1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh

184 745 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐẶNG XUÂN CƯỜNG THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG LƯỢC ĐỒ TƯ DUY CHO CÁC BÀI LUYỆN TẬP PHẦN HOÁ HỌC HỮU CƠ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NHẰM TÍCH CỰC HO

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐẶNG XUÂN CƯỜNG

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG LƯỢC ĐỒ TƯ DUY

CHO CÁC BÀI LUYỆN TẬP PHẦN HOÁ HỌC HỮU CƠ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NHẰM TÍCH CỰC HOÁ

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HOÁ HỌC

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN HOÁ HỌC)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Sửu

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 2

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Câu hỏi nghiên cứu 3

6 Giả thuyết khoa học 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Những đóng góp của đề tài 4

9 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI VỀ VIỆC SỬ DỤNG LƯỢC ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC BÀI LUYỆN TẬP 5

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

1.2 Định hướng đổi mới PPDH hoá học 6

1.2.1 Chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ một chiều sang mô hình dạy học hợp tác hai chiều 7

1.2.2 Dạy cách học 8

1.2.3 Dạy cách học hoá học 10

1.3 Tích cực hóa hoạt động của học sinh trong dạy học hóa học 12

1.3.1 Khái niệm tính tích cực 12

1.3.2 Tích cực học tập 13

1.3.3 Các cấp độ của tính tích cực học tập 14

1.3.4 Phương pháp dạy học tích cực 16

1.4 Phát huy tính tích cực của học sinh cho học sinh thông qua các bài ôn tập - luyện tập 18

1.4.1 Ý nghĩa, tầm quan trọng của các bài ôn tập, luyện tập 18

1.4.2 Các phương pháp thường được sử dụng trong bài dạy ôn tập – luyện tập 20

1.5 Lược đồ tư duy 28

1.5.1 Khái niệm lược đồ tư duy (bản đồ tư duy, sơ đồ tư duy) 28

1.5.2 Phương pháp lập lược đồ tư duy và các phần mềm hỗ trợ 30

1.5.3 Sơ lược về phần mềm Mindjet MindManager 31

Trang 3

1.5.3 Ứng dụng lược đồ tư duy trong học tập 34

1.5.4 Nhận xét đánh giá về phương phá 40

1.6 Thực trạng sử dụng lược đồ tư duy trong các bài ôn tập, luyện tập ở trường phổ thông 42

Tiểu kết chương 1 43

Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG LƯỢC ĐỒ TƯ DUY CHO CÁC BÀI LUYỆN TẬP PHẦN HOÁ HỌC HỮU CƠ LỚP 12 44

2.1 Nội dung kiến thức và phân phối chương trình các bài phần hoá hữu cơ lớp 12 44

2.1.1 Chương trình phần hóa học hữu cơ lớp 12 THPT ban cơ bản 44

2.1.2 Phân phối chương trình hóa hữu cơ lớp 12 THPT ban cơ bản năm học 2010-2011 44

2.2 Lập lược đồ tư duy nội dung kiến thức cần nhớ bài luyện tập phần hoá hữu cơ lớp 12 46

2.2.1 Lược đồ tư duy phần kiến thức cần nhớ Bài 4 “ Luyện tập este và chất béo” 47

2.2.2 Lược đồ tư duy phần kiến thức cần nhớ Bài 7 “Luyện tập cấu tạo và tính chất của cacbihiđrat” 48

2.2.3 Lược đồ tư duy phần kiến thức cần nhớ Bài 12 “Luyện tập cấu tạo và tính chất của amin, aminoaxit và protein”……… 49

2.2.4 Lược đồ tư duy phần kiến thức cần nhớ Bài 12 “Luyện tập polime và vật liệu polime” 50

2.3 Sử dụng lược đồ tư duy hướng dẫn học sinh tự ôn tập hệ thống kiến thức và để sơ đồ hóa tiến trình dạy học của giáo viên 51

2.3.1 Hướng dẫn sử dụng lược đồ tư duy để tự ôn tập hệ thống kiến thức 51

2.3.2 Sử dụng lược đồ tư duy để sơ đồ hóa tiến trình dạy học của giáo viên 52

2.4 Xây dựng lựa chọn tư liệu điện tử minh họa cho lược đồ tư duy trong bài dạy của giáo viên và hỗ trợ học sinh tự học 53

2.4.1 Xây dựng trò chơi ô chữ nhằm tích cực hóa học động của học sinh 53 2.4.2 Video thí nghiệm 55

2.4.3 Mô phỏng liên kết, phân tử, phản ứng hoá học 56

2.4.4 Thiết kế hình ảnh về một số chất quan trọng 56

2.5 Sử dụng lược đồ tư duy để dạy học bài luyện tập 58

2.5.1 Với đối tượng học sinh chưa biết cách lập lược đồ tư duy hoặc mới làm quen với lược đồ tư duy 58

Trang 4

2.5.2 Với đối tượng học sinh đã biết phương pháp lập lược đồ tư duy 58

2.5.3 Một số chú ý khi sử dụng lược đồ tư duy để dạy học 58

2.6 Hệ thống bài tập hóa học để rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong các bài luyện tập phần hoá hữu cơ lớp 12 59

2.6.1 Bài tập dùng cho bài 4: Luyện tập este chất béo 60

2.6.2.Bài tập dùng cho bài 7: Luyên tập cấu tạo và tính chất của cacbohiđrat 66

2.6.3 Bài tập dùng cho bài 12: Luyên tập cấu tạo và tính chất của amin, amino axit và protein 73

2.6.4 Bài tập dùng cho bài 12: Luyên tập polime và vật liệu polime 80

2.7 Thiết kế bài dạy luyện tập phần hoá hữu cơ lớp 12 86

2.7.1 Giáo án bài 4: Luyên tập este và chất béo 86

2.7.2.Giáo án bài 7: Luyện tập cấu tạo và tính chất của cacbohiđrat 94

2.7.3 Giáo án bài 12: Luyện tập cấu tạo và tính chất của amin, amino axit và protein 102

2.7.4 Giáo án bài 15: Luyện tập polime và vật liệu polime 108

Tiểu kết chương 2 116

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 117

3.1 Mục đích thực nghiệm 117

3.2 Nhiệm vụ, phương pháp thực nghiệm sư phạm 117

3.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 117

3.3.1 Chọn địa bàn và đối tượng thực nghiệm 117

3.3.2 Các bước thực nghiệm sư phạm 118

3.4 Xử lí thống kê kết quả thực nghiệm sư phạm 119

3.4.1 Công thức tính các tham số đặc trưng 119

3.4.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 121

3.5 Nhận xét 129

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 130

1 Kết luận 130

2 Khuyến nghị 131

TÀI LIỆU THAM KHẢO 132 PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất nước ta đang trong giai đoạn đổi mới, giai đoạn công nghiệp hoá -

hiện đại hoá để trở thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc

tế Thực tế đó đòi hỏi ngành giáo dục phải không ngừng đổi mới Điều này

được chỉ rõ trong nghị quyết Đại hội Đảng X: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ

phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, khắc

phục lối truyền thụ một chiều”

Đổi mới PPDH là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cách

giáo dục cũng như cải cách cấp trung học phổ thông Hiện nay vấn đề đổi

mới PPDH nói chung cũng như đổi mới PPDH Hóa học nói riêng đã được

pháp chế hóa trong điều 28, Luật Giáo Dục: “Phương pháp giáo dục phổ

thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh,

phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp

tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức

vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thọc sinh học

tập cho học sinh” Việc dạy học không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến

thức mà quan trọng hơn là dạy cho học sinh phương pháp tự học, tự chiếm

lĩnh kiến thức

Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật- công nghệ

thông tin đã mang lại nhiều ứng dụng tích cực đối với khoa học giáo dục

Đồng thời, việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học một cách phù

hợp đã mang lại hiệu quả to lớn, chính vì vậy Bộ GD và ĐT đã coi năm học

2008-2009 là “năm học công nghệ thông tin”

Hóa học là một môn khoa học vừa lí thuyết vừa thực nghiệm với nhiều

kiến thức trừu tượng và được ứng dụng rộng rãi trong đời sống, trong đó các

kiến thức về hóa học Hữu cơ vẫn được phần lớn học sinh cho là khó nhớ Đặc

biệt với các bài ôn tập luyện tập có khối lượng kiến thức lớn, giáo viên cần

Formatted: Centered Formatted: Left: 3,4 cm, Right: 2,1

cm

Trang 6

lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp và có tính khái quát hóa cao giúp học

sinh tìm ra mối liên hệ giữa các kiến thức trong một bài học, một chương hay

trong toàn bộ chương trình Trong các phương pháp được sử dụng để hoàn

thiện và hệ thống hóa kiến thức tôi nhận thấy phương pháp lập Lược đồ tư

duy có nhiều điểm phù hợp để tổ chức hoạt động của học sinh một cách có

hiệu quả Sự phối hợp giữa các PPDH tích cực trong đó có sử dụng Lược đồ

tư duy sẽ giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức, xác định được kiến thức cơ

bản từ đó đạt hiệu quả cao trong học tập Mặt khác việc sử dụng lược đồ tư

duy còn giúp học sinh rèn luyện, phát triển tư duy logic, khả năng tự học, phát

huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh không chỉ trong học tập môn Hóa

học mà còn trong các môn học khác và các vấn đề khác trong cuộc sống

Hiện nay việc lập lược đồ tư duy để hệ thống kiến thức đã được phát

triển, sử dụng có hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới và được hỗ trợ bằng

phần mềm lập lược đồ tư duy

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Thiết kế và sử dụng

Lược đồ tư duy cho các bài luyện tập phần hoá học hữu cơ lớp 12-THPT

nhằm tích cực hoá hoạt động của học sinh”

