Thế nhưng, các công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục hiện nay cho thấy chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh không cao, đặc biệt việc phát huy tính tích cực của học sinh, năn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ DIẾN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY VÀ RÈN TRÍ THÔNG MINH
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THÔNG QUA BÀI TẬP HÓA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
Chuyên ngành: Lí Luận và Phương Pháp dạy học
Mã số: 15 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS – TS Nguyễn Xuân Trường
HÀ NỘI - 2008
Trang 2Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BÀI TẬP HÓA HỌC TƯ DUY VÀ TRÍ
THÔNG MINH
4
1.3 Quan hệ giữa bài tập hóa học và việc phát triển tư duy cho học sinh 12
Trang 31.5 Tình hình sử dụng bài tập hoá học để phát triển năng lực tư duy và rèn trí
thông minh cho học sinh hiện nay
15
Chương 2:CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY VÀ
RÈN TRÍ THÔNG MINH CHO HỌC SINH
17
2.1 Người học cần phải làm gì để phát triển tư duy và rèn trí thông minh khi
học môn hóa học
17
2.2 Những biện pháp phát triển năng lực tư duy và rèn trí thông minh cho học
sinh thông qua bài tập hóa học
18
Trang 4DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Chướng ngại nhận thức Công thức cấu tạo Công thức phân tử Dung dịch
Đối chứng Điều kiện tiêu chuẩn Giáo viên
Học sinh Quan sát Trung học phổ thông Thực nghiệm
Xúc tác Sách giáo khoa Sách bài tập
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ tri thức, kỹ năng của con người được xem là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội Trong xã hội tương lai, nền giáo dục phải đào tạo ra những con người có trí tuệ, thông minh
và sáng tạo Muốn có được điều này, ngay từ bây giờ nhà trường phổ thông phải trang bị đầy đủ cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và rèn luyện cho họ năng lực tư duy sáng tạo Thế nhưng, các công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục hiện nay cho thấy chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh không cao, đặc biệt việc phát huy tính tích cực của học sinh, năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề và khả năng
tự học không được chú ý rèn luyện đúng mức Từ thực tế đó, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là phải đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
Trong dạy học hóa học, có thể nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng lực nhận thức của học sinh bằng nhiều biện pháp và phương pháp khác nhau Giải bài tập hóa học với tư cách là một phương pháp dạy học có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục, rèn luyện và phát triển học sinh Mặt khác, cũng là thước đo trình độ nắm vững kiến thức và kỹ năng hóa học của học sinh
Vì vậy, cần phải nghiên cứu bài tập hóa học trên cơ sở hoạt động tư duy của học sinh, từ đó đề ra cách hướng dẫn học sinh tự lực giải bài tập, thông qua đó để tư
duy của họ phát triển Do đó, việc nghiên cứu đề tài: "Phát triển năng lực tư duy và
rèn trí thông minh cho học sinh trung học phổ thông qua bài tập hóa học" là rất cần
thiết
2 Lịch sử nghiên cứu
Việc nghiên cứu các vấn đề về bài tập hóa học từ trước đến nay đã có nhiều công trình của các tác giả ngoài nước như Apkin G.L, Xereda I.P nghiên cứu về phương pháp giải toán Ở trong nước có GS.TS Nguyễn Ngọc Quang
Trang 6nghiên cứu lý luận về bài toán; PGS TS Nguyễn Xuân Trường nghiên cứu về bài tập thực nghiệm định lượng; PGS.TS Lê Xuân Trọng, PGS.TS Đào Hữu Vinh, TS Cao Cự Giác và nhiều tác giả khác quan tâm đến nội dung và phương pháp giải toán Tuy nhiên xu hướng hiện nay của lý luận dạy học là đặc biệt chú trong đến hoạt động tư duy và vai trò của học sinh trong quá trình dạy học, đòi hỏi học sinh phải làm việc tích cực, tự lực Trong các công trình nghiên cứu trước đây, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống phương pháp luận làm cơ sở cho việc phát triển năng lực tư duy và rèn trí thông minh hóa học cho học sinh
3 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định những biện pháp có tính phương pháp luận và xây dựng hệ thống bài tập có nội dung có thể khai thác để phát triển năng lực tư duy và rèn trí thông minh cho học sinh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu hoạt động tư duy của học sinh (HS) trong quá trình giải bài tập hóa học (BTHH), từ đó hướng dẫn HS xây dựng tiến trình luận giải, làm cơ
sở cho việc tìm kiếm lời giải một cách có hiệu quả
- Điều tra cơ bản tình hình sử dụng BTHH ở phổ thông, nêu lên ưu điểm
và nhược điểm của việc sử dụng BTHH trong dạy học hoá học ở THPT hiện nay
- Xây dựng những biện pháp có tính phương pháp luận nhằm phát triển năng lực tư duy và rèn trí thông minh hóa học cho HS thông qua việc giải BTHH
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của những biện pháp có tính phương pháp luận và hệ thống bài tập đã xây dựng để phát triển năng lực
tư duy và rèn trí thông minh cho học sinh thông qua quá trình tìm kiếm lời giải Đối chiếu kết quả thực nghiệm với kết quả điều tra ban đầu, rút ra kết luận về khả năng áp dụng những biện pháp và hệ thống bài tập đã đề xuất
5 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy học hoá học ở trường phổ thông
- Đối tượng nghiên cứu : Hoạt động tư duy của HS trong quá trình tìm
Trang 7kiếm lời giải và hoạt động của giáo viên trong việc hướng dẫn HS giải bài tập
6 Phương pháp nghiên cứu
+ Nghiên cứu lí luận :
- Nghiên cứu lí luận về việc phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện tư duy và trí thông minh cho học sinh
- Nghiên cứu về tác dụng và cách sử dụng bài tập trong dạy học hoá học + Nghiên cứu thực tiễn :
- Điều tra thực trạng năng lực nhận thức và khả năng tư duy của HS trong quá trình giải bài tập hoá học
- Tình hình sử dụng bài tập của giáo viên trong dạy học hoá học ở THPT hiện nay
-Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của các biện pháp và hệ thống bài tập đã đề xuất
7 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu có hệ thống BTHH với nội dung kiến thức phong phú, sâu sắc và
GV biết khai thác triệt để các bài tập đó để rèn luyện tư duy cho HS ( tư duy độc lập, tư duy logic, tư duy trừu tượng, tư duy biện chứng, tư duy phê phán,
tư duy sáng tạo ) thì năng lực tư duy và trí thông minh của HS sẽ phát triển
8 Điểm mới của luận văn
+ Lần đầu tiên nghiên cứu sự phát triển năng lực tư duy và rèn trí thông minh cho học sinh thông qua quá trình đào tạo theo quan điểm tiếp cận hệ thống
+ Đề xuất một số biện pháp mang tính phương pháp luận nhằm phát triển năng lực tư duy, rèn trí thông minh cho HS thông qua BTHH dưới 3 góc
độ :
- Phẩm chất tư duy
- ''Người sử dụng '' bài tập
- Nội dung kiến thức hoá học
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phần phụ lục luận văn trình bày trong 3 chương
Trang 8Chương 1 : Cơ sở lí luận về phát triển năng lực tư duy, trí thông minh và bài tập hóa học
Chương 2 : Các biện pháp phát triển năng lực tư duy và rèn trí thông minh cho học sinh
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BÀI TẬP HÓA HỌC
TƯ DUY VÀ TRÍ THÔNG MINH 1.1 Bài tập hóa học (BTHH)
1.1.1 Khái niệm bài tập hoá học
BTHH là một vấn đề không lớn mà trong trường hợp tổng quát được giải quyết nhờ những suy luận lôgic, những phép toán và những thí nghiệm trên
cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học
1.1.2 Tác dụng của bài tập hoá học
- BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất
và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình
- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú
- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức một cách tốt nhất
- Phát triển tư duy, rèn trí thông minh cho HS: Một số vấn đề lý thuyết cần phải đào sâu mới hiểu được trọn vẹn, một số bài toán có tính chất đặc biệt, ngoài cách giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo Thông thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách có thể có - tìm ra cách giải ngắn nhất, hay nhất - đó là một phương pháp rèn luyện trí thông minh cho
HS
- BTHH còn được sử dụng như một phương tiện để nghiên cứu tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật) Khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững
- BTHH còn làm chính xác hóa các khái niệm, định luật đã học
Trang 9- BTHH phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp lý
- BTHH còn là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của
Trên đây là một số tác dụng của BTHH, nhưng cần phải khẳng định
rằng: Bản thân BTHH chưa có tác dụng gì cả; Không phải một BTHH "hay" thì luôn luôn có tác dụng tích cực ! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là "người sử dụng"
nó, phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh có thể có của bài toán, để học sinh tự tìm ra lời giải Lúc đó BTHH mới thực sự có ý nghĩa, không phải chỉ dạy học để giải bài toán, mà là dạy học bằng giải bài toán
1.1.3 Phân loại bài tập hoá học
Với mục đích nghiên cứu quá trình tư duy hóa học nhằm phát triển năng lực trí tuệ cho HS chúng tôi phân BTHH ra làm hai loại sau:
a) Bài tập cơ bản (BTCB): Là loại bài tập để tìm được lời giải chỉ cần thiết lập
mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm dựa vào một vài đơn vị kiến thức đơn giản
b) Bài tập gồm nhiều đơn vị cơ bản: (Bài tập phức tạp)
Là loại BT mà quá trình giải phải thực hiện một chuỗi các lập luận lôgic, giữa cái đã cho và cái cần tìm thông qua một loạt các bài toán trung gian Rõ ràng, một bài toán trung gian là một bài toán cơ bản Nên để giải quyết một bài toán không cơ bản thì học sinh phải giải thành thạo các bài toán cơ bản và phải nhận ra quan hệ lôgic, mật thiết của bài toán thông qua quan hệ lôgic sơ đẳng Trong thực tế dạy học, GV không làm cho HS hiểu trọn vẹn một vấn đề, một bài toán, một quá trình suy luận (vì những lí do khách quan và chủ quan khác nhau) thông qua những câu hỏi "tại sao ?"
