, GV phải tạo được các biểu tượng lịch sử chân thực không những bằng ngôn ngữ

mà phải kết hợp với các phương tiên phi ngôn ngữ khác, trong đó không thể không kể đến ĐDTQ mà BĐĐT là một trong những ĐDTQ quy ước tiêu biểu

và hiện đại nhất

Kiến thức lịch sử mang tính không lặp lại Mọi sự kiện, hiện tượng lịch

sử đều gắn với không gian, thời gian, nhân vật nhất định nên nhìn chung

kiến thức lịch sử mang tính không lặp lại Nếu có sự “lặp lại” thì cũng là sự

lặp lại trên cơ sở sự kế thừa, phát triển Đặc điểm này đặt ra yêu cầu: dạy học Lịch sử phải xem xét tính cụ thể cả về thời gian, không gian, nhân vật làm nảy sinh, tác động đến sự kiện

Kiến thức lịch sử mang tính cụ thể được biểu hiện ở mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử đều gắn với những không gian, thời gian, nhân vật riêng; lịch

sử của mỗi nước, mỗi dân tộc, vùng miền có diện mạo riêng; tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc không giống nhau Vì vậy, dạy học Lịch

Trang 14

sử càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu thì càng hấp dẫn bấy nhiêu Về mặt phương tiện dạy học Lịch sử, thực hiện yêu cầu này, hệ thống các ĐDTQ nói chung, BĐĐT nói riêng phải đầy đủ và sinh động Trong quá trình thực hiện một bài học nội khóa, sử dụng BĐĐT lịch sử là một trong những biện pháp có ưu thế hàng đầu trong việc hình thành ở HS những biểu tượng lịch sử về không gian địa lý – nơi diễn ra các sự kiện lịch sử một cách chân thực, sinh động nhất đặc biệt trong điều kiện mới với sự ứng dụng hiệu quả của CNTT

Kiến thức lịch sử mang tính hệ thống (tính lôgíc lịch sử) Về mặt phương pháp luận, khái niệm lịch sử được hiểu ở hàm nghĩa thứ nhất là bao gồm tất cả những gì đã diễn ra trong xã hội loài người trên mọi phương diện; kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự… SGK Lịch sử ở trường phổ thông dù tinh giản song cũng phải bao quát được các mặt đó Những nội dung kiến thức lịch sử này có mối quan hệ ngang dọc, trước sau phức tạp Tùy từng mức độ cụ thể, dạy học Lịch sử ở trường phổ thông phải có được tư duy lôgic, biện chứng Do vậy, trong dạy học Lịch sử, GV cần phát triển tính tích cực của HS

mà cao nhất là phát triển tư duy độc lập của các em

Ngoài các đặc điểm trên, kiến thức lịch sử mang tính thống nhất giữa

“sử” và “luận” Yếu tố “sử” bao gồm những sự kiện, hiện tượng lịch sử đã

diễn ra, được khoa học xác minh, thuộc về hiện thực khách quan, tồn tại độc

lập với ý thức của con người Bên cạnh đó, yếu tố “luận” kinh nghiệm… trên

cơ sở yếu tố “sử” Tính thống nhất giữa “sử” và “luận” biểu hiện ở chỗ; mọi

nhận xét, đánh giá, bình luận… phải trên cơ sở hiện thực khách quan Chỉ có đứng trên lập trường mácxít – lêninnít, trên lập trường của giai cấp công nhân

mới đảm bảo tính thống nhất này Mặt khác, yếu tố “luận” tạo điều kiện để

phát triển tư duy HS Nó chứng tỏ rằng, học tập lịch sử không phải nhớ một cách máy móc mà rất cần tư duy, trí thông minh của HS

Trang 15

Trong dạy học Lịch sử, tùy trình độ nhận thức của HS, GV không dừng

ở mức độ tái hiện bức tranh lịch sử khách quan một cách đơn thuần mà trên

cơ sở bức tranh hiện thực khách quan đó, GV phải hướng HS rút ra những nhận xét, đánh giá, bình luận… xác đáng, hữu ích Thực hiện yêu cầu này, bên cạnh việc quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng, Nhà nước về nhận thức, về giáo dục và giáo dục lịch sử còn đòi hỏi ở người GV lịch sử phải phát huy tính tích cực của HS, phải định hướng tư duy HS

Những đặc điểm trên đây quy định con đường hình thành kiến thức lịch

sử cho HS được thực hiện thông qua việc cung cấp sự kiện, tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, nêu quy luật, rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử cho hiện tại và tương lai Để thực hiện tốt con đường này trong dạy học Lịch sử, người GV cần thiết phải sử dụng ĐDTQ nói chung, BĐĐT nói riêng khi có sự đảm bảo của điều kiện vật chất trường lớp

1.1.3 Đặc diểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông

Ở lứa tuổi này, do sự phát triển và hoàn thiện dần về trí tuệ và thể chất, dẫn đến những thay đổi lớn về tâm lý và sự định hình nhân cách Trong đó tâm lý muốn trở thành người lớn và năng lực tích cực, độc lập suy nghĩ là đặc điểm chủ đạo Nếu như HS trung học cơ sở về nhận thức mới dừng lại ở nhận thức cảm tính thì đến THPT (nhất là HS lớp 12), nhận thức lý tính ngày càng biểu hiện rõ nét và đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động nhận thức Nét độc đáo là học sinh THPT luôn có xu hướng tiếp xúc với các môn khoa học, thích tìm hiểu và khám phá những kiến thức mới, đặc biệt là sự thích ứng rất nhanh với công nghệ thông tin mới Vì vậy, với những phương pháp dạy học mới hay những phương tiện học tập mới sẽ thu hút được sự hứng thú nhiều hơn từ học sinh

Trang 16

Đặc biệt, với học sinh lứa tuổi THPT ở thủ đô, với sự quan tâm tạo điều kiện của gia đình và sự phát triển chung của hạ tầng đô thị Việc ứng dụng CNTT trong học tập và đời sống là một nhu cầu tất yếu của mỗi học sinh

1.1.4 Đặc điểm nhận thức của học sinh trong học tập Lịch sử

Nhận thức trong học tập Lịch sử tuân theo quy luật: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Tuy nhiên,

do kiến thức lịch sử có những đặc trưng riêng với tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể… nên quá trình nhận thức lịch sử mang những độc đáo so với quá trình nhận thức của các môn học khác Sự khác biệt này thể hiện lớn nhất

ở chỗ, giai đoạn trực quan trong nhận thức lịch sử là quá trình HS tiếp xúc với tri thức lịch sử một cách gián tiếp qua các nguồn tài liệu và ĐDTQ, chứ các

em không thể “trực quan sinh động” quá khứ lịch sử Trên cơ sở đó, giai đoạn

trừu tượng là giai đoạn mà HS thông qua các thao tác tư duy của mình để nắm vững bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử, hệ thống các khái niệm và rút

ra quy luật, bài học (nếu có) Giai đoạn cuối cùng của nhận thức những kiến thức lịch sử là giai đoạn vận dụng những hiểu biết lịch sử vào nhận thức những kiến thức mới, cao hơn là để cải tạo cuộc sống

Như vậy, trong các giai đoạn của quá trình nhận thức lịch sử, giai đoạn trực quan đóng vai trò khởi đầu cho cả quá trình Để thực hiện giai đoạn nhận thức này trong dạy học Lịch sử, GV và HS cần phải sử dụng ĐDTQ, BĐĐT