2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục đích

Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy để tổ chức hoạt động học tập cho

học sinh trong bài luyện tập phần hoá hữu cơ lớp 12 nhằm tích cực hóa hoạt

động của học sinh

2.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu các nội dung lí luận có liên quan: lLược đồ tư duy trong dạy

học hóa học và tính tích cực học tập của học sinh, các biểu hiện của tính tích

cực

-

Nghiên cứu chương trình, nội dung kiến thức phần hoá hữu cơ lớp 12 (Este-

Formatted: Condensed by 0,2 pt Formatted: Condensed by 0,2 pt Formatted: Condensed by 0,2 pt

Trang 7

Lipit, Cacbohiđrat, Amin- Aminoaxit và protein, Polime và vật liệu polime),

phân tích sâu nội dung các bài luyện tập

- Thiết kế lược đồ tư duy cho các bài luyện tập phần hoá hữu cơ lớp 12

- Nghiên cứu sử dụng lược đồ tư duy đã thiết kế để tổ chức các hoạt

động học tập cho học sinh trong giờ học các bài luyện tập phần hoá học hữu

cơ lớp 12

- Lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập vận dụng cho các bài luyện

tập hoá hữu cơ lớp 12

- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính phù hợp và hiệu quả các đề xuất

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học hóa học – phần hóa học hữu cơ lớp 12

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Sử dụng lược đồ tư duy trong dạy học các bài luyện tập phần hoá hữu

cơ lớp 12

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Nội dung nghiên cứu

- Thiết kế lược đồ tư duy cho các bài luyện tập phần hoá hữu cơ lớp 12

- Sử dụng lược đồ tư duy cho các bài luyện tập phần hoá hữu cơ lớp 12

4.2 Phạm vi chương trình

Chương trình lớp 12 phần hoá hữu cơ

4.3 Địa bàn nghiên cứu

Tỉnh Hải Dương

5 Câu hỏi nghiên cứu

Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học của các bài luyện tập

phần hoá hữu cơ lớp 12?

6 Giả thuyết khoa học

Formatted: Line spacing: Multiple

1,45 li

Trang 8

Nếu thiết kế được lược đồ tư duy và sử dụng lược đồ tư duy có sự phối

hợp hợp lí với việc sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập đa dạng ở mức độ

hiểu và vận dụng sẽ nâng cao được chất lượng dạy và học các bài luyện tập

hoá học hữu cơ THPT

7 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp thu thập các nguồn tài liệu lý luận về lược đồ tư duy và

phương pháp dạy học các bài học ôn tập, luyện tập

- Phương pháp phân tích tổng quan các nguồn tài liệu đã thu thập

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát giờ học luyện tập và việc sử dụng lược đồ tư duy trong việc

tổ chức hoạt động học tập cho học sinh

- Trao đổi, tìm hiểu thực trạng việc sử dụng lược đồ tư duy trong việc

nâng cao chất lượng bài luyện tập

- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính phù hợp và hiệu quả của các đề

xuất trong đề tài

7.3 Phương pháp xử lí thông tin

Dùng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục để xử lí

kết quả thực nghiệm sư phạm

8 Những đóng góp của đề tài

8.1 Thiết kế lược đồ tư duy cho hệ thống bài luyện tập phần hoá hữu cơ

lớp 12

8.2 Nghiên cứu, tuyển chọn và xây dựng hệ thống các câu hỏi bài

tập luyện tập phần hoá hữu cơ lớp 12

Formatted: Condensed by 0,3 pt

Trang 9

9 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu và 3 chươngNgoài phần mở đầu, kết luận

và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn

được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài về việc sử dụng lược đồ

tư duy trong dạy học bài luyện tập

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI VỀ VIỆC SỬ

DỤNG LƯỢC ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC BÀI LUYỆN TẬP

Chương 2: Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài luyện tập

phần hoá học hữu cơ lớp 12

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG LƯỢC ĐỒ TƯ DUY CHO CÁC BÀI

LUYỆN TẬP PHẦN HOÁ HỌC HỮU CƠ LỚP 12

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠMThực nghiệm sư phạm

Formatted: Level 2 Formatted: Justified, Indent: Left: 0

cm, First line: 0 cm

Formatted: Font: Not Bold

Formatted: Indent: First line: 1,27

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI VỀ VIỆC SỬ DỤNG

LƯỢC ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC BÀI LUYỆN TẬP

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, nền giáo dục nước ta đã tiến

hành nhiều cuộc cải cách giáo dục (1950, 1956 và 1979), và thực hiện nhiều

chiến lược phát triển giáo dục Sự nghiệp giáo dục – đào tạo cũng đã đạt được

nhiều thành tựu: nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào quá trình

đấu tranh, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Tuy nhiên hiện nay, các

công trình nghiên cứu thực trạng giáo dục ở Việt Nam cho thấy: chất lượng

nắm vững kiến thức của học sinh chưa cao, đặc biệt việc phát huy tính tích

cực, chủ động, sáng tạo, năng lực nhận thức, năng lực tự phát hiện và giải

quyết vấn đề, khả năng tự học chưa được rèn luyện đúng mức Do đó, nhiệm

vụ cấp thiết đặt ra cho ngành giáo dục Việt Nam là đổi mới phương pháp dạy

học: “lấy người học làm trung tâm”, để bồi dưỡng cho người học năng lực tư

duy sáng tạo, năng lực nhận thức…

Trong dạy học hóa học có thể nâng cao chất lượng dạy học và năng lực

nhận thức, tư duy logic của học sinh có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy

học khác nhau Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nàh lí

luận và luận án tiến sĩ giáo dục học nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy

học hóa học ở trường phổ thông Trong đó cũng có các công trình nghiên cứu

về việc sử dụng lược đồ tư duy trong dạy học hóa học Cụ thể một số công

trình nghiên cứu như sau:

- Luận án tiến sĩ của Bùi Phương Thanh Huấn: “Đổi mới phương pháp dạy

học hóa học bậc trung học phổ thông ở một số địa phương vùng Đồng Bằng

sông Cửu Long” (201009)

- Luận văn thạc sĩ:

Formatted: Font: Not Italic

Trang 11

+ Đinh Thị Nga: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn tập, luyện tập- Hóa hữu cơ- ban nâng cao lớp 11” (2007)

+ Ngô Quỳnh Nga: “Sử dụng phương pháp grap và lược đồ tư duy tổ chức hoạt động học tập của học sinh trong giờ ôn tập- luyện tập phần kim loại hoá học 12-THPT nâng cao- nhằm nâng cao năng lực nhận thức, tư duy logic cho học sinh” năm 2009

+ Nguyễn Thị Thủy: “Sử dụng phương pháp Grap và Lược đồ tư duy trong bài luyện tập phần dẫn xuất của hiđrocacbon – hóa học 11 nâng cao ở trường THPT – nhằm nâng cao năng lực nhận thức cho học sinh” năm 2010 Tuy nhiên nếu nhìn tổng thể thì đa số các nghiên cứu trước đây chủ yếu đưa ra một hệ thống các phương pháp để nâng cao chất lượng giờ học trong

đó có phương pháp lập lược đồ tư duy Các đề tài nghiên cứu việc sử dụng lược đồ tư duy trong bài ôn tập, luyện tập chưa có nhiều Đặc biệt với bài luyện tập hóa hữu cơ lớp 12 ban cơ bản, chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu việc vận dụng phương pháp này để thiết kế giáo án, tổ chức hoạt động học tập cho học sinh trong giờ học

1.2 Định hướng đổi mới PPDH hoá học [42, tr 104-116]

Sự đổi mới PPDH hóa học được định hướng theo các quan điểm dạy học sau:

- Chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ một chiều sang mô hình dạy học hợp tác hai chiều

- Chuyển từ quan điểm PPDH “lấy GV làm trung tâm” sang quan điểm PPDH “lấy HS làm trung tâm”

- Dạy cách học, bồi dưỡng năng lực tự học và tự đánh giá, học không chỉ nắm kiến thức mà cả phương pháp để đi đến kiến thức, học lấy việc áp dụng kiến thức và bồi dưỡng thái độ làm trung tâm, sử dụng các PPDH tích cực và sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại

Trang 12

1.2.1 Chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ một chiều sang mô hình dạy

học hợp tác hai chiều [42, tr 104]

Trong dạy học có 2 cách dạy học hay 2 mô hình dạy học là

- Dạy học theo cách truyền thụ một chiều từ giáo viên đến học sinh

Việc đánh giá chủ yếu nhằm xem học sinh nắm được thông tin bao nhiêu và

chính xác ở mức độ nào, hơn là xem học sinh hiểu thế nào

- Dạy học theo cách hợp tác hai chiều giữa giáo viên và học sinh

Giáo viên huy động vốn kiến thức đã có ở học sinh để giúp học sinh

xây dựng kiến thức mới Việc đánh giá chủ yếu là xem xét sự hứng thú, lợi

ích của học sinh tức là phát huy tính tích cực của học sinh hiểu, xem học sinh

hiểu đến đâu, hiểu như thế nào, hơn là xem học sinh biết và nhớ đến đâu Sự

khác nhau của hai mô hình dạy học được trình bày ở bảng sau

Hai mô hình dạy học

Mô hình dạy học truyền thụ một chiều:

Dạy - ghi nhớ

Mô hình dạy học hợp tác hai chiều :

Dạy - tự học

1- Giáo viên truyền đạt kiến thức,

học sinh thụ động tiếp thu

1- Học sinh tự mình tìm ra kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên

2- Giáo viên truyền thụ một

chiều, độc thoại hay phát vấn

2- Đối thoại: học sinh – học sinh; học sinh – giáo viên, hợp tác với bạn và giáo viên, do giáo viên tổ chức

3- Giáo viên giảng, học sinh ghi

nhớ, học thuộc lòng

3- Học cách học, cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách sống

4- Giáo viên độc quyền đánh giá 4- Tự đánh giá, tự điều chỉnh, cung

cấp liên hệ ngược cho giáo viên đánh giá, có tác dụng khuyến khích tự học

5- Giáo viên là người dạy: dạy

chữ, dạy người

5- Giáo viên là dạy phương pháp học, chuyên gia về việc học, dạy cách học cho học sinh tự học chữ, tự học nên người

Formatted: Condensed by 0,8 pt Formatted: Left

Formatted: Line spacing: Multiple

Trang 13

- Đổi mới PPDH theo hướng "dạy cách học" là thực hiện việc chuyển

dịch mô hình dạy học từ "truyền thụ một chiều" sang "hợp tác hai chiều”

Giáo viên sử dụng sự thông hiểu và kiến thức đang có ở học sinh làm điểm xuất phát của việc dạy Giáo viên trình bày nội dung môn học theo cách giới thiệu những quan niệm và những quá trình, chú trọng làm cho lớp học được định hướng vào sự tương tác và vào hoạt động nhóm, nhằm dẫn dắt học sinh tự kiến tạo kiến thức cho mình, hiểu thực tiễn theo cách của mình

Mục đích của việc dạy là làm cho học sinh biết học đúng cách, tức là hiểu Người dạy phải tự hỏi về những tác động của mình đối với người học, trước hết là có làm cho người học hiểu đúng không? Có biết cách học không? Bảng dưới đây cho thấy xu thế phát triển của mô hình dạy học

Sự phát triển mô hình dạy học

Mô hình Tập trung vào ai? Vàio học sinh HS Phương tiện Truyền thống GV Thụ động Bảng, rađiô, tivi

Khi dạy cách học cũng như dạy cách tự học cần chú ý các điểm sau

- Học: Cốt lõi là tự học

Trang 14

- Hỏi: Học phải hỏi thì học mới hiểu, hỏi để học Hỏi, có thể là tự hỏi

hoặc hỏi người khác

+ Tự hỏi và tự trả lời là tự đánh giá xem mình đã hiểu ở mức nào Tự

hỏi, tự trả lời, tự đánh giá là quá trình phát hiện ra những điều chưa hiểu, chưa

thông suốt và cần phải tìm cách giải quyết những thắc mắc đó

Quá trình này là quá trình người học rèn luyện phương pháp tư duy cho

bản thân, nâng cao năng lực tìm tòi, giải đáp các câu hỏi đặt ra Trong quá trình

này, nếu tự mình thấy không được thoả mãn ở điểm nào đó thì có thể hỏi giáo

viên, hỏi bạn, tìm hiểu qua tài liệu, thực tế cuộc sống, thông tin qua mạng

Khi tìm hiểu qua bạn, qua tài liệu có 2 cách là hỏi chủ động (tích cực)

và thụ động

Khi học, không nên chỉ tiếp thu một chiều, mà phải lật đi, lật lại vấn

đề, phải đề ra được câu hỏi và tìm cách trả lời thì mới hiểu sâu, hiểu rộng

Mặt khác tự đặt câu hỏi chính là một thao tác kích thích tư duy

Như vậy hỏi để học nên cần phải hỏi và biết cách hỏi

- Hiểu: Đã học thì phải hiểu Không hiểu thì phải coi là chưa học

Biết có thể đã hiểu một phần mà cũng có thể chưa hiểu Học không dừng

ở biết mà phải hiểu, khi đó mới là thực sự biết, đồng thời cũng là thực sự học

Hiểu là biết bản chất của sự vật, khi đó có thể nói lại cho người khác

thậm chí có thể nói theo cách của mình Cách học theo hướng tự học là phải

nhằm hiểu, chứ không chỉ nhớ

- Hành: Khi đã hiểu thì phải thực hành Thưc hành, vận dụng là mục

đích của học Học mà không vận dụng, thì học không đạt được mục đích cuối

cùng của học Khi thực hành sẽ hiểu thêm, sẽ học thêm được nhiều kiến thức,

kĩ năng Vì vậy, quan điểm dạy học đã xác định học đi đôi với thực hành, học

lí thuyết để thực hành vận dụng kiến thức và qua thực hành để học thêm về kĩ

Trang 15

Học  hỏi  hiểu  hành

Học  hỏi  hiểu  hành

Chúng ta cần coi việc bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh là một

vấn đề có tầm quan trọng chiến lược, vì vậy các nhà lí luận đã xác định đây

là một quan điểm giáo dục

1.2.3 Dạy cách học hoá học [42, tr.107]

Hoá học là một môn khoa học tự nhiên và là môn học vừa thực

nghiệm vừa lí thuyết

Dạy cách học hoá học là dạy cách tư duy trừu tượng, dạy cách tư duy

để nhìn vào thế giới của những hạt vi mô mà mắt thường không thể nhìn thấy

được, đó là các hạt nguyên tử, phân tử, ion, electron…

Dạy cách tư duy hoá học đó là cách tư duy biện chứng: Cấu tạo của

chất quyết định tính chất của chất Dạy cách suy luận từ cấu tạo ra tính chất

và ngược lại dựa vào tính chất để dự đoán cấu tạo

Dạy kiến thức cơ bản của hoá học để rồi trên cơ sở vốn kiến thức cơ

bản đó mà rèn luyện tư duy Những kiến thức cụ thể, lâu ngày có thể quên

(khi cần có thể tra cứu sách) cái còn lại là phương pháp tư duy Có phương

pháp tư duy tốt sẽ làm việc có hiệu quả, sẽ có thể học suốt đời và ngày càng

nâng cao trình độ tư duy của mình lên và ngày càng làm việc có hiệu quả hơn

Nếu dựa trên cơ sở vốn tri thức của tất cả các môn học ở trường phổ

thông thì có đủ điều kiện để rèn luyện cho học sinh tới bảy loại tư duy Các

loại tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Có tư duy độc lập mới có tư

duy lôgic, tư duy hình tượng, tư duy biện chứng và như vậy mới có tư duy

phê phán Có tư duy phê phán mới phát hiện được vấn đề do đó mới có tư duy

sáng tạo Ở khía cạnh khác, có tư duy trừu tượng mới có tư duy sáng tạo

Sáng tạo bắt đầu từ việc phát hiện ra vấn đề, sau đó mới tìm cách giải quyết

Field Code Changed Field Code Changed Field Code Changed Formatted: Indent: First line: 0 cm,

Line spacing: Multiple 1,45 li

Formatted: Line spacing: Multiple

1,45 li

Field Code Changed Field Code Changed Field Code Changed Formatted: Line spacing: Multiple

1,45 li

Formatted: Indent: First line: 0 cm,

Line spacing: Multiple 1,45 li

Formatted: Line spacing: Multiple

1,45 li

Trang 16

vấn đề và khi giải quyết được thì mới có một cái gì mới ra đời Vì vậy ngày

nay người ta đề cao việc rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện vấn đề và

giải quyết vấn đề Dạy cách học hoá học cần chú trọng dạy học sinh cách

quan sát và các thao tác tư duy

1.2.3.1 Dạy quan sát và thao tác tư duy so sánh

Trong dạy học hoá học mẫu chất, vật tự nhiên, vật tượng hình, vật

tượng trưng, thí nghiệm hoá học… là nguồn cung cấp kiến thức cho học sinh

Vì vậy phải dạy học sinh cách quan sát và so sánh để thu lượm thông tin xử lí

thông tin và rút ra kết luận là những tri thức mới

Theo quan điểm lôgic học, so sánh là thao tác trí tuệ đối chiếu các đối

tượng để xác định sự giống nhau và khác nhau hoặc bằng nhau giữa chúng

So sánh giúp con người tìm ra bản chất chung ẩn náu sau nhiều hình thức biểu

hiện khác nhau Thí dụ so sánh hai công thức cấu tạo thu gọn sau đây để trả

lời câu hỏi “Chúng biểu diễn mấy chất?”

Đây chỉ là công thức cấu tạo của một chất có tên là vinyl fomiat

Cái bản chất chung là trình tự liên kết giữa các phân tử là giống nhau

Hình thức biểu hiện khác nhau: ở (1) gốc fomiat đứng trước còn ở (2)

gốc vinyl đứng trước

So sánh giúp nhận thức sự vật, hiện tượng, một cách sâu sắc nên cần

chú ý dạy cách so sánh Trong dạy học hóa học cần dạy học sinh bằng cách so

sánh tuần tự, so sánh đối chiếu đồng thời phải tìm ra được nguyên nhân sự

giống nhau khác nhau của các đối tượng nghiên cứu

1.2.3.2 Phép phán đoán quy nạp và suy diễn

Từ những quan sát và so sánh tập cho học sinh biết quy nạp Phép

quy nạp là một thao tác tư duy hết sức quan trọng và được sử dụng rộng rãi

Formatted: Expanded by 0,2 pt

Trang 17

trong dạy học hoá học Từ phép quy nạp để tìm ra nét chung của một loại

chất hóa học

Suy diễn là cách phán đoán đi từ một nguyên lý chung đúng đắn tới một

kết luận thuộc về một trường hợp riêng lẻ Phép suy diễn cho phép rút ngắn

thời gian học tập và phát triển tư duy lôgic, độc lập, sáng tạo của học sinh

Trong dạy học hoá học cần dạy học sinh cách phối hợp đúng lúc, đúng

chỗ hai thao tác tư duy này Quy nạp và suy diễn phải gắn bó với nhau như phân

tích và tổng hợp giúp xác định mối liên hệ nhân quả trong sự vật, hiện tượng

1.2.3.3 Rèn luyện thao tác tư duy phân tích và tổng hợp

Dạy học sinh cách phân tích là dạy cách đi sâu vào nội dung, vào chi

tiết của một sự vật hay hiện tượng và các mối quan hệ giữa các chi tiết đó

Dạy cách tổng hợp là dạy cách phát hiện ra những chi tiết, tình tiết

giống nhau trong nhiều sự vật hay hiện tượng khác nhau để khái quát lên một

lí luận hay quy luật chung gì đó trùm lên tất cả các sự vật hay hiện tượng đó

Phân tích gắn với suy diễn, tổng hợp gắn với quy nạp Phân tích và tổng

hợp xen kẽ nhau, định hướng cho suy diễn và quy nạp

1.2.3.4 Rèn luyện trí thông minh của học sinh

Mục đích cao nhất của việc dạy học là phát triển năng lực nhận thức, tư

duy và rèn luyện trí thông minh cho học sinh

Tư duy là hành động trí tuệ nhằm thu thập thông tin và xử lý thông tin về

thế giới quanh ta Con người tư duy để hiểu tự nhiên, xã hội và chính mình

Trong dạy học chúng ta cần rèn luyện cho học sinh các loại tư duy, đó

là: tư duy độc lập, tư duy lôgic, tính hình tượng, tư duy biện chứng, tư duy

trừu tượng, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo

Các dạng tư duy này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thí dụ như có tư

duy độc lập mới có tư duy phê phán có tư duy phê phán mới phát hịên được

vấn đề, do đó mới có tư duy sáng tạo Khi có tư duy sáng tạo con người luôn

Formatted: Condensed by 0,2 pt

Formatted: Condensed by 0,3 pt

Trang 18

thích ứng với các điều kiện sống- Đây là mục tiêu của giáo dục trong thế kỉ

21, là tạo nguồn nhân lực có năng lực hành động và khả năng thích ứng

1.3 Tích cực hóa hoạt động của học sinh trong dạy học hóa học

1.3.1 Khái niệm tính tích cực

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người Con người

không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản

xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội,

chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội

Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ

yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và

Trong học tập, HS phải “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản

thân dưới sự tổ chức và hướng dẫn của GV

Đến một trình độ nhất định thì sự học tập tích cực sẽ mang tính nghiên

cứu khoa học và người học cũng có thể khám phá ra những tri thức mới cho

khoa học

Tính tích cực trong hoạt động học tập liên quan trước hết đến động cơ

học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Tính

tích cực tạo ra nếp tư duy độc lập Tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo

Sự biểu hiện và cấp độ của tính tích cực học tập, mối liên quan giữa

động cơ và hứng thú trong học tập được diễn đạt trong các sơ đồ sau:

Formatted: Indent: First line: 0 cm

Formatted: Indent: First line: 0 cm

Trang 19

Sơ đồ 1.1 Tớnh tớch cực học tập và mối quan hệ với động cơ và hứng thỳ

Sơ đồ 1.1 Tớnh tớch cực học tập và mối quan hệ với động cơ và hứng thỳ

độc lập Tích cực học tập Formatted: Font color: Auto

Trang 20

Xuất hiện do tác động kích thích từ bên ngoài (yêu cầu của giáo viên),

nhằm chuyển đối tượng từ ngoài vào trong theo cơ chế “hoạt động bên ngoài

và bên trong có cùng cấu trúc” Nhờ đó, kinh nghiệm hoạt động được tích luỹ

thông qua kinh nghiệm của người khác

Tái hiện và bắt chước là tính tích cực ở mức độ thấp Có thể giáo viên

thay đổi một chút dữ kiện là học sinh lúng túng không làm được Nhưng nó

lại là tiền đề cơ bản giúp các em nắm được nội dung bài giảng để có điều kiện

nâng tính tích cực lên mức cao hơn

1.3.3 2 Tính tích cực tìm tòi

Xuất hiện cùng với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết các tình

huống nhận thức, tìm tòi các phương thức hành động trên cơ sở có tính tự

giác, có sự tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú và ý chí của học sinh

Loại này xuất hiện không chỉ do yêu cầu của giáo viên mà còn hoàn toàn

tự phát trong quá trình nhận thức Nó tồn tại không chỉ ở dạng trạng thái, cảm

xúc mà còn ở dạng thuộc tính bền vững của hoạt động Ở mức độ này, tính

độc lập cao hơn mức trên, cho phép học sinh tiếp nhận nhiệm vụ và tự tìm cho

mình phương tiện thực hiện

Ý thức tìm tòi giúp các em say mê đi tìm kiến thức mới, khai thác kiến

thức đã học theo nhiều hướng khác nhau, kiểm tra lại những kiến thức đã học

trước đó Ý thức tìm tòi là phẩm chất của trí tuệ Đó là sự độc lập trong tư

duy, tự mình phát hiện ra vấn đề, tự mình xác định phương hướng và tìm cách

giải đáp, tự mình kiểm tra, thử lại, đánh giá kết quả đạt được Đây cũng là tiền

đề cơ bản của tính tích cực sáng tạo

1.3.3.3 Tính tích cực sáng tạo

Thể hiện khi chủ thể nhận thức tự tìm tòi kiến thức mới, tự tìm ra

phương thức hành động riêng và trở thành phẩm chất bền vững của cá nhân

Formatted: Space Before: 4 pt

Trang 21

Đây là mức độ biểu hiện tính tích cực cao nhất Học sinh có tính tích cực sáng

tạo sẽ có thể tìm được các kiến thức mới không nhờ vào sự gợi ý của người

khác, thực hiện tốt các yêu cầu do giáo viên đưa ra và có tính sáng tạo trong

phương pháp Ở mức này, học sinh đã có khả năng tư duy phân tích, tổng

hợp, khái quát hoá, tương tự … để tìm tòi phát hiện kiến thức mới

1.3.4 Phương pháp dạy học tích cực

1.3.4.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực[21]

Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút

gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học

theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động

nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của

người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người

dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực

nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động

1.3.4.2.Dấu hiệu đặc trưng của các PPDH tích cực

Các PPDH tích cực có 4 dấu hiệu đặc trưng cơ bản để phân biệt với các

phương pháp thụ động

a) Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.[22]

Trong PPDH tích cực, HS được đặt vào vị trí chủ thể của hoạt động

học tập, GV là tác nhân, là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, động viên để

HS tự lực khám phá những điều mình chưa biết, chứ không thụ động tiếp thu

những tri thức do GV sắp đặt sẵn và thông báo

Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, HS trực tiếp quan

sát các đối tượng nghiên cứu, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt

ra theo cách suy nghĩ của mình, qua đó vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới

Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto

Trang 22

vừa nắm được phương pháp tìm ra kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo

những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

b) Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học [35]

PPDH tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS

không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục

tiêu dạy học

Trong xã hội hiện đại, với sự bùng nổ thông tin thì không thể dạy học

theo kiểu nhồi nhét kiến thức mà phải quan tâm dạy phương pháp học ngay từ

bậc tiểu học và càng lên bậc cao hơn càng phải được chú trọng hơn

Trong PP học thì cốt lõi là PP tự học Nếu rèn luyện cho HS có được

phương pháp, kĩ năng, thói quen và ý chí tự học thì kết quả học tập sẽ được

nhân lên gấp bội

Tự học và phát triển tự học được đặt ra ngay trong trường phổ thông và

không chỉ tự học ở nhà mà tự học ngay cả trong các giờ lên lớp có sự hướng

dẫn của GV

c) Dạy học tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp

tác.[13]

Lớp học là môi trường giao tiếp giáo viên - học sinh, học sinh - học

sinh, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá thể trên con đường chiếm lĩnh

kiến thức, kĩ năng

Thông qua thảo luận, tranh luận ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng

định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học

vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của HS, lớp học sẽ sinh động và

kích thích được sự hứng thú học tập

Học hợp tác làm tăng hiệu quả học tập nhất là khi xuất hiện nhu cầu

phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung

Formatted: Font color: Auto Formatted: Expanded by 0,2 pt

Formatted: Font color: Auto

Trang 23

Trong việc học hợp tác tính cách, năng lực của mỗi thành viên được

bộc lộ, tính ỷ lại được uốn nắn, ý thức tổ chức, tình bạn, tinh thần tương trợ

được phát triển

Nền kinh tế thị trường đòi hỏi có một sự hợp tác giữa các vùng, miền;

hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia Năng lực hợp tác phải trở thành một

mục tiêu giáo dục

d) Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh.[20],

[31], [35]

Trong PPTC, giáo viên phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh

giá để tự điều chỉnh cách học Mặt khác GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS

được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động

kịp thời là năng lực cần cho sự thành đạt trong cuộc sống của HS sau này

Để đào tạo những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã

hội thì việc kiểm tra - đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến

thức, lặp lại kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo

trong việc giải quyết những tình huống thực tế

Trong các PPDH tích cực, người ta coi trọng vị trí hoạt động học và vai

học sinh của người học thì đương nhiên phải phát huy vai học sinh tích cực,

tự lực, chủ động và sáng tạo của người học Vì thế PPTC cũng có chung quan

điểm dạy học như quan điểm dạy học “lấy HS làm trung tâm”

Dạy học “lấy HS làm trung tâm” không phải là một PPDH cụ thể Đó

là một tư tưởng, một quan điểm giáo dục, nó chi phối tất cả các thành tố của

quá trình dạy học chứ không phải chỉ liên quan đến PPDH

1.4 Phát huy tính tích cực của học sinh cho học sinh thông qua các bài ôn

tập - luyện tập

1.4.1 Ý nghĩa, tầm quan trọng của các bài ôn tập, luyện tập [27]

Bài luyện tập, ôn tập là dạng bài dạy hoàn thiện kiến thức và được thực

hiện sau một số bài dạy nghiên cứu kiến thức mới hoặc kết thúc một chương,

Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto

Trang 24

một phần của chương trình Đây là dạng bài học không thể thiếu được trong

chương trình của các môn học

Bài luyện tập, ôn tập có giá trị nhận thức to lớn và có ý nghĩa quan

trọng trong việc hình thành phương pháp nhận thức và phát triển tư duy cho

học sinh vì:

- Bài luyện tập giúp học sinh tái hiện lại các kiến thức đã học, hệ thống

hóa các kiến thức hóa học được nghiên cứu rời rạc, tản mạn qua một số bài,

một chương hoặc một phần thành một hệ thống kiến thức có quan hệ chặt chẽ

với nhau theo logic xác định Từ các hệ thống kiến thức đó giúp học sinh tìm

ra được những kiến thức cơ bản nhất và các mối liên hệ bản chất giữa các

kiến thức đã thu nhận được để ghi nhớ và vận dụng chúng trong việc giải

quyết các vấn đề học tập…

- Thông qua các hoạt động học tập của học sinh trong bài luyện tập, ôn

tập mà giáo viên có điều kiện củng cố, làm chính xác và chỉnh lí, phát triển và

mở rộng kiến thức cho học sinh

Trong giờ học luyện tập, giáo viên tổ chức và điều khiển các hoạt động

học tập của học sinh nhằm hệ thống hóa các kiến thức cần nắm vững thì có

thể phát hiện được những kiến thức mà học sinh hiểu chưa đúng hoặc có

những khái quát chưa đúng bản chất của hiện tượng, sư việc Giáo viên có

nhiệm vụ chỉnh lí, bổ sung thêm kiến thức để học sinh hiểu đúng đắn và đầy

đủ hơn, đồng thời có thể mở rộng thêm kiến thức cho học sinh tùy thuộc vào

các điều kiện thời gian, trình độ nhận thức của học sinh, phương tiện…

- Thông qua các hoạt động học tập trong giờ luyện tập, ôn tập để hình

thành và rèn luyện các kĩ năng hóa học cơ bản như: kĩ năng giải thích – vận

dụng kiến thức, giải các dạng bài tập hóa học, sử dụng ngôn ngữ hóa học

Cấu trúc các bài luyện tập trong sách giáo khoa hóa học đều có hai

phần: kiến thức cần nắm vững và bài tập Phần kiến thức cần nắm vững bao

gồm các kiến thức cần hệ thống, củng cố và xác định mối liên hệ tương quan

giữa chúng, phần bài tập bao gồm các dạng bài tập hóa học vận dụng các kiến

Formatted: Line spacing: Multiple

1,43 li

Trang 25

thức, tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện kĩ năng hóa học Việc giải các dạng bài tập hóa học là phương pháp học tập tốt nhất giúp học sinh nắm vững kiến thức, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề học tập của bài toán đặt ra

- Thông qua hoạt động học tập trong giờ luyện tập, tổng kết, hệ thống kiến thức mà phát triển tư duy và phương pháp nhận thức, phương pháp học tập cho học sinh Trong bài luyện tập tổng kết kiến thức học sinh cần sử dụng các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa để hệ thống hóa, nắm vững kiến thức và vận dụng chúng giải quyết các vấn đề học tập mang tính khái quát cao Khi giải quyết một vấn đề học tập giáo viên thường hướng dẫn học sinh phân tích, phát hiện vấn đề cần giải quyết, xác định kiến thức có liên quan cần vận dụng, lựa chọn phương pháp giải, lập kế hoạch giải

và thực hiện kế hoạch giải, biện luận xác định kết quả đúng

Các dạng bài tập nhận thức đòi hỏi sự giải thích, biện luận sẽ có hiệu quả cao trong việc phát triển tư duy hóa học và phương pháp nhận thức cho học sinh Thông qua việc hướng dẫn học sinh giải quyết các bài tập nhận thức cụ thể mà giúp học sinh có được phương pháp nhận thức, phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề và cả phương pháp học tập độc lập, sáng tạo

- Thông qua bài luyện tập, ôn tập mà thiết lập mối liên hệ của các kiến thức liên môn học bao gồm các kiến thức hóa học có trong các môn khoa học khác (toán học, vật lí, sinh vật, địa lí…) và sự vận dụng kiến thức của các môn học này để giải quyết các vấn đề học tập trong hóa học Cụ thể như sự vận dụng các kiến thức về pin điện, điện phân, phương trình trạng thái chất khí, quá trình biến đổi các hợp chất tự nhiên (gluxit, protit, chất béo) trong cơ thể người, thực vật để nghiên cứu các quá trình hóa học, hình thành các khái niệm và giải thích các hiện tượng tự nhiên, các kiến thức thực tiễn có liên quan đến hóa học hoặc giải các bài tập hóa học

Trang 26

Như vậy bài luyện tập, ôn tập là dạng bài học không thể thiếu được

trong các môn học với các giá trị nhận thức và ý nghĩa to lớn của nó trong

việc hình thành phương pháp nhận thức, phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và

hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh

1 45 2 Các phương pháp thường được sử dụng trong bài dạy ôn tập – luyện tập

1 45 2.1 Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề [30]

Là phương pháp dùng lời để trình bày, giải thích nội dung bài học một

cách chi tiết, dễ hiểu cho học sinh tiếp thu Phương pháp này được sử dụng

lâu đời nhất trong lịch sử dạy học

Trước một vấn đề hoàn toàn mới, hoặc hệ thống hóa những kiến thức

đã học, giáo viên có thể trình bày bài giảng với một khối lượng kiến thức lớn

cho nhiều người cùng nghe Học sinh, qua nghe giáo viên thuyết trình hiểu

vấn đề và học được phương pháp trình bày vấn đề học tập một cách có hệ

thống, lập luận logic

Tuy nhiên, đây là phương pháp độc thoại, học sinh bị rơi vào tình trạng

thụ động, phải cố gắng nghe để hiểu, ghi nhớ và không có cơ hội để trình bày

ý kiến riêng của mình dẫn đến thói quen thụ động chờ đợi ý kiến giải thích

của giáo viên giáo

Nhiệm vụ của giáo viên khi thuyết trình cần làm nổi bật những điểm cơ

bản trong toàn bộ bài học hoặc từng phần Để đạt được hiệu quả cao khi ôn

tập, giáo viên cần chuẩn bị bài thuyết trình nhằm:

- Nêu bật được những điểm cơ bản nhất, quan trọng nhất dưới dạng các

vấn đề, các câu hỏi và giải quyết dần từng vấn đề

- Hệ thống được các kiến thức cần nhớ, cần hiểu theo một logic chặt chẽ

- Chỉ ra được các kiến thức học sinh thường hiểu sai hoặc nhầm lẫn

cùng các biện pháp khắc phục

Formatted: Font color: Auto

Trang 27

Giáo viên thường sử dụng phương pháp này khi tiến hành phần nội

dung các kiến thức cần nhớ trong bài ôn tập, thể hiện mối liên hệ kiến thức

trong một phần hoặc toàn bộ chương trình

1 45 2.2 Đàm thoại tìm tòi [10]

Đàm thoại là phương pháp dạy học mà trong đó GV đặt ra một hệ

thống câu hỏi theo một logic xác định để HS lần lượt trả lời, hoặc có thể trao

đổi qua lại dưới sự chỉ đạo của GV Qua hệ thống hỏi – đáp HS lĩnh hội được

nội dung bài học Như vậy ở phương pháp này, hệ thống câu hỏi – lời đáp là

nguồn kiến thức chủ yếu

Có ba phương án cơ bản sử dụng phương pháp đàm thoại trong giờ học

ôn tập, luyện tập:

- GV đặt ra hệ thống những câu hỏi riêng rẽ rồi chỉ định học sinh trả

lời Nguồn thông tin cho cả lớp là tổ hợp các câu trả lời của học sinh

- GV đặt cho cả lớp một câu hỏi chính, rồi cho học sinh lần lượt trả lời

từng bộ phận của câu hỏi đó Người sau bổ sung cho người trước, cuối cùng

giáo viên chỉnh lí, kết luận về kiến thức cần nắm vững

- GV nêu ra câu hỏi chính, kèm theo những gợi ý nhằm tổ chức cho cả

lớp tranh luận hoặc đặt ra các câu hỏi phụ cho nhau để giúp nhau giải đáp

Câu hỏi chính do GV đưa ra trong phương án này thường chứa đựng yếu tố

kích thích tranh luận

Nhìn chung phương pháp dạy học này thường được sử dụng nhiều hơn

vì qua các câu trả lời của HS, giáo viên có được thông tin phản hồi về việc

nắm và vận dụng kiến thức của học sinh Biết được điểm mạnh, yếu của học

sinh để kịp thời có biện pháp điều chỉnh Hơn nữa, nó bảo đảm được hiệu quả

giờ ôn tập, đảm bảo nội dung ôn tập

1 45 2.3 Phương pháp dạy học theo nhóm [4], [46]

Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó học sinh

của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới

Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto

Trang 28

hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công

và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và

đánh giá trước toàn lớp

Phương pháp học theo nhóm cho phép các thành viên trong nhóm chia

sẻ những băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng phương

pháp nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang suy nghĩ, mỗi người

sẽ nhận ra rõ trình độ hiểu biết của mình về vấn đề đang nghiên cứu, thấy

được mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn

nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động kiến thức từ giáo viên

Trong phương pháp hoạt động nhóm nổi lên mối quan hệ giao tiếp học

sinh - học sinh Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi

cá nhân được điều chỉnh, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới

Học tập hợp tác theo nhóm nhỏ trong dạy học hoá học được thể hiện khi:

- Nhóm học sinh tiến hành thí nghiệm để rút ra kết luận về tính chất của chất

- Thảo luận nhóm để tìm ra lời giải, nhận xét, kết luận cho một vấn đề học

tập hay một bài tập hoá học cụ thể

- Cùng thực hiện một nhiệm vụ do giáo viên nêu ra

Cấu trúc chung của quá trình dạy học theo nhóm

Hoạt động của giáo viên Hoạt động c ủa học sinh

Trang 29

Kết luận đánh giá  Tự đánh giá, tự điều chỉnh

Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, vận dụng, luyện tập, củng

cố một chủ đề đã học Phương pháp này được đánh giá là một phương pháp dạy

học tích cực, hướng vào học sinh và đạt hiệu quả cao trong giờ ôn tập Trong đó

thảo luận nhóm đóng vai học sinh chủ yếu nhằm pháp huy cao độ tính tích cực,

chủ động sáng tạo của người học, đồng thời phát huy cao độ khả năng hợp tác,

giúp đỡ học tập lẫn nhau Mỗi cá nhân học sinh được liên kết với nhau trong một

hoạt động chung nhằm thực hiện nhiệm vụ học tập Học sinh học được phương

pháp hợp tác, trình bày và bảo vệ ý kiến của riêng mình

Hoạt động trong tập thể nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với

sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức

kỷ luật, ý thức cộng đồng Mô hình này nhằm chuẩn bị cho học sinh thích ứng

với đời sống xã hội trong đó mỗi người sống và làm việc theo phân công, hợp

tác với tập thể cộng đồng

Trong dạy học nhóm, nếu sự quản lí, tổ chức, điều khiển của GV không

sát sao thì sẽ dẫn đến những hiện tượng như:

- Nếu quản lý không tốt sẽ gây mất trật tự, tổ chức không tốt sẽ dễ bị cháy

giáo án, tiết học thất bại

- Không phải lúc nào cũng lôi kéo được toàn thể các học sinh tham gia, có

thể tồn tại một bộ phận học sinh chỉ tham gia chống đối, xuất hiện hiện

tượng ăn theo

- Trong nhóm có thể xảy ra hỗn loạn nếu giữa các thành viên trong nhóm

có sự cạnh tranh, đối địch nhau…

Để hạn chế những nhược điểm của dạy học nhóm, các tác giả nghiên

cứu về cấu trúc hoạt động nhóm đã đề xuất các cấu trúc hoạt động nhóm:

Cấu trúc Jigsaw, STAD, TGT…

Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Condensed by 0,2 pt

Trang 30

1.4.2.4 Sử dụng thí nghiệm hóa học và các phương tiện trực quan trong bài

ôn tập – luyện tập [27]

Trong giờ luyện tập, ôn tập giáo viên thường ít sử dụng thí nghiệm hóa

học nên không khí giờ học dễ thấy căng thẳng và nặng nề vì vậy giáo viên có

thể sử dụng thí nghiệm hóa học hoặc các phương tiện kĩ thuật với các phần

mềm thí nghiệm ảo, hiện thực ảo kết hợp với lời nói của giáo viên để nâng

cao tính tích cực nhận thức, hứng thú học tập của học sinh

Sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong giờ luyện tập, ôn tập không phải

lặp lại thí nghiệm đã biểu diễn mà có thể dùng các thí nghiệm mới, có những

dấu hiệu chung của thí nghiệm đã làm nhưng có những dấu hiệu của kiến thức

mới nhằm chỉnh lí, củng cố, khắc sâu kiến thức, tránh sự khái quát hóa, suy

diễn thiếu chính xác ở học sinh

Ví dụ : Khi luyện tập bài “Amin, aminoaxit và protein” có thể tiến hành 2

cặp thí nghiệm:

- TN1: Cho quỳ tím vào dd anilin và cho quỳ tím vào dd C2H5NH2

- TN2: Cho dd HCl tác dụng với dd C2H5NH2 và anilin

Qua hai cặp thí nghiệm trên HS dễ dàng rút ra sự giống và khác nhau

trong tính chất hóa học của etyl amin và anilin, và có thể suy luận logic để

thấy được sự ảnh hưởng của gốc phenyl đến tính chất của nhóm amino

Giáo viên có thể sử dụng thí nghiệm hóa học như một dạng bài tập

nhận thức, tổ chức cho học sinh tiến hành thí nghiệm, quan sát, mô tả đầy đủ

hiện tượng và giải thích hoặc biểu diễn ở dạng thí nghiệm vui và yêu cầu học

sinh giải thích Thí nghiệm hóa học cũng được sử dụng như một dạng bài tập

thực nghiệm để chứng minh cho những nhận xét, kết luận, quy luật cần hệ

thống; để phân biệt, nhận biết, điều chế các chất

Như vậy các thí nghiệm dùng trong bài luyện tập, ôn tập cần đòi hỏi

học sinh có sự vận dụng kiến thức một cách tổng hợp vì vậy giáo viên không

cần chọn nhiều thí nghiệm mà chỉ cần chọn 1 hoăc 2 thí nghiệm để khắc sâu

Formatted: Font color: Auto

Formatted: Not Expanded by /

Condensed by

Trang 31

kiến thức hoặc để luyện tập kĩ năng vận dụng kiến thức một cách tổng hợp

Cũng cần thận trọng, tránh lạm dụng nhiều thí nghiệm giống nhau hoàn toàn

về bản chất hoặc làm cho HS dễ phân tán bởi những dấu hiệu không bản chất

nhưng gây hứng thú với HS như cháy, nổ, tạo thành chất có màu đẹp…

Bên cạnh việc sử dụng các thí nghiệm hóa học, giáo viên có thể sử

dụng các phương tiện kỹ thuật: máy vi tính, máy chiếu…kết hợp sử dụng các

phần mềm hỗ trợ dạy học Đặc biệt với hóa học hữu cơ, việc sử dụng các

phần mềm như: Hyperchem, Mopac, thông dụng hơn là phần mềm

ChemOffice sẽ hỗ trợ được rất nhiều trong việc mô hình hóa phân tử hợp chất

hữu cơ Việc sử dụng các thí nghiệm ảo, các mô phỏng vừa có tác dụng nâng

cao hứng thú học tập của HS vừa làm giảm nguy cơ độc hại khi tiếp xúc với

hóa chất hữu cơ

1.4.2.5 Sử dụng bài tập hóa học[27], [43]

Bài tập hóa học được coi là một trong các phương pháp dạy học có

hiệu quả và được sử dụng nhiều trong các giờ luyện tập, ôn tập với mục đích

rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức, giải các dạng bài tập đặc thù của hóa

học và phát triển năng lực nhận thức, năng lực tư duy cho học sinh

Hiện nay, bài tập hoá học được xây dựng theo các xu hướng:

- Loại bỏ những bài tập có nội dung hoá học nghèo nàn nhưng cần đến

những thuật toán phức tạp để giải Loại bỏ những bài tập có nội dung lắt léo,

rắc rối, phức tạp, xa rời hoặc phi thực tiễn hoá học

- Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm

- Tăng cường sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan

- Xây dựng bài tập mới về bảo vệ môi trường

- Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện

vấn đề và giải quyết vấn đề có liên quan đến hoá học và sự vận dụng kiến

thức vào thực tiễn cuộc sống

Formatted: Font color: Auto

Trang 32

- Đa dạng hoá các loại hình bài tập như: Bài tập bằng hình vẽ, bài tập

vẽ đồ thị, sơ đồ, lắp dụng cụ thí nghiệm…

- Xây dựng những bài tập có nội dung hoá học phong phú, sâu sắc,

phần tính toán đơn giản, nhẹ nhàng

- Xây dựng và tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm định lượng

Khi chuẩn bị bài luyện tập, ôn tập giáo viên cần chú ý đến việc lựa

chọn bài tập và phương pháp sử dụng chúng trong giờ học Việc lựa chọn bài

tập hóa học cho bài luyện tập cần lưu ý chọn các bài tập điển hình, có tính

tổng hợp và khái quát cao để thông qua việc giải chúng mà củng cố được

nhiều kiến thức, kĩ năng và rèn luyện được khả năng phân tích, phát hiện vấn

đề, vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề

Trong giờ luyện tập, ôn tập giáo viên thường sử dụng các câu hỏi lí

thuyết và bài tập hóa học để thực hiện các nhiệm vụ học tập như:

- Dùng bài tập để tái hiện các kiến thức cơ bản, quan trọng

- Xây dựng các tình huống học tập để xác đinh khả năng vận dụng các

kiến thức cơ bản trong chương

- Luyện tập theo bài tập mẫu và những điều kiện quen thuộc nhằm

rèn luyện kĩ năng, vận dụng kĩ năng giải một cách đúng đắn theo các bước

xác định

- Luyện tập khả năng vận dụng kiến thức vào tình huống mới đòi hỏi

có sự vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng đã có

- Dùng bài tập để khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức và chỉ ra cách

thức hoạt động nhận thức

- Kiểm tra và tự kiểm tra kiến thức, kĩ năng thu nhận được

Khi sử dụng bài tập hóa học trong giờ luyện tập thì hoạt động của giáo viên

bao gồm:

- Đưa ra các bài tập cho học sinh vận dụng từ đơn giản đến phức tạp

theo từng dạng bài xác định

Formatted: Expanded by 0,2 pt

Trang 33

- Tổ chức và hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh theo cá nhân

hoặc nhóm để HS tự rút ra phương pháp giải, trao đổi học tập lẫn nhau về các

phương pháp giải, phương pháp nhận thức

- Tóm tắt và hệ thống các phương pháp giải và nêu ra những vấn đề,

tình huống mới để mở rộng phát triển kiến thức cho học sinh

Hoạt động học tập của học sinh chủ yếu là:

- Hoàn thành các bài tập của giáo viên, trao đổi từng nhóm để nắm

được các phương pháp giải và tìm ra cách giải ngắn nhất, suy luận nhanh nhất

- Trình bày kết quả hoạt động học tập của mình

- Nhận xét câu trả lời, bài làm của bạn và so sánh với kết quả của mình

- Ghi nhận các bước giải cơ bản cho dạng bài đã luyện tập và tiếp nhận

nhiệm vụ học tập mới

Giáo viên cũng có thể sử dụng các câu hỏi, bài tập hóa học để đàm

thoại, kiểm tra trong giờ học hoặc cấu trúc trong các phiếu học tập và tổ chức

cho học sinh hoạt động độc lập theo cá nhân hoặc thảo luận theo nhóm Với

bài tập thực nghiệm thì giáo viên nên tổ chức cho học sinh làm việc theo

nhóm Các nhóm thảo luận, giải bài tập bằng lí thuyết sau đó tiến hành thí

nghiệm để kiểm nghiệm phương án giải bằng lí thuyết Giáo viên tổ chức cho

các nhóm báo cáo kết quả hoạt động của nhóm mình, các nhóm khác nhận

xét, bổ sung, giáo viên đánh giá khái quát và tổng kết về phương pháp giải

Với các bài tập tổng hợp thì giáo viên nên đưa ra sau cùng, trên cơ sở học

sinh đã được củng cố những kiến thức, kĩ năng cơ bản và có thể vận dụng được

chúng trong quá trình giải bài tập đó Giáo viên cần giúp học sinh phân tích đề

bài,tìm ra những con đường giải quyết vấn đề, rút ra được những kiến thức mới,

kĩ năng mới, phương pháp tư duy, lập luận mới thông qua việc giải các bài tập

tổng hợp và từ đó mà giáo viên đánh giá được trình độ thực của học sinh

Formatted: Not Expanded by /

Condensed by

Formatted: Condensed by 0,2 pt

Trang 34

Như vậy trong giờ luyện tập, ôn tâp thì các bài tập trở thành nguồn kiến

thức để học sinh tìm tòi, khám phá những con đường, những phương pháp,

cách thức vận dụng sáng tạo các kiến thức để giải quyết các vấn đề học tập

1.5 Lược đồ tư duy

1.5.1 Khái niệm lược đồ tư duy (bản đồ tư duy, sơ đồ tư duy) [40], [41]

Từ trước đến nay, chúng ta ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường

thẳng, con số, danh sách… giúp con người đưa ra lý luận cũng như phân tích

vấn đề Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não

– não trái mà chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử

lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, hình ảnh không gian và sự mơ mộng

Hay nói cách khác, chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng 50% khả năng bộ

não của chúng ta khi ghi nhận thông tin Với mục tiêu giúp chúng ta sử dụng

tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan đã đưa ra lược đồ tư duy để giúp

mọi người thực hiện được mục tiêu này

Lược đồ tư duy (MindMaps) là một công cụ tổ chức hoạt động và phát

triển năng lực tư duy Có thể miêu tả nó như một kỹ thuật hình hoạ, với sự kết

hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu

trúc, hoạt động và chức năng của cả bộ não Lược đồ tư duy giúp khai phá

tiềm năng vô tận của bộ não

Ở vị trí trung tâm của lược đồ tư duy là một hình ảnh hay một từ khóa

thể hiện một ý tưởng hay khái niệm chủ đạo Từ ý tưởng ở trung tâm được nối

với các hình ảnh hay từ khóa cấp một bằng các nhánh chính, từ các nhánh

chính này lại có sự phân nhánh đến các nhánh cấp hai để nghiên cứu sâu hơn

Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được

nối kết với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô

tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng

Hình 1.1: Lược đồ tư duy

Formatted: Not Expanded by /

Condensed by

Formatted: Font color: Auto

Formatted: Font color: Auto

Trang 35

Hình 1.1: Lược đồ tư duy

1.5.2 Phương pháp lập lược đồ tư duy và các phần mềm hỗ trợ

Để lập lược đồ tư duy không khó, chỉ cần một tờ giấy trắng, bút bi, bút

chì hoặc bút sáp màu, nhắm mắt lại, sử dụng bộ não, trí tưởng tượng và liên

kết cùng với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc…sẽ giúp

bạn khai phá tiềm năng vô tận của bộ não

Một số hướng dẫn khi tạo lược đồ tư duy (bản đồ tư duy) :

- Việc lập lược đồ tư duy bắt đầu từ trung tâm với 1 chủ đề hoặc hình

ảnh của chủ đề Nên dùng hình ảnh vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả

ngàn từ và giúp bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh ở trung

tâm sẽ giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng

phấn hơn

- Cần sử dụng màu sắc vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não rất tốt

Formatted: English (United States)

Formatted: Font color: Auto

Trang 36

- Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh

nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp

hai,… bằng các đường kẻ Các đường kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì

càng được tô đậm hơn, dày hơn Khi chúng ta nối các đường với nhau, bạn sẽ

hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự

- Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường

cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều

- Cần bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm

Việc lập lược đồ tư duy có thể được thực hiện dễ dàng trên một tờ giấy

với các loại bút màu khác nhau, việc lập lược đồ tư duy theo cách này có

nhược điểm là khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa Một giải pháp được hướng

đến là sử dụng các phần mềm để tạo ra Lược đồ Tư duy Dưới đây là một số

phần mềm tiêu biểu hay được sử dụng :

- MindManager : Phần mềm này đã được sử dụng khá nhiều tại Việt

Nam MindManager chỉ chạy được trên hệ điều hành Microsoft Windows

- Phần mềm FreeMind: sản phẩm hoàn toàn miễn phí, được lập trình

trên Java Các icon chưa được phong phú, tuy nhiên chương trình có đầy đủ

chức năng để thực hiện mind mapping Trang chủ tại:

http://freemind.sourceforge.net/wiki/index.php/Main_Page

- Một số phần mềm khác: ConceptDraw MINDMAP, Visual Mind,

Axon Idea Processor, Inspiration,…

1.5.3 Sơ lược về phần mềm Mindjet MindManager Formatted: Font: Italic

Trang 37

Mindjet MindManager là phần mềm dành cho cho các doanh nghiệp và

cá nhân Đặc biệt, Mindjet thích hợp với GV, HS, sinh viên cần sơ đồ hóa bài

giảng hoặc đề tài nghiên cứu Mindjet MindManager giúp sắp xếp công việc

một cách thông minh, sáng tạo và bớt tốn thời gian hơn bằng cách theo dõi

nhóm công việc, tổ chức và truyền thông tin một cách có hiệu quả

Với giao diện đẹp mắt và bóng bẩy, truy cập nhanh chóng bằng các

phím chức năng, MindManager giúp cho người dùng giải quyết các vấn đề

phức tạp và cải thiện hơn năng suất Dễ dàng sử dụng các mẫu sơ đồ, chế độ

xem nhiều sơ đồ, các cảnh báo dự án và công cụ lọc giúp nâng cao các chiến

lược, dự án và kế hoạch hoặc quản lý tiến trình Phát triển nhanh dự án và tối

đa hóa năng suất công việc, MindManager maps có thể kết nối với nhiều

nguồn dữ liệu, trong đó bao gồm các ứng dụng sản xuất và giải pháp kinh

doanh như Microsoft Office (Excel, Word, PowerPoint) Hỗ trợ xuất ra nhiều

định dạng, từ các định dạng ảnh thông dụng đến PDF, Doc, HTML, TXT,

XML đến định dạng riêng của chương trình (.mmap)

Ưu điểm của MindManager là thể hiện đầy đủ các tính năng, rất mạnh,

giao diện quen thuộc nên chỉ mất chừng chục phút để làm quen, hỗ trợ rất tốt

những phần mềm khác như Microsoft Office, đồng thời MindManager được

sử dụng miễn phí

Một vài nét sơ lược về cách sử dụng phần mềm Mindjet

MindManager Pro 8:

● Các thao tác cơ bản:

Cài đặt chương trình: tương tự như các phần mềm khác

Các thao tác: đóng, mở, lưu tương tự trong Microsoft office

● Cách tạo lược đồ:

Bước 1: Mở ứng dụng

Giao diện màn hình sau khi đã cài đặt Mindjet:

Formatted: Not Expanded by /

Condensed by

Trang 38

Sau khi mở chương trình, nhấn vào New để tạo lược đồ mới

Nhập tên chủ đề vào ô Central Topic > ấn Enter để hoàn thành

Trang 39

Thêm các nội dung vào Main Topic và Subtopic

Khi muốn tạo một ý riêng ta chọn: insert > Topic > Floating topic; để liên kết giữa Central Topic và Floating Topic ta chọn: insert > relationship Các nhánh có thể xóa và thêm dễ dàng Ngoài ra, ta còn chèn được ghi chú, văn bản, hình ảnh, âm thanh, đường link trang web và tô màu sắc

Ta có thể chọn lược đồ có sẵn (hoặc một lược đồ theo loại) bằng cách: chọn Tools > Map Templates ( hoặc Map Styles) > chọn một map có sẵn > Modify Chỉnh sửa lược đồ có sẵn ta sẽ được lược đồ mới

● Xuất lược đồ ra các định dạng khác nhau:

Sau khi hoàn thành lược đồ muốn xuất ra dạng Word, PowerPoint, Image, PDF…ta click vào biểu tượng lược đồ ở góc trên cùng bên trái để chọn các định dạng

Trang 40

1.5 34 Ứng dụng lược đồ tư duy trong học tập

Lƣợc đồ tƣ duy đƣợc ứng dụng rộng rãi trong việc thiết kế các hoạt

động ở các lĩnh vực khác nhau Trong học tập, lƣợc đồ tƣ duy đƣợc ứng dụng

trong các hoạt động sau:

1.5.4.1 Ứng dụng trong đọc sách

Đọc là tiếp thu ý của tác giả từ cuốn sách hoặc đọc là hấp thụ đƣợc từ

ngữ trong trang sách

Lƣợc đồ tƣ duy về cách đọc sách sẽ giúp ta thực hiện những điều trên

một cách mạch lạc và khoa học, hợp lý nhất đảm bảo rằng những thông tin mà

đọc đƣợc từ sách là đầy đủ Bởi vì trong lƣợc đồ tƣ duy dùng nhiều hình ảnh

bên cạnh những nội dung trọng tâm sẽ giúp ta gợi nhớ tốt hơn

Formatted: Space Before: 12 pt

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Duy Ái, Hoàng Nhâm, Trần Quốc Sơn (1996), Hóa học 12 - Ban KHTN KT. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa học 12
Tác giả: Nguyễn Duy Ái, Hoàng Nhâm, Trần Quốc Sơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
3. Nguyễn Duy Ái, Nguyễn Văn Tòng, Lê Xuân Trọng (1995), Bài tập hóa học 12 - Ban KHTN. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập hóa học 12
Tác giả: Nguyễn Duy Ái, Nguyễn Văn Tòng, Lê Xuân Trọng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
4. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường, Lý luận dạy học hiện đại - Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học. Potsdam – Hà Nội 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại - Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học
5. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường ( 2005), Tài liệu hội thảo tập huấn phát triển năng lực thông qua phương pháp dạy học và phương tiện dạy học. Bộ giáo dục và đào tạo - Dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo tập huấn phát triển năng lực thông qua phương pháp dạy học và phương tiện dạy học
6. Bộ giáo dục và đào tạo,( Nguyễn Xuân Trường: Tổng chủ biên kiêm chủ biên) (2008), SGK hóa học 12. Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK hóa học 12
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo,( Nguyễn Xuân Trường: Tổng chủ biên kiêm chủ biên)
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2008
7. Bộ giáo dục và đào tạo,( Nguyễn Xuân Trường: Tổng chủ biên) (2007), SGK hóa học 11. NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK hóa học 11
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo,( Nguyễn Xuân Trường: Tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2007
8. Bộ giáo dục và đào tạo, (Nguyễn Xuân Trường: Tổng Chủ biên kiêm Chủ biên) (2008), Sách giáo viên hóa học 12. Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên hóa học 12
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo, (Nguyễn Xuân Trường: Tổng Chủ biên kiêm Chủ biên)
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2008
9. Hoàng Chúng, Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Nguyễn Cương (2007), Phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông và đại học. Một số vấn đề cơ bản. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông và đại học. Một số vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
11. Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung, Nguyễn Thị Sửu (2000), Phương Pháp dạy học hoá học tập I. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương Pháp dạy học hoá học tập I
Tác giả: Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung, Nguyễn Thị Sửu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
12. Nguyễn Cương, Nguyễn Thị Sửu, Nguyễn Đức Dũng, Lê Văn Nam, Hoàng Văn Côi, Trịnh Văn Biểu, Đào Văn Hạnh (1995), Thực trạng vềFormatted: English (United States) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng về
Tác giả: Nguyễn Cương, Nguyễn Thị Sửu, Nguyễn Đức Dũng, Lê Văn Nam, Hoàng Văn Côi, Trịnh Văn Biểu, Đào Văn Hạnh
Năm: 1995
1. Đào Thị Việt Anh, Những phương pháp dạy học tích cực trong dạy học hóa học ở trường phổ thông Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.5: Ứng dụngcủa lược đồ tư duy  trong việc ôn tập, thi cử - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Hình 1.5 Ứng dụngcủa lược đồ tư duy trong việc ôn tập, thi cử (Trang 44)
Hình 2.1: Lược đồ tư duy phần kiến thức cần nhớ bài 4: Luyện tập Este và chất béo - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Hình 2.1 Lược đồ tư duy phần kiến thức cần nhớ bài 4: Luyện tập Este và chất béo (Trang 58)
Hình 2.2: Lược đồ tư duy phần kiến thức cần nhớ. Bài 7: Luyện tập cấu tạo và tính chất của cacbohiđrat - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Hình 2.2 Lược đồ tư duy phần kiến thức cần nhớ. Bài 7: Luyện tập cấu tạo và tính chất của cacbohiđrat (Trang 60)
Hình 2.4: Lược đồ tư duy phần kiến thức cần nhớ.  Bài 15: Polime và vật liệu polime. - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Hình 2.4 Lược đồ tư duy phần kiến thức cần nhớ. Bài 15: Polime và vật liệu polime (Trang 64)
Hình 2.8: Lược đồ tư duy sơ đồ hóa tiến trình dạy học của giáo viên. - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Hình 2.8 Lược đồ tư duy sơ đồ hóa tiến trình dạy học của giáo viên (Trang 67)
Hình 2.12: Trò chơi ô chữ. Bài 15: Luyện tập polime và vật liệu polime - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Hình 2.12 Trò chơi ô chữ. Bài 15: Luyện tập polime và vật liệu polime (Trang 70)
Hình 2.14: Một số thí nghiệm ảo minh họa cho lược đồ tư duy - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Hình 2.14 Một số thí nghiệm ảo minh họa cho lược đồ tư duy (Trang 71)
Hình 2.16: Mô hình tĩnh của một số phân tử hữu cơ quan trọng. - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Hình 2.16 Mô hình tĩnh của một số phân tử hữu cơ quan trọng (Trang 72)
2.4.4.2. Hình ảnh động của một số chất quan trọng - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
2.4.4.2. Hình ảnh động của một số chất quan trọng (Trang 73)
Bảng phụ. Cụ thể nhƣ sau - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Bảng ph ụ. Cụ thể nhƣ sau (Trang 109)
Bảng 3.1b. Bảng tổng hợp điểm các bài kiểm tra - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Bảng 3.1b. Bảng tổng hợp điểm các bài kiểm tra (Trang 143)
Đồ thị đường lũy tích kết quả thực nghiệm - Bài 1 - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
th ị đường lũy tích kết quả thực nghiệm - Bài 1 (Trang 145)
Đồ thị đường tích lũy kết quả tổng hợp - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
th ị đường tích lũy kết quả tổng hợp (Trang 149)
Bảng 3.65. Phân loại kết quả thực nghiệm. - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Bảng 3.65. Phân loại kết quả thực nghiệm (Trang 150)
Hình 3.8: Biểu đồ biểu diễn phân loại kết quả thực nghiệm tổng hợp. - Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy cho các bài rèn luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Hình 3.8 Biểu đồ biểu diễn phân loại kết quả thực nghiệm tổng hợp (Trang 152)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w