Song, việc dạy học phân hóa, phân loại để bổ sung thêm kiến thức bị “hổng” cho học sinh yếu kém vẫn chưa được thực hiện một cách thường xuyên làm cho các em mất tự tin trong học tập.. Đố
Trang 25
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Giải thích các loại IQ 18
Bảng 1.2 Kết quả điều tra từ học sinh 20
Bảng 2.1 Mẫu danh sách học sinh phụ đạo 39
Bảng 2.2 Qui định tính điểm tích lũy thi đua 41
Bảng 2.3 Qui ước xếp loại điểm trung bình về học tập (Bộ GDĐT) 41
Bảng 3.1 Các cặp lớp TN – ĐC 92
Bảng 3.2 Bảng phân phối kết quả các bài kiểm tra 95
Bảng 3.3 Bảng tổng hợp điểm các bài kiểm tra 95
Bảng 3.4 Số % HS đạt điểm Xi 96
Bảng 3.5 Số % HS đạt điểm Xi trở xuống 96
Bảng 3.6 Số % HS đạt điểm yếu kém, trung bình, khá và giỏi 96
Bảng 3.7 Giá trị các tham số đặc trưng 99
Trang 36
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 97
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 97
Hình 3.3 Phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 1 98
Hình 3.3 Phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 2 98
Trang 47
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Bảng các từ viết tắt ii
Danh mục các bảng biểu iii
Danh mục các đồ thị, hình vẽ iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH YẾU KÉM 5
1.1 Lich sử nghiên cứu 5
1.2 Quá trình dạy học Hóa học ở trường trung học phổ thông 5
1.2.1 Khái niệm quá trình dạy học 5
1.2.2 Cấu trúc của quá trình dạy học 6
1.2.3 Bản chất của quá trình dạy học 8
1.3 Phương pháp dạy học 10
1.3.1 Khái niệm 10
1.3.2 Những đặc trưng của phương pháp dạy học hóa học 11
1.3.3 Phân loại các phương pháp dạy học 11
1.4 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay 12
1.4.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 12
1.4.2 Dạy học theo hướng “Tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học” 15
1.5 Học sinh yếu kém 16
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng của học sinh yếu kém 16
1.5.2 Chỉ số IQ và mối quan hệ với khả năng học tập của học sinh 17
1.5.3 Thực trạng học sinh yếu kém trong quá trình học tập môn hóa học 19
1.5.4 Biểu hiện của học sinh yếu kém 20
1.5.5 Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của học sinh trong học tập môn hóa học lớp 10 trung học phổ thông 21
Tiểu kết chương 1 26
Trang 58
Chương 2: NÂNG CAO KHẢ NĂNG HỌC TẬP CHO HỌC SINH YẾU KÉM TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC CHƯƠNG 2 VÀ 4 LỚP 10
CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 27
2.1 Cấu trúc chương 2 “Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn” 27
2.1.1 Vị trí và mục tiêu chung của chương 27
2.1.2 Cấu trúc nội dung 27
2.1.3 Một số điểm chú ý trong giảng dạy chương 2 29
2.2 Cấu trúc chương 4 “Phản ứng oxi hóa – khử” 30
2.2.1 Vị trí và mục tiêu chung của chương 30
2.2.2 Cấu trúc nội dung 31
2.2.3 Một số điểm chú ý trong giảng dạy chương 4 32
2.3 Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu kém trong quá trình dạy học Hóa học lớp 10 trung học phổ thông 33
2.3.1 Cơ sở xây dựng biện pháp 33
2.3.2 Các biện pháp 33
2.4 Thiết kế một số bài giảng theo nhằm nâng cao khả năng học tập của học sinh yếu kém 55
2.4.1 Bài giảng chương 2 55
2.4.2 Bài giảng chương 4 65
2.5 Hệ thống bài tập chương 2 và 4 72
2.5.1 Hệ thống bài tập chương 2 72
2.5.2 Hệ thống bài tập chương 4 82
Tiểu kết chương 2 91
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 92
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư pham 92
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 92
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 92
3.2 Đối tượng và tiến trình thực nghiệm sư phạm 92
Trang 69
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 92
3.2.2 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 92
3.3 Kết quả thực nghiệm 93
3.3.1 Phân tích kết quả định lượng 93
3.3.2 Phân tích kết quả định tính 99
3.3.3 Đánh giá chung 99
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
1 Kết luận 102
2 Khuyến nghị 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 107
Trang 7Trong luật giáo dục Việt Nam, phần mục tiêu giáo dục phổ thông ghi rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Sự thành công của việc dạy học phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp dạy học được giáo viên lựa chọn Cùng một nội dung nhưng tuỳ thuộc vào phương pháp dạy học cụ thể trong dạy học thì kết quả sẽ khác nhau về mức độ lĩnh hội các tri thức, sự phát triển của trí tuệ cùng các kĩ năng tư duy, phương pháp nhận thức, giáo dục đạo đức và sự chuyển biến thái độ hành vi Trong quá trình giảng dạy ở trường phổ thông nhiệm vụ phát triển năng lực học tập cho học sinh là nhiệm vụ rất quan trọng, đòi hỏi tiến hành đồng bộ ở tất cả các môn, trong đó Hóa học là môn khoa học thực nghiệm đề cập đến rất nhiều vấn đề khoa học sẽ góp phần rèn luyện tư duy cho học sinh ở nhiều góc độ
Thực tế giáo dục trong nhiều năm cho thấy việc dạy học ở trường trung học phổ thông hiện nay tuy đã có nhiều cải tiến Song, việc dạy học phân hóa, phân loại để bổ sung thêm kiến thức bị “hổng” cho học sinh yếu kém vẫn chưa được thực hiện một cách thường xuyên làm cho các em mất tự tin trong học tập Do
đó, không tạo được động lực bên trong thúc đẩy bản thân họ hoạt động, làm hạn chế tính tự giác, tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, giáo viên không chỉ dạy cho học sinh cách tiếp thu tri thức mà còn phải rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng các kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng thực tiễn Chương trình Hóa học phổ thông bao gồm hệ thống các kiến thức cơ bản về chất và hệ thống kiến thức cơ bản
Trang 811
về phản ứng hóa học Các kiến thức này được lựa chọn phù hợp với những mục đích dạy học và những nguyên tắc cấu tạo chương trình Hóa học trường phổ thông
Ở cấp trung học cơ sở các em đã được làm quen với môn Hóa học từ lớp 8 Nhưng
do đặc thù của cấp học này các em chỉ chú trọng hai môn học Toán và Văn, nên bắt đầu chuyển sang cấp THPT kiến thức về môn Hóa học ở cấp THCS hầu như quên hoàn toàn hoặc mất căn bản
Lớp 10 là lớp đầu cấp THPT nên việc lấp “lỗ hổng” kiến thức về môn Hóa học đối với học sinh là rất cần thiết Giúp học sinh có được một nền tảng kiến thức vững chắc, tạo hứng thú say mê với nội dung môn học và có sự nhận thức đúng đắn về môn học Từ đó giúp các em có nền tảng kiến thức để học tập tiếp lên các lớp trên
và bước vào cuộc sống một cách tự tin Đó chính là lí do tôi chọn đề tài: “Nâng cao khả năng học tập cho học sinh yếu kém trong dạy học Hóa học chương 2 và 4 lớp
10 chương trình cơ bản – trung học phổ thông”
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu kém, từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu kém góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học
3 Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Hóa học ở trường trung học phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp nâng cao khả năng học tập cho học sinh yếu kém trong dạy học