1.1.5 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Thực tế cho thấy, trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học luôn là yêu cầu hàng đầu, mang tính đột phá Bên cạnh một số thành tựu đã được khẳng định, sự nghiệp đổi mới phương pháp dạy học vẫn còn nhiều hạn chế, còn chậm đổi mới sơ với thực tế, hiệu quả đổi mới

chưa đồng bộ, đặc biệt “chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học Giáo dục – đào tạo chưa kết hợp được với lao động sản xuất, nhà

Trang 17

Bản chất của đổi mới phương pháp dạy học đã được Nghị quyết Trung

ương II khóa VIII chỉ rõ là phải: “khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất

là thanh niên” Với định hướng này, hiện nay, xu hướng đổi mới phương

pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử nói riêng là

xu hướng chuyển từ mô hình dạy học lấy “giáo viên làm trung tâm” sang mô hình dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” Thực chất của dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” chính là phát huy một cách cao nhất tính tích cực, chủ

động của học sinh trong học tập

Trong thời đại “bùng nổ thông tin” như hiện nay, đổi mới phương pháp

dạy học bằng công nghệ thông tin (CNTT) được xem là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI Trong thập niên cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế

kỷ này, nắm bắt kịp thời xu thế tất yếu của thời đại, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn để ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Vì vậy, việc ứng dụng CNTT trong dạy học Lịch sử cũng là một yêu cầu cấp thiết Từ đó, việc tạo ra những bản đồ điện tử trong dạy học lịch sử là cách tốt nhất để thu hút sự hứng thú của học sinh và nâng cao chất lượng dạy và học Lịch sử với những nội dung phù hợp

1.1.6 Quan niệm về bản đồ điện tử trong dạy học Lịch sử ở trường trung học phổ thông

1.1.6.1 Quan niệm về bản đồ trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Xuất phát từ mục tiêu sử dụng trong dạy học Địa lý và Lịch sử,

U.C.Bilich và A.C Vasmuc đã định nghĩa: “Bản đồ giáo khoa là những bản

đồ sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc giảng dạy và học tập ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên một hệ thống

Trang 18

giáo dục cho tất cả các tầng lớp dân cư từ học sinh đến việc đào tạo chuyên gia” Định nghĩa này cho chúng ta quan niệm khá diện và đúng đắn về BĐGK

Nội hàm đặc trưng nhất mà định nghĩa nhấn mạnh là nêu rõ mục đích của BĐGK là phục vụ cho việc giảng dạy và học tập ở ngành giáo dục gồm tất cả các cấp bậc giáo dục, từ giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp đến giáo dục đại học, dưới mọi hình thức (bao gồm cả hình thức nội khóa và hình thức ngoại khóa)

Từ quan niệm như trên, BĐGK có những đặc trưng, tính chất chủ yếu sau đây:

Một là, tính khoa học Tính khoa học của BĐGK trước hết và trên hết thể hiện ở tính chính xác của cơ sở toán học Cơ sở toán học của BĐ chủ yếu bao gồm hệ thống lưới chiếu đồ, tỉ lệ BĐ Chính vì vậy, việc thành lập BĐ nói chung, BĐGK nói riêng phải do cơ quan chuyên môn đảm nhiệm

Hai là, tính sư phạm – tính giáo khoa

Trước hết, về hình thức, tính sư phạm – tính giáo khoa của BĐGK được thể hiện ở tính trực quan Tính trực quan biểu hiện ở tốc độ nhận biết các đối tượng và hiện tượng trên BĐ Tốc độ nhận biết này càng nhanh, tính trực quan càng cao Đặc biệt, BĐGK là những BĐ sử dụng trong mục đích giáo dục, là phương tiện phục vụ việc dạy, học của GV và HS, tính trực quan của BĐ là một trong những yêu cầu đầu tiên, nhất là đối với các BĐĐT Đồng

thời, thông qua yếu tố “điện tử” (CNTT) thì yếu tố trực quan trở nên sinh

động và phong phú hơn phục vụ tốt cho tổ chức dạy học toàn lớp Đây là đặc trưng quan trọng nhất của BĐGK – loại bản đồ dùng trong trường học

Về nội dung, BĐGK khác với BĐ tra cứu ở chỗ, “trọng tải” của BĐ

không lớn và có nội dung phù hợp với chương trình giảng dạy của từng lớp, từng cấp học Do vậy, BĐGK nói chung và BĐGK lịch sử nói riêng là một tư

liệu khoa học độc lập của nhà trường, nó được ví như “cuốn sách giáo khoa

Trang 19

- BĐGK là loại bản đồ được thiết kế phù hợp với chương trình của từng cấp học, từng lớp học, phù hợp với trình độ học sinh

- Nội dung của bản đồ liên hệ chặt chẽ, thống nhất với nội dung sách giáo khoa Nội dung BĐ biểu hiện những nội dung cơ bản của bài học, phục vụ mục đích, nhiệm vụ học tập Nếu sách giáo khoa thay đổi thì nội dung của BĐGK tương ứng cũng phải thay đổi theo Nội dung bản đồ cần đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với nội dung bài học, với yêu cầu học tập

- Lưới chiếu, tỉ lệ của BĐGK không chỉ phù hợp với nội dung bài học

mà còn phải phù hợp với đối tượng học sinh từng cấp, từng lớp cụ thể

- Hệ thống chữ viết, đường nét, kí hiệu giữa các BĐGK phải thống nhất

từ lớp đầu cấp đến cuối cấp

- Bố cục BĐ hợp lý, trình bày đẹp không chỉ giúp học sinh hứng thú, say mê làm việc với BĐ mà còn có tác dụng lớn trong việc giáo dục, phát triển óc thẩm mĩ cho HS

Có thể khẳng định, với những biểu hiện trên đây, tính sư phạm của BĐGK còn được gọi là tính giáo khoa Điểm nổi bật nhất của tính giáo khoa thể hiện ở tính chuẩn mực, thống nhất với mục đích giáo dưỡng, giáo dục và phát triển HS Vì vậy, xét về mục đích sử dụng, trong các tính chất của BĐGK, tính sư phạm – tính giáo khoa là đặc trưng quan trọng nhất

Từ việc tìm hiểu quan niệm về BĐGK và tính chất của BĐGK, chúng

ta thấy rằng, nguồn gốc của loại BĐ này là do cơ quan chuyên môn xuất bản Hiện nay, hệ thống các BĐGK ở nước ta đều do Công ty bản đồ tranh ảnh thuộc nhà xuất bản Giáo dục xuất bản Hệ thống các BĐ do GV và HS xây dựng trong quá trình dạy, học mà chúng ta quen gọi là BĐGK, thực chất chỉ

là những lược đồ mà thôi!