1.2 Vấn đề phát triển năng lực tƣ duy và rèn trí thông minh
Trang 101.2.1 Tư duy là gì ?
L.N Tônxtôi đã viết: "Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào nó là thành quả những cố gắng của tư duy chứ không phải của trí nhớ" Như vậy, HS chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức chỉ khi họ thực sự tư duy.[48]
Theo M.N Sacđacôp: "Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung
và bản chất của chúng Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật, hiện tượng mới, riêng rẽ của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hóa
đã thu nhận được[49]
Còn theo tác giả Nguyễn Xuân Trường (Đại học Sư Phạm Hà Nội) thì
"tư duy là hành động trí tuệ nhằm thu thập và xử lí thông tin về thế giới quanh
ta và thế giới trong ta Chúng ta tư duy để hiểu, làm chủ tự nhiên, xã hội và chính mình"[38]
1.2.2 Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy
Lý luận dạy học hiện đại đặc biệt chú trọng đến việc phát triển tư duy cho
HS thông qua việc điều khiển tối ưu quá trình dạy học, còn các thao tác tư duy cơ
bản là công cụ của nhận thức, đáng tiếc rằng điều này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện rộng rãi và có hiệu quả Vẫn biết sự tích lũy kiến thức trong quá trình dạy học đóng vai trò không nhỏ, song không phải quyết định hoàn toàn Con người có thể quên đi nhiều sự việc cụ thể mà dựa vào đó những nét tính cách của anh ta được hoàn thiện Nhưng nếu những nét tính cách này đạt đến mức cao thì con người có thể giải quyết được mọi vấn đề phức tạp nhất, điều đó nghĩa là anh ta đã đạt đến một trình độ tư duy cao Quá trình hoạt động nhận thức của HS chia làm hai mức độ:
- Trình độ nhận thức cảm tính: Là quá trình phản ánh thực tiễn dưới dạng cảm giác, tri giác và biểu tượng
- Trình độ nhận thức lý tính: Còn gọi là trình độ lôgic hay đơn giản là tư duy
1.2.3 Những đặc điểm của tư duy
- Quá trình tư duy nhất thiết phải sử dụng ngôn ngữ là phương tiện: Giữa
tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ không thể chia cắt, tư duy và ngôn ngữ phát triển trong sự thống nhất với nhau Tư duy dựa vào ngôn ngữ nói chung và khái niệm nói riêng Mỗi khái niệm lại được biểu thị bằng một hay một tập hợp từ
Trang 11Vì vậy, tư duy là sự phản ánh nhờ vào ngôn ngữ Các khái niệm là những yếu
tố của tư duy Sự kết hợp các khái niệm theo những phương thức khác nhau,
cho phép con người đi từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác
+ Tư duy phản ánh khái quát:
Tư duy phản ánh hiện thực khách quan, những nguyên tắc hay nguyên lý
chung, những khái niệm hay vật tiêu biểu Phản ánh khái quát là phản ánh tính
phổ biến của đối tượng Vì thế những đối tượng riêng lẻ đều được xem như một
sự thể hiện cụ thể của quy luật chung nào đó Nhờ đặc điểm này, quá trình tư
duy bổ sung cho nhận thức và giúp con người nhận thức hiện thực một cách
toàn diện hơn
+ Tư duy phản ánh gián tiếp:
Tư duy giúp ta hiểu biết những gì không tác động trực tiếp, không cảm
giác và quan sát được, mang lại những nhận thức thông qua các dấu hiệu gián
tiếp Tư duy cho ta khả năng hiểu biết những đặc điểm bên trong, những đặc
điểm bản chất mà các giác quan không phản ánh được
+ Tư duy không tách rời quá trình nhận thức cảm tính:
Quá trình tư duy bắt đầu từ nhận thức cảm tính, liên hệ chặt chẽ với nó
trong quá trình đó nhất thiết phải sử dụng những tư liệu của nhận thức cảm tính
1.2.4 Những phẩm chất của tư duy
a) Khả năng định hướng: Ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng
cần lĩnh hội, mục đích phải đạt được và những con đường tối ưu đạt được mục
đích đó
b) Bề rộng: Có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác
c) Độ sâu: Nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng
d) Tính linh hoạt: Nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách
thức hành động vào những tình huống khác nhau một cách sáng tạo
e) Tính mềm dẻo: Thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo các
hướng xuôi ngược chiều
f) Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện ra vấn đề, đề xuất cách
giải quyết và tự giải quyết được vấn đề
g) Tính khái quát: Khi giải quyết một loại vấn đề nào đó sẽ đưa ra được
Trang 12mô hình khái quát, trên cơ sở đó để có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề tương tự, cùng loại
1.2.5 Các thao tác tư duy và phương pháp lôgic
Sự phát triển tư duy nói chung được đặc trưng bởi sự tích lũy các thao tác tư duy thành thạo và vững chắc của con người Một trong những hình thức quan trọng của tư duy hóa học là những khái niệm khoa học Việc hình thành
và vận dụng các khái niệm, cũng như việc thiết lập các mối quan hệ giữa chúng được thực hiện trong quá trình sử dụng các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa kết hợp với các phương pháp hình thành phán đoán mới là quy nạp, diễn dịch, suy diễn và loại suy
- Phân tích: Là hoạt động tư duy tách các yếu tố bộ phận của sự vật,
hiện tượng nhằm mục đích nghiên cứu chúng một cách đầy đủ, trọn vẹn theo hướng nhất định
Chẳng hạn, HS không thể nắm vững tính chất hóa học của một chất hữu
cơ một cách sâu sắc và bền vững nếu như không phân tích kỹ công thức cấu tạo của chất đó Hoặc phân tích mọi khía cạnh có thể có của đề bài là cơ sở để giải đúng và đầy đủ mọi BTHH
- Tổng hợp: Là hoạt động tư duy kết hợp các bộ phận, yếu tố đã được
phân tích để nhận thức, để nắm được cái toàn bộ của sự vật, hiện tượng Để hiểu đầy đủ các nhóm nguyên tố phải dựa trên kết quả tổng hợp của việc phân tích nghiên cứu đặc điểm cấu tạo cũng như tính chất của từng nguyên tố cụ thể
Kết quả của quá trình nhận thức là hoạt động cân đối và mật thiết giữa phân tích và tổng hợp Sự phân tích sâu sắc, phong phú là điều kiện quan trọng
để tổng hợp được chính xác, trọn vẹn, ngược lại tổng hợp sơ bộ tạo tiền đề quan trọng cho sự phân tích
- So sánh: Là thiết lập sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện
tượng và giữa những khái niệm phản ánh chúng
+ So sánh liên tiếp (tuần tự): Trong giảng dạy hóa học thường dùng
phương pháp này khi HS tiếp thu kiến thức mới So sánh với kiến thức đã học
để HS hiểu sâu sắc hơn
+ So sánh đối chiếu: Nghiên cứu hai đối tượng (hai chất, hai phản ứng, hai
Trang 13phương pháp ….) cùng một lúc trên cơ sở phân tích từng bộ phận để đối chiếu với nhau
Tóm lại, trong giảng dạy hóa học so sánh là phương pháp tư duy rất hiệu
nghiệm nhất là khi hình thành khái niệm
- Cụ thể hóa: Là hoạt động tư duy tái sản sinh ra hiện tượng và đối
tượng với các thuộc tính bản chất của nó
- Trừu tượng hóa: là sự phản ánh bản chất cô lập các dấu hiệu, thuộc
tính bản chất
- Khái quát hóa: Là bước cần thiết của trừu tượng hóa Mỗi vật thể
(chất, phản ứng …) với đầy đủ các dấu hiệu bản chất và không bản chất, dấu hiệu chung, riêng Xác định thuộc tính bản chất và chung của mọi loại đối tượng, từ đó hình thành lên một khí niệm
*Những hình thức cơ bản của tư duy
-Khái niệm: Là một tư tưởng phản ánh những dấu hiệu bản chất riêng
biệt của sự vật hiện tượng
- Phán đoán: Là sự tìm hiểu tri thức về mối quan hệ giữa các khái niệm,
sự phối hợp giữa các khái niệm, thực hiện theo một nguyên tắc, quy luật bên trong
- Suy lý: Hình thức suy nghĩ liên hệ các phán đoán với nhau để tạo thành
phán đoán mới gọi là suy lý Suy lý được cấu tạo bởi hai bộ phận:
+ Các phán đoán có trước gọi là tiên đề
+ Các phán đoán có sau gọi là kết luận (dựa vào tính chất của tiên đề để kết luận)