môn Hóa học lớp 10 chương trình cơ bản
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung kiến thức chương 2 và 4 hóa học lớp 10
chương trình cơ bản THPT:
+ Chương 2: Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn
+ Chương 4: Phản ứng oxi hóa – khử
Địa điểm tại 3 trường trung học phổ thông huyện Tiên Du – Bắc Ninh (Tiên
Du 1, Nguyễn Đăng Đạo, Lý Thường Kiệt)
Trang 912
4 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học, giáo viên xác định đúng nguyên nhân yếu kém của học sinh và sử dụng các biện pháp tích cực, phù hợp với từng đối tượng sẽ kích thích hoạt động học tập của học sinh Học sinh sẽ tích cực, chủ động trong học tập, việc dạy và học sẽ thực sự mang lại hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu chương trình, nội dung kiến thức và kĩ năng 2 chương:
Chương 2: Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn
Chương 4: Phản ứng oxi hóa – khử
Lớp 10 chương trình cơ bản trung học phổ thông
- Tìm hiểu thực tiễn dạy học Hóa học lớp 10 hiện nay, đặc biệt về tình trạng yếu kém môn Hóa học của học sinh
- Phát hiện những biểu hiện của học sinh yếu kém và những nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém đó
- Từ cơ sở trên, đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao khả năng học tập cho học sinh yếu kém môn Hóa học lớp 10 trung học phổ thông
- Thực nghiệm sư phạm để bước đầu khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã xây dựng
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu chương trình hóa học lớp 10
- Truy cập thông tin trên internet
- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu liên quan
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực trạng dạy, học của học sinh yếu hóa học lớp 10
- Phương pháp chuyên gia: trao đổi, rút kinh nghiệm với các thầy cô, bạn bè
- Thực nghiệm sư phạm
6.3 Các phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các kiến thức và phương pháp của thống kê toán học, các phương pháp nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng và các phần mềm tin học để xử lí, phân tích và đánh giá các kết quả thực nghiệm sư phạm
Trang 1013
7 Đóng góp mới của đề tài
+ Đề xuất ra 9 biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém trong dạy học hóa học
chương 2 và 4 lớp 10 trung học phổ thông:
- Chương 2: Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và đinh luật tuần hoàn
- Chương 4: Phản ứng oxi hóa – khử
+ Tập hợp hệ thống bài tập của chương 2 và chương 4 hóa học lớp 10 chương trình cơ bản
+ Xây dựng một số giáo án theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh yếu kém
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về nâng cao khả năng học tập môn Hóa học cho học sinh yếu kém
Chương 2: Nâng cao khả năng học tập cho học sinh yếu kém trong dạy học hóa học chương 2 và 4 lớp 10 chương trình cơ bản – trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 1114
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG HỌC
TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH YẾU KÉM 1.1 Lich sử nghiên cứu
Trong những năm qua, chất lượng giáo dục của nước ta đã có những bước tiến mới, ngày càng vững chắc, thành tích học sinh giỏi của HS liên tục đạt thành tích cao Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận HS hàng năm đang bị xếp loại yếu kém chưa được quan tâm giúp đỡ Đây là vấn đề băn khoăn lớn của ngành giáo dục
Trên các diễn đàn giáo dục như: “diễn đàn giáo dục Việt Nam”, “diễn đàn giáo dục Lâm Đồng”,… nóng hổi với các trăn trở về tình trạng học sinh yếu kém như: “Một số giải pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu”, “Giảng dạy giúp đỡ học sinh yếu kém như thế nào?”…
“Nghiên cứu về học sinh yếu kém” trong DH hóa học cho đến nay cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu như đề tài
Tác giả Trịnh Văn Thịnh (2005) Những biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém đạt được yêu cầu và có kết quả cao hơn trong học tập môn hóa học ở các trường THPT các tính miền núi phía Bắc, luận văn thạc sĩ – trường ĐHSP Hà
1.2 Quá trình dạy học Hóa học ở trường trung học phổ thông [7],[23]
1.2.1 Khái niệm quá trình dạy học
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm quá trình dạy học:
Trang 1215
Quan điểm của Vưgotxky L.X (1896 – 1934) và nhiều nhà giáo dục đương
thời “dạy học là quá trình tương tác giữa hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS” Trong quá trình tương tác đó, GV là chủ thể của hoạt động dạy,
HS là chủ thể của hoạt động học
Tác giả Nguyễn Xuân Trường “Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn bao gồm nội dung dạy học, việc dạy và việc học” [ 32 tr 15]
Việc dạy: Đó là toàn bộ hoạt động vủa người thầy trong quá trình dạy học
nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức và kĩ năng, trên cơ sở đó phát triển ở họ những năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, chủ nghĩa khoa học vô thần và tình cảm thái độ
Việc học: Đó là hoạt động của trò dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm nắm vững
kiến thức, kĩ năng phát triển những năng lực nhận thức, hình thành quan điểm duy vật biện chứng, đạo đức, nhân cách Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại Trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người mình, bằng các thu nhận, xử lí thông tin lấy từ môi trường sống xung quanh mình
Trong quá trình dạy học, GV thực hiện hoạt động dạy, HS thực hiện hoạt động học Hai hoạt động dạy – học được tiến hành phối hợp, tương tác với nhau Mục đích cuối cùng của hoạt động này nhằm bồi dưỡng cho HS hệ thống tri thức, hiểu biết về mọi vấn đề diễn ra trong cuộc sống, hệ thống kỹ năng sống (kỹ năng hoạt động trí và lực) để thông qua đó hình thành cho HS quan điểm và thái
độ đúng đắn đối với bản thân, đối với cuộc sống
Vậy QTDH, về bản chất là quá trình nhận thức đặc biệt của HS do GV tổ chức, điều khiển nhằm chiếm lĩnh nội dung học vấn phổ thông Nói cách khác, dạy học là quá trinh nhận thức độc đáo của HS dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ dạy học
1.2.2 Cấu trúc của quá trình dạy học [7], [23]
Cấu trúc của quá trình dạy học là cấu trúc hệ thống Cấu trúc của quá trình dạy học bao gồm một hệ thống các thành tố vận động và phát triển trong mối quan hệ biện chứng với nhau
Trang 1316
Theo cách tiếp cận truyền thống, các thành tố cơ bản trong cấu trúc của quá trình dạy học bao gồm: đối tượng của quá trình dạy học, chủ thể của quá trình dạy học, mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học, môi trường dạy học (môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kĩ thuật…)
+ Mục đích dạy học: Là nhân tố giữ vị trí hàng đầu trong quá trình dạy học
Mục đích dạy học có chức năng định hướng cho sự vận động và phát triển của từng thành tố nói riêng và quá trình dạy học nói chung Mục đích dạy học được
