Vai trò của giáo dục trong việc hình thành và phát triển năng lực 29 Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” CỦA HỌC SINH 2.1.. Thực trạng năn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- 0 -
HOÀNG THỊ TÂM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ CHƯƠNG
“ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” CHO HỌC SINH KHỐI 10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGÔ THÌ NHẬM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
(bộ môn Vật lý)
Mã số: 60.14.10
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS ĐẶNG XUÂN HẢI
2 PGS TS ĐINH THỊ KIM THOA
Hà Nội – 2010
Trang 2lời cảm ơn
Với tất cả lòng chân thành và tình cảm của mình, tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể thầy giáo, cô giáo tr-ờng Đại học giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội Các thầy cô đã tận tình truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức khoa học, những kinh nghiệm sống, ph-ơng pháp giảng dạy, những
kỹ năng giao tiếp s- phạm cũng nh- tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng tôi học tập và hoàn thành khóa học tại tr-ờng
Tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn, sự kính trọng tới PGS TS Đặng Xuân Hải và T.S Đinh Thị Kim Thoa cùng các thầy cô giáo trong hội đồng đã dành thời gian và tình cảm đọc và góp ý chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới BGH, các thầy giáo, cô giáo, cùng toàn thể các em học sinh tr-ờng THPT Ngô Thì Nhậm đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi có đ-ợc những t- liệu quý báu, những thông tin chính xác để em hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và ng-ời thân đã
động viên giúp đỡ, động viên cho tôi hoàn thành khoá học cũng nh- luận văn này
Mặc dù đã hết sức cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận đ-ợc sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn đ-ợc hoàn thiện và có ý nghĩa thực tế hơn
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2010
Học viên
Hoàng Thị Tâm
Trang 37 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3
1.2.1 Quan niệm về năng lực 10
1.2.3 Bài tập vật lý và phát triển năng lực giải bài tập vật lý 18 1.3 Vai trò của giáo dục trong việc hình thành và phát triển năng lực 29
Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ
CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” CỦA HỌC SINH
2.1 Đặc điểm của chương “Động lực học chất điểm” - vật lý 10 ban cơ
bản
31
2.2 Biểu hiện năng lực giải bài tập và tiêu chí đánh giá năng lực giải
bài tập chương “Động lực học chất điểm”của học sinh 33
Trang 42.2.1 Biểu hiện năng lực giải bài tập chương “Động lực học chất
2.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực giải bài tập chương “Động lực học
2.3 Thực trạng kết quả học tập của chương “Động lực học chất
điểm” với kết quả các chương học khác của học sinh khối 10 trường
2.4 Thực trạng về năng lực giải bài tập của học sinh khi học chương
"Động lực học chất điểm" - vật lý 10 ban cơ bản 37 2.4.1 Thực trạng hứng thú giải bài tập chương "Động lực học chất
2.4.2 Thực trạng năng lực tiếp thu kiến thức lý thuyết và vận dụng
vào giải bài tập chương “Động lực học chất điểm” của học sinh 43 2.4.3 Thực trạng năng lực vận dụng phương pháp giải các dạng bài
tập cơ bản chương “Động lực học chất điểm” của học sinh 57 2.4.4 Thực trạng năng lực sáng tạo, năng lực tư duy logic và khả năng
khái quát vấn đề của học sinh khi giải bài tập chương “Động lực học
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI BÀI
TẬP VẬT LÝ CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” CHO
HỌC SINH KHỐI 10 BAN CƠ BẢN TRƯỜNG THPT NGÔ THÌ NHẬM 78
3.3 Các biện pháp phát triển năng lực giải bài tập vật lý chương
“Động lực học chất điểm” cho học sinh khối 10 trường THPT Ngô
3.3.1 Tạo dựng cho học sinh động cơ, hứng thú trong việc giải bài
tập vật lý nói chung và chương “Động lực học chất điểm” nói riêng 81
Trang 53.3.2 Phát triển năng lực giải bài tập của học sinh thông qua con
3.3.3 Phát triển cho học sinh năng lực sáng tạo, năng lực khái quát
vấn đề năng lực phân dạng bài tập khi giải bài tập chương “Động lực
3.3.4 Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập vật lý chương “Động
lực học chất điểm” theo hướng phát triển năng giải bài tâ ̣p cho học
Trang 6MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Quý I năm 2009, Bộ chính trị đã họp kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết trung ương 2 (khoá VIII) về giáo dục và đào tạo Bên cạnh những mặt được, Bộ chính trị cũng chỉ ra một số điểm tồn tại trong đó có chương trình, quy trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hoá, công tác quản lý giáo dục còn nhiều yếu kém, tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế Đây chính là một trong những vấn đề nổi cộm mà hệ thống nhà trường ở các cấp học đã và đang từng bước tháo gỡ Phải nói rằng chất lượng, hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào nhiều thành tố, nhưng có lẽ mấu chốt của vấn đề cần phải
có bước đột phá vẫn là phương pháp dạy và học Dường như trong tất cả các hội nghị bàn về giáo dục và đào tạo, các yếu tố về nội dung, chương trình … thì vấn đề nổi lên thu hút nhiều ý kiến tham gia của các nhà khoa học, các chuyên gia giáo dục, các cấp học đều xoay quanh phương pháp dạy và học Đứng trước sự phát triển của kinh tế, xã hội đã đặt ra đòi hỏi giáo dục Việt Nam cần có định hướng phù hợp Mục tiêu của giáo dục Việt Nam:
“Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần xây dựng thế hệ con người Việt Nam mới hiện đại, có bản lĩnh, tự chủ, trung thực, năng động, có hoài bão, có ý trí vươn lên , biết hợp tác, cạnh tranh lành mạnh, biết lập thân, lập nghiệp, biết làm giàu cho đất nước trong cơ chế thị trường…” Đặc biệt ngày này, trước những thách thức và yêu cầu của thời đại mới – thời đại của sự phát triển chủ yếu dựa vào nguồn lực thông tin
và tri thức, với xu thế toàn cầu hóa, lôi cuốn sự hội nhập của các quốc gia, các nước trêm thế giới ở mức độ khác nhau đều có những thay đổi có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo, chuyển từ đào tạo kiến thức và kĩ năng là chính sang chủ yếu là đào tạo năng lực Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tư duy
Trang 7sáng tạo, gắn liền với năng lực giải quyết vấn đề có hiệu quả Đó là xu thế tất yếu và cũng là đòi hỏi bức thiết đặt ra cho chúng ta phải thường xuyên chú trọng đến yếu tố đổi mới phương pháp dạy học Chính vì thế mà Bộ chính trị cũng đã có kết luận số 242-TB ngày 15 tháng 4 năm 2009 yêu cầu tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) phấn đấu đến năm 2020 nước ta có một nền giáo dục tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế Tình hình này đặt ra cho toàn ngành giáo dục nói chung và giáo dục THPT nói riêng phải hết sức nhậy bén, tích cực nắm bắt những yêu cầu mới để không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học ở THPT Thực trạng nhiều năm nay, phương pháp dạy và học ở trường THPT vẫn đang là bài toán chưa có lời giải, nhất là khâu dạy cho học sinh cách học Do đó, chưa phát triển được năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực thực hành và năng lực tự học, tự đào tạo cho học sinh.