Suy lý chia làm ba loại: Loại suy, suy lý quy nạp và suy lý diễn dịch
+ Loại suy: Là hình thức tư duy đi từ cái riêng biệt này đến cái riêng bịêt
khác Loại suy cho ta những dự đoán chính xác sự phụ thuộc và sự hiểu biết về hai đối tượng Khi đã nắm vững các thuộc tính cơ bản của đối tượng thì loại suy
sẽ chính xác Chẳng hạn, khi nghiên cứu các loại hợp chất hữu cơ chỉ cần xét
kỹ các hợp chất tiêu biểu nhất, còn các chất khác trong dãy đồng đẳng dễ dàng biết được bằng phương pháp loại suy
+ Suy lý quy nạp: Suy lý từ quy nạp đến phổ biến, từ những hoạt động
Trang 14tới quy luật Do đó, quá trình tư duy, sự suy nghĩ theo quy nạp chuyển từ việc nhận thức các hiện tượng riêng lẻ đến nhận thức cái chung Vì thế các suy lý quy nạp là yếu tố cấu trúc của tri thức khái quát của việc hình thành khái niệm
và của việc nhận thức định luật
+ Suy lý diễn dịch: Là cách suy nghĩ đi từ cái chung, định luật, quy tắc,
khái niệm chung đến các sự vật hiện tượng riêng lẻ
Trong quá trình tư duy quy nạp và suy diễn bao giờ cũng liên hệ mật thiết với nhau giống như phân tích và tổng hợp Quá trình này được thực hiện trong phương pháp xác định mối liên hệ nhân quả trong các hiện tượng Với tư cách là hình thức tư duy gián tiếp, suy lý trong tư duy lôgic đóng vai trò quan trọng trong tất cả các hoạt động của tư duy Việc hướng dẫn quy tắc lôgic trong suy lý tạo được hiệu quả lớn trong quá trình lĩnh hội tri thức
Rèn luyện tư duy lôgic trong dạy học hóa học là tạo cho HS có phương pháp tư duy từ khái niệm đến phán đoán, suy lý thông thường qua mọi câu hỏi, mọi vấn đề và phải được tiến hành thường xuyên liên tục
1.2.6 Tư duy khoa học tự nhiên
Tư duy khoa học tự nhiên được đặc trưng bằng các phương pháp nhận thức khoa học tự nhiên, bao gồm:
- Hiểu vấn đề
- Xác định vấn đề một cách chính xác
- Xác định giới hạn giữa nó và các vấn đề khác
- Nghiên cứu tất cả các yếu tố liên quan đến vấn đề đã nêu
- Vạch kế hoạch tìm tòi cách giải quyết
- Chọn lựa những suy đoán chính xác nhất
- Tiến hành thực nghiệm kiểm tra giả thuyết
- Thực nghiệm đánh giá kết quả
- Rút ra kết luận và cơ sở khoa học của chúng
- Chọn lựa phương án giải quyết tối ưu
- Mở rộng kết quả sang trường hợp tương tự
1.2.7 Tư duy hóa học
Với tư duy toán thì 1 + 2 = 3
Trang 15A + B = AB
Nhưng với tư duy hóa học thì A + B không phải là phép cộng thuần túy của toán học, mà là xảy ra sự biến đổi nội tại của các chất để tạo thành chất mới, theo những nguyên lý, quy luật, những mối quan hệ định tính và định lượng của hóa học
- Cơ sở của tư duy hóa học là sự liên hệ quá trình phản ứng sự tương tác giữa các tiểu phân vô cùng nhỏ bé của thế giới vi mô (nguyên tử, phân tử, ion, electron, )
- Đặc điểm của quá trình tư duy hóa học là sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa những hiện tượng cụ thể quan sát được với những hiện tượng cụ thể không quan sát được, ngay cả khi dùng kính hiển vi điện tử, mà chỉ dùng kí
hiệu, công thức để biểu diễn mối liên hệ bản chất của các hiện tượng nghiên
cứu
Vậy bồi dưỡng phương pháp và năng lực tư duy hóa học là bồi dưỡng cho học sinh biết vận dụng thành thạo các thao tác tư duy và phương pháp lôgic, dựa vào những dấu hiệu quan sát được mà phán đoán về tính chất và sự biến đổi nội tại của chất, của quá trình
Như vậy cũng giống như tư duy khoa học tự nhiên, toán học và vật lý, tư duy hóa học cũng sử dụng các thao tác tư duy vào quá trình nhận thức thực tiễn
và tuân theo quy luật chung của quá trình nhận thức
Hóa học - bộ môn khoa học lý thuyết và thực nghiệm có lập luận, trên
cơ sở những kỹ năng quan sát các hiện tượng hóa học, phân tích các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng, thiết lập những sự phụ thuộc xác định để tìm ra những mối liên hệ giữa các mặt định tính và định lượng, quan hệ nhân quả của các hiện tượng và quá trình hóa học, xây dựng nên các nguyên lý, quy luật, định luật, rồi trở lại vận dụng để nghiên cứu những vấn đề của thực tiễn
1.2.8 Vấn đề phát triển năng lực tư duy
- Việc phát triển tư duy cho học sinh trước hết là giúp HS thông hiểu
Trực quan sinh động
Tư duy
Trang 16kiến thức một cách sâu sắc, không máy móc, biết cách vận dụng kiến thức vào bài tập và thực hành, từ đó mà kiến thức HS thu nhận được trở nên vững chắc
và sinh động Chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy tích cực của bản thân học sinh được phát triển và nhờ sự hướng dẫn của giáo viên các em biết phân tích, khái quát tài liệu có nội dung sự kiện cụ thể và rút ra những kết luận cần thiết
- Sự phát triển tư duy diễn ra trong quá trình tiếp thu kiến thức và vận dụng tri thức, khi tư duy phát triển sẽ tạo ra một kĩ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ, có phương pháp, chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho HS trong hoạt động sáng tạo sau này
- Muốn phát triển năng lực tư duy, phải xây dựng nội dung dạy học sao cho nó không phải "thích nghi" với trình độ phát triển có sẵn của HS mà đòi hỏi phải có trình độ phát triển cao hơn, có phương thức hoạt động trí tuệ phức tạp hơn Nếu HS thực sự nắm được nội dung đó, thì đây là chỉ tiêu rõ nhất về trình
độ phát triển năng lực tư duy của HS
1.2.9 Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển
a) Có khả năng tự lực chuyển tải tri thức và kĩ năng sang một tình huống mới.Trong quá trình học tập, học sinh đều phải giải quyết những vấn đề đòi hỏi phải liên tưởng đến những kiến thức đã học trước đó Nếu học sinh độc lập chuyển tải tri thức vào tình huống mới thì chứng tỏ đã có biểu hiện tư duy phát triển
b) Tái hiện kiến thức và thiết lập những mối quan hệ bản chất một cách nhanh chóng
c) Có khả năng phát hiện cái chung và cái đặc biệt giữa các hiện tượng, bài toán
d) Có năng lực áp dụng kiến thức để giải quyết tốt bài toán thực tế: Định hướng nhanh, biết phân tích suy đoán và vận dụng các thao tác tư duy để tìm cách tối
ưu và tổ chức thực hiện có hiệu quả
1.3 Quan hệ giữa bài tập hóa học và việc phát triển tƣ duy cho học sinh
Theo thuyết hoạt động có đối tượng thì năng lực chỉ có thể hình thành và phát triển trong hoạt động Để giúp HS phát triển năng lực tư duy, mà đỉnh cao
Trang 17là tư duy sáng tạo, thì cần phải tập luyện cho HS hoạt động tư duy sáng tạo, mà đặc trưng cơ bản nhất là tạo ra những phẩm chất tư duy mang tính mới mẻ Trong học tập hóa học, một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển tư duy cho HS là hoạt động giải bài tập Vì vậy, giáo viên cần phải tạo điều kiện để thông qua hoạt động này các năng lực trí tuệ được phát triển, học sinh sẽ có những sản phẩm tư duy mới, thể hiện ở:
- Năng lực phát hiện vấn đề mới
- Tìm ra hướng đi mới
- Tạo ra kết quả mới
Để làm được điều đó, trước hết người giáo viên cần chú ý hoạt động giải
BTHH để tìm ra đáp số không phải chỉ là mục đích mà chính là phương tiện hiệu nghiệm để phát triển tư duy cho HS BTHH phải đa dạng phong phú về thể
loại và được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học như nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập, luyện tập, kiểm tra … Thông qua hoạt động giải bài tập hóa học, mà các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, … thường xuyên được rèn luyện và phát triển, các năng lực: quan sát, trí nhớ, óc tưởng tượng, suy nghĩ độc lập, … không ngừng được nâng cao, biết phê phán nhận xét đúng, tạo hứng thú và lòng say mê học tập, …
để rồi cuối cùng tư duy của HS được rèn luyện và phát triển thường xuyên, đúng hướng, thấy được giá trị lao động, nâng khả năng hiểu biết thế giới của
HS lên một tầm cao mới, góp phần cho quá trình hình thành nhân cách của HS
Sơ đồ 1: Quan hệ giữa hoạt động giải BT và phát triển tư duy
Khái quát hóa
Trừu tượn
g hóa
Quan sát
Trí nhớ
Tưởng tượng phán Phê
Trang 18
Trong sơ đồ trên người học - chủ thể của hoạt động, còn giáo viên - người tổ chức - điều khiển, làm sao để phát huy tối đa năng lực độc lập suy nghĩ của học sinh, có độc lập mới biết phê phán, có phê phán mới có khả năng nhìn thấy vấn đề và có khả năng sáng tạo được Thông qua hoạt động giải, tùy theo từng loại bài tập, nội dung cụ thể, với đối tượng cụ thể mà các năng lực
này được trao dồi và rèn luyện nhiều hơn các năng lực khác
1.4 Trí thông minh
1.4.1 Trí thông minh là gì ? Là tổng hợp các năng lực của trí tuệ của con
người (quan sát, ghi nhớ, tưởng tượng, tư duy) mà đặc trưng cơ bản nhất là tư duy độc lập và sáng tạo nhằm ứng phó với tình huống mới
Theo tác giả Nguyễn Xuân Trường (Đại học Sư Phạm Hà Nội) thì
"thông minh là nhanh nhạy nhận ra mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng và biết vận dụng mối quan hệ đó theo hướng có lợi nhất để đạt mục tiêu".[38]
Trí thông minh có liên quan đến các chức năng tâm lý sau:
- Nhận thức được đặc điểm bản chất của tình huống mới do người khác nêu ra hoặc tự mình đưa ra vấn đề cần giải quyết
- Sáng tạo ra công cụ mới, phương pháp mới, cách thức phù hợp với hoàn cảnh mới (trên cơ sở những tri thức và kinh nghiệm tiếp thu được trước đó)
Vì vậy, trí thông minh không chỉ bộc lộ qua nhận thức mà cả qua hành động (lí thuyết và thực tiễn)
1.4.2 Vấn đề rèn trí thông minh thông qua bài tập hoá học
Thực chất của việc rèn trí thông minh là rèn các thao tác tư duy nhanh
Tư duy phát triển
Trang 19nhạy và sáng tạo, trên cở sở kiến thức cơ bản HS vận dụng một cách linh hoạt
và sáng tạo để tìm ra đáp số của bài toán bằng con đường ngắn nhất Theo tác giả Nguyễn Xuân Trường (Đại học Sư Phạm Hà Nội) thì "kiến thức lâu ngày có thể quên cái còn lại là năng lực tư duy, là trí thông minh"
Theo tôi để rèn trí thông minh cho HS thì trong quá trình giảng dạy phải làm cho HS thông hiểu sâu sắc kiến thức cơ bản, từ đó rèn các thao tác tư duy nhanh nhạy, linh hoạt, sáng tạo Muốn vậy, phải đa dạng hóa các dạng bài tập,
ưu tiên sử dụng bài tập thực hành, bài tập có nhiều cách giải hay, bài tập có sự phát triển thêm kiến thức mới, … Với mỗi bài tập, không chỉ dừng lại ở mức
độ tìm ra đáp số của bài toán mà phải tập cho HS suy nghĩ tìm ra cách giải khác, rút ra những kiến thức mới cần lĩnh hội và nếu thay đổi các dữ kiện hoặc yêu cầu thì bài toán sẽ phải giải theo hướng nào
1.5 Tình hình sử dụng bài tập hoá học để phát triển năng lực tƣ duy và rèn trí thông minh cho học sinh hiện nay
Thực tiễn cho thấy BTHH không chỉ có tác dụng ôn tập, củng cố kiến thức đã học mà còn có tác dụng để phát triển kiến thức, phát triển năng lực tư duy và rèn trí thông minh cho HS Tuy nhiên, việc sử dụng BTHH như là một phương pháp dạy học hiệu nghiệm thì chưa được chú ý đúng mức
- Thầy giáo và học sinh đều quan tâm đến kết quả của bài toán nhiều hơn quá trình giải toán Tất nhiên, trong quá trình giải các thao tác tư duy được vận dụng, các kĩ năng suy luận, kĩ năng tính toán, kĩ năng viết và cân bằng phương trình phản ứng được rèn luyện Thế nhưng, nếu chú ý rèn tư duy cho học sinh trong quá trình giải thì việc giải để đi đến đáp số của các bài toán sẽ đơn giản hơn rất nhiều
- Thời gian dành cho luyện tập ít, không có điều kiện phân tích bài toán thật chi tiết, để hiểu cặn kẽ từng chữ, từng câu, từng điều kiện, từng khái niệm, những kiến thức nào được vận dụng, những cách giải nào có liên quan Trong mọi trường hợp luôn luôn đặt câu hỏi "Tại sao ?", phải lý giải và lý giải được, không được bỏ qua một chi tiết nào dù là nhỏ đến đâu đi nữa Nếu làm được thì
kĩ năng suy luận lôgic, các thao tác tư duy, tổng hợp, khái quát hóa mới thường xuyên được rèn luyện và phát triển
Trang 20- Đối với cách dạy thông thường thì chỉ cần tổ chức cho học sinh hoạt động tìm ra đáp số của bài toán Để phát triển tư duy và rèn trí thông minh cho học sinh thì làm như thế là chưa đủ, mà phải cho học sinh trả lời các câu hỏi sau: Thông qua bài này lĩnh hội được nhưng kiến thức gì cho mình? Các "bẫy" đặt ra trong bài toán nhằm phát triển các thao tác tư duy gì ? Nếu thay đổi hoặc bớt một số dữ kiện thì bài toán có giải được không ? Ngoài cách giải trên còn
có những cách nào khác ngắn gọn và hay hơn nữa không ? … Chỉ khi nào làm được những điều trên thì học sinh mới hiểu hết tác dụng của từng bài toán
- Khi giải bài toán, cần tổ chức cho mọi đối tượng học sinh cùng tham gia tranh luận Khi nói lên được một ý hay, giải bài toán đúng, với phương pháp hay sẽ tạo ra cho học sinh niềm vui, một sự hưng phấn cao độ, kích thích tư duy, nỗ lực suy nghĩ tìm ra cách giải hay hơn thế nữa
2 Vấn đề rèn trí thông minh: Định nghĩa, vấn đề rèn trí thông minh cho
CHƯƠNG 2
CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY
VÀ RÈN TRÍ THÔNG MINH CHO HỌC SINH 2.1 Người học cần phải làm gì để phát triển tư duy và rèn trí thông minh khi học môn hóa học
Trang 21- Trong xã hội hiện nay, sự bùng nổ thông tin, khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, thì dạy học không chỉ dạy kiến thức mà phải dạy phương pháp học tập, bản thân học sinh phải có phương pháp học tập hợp lý, mà cốt lõi của phương pháp học tập là phương pháp tự học
- Phải thoát khỏi tình trạng bị động, khắc phục chướng ngại nhận thức - đây là yếu tố cơ bản làm cho năng lực tự học kém, thiếu độc lập trong suy nghĩ
- Phải có hứng thú học tập bộ môn, phá vỡ chướng ngại nhận thức và thông hiểu là cơ sở đầu tiên cho hứng thú học tập
- Phải học bằng chính sức của mình, nghĩ bằng cái đầu của mình, nói bằng lời nói của mình, viết theo ý của mình không dập khuôn theo câu chữ của thầy
- Rèn luyện năng lực lập luận đúng đắn
- Để có thể lao động sáng tạo sau này, ngay từ bây giờ phải rèn luyện tư duy, tập "sáng tạo" thông qua các vấn đề trong các câu hỏi, các bài toán, chứ không phải đơn thuần là bổ sung kiến thức vào trí nhớ của mình một cách thụ động
- Điều kiện cơ bản để phát triển năng lực tư duy với hiệu quả cao nhất, trước hết học sinh phải ý thức được lợi ích lao động học tập và động cơ học tập của mình vì thực nghiệm đã chứng minh: Chỉ có hứng thú với một hoạt động nào đó mới đảm bảo cho hoạt động ấy tích cực
- Không dừng lại ở việc tìm ra đáp số bài toán, mà phải biết rút ra những điều bổ ích cho mình thông qua việc xây dựng tiến trình luận giải, và luôn luôn suy nghĩ tìm ra cách giải hay hơn nữa và phải biết nghiền ngẫm để hiểu sâu sắc từng vấn đề bài toán đưa ra, trong nhiều trường hợp hãy thay đổi một số dữ kiện của bài toán để xem bài toán sẽ đi theo hướng nào và tìm cách giải quyết
nó một cách khoa học, …
- Phải thường xuyên dành thời gian để ôn tập, hệ thống hóa lại những kiến thức đã học để thấy được sự lôgic, đồng thời tạo điều kiện để hiểu sâu các kiến thức đã học hơn nữa Chỉ khi học sinh hiểu được kiến thức sâu sắc thì mới vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo vào giải quyết các vấn đề mà các bài
Trang 22toán đặt ra Khi đó các thao tác tư duy được rèn luyện và phát triển Bài tập càng khó thì càng có tác dụng mạnh đến sự phát triển tư duy của học sinh Khi