cụ thể hóa trong các nhiệm vụ dạy học, môi trường dạy học
+ Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS: Trong quá trình dạy
học GV với hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động học tập của người học, đảm bảo cho người học thực hiện đầy đủ và có chất lượng những yêu cầu đã được quy định bởi mục đích và nhiệm vụ dạy học Trong quá trình dạy học, người học vừa là khách thể (của quá trình dạy học), vừa
là chủ thể tích cực, sáng tạo của hoạt động học tập Thầy và trò cũng như hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
+ Nội dung dạy học: Bao gồm hệ thống những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà
người học phải nắm vững trong QTDH và các hoạt động do GV tổ chức Nội dung dạy học chịu sự chi phối bới mục đích, nhiệm vụ dạy học đồng thời nó lại qui định việc lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học
+ Phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học được sử dụng trong QTDH: là hệ thống những cách thức và phương tiện hoạt động phối hợp
của người dạy và người học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học
+ Kết quả dạy học: Phản ánh sự vận động, phát triển của QTDH Kết quả
dạy học thể hiện tập trung ở kết quả HS đạt được trong quá trình học tập
+ Môi trường dạy học: Bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
Trong đó môi trường xã hội đóng vai trò quyết định
Theo lí thuyết phát triển: Quá trình dạy học chịu sự tác động và ảnh hưởng qua lại của yếu tố môi trường kinh tế và xã hội Các thành tố của quá trình dạy
Trang 1417
học ảnh hưởng tới nhau trong một thể thống nhất, các thành tố bình đẳng với nhau, chúng liên hệ với nhau theo sơ đồ sau:
1.2.3 Bản chất của quá trình dạy học [7], [23], [29]
1.2.3.1 Cơ sở xác định bản chất của quá trình dạy học
Dựa vào hai mối quan hệ cơ bản để xác định bản chất của quá trình dạy học:
+ Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức có tính chất lịch sử xã hội loài người (thể hiện ở các hoạt động nghiên cứu của các nhà khoa học) với hoạt động dạy học
Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội thì hoạt động nhận thức có trước, hoạt động dạy học có sau Hoạt động học tập của HS chính là hoạt động nhận thức trong môi trường dạy học (môi trường sư phạm)
+ Mối quan hệ giữa dạy và học, giữa GV và HS
công nghệ
nghệ
Văn hóa
Xã hội
Trang 151.2.3.2 Bản chất của quá trình dạy học
Từ hai cơ sở trên có thể nói bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc đáo của HS (hay bản chất của QTDH là quá trình nhận thức của HS dưới sự
hướng dẫn của GV)
+ Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức của HS: Nhận thức là sự
phản ánh thế giới khách quan vào não người – đó là sự phản ánh tâm lý của con người bắt đầu từ cảm giác đến tư duy, tưởng tượng Sự học tập của HS cũng là quá trình như vậy Đó là sự phản ánh đi trước có tính chất cải tạo mà mức độ cao nhất là sự sáng tạo Sự phản ánh đó bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của mỗi người và đó là sự phản ánh tích cực của mỗi chủ thể
Quá trình học tập của HS cũng diễn ra theo công thức của V I Lenin về quá trình nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”
+ Quá trình nhận thức của HS là quá trình nhận thức mang tính độc đáo:
Thể hiện ở chỗ, mặc dù cũng là quá trình nhận thức, nhưng sự nhận thức của HS lại nằm trong môi trường sư phạm với sự điều khiển của GV Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa hoạt động nhận thức của HS với hoạt động nhận thức có tính lịch sử của con người Từ đó, muốn giúp HS nhận thức tốt tài liệu học tập thì GV cần phải biết điều khiển mối quan hệ giữa hoạt động chủ đạo của
GV và hoạt động chủ động, tích cực của HS và điều khiển các mối quan hệ diễn
ra trong QTDH Dạy học phải làm sao để tạo nên môi trường sư phạm tốt nhất cho HS học tập và phấn đấu
Trang 16Theo Bách khoa toàn thư của Liên Xô năm 1965: “PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiếm thức kĩ năng, kỹ xảo một cách tự giác, tích cực tự lực, phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan duy vật khoa học…”
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1970): “PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học”
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt (1971): “PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học”
Nhìn chung, lí luận về PPDH đã được hình thành, phát triển và hoàn thiện trên cơ sở kế thừa có phân tích, chọn lọc những thành tựu về tâm lí học sư phạm, giáo dục học đại cương và lí luận dạy học nói riêng Đặc biệt là những quan điểm hiện đại có liên quan với xu hướng tối ưu hóa quá trình dạy học như: tích cực hóa, cá biệt hóa, công nghệ hóa và tương ứng với các xu hướng đó là một hệ thống các PPDH tích cực như DH tình huống, DH theo nhóm…
PPDH có tác dụng trong thực hiện mục tiêu, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài PPDH là phương tiện, là con đường, là cách thức hoạt động chung của cả người dạy và người học, nhằm trang bị tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và phát triển trí tuệ cho HS Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và các phẩm chất nhân cách cho các em
Trang 1720
Vậy, PPDH là cách thức hoạt động của thấy và trò trong mối liên hệ qua lại, thầy giữ vai trò chủ đạo, điều khiển, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức các hoạt động học tập của trò một cách tích cực, chủ động nhằm đạt các mục tiêu dạy học
đề ra
1.3.2 Những đặc trưng của phương pháp dạy học hóa học
Trong “Lý luận dạy học hóa học” tác giả Nguyễn Ngọc Quang đưa ra hai đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học hóa học:
Những đặc trưng của phương pháp nhận thức hóa học phải được phản ánh vào trong phương pháp dạy học Đó là phương pháp học tập có lập luận trên cơ
sở thực nghiệm – trực quan, có nghĩa là phải kết hợp thống nhất phương pháp thực nghiệm với tư duy khái niệm
Tâm lý lĩnh hội khái niệm hóa học cũng nẩy sinh ra những đặc thù của việc dạy hóa học Đối tượng của hóa học là chất cấu tạo bới phân tử, nguyên tử, ion…đều là những phân tử vi mô, tương ứng với những khái niệm trừu tượng mà học sinh cần được lĩnh hội, trong dạy học hóa học dùng mô hình cụ thể có kích thước vĩ mô để diễn tả cấu tạo phân tử các chất và cơ chế phản ứng hóa học của thế giới vi mô
1.3.3 Phân loại các phương pháp dạy học
Các PPDH rất phong phú, đa dạng có tới hàng trăm PPDH đã được mô tả
Do đó việc phân loại các PPDH có nhiều cách khác nhau Dưới đây chúng tôi đã tổng hợp một số cách phân loại tiêu biểu sau:
Dựa vào mục đích lí luận dạy học, chia các PPDH thành các nhóm: Nhóm
PPDH khi nghiên cứu tài liệu mới, nhóm PPDH khi củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, nhóm PPDH khi kiểm tra, đánh giá, và uốn nắn kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
Dựa vào phương tiện truyền thông tin, chia PPDH thành 3 nhóm lớn: PP