Đặc biệt đối với học sinh khối 10 trong quá trình học môn vật lý cho thấy các em gặp không ít khó khăn về cách học, nhất là khâu giải bài tập Nguyên nhân này liên quan đến cả cách dạy và cách học Song làm thế nào để dạy cho học sinh cách học vẫn là điều đáng quan tâm Xuất phát từ những yêu cầu khách quan trên và thực trạng giáo dục ở nhà trường trong những năm qua, với cương vị là giáo viên môn vật lý, đã có thời gian trực tiếp giảng dạy khối 10, tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển năng lực giải bài tập Vật lý chương “Động lực học chất điểm” cho học sinh khối 10 ban cơ bản trường THPT Ngô Thì Nhậm” với hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy và học ở nhà trường
2.Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu năng lực giải bài tập vật lý của học sinh khối 10 ban cơ bản, đề xuất các giải pháp phát triển năng lực giải bài tập của học sinh THPT khi học chương “Động lực học chất điểm”
Trang 83.Đối tượng nghiên cứu
Phát triển năng lực giải bài tập vật lý chương “Động lực học chất điểm” của học sinh khối 10 ban cơ bản trường THPT Ngô Thì Nhậm
4.Khách thể nghiên cứu
Học sinh khối 10 trường THPT Ngô Thì Nhậm
5.Giả thuyết khoa học
- Năng lực giải bài tập vật lý chương “Động lực học chất điểm” của học sinh phát triển không đồng đều
- Một số học sinh tỏ ra nắm vững lý thuyết nhưng chưa phát huy được năng lực giải bài tập khi học chương này
- Kết quả học tập của một bộ phận học sinh khi học chương này được phát huy tốt nhờ phát triển được năng lực giải bài tập
6.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát những vấn đề lý luận về năng lực và phát triển năng lực giải bài tập vật lý khi học chương “Động lực học chất điểm” của học sinh khối 10 ban cơ bản
- Làm rõ thực trạng năng lực giải bài tập của học sinh khi học chương
“Động lực học chất điểm”, những hạn chế liên quan đến giải bài tập
- Đề xuất các giải pháp phát triển năng lực giải bài tập cho học sinh khối 10 ban cơ bản khi học chương “Động lực học chất điểm”
- Xây dựng và hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập chương “Động lực học chất điểm” theo hướng phát triển năng lực giải bài tập cho học sinh
7.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được dựa trên những cơ sở lý luận và phương pháp luận có tính hệ thống theo quan điểm giáo dục – đào tạo của Đảng và nhà nước ta và những vấn đề nghiên cứu được tổng kết mang tính lý luận, tính
Trang 9khoa học, thực tiễn trong giáo dục – đào tạo Đồng thời sử dụng các phương pháp truyền thống như: Nghiên cứu văn bản, tài liệu, kết quả học tập, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và toạ đàm; phân tích thực tiễn, quan sát các hoạt động học tập; trắc nghiệm; thực nghiệm kiểm chứng và thống kê toán học; phương pháp chuyên gia…
- Phương pháp nghiên cứu văn bản và tài liệu giúp chúng tôi xây dựng cơ
sở lý luận cho đề tài một các khoa học và đúng đắn
- Phương pháp quan sát: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để quan sát hành vi, thái độ của học sinh trong quá trình học cũng như quá trình giải bài tập để bổ sung thông tin cho việc điều tra thực trạng
- Phương pháp phỏng vấn: chúng tôi đưa ra các câu hỏi phỏng vấn trực tiếp các em học sinh để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng năng lực giải bài tập các đối tượng học sinh
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm điều tra năng lực giải bài tập của các đối tượng học sinh thông qua việc tự đánh giá của các em
- Phương pháp chuyên gia: Chúng tôi trực tiếp trao đổi với các giáo viên
có kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm để thống nhất đánh giá năng lực giải bài tập chương “Động lực học chất điểm” của học sinh
- Phương pháp thực nghiệm: Chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá năng lực giải bài tập của học sinh khi học chương "Động lực học chất điểm" vật lý 10 ban cơ bản và kiểm tra mức độ khả thi, đúng đắc của các biện phàp phát triển năng lực giải bài tập của học sinh mà chúng tôi đưa
ra
- Phương pháp thống kê toán học: Chúng tôi sử dụng phương pháp này
để phân tích số liệu thu được từ phiếu điều tra
- Phương pháp phân tích, đánh giá: Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm phân tích các kết quả điều tra về năng lực giải bài tập của học sinh khi học chương "Động lực học chất điểm”
Trang 108.Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đối tượng học sinh khối 10 ban cơ bản trường THPT Ngô Thì Nhậm khi học chương “Động lực học chất điểm”
9.Ý nghĩa của luận văn
Nghiên cứu phát triển năng lực giải bài tập vật lý chương “Động lực học chất điểm” đối với học sinh khối 10 ban cơ bản THPT là vấn đề hoàn toàn mới Do đó, sự thành công của luận văn có ý nghĩa tích cực góp phần nâng cao chất lượng học tập cho học sinh khối 10 THPT nói chung và có cơ
sở để phát triển năng lực giải bài tập khi học chương này của học sinh trường THPT Ngô Thì Nhậm nói riêng
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng năng lực giải bài tập vật lý chương “Động lực
học chất điểm” – của học sinh khối 10 ban cơ bản trường THPT Ngô Thì Nhậm
Chương 3: Các biện pháp phát triển năng lực giải bài tập vật lý chương
“Động lực học chất điểm” cho học sinh khối 10 trường THPT Ngô Thì Nhậm
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước về vấn đề năng lực và phát triển năng lực
1.1.1.1 Quan niệm của các triết gia Tư sản về vấn đề năng lực và phát triển năng lực
Khi bàn về vấn đề năng lực, triết gia Tư sản có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau:
Hướng sinh vật hoá phát triển năng lực của con người được khởi xướng bởi nhà khoa học người Anh F.Galtol (1822-1911) Trong tác phẩm “Sự di truyển của tài năng” xuất bản năm 1869, F.Galtol đã khẳng định tài năng của con người là do nhân tố gen di truyền quyết định Tư tưởng của ông được các nhà tâm lý học sau tiếp tục nghiên cứu , phát triển thành “Ưu sinh học” (Eugenic) Các nhà khoa học theo hướng này khẳng định: Sự hình thành và phát triển năng lực của con người hoàn toàn do các nhân tố sinh vật của con người quyết định là gen, đặc điểm cấu trúc thể trạng, bản năng sinh vật của con người Các nhân tố xã hội chỉ là điều kiện ảnh hưởng, hỗ trợ cho các nhân
tố sinh vật phát huy trong hoạt động của con người F.Galton kết luận nhân tố gen giữ vai trò quyết định tới sự phát triển năng lực của con người dựa trên cơ
sở thống kê nghiên cứu kết quả học tập của con em các nhà tư bản giàu có, có chức quyền, có đầy đủ điều kiệm học tập để từ đó so sánh với các con em nhà lao động nghèo, ít có điều kiện học tập Hướng nghiên cứu của F.Galton được các nhà khoa học sau này tiếp tục kế thừa và phát triển như K.Bule người Áo,
Đ Điway người Mỹ, G.Reves người Mỹ hay F.Baumhacten người Đức…K.Bule và Đ Điway cho rằng nhân tố sinh vật là tiền đề là yếu tố quyết định đến sự phát triển năng lực của con người thậm chí còn “chế ngự” sự tác động của môi trường xã hội, môi trường giáo dục trong sự phát triển của nó G.Reves trong tác phẩm “Tài năng và thiên tài” (1952) và Baumhacten trong
Trang 12tác phẩm “Năng khiếu và những vấn đề của nó” (1963) đã chỉ rõ con người là
sự trưởng thành, là tính tự giác của các “nhân tố tiềm năng” trong các lĩnh vực khác nhau mà các tác động của môi trường, sự tích cực của các cá nhân không
có ảnh hưởng gì
Như vậy, các nhà tâm lý học theo hướng sinh vật hoá phát triển năng lực của con người đã khẳng định nhân tố sinh vật là tiền đề không thể thiếu trong sự hình thành và phát triển năng lực của con người Song do đứng trên quan điểm “Duy vật máy móc”, với phương pháp qiải quyết “Siêu hình” quá nhấn mạnh yếu tố sinh vật để luận giải sự phát triển năng lực của con người nên đã dẫn tới duy tâm không phản ánh đúng bản chất xã hội, lịch sử của sự hình thành và phát triển năng lực của con người
Hướng nghiên cứu nổi bật thứ hai là hướng xã hội hoá sự phát triển năng lực của con người Đại biểu cho hướng nghiên cứu này phải kể đến các nhà tâm lý học hành vi như nhà tâm lý học người Mỹ là B.F.Skiner (1904-1990) và E.Tolhan (1886-1959)… Các nhà tâm lý học theo hướng này khẳng định: Sự hình thành và phát triển năng lực của con người hoàn toàn do các yếu tố xã hội thuộc môi trường bên ngoài quyết định, phủ nhận các yếu tố xã hội “bên trong”, nhân tố sinh vật của con người Với quan niệm con người là