tư duy đã trở nên mền dẻo, linh hoạt thì người học sẽ có cách giải quyết bài toán một các thông minh nhất, hay nhất
Tóm lại, để phát triển tư duy và rèn trí thông minh thì trong học tập người học phải tích cực, độc lập suy nghĩ để thông hiểu sâu sắc kiến thức, biến kiến thức lĩnh hội được từ nhiều nguồn khác nhau thành kiến thức của mình và vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo Tuyệt đối không dập khuôn máy móc theo con đường mà người khác đã đi Trí thông minh là đỉnh cao của sự phát triển trí tuệ - sự tổng hợp của nhiều yếu tố trong đó yếu tố quan trọng nhất là các thao tác tư duy nó phải được rèn luyện và phát triển Rèn các thao tác tư duy nhanh nhạy, linh hoạt, sáng tạo chính là rèn trí thông minh
2.2 Những biện pháp phát triển năng lực tƣ duy và rèn trí thông minh cho học sinh thông qua bài tập hóa học
2.2.1 Rèn năng lực quan sát
2.2.1.1 Quan hệ biện chứng giữa óc quan sát và tư duy
Năng lực quan sát ở đây chính là óc quan sát - năng lực xem xét để có tầm nhìn, là cơ sở để có tư duy Nhà trường có trách nhiệm phải vừa trang bị cho học sinh kiến thức vừa đặc biệt chú ý đến việc phát triển năng lực tư duy và rèn trí thông minh Sự phát triển tư duy của học sinh là những biến đổi có tính chất hoàn chỉnh và tiến bộ trong ý thức của học sinh, rèn luyện óc phê phán và
tự phê phán, tính hệ thống và tính bật nhanh của các thao tác tư duy, … tạo điều kiện để tư duy một cách biện chứng, chuẩn bị cho học sinh bước vào một cuộc sống tự lập Sự phát triển tư duy diễn ra trong quá trình dạy học, trong quá trình lĩnh hội kiến thức, sự lĩnh hội diễn ra trong những điều kiện khác nhau tùy theo phương tiện dạy học, các yêu cầu đề ra cho học sinh, hứng thú, năng lực làm việc và tư chất, ….của học sinh Thực nghiệm cho thấy, để phát triển tư duy có hiệu quả cao nhất thì khi học bản thân học sinh phải ý thức được lợi ích lao động học tập và hứng thú thì mới hăng say, tích cực suy nghĩ được Hoạt động tư duy là hoạt động căng thẳng, phải có ý chí và buộc mình phải tập trung suy nghĩ cao độ thì mới có thể giải quyết được các vấn đề phức tạp Ngoài óc
Trang 23quan sát sâu sắc và tính tích cực hoạt động của hoạt động trí tuệ, để giải quyết được những vấn đề nhất định nào đó, cần phải biết phân tích, so sánh, đối chiếu
để nhìn thấy những dấu hiệu và mối quan hệ bản chất bên trong của sự vật hiện tượng Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, giảng dạy, học tập cũng trên cơ sở quan sát, thí nghiệm để phân tích, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa thành các khái niệm, định luật, học thuyết, … rồi từ lý thuyết đã có vận dụng nghiên cứu các sự vật và hiện tượng khác ở phạm vị rộng hơn thông qua con đường diễn dịch Thực tế ở trường phổ thông ít làm thí nghiệm, mà nếu có cũng không chú ý rèn óc quan sát cho học sinh, thông thường học sinh quan sát, rồi giáo viên giải thích giúp học sinh, mà không tạo cơ hội để học sinh động não suy nghĩ Như vậy, óc quan sát và tư duy có mối quan hệ biện chứng với nhau Tư duy phải dựa trên cơ sở quan sát
và quan sát là điểm xuất phát của tư duy
2.2.1.2 Năng lực quan sát sắc sảo, mô tả, giải thích hiện tượng các quá trình hóa học
Kết quả quan sát là những dữ kiện có ý nghĩa để nghiên cứu các chất, phản ứng, hiện tượng hóa học, dữ kiện quan sát càng đầy đủ, rõ ràng sẽ là cơ sở tốt cho hoạt động tư duy chính xác Đối tượng quan sát trong hóa học có thể là các chất, công thức, thí nghiệm, hiện tượng tự nhiên, phương trình phản ứng, bài tập thực nghiệm hay một bài toán bất kì
● Quan sát một chất
Với mục đích là mô tả chất đó, nội dung là những đặc điểm của chất theo trình tự mô tả trạng thái, màu sắc, mùi vị, tính tan, nhiệt độ sôi, nhiệt dộ nóng chảy …Chẳng hạn khi quan sát thấy rằng vẻ sáng đặc biệt và một số kim loại có màu đặc trưng như Cu màu đỏ, Au màu vàng, ….Tại sao ? Cơ sở để giải thích điều này là gì ? Hoặc khi nhìn một sợi dây đồng bên ngoài có vẻ nó là vật
vô tri vô giác nhưng thực ra bên trong nó như nào ? Tại sao nó lại có độ dẫn điện cao đến thế cao hơn cả các kim loại kiềm ? Trong khi đó các kim loại kiềm
có hoạt tính hóa học rất mạnh Vậy cái gì quyết định hoạt tính hóa học và cái gì quyết định độ dẫn điện ? Nếu xem xét lý giải được học sinh mới nắm được
"chiếc chìa khóa" và học sinh còn dễ dàng chấp nhận học thuộc một cách máy
Trang 24móc mỗi khi chưa lý giải được
● Quan sát một công thức
Chẳng hạn, khi nhìn vào hai công thức C3H6 và C4H8 đều có công thức chung là CnH2n nhưng có phải là đồng đẳng của nhau hay không thì không thể khẳng định ngay được, mà phải dựa vào cấu tạo cụ thể của nó: Chúng chỉ là đồng đẳng của nhau nếu chúng có cùng dạng mạch hở hay dạng mạch vòng ?
Từ đó càng chính xác hóa khái niệm đồng đẳng Hoặc khi nhìn vào công thức cấu tạo của phenol phải tách ra được hai phần: phần giống ancol và giống benzen Giống ancol, vì sao ? Do đó có phản ứng nào ? Giống benzen, vì sao ?
Do đó có tính chất gì ? Vậy phản ứng của nhóm OH gồm những phản ứng nào
? Phản ứng của gốc phenyl gồm những phản ứng nào ? Có sự ảnh hưởng qua lại giữa nhóm OH và gốc phenyl không ? Nếu có thì được minh họa bằng phản ứng nào ? … Như vậy chỉ cần nhìn và xem xét kỹ trên công thức cấu tạo của các chất, học sinh đã thấu suốt được gần như toàn bộ tính chất của một chất, không phải ghi nhớ rập khuôn theo từng phản ứng của bài giảng
● Quan sát một thí nghiệm
Mục đích là xác định dấu hiệu phản ứng, biểu hiện ở sự thay đổi màu sắc, mùi vị của chất phản ứng, sự tạo thành kết tủa, bay hơi, tỏa nhiệt, hay thu nhiệt, …trình tự quan sát là đặc điểm của phản ứng, điều kiện phản ứng và đặc điểm của sản phẩm tạo thành Phải liên hệ chặt chẽ giữa hiện tượng bên ngoài
và bản chất bên trong của hiện tượng - sự biến đổi nội tại của các chất
Ví dụ : Để cho học sinh hiểu được tính chất của ion NO
3, giáo viên có thể cho học sinh quan sát hai thí nghiệm sau:
Thí nghiệm 1: Thả một mẩu Cu vào dung dịch NaNO3 thì không thấy có hiện tượng gì xảy ra Nhưng nếu ta thêm tiếp vào vài giọt dung dịch H2SO4loãng thì Cu tan dần tạo thành dung dịch màu xanh lam và đồng thời có sủi bọt khí thoát ra hóa nâu trong không khí Vì sao lại như vậy ? Phải chăng Cu tan được trong dung dịch H2SO4 loãng ? Rõ ràng là không vì Cu đứng sau H2 Vậy giải thích hiện tượng trên như nào ? Bản chất của phản ứng xảy ra là gì ? Vai trò của ion NO
3 trong môi trường axit như thế nào ?
Thí nghiệm 2: Cho một mẩu Al vào dung dịch NaNO3 thì cũng không
Trang 25thấy có hiện tượng gì xảy ra Nhưng nếu thêm tiếp vào hỗn hợp này một ít dung
dịch NaOH thì thấy nhôm tan và dung dịch có sủi bọt khí mùi khai thoát ra Tại
sao khí thoát ra lại có mùi khai ? Có phải NH3 không ? Điều này mâu thuẫn với
những điều đã học trước đó nhôm tan trong dung dịch NaOH tạo ra khí H2
không mùi ? Vai trò của ion NO
3 trong phản ứng trên là gì ? …
Từ những hiện tượng quan sát được, giáo viên lần lượt dẫn dắt học sinh
đi tìm lời giải thích và viết phương trình phản ứng minh họa để thấy được vai
trò của ion NO
3 trong các phản ứng đó là gì ? Sau đó yêu cầu học sinh khái quát hóa thành sơ đồ sau: môi trường axit(H+
) Có tính oxi hoá mạnh như HNO3
môi trường trung tính(H2O) Không có tính oxi hoá môi trường bazơ(OH- dư) Bị Al, Zn khử đến NH3
● Quan sát hiện tượng tự nhiên
- Một tấm sắt tráng kẽm (tôn) khi đã bị một vết xước thì tấm tôn sẽ bị
phá hủy nhanh Tại sao như vậy ? Ở đây diễn ra những quá trình hóa học nào ?
Cơ sở của nó là gì ? Ứng dụng điều này trong thực tiễn để bảo vệ vỏ tàu biển
người ta đã làm như thế nào ?
● Quan sát một phản ứng hóa học
Ví dụ: Phản ứng giữa HCHO và dung dịch AgNO3/ NH3
HCHO + 2[Ag(NH3)2]NO3 + H2O HCOONH4 + 2NH4NO3 + NH3 + 2Ag
HCOONH4 + 2[Ag(NH3)2]NO3 + H2O (NH4)2CO3 + 2NH4NO3 + NH3 +
2Ag
Dung dịch AgNO3 / NH3 thực chất là gì ? Vai trò của dung dịch NH3
trong phản ứng trên là gì ? Tại sao lại viết [Ag(NH3)2]NO3 ?
HCHO bị oxi hóa thành HCOOH, tại sao lại viết HCOONH4 ? Tại sao
HCOONH4 lại bị oxi hóa tiếp thành (NH4)2CO3 ? Thay HCHO bằng CH3CHO
thì phản ứng có xảy ra tương tự như trên không ? Phương trình tổng quát là gì ?
…
Nếu không lý giải được những câu hỏi nêu trên thì học sinh rất khó hiểu
được bản chất của phản ứng ? Không những khó thuộc, độ bền kiến thức thấp
mà tư duy cũng không phát triển được bao nhiêu
NO3-
Trang 26● Quan sát một bài tập thực nghiệm
Ví dụ: Trong phòng thí nghiệm, khí clo được điều chế từ MnO2 và axit HCl đặc
Hình 2.1
a) Viết phương trình phản ứng
b) Phân tích những chỗ sai khi
lắp bộ dụng cụ như hình bên
● Quan sát một bài toán bất kì
- Phải nhìn lôgic nội dung của bài toán, tìm hiểu từ ngữ, hiểu sơ bộ ý đồ của tác giả
- Tìm hiểu giả thiết và yêu cầu của đề bài
- Hình dung tiến trình luận giải và biết phải bắt đầu từ đâu ?Đâu là chỗ có vấn
đề của bài toán? Có cách nào hay hơn không (thông qua tính đặc biệt của đề bài
…)?
Ví dụ: Cho 0,4 mol Cu và 0,1 mol Fe3O4 phản ứng với 400 ml dung dịch HCl 2M cho đến khi phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được dung dịch A và chất rắn B Cho dung dịch A tác dụng với dung dịch NaOH dư được kết tủa Nung kết tủa trong không khí đến khối lượng không đổi thu được m gam chất rắn Tính giá trị của m?
Phân tích: Sau khi xem xét nhiều học sinh cho rằng B là Cu không tan, dung
dịch A gồm FeCl2 và FeCl3, chất rắn thu được là Fe2O3 Bài toán thật đơn giản Một số học sinh khác nhanh hơn nhận ra rằng số mol Fe2O3 bằng 3/2 số mol Fe3O4 và tính ngay lượng Fe2O3 - bài toán thừa dữ kiện! Nhưng với học sinh thông minh, bài toán tuy đơn giản nhưng cũng dễ mắc sai lầm Sau khi
Trang 27phân tích kĩ thì B không phải là lượng Cu ban đầu vì có phản ứng:
Hoặc 2Fe3O4 3Fe2O3 ; Cu CuO
0,05mol 0,075mol 0,05 mol 0,05mol
moxit = mFe2O3 + mCuO = 160 0,075 + 80 0,05 = 16 gam
2.2.2 Rèn các thao tác tư duy
2.2.2.1 Một vài nhận xét
Ở nhà trường chính GV có nhiệm vụ rèn các thao tác tư duy và bồi
dưỡng trí thông minh cho HS, chứ không phải chỉ để nó hình thành và phát
triển một cách tự phát Khi các thao tác tư duy được rèn luyện thường xuyên thì
quá trình nhận thức của HS sẽ nhanh chóng và có hiệu quả hơn vì tính lôgic
trong tư duy sẽ tạo ra tính lôgic trong suy nghĩ và hành động Thế nhưng thực
tế ở trường phổ thông hiện nay, năng lực này của đa số HS còn rất thấp, điều
này thể hiện rõ trong các câu trả lời vấn đáp và khi giải các bài toán Mà
Trang 28nguyên nhân đầu tiên là do chướng ngại nhận thức, vì khi không hình dung rõ
về một vấn đề mình định trình bày thì diễn đạt không sáng, nếu diễn đạt thiếu chính xác, lộn xộn chứng tỏ kiến thức cơ bản chưa vững, ý nghĩ rối rắm, khả năng tư duy thấp kém Dẫn đến:
- Không biết nên bắt đầu giải bài toán từ đâu
- Giải bài toán là cốt để tìm ra đáp số của bài toán, chứ không phải qua bài toán rút ra mình cần lĩnh hội những gì
Theo tôi nghĩ để rèn các thao tác tư duy và bồi dưỡng trí thông minh cho
HS khi giải một bài toán hóa học không phải là yêu cầu học sinh tìm ra đáp số của bài toán mà trước hết là củng cố, khắc sâu kiến thức đã học và khả năng vận dụng linh hoạt kiến thức đó Sau đó là giúp học sinh tìm được phương pháp giải "bài toán"
Phương pháp giải "bài toán" ở đây không chỉ là phương pháp giải các dạng bài toán cụ thể như nồng độ, điện phân, xác định thành phần % của các chất trong hỗn hợp, xác định CTPT …mà cái cốt lõi là thông qua các phương pháp giải bài toán cụ thể để rèn các thao tác tư duy nhanh nhạy, linh hoạt và óc thông minh sáng tạo Từ đó, HS sẽ dễ dàng giải quyết được mọi vấn đề không những trong học tập mà trong thực tiễn cuộc sống sau này Tri thức đã học có thể lâu rồi sẽ quên, nhưng cái còn đọng lại chính là phương pháp tư duy lôgic, biện chứng và trí thông minh sáng tạo trong công việc
Thực tế trong hoạt động giải bài tập, GV chưa chú ý rèn luyện và bồi dưỡng cho các em vấn đề này, mà chủ yếu vẫn: chép đề lên bảng (hoặc xem sách), cho HS chuẩn bị rồi gọi một HS lên bảng chữa, GV kiểm tra bài làm của một số em, cả lớp nhìn lên bảng xem bạn làm đúng chưa, GV giảng lại cách làm và cho HS chép vào vở Thật ra còn nhiều HS chưa hiểu một số điểm trong bài: Tại sao lại không đi từ A mà lại đi từ B ? Ngoài cách giải như trên còn có cách nào khác không ? Thôi cứ chép vào vở rồi về nhà xem lại Bài này như vậy, bài sau cũng như vậy, rồi các bài sau nữa, … cứ thế CNNT ngày càng chồng chất mà HS không sao phá vỡ được, dẫn đến học bộ môn thật nặng nề
Do lớp đông, thời gian có hạn, GV lại không có điều kiện để kiểm tra hết bài làm của tất cả HS nên không có điều kiện uốn nắn sửa chữa kịp thời Từ đó dẫn
Trang 29đến khả năng tư duy, trình bày của HS thiếu lôgic, mạch lạc, chất lượng học tập không cao, độ bền kiến thức giảm
2.2.2.2 Biện pháp
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy HS sẽ khó hoặc không thể nắm vững được tri thức về hóa học nếu không có kĩ năng áp dụng các thao tác tư duy Vì vậy khi cho HS xem xét một vấn đề về hóa học nào đó (thí nghiệm, hiện tượng, bài toán, …) thì cần rèn cho HS biết cách xem xét như thế nào đó cho có hiệu quả:
- Trước hết phải tri giác (nhìn, đọc …) "bài toán" một cách tổng quát (tổng hợp) Sau đó, suy nghĩ phân tích từng yếu tố, từng dữ kiện, từng yêu cầu, từng khía cạnh của bài toán, để biết được cái đã cho ? Cái gì phải tìm ? Cuối cùng tổng hợp các yếu tố, các dữ kiện, các khía cạnh của bài toán để nhận thức toàn bộ bài toán một cách đầy đủ và sâu sắc hơn
- Với mỗi bài toán phải xem xét một cách tổng hợp – phân tích - tổng hợp để qua đó thấy được kiến thức cần vận dụng (tính chất, qui luật, công thức,
…)
- Xây dựng tiến trình luận giải bằng lập luận chặt chẽ và thực hiện đầy
đủ từng bước tiến trình đó, mỗi phép tính, mỗi bước giải đều phải có cơ sở lập luận vững chắc So sánh bài toán này với những bài toán trước đó có gì giống
có thể đặt ra những vấn đề tiếp theo yêu cầu HS giải quyết
- Chất lượng của mỗi bài toán cũng rất quan trọng Để đảm bảo có hiệu quả thì qua mỗi bài, mỗi chương và mỗi học kì, …GV nên tự mình xây dựng cho mình một hệ thống bài tập phù hợp với trình độ của từng lớp, từng đối tượng học sinh Ưu tiên xây dựng những bài tập phát triển thêm kiến thức, bài tập thực nghiệm và bài tập có nhiều cách giải hay để phát huy tối đa năng lực tư duy linh hoạt, sáng tạo cho HS Chẳng hạn để HS rút ra kết luận khái quát về
Trang 30phản ứng tách nước của ancol GV có thể mở đầu bằng ví dụ sau:
Ví dụ: Cho hỗn hợp X gồm 2 ancol A và B Chia X thành hai phần bằng nhau:
Phần 1 cho tác dụng với Na dư, kết thúc phản ứng thu được 3,36 lít H2 (đktc)
Khử nước hoàn toàn phần 2 ở điều kiện thích hợp chỉ thu được một anken Cho
anken này hấp thụ hết vào bình đựng dung dịch nước brôm, thấy khối lượng
bình tăng 12,6 gam CTCT thu gọn của A và B là
đơn chức là đồng phân của nhau (cùng số nguyên tử C)
Đặt công thức chung của 2 ancol là: CnH2n +1OH (n 3): x mol
(3) Khối lượng bình đựng dung dịch Br2 tăng lên là khối lượng
anken hấp thụ 14n.0,3 = 12,6 n = 3 CTPT của X là C3H7OH
GV : Nếu tách nước hai ancol thu được một anken thì cần lưu ý những gì ?