dùng lời, PP trực quan, PP thực hành
Dựa vào đặc trưng hoạt động nhận thức của học sinh, chia PPDH thành 5
nhóm: Giải thích – minh họa, tái hiện, trình bày nêu vấn đề, tìm tòi từng phần, nghiên cứu
Trang 1821
PPDH truyền thống và những PPDH phức hợp:
PPDH truyền thống: là những PP được dùng phổ biến và rộng rãi, đó là các
PP: thuyết trình, đàm thoại, PP nghiên cứu, PP thí nghiệm…
Các PPDH phức hợp: là sự phối hợp của một số PP và phương tiện dạy
học, trong đó có một yếu tố giữ vai trò nòng cốt trung tâm, liên kết các yếu tố khác còn lại thành một hệ thống nhất về phương pháp, nhằm tạo ra hiệu ứng tích hợp và cộng hưởng về PP của toàn hệ thống, nâng cao chất lượng lĩnh hội lên nhiều lần
Một số PPDH phức hợp quan trọng là: DH nêu vấn đề - ơrixtic (dạy học đặt
và giải quyết vấn đề), dạy học chương trình hóa, phương pháp grap dạy học, phương pháp algorit dạy học, dạy học với công cụ máy tính điện tử
1.4 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay [7]
1.4.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
1.4.1.1 Đổi mới cách thiết kế và chuẩn bị bài học
Đổi mới PPDH cần bắt đầu từ việc đổi mới về thiết kế và chuẩn bị bài dạy học
Thiết kế bài dạy học (soạn giáo án) cần xác định các mục tiêu dạy học: Về kiến thức, kỹ năng một cách rõ ràng, có thể đạt được và có thể kiểm tra, đánh giá được
Xác định nội dung dạy học: Không chỉ chú ý đến các kiến thức kỹ năng chuyên môn mà cần chú ý những nội dung có thể phát triển các năng lực hành động khác như: năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể
Xác định PPDH: Cần được lập luận trên cơ sở mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình dạy học, đặc biệt là mối quan hệ mục đích – nội dung PPDH Trong việc thiết kế PPDH cần bắt đầu từ bình diện vĩ mô: xác định các quan điểm, hình thức tổ chức dạy học phù hợp Từ đó xác định các PPDH cụ thể và thiết kế hoạt động của GV và HS theo trình tự các tình huống dạy học nhỏ ở bình diện vi mô
Sử dụng công nghệ thông tin: sử dụng phần mền trình diễn PowerPoint là một phương hướng cải tiến việc thiết kế bài dạy cũng như hoạt động dạy học
Trang 1922
Tuy nhiên giáo án điện tử không phải là tất cả của việc đổi mới PPDH
1.4.1.2 Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống và kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học tích cực
a Cải tiến các PPDH truyền thống
Các PPDH truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập luôn là những PP quan trọng trong dạy học Đổi mới PPDH không có nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng
Để nâng cao hiệu quả của PPDH, người GV trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kĩ thuật của từng phương pháp trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp như: kĩ thuật mở bài, kĩ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kĩ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập
Tuy nhiên, các PPDH truyền thống có những mặt hạn chế tất yếu Vì vậy, bên cạnh các PPDH truyền thống cần kết hợp sử dụng các PPDH mới, đặc biệt là những phương pháp kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS
Có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của HS trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề
b Tích hợp phương pháp dạy học [8]
Không có một PPDH toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung dạy học Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhược điểm và giới hạn sử dụng riêng Vì vậy, việc tích hợp các PP và hình thức dạy học trong toàn
bộ QTDH là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học
Dạy học trên lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm
Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông hiện nay, nhiều GV đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của GV với hình thức làm việc
Trang 2023
nhóm, góp phần tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp Mặt khác, việc bổ sung dạy học trên lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học chỉ mới cho thấy rõ việc tích cực hóa “bên ngoài” của HS Muốn đảm bảo việc tích cực hóa “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong của PPDH, vận dụng dạy học GQVĐ và các PPDH tích cực khác
1.4.1.3 Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học và công nghệ thông tin vào dạy học [13], [17], [27]
Phương tiện dạy học (PTDH) có vai trò quan trọng trong việc đổi mới PPDH, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học Việc sử dụng các PTDH cần phù hợp với mối quan hệ giữa PTDH và PPDH, việc trang bị các PTDH mới cho các trường học cần được tăng cường
Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là PTDH trong dạy học hiện đại Đa phương tiện và công nghệ thông tin có nhiều khả năng ứng dụng trong dạy học Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E –Learning) Phương tiện dạy học mới cũng hỗ trợ việc tìm ra và sử dụng các phương pháp dạy học mới Webquest là một ví dụ về phương pháp dạy học mới với phương tiện mới là dạy học sử dụng mạng điện tử, trong đó HS khám phá tri thức trên mạng một cách có định hướng
1.4.1.4 Cải tiến việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học [6], [26]
Đổi mới PPDH cần gắn liền với đổi mới về đánh giá QTDH cũng như đổi mới việc kiểm tra và đánh giá thành tích học tập của HS Trong quá trình đánh giá thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả mà chú ý cả quá trình học tập Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp
Trang 2124
Khi xây dựng các bài tập cũng như các bài kiểm tra theo quan điểm phát triển năng lực người ta chia thành 3 mức độ chính như sau:
+ Tái hiện: Trọng tâm là tái hiện, nhận biết các tri thức đã học
+ Vận dụng: Trọng tâm là việc ứng dụng tri thức đã học để giải quyết các nhiệm vụ trong những tình huống khác nhau: phân tích, tổng hợp, so sánh…để xác định các mối quan hệ của các đối tượng
+ Đánh giá: Trọng tâm là vận dụng tri thức, kỹ năng đã học để giải quyết các nhiệm vụ phức hợp, giải quyết các vấn đề, đánh giá các phương án khác nhau và quyết định, đánh giá các giá trị
Ngoài ra cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau: kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết và bài tập thực hành, kết hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Hiện nay ở Việt Nam có xu hướng chọn hình thức trắc nghiệm khách quan cho các kì thi tốt nghiệp hay thi tuyển đại học Trắc nghiệm khách quan có những ưu điểm riêng cho các kì thi này Tuy nhiên trong đào tạo thì không được lạm dụng hình thức này Vì nhược điểm cơ bản của trắc nghiệm khách quan là khó đánh giá được khả năng sáng tạo cũng như năng lực giải quyết vấn đề phức hợp
Có rất nhiều phương hướng đổi mới PPDH với những cách tiếp cận khác nhau Việc đổi mới PPDH đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ
sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện tổ chức quản lý Ngoài ra, PPDH còn mang tính chủ quan Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của bản thân mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến PPDH và kinh nghiệm của cá nhân
1.4.2 Dạy học theo hướng “Tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học” [19]
Tích cực hóa là một hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học
từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập
Trang 2225
Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh là một trong những nhiệm
vụ của giáo viên trong nhà trường và cũng là một trong những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Tuy không phải là vấn đề mới, nhưng trong xu hướng đổi mới dạy học hiện nay thì việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
là một vấn đề được đặc biệt quan tâm
Nhiều nhà nghiên cứu đã hướng tới việc tìm kiếm con đường tối ưu nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, nhiều công trình luận án tiến sĩ cũng đã và đang đề cập đến lĩnh vực này Tất cả đều hướng tới việc thay đổi vai trò người dạy và người học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học, đáp ứng yêu cầu dạy học trong giai đoạn phát triển mới Trong đó học sinh chuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích cực tham gia tìm kiếm kiến thức Giáo viên chuyển từ người truyền thông tin sang vai trò người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh tự khám phá kiến thức mới
Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh sẽ góp phần làm cho mối quan hệ giữa dạy và học, giữa GV và HS ngày càng trở lên gắn bó Tích cực hóa vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học, đồng thời nó góp phần rèn luyện cho HS những phẩm chất của người lao động mới: tự chủ, năng động, sáng tạo
1.5 Học sinh yếu kém
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng của học sinh yếu kém [14], [15]
+ Về nhận thức: các em rất hay quên, khối lượng ghi nhớ các thuộc tính và quá trình ghi nhớ đều có chỉ số thấp hơn so với tuổi Trí nhớ máy móc khá phát triển nên HS thường hay học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức
+ Tư duy: chỉ đạt ở mức trực quan – hình ảnh Kiến thức thu được dễ dàng nhất trên cơ sở vật thể cụ thể hoặc hình ảnh các sự vật Trình độ tư duy, vốn kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế
+ Khả năng suy nghĩ: học sinh lười suy nghĩ, còn phụ thuộc, trông chờ giáo viên giải giúp
+ Khả năng tính toán: yếu các kĩ năng tính toán cơ bản, vận dụng công thức tính toán kém linh hoạt
Trang 23+ Đặc điểm nổi bật là các em rất thích được khen nhưng lại rất hay nản chí khi gặp khó khăn và “phản ứng” ra mặt như không nhìn lên bảng, không nhìn vào bài để nghe giảng lại… Xu hướng của những học sinh này là thích lặp lại những gì đã biết, đã làm quen, hoặc những cái đã có khuôn mẫu sẵn…
1.5.2 Chỉ số IQ và mối quan hệ với khả năng học tập của học sinh
1.5.2.1 Chỉ số IQ [28]
Chỉ số thông minh, hay IQ (viết tắt của intelligence quotient trong tiếng
Anh), là một khái niệm được nhà khoa học người Anh Francis Galton đưa ra trong cuốn sách Hereditary Genius xuất bản vào cuối thế kỷ 19 Sau đó, nó được học trò của ông là J.Cattell và nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet phát triển bằng việc thảo ra những bài trắc nghiệm để kiểm tra năng lực trí tuệ của trẻ khi
đi học Binet nhận thấy rằng có mối liên hệ giữa khả năng học của một học sinh với kết quả bài trắc nghiệm của ông Sau đó không lâu, nhà tâm lý học người Mỹ Giáo sư Lewis Terman (Giảng viên trường đại học Standford) đã phát triển bài trắc nghiệm gồm những câu phức tạp hơn để dùng cho người trưởng thành và đặt tên là bài trắc nghiệm chỉ số thông minh Stanford-Binet
Ban đầu IQ được tính là thương số giữa tuổi trí tuệ và tuổi thực tế nhân với
100, tuy nhiên cách tích này nhanh chóng bộc lộ những khuyết điểm nên được phát triển thành các cách tính phổ biến theo độ lệch chuẩn 15, 16, 24 Trung bình chỉ số IQ trong một đời người hầu như không tăng hay giảm Tuy nhiên vẫn có một ít người trải qua những sự thay đổi rất lớn Ví dụ như trong một số tài liệu, một số chứng bệnh ảnh hưởng học tập có thể ảnh hưởng gây giảm chỉ số IQ rất lớn (Shaywitz, 1995)
Trang 241.5.2.2 Mối quan hệ IQ và khả năng học tập của học sinh
IQ đạt được tại điểm khởi một giai đoạn học tập có khả năng tiên đoán thành tích học tập Nói cách khác, IQ đạt được ở một độ tuổi nhất định có thể dự báo thành tích học ở độ tuổi sau (Venon, 1947, Mackintosh, Mácie-Taylor, 1986)
Chỉ số IQ thường được cho là có liên quan đến sự thành công trong học tập, trong công việc, trong xã hội Những nghiên cứu gần đây cho thấy có sự liên quan giữa IQ và sức khỏe, tuổi thọ (những người thông minh thường có nhiều kiến thức hơn trong việc chăm sóc bản thân) và cả số lượng từ mà người đó sử dụng
Những yêú tố có ảnh hưởng đến kết quả học tập và cũng là yêú tố phát huy năng lực trí tuệ đó là khả năng chú ý, ghi nhớ và tốc độ phản xạ Nếu một người
có chỉ số IQ cao cộng thêm khả năng chú ý, ghi nhớ tốt, tốc độ phản xạ nhanh thì mọi công việc đều trở thành đơn giản Điều này có nghĩa là năng lực trí tuệ có mối tương quan nhất định với các chỉ số sinh học (khả năng chú ý, trí nhớ, thời gian phản xạ cảm giác - vận động) Hơn nữa, trong cuộc sống mọi hoạt động của con người (từ việc ăn uống, đọc báo, xem phim cho đến việc học tập, lao động sản xuất ) đều phải có sự tập trung chú ý mới có được hiệu suất của công việc
Trang 25sự đa dạng trong việc thể hiện và lưu giữ kiến thức có thể góp phần vào mối quan hệ thuận lợi giữa kiến thức và IQ
1.5.3 Thực trạng học sinh yếu kém trong quá trình học tập môn hóa học
Kết quả học tập môn Hóa học năm 2011 – 2012 của học sinh lớp 10 tại 3 trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, cụ thể:
Trường THPT Lý Thường Kiệt: tỷ lệ HS yếu kém là 24,7 %
Trường THPT Nguyễn Đăng Đạo: tỷ lệ HS yếu kém là 21,3%
Trường THPT Tiên Du 1: Tỷ lệ HS yếu kém là 23,4%
Từ số liệu thu thập được, nhận thấy tỷ lệ HS yếu kém môn Hóa học lớp 10 còn cao (chiếm tỷ lệ trên 20 đến 25%)
Kết quả điều tra thăm dò ý kiến: với 424 phiếu hỏi được phát( trong đó có
80 phiếu hỏi của GV, 264 phiếu hỏi của HS và 80 phiếu hỏi của PHHS) của 3 trường THPT (THPT Lý Thường Kiệt, THPT Nguyễn Đăng Đạo, THPT Tiên
Du 1) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, các em tự nhận xét thì nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém là do:
HS mất căn bản từ lớp dưới
HS lười học
HS không có mục đích học tập
Bên cạnh đó là do phương pháp dạy của GV chưa phù hợp nên các
em chưa thực sự hứng thú, say mê trong học tập
Dưới đây là bảng kết quả điều tra thăm dò ý kiến của HS 3 trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Kết quả thu được như sau:
Trang 262 Em thường dành bao nhiêu thời
gian tự học môn hóa học
4 Theo em nguyên nhân nào dẫn đến
kết quả học tập yếu kém môn hóa
học? (Xếp theo thứ tự ưu tiên)
e Chưa có phương pháp học hiệu quả
f Không có tài liệu học phù hợp
1.5.4 Biểu hiện của học sinh yếu kém
1) Có nhiều lỗ hổng về kiến thức kĩ năng
2) Tiếp thu kiến thức chậm, không biết vận dụng kiến thức vào bài tập 3) Năng lực tư duy kém, thiếu linh hoạt
4) Chưa có phương pháp học tập đúng đắn
5) Diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, sử dụng ngôn ngữ Hóa học (kí hiệu, công thức, cách gọi tên…) lúng túng, nhiều chỗ lộn xộn
Trang 2730
6) Thờ ơ với giờ học trên lớp, thường xuyên không làm bài tập ở nhà
7) Bị điểm yếu kém…thường có tính tự ti hoặc bất cần
1.5.5 Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của học sinh trong học tập môn hóa học lớp 10 trung học phổ thông
1.5.5.1 Nguyên nhân chủ quan
Do yếu tố sức khỏe
Sức khỏe là vốn quí nhất trong cuộc sống của mỗi con người Có sức khỏe thì mỗi chúng ta mới có thể vượt qua tất cả mọi trở ngại trong cuộc sống để đi đến thành công Đối với học sinh thì sức khỏe lại càng quan trọng, muốn học tập tốt thì các em phải có đủ sức khỏe để đi học chuyên cần và tiếp thu kiến thức trên lớp học Nhưng thực tế, một số học sinh do sức khỏe quá yếu thường xuyên
ốm đau, phải nghỉ học nhiều nên các em không theo kịp được chương trình học, dẫn đến việc các em bị hổng kiến thức, lực học sút dần và cuối cùng là dẫn đến các em nằm trong diện học sinh yếu kém
Do sự rỗng kiến thức từ lớp dưới
Rỗng kiến thức là hiện tượng rất thường gặp của học sinh Những kiến thức lớp dưới là nền tảng cho lớp trên, không nắm được những kiến thức cơ bản đó các em không thể học tốt được ở lớp trên Thực tế học tập của học sinh hiện nay
là rất nhiều em bị hổng kiến thức, thậm chí trong đó có cả một bộ phận học sinh khá giỏi Đây là nguyên nhân chính và trực tiếp dẫn đến sự yếu kém
Lớp 10 là lớp chuyển cấp (từ cấp THCS lên cấp THPT), nên các em chỉ chú trọng học hai môn Toán và Văn Vì vậy, kiến thức về môn Hóa học ở cấp THCS các em nhớ rất ít, một số hầu như đã mất căn bản về môn học này Không có kiến thức căn bản các em sẽ cảm thấy ngại học, thậm chí là rất sợ học môn Hóa học Thêm vào đó, những kiến thức mới ngày càng nhiều và khó các em vẫn phải lĩnh hội mỗi ngày và đây là điều tất yếu dẫn đến sự yếu kém của học sinh Vấn
đề hổng kiến thức là nguyên nhân cần đặc biệt quan tâm
Do ý thức học tập của học sinh chưa tốt
Ý thức học tập cũng là yếu tố quyết định đến việc học tập của học sinh Học tập vẫn thường được học trò coi là một công việc nặng nề đối với các em
Trang 28sự lười biếng, tư tưởng ham chơi sẽ lấy mất hứng thú học tập của học sinh dẫn đến ngại không muốn học Việc học tập bị bỏ bê, những bài tập về nhà không được hoàn thành Những bài giảng trên lớp nhanh chóng bị lãng quên nếu về nhà các em không xem lại và làm bài tập, hoặc chỉ “học vẹt” để chống đối với giáo viên mà không hiểu gì
Lười suy nghĩ
Lối học truyền thống của học sinh là lối học thụ động, không sáng tạo Khi gặp vấn đề khó, học sinh (nhất là học sinh yếu kém) thường bỏ hoặc ỷ lại vào thầy cô và sách giải Không có sự chủ động trong học tập các em sẽ khó khăn khi phải tiếp thu một vấn đề mới, những bài tập mới Các em dần mất đi khả năng sáng tạo (một nhân tố quan trọng cho học tập và công việc của các em sau này) Không có sự suy nghĩ, khi nghe thầy cô chữa bài, các em vẫn có thể hiểu được ngay lúc đó nhưng sẽ rất nhanh quên, một thời gian sau khi cho lại bài tập tương tự như vậy các em lại không thể làm lại được, các em sẽ không thể biết mình hay mắc sai lầm ở đâu, việc học sẽ trở thành học vẹt
Không tự tin trong học tập
Sự thiếu tự tin trong học tập và lao động cũng trở thành các tác nhân dẫn đến sự yếu kém Nó trở thành vật cản giữa các em với những người xung quanh
Có thể các em giải được một bài tập nhưng do không tự tin vào bản thân, các em không dám trình bày bài của mình trước lớp, hay những phần bài giảng các em
Trang 291.5.5.2 Nguyên nhân khách quan
Những điều kiện ngoại cảnh rất dễ làm ảnh hưởng đến tâm lý của lứa tuổi học sinh Chỉ một tác động nhỏ cũng làm cho các em có thay đổi lớn Những thay đổi đó cũng gây nên sự xáo trộn lớn trong học tập của học sinh Mới lên lớp
10, môi trường học tập thay đổi, các em phải từng bước thích nghi với những thay đổi đó Những nguyên nhân khách quan do thầy cô, bạn bè, gia đình và xã hội có tác động không nhỏ tới việc học tập của các em
Do giáo viên và nhà trường
Do giáo viên
Giáo viên là người trực tiếp giảng dạy cho học sinh, truyền đạt cho học sinh
có kiến thức mới, giúp đỡ học sinh có phương pháp học tập tốt Vì vậy kiến thức chuyên môn và phương pháp sư phạm của giáo viên có ảnh hưởng lớn đến chất lượng học tập của học sinh Trong giai đoạn hiện nay, con đường mà học sinh THPT tiếp thu kiến thức vẫn là từ giáo viên Giáo viên trở thành nhân tố quyết định thứ hai (sau bản thân mỗi học sinh) đến việc học tập của học sinh Tiêu chí đánh giá khả năng của giáo viên chủ yếu là việc đánh giá học sinh của họ Một người thầy giỏi không chỉ là người có nhiều kiến thức mà là người có thể mang lại cho học trò của mình những kiến thức nhiều nhất một cách dễ hiểu nhất, giúp
Trang 30cơ hội để lười học hơn Hơn nữa, lượng kiến thức mà những thầy cô phải truyền đạt khá nhiều so với thời gian đứng lớp đòi hỏi tốc độ giảng bài của họ phải khá nhanh, và điều đó gây rất nhiều khó khăn cho học trò
Đa số giáo viên đều tận tụy với công tác giảng dạy, chăm chút học sinh nhưng cũng có trường hợp chỉ thành công trong đối tượng là học sinh khá trở lên, còn đối với học sinh yếu kém thì chưa hiệu quả, hoặc ngược lại Trong quá trình dạy học còn mắc phải
+ Hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt chưa logic, chưa phù hợp cho từng đối tượng, có những tiết giáo viên còn nói lan man, ngoài lề chưa khắc sâu kiến thức trọng tâm
+ Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, thí nghiệm còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của đồ dùng dạy học Chưa nắm được các
kĩ thuật sử dụng thiết bị dạy học, đặc biệt là kĩ thuật thí nghiệm nên thường ngại
sử dụng thí nghiệm trong dạy học, đa phần các giáo viên vẫn còn hiện tượng dạy
+ Việc kiểm tra đánh giá trên lớp không được thường xuyên, ít kiểm tra miệng, hoặc kiểm tra chỉ mang tính hình thức nên chưa theo sát được học sinh + Chưa tổ chức được những buổi ngoại khóa về hóa học , tạo niềm say mê, yêu thích, hứng thú với môn học
Trang 3134
Do nhà trường
Nhà trường là nơi định hướng chỉ đạo chung cho mọi hoạt động của giáo viên và học sinh trong trường Mọi sự chỉ đạo của nhà trường đều có tác động đến học sinh và giáo viên Hiện nay, ở một số trường phổ thông, ban lãnh đạo nhà trường thường có sự quan tâm chưa đúng mức tới bộ phận học sinh yếu kém Hầu hết các nhà trường đều có lớp bồi dưỡng học sinh giỏi nhưng không phải trường nào cũng có lớp bổ túc học sinh yếu kém Không có sự chỉ đạo xát xao của nhà trường giáo viên sẽ không có phương án cụ thể Nhà trường mang tính chất chỉ đạo ở tầm vĩ mô Mọi ý kiến của ban giám hiệu sẽ có tác động đến toàn thể học sinh nói chung và học sinh yếu kém nói riêng
Do gia đình và môi trường học tập
Gia đình là nơi nuôi dưỡng, dạy dỗ, chăm sóc các em từ khi còn nhỏ Những tác động của phụ huynh đương nhiên gây ảnh hưởng tới con em mình Sự quan tâm không đúng mức của phụ huynh sẽ gây nên sự lơ là học tập của các
em Gia đình gây áp lực quá lớn hoặc chưa tạo điều kiện đúng mức cho con em mình học tập sẽ khiến các em cảm thấy bị áp lực nặng nề hoặc không có đính hướng trong học tập và gây đến yếu kém
Môi trường lớp học cũng phần nào ảnh hưởng tới việc học tập của học sinh Học trong một lớp toàn bạn học kém, phong trào thi đua học tập trong lớp không
cao sẽ khiến các em không có hứng thú học tập, không có ý chí vươn lên
Do nội dung chương trình và sách giáo khoa
Chương trình học quá ôm đồm nhiều thứ và nặng nề, thiếu thực hành, cung cấp kiến thức lí thuyết là chính, nhiều học sinh không theo kịp chương trình vì nặng kiến thức và nhiều môn Nội dung nhiều trong một tiết học nên giáo viên khó thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh vì sợ cháy giáo án
Trang 3235
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 chúng tôi đã nghiên cứu về cơ sở lí luận của đề tài về: quá trình dạy học, phương pháp dạy học, dạy học tích cực, định hướng đổi mới dạy học
Đã điều tra thực trạng vấn đề HS yếu kém ở 3 trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (THPT Lý Thường Kiệt, THPT Nguyễn Đăng Đạo, THPT Tiên
Du 1) Trên cơ sở thực trạng chúng tôi đã chỉ ra những biểu hiện yếu kém của của HS, và chúng tôi cũng phân tích những nguyên nhân dẫn đến việc HS đạt kết quả không cao trong học tập môn Hóa học
Đây chính là cơ sở để chúng tôi đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao khả năng học tập cho HS yếu kém được thể hiện ở chương 2
Trang 3336
CHƯƠNG 2 NÂNG CAO KHẢ NĂNG HỌC TẬP CHO HỌC SINH YẾU KÉM TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC CHƯƠNG 2 VÀ 4 LỚP 10
CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1 Cấu trúc chương 2 “Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn” [22]
2.1.1 Vị trí và mục tiêu chung của chương
2.1.1.1 Vị trí
Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn được nghiên cứu trong chương 2 hóa học lớp 10 THPT Định luật này nghiên cứu qui luật biến đổi tuần hoàn tính chất các nguyên tố, thành phần và tính chất các hợp chất của chúng theo chiều tăng của điện tích hạt nhân nguyên tử
2.1.1.2 Mục tiêu
a) Về kiến thức
+ Học sinh trình bày được
- Nguyên tắc xây dựng bảng tuần hoàn
- Cấu tạo bằng tuần hoàn: Ô nguyên tố, chu kì, nhóm
+ Học sinh phân tích được
- Mối quan hệ giữa cấu hình e nguyên tử của các nguyên tố hóa học với vị trí của chúng trong bảng tuần hoàn và tính chất của nguyên tố
- Qui luật biến đổi tính chất các nguyên tố và một số hợp chất của chúng theo chu kì, nhóm
b) Về kĩ năng
Học sinh rèn luyện tư duy logic
- Từ cấu tạo nguyên tử biết suy ra vị trí nguyên tố trong BTH và ngược lại
- Dự đoán tính chất của nguyên tố khi biết vị trí nguyên tố trong BTH
- So sánh tính chất của một nguyên tố với các nguyên tố lân cận
Trang 34+ Nội dung kiến thức theo chương trình chuẩn
Nội dung kiến thức trong chương ( 9 tiết: 7 tiết lí thuyết và 2 tiết luyện tập)
Bài 7: Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
Sơ lược về sự phát minh ra bảng tuần hoàn
Nguyên tắc sắp xếp các nguyên tố trong bảng tuần hoàn
Cấu tạo bảng tuần hoàn: ô nguyên tố, chu kì, nhóm nguyên tố
Bài 8: Sự biến đổi tuần hoàn cấu hình electron nguyên tử của các nguyên tố
hóa học
Sự biến đổi tuần hoàn cấu hình electron nguyên tử các nguyên tố
Cấu hình electron nguyên tử của các nguyên tố
Bài 9: Sự biến đổi tuần hoàn tính chất của các nguyên tố hóa học Định luật
tuần hoàn
Tính kim loại, tính phi kim, độ âm điện
Hóa trị của các nguyên tố
Oxit và hidroxit của các nguyên tố A
Định luật tuần hoàn
Bài 10: Ý nghĩa của bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
Quan hệ giữa vị trí và cấu tạo
Quan hệ giữa vị trí và tính chất
So sánh tính chất hóa học của một nguyên tố với các nguyên tố lân cận
Bài 11: Luyện tập chương 2
Trang 3538
2.1.3 Một số điểm chú ý trong giảng dạy chương 2
2.1.3.1 Về phương pháp giảng dạy
Cần hướng học sinh chú ý đến mối liên quan chặt chẽ giữa cấu tạo bảng tuần hoàn với cấu tạo nguyên tử các nguyên tố hóa học
- Khai thác triệt để kiến thức trong chương nguyên tử để xây dựng kiến thức mới như: Từ các dữ kiện về cấu tạo nguyên tử: điện tích hạt nhân, số lớp e, số e lớp ngoài cùng để rút ra nguyên tắc sắp xếp bẳng tuần hoàn, giải thích sự biến đổi tính chất các nguyên tố, mối quan hệ giữa vị trí nguyên tố trong bảng tuần hoàn với cấu tạo nguyên tử, tính chất các nguyên tố hóa học
- Sử dụng phương pháp thuyết trình nêu vấn đề, đàm thoại, tìm tòi để tổ chức các hoạt động học tập, nghiên cứu các nội dung cụ thể trong chương
- Tổ chức các hoạt động học tập theo nhóm cho học sinh như: viết cấu hình e các nguyên tố trong các nhóm, đọc nội dung trong sách và thảo luận rút ra các nhận xét…để phát huy được tính tích cực, chủ động hợp tác trong hoạt động nhận thức của học sinh
- Tăng cường hướng dẫn học sinh sử dụng bảng tư liệu, sách giáo khoa để biết cách tra cứu, nhận xét phát hiện các qui luật cần nghiên cứu, sự hợp lí và ý nghĩa sâu sắc của bảng tuần hoàn
2.1.3.2 Giảng dạy một số nội dung chính
a Nguyên tắc sắp xếp các nguyên tố
Giáo viên tổ chức cho HS viết cấu hình e của một số nguyên tố trong chu kì nhỏ nhóm A và yêu cầu nhận xét:
+ Điện tích các nguyên tố trong cùng một hàng ngang, cột dọc
+ Số lớp e, số e lớp ngoài cùng các nguyên tố trong cùng một hàng, một cột
Từ đó yêu cầu HS rút ra nguyên tắc xây dựng BTH các nguyên tố
b Cấu tạo bảng tuần hoàn các nguyên tố
Tổ chức cho HS quan sát, nhận xét các thông tin có trong một ô và nhấn mạnh:
+ Ô là đơn vị nhỏ nhất cấu tạo nên BTH các nguyên tố hóa học
Trang 3639
+ Trong ô có các thông tin không thể thiếu: kí hiệu hóa học, tên nguyên tố, điện tích hạt nhân, nguyên tử khối trung bình Những thông tin có thêm: cấu hình e, mạng tinh thể…
Khi tổ chức cho học sinh nghiên cứu các chu kì và yêu cầu HS nhận xét: + Số lượng các nguyên tố trong một chu kì với cấu hình e của chúng
+ Số lớp e các nguyên tố trong chu kì với số thứ tự của chu kì
Từ nhận xét đó GV bổ sung và kết luận về số lượng các nguyên tố trong các chu kì nhỏ (1, 2, 3), chu kì lớn (4, 5, 6), chu kì chưa đầy đủ (7), mối liên hệ giữa
số nguyên tố với số e trong các lớp của các nguyên tố trong chu kì và giới thiệu hai
họ nguyên tố Lantan, Actini ngoài bảng
Kiến thức về nhóm nguyên tố
Tổ chức cho HS quan sát bảng tuần hoàn, đọc sách giáo khoa để trả lời các câu hỏi: nhóm nguyên tố là gì? Các nhóm nguyên tố được chia thành mấy loại? Trong bảng tuần hoàn có bao nhiêu nhóm A, nhóm B? Đặc điểm cấu tạo nguyên tử của các nguyên tố nhóm A, nhóm B?