“cỗ máy sinh học”, hành vi phản ứng trước các kích thích của môi trường xã hội, J.Watson đã hoàn toàn phủ định tính tích cực của cá nhân, vai trò nhân tố sinh vật của con người trong sự phát triển năng lực Theo ông, phát triển năng lực của con người hoàn toàn áp đặt bởi môi trường xã hội
Sai lầm lớn nhất của thuyết này là tuyệt đối hoá môi trường xã hội, đồng nhất các yếu tố môi trường xã hội, không thấy được vai trò của các yếu
tố sinh vật và yếu tố xã hội bên trong con người
Như vậy, các triết gia tư sản đã tuyệt đối hoá yếu tố này, phủ nhận yếu tố kia hoặc ngược lại Do đó, đã không làm rõ được bản chất vấn đề phát triển năng lực của con người
Trang 131.1.1.2 Quan niệm của các nhà khoa học (Liên Xô) trước đây bàn về năng lực và phát triển năng lực
Đứng trên quan điểm duy vật lịch sử với phương pháp tiếp cận biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin các nhà tâm lý học Xô Viết đã giải quyết đúng đắn khoa học về năng lực và sự hình thành, phát triển năng lực Tiểu biểu như B.M.Chieplov (1896-1965), X.L.Rubistem (1889-1960) A.W.Leonchiev (1903-1979) hay B.G.Ananhiev (1907-1972)… Các nhà tâm
lý học Xô Viết đã đánh giá rất cao vai trò của các tố chất sinh học trong sự phát triển năng lực của con người Đây là tiền đề vật chất không thể thiếu được trong sự hình thành và phát triển năng lực của con người B.M.Chieplov viết “Cái bẩm sinh có thể là cái đặc điểm giải phẫu sinh lý, có nghĩa là các tố chất Chúng là cơ sở của sự phát triển năng lực, còn năng lực bao giờ cũng là kết quả của sự phát triển”.[5, tr.86]
Dẫn theo Nguyễn Văn Tuý trong luận án tiến sỹ tâm lý học, Hà Nội trang 25: A.N.Leonchiev trong nghiên cứu của mình cũng cho rằng những phẩm chất di truyền về mặt sinh học của con người không quyết định năng lực mà chỉ là một trong những điều kiện tiền đề vật chất của năng lực và các chức năng tâm lý người Ông thừa nhận “Những năng lực và chức năng hình thành ở con người trong quá trình ấy là cấu tạo tâm lý mới, đối với những cấu tạo này, các cơ chế về quá trình bẩm sinh di truyền chỉ là điều kiện cần thiết bên trong (chủ thể) góp phần cho cấu tạo tâm lý mới có thể xuất hiện
A.G.Covaliov khẳng định “Tư chất là cơ sở đầu tiên của năng lực, chúng chưa phát triển nhưng sẽ bộc lộ ra trong thử thách đầu tiên của hoạt động” Theo tác giả A.G.Covaliov : “Năng lực phát triển thông qua hoạt động, năng lực tồn tại trong hoạt động Năng lực không phải là thuộc tính có sẵn hoặc bất biến trong con người mà nó được hình thành và phát triển trong hoạt động” [5, tr 79-80]
Khi luận giải sự phát triển của năng lực, A.G.Covaliov luôn đề cao vai
Trang 14trò của dạy học và giáo dục đối với sự phát triển của năng lực “Dạy học và giáo dục có vai trò đặc biệt” giúp rút ngắn thời gian hình thành và phát triển năng lực [5, tr 122]
Tóm lại, các nhà tâm lý học Mác-xít đã có những đóng góp, phân tích tổng hợp khẳng định vai trò các nhân tố chi phối sự hình thành và phát triển năng lực con người
1.1.2 Các nghiên trong nước về năng lực và phát triển năng lực
Văn kiện Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ IX khẳng định: “Nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho mọi người đều có thể phát huy hết tài năng, tham gia vào các quá trình phát triển và hưởng thụ những thành quả của quá trình phát triển” [1, tr 141]
Đảng ta đã xác định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chi phối mạnh mẽ tới sự phát triển năng lực Vì vậy, giáo dục và đào tạo được coi
là quốc sách hàng đầu, là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững,
“Không có giáo dục và đào tạo chúng ta không có đủ tri thức, năng lực làm chủ tự nhiện, xã hội và bản thân” Điều này cho thấy vai trò của giáo dục rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển năng lực
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà một phần lớn do các công tác, do luyện tập mà có” [11, tr 274]
Các nhà tâm lý học Việt Nam cũng tập trung nghiên cứu phát triển năng lực của con người trong các hoạt động khác nhau Công trình “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá” của GS.VS.TSKH Phạm Minh Hạc hay tác phẩm “Năng lực sư phạm của người giáo viên” của GS.TS.Phạm Tất Dong hay “Tâm lý học phát triển của TS.Nguyễn Thị Nho… đã chỉ ra những điều kiện cho sự phát triển tâm lý trong đó có phát triển năng lực là phải có các yếu tố: thể chất, bẩm sinh, di
Trang 15của các yếu tố trong sự phát triển năng lực: “Yếu tố bẩm sinh, di truyền là tiền
đề là điều kiện tự nhiên cho sự phát triển tâm lý, môi trường xã hội là điều kiện quan trọng cho sự phát triển tâm lý và và hoạt động của chủ thể có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển tâm lý” [12, tr 5,24,25]
Trên cơ sở lí luận đúng đắn về năng lực và sự hình thành, phát triển năng lực, trong quá trình dạy học cũng có nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu nhằm phát triển năng lực cho người học như công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Quốc Minh - giảng viên Đại học Đồng Tháp với công trình “Xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm hình thành và phát triển năng lực nhận thức, đánh giá và thưởng thức tác phẩm văn chương của học sinh THPT”, thạc sĩ Phan Anh với “Rèn luyện cho học sinh THPT năng lực khái quát hoá tình huống thực tiễn theo quan điểm toán học”, Tiến sĩ Nguyễn Thế Hưng - giảng viên Đại học quốc gia Hà Nội với “Đổi mới câu hỏi , bài tập kiểm tra nhằm phát huy năng lực tư duy sáng tạo của học sinh trong dạy học sinh học ở trường phổ thông”… Các nghiên cứu trên tuy bàn về những nội dung khác nhau nhưng đều thống nhất mục đích nhằm phát triển năng lực học tập cho học sinh
1.2 Quan niệm về năng lực; phát triển; phát triển năng lực giải bài tập
1.2.1 Quan niệm về năng lực
1.2.1.1 Quan niệm về năng lực
Trong từ điển triết học do NXB tiến bộ Mátxcơva khẳng định: "Năng lực theo nghĩa rộng là những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của
cá thể và là điều kiện cho hoạt động sống của cá thể".[3, tr 397]
Theo triết học Mác-xít, trước hết coi năng lực của con người là khả năng thể hiện mình trong bối cảnh nhất định; năng lực thuộc bản chất của con người Hiểu theo nghĩa đặc biệt, năng lực là toàn bộ những thuộc tính tâm lý của con người khiến cho con người thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định đã được hình thành trong lịch sử Trái ngược với quá
Trang 16trình hình thành bản năng động vật là sự tổng hợp kinh nghiệm được loài truyền lại nhờ cơ chế di truyền sinh vật và cá thể, năng lực của con người là sản phẩm của sự phát triển lịch sử xã hội Vì vậy năng lực của con người không những phụ thuộc vào hoạt động của bộ não mà còn do trình độ phát triển lịch sử của xã hội loài người quyết định
Trong từ điển tiếng Việt: "Năng lực là một trong những điều kiện đủ hoặc vốn có để thực hiện một công việc Năng lực là khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc" [2, tr 1172)
Theo nghĩa thông thường, năng lực là những điều kiện khả năng tự nhiên và chủ quan của con người trong thực hiện một công việc nhất định Trong thực tế, người nào cũng có thể tiếp thu một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tối thiểu là cái làm cho người ta có thể dung khi hoạt động Song, trong những điều kiện như nhau thì những người khác nhau có khả năng tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo ở mức độ, nhịp độ khác nhau Ví dụ trong hoạt động tiếp thu kiến thức học sinh này có thể tiếp thu nhanh, học sinh khác lại tiếp thu chậm Hay cùng một dạng bài tập, cùng điều kiện học tập như nhau, học sinh này có thể đật trình độ giải một cách điêu luyện, thành thạo nhưng học sinh khác lại ở mức độ bình thường…
Có nhiều công trình nghiên cứu với các góc độ tiếp cận khác nhau mà
có các định nghĩa khác nhau về năng lực
Dưới góc độ xã hội, năng lực là tổng hợp những phẩm chất cá nhân đáp ứng những yêu cầu của hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng thành thạo và đạt hiệu quả cao