Mục đích cần đạt được : Nếu khử nước hỗn hợp hai ancolthu được một anken
2
4,22
36,3
Trang 31thì xảy ra hai trường hợp sau:
Trường hợp 1 : Trong hai ancol có một ancol là CH3OH, ancol còn lại là ancol
no đơn chức (C 2)
Trường hợp 2 : Hai ancol là ancol no, đơn chức và là đồng phân của nhau
(Bài toán trên loại bỏ trường hợp 1 vì hỗn hợp thu được chỉ gồm một anken nên không thể có CH3OH)
Để phát triển tư duy cho HS, từ bài toán trên GV có thể đặt các vấn đề: Vấn đề 1: Nếu đề cho khử nước hỗn hợp X thu được hỗn hợp Y gồm hai anken
kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng thì có nhận xét gì ?
Mục đích cần đạt được: X gồm hai ancol no, đơn chức kế tiềp nhau trong dãy
đồng đẳng (C 2)
Vấn đề 2 : Nếu đề cho khử nước hoàn toàn một ancol đơn chức X ở điều kiện
thích hợp thu được sản phẩm Y Biết d( ) < 1 thì có nhận xét gì ?
Mục đích cần đạt được: Vì d( ) < 1 nên Y phải là anken không thể là ete
A C2H5OH B C3H7OH C C4H9OH D C5H11OH
Phân tích
Vì d( ) =
37
28 < 1 MY < MX Y phải là olefin không thể là ete Khi tách nước ancol thu được olefin thì đó là ancol no đơn chức
Đặt CTPT tổng quát của X là: CnH2n+1OH (n 2)
CnH2n+1 OH CnH2n + H2O (*)
(*)
18 14
28 n = 4 CTPT của X là C4H9OH Chọn đáp án
C
Vấn đề 3 : Nếu bài toán cho khử nước hoàn toàn một ancol đơn chức X thu
được sản phẩm Y Biết d( ) >1, cho nhận xét gì ?
Mục đích cần đạt được: Vì d( ) >1 nên Y phải là ete không thể là anken
X Y
X Y
X Y
X Y
t0> 170o
H 2 SO 4 (đ)
X Y
X Y
Trang 32Vận dụng : Thực hiện phản ứng tách nước một ancol đơn chức X ở điều kiện
thích hợp thu được chất hữu cơ Y Biết d( ) = 37/23, CTPT của X là
A C3H7OH B C2H5OH C C3H5OH D C4H9OH
Phân tích: Đặt CTPT tổng quát của X là ROH
Vì d( ) >1 nên Y phải là ete không thể là anken
37 R = 29 (C2H5)
CTPT của X là C2H5OH Chọn đáp án B
2.2.3 Rèn năng lực tư duy độc lập
2.2.3.1 Tại sao phải rèn năng lực tư duy độc lập ?
Khi đánh giá trình độ hiểu biết hóa học của một HS, tất nhiên phải chú ý đến khối lượng kiến thức hóa học mà HS đó đã lĩnh hội được, nhưng như thế là chưa đủ, còn phải chú ý đến khả năng sử dụng kiến thức đó để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra bằng suy luận độc lập của mình, và chính điều này mới đảm bảo việc tiếp thu kiến thức một cách vững chắc Vì thế, một vấn đề rất quan trọng của dạy học là phải rèn luyện cho HS thói quen suy nghĩ và hành động độc lập, từ tư duy độc lập sẽ dẫn đến tư duy phê phán, khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề rồi đến tư duy sáng tạo Như vậy, độc lập là tiền đề cho sáng tạo Trong thực tiễn dạy học, việc truyền thụ kiến thức và rèn năng lực suy nghĩ độc lập không được coi trọng như nhau, mà vẫn nặng về truyền thụ, trong khi
đó rèn các thao tác tư duy độc lập là phương pháp có hiệu quả nhất để HS tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc và sáng tạo nhất
2.2.3.2 Cần phải làm gì để rèn năng lực tư duy độc lập cho HS ?
) Tạo điều kiện cho HS suy nghĩ độc lập:
* Trong quá trình dạy học, GV cần chú ý bồi dưỡng năng lực tự học cho
HS bằng cách: tăng cường nêu câu hỏi để HS trả lời, nêu vấn đề để HS nghiên
X Y
X Y
t0> 170o
H 2 SO 4 (đ)
X Y
Trang 33cứu đề xuất cách giải quyết, tự rút ra kết luận, điều này không chỉ giúp HS hiểu sâu, dễ nhớ, mà còn rèn năng lực độc lập suy nghĩ Đây là một vấn đề không dễ dàng, vì khi đặt câu hỏi, GV phải hình dung trước câu ấy sẽ dành cho đối tượng nào ? Dự đoán HS sẽ trả lời ra sao ? Cách uốn nắn, sửa chữa thế nào để HS đi đến câu trả lời đúng ? Tránh đặt câu hỏi quá vụn vặt, quá dễ không kích thích được sự động não của HS, nhưng nếu câu hỏi quá khó, HS dễ nản lòng, không hứng thú suy nghĩ, do đó không có tác dụng rèn khả năng suy nghĩ độc lập ở
HS Như vậy vừa tiến hành, vừa quan sát, vừa suy nghĩ HS không chỉ hiểu được bản chất của quá trình, mà còn rèn luyện được cả năng lực suy nghĩ và hành động độc lập
* Giáo viên cần quan tâm chỉ đạo công tác độc lập của HS , nhất là bài tập ở nhà Các bài tập phải có đủ loại, điển hình và tính mục đích rõ ràng, có bài tập chung cho cả lớp nhưng cũng có bài tập riêng cho từng đối tượng, hình thức phổ biến là bài tập có thể cao hơn, khó hơn nhưng gây được hứng thú, chứ không mang tính chất cưỡng bức, nếu cần nên hướng dẫn những chỗ khó, những từ ngữ khó hiểu để HS về nhà có thể độc lập suy nghĩ làm được bài tập
Có kiểm tra, khuyến khích động viên
* Khuyến khích HS nêu thắc mắc của mình, nhận xét câu trả lời của bạn
để rèn khả năng độc lập suy nghĩ của bản thân
* Tránh tình trạng GV áp đặt kiến thức cho HS , còn HS thì tư duy theo lời giảng của thầy, khi không hiểu thì cũng không dám hỏi, dần dần HS sẽ rơi vào tình trạng tiếp thu kiến thức thụ động, hứng thú học tập bộ môn giảm xuống, năng lực tư duy độc lập không phát triển được
) Giúp học sinh biết phương pháp tư duy độc lập và thực hiện hành động độc lập:
*Tái hiện kiến thức trước khi làm bài tập áp dụng: Bài tập ra về nhà nhằm mục đích luyện tập cho HS vận dụng kiến thức giải những bài toán khác nhau dưới những hình thức khác nhau, làm cho kiến thức được củng cố, khắc sâu hơn Để HS thực sự làm việc độc lập trước hết yêu cầu HS nên tái hiện những kiến thức vừa học Tái hiện càng sớm càng tốt, vì những gì nghe giảng chưa bị phai mờ: Hôm nay học bài gì ? Bài đó nói về vấn đề gì ? Trong đó phần
Trang 34nào là chủ yếu, quan trọng nhất ? Đã có bài tập nào để củng cố ? Cách giải thế nào ? Thử nhớ lại xem chỗ nào dễ nhầm lẫn ….Học sinh giỏi tái hiện được nhiều, HS kém tái hiện ít Đây là một việc làm rất khó, nhưng nếu cố gắng luyện tập lâu ngày hiệu suất sẽ tăng lên Khi đã nắm vững lý thuyết hãy bắt tay vào giải toán một cách độc lập
* Yêu cầu HS hệ thống hóa kiến thức theo từng vấn đề đã học:
Đây là một dạng bài tập sinh động, không có gì mới nhưng đây là việc làm rèn khả năng hoạt động độc lập của HS rất tốt, một lần nữa ôn tập một cách
Ví dụ : So sánh thể tích khí NO duy nhất thoát ra trong 2 trường hợp sau:
a Cho 6,4g Cu tác dụng với 120ml dung dịch HNO3 1M (loãng)
b Cho 6,4g Cu tác dụng với 120ml dung dịch hỗn hợp gồm HNO3 1M
và H2SO4 0,5 M (loãng) Biết các phản ứng xảy ra hoàn toàn, các thể tích khí
đo cùng điều kiện nhiệt độ, áp suất
Phân tích
Để làm được ví dụ trên HS phải nhớ lại cách viết phương trình phản
ứng dạng phân tử và ion rút gọn, cách cân bằng phản ứng oxi hoá khử, tính oxi hoá của ion NO3- trong các môi trường
Trường hợp a học sinh dễ dàng viết phương trình phản ứng dưới dạng phân tử hoặc ion và tính toán
3Cu + 8HNO3 3Cu(NO3)2+ 2NO+ 4H2O
Trang 35học sinh khá có thể phát hiện ra vấn đề số mol H+
tăng lên, nên phải dùng phương trình ion để tính toán
Vậy số mol NO thu được ở câu b lớn hơn ở câu a
* Nâng cao dần trình độ lao động trí óc (cho các đối tượng HS) bằng cách nâng cao dần nội dung kiến thức của bài toán hóa học, vì phát triển trí
thông minh là một vấn đề tổng hợp kiến thức, tính hệ thống là một thuộc tính của hoạt động tư duy, tiêu chí hệ thống càng khái quát thì trình độ tư duy càng cao
Ví dụ : Hoàn thành và cân bằng các phản ứng sau:
Trong ý (a) có tới 2 phương trình phân tử đều phù hợp:
3Cu + 2NaNO3 + 4H2SO4 3CuSO4 + Na2SO4+ 2NO + 4H2O Hoặc: 3Cu + 8NaNO3 + 4H2SO4 3Cu(NO3)2 + 4Na2SO4 + 2NO + 4H2O
Trong ý (b) nhiều học sinh cho rằng:
Al + NaOH + NaNO3 NaAlO2 + NH3 + H2O
Kết quả là không thể cân bằng được
Trong ý (c) cũng có hai phương trình phân tử hợp lí:
FeS + 12HNO3(đ) Fe(NO3)3 + H2SO4 + 9NO2 + 5H2O Hoặc: FeS + 30HNO3(đ) Fe(NO3)3 + Fe2(SO4)3 + 27NO2 +
Trang 3615H2O
Tuy nhiên, với HS có năng lực tư duy tốt dễ nhận ra: Bản chất của các phản ứng xảy ra trong dung dịch là phương trình ion thu gọn, phương trình phân tử chỉ là cách ghép ngẫu nhiên các ion trái dấu với nhau để tạo thành phân
tử sao cho hợp lí mà thôi Vì vậy, tốt nhất là viết các phản ứng trên dưới dạng phương trình ion thu gọn và dùng phương pháp ion - electron để cân bằng
a) Cu + NaNO3 + H2SO4 Cu2+ + NO +
3x Cu0 Cu 2
+ 2e 2x NO3 + 4H+ + 3e NO + 2H2O
3Cu + 2NO3 + 8H+ 3Cu2+ + 2NO + 4H2O
b) Al + NaOH + NaNO3 AlO2 + NH3 +
4 + 8H+ + 9e 9x NO3 + 2H+ + 1e NO2 + H2O
FeS + 9NO3 + 10H+ Fe3+ + SO2
4 + 9NO2 + 5H2O
* Chú ý ra bài tập nhỏ yêu cầu HS áp dụng vào hoàn cảnh mới:
BTHH ra cho HS không phải bao giờ cũng điển hình, phức tạp với mục đích hoàn thiện kĩ năng, mà có thể chỉ ra những bài tập nhỏ yêu cầu HS độc lập suy nghĩ vận dụng vào hoàn cảnh mới
Ví dụ: Hòa tan hoàn toàn một hỗn hợp gồm 0,01 mol Fe và 0,02 mol
Fe2O3 trong dung dịch có chứa 0,14 mol HCl thu được dung dịch A Cho A tác dụng với dung dịch KMnO4 dư đã được axit hóa bằng H2SO4 loãng thì thu được khí B Viết phương trình phản ứng và tính thể tích khí B ở 250C và 1,5
0
Trang 37 nHCl pư = 0,14 mol (vừa đủ)
Dung dịch A chứa 0,01 mol FeCl2 và 0,04 mol FeCl3
đóng vai trò là chất khử ! Nếu thiếu tư duy độc lập, không nắm vững bản chất của các phản ứng xảy ra trong dung dịch là sự tương tác giữa các ion đối kháng thì chắc chắn sẽ giải sai bài toán
* Yêu cầu HS tự ra đề toán:
Việc yêu cầu HS tự xây dựng câu hỏi và bài toán là một vấn đề khó, hiện nay chưa ai làm, vì rằng HS làm toán còn chưa xong huống chi xây dựng bài toán, nhưng không phải mọi HS đều không làm được, cứ xem đây là một dạng
Trang 38bài tập rất nhỏ, bước đầu dành cho HS khá trở lên Đây là một công việc đòi hỏi năng lực độc lập rất cao và phần nào mang tính sáng tạo Để làm được điều này đòi hỏi HS phải nắm vững kiến thức cơ bản, để khẳng định bài toán được xây dựng đúng thì phải có óc xem xét và biết phê phán Có thể giúp HS nâng cao năng lực học tập, bằng cách tiến hành từng bước để tập dượt từ dễ đến khó Giáo viên có thể gợi ý về nội dung kiến thức và cho một vài dữ kiện để học sinh ra bài tập
Ví dụ: Cho dung dịch HCl 0,1M, 500ml dung dịch NaOH 2M, 11g hỗn hợp Al,
Fe và 8,96 lít H2(ĐKTC)
Học sinh có thể ra các dạng bài tập sau
1/ Hoà tan hoàn toàn 11g hỗn hợp A gồm Al, Fe bằng dung dịch HCl 0,1M người ta thu được 8,96 lít H2(ĐKTC) và dung dịch B
a.Tính % khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp?
b Cho dung dịch B phản ứng với 500ml dung dịch NaOH 2M thì thu được bao nhiêu g kết tủa?
2/ Hoà tan hoàn toàn 11g hỗn hợp A gồm Al, Fe bằng dung dịch HCl 0,1M người ta thu được 8,96 lít H2(ĐKTC)
a Tính V dung dịch HCl đã tham gia phản ứng?
b Nếu cho 11g hỗn hợp A ở trên phản ứng với 500ml dung dịch NaOH 2M
thì thu được V lít khí (ĐKTC) và dung dịch B và chất rắn C Tính V và CM các chất trong dung dịch B
Với các học sinh khá giáo viên có thể cho học sinh tự chọn nội dung kiến thức để ra bài tập
* Hoàn thiện phương pháp giải toán:
Hoàn thiện ở đây không có nghĩa là kết thúc, mà mang tính chất khái quát các dạng toán, các dạng phương pháp giải sao cho có tính hệ thống và tốt hơn
Ví dụ: Để giúp HS rút ra kết luận khái quát về ảnh hưởng của môi trường đến
tính chất của ion NO
3 GV có thể đưa ra 2 bài tập sau sau:
Bài 1: Cho 9,6 gam Cu vào 100ml dung dịch hai muối NaNO3 1M và Ba(NO3)2
Trang 391M, không thấy hiện tượng gì, cho thêm vào 500ml dung dịch H2SO4 1M thấy
thoát ra V lít (ở đktc) khí NO duy nhất Giá trị của V là
Bài 2: Cho 24,3 gam bột Al vào 225 ml dung dịch hỗn hợp NaNO31M và
NaOH 3M, khuấy đều cho đến khi ngừng khí thoát ra thì dừng lại Thể tích khí
Trang 40Gây cho học sinh hứng thú tư duy độc lập là một việc làm rất khó đòi hỏi phải có kinh nghiệm trong giảng dạy Để làm được việc này giáo viên phải chú ý ra bài tập vừa sức với học sinh và có khen thưởng, động viên kịp thời
Ví dụ để củng cố phần tính chất hoá học của sắt và hợp chất của sắt với học sinh trung bình có thể ra bài tập:
1/Hoà tan hoàn toàn 24,8g hỗn hợp A gồm Fe và Cu bằng dung dịch HNO3
loãng người ta thu được 6,72 lít khí NO duy nhất (ĐKTC) và dung dịch B
a.Tính % khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp?
b Cho dung dịch B phản ứng với dung dịch NaOH dư thu kết tủa C Nung C trong không khí thì thu được bao nhiêu gam chất rắn?
Bài tập này học sinh chỉ cần viết được phương trình phản ứng rồi đặt ẩn, lập hệ phương trình là tính được không có gì khó khăn
Với học sinh khá có thể ra bài tập:
2/ Để khử hoàn toàn 17,6 g hỗn hợp Fe, FeO, Fe3O4, Fe2O3 cần vừa đủ 2,24 lít
CO ở ĐKTC Tính khối lượng Fe thu được
Số mol CO = y + 4z + 3t =
4,22
24,2
= 0,1
Học sinh khá có thể phát hiện vấn đề khi khử oxit sắt, CO lấy oxi của