1.1.6.2 Khái niệm, phân loại bản đồ lịch sử

* Khái niệm: Bản đồ lịch sử là một dạng BĐ phản ánh các sự kiện lịch

sử riêng lẻ hoặc tổng hợp các sự kiện, các hiện tượng nói lên quá trình phát

Trang 20

triển của xã hội loài người Nhiệm vụ của BĐ lịch sử là đưa ra hình ảnh trực quan về sự phân bố, về các mối liên hệ không gian và cục diện địa lý của các

+ Các bản đồ giáo khoa lịch sử trong SGK

+ Các bản đồ tuyên truyền – cổ động: thể hiện các sự kiện lịch sử lớn

và phổ biến rộng rãi

- Cách phân loại theo nội dung gồm:

+ Bản đồ lịch sử - kinh tế: phản ánh địa lý lịch sử sản xuất và các mối quan hệ sản xuất

+ Bản đồ lịch sử dân tộc học: thể hiện địa lý lịch sử dân cư

+ Bản đồ lịch sử chính trị: phản ánh sự thay đổi lãnh thổ của các quốc gia và một số sự kiện chính sách đối ngoại và đối nội có liên quan đến những

sự thay đổi và biến động đó

+ Bản đồ lịch sử phong trào cách mạng và đấu tranh giai cấp

+ Bản đồ lịch sử quân sự thể hiện tiến trình chung của các hoạt động quân

sự cũng như các giai đoạn chiến tranh riêng biệt, đặc biệt và hữu ích nhất

+ Bản đồ lịch sử văn hóa và các đề tài khác

- Cách phân loại theo giai đoạn lịch sử (thời gian): Theo các giai đoạn lịch sử có các BĐ lịch sử tương ứng như: BĐ lịch sử thế giới, BĐ lịch sử Việt Nam: thời nguyên thủy, thời cổ đại, thời trung đại, thời cận đại, thời hiện đại

- Cách phân loại theo mức độ khái quát có:

Trang 21

+ Sơ đồ, lược đồ

- Cách phân loại theo tính chất dữ liệu có:

+ Bản đồ “tĩnh”: các dữ liệu trên BĐ không có sự tương tác với nhau,

các kí hiệu sử dụng đều được thể hiện đồng loạt và không thay đổi được vị trí

BĐ “tĩnh” sử dụng trong DHLS thường là các BĐGK trong các SGK lịch sử hay BĐ lịch sử giáo khoa treo tường

+ Bản đồ “động”: dùng để chỉ các BĐ được sử dụng trực tiếp với sự hỗ

trợ của CNTT, các dữ liệu, sự kiện trên BĐ chuyển động phù hợp với nội

dung truyền tải Hay nói cách khác, BĐ “động” được hiểu là các BĐĐT với

sự hỗ trợ của các phần mềm được xây dựng và đưa vào sử dụng

Ngoài ra, BĐ lịch sử cũng có thể được phân loại theo các tiêu chí: lãnh thổ, theo phương pháp dùng (treo tường, để bàn, trình chiếu)… Các BĐ giáo khoa LS cũng có thể lập thành Atlas lớn, vừa, nhỏ, theo hướng địa lý lịch sử chung hoặc theo chuyên đề… Mọi khả năng mở rộng chủ yếu phụ thuộc vào ngân hàng dữ liệu cũng như nội dung chương trình SGK và mục tiêu giáo dục – đào tạo

Trong DHLS, BĐ là một phương tiện trực quan được sử dụng khá phổ biến nhất là đối với các bài dạy có liên quan đến các chiến dịch, trận đánh trong lịch sử GV sử dụng BĐ vào dạy học sẽ giúp HS xác định được địa điểm của sự kiện trong thời gian và không gian nhất định Trên cơ sở đó, người học suy nghĩ, giải thích các hiện tượng lịch sử về mối liên hệ nhân quả,

về tính quy luật và trình tự phát triển của quá trình lịch sử và củng cố kiến thức đã học

1.1.6.3 Quan niệm về bản đồ điện tử trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Theo A.M Berliant: “Bản đồ điển tử là bản đồ được hiện thị (trực quan hóa) trên màn hình máy tính, được thiết kế sẵn để trực quan với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật và các chương trình phần mềm, có hệ thống

kí hiệu và có xét đến độ chính xác đã đặt ra” [42, tr 14]

Trang 22

Trong DHLS, muốn bài giảng lịch sử sinh động, hấp dẫn, giúp người học có những biểu tượng sinh động, cụ thể về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, trong quá trình dạy học, giáo viên dựa trên cơ sở bản đồ giáo khoa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin có thể thiết kế các slide (Microsoft Office PowerPoint) với những hình ảnh động làm cho giờ học sinh động, hấp dẫn, tạo được sự hứng thú cho người học và từ đó, hiệu quả học tập sẽ được nâng lên rõ rệt Những bản đồ như vậy được gọi là BĐĐT Để có sự hỗ trợ của CNTT, trước hết cần phải có BĐGK gốc, những bản đồ này do Công ty bản

đồ và tranh ảnh, Nxb Giáo dục phát hành nhưng được lưu ở dạng file hình ảnh trên máy tính

Đó là khái niệm chung về BĐĐT Trên thực tế có rất nhiều phần mềm

hỗ trợ xây dựng các trang BĐĐT như: Microsoft Office PowerPoint, phần mềm Google Earth, các phần mềm Macromedia Flash phiên bản 6.0, 7.0, 8.0… BĐĐT được xây dựng với sự hỗ trợ của phần mềm Macromedia Flash nói chung thường được gọi là bản đồ Multimedia Đây là một dạng bản đồ được sử dụng trực tiếp trên máy tính và được hỗ trợ bởi các thành phần Multimedia như âm thanh, hình ảnh, video… Các thành phần Multimedia phải liên kết được với các kí hiệu mà nó hiển thị

1.1.7 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng bản đồ điện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông

Trước đây, các thiết bị công nghệ thông tin còn thiếu thốn, khả năng sử

dụng của giáo viên còn hạn chế Trong các tiết dạy Lịch sử, giáo viên chủ yếu sử

dụng bản đồ treo tường của Nhà xuất bản Giáo dục, thậm chí không có giáo viên còn phải tự vẽ để sử dụng Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật đã phát triển, công nghệ thông tin ngày càng được sử dụng rộng rãi trong dạy học thì việc sử dụng bản đồ lịch sử với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin càng cần phải được giáo viên hết sức quan tâm Sử dụng BĐĐT, những bài giảng lịch sử trở nên sinh

Trang 23

hiện tượng lịch sử, trong quá trình dạy học, đối với các bài học lịch sử có liên quan đến các cuộc khởi nghĩa, các trận đánh, các chiến dịch…

Vai trò của việc sử dụng bản đồ điện tử còn được thể hiện trên cả ba phương diện:

Vê kiến thức (giáo dưỡng), cùng với việc cung cấp sự kiện, biểu tượng lịch sử là một đơn vị kiến thức không thể thiếu, khởi đầu con đường hình thành kiến thức trong dạy học Lịch sử ở nhà trường phổ thông Trong các loại biểu tượng lịch sử cần hình thành cho HS thì biểu tượng về không gian địa lý

là một trong những biểu tượng phổ biến Bởi vì, mỗi sự kiện lịch sử luôn gắn với địa danh xác định Các địa danh này có không gian tọa độ riêng và được quy ước trên BĐ nên sử dụng BĐĐT nói riêng là biện pháp có ưu thế lớn nhất trong việc hình thành các biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng không gian – địa lý nơi diễn ra các sự kiện nói riêng Mặt khác, qua nghiên cứu, các nhà giáo dục học trên thế giới và Việt Nam đã khẳng định ưu thế của ĐDTQ trong việc tăng lượng thông tin – cơ sở cho hoạt động nhận thức lý tính của HS Theo số liệu khoa học mà UNESCO đã công bố thì khi nghe, HS chỉ nhớ 15% thông tin (nhiều kiến thức không phải là kiến thức cơ bản, chủ yếu); khi nhìn, các em nhớ 25% thông tin và việc nghe nhìn đem lại kết quả cao hơn: 65% thông tin Bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh kết hợp với sử dụng BĐĐT, GV sẽ tạo được trong óc HS những biểu tượng lịch sử sinh động, sâu sắc Trên cơ sở đó, thu hút sự tập trung chú ý cao độ - biểu hiện đầu tiên và là cơ sở của tính tích cực của HS