Dưới góc độ triết học, năng lực là tổng hợp những đặc điểm cá nhân, những khả năng chủ quan để thực hiện có hiệu quả một dạng hoạt động nhất định của chủ thể Năng lực vừa là cái tự nhiên vốn có mang tính di truyền giữa các thế hệ vừa là sản phẩm của lịch sử Con người trước hết là một thực thể tự nhiên, là sản phẩm tiến hoá của giới tự nhiên Đồng thời là một thực thể
Trang 17xã hội, được quy định bởi các quan hệ xã hội trong quá trình phát triển Mặt
xã hội và mặt tự nhiên thống nhất chặt chẽ với nhau tạo nên con người hiện thực Năng lực của con người được hình thành và phát triển trên chính sự thống nhất biện chứng của hai mặt này Năng lực được hình thành trên cơ sở cấu trúc sinh học có thể di truyền cho thế hệ sau thông qua gen di truyền là cái không thể thiếu nhưng năng lực của con người chủ yếu là sản phẩm của lịch
sử, của điều kiện môi trường xã hội, của hoạt động thực tiễn
Trong khoa học tâm lý, người ta coi năng lực là những thuộc tính tâm
lý riêng của cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt một loại hoạt động nào đó hoặc có thể vượt qua những khó khăn mà với nhiều người khác không vượt qua được Năng lực gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực hoạt động tương ứng Song, kĩ năng, kĩ xảo liên quan đến việc thực hiện một hoạt động hẹp, chuyên biệt, đến mức thành thạo, máy móc Còn năng lực chứa đựng yếu tố mới mẻ, linh hoạt trong hoạt động, có thể giải quyết nhiệm vụ thành công trong nhiều tình huống khác nhau, trong một lĩnh vực hoạt động rộng hơn
Khi nghiên cứu về năng lực các tác giải Việt Nam cũng đưa ra các quan điểmkhác nhau về năng lực Theo Phạm Minh Hạc: năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện thực hiện có hiệu quả hoạt động đó Theo tác giả Trần Trọng Thuỷ đưa ra quan niệm cho rằng: năng lực là sự phù hợp một tổ hợp thuộc tính nào
đó của các nhân với yêu cầu của hoạt động nhất định, được thể hiện ở sự hoàn thành tốt đẹp hoạt động ấy
Như vậy không có năng lực chung chung mà năng lực bao giờ cũng gắn
với hoạt động cụ thể của con người Theo tôi, năng lực là phẩm chất tâm sinh
lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người hoàn thành một hoạt động nào
đó với chất lượng cao Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn- một dạng
Trang 18hoặc một số dạng hoạt động nào đó; năng lực gắn liền với phẩm chất trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ và tính cách của cá nhân Năng lực có thể di truyền thông qua gen nhưng nó chủ yếu là sản phẩm của lịch sự và các hoạt động thực tiễn của con người
1.2.1.2 Đặc điểm của năng lực
Đặc điểm năng lực:
Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, năng lực không phải chỉ là thuộc tính, đặc điểm nào đó của các nhân mà nó bao gồm những thuộc tính tâm lý và sinh lý Tuy nhiên, sự tổ hợp này không phải là tất cả các thuộc tính tâm lý và sinh lý mà chỉ bao gồm những thuộc tính tương ứng với những đòi hỏi của một hoạt động nhất định nào đó và làm cho hoạt động đó đạt kết quả
Năng lực chỉ tồn tại trong hoạt động, gắn liền với hoạt động và chỉ được bộc lộ thông qua hoạt động Khi con người chưa hoạt động thì năng lực tồn tại dưới dạng tiềm ẩn Tuy nhiên, năng lực con người không phải sinh ra
đã có mà năng lực được hình thành và phát triển trong quấ trình hoạt động và giao tiếp Kết quả của hoạt động là thước đo đánh giá năng lực của cá nhân
Các mức độ của năng lực:
Phân chia mức độ của năng lực, có các mức độ sau:
- Năng lực: là mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị khả
năng hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó
- Tài năng là mức độ năng lực cao hơn, biểu thị sự hoàn thành sáng tạo
một hoạt động nào đó
- Thiên tài: là mức độ cao nhất của năng lực biểu thị ở mức kiệt xuất,
hoàn chỉnh nhất của những vĩ nhân trong lịch sử nhân loại
- Năng khiếu: là sự xuất hiện sớm những năng lực ở mức độ cao Từ
Trang 19không phát triển như con người mong muốn Năng khiếu là năng lực đã hướng vào hoạt động cụ thể và khi thực hiện hoạt động đó thì đạt kết quả khác thường so với lứa tuổi
1.2.1.3 Cấu trúc của năng lực
Năng lực là tổng hợp các thuộc tính tâm lý của con người gồm năng lực nhận thức và năng lực hành động Năng lực nhận thức là năng lực tiếp thu, nắm bắt các vấn đề lý luận một cách năng động, sáng tạo; nhạy bén với các vấn đề thực tiễn mới nảy sinh; có khả năng phân tích và tổng hợp thực tiễn cũng như có khả năng đề xuất các vấn đề có tính định hướng Năng lực hành động là khả năng lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả các hoạt động thực tiễn Năng lực hành động bao gồm các thao tác thực hiện hoạt động, phương pháp, kĩ năng, kĩ xảo xử lý tình huống Năng lực nhận thức có vai trò quan trọng định hướng cho năng lực hành động Ngược lại, năng lực hành động là cơ sở, điều kiện hiện thực hoá năng lực nhận thức
Theo tâm lý học, năng lực là các thuộc tính tâm lý cá nhân bao gồm: thuộc tính chủ đạo, thuộc tính nền và thuộc tính phụ trợ Ví dụ cấu trúc năng lực giải bài tập vật lý của học sinh THPT: Thuộc tính chủ đạo trong năng lực giải bài tập của học sinh THPT là năng lực tiếp thu các kiến thức vật lý Thuộc tính nền là các kiến thức vật lý, các kiến thức toán học,hoá học … tiếp thu được trong suốt quá trình học tập và phương pháp giải bài tập Thuộc tính phụ trợ là động cơ, hứng thú, ý chí, sự kiên trì, quyết tâm của người học sinh trong suốt quá trình giải bài tập
1.2.1.4 Những dấu hiệu biểu hiện của năng lực và tiêu chí đánh giá năng lực
Năng lực được tạo nên do vốn trí thức, đặc điểm của cơ thể, khả năng
tư duy và hoạt động của trí tuệ
Những dấu hiệu biểu hiện của năng lực bao gồm:
- Năng lực của các nhân thể hiện qua sự nhanh hay chậm trong việc
Trang 20tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và thông tin
- Năng lực của con người còn thể hiện ở khả năng chọn lọc thông tin
và vận dụng vào thực tiễn các thông tin đã chọn lọc
- Năng lực thể hiện qua kĩ năng, kĩ xảo trong thao tác nghề nghiệp của con người
- Biểu hiện năng lực của mỗi người khác nhau khi so sánh hiệu quả trong tương quan thời gian, số lượng, chất lượng sản phẩm làm ra
- Cuộc sống luôn biến động, năng lực của cá nhân còn thể hiện ở khả năng thích nghi với sự thay đổi của cuộc sống, của môi trường làm việc …
- Năng lực của cá nhân còn thể hiện ở sự sung sức, hứng thú làm việc
kể cả những lúc gặp khó khăn
Từ những biểu hiện, để đánh giá năng lực của cá nhân trong một
hoạt động thực tiễn cần dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau và gắn với hoàn cảnh cụ thể khi thực hiện hành động Một trong các tiêu chí đánh giá năng lực của cá nhân trong một hoạt động thực tiễn là chủ yếu dựa vào kết quả công việc đồng thời phải xét đến các yếu tố khác như: phương thức tiến hành công việc, tính độc lập của cá nhân, tính độc đáo, tính sáng tạo, xử lý các tình huống đột ngột khách quan
1.2.1.5 Phân loại năng lực
Dựa vào các tiêu chí khác nhau ta có thể phân loại năng lực thành các loại năng lựckhác nhau:
- Dựa trên mức độ chuyên biệt của năng lực, chia làm hai loại gồm:
+ Năng lực chung: là những năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt
động khác nhau Ví dụ như các thể lực, trí tuệ…
+ Năng lực riêng (năng lực chuyên biệt, năng lực chuyên môn): là sự thể
hiện độc đáo các phẩm chất chuyên biệt, có tính chuyên môn hoá cao nhằm
Trang 21Hai loại năng lực này bổ sung lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau
- Dựa vào nguồn gốc phát sinh, phân chia năng lực thành hai loại:
+ Năng lực tự nhiên: là loại năng lực có nguồn gốc sinh vật và quan hệ
trực tiếp với tư chất của con người Năng lực này được di truyền qua gen Tuy nhiên năng lực này có thể bị tác động và biến đổi của môi trường giáo dục
+ Năng lực xã hội: là loại năng lực được hình thành và phát triển trong
quá trình sống và hoạt động của mỗi cá nhân Nhờ năng lực này mà ta có thể hiểu và cải tạo được thế giới
-Dựa vào mức độ phát triển của năng lực, có hai loại:
+ Năng lực học tập, nghiên cứu: là năng lực liên quan đến việc lĩnh hội