c Sự biến đổi tuần hoàn các cấu hình electron nguyên tử các nguyên tố hóa học
Tổ chức cho học sinh quan sát bảng cấu hình e lớp ngoài cùng của nguyên tử các nguyên tố nhóm A để rút ra qui luật biến đổi cấu hình e nguyên tử các nguyên
tố
+ Nguyên tử các nguyên tố trong một nhóm A có số e lớp ngoài cùng bằng nhau, bằng số thứ tự của nhóm Đây là nguyên nhân làm cho các nguyên tố trong nhóm có tính chất hóa học tương tự nhau
+ Sau mỗi chu kì cấu hình e lớp ngoài cùng của nguyên tử các nguyên tố nhóm
A biến đổi tuần hoàn (tăng từ 1 đến 8) Đây là nguyên nhân của sự biến đổi tuần hoàn tính chất các nguyên tố
Với cấu hình e của nguyên tử các nguyên tố nhóm B giáo viên có thể yêu cầu học sinh viết cấu hình của một số nguyên tố như Cr, Fe, Cu Từ đó nhận xét đặc điểm quá trình xây dựng lớp vỏ e của nguyên tử các nguyên tố nhóm B và các trường hợp ngoại lệ với phân lớp d gần bão hòa và bán bão hòa
2.2 Cấu trúc chương 4 “Phản ứng oxi hóa – khử” [22]
2.2.1 Vị trí và mục tiêu chung của chương
Trang 3740
2.2.1.1 Vị trí
Khái niệm phản ứng oxi hóa – khử được hình thành ở lớp 8 THCS và nghiên cứu với đúng bản chất trong chương 4 hóa học lớp 10 THPT Đó là có sự chuyển electron trong các chất oxi hóa và chất khử mà dấu hiệu nhận ra chúng bằng sự thay đổi số oxi hóa của một số nguyên tố trong phản ứng hóa học
2.2.1.2 Mục tiêu
a) Về kiến thức
+ Học sinh trình bày được:
- Khái niệm phản ứng oxi hóa khử, chất oxi hóa, chất khử, quá trình oxi hóa, quá trình khử, sự oxi hóa, sự khử
- Lập phương trình phản ứng oxi hóa khử bằng phương pháp thăng bằng electron
+ Học sinh nêu được:
- Cách xác định chất oxi hóa, chất khử, sự oxi hóa và sự khử
- Nguyên tắc chung và các bước cân bằng một phản ứng oxi hóa – khử theo phương pháp thăng bằng electron
- Cách phân loại phản ứng dựa vào số oxi hóa: phản ứng oxi hóa khử và không oxi hóa – khử
- Ý nghĩa của phản ứng oxi hóa – khử trong thực tiễn
b) Về kĩ năng
- Xác định thành thạo số oxi hóa của các nguyên tố hóa học
- Nhận biết được chất oxi hóa và chất khử, viết được các bán phương trình thể hiện sự oxi hóa và sự khử trong các phản ứng oxi hóa – khử cụ thể
- Rèn luyện kĩ năng lập phương trình hóa học của mọt số phản ứng oxi hóa khử, cân bằng phản ứng oxi hóa – khử theo phương pháp thăng bằng electron
- Phân biệt được phản ứng oxi hóa – khử và phản ứng không phải oxi hóa khử
c) Về giáo dục thái độ tình cảm
- Giáo dục cho học sinh lòng tin vào khoa học, tinh thần học tập nghiêm túc, chủ động và sáng tạo
- Ý thức vận dụng kiến thức học được vào cuộc sống
2.2.2 Cấu trúc nội dung
Trang 3841
+ Nội dung kiến thức theo chương trình chuẩn:
Nội dung kiến thức trong chương ( 6 tiết: 3 tiết lí thuyết, 2 tiết luyện tập và 1 tiết thực hành)
Bài 18: Phân loại phản ứng trong hóa học vô cơ
Phản ứng có sự thay đổi số oxi hóa và phản ứng không có
sự thay đổi số oxi hóa
Phân loại phản ứng
Bài 20: Bài thực hành số 2 Phản ứng oxi hóa – khử
Phản ứng giữa kim loại và dung dịch axit
Phản ứng giữa kim loại và dung dịch muối
Phản ứng oxi hóa – khử trong môi trường axit
2.2.3 Một số điểm chú ý trong giảng dạy chương 4
2.2.3.1 Hệ thống kiến thức
Kiến thức về phản ứng oxi hóa khử là trọng tâm của chương 4 lớp 10 THPT
Ở lớp 8 học sinh đã nắm được các định nghĩa chất khử, chất oxi hóa, sự khử, sự oxi hóa, phản ứng oxi hóa – khử dựa trên cơ sở nhường và thu oxi Vì thế, chương này cần làm cho học sinh hiểu được bản chất của chất khử, chất oxi hóa, sự khử, sự oxi hóa, phản ứng oxi hóa – khử dựa trên cơ sở những kiến thức về cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học Giáo viên cần giúp cho học sinh hiểu được nguyên tắc và vận dụng phương pháp thăng bằng electron để cân bằng các phản ứng oxi hóa – khử
Học sinh phải vận dụng thành thạo các kiến thức về phản ứng oxi hóa – khử
để phân biệt một số phản ứng hóa học có phải là oxi hóa – khử hay không? Từ đó nắm được cách phân loại phản ứng hóa học và sự thay đổi số oxi hóa
Bài 17: Phản ứng oxi hóa khử
Định nghĩa
Lập phương trình hóa học của phản ứng oxi hóa – khử
Ý nghĩa của phản ứng oxi hóa – khử trong thực tiễn
Bài 19: Luyện tập:
Phản ứng oxi hóa – khử
Trang 3942
2.2.3.2 Phương pháp giảng dạy
Các kiến thức của chương 4 được khai thác chủ yếu dựa trên nền tảng những kiến thức sẵn có của học sinh Kiến thức về cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, số oxi hóa được học sinh vận dụng để phân tích tìm ra bản chất của chất khử, chất oxi hóa, sự khử, sự oxi hóa, phản ứng oxi hóa khử sau đó tổng hợp và khái quát để hình thành kiến thức mới
Nên dùng nhiều dạng bài tập đa dạng, với mức độ từ dễ đến khó để học sinh xác định số oxi hóa, nắm vững các khái niệm, lập phương trình phản ứng oxi hóa – khử
Tăng cường các hoạt động theo nhóm, học sinh tự đánh giá kết quả học tập để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
2.3 Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu kém trong quá trình dạy học Hóa học lớp 10 trung học phổ thông [16], [20], [29]
2.3.1 Cơ sở xây dựng biện pháp
Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của HS yếu kém [xem mục 1.5.1 tr 16]
Dựa vào chuẩn kiến thức – kĩ năng của chương 2 và 4
Mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học
Khả năng học tập của học sinh
2.3.2 Các biện pháp
2.3.2.1 Biện pháp chung
Xây dựng môi trường học tập thân thiện
Môi trường học tập thân thiện là môi trường có chất lượng giáo dục toàn diện
và hiệu quả giáo dục không ngừng được nâng cao Các thầy, cô giáo phải thân thiện trong đánh giá kết quả rèn luyện học tập của học sinh, đánh giá công bằng, khách quan với lương tâm và trách nhiệm của nhà giáo Giáo viên trong quá trình dạy học phải thân thiện với mọi năng lực thực tế của mọi đối tượng học sinh, để các em tự tin bước vào cuộc sống
Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả cao Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình
Trang 4043
Tạo bầu không khí trong lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không đánh mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với học sinh, không để cho học sinh cảm thấy sợ giáo viên
mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình
Giáo viên phải là người đem lại cho học sinh những phản hồi tích cực Ví dụ như: nên thay chê bằng khen ngợi học sinh, tìm những việc làm mà các em đã hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em…
Trong môi trường học tập thân thiện đó, học sinh sẽ cảm nhận được sự thoải mái, hứng thú, chủ động tìm hiểu kiến thức dưới sự dìu dắt của giáo viên, gắn chặt giữa học và hành, biết thư giãn khoa học, rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập… trong đó yếu tố hết sức quan trọng là khả năng tự tìm hiểu, khám phá, sáng tạo
Giáo dục ý thức học tập cho học sinh (kết hợp nhà trường và gia đình)
Sự hình thành ý thức học tập của học sinh là quá trình tự nhận thức của bản thân thông qua hoạt động cá nhân cùng với sự tác động, tư vấn, hướng dẫn của gia đình, nhà trường và xã hội Việc tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức học tập tích cực cho học sinh là một trong những tiền đề quan trọng giúp học sinh có hứng thú trong học tập và rèn luyện Từ đó, phát huy tính năng động sáng tạo của học sinh trong suốt quá trình học tập rèn luyện ở nhà trường Trong mỗi tiết dạy giáo viên phải liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn Từ đây, học sinh sẽ ham thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức Bên cạnh đó phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ các em về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục các em về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, để cho các em thấy được tầm quan trọng của việc học
Để việc học của học sinh được nâng cao rất cần có sự quản lý của giáo viên và
sự hỗ trợ của gia đình, nhà trường
Giáo viên phải thường xuyên đôn đốc các em học tập và kiểm tra sự tiến bộ của các em Ngoài cách kiểm tra thường xuyên, có nhiều cách để giáo viên theo dõi, đánh giá lực học của học sinh như: quan sát hàng ngày, hỏi miệng, kiểm tra việc làm bài tập về nhà, yêu cầu HS trình bày một vấn đề trước lớp…Cần chú trọng việc