Về thái độ (giáo dục), sử dụng BĐ lịch sử góp phần quyết định trong việc bồi dưỡng quan điểm duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lênin về tác động trở lại của môi trường địa lý tới lịch sử xã hội loài người Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định rằng, hoàn cảnh địa lý không phải là động lực chủ yếu quyết định

sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, song cũng ảnh hướng khá nhiều tới

sự phát triển ấy, đẩy nhanh hay kéo dài, thậm chí, có những trường hợp đặc biệt, nó còn làm ngưng trệ, hủy diệt quá trình phát triển lịch sử Cho đến nay,

Trang 24

phần lớn sử gia đều cho rằng, vào thời cổ đại trường hợp lụi tàn của nền Văn

minh sông Ấn và sự “di chuyển” ồ ạt của cư dân sang lưu vực sông Hằng là

do hoàn cảnh địa lý ở khu vực sông Ấn lúc đó quy định; hay điều kiện nhiệt đới gió mùa ẩm, hệ thống sông ngòi dày đặc, lượng phù sa lớn, màu mỡ là những yếu tố tự nhiên không thể thiếu để hình thành nền văn minh trông lúa nước – nền văn minh bản địa của khu vực Đông Nam Á… Đặc biệt, việc đề xuất chiến thuật của mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch thì một trong những yêu cầu quan trọng nhất là phải căn cứ vào điều kiện địa lý nơi diễn ra trận đánh, chiến dịch đó Chiến thuật đánh quân Nam Hán của Ngô Quyền năm 938, chiến thuật đánh giặc Mông – Nguyên của Trần Quốc Tuấn thời Trần đều trên

cơ sở chế độ thủy triều đặc biệt ở cửa sông Bạch Đằng lịch sử, chiến thuật tiêu diệt viện binh nhà Minh đã được Lê Lợi khéo léo lựa chọn địa hình hiểm

yếu của ải Chi Lăng… cho đến chiến thuật “bông sen nở” ở Chiến dịch Tây Nguyên, chiến thuật “thọc sườn” ở Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, chiến dịch

“bóc vỏ” trong trận quyết chiến giải phóng Sài Gòn – Gia Định trong thời đại

Hồ Chí Minh đều phải cân nhắc kĩ lưỡng từ điều kiện tự nhiên nơi diễn ra các

sự kiện lịch sử vĩ đại này Thông qua sử dụng BĐĐT, GV bồi dưỡng cho HS quan điểm duy vật này một cách phù hợp, tránh rơi vào tình trạng phủ định sạch trơn vai trò hoàn cảnh địa lý tới sự kiện lịch sử Đồng thời, việc sử dụng BĐĐT kết hợp với những bài tường thuật, đoạn miêu tả giàu hình ảnh về diễn biến một trận đánh hết sức ác liệt, về một địa danh cụ thể, HS không chỉ có biểu tượng lịch sử sâu sắc mà còn tăng thêm tình yêu quê hương, đất nước – nơi biết bao thế hệ cha anh đã đổ máu xương để bảo vệ từng mảnh đất quê hương Từ đó, ý thức tự hào, tự cường dân tộc ở các em được hun đúc và ngày càng sâu sắc; ý thức về trách nhiệm của một công dân tương lai được hình thành, củng cố và không ngừng nâng cao

Thông qua việc sử dụng BĐĐT trong dạy học lịch sử, dưới sự hướng dẫn của GV qua hệ thống câu hỏi mở, HS tự lực khai thác BĐ: quan sát tỉ mỉ

Trang 25

các em tinh thần, thái độ làm việc hăng hái, cần mẫn, nghiêm túc, khoa học Bên cạnh đó, sử dụng BĐĐT còn có tác dụng lớn trong việc bồi dưỡng, giáo dục óc thẩm mĩ cho HS

Về kĩ năng, một trong những nguyên tắc chỉ đạo quá trình dạy học là

“học đi đôi với hành” Việc “hành” trong học tập lịch sử được hiểu ở nhiều

góc độ Sử dụng BĐĐT trong dạy hoc lịch sử có ưu thế trong vấn đề rèn kĩ năng cho HS Theo Ghêraximốp: Khi bản đồ là đối tượng học tập thì kiến thức, kĩ năng bản đồ là mục đích, còn khi bản đồ là nguồn tri thức thì kiến thức và kĩ năng bản đồ trở thành phương tiện của việc khai thác kiến thức trên bản đồ” Với quan điểm này, khi BĐĐT trong dạy học lịch sử là một nguồn kiến thức, muốn khai thác kiến thức trên BĐ thì kĩ năng BĐ trở thành phương tiện không thể thiếu Do đó, bản thân của việc sử dụng BĐ đã đặt ra yêu cầu hết sức tự nhiên cho vấn đề rèn kĩ năng HS

PGS TS Trịnh Đình Tùng đã khẳng định: “Đồ dùng trực quan nếu được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ được hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe – mắt thấy, tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, gây được những mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát triển ở học sinh năng lực chú ý, quan sát, hứng thú Sử dụng BĐĐT có ý nghĩa to lớn trong việc rèn kĩ năng đọc BĐ, kĩ năng

vẽ bản đồ, kĩ năng thiết kế BĐĐT với các phần mềm hỗ trợ, kĩ năng phối hợp giữa BĐĐT với các BĐGK khác, với các nguồn ĐDTQ, các nguồn tài liệu học tập khác cho HS

1.2 Thực tiễn dạy học lịch sử nói chung và thực trạng sử dụng bản đồ điện tử nói riêng trong môn Lịch sử hiện nay ở trường trung học phổ thông

Lịch sử là “gốc rễ” của một dân tộc, nếu mất đi cái “gốc” đó, thì dân

tộc đó có lớn mạnh đến đâu cũng không thể trường cửu được Ngày nay, trước xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, nếu chúng ta không khẳng định được

Trang 26

những giá trị bản sắc truyền thống của dân tộc mình, thì nguy cơ “hòa tan” là

điều khó tránh khỏi Mà lịch sử của một dân tộc chính là làm nên những giá trị văn hóa truyền thống đó Tuy nhiên, hiện nay trong xã hội vẫn còn tình trạng thờ ơ, xem nhẹ với môn Lịch sử, trong nhà trường HS không thích học môn Lịch sử, coi môn Lịch sử là môn phụ vẫn là phổ biến

Số lượng HS yêu thích môn Lịch sử ngày càng ít, số lượng HS thi vào các trường khối C hiện nay đang giảm dần, chỉ chiếm khoảng 15 – 20%, song chỉ khoảng một nửa trong số đó thực sự có khả năng và hứng thú với các môn khoa học xã hội Trong các kì thi vào Đại học gần đây, kết quả thi đối với môn Lịch sử đáng báo động khi tỉ lệ thí sinh chỉ được điểm dưới trung bình, đặc biệt là 0 điểm ngày càng tăng, kéo theo điểm đầu vào của các trường Đại học, Cao đẳng của khối C tụt giảm đáng kể Việc HS Việt Nam không biết về lịch sử Việt Nam, hoặc nhớ nhầm, nhớ sai các sự kiện lịch sử là vấn đề đáng được các nhà giáo dục quan tâm

Những năm gần đây, chủ trương đổi mới phương pháp giáo dục đã được triển khai sâu rộng, bước đầu đã đạt được một số kết quả nhất định GV THPT đã có ý thức đa dạng hóa các phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực của HS, phần nào hạn chế cách giảng dạy thụ động, theo lối tiếp nhận một chiều Chất lượng học tập môn LS của HS đang có chiều hướng dần dâng cao Đặc biệt, vấn đề ứng dụng CNTT vào dạy học rất được các nhà trường quan tâm, chú trọng Đối với những trường THPT trên Hà Nội, cơ sở vật chất tương đối hoàn thiện với sự trang bị các phòng chức năng và hệ thống máy chiếu ở mỗi lớp học, phần nào giúp GV những điều kiện thuận lợi trong giảng dạy

Tuy vậy, thực trạng dạy học LS ở trường THPT hiện nay vẫn còn tồn tại rất nhiều bất cập Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực tế về thực trạng dạy học và sử dụng BĐĐT trong DHLS tại 02

Trang 27

và trường THPT Trần Hưng Đạo (Thanh Xuân) Chúng tôi tiến hành phát phiếu thăm dò ý kiến của 100 HS và 20 GV, nội dung khảo sát tập trung vào một số vấn đề sau: mức độ sử dụng các PPDH, hứng thú của HS đối với các PPDH trong quá trình học tập môn Lịch sử, thực trạng GV sử dụng BĐ thường, BĐĐT và hứng thú của HS với các phương tiện ấy

Tổng hợp ý kiến của HS về các phương pháp GV sử dụng trong DHLS được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.1 Mức độ sử dụng phương pháp dạy học trong giờ học

Lịch sử của GV Mức độ Phương pháp

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Không bao giờ

Sử dụng SGK và các tài liệu tham khảo 64% 30% 6%

Trực quan (sử dụng tranh ảnh, phim tư

Dự án (HS đóng vai trò khác nhau trong

cuộc sống thực: đạo diễn, dẫn chương

trình)…

Như vậy, có thể thấy phương pháp GV thường xuyên sử dụng trong các giờ học LS là phương pháp thuyết trình (90%) Có thể nói, đặc trưng của

Trang 28

DHLS là sử dụng phương pháp thuyết trình – vấn đáp Tuy nhiên, nếu sử dụng phương pháp này quá nhiều sẽ không có thời gian sử dụng các phương pháp khác trong DHLS và đặc biệt sẽ làm HS thụ động trong học tập, giảm đi

sự tham gia tích cực của người học

Hướng dẫn HS làm việc nhóm nhằm rèn luyện khả năng hợp tác, chia

sẽ cùng thu thập kiến thức, trình bày một vấn đề trên cơ sở tranh luận, phản biện, đánh giá lẫn nhau Song GV chỉ thỉnh thoảng mới sử dụng phương pháp này trong DHLS Trên thực tế, việc tổ chức cho HS thảo luận nhóm chưa được hiệu quả bởi số lượng HS mỗi lớp rất đông (gần 50 HS/lớp), nếu GV không quản lý‎ và điều khiển tốt thì bài tập nhóm sẽ trở thành bài tập của một vài HS tích cực, còn lại những HS khác rất dễ làm việc riêng, gây mất trật tự Bên cạnh đó, phương pháp trực quan (sử dụng tranh ảnh, phim tư liệu…) giúp

HS tăng cường khả năng quan sát, tư duy, phán đoán, nhận xét cũng rất ít được GV sử dụng trong các giờ học, chủ yếu là sử dụng luôn những tranh ảnh

có sẵn trong SGK (50% ‎ý kiến HS cho rằng GV thỉnh thoảng có sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ học LS)

Trong khi đó, những phương pháp dạy học như phương pháp tích hợp,

dự án hầu như không bao giờ được sử dụng Đặc biệt, có tới 69% HS chưa bao giờ tiếp cận với PPDH có sử dụng BĐĐT Với BĐ thường, BĐ treo tường thì mức độ tiếp xúc của các em là thỉnh thoảng 54%

Khi được hỏi mức độ hứng thú của HS với các phương pháp DH của

GV, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 1.2 Mức độ hứng thú của HS với các phương pháp DHLS

Mức độ Phương pháp

Rất thích

Thích Bình

thường

Không thích

Trang 29

Sử dụng SGK và các tài liệu tham khảo 6% 24% 40% 30%

Trực quan (sử dụng tranh ảnh, phim tư

Dự án (HS đóng vai trò khác nhau trong

cuộc sống thực: đạo diễn, dẫn chương

trình)…

Với kết quả trên cho thấy, hầu như HS không hứng thú với phương pháp thuyết trình (62%) Mặt khác, những phương pháp như làm việc nhóm, tích hợp và sử dụng đồ dùng trực quan hay dạy học theo dự án và sử dụng BĐ

ĐT lại rất thu hút được hứng thú của các em Và có tới trên 90% ý kiến của

HS rất thích và thích những giờ học có sử dụng BĐĐT

Với những số liệu trên đây, chúng ta thấy rằng phương pháp DHLS ở trường THPT hiện nay vẫn chưa tạo được cơ hội để HS phát huy năng lực của mình Đặc biệt, là HS thành phố, các em rất năng động, sáng tạo, thích khám phá những kiến thức mới và đa phần có điều kiện hơn trong học tập Chính vì thế, HS sẽ nhàm chán với những PPDH truyền thụ theo lối một chiều của GV

HS muốn được thể hiện khả năng độc lập tư duy, chủ động lĩnh hội kiến thức trong các hoạt động tích cực và sinh động hơn Do đó, yêu cầu đặt ra là cần áp dụng những phương pháp dạy học mới, hiện đại nhằm đáp ứng được nhu cầu của người học và nâng cao chất lượng giáo dục Trong DH, người GV cần

Trang 30

chuyển từ mô hình DH lấy GV làm trung tâm sang mô hình DH lấy HS làm trung tâm, không phải dạy cái GV có mà phải dạy cái HS cần

Hiện nay, với sự phát triển của CNTT và sự quan tâm đúng mực của Nhà nước cho giáo dục, các trường THPT đều được trang bị nhưng thiết bị dạy học cần thiết, có sự ứng dụng công nghệ mới Bên cạnh đó, đội ngũ GV ở hầu hết các trường cũng được tập huấn sử dụng máy vi tính để phục vụ cho việc giảng dạy

Kết quả thăm dò ý kiến GV tại 2 trường THPT: 100% ý kiến GV cho rằng sử dụng BĐĐT trong DHLS là rất phù hợp và sẽ gây hứng thú cho HS, nâng cao hiệu quả bài dạy Nhưng khi được hỏi về mức độ sử dụng BĐĐT trong DHLS, có tới hơn 60% GV trả lời chưa bao giờ sử dụng, 25% trả lời là thỉnh thoảng và chỉ có 15% GV trả lời là thường xuyên sử dụng

Như vậy, mặc dù GV nhận thức được vai trò của việc sử dụng BĐĐT vào dạy học bộ môn, nhưng tình trạng dạy chay, dùng ngay những bản đồ có sẵn trong SGK (cho tiện) vẫn còn rất phổ biến trong các giờ học LS

Nguyên nhân của tình trạng trên do nhiều yếu tố chi phối, trong đó phải kể đến những yếu tố lớn sau:

Thứ nhất, trong trường THPT, người giáo viên Lịch sử cũng chưa đủ

sức vượt qua “rào cản” môn phụ, nên tâm lý chán nản, không muốn đầu tư

nhiều cho một tiết dạy, nên triệt để những nội dung có sẵn trong SGK

Thứ hai, một số GV chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của việc đổi

mới PPDHLS, cụ thể là đổi mới theo hướng tích hợp công nghệ vào quá trình DHLS Nhiều GV cho rằng, đối với HS khối 12, dạy để HS thi tốt nghiệp nên phương pháp: Thầy truyền đạt, trò tiếp nhận sẽ có được kiến thức hệ thống và

dễ học thuộc Còn việc sử dụng ĐDTQ hay BĐĐT là làm mất thời gian và không phù hợp với HS lớp 12 Nhưng thực tế, HS chỉ ghi vào đầy, đến cuối năm khi biết các môn thi Tốt nghiệp, các em mới quay lại học thuộc tất cả

Trang 31

kiến thức LS của lớp 12 rất nhiều sự kiện, nếu không hiểu rõ bản chất sự kiện

sẽ rất khó học thuộc hết được

Thứ ba, trình độ tin học của GV (đặc biệt là những người lớn tuổi), còn

những hạn chế nhất định

Số lượng GV hiện nay biết sử dụng máy tính không phải là ít (nhất là

GV dạy trên thành phố), nhưng vẫn có rất nhiều GV ngại khó, không tích cực tìm hiểu, nghiên cứu, sử dụng các phương tiện kĩ thuật, CNTT Trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng, CNTT hay phương tiện kĩ thuật hiện đại đến mấy cũng chỉ mang ‎ý nghĩa như một công cụ trực quan giúp GV truyền tải kiến thức đến người học Chính GV với PPDH và nghiệp vụ sư phạm của mình mới là người quyết định hiệu quả sử dụng phương tiện công nghệ Chính vì vậy, GV không làm chủ được công nghệ, không biết cách sử dụng các phương tiện công nghệ thì không thể thực hiện được

- Ngoài ra về phía học sinh, cũng tồn tại rất nhiều bất cấp:

Trong trường THPT, HS thường xem nhẹ bộ môn Lịch sử, coi môn Lịch sử là môn học phụ không chú trọng vào việc học Lịch sử mà chỉ tập trung cho những môn học chính thi Đại học Với tư tưởng đó, HS có thói quen lĩnh hội kiến thức bằng cách học thuộc lòng những gì mà giáo viên cung cấp cũng như những kiến thức sẵn có thông qua kênh chữ ở sách giáo khoa

Do đó, HS không thể phát huy được tính tích cực sáng tạo tìm tòi trong tiết học, khả năng tiếp thu kiến thức chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ và học thuộc lòng Không phát triển kỹ năng tư duy và chưa tạo cho học sinh các kỹ năng lịch sử quan trọng như: đọc, chỉ bản đồ, phân tích các sự kiện… Vì vậy, để có thể khơi dậy hứng thú của HS cho môn học và nâng cao chất lượng giảng dạy môn Lịch sử, vai trò của người GV là vô cùng quan trọng

Trang 32

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 1 đã tập trung vào một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc

sử dụng BĐĐT trong DHLS ở trường THPT

Từ việc làm rõ mục tiêu của bộ môn LS, đặc điểm của kiến thức LS, đặc điểm tâm lý - nhận thức của học sinh THPT cùng với xu hướng đổi mới

về PPDH hiện nay để thấy được yêu cầu ứng dụng CNTT trong DHLS là vô cùng cần thiết đặc biệt là sử dụng BĐĐT

Ngoài ra, các khái niệm cơ bản về bản đồ như “Bản đồ”, “bản đồ điện tử”, “bản đồ lịch sử” cũng được làm rõ và khẳng định được vai trò, chức

năng của BĐ nói chung và BĐĐT nói riêng trong DHLS, đồng thời đưa ra một số yêu cầu chung khi sử dụng BĐĐT với sự hỗ trợ của các phần mềm Microsoft Office PowerPoint, Macromedia Flash 7.0

Tìm hiểu thực trạng DHLS ở trường THPT, các phương pháp GV sử dụng và mức độ hứng thú của HS đối với các PPDH hiện nay, thực trạng sử dụng BĐĐT trong bộ môn LS, những khó khăn, trở ngại trong quá trình sử dụng CNTT vào DHLS là một trong những cơ sở quan trọng giúp chúng tôi

thực hiện đề tài: “Sử dụng bản đồ điện tử nhằm năng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam) giai đoạn 1945 – 1954 lớp 12 ở trường THPT (chương trình chuẩn)”

Trang 33

CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 –

1954 LỚP 12 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG

TRÌNH CHUẨN) THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 2.1 Mục tiêu, nội dung cơ bản của phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 (Lịch sử lớp 12, chương trình chuẩn)

2.1.1 Mục tiêu

Được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm kết hợp với đường thẳng, phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 trong SGK Lịch sử 12 chương trình chuẩn, HS đã được học ở lớp 9 Tuy nhiên, đây không phải là sự lặp lại toàn bộ các kiến thức đã được trình bày ở lớp 9 và sự phân biệt giữa chương trình lớp 9 và lớp 12 cũng không phải ở khối lượng tài liệu sự kiện mà ở trình độ, mức độ nhận thức lịch sử Do vậy giai đoạn 1945 - 1954 trong SGK Lịch

sử 12, chương trình chuẩn sẽ được bổ sung một số kiến thức cần thiết và nâng cao hơn nhận thức về các sự kiện, nhân vật đang học để sự nhận thức của HS

ở mức độ cao hơn, việc nâng cao tính chủ động, phát huy khả năng tư duy sáng tạo của HS trong học tập là yêu cầu quan trọng Bởi vậy, tiến hành dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 trong SGK Lịch sử lớp 12, chương trình chuẩn, cần đảm bảo các mục tiêu sau:

Về kiến thức

Dạy học phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 cần giúp HS hiểu rõ, toàn diện và hệ thống về tiến trình lịch sử dân tộc trong giai đoạn này trên hai phương diện: công cuộc xây dựng, bảo vệ nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm đầu sau Cách mạng tháng Tám 1945 (từ 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946) và công cuộc toàn quốc kháng chiến, kiến quốc trong

9 năm (từ ngày 19/12/1946 đến Hiệp định Giơnevơ được kí kết ngày 21/7/1954) Cụ thể:

Trang 34

- HS cần biết tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” của nhà nước Việt Nam

Dân chủ Cộng hòa năm đầu sau Cách mạng tháng Tám 1945

- Những chính sách đối nội và đối ngoại khôn khéo của Đảng, Chính phủ đứng đầu là Hồ Chủ tịch nhằm kiến thiết đất nước và kiên quyết bảo vệ nền độc lập dân tộc mới giành được Qua đó, giúp HS thấy được Chủ tịch Hồ

Chí Minh là “linh hồn” của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm đầu

sau Cách mạng tháng Tám 1945

- Hiểu đúng vì sao ta phải tiến hành Toàn quốc kháng chiến (từ 20h

ngày 19/12/1946); sự đúng đắn, kịp thời của đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của thế giới”

- Công cuộc kháng chiến và kiến quốc:

+ Bước phát triển của cuộc kháng chiến về lĩnh vực quân sự

+ Bước phát triển của hậu phương kháng chiến

+ Cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi

- Những nhân vật tiêu biểu của giai đoạn lịch sử này như: công lao của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, gương chiến đấu dũng cảm của các anh hùng: anh hùng La Văn Cầu, anh hùng Tô Vĩnh Diện, anh hùng Phan Đình Giót

Về giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ HS

Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 có ưu thế trong việc giáo dục

tư tưởng, tình cảm, hướng thái độ HS như:

- Giáo dục niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng thông qua các chính sách đúng đắn, khéo léo trong thời kì 1945 – 1954, đường lối kháng chiến, sự lãnh đạo công cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng Trên

cơ sở đó, hướng thái độ của các em tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng

Trang 35

- Giáo dục các truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết toàn dân qua công cuộc kháng chiến, kiến quốc

Đặc biệt là tinh thần “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”

- Giáo dục tinh thần đoàn kết quốc tế chân chính thông qua những sự giúp đỡ, ủng hộ to lớn của các nước, các lực lượng và nhân dân tiến bộ trên thế giới cho cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta

- Giáo dục tinh thần yêu lao động qua sự trưởng thành của hậu phương kháng chiến Việc tiếp xúc với những sự kiện, những tài liệu về lao động sản xuất, các sáng chế của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đặc biệt

là những cải tiến về công cụ sản xuất, về vũ khí chiến đầu của quân và dân ta

Từ đó, giáo dục các em tinh thần yêu quý lao động Chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Việt Nam không thể thắng lợi nếu không có lực lượng vật chất mạnh mẽ dựa vào sức lao động bền bỉ, sáng tạo, vượt khó, vượt khổ của

toàn dân tộc Đó là ý chí “tự lực cánh sinh”, “trường kì kháng chiến”- phẩm

chất này rất cần đối với thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay

- Giáo dục lòng yêu kính quần chúng nhân dân Kiến thức lịch sử dân tộc giai đoạn này tiếp tục củng cố thêm quan điểm quần chúng là người sáng tạo, là chủ nhân của lịch sử Cuộc kháng chiến chống Pháp kép dài 9 năm của dân tộc ta là cuộc chiến tranh nhân dân, chính sức mạnh đoàn kết của quân chúng nhân dân trên cơ sở liên minh công – nông đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố làm nên những chiến thắng vẻ vang, triệt để, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc; đồng thời đó cũng là nhân tố chủ đạo trong công

cuộc “kiến quốc” Điều đó góp phần giáo dục cho học sinh lòng kính yêu

quần chúng, khắc phục tệ sùng bái cá nhân

- Giáo dục ý thức tôn trọng, bảo vệ, phát huy nền văn hóa dân tộc Quá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 đã dành một thời lượng khá lớn

Trang 36

trình bày các sự kiện về văn hóa, giáo dục như: Hội nghị văn hóa toàn quốc, các thành tựu về văn hóa, giáo dục trong công cuộc xây dựng hậu phương đã góp phần to lớn vào thắng lợi chung của cả dân tộc Ngay trong cuộc kháng chiến trường kì 9 năm cũng đã để lại nhiều di tích lịch sử cách mạng: di tích Nhà tù Sơn La, Điện Biên Phủ, Từ đó, hình thành các truyền thống tốt đẹp

“uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, biết ơn những người có công với cách

mạng, đặc biệt là thương binh, liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng Tất cả đều

có tác dụng giáo dục HS thái độ, ý thức tôn trọng, bảo vệ và phát huy nền văn hóa, giá trị lịch sử dân tộc

- Giáo dục nêu gương qua những tấm gương của các nhân vật lịch sử tiêu biểu thuộc giai đoạn này Trên cơ sở đó, giáo dục lòng biết ơn những người có công với kháng chiến, đánh giá đúng vai trò của các cá nhân trong lịch sử

Những tác dụng giáo dục trên có vai trò quan trọng trong việc hình thành ở HS những phẩm chất, nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, góp phần đáp ứng yêu cầu và mục tiêu của sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước

Về kĩ năng

Phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 góp phần rèn luyện cho

HS những kĩ năng như:

- Tiếp tục rèn HS nắm vững quan điểm lịch sử, biết vận dụng nguyên lý

“chân lí bao giờ cũng cụ thể” vào học tập lịch sử và cuộc sống Quan điểm

lịch sử đòi hỏi phải nhận thức sự kiện, hoàn cảnh, môi trường sống

- Rèn luyện và phát triển tư duy biện chứng ở HS Qua tập, các em nhận thức được mối liên hệ, tác động qua lại giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử

- Ngoài ra, học tập lịch sử giai đoạn này còn rèn luyện cho HS các thao tác tư duy so sánh, phân tích, đánh giá sự kiện một cách đúng đắn,

Trang 37

- Đặc biệt, thông qua sử dụng hệ thống bản đồ, sơ đồ, lược đồ, tranh ảnh trong dạy học lịch sử giai đoạn này sẽ góp phần đắc lực trong việc rèn kĩ năng thực hành cho HS

Sử dụng BĐĐT nhằm nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 cần hướng vào thực hiện tốt những mục tiêu trên đây

2.1.2 Nội dung cơ bản

Trong SGK Lịch sử 12, chương tình Chuẩn, phần Lịch sử Việt Nam

1945 – 1954 thuộc “Chương III Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954” với

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm đầu sau Cách mạng tháng Tám

1945 (từ 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946)

Ngay sau khi ra đời (2/9/1945), nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã

rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” với nạn “giặc đói, giặc dốt” và đặc

biệt là giặc ngoại xâm Trong bối cảnh khó khăn đó, Đảng và Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quyết sách khéo léo, đúng đắn trên tất cả các phương diện:

Trang 38

- Về chính trị, trước tình hình thù trong giặc ngoài, khó khăn chồng chất, ngay lập tức các chính sách đúng đắn, khéo léo được ban hành, áp dụng:

+ Củng cố chính quyền mới: Tiến hành Tổng tuyển cử và đã bầu được quốc hội (6/1/1946), trên cơ sở đó, tại kì họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/3/1946), một Chính phủ Liên hiệp do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch được thành lập; tạm thời tuyên bố giải thể Đảng nhưng hoạt động bí mật thông qua Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, hoàn thành công cuộc bầu chính quyền nhân dân các cấp; đồng thời, lực lượng an ninh quốc gia chính thức thành lập có nhiệm vụ quan trọng bảo vệ Nhà nước mới, bảo

vệ nhân dân; khối đoàn kết toàn dân không ngừng lớn mạnh

+ Đối với giặc ngoại xâm và tay sai của chúng, đặc biệt là với hai lực lượng quân Tưởng (cùng tay sai Việt quốc, Việt cách) và quân Pháp (quay trở lại xâm lược từ 23/9/1945), nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thi hành đối sách khôn khéo qua hai giai đoạn với phương châm tránh đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc, tranh thủ thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến tranh không thể tránh được: trước ngày 6/3/1946, ta chủ trương hòa với Tưởng và kiên quyết đánh Pháp; từ ngày 6/3/1946 đến trước ngày 19/12/1946,

ta chủ trương hòa với Pháp để đuổi Tưởng Do đó, nền độc lập của nhà nước mới năm đầu sau cách mạng được bảo vệ trọn vẹn Các thế lực ngoại xâm giai

đoạn này được phản ánh trong “Bản đồ các lực lượng quân sự ở Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945”

- Về kinh tế, văn hóa, giáo dục:

+ Trên lĩnh vực kinh tế, Nhà nước đưa ra chính sách trước mắt như

phát động các phong trào “Hũ gạo tiết kiệm”, tổ chức “Ngày đồng tâm” nhằm cứu đói; phát động phong trào “Tuần lễ vàng”, vận động xây dựng “Quỹ độc lập” nhằm khắc phục nạn trống rỗng về tài chính Mặt khác, Nhà nước ban hành hệ thống các chính sách có tính lâu dài như phát động phong trào “Tăng

Trang 39

23/11/1946, Quốc hội quyết định cho lưu hành tiền Việt nam trong cả nước nhằm xây dựng nền kinh tế, tài chính vững chắc, độc lập

+ Trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục: Một mặt, Nhà nước lập Nha bình

dân học vụ - cơ quan chuyên trách về chống “giặc dốt” – kêu gọi nhân dân cả

nước tham gia phong tào xóa nạn mù chữ; mặt khác, các trường phổ thông và các trường đại học sớm được khai giảng nhằm đào tạo những công dân, cán bộ có năng lực, trung thành phụng sự Tổ quốc Đồng thời, các tệ nạn xã hội của chế độ cũ được xóa bỏ, các nền văn hóa theo tinh thần dân tộc, dân chủ dần hình thành

Nhờ những quyết sách đúng đắn, khéo léo trên, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã vượt qua tình cảnh hiểm nghèo, tạo thế và lực để cả nước chủ động bước vào giai đoạn mới – giai đoạn toàn quốc kháng chiến, kể từ ngày 19/12/1946

Công cuộc toàn quốc kháng chiến, kiến quốc trong 9 năm (từ 19/12/1946 đến Hiệp định Giơnevơ 21/7/1954)

Do sự bội ước của thực dân Pháp và để giành thể chủ động, Trung ương Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Hồ Chủ tịch quyết định toàn quốc kháng chiến, bắt đầu từ 20h ngày 19/12/1946

Ngay từ những ngày đầu kháng chiến toàn quốc, đường lối kháng chiến

“toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế” đã được hình thành Đường lối đúng đắn này tiếp tục phát triển, hoàn

thiện trong 9 năm kháng chiến và đóng vai trò quan trọng nhất đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta trước hết là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện Trong 9 năm kháng chiến, kiến quốc (1946 - 1954), toàn Đảng, toàn dân ta đã giành những thắng lợi lớn nối tiếp thắng lợi trên tất cả các phương diện

Trang 40

Trước hết, để tiến hành kháng chiến lâu dài, tự lực cánh sinh, công tác

xây dựng hậu phương kháng chiến đóng vai trò quan trọng hành đầu là “nhân

tố thường xuyên quyết định” đến thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến

Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, đoán trước thực dân Pháp sẽ hiếu chiến quay trở lại xâm lược

nước ta một lần nữa, với tầm nhìn chiến lược, Trung ương Đảng, Hồ Chủ tịch đã có chủ trương sẽ xây dựng Việt Bắc thành hậu phương chính một khi kháng chiến bùng nổ Kể từ cuối tháng 12/1946 đến đầu tháng 3/1947, khi cuộc chiến đấu trong các đô thị ở bắc vĩ tuyến 16 đang diễn ra ác liệt, dưới sự chỉ đạo của Đảng, chính quyền ở tất cả các địa phương xảy ra kháng chiến,

nhất là ở các đô thị, nhân dân ta một mặt thi hành chính sách “tiêu thổ kháng chiến” để ngăn chặn quân địch, mặt khác ra sức vận chuyển người,

các cơ quan đoàn thể, kho tàng, nhà máy lên căn cứ địa Việt Bắc Từ đây,

Việt Bắc lần nữa trở thành “điểm hẹn an toàn”, “thủ đô gió ngàn” của cuộc

kháng chiến trường kì Cũng từ đây, Việt Bắc nói riêng, hậu phương kháng chiến nói chung không ngừng phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn

của tiền tuyến và trở thành “nhân tố thường xuyên quyết định” đến thắng

lợi của cuộc kháng chiến

Công cuộc xây dựng hậu phương kháng chiến đã đăt được nhiều thành tựu to lớn trên mọi phương diện

Về chính trị, trước hết phải kể đến sự trưởng thành, lớn mạnh của Đảng

Sự kiện chính trị điển hình và quan trọng nhất của thời kì này chính là Đại hội

đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2/1951) Đại hội thông qua “Báo cáo chính trị” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” của Tổng Bí thư Trường Chinh, thông qua Tuyên ngôn, Chính cương,

Điều lệ mới; Đại hội cũng đã hoàn thiện nhân sự Đảng bằng việc bầu ra Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị - cơ quan đầu não của cuộc

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006). Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử. Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2006
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007). Tài liệu hướng dẫn thay Sách giáo khoa Lịch sử 12, Vụ Giáo viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn thay Sách giáo khoa Lịch sử 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009). Sách giáo khoa Lịch sử 12, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Lịch sử 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
4. Công ty cổ phần bản đồ và tranh ảnh giáo dục (2009). Bản đồ các lực lượng quân sự Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ các lực lượng quân sự Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945
Tác giả: Công ty cổ phần bản đồ và tranh ảnh giáo dục
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
5. Công ty cổ phần bản đồ và tranh ảnh giáo dục (2009). Bản đồ Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947
Tác giả: Công ty cổ phần bản đồ và tranh ảnh giáo dục
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
6. Công ty cổ phần bản đồ và tranh ảnh giáo dục (2009). Bản đồ Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950
Tác giả: Công ty cổ phần bản đồ và tranh ảnh giáo dục
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
7. Công ty cổ phần bản đồ và tranh ảnh giáo dục (2009). Bản đồ Chiến cuộc đông xuân 1953 - 1954, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ Chiến cuộc đông xuân 1953 - 1954
Tác giả: Công ty cổ phần bản đồ và tranh ảnh giáo dục
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
8. Công ty cổ phần bản đồ và tranh ảnh giáo dục (2009). Bản đồ Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Tác giả: Công ty cổ phần bản đồ và tranh ảnh giáo dục
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
9. Công ty cổ phần bản đồ và tranh ảnh giáo dục (2009). Giới thiệu bản đồ - tranh ảnh và thiết bị giáo dục, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu bản đồ - tranh ảnh và thiết bị giáo dục
Tác giả: Công ty cổ phần bản đồ và tranh ảnh giáo dục
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
10. Nguyễn Thị Côi (2000). Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT, tập 1. Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT, tập 1
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2000
11. Nguyễn Thị Côi (chủ biên-2008). Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Nhà XB: Nxb ĐHSP
12. Nguyễn Thị Côi (2006). Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử THCS. Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử THCS
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2006
13. Nguyễn Thị Côi (chủ biên-2009). Rèn kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử. Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử
Nhà XB: Nxb ĐHSP
14. Nguyễn Thị Côi, Đỗ Thanh Bình, Nguyễn Xuân Trường, Thành Ngọc Linh (2009). Bản đồ - tranh ảnh lịch sử 12. Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ - tranh ảnh lịch sử 12
Tác giả: Nguyễn Thị Côi, Đỗ Thanh Bình, Nguyễn Xuân Trường, Thành Ngọc Linh
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
15. Nguyễn Thị Côi, Đoàn Văn Hưng, (2008), Thiết kế và sử dụng bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông. Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 35, trang 26 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi, Đoàn Văn Hưng
Nhà XB: Tạp chí Thiết bị Giáo dục
Năm: 2008
17. Lâm Quang Dốc (1997). Bản đồ giáo khoa: Sách dùng cho sinh viên khoa Sử. Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ giáo khoa: Sách dùng cho sinh viên khoa Sử
Tác giả: Lâm Quang Dốc
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 1997
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997). Văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII. Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1997
19. N. G. Đairi (1973). Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào? (Đặng Bích Hà và Nguyễn Cao Lũy dịch). Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào
Tác giả: N. G. Đairi, Đặng Bích Hà, Nguyễn Cao Lũy
Nhà XB: Nxb GD, Hà Nội
Năm: 1973
20. Trần Bá Đệ (2002). Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay. Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay
Tác giả: Trần Bá Đệ
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2002
57. .Website:http://www.google.com.vn; http://www.bandotranhanh.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Mức độ sử dụng phương pháp dạy học trong giờ học - Sử dụng bản đồ điện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954, lớp 12 trường trung học phổ thông (chương trình chuẩn
Bảng 1.1. Mức độ sử dụng phương pháp dạy học trong giờ học (Trang 27)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w