tri thức, kĩ năng, kĩ xảo… đã có sẵn trong nền văn hoá xã hội Các năng lực này có thể gồn năng lực chú ý, năng lực phân tích, năng lực tổng hợp, năng lực khái quát, so sánh…
+ Năng lực sáng tạo: là năng lực liên quan đến việc tạo ra một sản phẩm,
tri thức, phương thức hoạt động mới cho xã hội loài người
1.2.1.6 Điều kiện để có năng lực
a Điều kiện tự nhiên của năng lực:
Nói đến điều kiện tự nhiên là nói đến tư chất của con người Tư chất là những đặc điểm riêng của cá nhân về giải phẩu sinh lý và chức năng của chúng được biểu hiện trong hoạt động đầu tiên của con người Xung quanh vấn đề tư chất có ảnh hưởng như thế nào đến sự hình thành và phát triển năng lực cũng có nhiều quan điểm khác nhau
Quan điểm Duy tâm tư sản cho rằng yếu tố bẩm sinh - di truyền là điều kiện quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực
Quan điểm Duy vật biện chứng cho rằng tư chất có ảnh hưởng nhất định đến sự khác biệt năng lực người này với người khác Nếu người nào
Trang 22được tiếp thu một tư chất tốt sẽ là điều kiện cho việc tiếp thu tri thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo Tư chất là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển năng lực Tuy nhiên, tư chất chỉ là điều kiện chứ không quyết định đến năng lực
b Điều kiện xã hội của năng lực:
Năng lực của con người là sản phẩm của sự phát triển lịch sử - xã hội
Xã hội càng phát triển thì năng lực càng phát triển Sự phát triển của năng lực còn chịu sự chi phối của chế độ chính trị Có năng khiếu, có năng lực nhưng
xã hội không sử dụng thì cũng không phát huy được năng lực đó
Giáo dục là động lực cho sự phát triển năng lực Chúng ta biết rằng ý thức được hình thành cùng với sự ra đời của ngôn ngữ, lao động, trên nền tảng của sự phát triển hoạt động nhận thức ở mức độ nhất định Năng lực làm chủ hành động, ngôn ngữ, thái độ của mình trong các quan hệ, đó là biểu hiện của ý thức, nó chỉ được hình thành và phát triển trong giao tiếp với mọi người xung quanh
1.2.2 Quan niệm về phát triển
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, phát triển là một kiểu vận động đặc biệt theo xu hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của các sự vật, hiện tượng Đó là quá trình khách quan, là sự phát triển mà nguồn gốc, động lực của nó là sự đấu tranh giải quyết giữa các mặt đối lập bên trong của sự vật, hiện tượng
Theo tôi, phát triển là mở mang, làm cho chiều hướng tăng từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh, từ ít lên nhiều, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của các sự vật, hiện tượng
Nguyên lý phát triển thừa nhận mọi sự vật đều vận động không ngừng, không ngừng chuyển hoá lẫn nhau để tạo ra cái mới chưa hề có Cái mới này
là kết quả phát triển tất yếu của quá khứ, là sự kế thừa quá khứ theo phương
Trang 23thức phủ định hay nói cách khác, cái mới không nảy sinh từ bản thân nó mà nảy sinh nhờ phủ định cái trước đó rồi tự hoàn thiện mình trên cơ sở của chính mình Một cái mới đồng thời cũng là một phương thức vận động mới Như vậy nguyên lý phát triển chi phối toàn bộ quá trình phát triển và trong từng giai đoạn phát triển
1.2.3 Bài tập vật lý và phát triển năng lực giải bài tập vật lý
1.2.3.1 Khái niệm bài tập vật lý và giải bài tập vật lý
Bài tập vật lý là những tình huống chứa đựng những vấn đề vật lý đòi hỏi người giải phải vận dụng kiến thức vật lý hay kinh nghiệm vốn có và những
kĩ năng , kĩ xảo cần thiết để giải quyết vấn đề Giải bài tập suy cho cùng là giải quyết vấn đề nảy sinh trong bài tập bằng các kiến thức và kinh nghiệm của bản thân GV đưa ra tình huống có vấn đề có thể là câu hỏi, bài toán, thí nghiệm, các hiện tượng trong tự nhiên dưới hình thức kiểm tra bài cũ hoặc
là GV thông báo GV bằng phương pháp đàm thoại yêu cầu HS trình bày lại những kiến thức đã học để làm cơ sở cho HS phát hiện vấn đề mới và đề xuất giả thuyết giải quyết vấn đề đó Đó chính là quá trình giải bài tập của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên Tuỳ theo năng lực học tập của học sinh mà
mà giáo biên có thể hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề theo mô hình sau:
GV vạch ra mâu thuẫn GV đặt câu hỏi gợi nhớ giúp học sinh tìm ra mâu thuẫn HS độc lập phân tích tình huống, phát hiện được mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn
Quá trình giải bài tập của học sinh cũng có thể độc lập diễn ra trong quá trình tự học Quá trình giải quyết vấn đề trong bài tập này diễn ra như sau:
HS tiếp xúc với bài tập Phát hiện vấn đềĐộc lập tư duy để giải quyết vấn đề
Trang 24Giải bài tập hiệu quả cần thực hiện tốt các bước sau:
- Phát hiện vấn đề trong bài tập:
Trước khi tìm hướng giải quyết vấn đề, chúng ta cần xem xét kỹ đó có thật sự là vấn đề đúng nghĩa hay không, bằng cách tự hỏi: chuyện gì sẽ xảy ra nếu ?; hoặc: giả sử như việc này không thực hiện được thì ?
- Tìm hiểu rõ vấn đề:
Chưa hiểu rõ nguồn gốc của vấn đề sẽ dễ dẫn đến cách giải quyết sai lệch, hoặc vấn đề cứ lặp đi lặp lại Chúng ta cần tìm hiểu những thông tin cần thiết liên quan vấn đề cần giải quyết, theo gợi ý sau:
Mô tả ngắn gọn vấn đề; nó liên quan đến hiện tượng nào, kiến thức của bai học, môn học?
Có gì đặc biệt hay khác biệt trong vấn đề này không?
Tính chất của vấn đề ?
- Chọn giải pháp giải quyết vấn đề trong bài tập:
Sau khi đã tìm hiểu được cội rễ của vấn đề, chúng ta sẽ đưa ra được rất nhiều giải pháp để lựa chọn Ở giai đoạn này, chúng ta cần thử nghiệm tính khả thi của từng giải pháp nhưng chỉ là thử trong đầu và chọn ra giải pháp tối
ưu nhất
- Thực thi giải pháp đã lựa chọn:
Khi đã hiểu được vấn đề và biết cách giải quyết nó, chúng ta bắt đầu thực hiện giải quyết vấn đề Khi thực hiện giải quyết vấn đề cần chú ý đến thời gian thực hiện, hiệu quả của công việc, tính ngắn gọn, khoa học, xúc tích và chính xác của các bước giải
Trang 25- Đánh giá toàn bộ quá trình giải bài tập:
Sau khi đã đưa vào thực hiện một giải pháp, chúng ta cần kiểm tra xem cách giải quyết đó đã tối ưu chưa, có những vấn đề gì cần rút kinh nghiệm, cần phải ghi nhớ cho những lần giải bài tập sau
Bước đánh giá toàn bộ quá trình giải quyết bài tập là khâu rất quan trọng nhưng nhiều học sinh lại bỏ qua
1.2.3.2 Cấu trúc năng lực giải bài tập
Có nhiều cách phân chia cấu trúc năng lực giải bài tập Trong giới hạn
đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi đưa ra cấu trúc năng lực gồm:
- Nhóm năng lực môn học: Năng lực nhận thức và năng lực vận dụng các
kiến thức cơ bản vào giải quyết các tình huống, bài tập cụ thể
- Nhóm năng lực phương pháp:
+ Năng lực tìm hiểu đề bài:
Phân biệt được đâu là ẩn số
Dùng kí thiệu để tóm tắt đề bài Nếu cần thiết phải vẽ hình minh hoạ diễn đạt điều kiện ban đầu của bài toán
+ Năng lực phân tích hiện tượng: Những sữ kiện đã cho của bài toán liên
quan đến những khái niệm, định luật nào trong vật lý Xác định các giai đoạn, diến biến của hiện tượng và các định luật chi phối
+ Năng lực xây dựng lập luận: Sử dụng phương pháp phân tích và phương
pháp tổng hợp Phương pháp phân tích để tìm ra mối liên hệ giữa ẩn số và đại lượn nào đó của một định luật đã xác định, diễn đạt bằng công thức, tiếp tục phát triển lập luận hoặc biến đổi cuối cùng để tìm được mối quan hệ giữa ẩn
số và các dữ kiện đã cho Phương pháp tổng hợp theo trình tự ngược lại: điểm xuất phát từ các dữ liệu đề bài, xây dựng lập luận hoặc biến đổi để tìm
Trang 26ra mối liên hệ giữa ẩn số và các dữ liệu đã cho
+ Biện luận: Phân tích kết quả để tìm ra nghiệm phù hợp cho bài toán
1.2.3.3 Những dấu hiệu biểu hiện năng lực giải bài tập của học sinh THPT
Có nhiều cách tiếp cận, nghiên cưú về năng lực, song trong phạm vi đề tài này chúng tôi trung nghiên cứu dấu hiệu biểu hiện sau của năng lực giải bài tập:
1 Năng lực tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và thông tin môn học nhanh hay chậm
Trong cùng điều kiện học tập như nhau, mỗi học sinh có năng lực tiếp thu kiến thức là khác nhau Điều này có thấy rõ trong các buổi học lý thuyết trên lớp các em tiếp thu bài học ở mức độ nào?
2 Năng lực chọn lọc và vận dụng kiến thức môn học vào thực hành giải bài tập
Với những kiến thức lý thuyết của bài học mà các em thu nhận được, các em vận dụng để giải quyết các tình huống và bài tập ra sao?
3 Năng lực giải bài tập còn thể hiện qua phương pháp giải bài tập mà các em vận dụng để thực hiện bài toán
4 Năng lực thể hiện qua kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình thực hiện giải bài tập và xử lý các dạng bài tập khác nhau của chương học, môn học
Trang 275 Biểu hiện của năng lực khi so sánh hiệu quả trong sự tương quan thời gian, số lượng, chất lượng bài làm của học sinh
6 Năng lực biểu hiện ở khả năng sáng tạo trong quá trình giải bài tập
và khả năng khái quát, xâu chuỗi các dạng bài tập trong chương học
7 Năng lực thể hiện ở động cơ, hứng thú, sự kiên trì, quyết tâm trong quá trình giải bài tập của cá nhân học sinh
1.2.3.4 Tiêu chí đánh giá năng lực giải bài tập và chỉ số của sự phát triển năng lực của cá nhân
Tiêu chí đánh giá năng lực giải bài tập của cá nhân:
- Tiêu chí 1: Sự say mê, hứng thú của học sinh trong quá trình giải bài tập trên lớp cũng như hoàn thành các bài tập ở nhà và làm thêm các bài tập tham khảo
- Tiêu chí 2: Học sinh vận dụng được các kiến thức cơ bản vào giải các bài tập cụ thể sau mỗi bài học, chương học
- Tiêu chí 3: Học sinh hiểu và vận dụng được phương pháp giải bài tập của các dạng bài tập
- Tiêu chí 4: Học sinh thành thạo các kĩ năng, kĩ xảo khi giải bài bài tập
- Tiêu chí 5: Học sinh có tư duy logic, tư duy sáng tạo và khả năng xâu chuỗi các vấn đề trong quá trình giải bài tập
Chỉ số của sự phát triển năng lực giải bài tập của học sinh:
Năng lực giải bài tập của học sinh được đánh giá dựa trên các tiêu chí trên Sự phát triển của năng lực giải bài tập được đánh giá dựa trên các chỉ số sau:
- Tốc độ định hướng giải quyết vấn đề bao gồm: sự nhanh trí khi hiểu bản chất vấn đề mà bài toán đề cập; nhanh chóng chọn lọc kiến thức và hướng giải quyết vấn đề
Trang 28- Tốc độ giải quyết vấn đề: thể hiện sự thành thạo các kĩ năng, kĩ xảo trong thao tác giải bài tập để có kết quả nhanh chóng và chính xác
- Tính chính xác, ngắn gọn và hợp lý: xác định bởi số lần lập luận cần và đủ
để đi đến kết quả bài toán một cách nhanh nhất
- Tính mềm dẻo và linh hoạt: thể hiện ở sự dễ dàng hay khó khăn trong việc xây dựng lại cách giải quyết vấn đề khi dữ kiện đề bài có sự thay đổi Tính mềm dẻo, linh hoạt của năng lực giải toán thể hiện ở các kỹ năng sau:
+ Kĩ năng biến thiên cách giải quyết vấn đề phù hợp với biến thiên của điều kiện
+ Kỹ năng xác lập sự phụ thuộc giữa những kiến thức đã có sang một trật tự
ngược với chúng và và trật tự tiếp thu Ví dụ từ giải bài toán thuận sang bài
toán nghịch
+ Kỹ năng xây dựng nhiều hướng giải quyết vấn đề cho cùng một bài toán
- Tính sáng tạo, khả năng khái quát tiến tới phân dạng bài tập:
+ Tính sáng tạo thể hiện ở chỗ học sinh tìm ra lời giải hay, mới mẻ cho bài toán khác với cách giải thông thường
+ Khả năng khái quát tiến tới phân dạng bài toán của học sinh thể hiện ở chỗ sau quá trình giải bài tập, học sinh nhận ra được điểm chung của vấn đề và tìm ra phương pháp giải quyết chung cho vấn đề
1.2.3.5 Quan niệm phát triển năng lực giải bài tập cho học sinh phổ thông
Dựa trên các quan điểm về năng lực và phát triển chúng tôi đưa ra quan điểm về phát triển năng lực giải bài tập của học sinh là quá trình tiếp nhận và chuyển hoá kiến thức lý thuyết vào thực hành giải các bài tập nhằm nâng cao năng lực lên một trình độ mới về nhận thức nhằm đáp ứng yêu cầu dạy học và mục tiêu đào tạo của nhà trường
Quá trình phát triển năng lực giải bài tập của học sinh là quá trình họ
Trang 29tài liệu bổ trợ nâng cao khác Từ đó hình thành ở họ ở họ kĩ năng vận dụng vào giải bài tập trong các điều kiện, tình huống khác nhau Từng bước biến những kiến thức, kĩ năng đó thành năng lực của riêng bản thân thông qua sự phát triển dần từ thấp tới cao, từ chỗ tiếp nhận sự đào tạo đến quá trình tự đào tạo của bản thân
Năng lực giải bài tập của học sinh THPT là năng lực nắm vững lý
thuyết biết vận dụng vào giải bài tập; là năng lực làm chủ các phương pháp giải bài tập và các thao tác kĩ năng, kĩ xảo xử lý trong quá trình giải và tính toán ra kết quả bài toán Vì vậy, có thể nói năng lực giải bài tập của học sinh THPT là sự thống nhất khả năng nhận thức tri thức khoa học với khả năng vận dụng giải bài tập Do đó, phát triển năng lực giả bài tập của học sinh cần kết hợp giữa dạy lý thuyết và dạy thực hành bài tập
Mục đích phát triển năng lực giải bài tập cho học sinh là giúp cho học sinh nâng cao năng lực giải bài tập ở các dạng bài tập khác nhau trên cơ sở vận dụng sáng tạo lý thuyết vào giải bài tập, rộng hơn là bước đầu giúp cho học sinh biết cách vận dụng tri thức vào cuộc sống thực tiễn muôn màu
1.2.3.6 Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến quá trình phát triển năng lực giải bài tập của học sinh
a Chú ý:
- Khái niệm chú ý: Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hoặc một số các
sự vật, hiện tượng để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh, tâm
lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả
- Các thuộc tính cơ bản của chú ý ảnh hưởng đến quá trình tư duy giải bài tập
của học sinh:
+ Sức tập trung của chú ý: Sự tập trung chú ý thể hiện tiêu biểu bởi bởi sự tiêu hao năng lượng thần kinh tương ứng để thực hiện hoạt động giải bài tập Sự tập trung chú ý giúp cho việc giải bài tập của học sinh đạt hiệu quả tốt hơn
Trang 30nhờ việc huy động kiến thức một cách hiệu quả, liền mạch và thực hiện thao tác giải bài tập một cách chính xác
+ Sự bền vững của chú ý: Đó là khả năng duy trì sự lâu dài của chú ý vào đối tượng giải bài tập Sự bền vững của chú ý ảnh hưởng đến khả năng học sinh hoàn thành công việc giải bài tập Để công việc giải bài tập được hoàn thành với kết quả tốt, nhanh chóng học sinh cần tập trung chú ý với cường độ cao và
sự bền bỉ của chú ý được duy trì lâu dài
+ Khối lượng chú ý: Tuỳ thuộc vào đặc điểm của bài tập mà học sinh có thể huy động khối lượng chú ý nhiều hay ít vào bài tập Ví dụ bài tập cần huy động nhiều kiến thức cũ để thực hiện nhiều nhiệm vụ mới đi đến kết quả thì học sinh cần phải huy động khối lượng chú ý lớn
+ Sự phân phối chú ý: Trong quá trình giải bài tập cũng như học tập học sinh cần thực hiện cùng lúc hai hay nhiều hoạt động khác nhau Tuy vậy, để việc giải bài tập trở nên dễ dàng và nhanh chóng cần phải biết tập trung chú ý vào các đối tượng (dữ kiện) chính của bài toán để tìm ra hướng giải quyết và giải quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả
+Sự di chuyển chú ý: Chú ý của con người có thể di chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác theo yêu cầu và nhiệm vụ của hoạt động Di chuyển chú
ý củamỗi các nhân lại phụ thuộc rất nhiều vào nhiệm vụ của hoạt động, vào khí chất, vào thưòi gian, tâm trạng, ý thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân
Do vậy để hoạt động giải bài tập của học sinh trong các tiết bài tập nói riêng
và hoạt động giải bài tập nói chung đạt hiệu quả, giáo viên cần chú ý đến sự
di chuyển chú ý của học sinh một cách hợp lý Thí dụ tạo ra không khí học tập sôi nổi, bài tập vừa sức, hấp dẫn …
Chú ý giữ và trò rất quan trọng trong mọi hoạt động nói chung và hoạt động giải bài tập nói chung Chú ý không tồn tại độc lập mà luôn đi kèm với các hiện tượng tâm lý khác và là điều kiện cho các hoạt động tâm lý đó được diễn ra hiệu quả Trong quá trình dạy học nói chung và hoạt động giải bài tập
Trang 31của học sinh nói riêng, giáo viên cần có biết pháp gây chú ý cho học sinh và từng bước hình thành các loại chú ý cho các em: từ hình thành chú ý có không chủ định đến hình hình thành chú ý có chủ định và chú ý sau chủ định Bên cạnh đó, người dạy nên tạo ra sự hứng thú, đam mê đối với hoạt động giỉa bài tập cho học sinh, tránh tạo ra sự khô khan, nhàm chán hay khó khăn khiến cho học sinh mệt mỏi và mất hết tinh thần học tập
b Trí nhớ:
- Khái niệm về trí nhớ: Trí nhớ là một quá trình tâm lý phản ánh kinh nghiệm
của cá nhân dưới hình thức biểu tượng bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo
ở trong óc cái mà con người đã trải nghiệm trước đây Đối với quá trình nhận thức, trí nhớ đóng vai trò quan trọng trong quá trình lĩnh hội trí thức Với quá trình giải bài tập của học sinh, trí nhớ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quá trình
- Quá trình ghi nhớ: Khi có sự tiếp nhận thông tin từ các giác quan, thông tin
được mã hoá vào hệ thống trí nhớ trong bộ não của con người Trí nhớ tiến hành việc lưu giữ thông tin đã được mã hoá Khi con người cần sử dụng thông tin, trí nhớ tiến hành quá trình tái hiện lại thông tin Khâu này vô cùng quan trọng giúp làm sống lại các sự vật, hiện tượng đã được lưu giữ trong hệ thống trí nhớ
- Mối quan hệ trí nhớ và quá trình giải bài tập:
+ Trí nhớ của mỗi cá nhân quyết định chất luợng của quá trình giải bài tập: Trí nhớ bao gồm khối lượng kiến thức đồ sộ được tích luỹ theo năm tháng của mỗi cá nhân Đối với lứa tuổi THPT, trí nhớ của mỗi cá nhân rất khác nhau về tốc độ ghi nhớ, thời gian giữ gìn ghi nhớ, quá trình ghi nhớ hay tài liệu ghi
nhớ… Ví dụ có học sinh ghi nhớ kiến thức môn vật lý rất nhanh nhưng có học
sinh ghi nhớ nhanh kiến thức môn văn học rất khó để ghi nhớ kiến thức toán học hay hoá học… Trong quá trình giải bài tập môn vật lý, học sinh nào có trí nhớ tốt sẽ là điều kiện thuận lợi cho quá trình giải bài tập được tiến hành
Trang 32nhanh chóng và thuận lợi
+ Quá trình giải bài tập giúp học sinh ghi nhớ kiến thức một cách hiệu quả Bước đầu, người học phải thực hiện lĩnh hội kiến thức, thông tin về đối tượng Sau đó, đê thực hiện nhiệm vụ giải quyết vấn đề trong quá trình làm bài tập, người học phải huy động trí nhớ để lấy ra những kiến thức cần dung Quá trình này giúp cho người học ghi nhớ lâu và có hệ thống kiến thức đã học
c Tƣ duy
- Định nghĩa: Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mốiliên hệ, quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật, hiện tượng mà con người chưa biết
Quá trình giải bài tập vật lý của học sinh THPT bản chất là quá trình tư duy dựa trên các tri thức vật lý để giải quyết các bài toán vật lý Để phát triển
tư duy của học sinh trong quá trình giải bài tập vật lý, người giáo viên cần chú
ý đến một số vấn đề sau:
+ Việc phát triển tư duy cho học sinh là một nhiệm vụ thiết yếu Muốn thúc đẩy người học tư duy một cách tích cực, người dạy phải biết đặt người học vào tình huống có vấn đề và biến tình huống này thành tình huống của bản thân học sinh để học sinh phải trăn trở, có nhu cầu giải quyết Do vậy, trong dạy học phải làm sao kích thích trí tò mò, thích khám phá của người học bằng cách dạy học nêu vấn đề, tạo nhiệm vụ cụ thể vừa sức cho học sinh Nếu học sinh hoàn thành tốt bài tập hay nhiệm vụ cần động viên khen thưởng kịp thời + Việc tiến hành phát triển tư duy nhằm phát triển năng lực giải bài tập cho học sinh cần đi đôi với việc truyền thụ kiến thức Học sinh chỉ có thể tư duy tốt một tình huống hay bài tập vật lý khi các em có sẵn nguồn kiến thức dồi dào làm nguyên liệu cho quá trình tư duy Các em không thể tư duy cũng không thể phát triển năng lực giải bài tập của mình mà không hề có kiến thức, hiểu biết về tri thức của môn học vật lý
Trang 33- Các giai đoạn phát triển của tư duy:
+ Xác định vấn đề: Hoàn cảnh cóvấn đề là điều kiện quan trọng của tư duy
Tư duy chỉ này sinh khi con người hiểu, nhận biết được hoàn cảnh có vấn đề
và biểu đạt nó Từ đó tìm ra cách giải quyết triệt để vấn đề
Bài tập vật lý là những tình huống có vấn đề yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức vật lý để giải quyết Việc gải quyết các tình huống có vấn đề một cách hiệu quả phụ thuộc vào năng lực của mỗi cá nhân cùng với vốn kiến thức của học sinh
+ Huy động tri thức và kinh nghiệm cho quá trình tư duy: Khi đã xác định và biểu đạt được vấn đề, trong đầu chủ thể của quá trình tư duy xuất hiện những tri thức kinh nghiệm, liên tưởng có liên quan đến vấn đề đã được xác định Việc huy động kiến thức nào, làm sống lại những liên tưởng nào đều phụ thuộc vào nhiệm vụ và vấn đề cần giải quyết
d Động cơ, hứng thú
Tạo động cơ hứng thú cho người học luôn là vấn đề quan trọng trong quá trình dạy-học Bởi như chúng ta đã biết, dạy-học là một quá trình phức tạp trong đó chất lượng, hiệu quả phụ thuộc cơ bản vào chủ thể nhận thức là người học Và điều này lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như năng lực nhận thức, động cơ hứng thú của người học, môi trường học tập, người dạy … Các nhà tâm lý học cho rằng, hứng thú là thái độ đặc biệt của các nhân đối với đối tượng nào đó, nó có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm cho quá trình hoạt động Sự hứng thú biểu hiện trước hết
ở sự tập trung cao độ, sự say mê của chủ thể hoạt động Sự hứng thú gắn liền với tình cảm con người Trong bất kì việc gì nếu con người có hứng thú làm việc, con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, làm nảy sinh khát vọng hành động một cách sáng tạo Ngược lại nếu không có hứng thú làm việc, dù
là việc gì cũng không đem lại hiệu quả cao
Đối với hoạt động nhận thức nói chung và hoạt động học tập nói riêng, nếu không có hứng thú sẽ không đem lại kết quả gì Việc học mang tính đối
Trang 34phó, miễn cưỡng, người học cùng lắm cũng chỉ tiếp thu máy móc được một lượng kiến thức ít ỏi, không sâu, không bản chất và rất dễ quên Biện chứng cho vấn đề này ở chỗ, khi có hứng thú, say mê trong nghiên cứu học tập thì việc lĩnh hội tri thức trở nên dễ dàng hơn; ngược lại khi người học nắm bắt được vấn đề - tức là hiểu bài thì người học sẽ có thêm hứng thú học tập Trên thực tế học sinh không có động cơ hứng thú học tập môn học nào thì thường học không tốt môn học đó Thậm chí trong cùng môn học, học sinh có hứng thú học tập phần kiến thức nào sẽ học tốt phần kiến thức đó và ngược lại Do
đó động cơ hứng thú là yếu tố vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động nói chung và trong giải bài tập nói riêng
1.3 Vai trò của giáo dục trong việc hình thành và phát triển năng lực
Sự hình thành và phát triển năng lực của con người phụ thuộc nhiều yếu tố như yếu tố di truyền, yếu tố hoạt động của chủ thể, yếu tố môi trường
xã hội và không thể thiếu là môi trường giáo dục
Di truyền tạo điều kiện ban đầu để con người có thể hoạt động có kết quả trong lĩnh vực nhất định Di truyền không quy định những tiến bộ của xã hội loài người nói chung và của từng người nói riêng Những đặc điểm sinh học mặc dù có ảnh hưởng đến quá trình hình thành tài năng, cảm xúc, sức khoẻ, thể chất của con người nhưng nó chỉ tạo nên tiền đề của sự phát triển năng lực
Các “tư chất” di truyền có sẵn trong mỗi con người là điều kiện để người
đó thực hiện có kết quả một hoạt động cụ thể Tuy nhiên sự thành công của hoạt động đó phụ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh thực tiễn, học tập, rèn luyện và tích luỹ kinh nghiệm cá nhân Con người bằng hoạt động của mình chiếm lĩnh kinh nghiệm của người đi trước, biến thành năng lực của chính mình Tuỳ theo đặc điểm của loại hình hoạt động của con người mà yếu tố bẩm sinh có thể được phát triển mạnh mẽ theo một hướng nào đó hoặc cũng có thể bị thui chột đi Như vậy, hoạt động của chủ thể có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành năng lực
Mỗi con người đều hoạt động trong một môi trường xã hội nhất định Môi trường đó có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành và phát triển năng lực
Trang 35của cá nhân Môi trường góp phần tạo nên động cơ, mục đích, phương tiện hoạt động, đặc biệt là cho sự giao lưu của mỗi cá nhân với xã hội mà nhờ đó
cá nhân thu được kinh nghiệm của xã hội, biến nó thành năng lực của bản thân Cũng chính nhờ sự giao lưu với môi trường xãc hội mà con người biết được hoạt động của mình có ý nghĩa thế nào, có ích lợi ra sao, có phù hợp với thực tế hay không… để từ đó cá nhân điều chỉnh hoạt động của mình để mang lại hiệu quả ngày càng cao, năng lực cá nhân ngày càng phát triển
Một yếu tố có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc hình thành và phát triển năng lực của cá nhân là sự giáo dục Giáo dục là một hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho con người (trong đó có năng lực) theo yêu cầu của xã hội theo các giai đoạn lịch
sử Sự hình thành và phát triển năng lực của học sinh hình thành và phát triển thông qua hoạt động của học sinh trong mối quan hệ với cộng đồng Do đó, nhà trường hiện đại phải là nhà trường hoạt động, lấy hoạt động của học sinh làm động lực chính để đạt mục tiêu đào tạo Chỉ có dạy học trong nhà trường mới tạo ra loại hoạt động đa dạng, phong phú, cần thiết và phù hợp tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển năng ở học sinh thông qua hoạt động dạy học cũng như các hoạt động giao lưu của học sinh trong nhà trường với nhau
và với xã hội Trong quá trình dạy học, có thể lựa chọn các hình thức hoạt động có tính định hướng chính xác, giúp học sinh sớm ý thức được những yêu cầu của xã hội đối với hoạt động của mỗi người trong nhiều lĩnh vực khác nhau Nhà trường cũng tích luỹ được những phương pháp tổ chức hoạt động học tập của học sinh có hiệu quả cao, tránh cho học sinh mắc phải sự mò mẫn
Như vậy, giáo dục có thể mang lại những hiệu quả, những tiến bộ của mỗi học sinh mà các yếu tố khác không thể có được Đặc biệt dạy học có thể
đi trước sự phát triển, thúc đẩy sự phát triển năng lực của học sinh Tuy nhiên,
đi đôi với việc thúc đẩy sự phát triển năng lực của học sinh, dạy học cũng có thể gò ép học sinh theo một khuôn mẫu cứng nhắc làm hạn chế sự phát triển
đa dạng của họ
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ CHƯƠNG
“ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” CỦA HỌC SINH KHỐI 10 BAN CƠ
BẢN TRƯỜNG THPT NGÔ THÌ NHẬM
2.1 Đặc điểm của chương “Động lực học chất điểm” - vật lý 10 ban cơ bản
Chương “Động lực học chất điểm” là chương thứ hai trong phần Cơ học lớp 10 ban cơ bản Nếu như chương I “Động học chất điểm” khảo sát các loại chuyển động cơ học cơ bản như chuyển động thẳng đều, chuyển động thẳng biến đổi đều, sự rơi tự do, chuyển động tròn đều… mà chưa xét đến tác dụng của các vật khác làm biến đổi chuyển động của vật thì chương “Động lực học chất điểm” xét đến tác dụng của những vật khác lên chuyển động của một vật nhằm lí giải nguyên nhân của các loại chuyển động cơ học trên
Chương đề cập đến ba định luật Newton là cơ sở của toàn bộ phần cơ học Ngoài ra chương học này đề cập đến các lực cơ học: lực hấp dẫn, lực đàn hồi và lực ma sát Các định luật Newton được vận dụng để khảo sát một số chuyển động đơn giản dưới tác dụng của các lực cơ học nói trên Ngoài ra, học sinh cần phải nắm chắc ba định luật này và vận dụng được các định luật
để giải thích các hiện tượng cơ học trong đời sống Trong chương học này học sinh sẽ được cung cấp những kiến thức cơ bản giúp học sinh nhận biết và giải thích được vì sao vật này đứng yên, vật kia chuyển động có gia tốc dựa vào mối liên hệ giữa chuyển động và lực
Về mặt lý thuyết, chương học này có nhiều khái niệm vật lý cơ bản, đại lượng vật lý, những định luật vật lý và các ứng dụng vật lý… nên được coi là chương học khá nặng về mặt lý thuyết Lý thuyết của chương học này mang tính cơ bản và vô cùng quan trọng xuyên suốt chương trình vật lý TPTH Bên cạnh những thuận lợi là học sinh đã được làm quen với các khái niệm cơ bản trong chương trình THCS như khái niệm về chuyển động, về vận tốc, gia tốc,
về lực, khái niệm về khối lượng, quán tính, lực ma sát lực hấp dẫn… Học sinh
Trang 37có những cơ sở nhất định về toán học như cách biểu diễn véc tơ, các phép cộng hai véc tơ, hệ trục toạ độ, gốc toạ độ, gốc thời gian… Đặc điểm nổi bật của chương học này là kiến thức vật lý trong chương học này gắn liền với hiện tượng thực tế nên rất thuận lợi cho học sinh liên hệ thực tế để kiểm chứng lý thuyết Tuy nhiên, chương học này được đánh giá là chương học có nhiều kiến thức vật lý khó, phức tạp và trừu tượng về mặt lý thuyết như khái niệm khối lượng về lực, lực hấp dẫn, lực đàn hồi, lực ma sát … quán tính của vật, tính tương đối của chuyển động Những đặc điểm về mặt lý thuyết của chương cũng chính là những nội dung lý thuyết phức tạp cho học sinh trong khâu lĩnh hội bài giảng so với các chương khác
Bài tập chương “Động lực học chất điểm” gồm các bài tập về vận dụng các đinh luật Newton để khảo sát các chuyển động của vật dưới tác dụng của các lực cơ học và ứng dụng của các định luật này vào việc giải thích các hiện tượng trong cuộc sống cũng như giải các bài toán trong kĩ thuật
Cũng như các chương khác, bài tập chương “Động lực học chất điểm liên quan đến các kiên thức đã học trong chương Nhưng nét khác biệt của chương này so với phương pháp giải bài tập của các chương khác là phải gắn chặt với việc chọn hệ quy chiếu và thực hiện quy tắc chiếu các phương trình véc tơ lên hệ trục toạ độ để được các phương trình đại số sau đó vận dụng các kiến thức đã học của chương để tính toán Do vậy bài tập chương này không chỉ đòi hỏi học sinh biết vận dụng các kiến thức của chương vào giải các bài tập cụ thể mà còn đòi hỏi người học nắm được phương pháp giải bài tập đặc trưng của chương, biết huy động các kiến thức vật lý đã học, toán học có liên quan để giải bài tập Đây chính là mấu chốt của vấn đề mà khi giải bài tập chương này học sinh thường gặp khó khăn dẫn đến chất lượng học tập của chương còn thấp
Trang 382.2 Biểu hiện năng lực giải bài tập và tiêu chí đánh giá năng lực giải bài tập chương “Động lực học chất điểm”của học sinh
2.2.1 Biểu hiện năng lực giải bài tập chương “Động lực học chất điểm” của học sinh
- Năng lực giải bài tập thể hiện qua việc vận dụng lý thuyết để giải quyết các tình huống và bài tập cơ bản sau mỗi bài học
- Năng lực vận dụng lý thuyết giải thích các hiện tượng thực tế trong đời sống
2.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực giải bài tập chương “Động lực học chất điểm” của học sinh
Dựa trên mục tiêu của chương “Động lực học chất điểm” và các biểu hiện năng lực giải bài tập của học sinh, chúng tôi xây dựng các tiêu chí nhằm đáng giá năng lực giải bài tập chương này của học sinh như sau:
- Tiêu chí 1: Học sinh nhận biết được, hiểu được các kiến thức vật lý cơ bản của chương học (Khái niệm về lực, cân bằng lực, phép tổng hợp và phân tích lực; ba định luật Newton, các lực cơ học gồm lực đàn hồi, lực ma sát, lực hấp dẫn; lực hướng tâm…) và vận dụng được vào giải các bài tập cơ bản của chương
- Tiêu chí 2: Học sinh vận dụng được phương pháp giải các dạng bài tập vật
Trang 39- Tiêu chí 3: Tiêu chí này đề cập đến tốc độ giải bài tập của các em trong sự tương quan về thời gian và số lượng các bài giải chính xác của học sinh + Tiêu chí 4: Tiêu chí này đánh giá năng lực tư duy sáng tạo, tư duy logic và khả năng khái quát cũng như xâu chuỗi vấn đề trong quá trình học sinh giải bài tập của chương học
2.3 Thực trạng kết quả học tập của chương “Động lực học chất điểm” với kết quả các chương học khác của học sinh khối 10 trường THPT Ngô Thì Nhậm qua các năm học
Trong quá trình dạy học khối 10 trường THPT Ngô Thì Nhậm năm học
2009 - 2010 chúng tôi đã tiến hành kiểm tra 45 phút chương “Động học chất điểm”, chương “Động lực học chất điểm” và chương “Các định luật bảo toàn” trên tổng số
50 học sinh của lớp 10A5 Bảng thống kê điểm của 3 chương như sau:
Bảng 2.1 Kết quả kiểm tra chương “Động học chất điểm”, “Động lực học
chất điểm”, “Các định luật bảo toàn” năm học 2009 - 2010
Chương “Động học chất điểm”
Chương “Động lực học chất điểm”
Chương “Các định luật bảo toàn”
Số lượng
Trang 40Biểu đồ 2.1 Biểu đồ thể hiện điểm kiểm tra chương “Động học chất điểm”,
“Động lực học chất điểm”, “Các định luật bảo toàn” năm học 2009 - 2010
Động lực học chất điểm
Các định luật bảo toàn
Kết quả điều tra cho thấy số học sinh đạt điểm khá - giỏi của chương
“Động lực học chất điểm” thấp hơn rất nhiều so với các chương khác, điểm dưới trung bình lại chiếm tỉ lệ cao so với các chương Điều này cho thấy học sinh gặp khó khăn trong quá trình học chương “Động lực học chất điểm” Kết hợp với việc quan sát, theo dõi đánh giá học sinh trong quá trình học môn vật
lý 10 năm học 2009 - 2010 chúng tôi nhận thấy rất nhiều học sinh gặp khó khăn trong quá trình giải bài tập chương “Động lực học chất điểm” Do đó, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu làm rõ năng lực giải bài tập của các em học sinh trong chương “Động lực học chất điểm” để tìm ra những biện pháp nhằm phát triển năng lực giải bài tập chương này cho các em
Trong quá trình dạy học năm học 2010 - 2011 chúng tôi cũng đã tiến hành kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của học sinh khối 10 năm học 2010
- 2011 trường THPT Ngô Thì Nhậm chương “Động học chất điểm” và chương “Động lực học chất điểm” với 48 học sinh của lớp 10 A7 Bảng thống
kê điểm kiểm tra như sau: