ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LÃ HỒNG MAI ANH RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG DIỄN ĐẠT KIẾN THỨC TỪ NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ
Trang 1ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÃ HỒNG MAI ANH
RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG DIỄN ĐẠT
KIẾN THỨC TỪ NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC
SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
HÀ NỘI – 2012
Trang 2ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÃ HỒNG MAI ANH
RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG DIỄN ĐẠT
KIẾN THỨC TỪ NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC
SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN SINH HỌC
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Đinh Quang Báo
HÀ NỘI - 2012
Trang 41.3.2 Thực trạng kỹ năng diễn đạt kiến thức của học sinh 27 1.3.3 Tình hình rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt kiến thức 28
Chương 2: RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT KIẾN THỨC
TỪ NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY
HỌCSINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
31 2.1 Phân tích chương trình sinh học 10 trung học phổ thông 31 2.2.Các kỹ diễn đạt kiến thức cần rèn luyện cho học sinh 32
2.3.1 Các bước rèn luyện kĩ năng diễn đạt cho học sinh 39
Trang 53.3.1 Chọn trường, chọn giáo viên và học sinh thực nghiệm 67
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1 Kết quả điều tra về tính tích cực, chủ động trong hoạt động nhận thức của
2 Bảng 1.2 Kết quả điều tra về các hình thức diễn đạt kiến thức của học sinh 27
3 Bảng 1.3 Kết quả điều tra về các phương pháp dạy học giáo viên thường sử dụng
4 Bảng 1.4 Kết quả điều tra về các hình thức diễn đạt kiến thức được giáo viên
5 Bảng 1.5 Kết quả điều tra về quan điểm của giáo viên về sự cần thiết rèn kỹ năng
diễn đạt cho học sinh trong dạy học Sinh học 30
6 Bảng 3.1 Chương II: Cấu trúc của tế bào 66
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Điểm trung bình kiểm tra trong thực nghiệm của nhóm thực
Trang 8Khởi đầu từ hình thái dạy học tự phát hay dạy học tự giác, ngày nay dạy học ngày càng có nhiều phương pháp đa dạng, phong phú, linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của con người trong sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ, tri thức
1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy học hiện nay
Mặc dù đã có nhiều thay đổi nhưng hiện nay tình trạng giáo viên truyền thụ, học sinh thụ động tiếp thu kiến thức vẫn là phổ biến Để cải thiện tình trạng trên đòi hỏi sự nỗ lực của mỗi giáo viên Dạy cách học, phát huy năng lực tự học cho học sinh là một trong những phương pháp phá vỡ lối mòn của việc học thụ động của học sinh
1.3 Xuất phát từ nội dung chương trình Sinh học 10 trung học phổ thông
Sách giáo khoa Sinh học 10 được biên soạn theo hướng đổi mới nội dung cũng như phương pháp dạy học Nội dung chương trình Sinh học 10 được trình bày theo hướng tích hợp giữa các phần với nhau cũng như các kiến thức môn học khác Phần một giới thiệu khái quát các cấp tổ chức sống trong sinh giới từ thấp đến cao và những đặc điểm chung của các cấp tổ chức sống.Qua đó học sinh có thể hình dung được toàn bộ chương trình sẽ học và hình thành phương
Trang 9pháp học hợp lí đối với môn Sinh học Để thực hiện được mục tiêu mà nội dung sách giáo khoa sinh học 10 đã đề ra thì người dạy phải hình thành phương pháp học cho học sinh
1.4 Xuất phát từ vai trò kĩ năng diễn đạt kiến thức trong việc phát triển năng lực tự học, năng lực tư duy của học sinh
Ngày nay, học được hiểu là tự học nhằm hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ ở các mức độ cao Người dạy bằng kiến thức kinh nghiệm của mình hướng dẫn cho người học học hay nói cách khác là hướng dẫn cho người học cách học Chính vì vậy dạy học theo kiểu hợp tác hai chiều là từ kiến thức, kĩ năng đã có của trò để từ đó thầy giúp đỡ trò phát triển kiến thức, kĩ năng nhất là
kĩ năng diễn đạt của học sinh nhằmnâng cao năng lực tư duy cho người học
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt kiến thức từ nghiên cứu sách giáo khoa trong dạy học sinh học 10trung học phổ thông.”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các kĩ năng thu nhận thông tin từ đọc sách giáo khoa, các kĩ năng xử lí thông tin và diễn đạt kiến thức từ sách giáo khoa của học sinh
Xây dựng quy trình , biện pháp cụ thể để rèn cho học sinh kĩ năng diễn đạt kiến thức trong tổ chức hoạt động trong dạyhọc sinh học 10 trung học phổ thông
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt kiến thức từ nghiên
cứu sách giáo khoa trong dạy học Sinh học 10 trung học phổ thông
3.2 Khách thể nghiên cứu
Phương pháp dạy học Sinh học 10 trung học phổ thông
Trang 104 Vấn đề nghiên cứu
Sử dụng các biện pháp tổ chức hoạt động trong dạy học Sinh học 10 như thế nào để rèn luyện kĩ năng diễn đạt kiến thức qua đó nâng cao năng lực tự học,
năng lực tư duy cho học sinh
5 Giả thuyết nghiên cứu
Rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt kiến thức thông qua giảng dạy chương II: Cấu trúc của tế bào Sinh học 10 tạo điều kiện nâng cao năng lực tự học, tính tích cực trong nhận thức và phát triển tư duy logic của học sinh
6 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
6.1 Nhiệm vụ
Xác định cơ sở lý thuyết việc rèn kĩ năng diễn đạt cho học sinh trung học
phổ thông
Xác định thực trạng kĩ năng diễn đạt ở học sinh trung học phổ thông
Phân tích nội dung Sinh học 10trung học phổ thông
Xác định biện pháp rèn luyện kĩ năng diễn đạtkiến thức cho học sinh khi dạy Sinh học 10 trung học phổ thông
Thực nghiệm sư phạm để xác định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp rèn luyện kĩ năng diễn đạt của học sinh
6.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những biện pháp rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt kiến thức trên cơ sở nghiên cứu sách giáo khoa để học chương II: Cấu trúc của tế bào – Sinh học 10 trung học phổ thông
Trang 117 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu lý luận liên quan làm cơ sở cho việc giải quyết vấn đề: “Rèn luyện kĩ năng diễn đạt kiến thức từ nghiên cứu sách giáo khoa cho học sinh”
Phân tích chương trình, nội dung kiến thức trong sách giáo khoa Sinh học
10 Trung học phổ thông
Tìm hiểu về các phương pháp rèn kĩ năng diễn đạt
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Quan sát sư phạm: Dự giờ, phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh Trung học phổ thông để phát hiện những thành công và hạn chế trong việc rèn
kĩ năng diễn đạt kiến thức trong trường trung học phổ thông hiện nay
Điều tra bằng phiếu hỏi về thực trạng dạy kĩ năng diễn đạt kiến thức trong dạy học Sinh học ở một số trường trung học phổ thông hiện nay
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Soạn giáo án dạy thực nghiệm và đối chứng
Dạy thực nghiệm và đối chứng : Khi tiến hành dạy thực nghiệm thì sử dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho học sinh từ nghiên cứu sách giáo khoa trong dạy học Chương II : Cấu trúc của tế bào Dạy đối chứng không
tổ chức rèn cho học sinh kỹ năng diễn đạt kiến thức từ nghiên cứu sách giáo khoa theo quy trình mà đề tài đề xuất
Thu thập số liệu từ quá trình thực nghiệm
7.4 Phương pháp xử lí kết quả thực nghiệm
Phương pháp sử dụng toán thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm Excel để
xử lí kết quả cho biết độ tin cậy về mặt định lượng
Trang 12Phân tích kết quả thực nghiệm để có nhận xét, đánh giá định tính về chất lượng kiến thức và kĩ năng diễn đạt kiến thức được hình thành ở học sinh
8 Những đóng góp mới của luận văn
Xác định được hệ thống các kỹ năng diễn đạt kiến thức
Xây dựng được quy trình rèn luyện kỹ năng diễn đạt
Thiết kế các bài tập rèn luyện phù hợp với năng lực nhận thức ở các mức
độ khác nhau của học sinh
Tổ chức rèn luyện kỹ năng diễn đạt kiến thức cho học sinh trong dạy học Chương II Cấu trúc của tế bào – Sinh học 10 Trung học phổ thông xem như một
mô hình triển khai nghiên cứu ứng dụng
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị,tài liệu tham khảo và phụ lục
luận văn được viết trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt nội dung kiến thức từ nghiên cứu sách giáo khoa trong dạy học Sinh học 10 trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Những năm gần đây, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh đã nâng cao được chất lượng dạy học, đặc biệt có ý nghĩa trong việc tạo hứng thú và nâng cao năng lực tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa) cho người học Trong đó, sử dụng phương pháp rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt nội dung kiến thức từ nghiên cứu sách giáo khoa
để tổ chức hoạt động dạy học là một trong những phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực tự học, năng lực tư duy của học sinh
1.1.1 Trên thế giới
Vào những năm 1920 ở Anh đã hình thành “Những nhà trường mới” trong
đó đề ra mục tiêu là phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh.Các biện pháp tổ chức hoạt động do học sinh chủ động thực hiện Xu hướng này đã nhanh chóng lan rộng sang Mỹ và các nước Châu Âu khác
Vào nửa sau của những năm 1950, ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây như Liên xô, Cộng hòa Dân chủ Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc v.v… đã có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nhận thấy phải tích cực hóa quá trình dạy học, phải có
Trang 14các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động học tập tích cực để kiến thức được cung cấp không phải dưới dạng có sẵn
Tony Buzan (Anh) là người sáng tạo ra phương pháp tư duy Mind Map (bản đồ tư duy) Ông trình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng các phương pháp Mind Map Ngoài ra, Ông còn có một số sách nổi tiếng như Use your memory, Mind Map Book, Mind Map at work Jeannette Vos - Gorden Dryden (1997), trong cuốn “Cách mạng học tập” đã đưa ra cách sử dụng lược đồ liên tưởng thay cho ghi chép bằng 3 điểm chính với 5 nguyên lý chính để đọc dữ liệu từ bản đồ
Năm 1965, tại Liên Xô (cũ), A.M.Xokhor là người đầu tiên vận dụng một
số quan điểm của lý thuyết grap (chủ yếu là những nguyên lý về việc xây dựng một grap có hướng) để mô hình hóa nội dung tài liệu giáo khoa (một khái niệm, một định luật …) A.M.Xokhor đã xây dựng được Grap của một kết luận hay lời giải thích cho một đề tài dạy học mà ông gọi là cấu trúc logic của kết luận hay lời giải thíchSau đó, các nhà khoa học khác như V.X.Poloxin đã mô tả trình tự các thao tác dạy học bằng Grap, V.P.Garkumop sử dụng Grap trong dạy học nêu vấn đề
T.A Kodơlova (1978) với công trình: “Các biện pháp sư phạm để dạy học sinh cuối cấp về mối quan hệ giữa sự kiện và lí thuyết” Trong đó tác giảđã
đưa ra một số kĩ thuật dạy học rèn cho học sinh năng lực tự học, khả năng khái quát hóa nội dung học tập G.M Mutazin (1989) với “Các phương pháp và hình thức dạy học Sinh học”
Các kỹ năng khác được nhiều tác giả nghiên cứu như: K.D.Anaxtaxova trong “ Công tác độc lập của học sinh về Sinh học đại cương” – 1981, I.X.Ia.Kimanxcaia trong “Dạy học phát triển”-1982, G.M.Murtazin trong “Các
Trang 15phương pháp và hình thức dạy học Sinh học”- 1989, Kharlamop trong “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào” – 1978
Ở Pháp, vào những năm 70 của thế kỉ XX trong các tàiliệu lí luận dạy học
có chú ý khuyến khích dùng phương pháp Graph để luyện tính chủ động, tích cực cho học sinh từ bậc tiểu học đến bậc trung học
1.1.2 Ở Việt Nam
Nhà khoa học đầu tiên chuyển Grap toán học thành Grap dạy học là Giáo
sư Nguyễn Ngọc Quang(1971) Sau Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang có rất nhiều các tác giả như: Trần Trọng Dương, Phạm Thị Trinh Mai, Phạm Văn Tư ứng dụng grap trong dạy học Hóa học; Nguyễn Hà Giang, Nguyễn Trí Trung trong dạy học Lịch sử; Hoàng Việt Anh, Phạm Minh Tâm trong dạy học Địa lý
Để phát huy năng lực tư duy của học sinh còn có nhiều công trình nghiên cứu như: “Cải tiến phương pháp dạy học nhằm phát huy trí thông minh của học sinh” Nguyễn Hữu Tỳ (1971), Trần Bá Hoành: “Rèn trí thông minh của học sinh qua chương biến dị - di truyền”; “Giáo trình dạy học Sinh học” (1972, 1975,
1979, 1982, 1985, 1993); “Một số cơ sở lí thuyết của các phương hướng cải cách môn Sinh học phổ thông”; “Phát huy tính tích cực của học sinh trong chương trình Sinh học 12”, “Kiểm tra kiến thức bằng phiếu kiểm tra” Lê Nhân (1974)
Trong dạy học Sinh học có các tác giả như: Nguyễn Như Ất( 1973), tại Liên Xô (cũ), trong công trình luận án Phó tiến sĩ khoa học sư phạm đã vận dụng
lý thuyết graph kết hợp với phương pháp ma trận như một phương pháp hỗ trợ
để xây dựng logic cấu trúc các khái niệm “tế bào học” trong nội dung giáo trình môn Sinh học đại cương trường phổ thông của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa do tác giả kiến nghị [1], Tác giả Đinh Quang Báo có những nghiên cứu về:
“Phát triển hoạt động nhận thức của học sinh trong các bài Sinh học ở trường phổ thông Việt Nam”; “Dạy học Sinh học ở trường phổ thông theo hướng hoạt
Trang 16động hóa người học” Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành: “Lí luận dạy học Sinh học” Nxb GD, 1996 Nguyễn Phúc Chỉnh trong luận án Tiến sỹ(ĐHSP-2005); Trần Hoàng Xuân, Hồ Thị Hồng Vân sử dụng ngôn ngữ bảng; Võ Thị Bích Thủy “Các biện pháp rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt nội dung trong quá trình tổ chức hoạt động tự lực nghiên cứu sách giáo khoa Sinh học 11”,biện pháp diễn đạt nội dung ở các mức độ khác nhau được đề cập đến trong bài giảng của Giáo sư.Tiến sỹ Đinh Quang Báo
Đối với nỗ lực đổi mới nghiên cứu, tổ chức dạy và học của ngành giáo dục trong nhiều năm gần đây, một lãnh đạo Quốc hội và Hội đồng khoa học của Quốc hội đã nói: “Tôi đánh giá cao nỗ lực của nhiều cán bộ nghiên cứu, giáo viên trong việc tiếp cận, chủ động nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp tư duy hiện đại trên thế giới vào thực tiễn nước ta Điều này cho thấy con người Việt Nam, trí tuệ Việt Nam rất đáng khâm phục, hoàn toàn có thể kế thừa, tiếp thu, làm chủ các tri thức mới và tinh hoa của nhân loại Điều cần làm phía trước
là làm sao nhân rộng các phương pháp mới, để nó không chỉ là các sản phẩm mang tính bí quyết của một vài cá nhân mà phải góp phần xây dựng và hình thành các thế hệ học trò - con người mới cho đất nước”
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của người học; bồi dưỡng phương pháp tự học; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; hình thành thái
độ tình cảm hứng thú học tập cho học sinh
Để kịp thời tiếp cận với sự đổi mới chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học hiện nay thì việc tăng cường năng lực tự học cho học sinh nói chung và rèn luyện kỹ năng diễn đạt kiến thức nói riêng là một yếu tố quan trọng giúp cho học sinh có thể dễ dàng trong việc chiếm lĩnh kiến thức, tự đọc,
tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của mình
Trang 17Mặt khác, đối tượng của giáo dục là người học, người học là người với năng lực cá nhân của mình tham gia vào việc tìm ra kiến thức mới cho mình Người học là người đi tìm cách học và tìm cách hiểu vì vậy nếu người học không
có đủ nỗ lực bản thân để tự học, tự biến đổi mình thì mục tiêu đào tạo không thể thành hiện thực Ngược lại, bản thân cố gắng tự học thì dù điều kiện học chưa đầy đủ vẫn có thể từng bước hình thành năng lực mới, phẩm chất mới
Bác Hồ đã dạy: “Cách học tập phải lấy tự học làm cốt” Việc học của mỗi người không phải chỉ diễn ra khi đến trường mà việc học diễn ra suốt đời với mục đích học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người
Từ những điều trình bày trên có thể khái quát lại quan niệm về học ngày
nay là: “Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mình.”[4]
Trang 181.2.1.2 Quan niệm về dạy
Có nhiều quan niệm khác nhau về dạy Nhìn chung hiện nay đang song song tồn tại hai quan niệm về dạy [4]
Dạy theo kiểu truyền đạt một chiều từ thầy đến trò: thầy trình bày nội dung môn học một cách đầy đủ, rõ ràng, mạch lạc và theo lôgic của môn học, trò tiếp thu ghi nhớ, ít có sự tìm tòi, sáng tạo
Dạy theo kiểu hợp tác hai chiều: Từ kiến thức, kỹ năng đã có của trò thầy giúp đỡ trò phát triển kiến thức, kỹ năng nhất là kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng tư duy sáng tạo, làm cho lớp học định hướng vào hoạt động nhóm Người học tự kiến tạo kiến thức của chính mình, hiểu thực tiễn theo cách của mình, tạo
cơ sở để hiểu thực tiễn như các chuyên gia cùng lĩnh vực đã hiểu
1.2.1.3 Các mô hình dạy học
Dựa trên các quan niệm về dạy và học mà quá trình dạy - học có thể được
mô hình hóa ở hai kiểu như sau: [4]
Sơ đồ 1.1 Kiểu truyền đạt một chiều từ thầy đến trò
Trong mô hình này, thầy là chủ thể truyền đạt, trò thụ động tiếp thu tri thức (người nhận) Tri thức nhớ lại, lặp lại, thuộc lòng
Tri thức
Trang 19Sơ đồ 1.2 Dạy theo kiểu hợp tác hai chiều
Trong mô hình này, thầy là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, trọng tài Trò là chủ thể, hợp tác với thầy,với bạn, tự lực tìm ra kiến thức Lớp là nơi trao đổi, hợp tác, môi trường xã hội Tri thức là do học sinh tự tìm ra với sự hợp tác của bạn và trợ giúp của thầy
Như vậy, ở mô hình dạy học hợp tác hai chiều, người học phải học lấy cách học, cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách sống Người dạy ở đây là
“thầy học”, nghĩa là người thầy là chuyên gia về việc học, với nhiệm vụ “dạy cách học” cho người học
Tri thức
Lớp
Trang 20Thời điểm hai là hợp tác – tự thể hiện Trong đó, Thầy là người tổ chức trao đổi giữa trò với trò và giữa trò với thầy, đồng thời lái cuộc tranh luận theo đúng mục tiêu Trò tự thể hiện mình, hợp tác với bạn, với thầy qua thảo luận và hoạt động tập thể theo trình tự thao tác: Đặt mình vào tình huống, đưa ra cách xử
lý tình huống, giải quyết vấn đề; thể hiện bằng văn bản; ghi kết quả nghiên cứu của mình (sản phẩm ban đầu); giới thiệu, bảo vệ sản phẩm của mình; tham gia tranh luận, tỏ rõ thái độ trước các ý kiến tranh luận; ghi lại kết quả tranh luận theo nhận thức của bản thân; bổ sung, điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành sản phẩm tiến bộ hơn
Trong hoạt động thảo luận tập thể, thường xảy ra tình huống cả lớp gặp phải vấn đề nan giải, khó xác định đúng, sai nên khó đưa ra kết luận khoa học Khi đó thầy là trọng tài của cuộc trang luận giúp trò khẳng định kết luận đúng từ các kiến thức mà trò vừa tìm ra
Thời điểm ba là tự kiểm tra, tự điều chỉnh Sau khi hợp tác với bạn và thầy; người học tợ kiểm tra, điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình theo trình tự các thao tác: so sánh, đối chiếu sản phẩm ban đầu của mình với các ý kiến thảo luận, kiểm tra lý lẽ, tìm kiếm cơ sở để đánh giá sản phẩm của mình; tổng hợp và chốt lại vấn đề; sửa sai, điều chỉnh và bổ sung vào sản phẩm để hoàn chỉnh sản phẩm học của mình; rút kinh nghiệm về cách học, cách xử lý tình huống, giải quyết vấn đề của mình
1.2.2 Tự học với sách giáo khoa
Để trở thành người học tích cực chủ động trong nhận thức thì tự học với sách giáo khoa là vấn đề quan trọng Nhưng làm thế nào để tự học với sách giáo khoa tốt thì trước hết phải nắm được vai trò của sách giáo khoa, đồng thời phải nắm được kỹ năng cũng như quy trình làm việc với sách giáo khoa
Trang 211.2.2.1 Vai trò của sách giáo khoa
“Sách giáo khoa do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức biên soạn và duyệt trên
cơ sở thẩm định của Hội đồng Quốc gia thẩm định Sách giáo khoa để sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng dạy và học tập ở nhà trường và các
cơ sở giáo dục khác.” (trang 19, các văn bản pháp luật về giáo dục và đào tạo)
Sách được trình bày theo hướng tích hợp giữa các phần với nhau cũng như với kiến thức các môn học khác Những câu hỏi nêu ra trong bài đòi hỏi học sinh phải liên hệ giữa các kiến thức mới với các kiến thức đã học, hơn nữa câu hỏi và bài tập còn đánh giá khả năng vận dụng, liên hệ và tổng hợp kiến thức
1.2.2.2 Kỹ năng làm việc với sách giáo khoa
Theo GS.TS Đinh Quang Báo muốn tự học với sách giáo khoa có hiệu quả, người học cần được rèn luyện các kỹ năng sau:
Kỹ năng định hướng thu nhận thông tin: Muốn thu nhận được thông tin cụ
thể, chính xác, người học cần xác định mục tiêu học tập qua những chỉ dẫn hoạt động nhận thức trong quá trình làm việc với tài liệu Nhờ đó, người học thu nhận được thông tin cần thiết để giải quyết mục tiêu học tập và tiết kiệm được thời gian
Kỹ năng xác định nội dung trọng tâm và ghi chép thông tin: Khi đọc,
người học cần chọn lọc và thu nhận những thông tin bản chất nhằm giải quyết mục tiêu học tập Thu nhận thông tin có thể tiến hành ở các mức độ: đánh dấu, ghi tóm tắt, lập dàn ý Kỹ năng này rất quan trọng, nó vừa giúp người học tiết kiệm thời gian, vừa nâng cao được hiệu quả công việc
Kỹ năng trình bày nội dung đọc được: Khi đã có nguồn thông tin, người
học có thể trình bày chúng dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng phải là ngôn ngữ của chính người học, diễn đạt theo cách hiểu của chính người học, chứ không phải nhắc lại sách giáo khoa Kỹ năng này rất có tác dụng trong việc phát
Trang 22triển năng lực tư duy, đồng thời giúp người đọc thấu hiểu, ghi nhớ thông tin và
dễ dàng vận dụng
Kỹ năng hệ thống hóa tài liệu đọc được: Với kỹ năng này người học tiếp
nhận tri thức có hệ thống, theo logic trên sự thông hiểu của người học, giúp người học xem xét vấn đề một cách đầy đủ ở nhiều góc độ khác nhau, tạo điều kiện cho người học dễ dàng vận dụng khi cần
1.2.2.3 Quy trình làm việc với sách giáo khoa gồm 5 giai đoạn
Giai đoạn 1là định hướng: Người học cần xác định mục tiêu đọc sách Trước khi đọc, người học cần tự hỏi ” đọc để giải quyết vấn đề gì, đến mức độ nào?”
Giai đoạn 2 là thu nhận thông tin: Khi đọc sách, người học cần ghi chép những thông tin đoc được, tùy người đọc có thể ghi chép dưới dạng đánh tin dấu hay ghi tóm tắt những câu trong đoạn quan trọng có liên quan đến việc giải quyết mục tiêu học tập, lập dàn ý hay đề cương
Giai đoạn 3 là xử lý thông tin: Người học cần phối hợp thông tin thu nhận được từ các kênh ngôn ngữ khác nhau và phân loại chúng Người học cần sử dụng các biện pháp logic phân tích thông tin để xác định ý chính, ý phụ, loại bỏ các ý ít có giá trị thông tin, xác định mối liên hệ giữa các ý để khu biệt các nhóm
ý rồi tổng hợp và khái quát chúng thành khái niệm, quy luật hay học thuyết, hoặc nội dung cơ bản của phần tài liệu và ghi nhớ chúng trên nền thông hiểu
Giai đoạn 4 là ứng dụng thông tin để giải quyết các nhiệm vụ học tập: Sau khi xử lý thông tin, người học có các tri thức chọn lọc để trả lời hệ thống câu hỏi của bài học ở nhiều dạng khác nhau(tái hiện, phân tích, so sánh, thiết lập mối quan hệ nhân quả, khái quát hóa, trìu tượng hóa) nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập ở các mức độ khác nhau Muốn vậy người học cần sắp xếp các tri thức thu
Trang 23được theo cách hiểu của mình, bằng ngôn ngữ của mình chứ không phải trình bày lại nội dung của một phần nào đó trong sách giáo khoa
Giai đoạn 5 là kiểm tra – đánh giá: Người học tự kiểm tra đánh giá kết quả làm việc với sách của mình thông qua quá trình thảo luận hợp tác với thầy và bạn, từ đó chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm học của mình
Lênin đã nêu ra con đường nhận thức chung của nhân loại đó là : “Từ trực quan sinh động tới tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng tới thực tiễn, đó là con đường biện chứng của việc nhận thức hiện thực khách quan” Như vậy, con đường nhận thức thực tiễn gồm ba giai đoạn kế tiếp: giai đoạn tri giác cảm tính
về hiện thực, giai đoạn tư duy trừu tượng, giai đoạn tái sinh hiện thực trong tư duy Đối với quá trình nhận thức của học sinh để rèn luyện kỹ năng diễn đạt nội dung kiến thức cũng trải qua ba giai đoạn: giai đoạn thu thập thông tin nhận thức
về vấn đề cần lĩnh hội qua tri giác; giai đoạn tư duy trừu tượng thông qua phân tích, tổng hợp, so sánh giúp học sinh nhận thức sâu sắc, đầy đủ về vấn đề; giai
Trang 24đoạn tái sinh kiến thức dưới dạng các hình thức khác nhau(sơ đồ, đồ thị, hình ảnh) làm cho kiến thức có được từ tư duy trừu tượng trở nên cụ thể hơn
1.2.3.2 Cơ sở tâm lý học
Trong quá trình phát triển muốn thể hiện và khẳng định bản thân là nhu cầu tất yếu của mỗi đứa trẻ từ khi còn rất nhỏ Nhưng không phải đứa trẻ nào cũng duy trì và phát huy được điều đó; đa số trẻ em bị bắt buộc theo khuôn mẫu của bố mẹ và thầy cô giáo đề ra làm cho quá trình nhận thức của các em bị hạn chế và luôn ở trạng thái thụ động làm cho các em sẽ mất đi tính sáng tạo và độc lập
Việc phát huy khả năng thể hiện và khẳng định mình từ nhỏ sẽ giúp cho trẻ nhận thức một cách sâu sắc hơn nên có khả năng vận dụng tri thức một cách nhanh chóng, sáng tạo đồng thời có thể tìm ra những chân lý mới Vì vậy các phương pháp dạy học tích cực cần được áp dụng để đáp ứng sự phát triển tâm lý của trẻ, đặc biệt là phương pháp rèn luyện kỹ năng diễn đạt kiến thức để tổ chức hoạt động học tập
1.2.4 Kĩ năng diễnđạt
1.2.4.1 Khái niệm
Các nhà khoa học cho rằng: Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Biểu hiện của kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với mục tiêu, kế hoạch, phương án
và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy(hành động vật chất cụ thể hay hành động trí tuệ)
Kĩ năng diễn đạt là khả năng trình bày nội dung kiến thức bằng ngôn ngữ nào đó hợp quy luật Rèn luyện kỹ năng diễn đạt kiến thức cho học sinh nghĩa là rèn cho học sinh khả năng chuyển đổi hình thức trình bày thông tin từ dạng ngôn ngữ này sang các dạng ngôn ngữ khác nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập
Trang 251.2.4.2.Quy trình diễn đạt nội dung
Để thực hiện tốt kỹ năng điễn đạt cho học sinh cần tuân theo quy trình như sau:
Xây dựng các liên tưởng
Lựa chọn
và trình bày hình thức diễn đạt
Rút ra kết luận
Sơ đồ 1.3 Quy trình diễn đạt nội dung
1.2.4.3 Các hình thức diễn đạt nội dung
Để thể hiện nội dung kiến thức có thể diễn đạt bằng các hình thức sau:
Hình thức diễn đạt bằng lời văn
Diễn đạt bằng lời văn là hình thức diễn đạt ngôn ngữ được viết thành văn Diễn đạt bằng lời văn có thể ở dạng văn viết hoặc văn nói: văn viết thường
sử dụng trong lập dàn ý, đềcương,tóm tắt tài liệu, làm bài kiểm tra tự luận, viết một đoạn văn ngắn phân tích hay giải thích cho một hình vẽ, biểu đồ, công thức; văn nói được sử dụng khi thảo luận hay kiểm tra nói, để có thể diễn đạt các vấn
đề cơ bản và có thể phải biên soạn trước bằng ngôn ngữ viết ngắn gọn, logic Tuy nhiên, diễn đạt bằng lời văn thường dài dòng, khó bao quát các vấn đề ở các phương diện khác nhau, có thể dẫn đến cái nhìn phiến diện
Trang 26Có nhiều dạng bảng như: bảng phân tích thành phần cấu tạo, bảng so sánh, bảng diễn đạt mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng Thông tin được trình bày bằng ngôn ngữ bảng vừa cụ thể, vừa chi tiết vừa có tính khái quát, tính hệ thống, phẩn ánh đồng thời nhiều mối quan hệ giữa các tính chất của cùng một đối tượng hoặc giữa các đối tượng khác nhau và diễn đạt được nhiều loại kiến thức khác nhau(sự kiện, quy luật, quan hệ v.v…)
Để xây dựng thông tin trong bảng, người học phải thực hiện các thao tác
tư duy phức tạp(phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trìu tượng hóa) đồng thời phải có sự sáng tạo khi xác định các tiêu chí cho bảng nhằm đạt mục tiêu nhận thức Như vậy, khi làm việc với sách, nếu người học có khả năng trình bày thông tin thu được dưới dạng bảng thì họ không những nắm vững kiến thức mà còn phát triển được năng lực tư duy sáng tạo
Hình thức diễn đạt bằng sơ đồ(Grap)
Sơ đồ(Grap) là một tập hợp các điểm(đỉnh) và các đường nối liền một số cặp đỉnh(cung) Các đỉnh là các nội dung kiến thức cơ bản có mối liên hệ về cấu trúc, chức năng được thể hiện thông qua các cung của sơ đồ
Diễn đạt bằng sơ đồ là hình thức dùng các đoạn thẳng(cong) diễn tả quan
hệ giữa các đơn vị kiến thức(đỉnh) theo logic phát triển của nội dung.Sơ đồ diễn
tả được mối quan hệ cơ hữu giữa các bộ phận kiến thức trong mối liên hệ logic với nhau bằng một ngôn ngữ trực quan, cụ thể, khái quát, cô đọng Sơ đồ không chỉ có hiệu quả truyền và thu nhận thông tin nhanh chóng, chính xác mà còn giúp học sinh tập trung định hướng hoạt động trí tuệ vào việc tìm tòi, phát hiện
để tự chiếm lĩnh tri thức mới trong hệ thống Nhờ vậy, người học ghi ngớ kiến thức khoa học bền lâu, tái hiện chính xác, vận dụng linh hoạt, hiệu quả hơn, tiết kiệm được bộ nhớ, đồng thời rèn luyện năng lực hệ thống hóa kiến thức và năng
Trang 27lực sáng tạo Sử dụng phương pháp này thường xuyên sẽ rèn luyện cho học sinh một phong cách học tập khoa học để học suốt đời
Tuy nhiên, không phải nội dung nào cũng diễn đạt được bằng sơ đồ, tùy nội dung để vận dụng các hình thức diễn đạt khác nhau nhằm phát huy tối đa năng lực tư duy độc lập của học sinh
Hình thức diễn đạt bằng hình ảnh- sơ đồ hình
Hình ảnh là hình của sự vật, hiện tượng v.v được biểu diễn bằng đường nét cụ thể hoặc bằng ấn tượng trong trí óc
Diễn đạt bằng hình ảnh là hình thức sử dụng các hình có tính trực quan (tranh, ảnh) để thể hiện cho nội dung kiến thức Hình ảnh vượt lên hẳn các ngôn ngữ khác về hiệu quả truyền và thu lưu thông tin cũng như độ bền của kiến thức thu được Tuy nhiên, việc diễn đạt bằng hình ảnh mất nhiều thời gian, đòi hỏi người học phải có khiếu hội họa, thẩm mỹ và cần phải huy động tích cực, tối đa
tư duy sáng tạo mới có thể xây dựng được hình ảnh biểu đạt cho nội dung Tuy nhiên, trong dạy học, rèn luyện học sinh diễn đạt nội dung bằng hình sơ đồ rất có hiệu quả trong nhiều trường hợp
Sơ đồ hình: là sơ đồ có một số đỉnh hay cung được trực quan hóa dưới dạng hình ảnh
Trong sơ đồhình, những hình ảnh thể hiện cho các đỉnh, cung làm tăng cường tính trực quan trong dạy học so với sơ đồ, đồng thời diễn đạt rộng một đơn vị kiến thức hơn là một cụm từ hay một đường ký hiệu trong sơ đồ Bên cạnh đó, một số đỉnh và cung của hình sơ đồ diễn đạt dưới dạng cụm từ và đường kí hiệu làm đơn giản hóa một số chi tiết so với hình ảnh, nên dễ nhận ra hơn dấu hiệu bản chất của khái niệm, quan hệ trong nội dung diễn đạt
Hình thức diễn đạt bằng biểu đồ
Trang 28Biểu đồ là hình vẽ biểu diễn mối tương quan giữa các số liệu hoặc các đại lượng Biểu đồ có nhiều dạng: biểu đồ cột, biểu đồ đường (đồ thị), biểu đồ kết hợp cột đường, biểu đồ thanh, biểu đồ hình tròn, biểu đồ hình vuông, biểu đồ miền v.v
Biểu đồ cột thường dùng để so sánh tần suất, tỉ lệ, độ lớn.v.v… giữa các đối tượng hoặc các nhóm đối tượng
Biểu đồ đường thích hợp để chỉ ra sự biến thiên của một loại số liệu theo một tiêu chí nào đó
Biểu đồ hình tròn thường mô tả tỉ lệ của từng giá trị so với tổng thể
Diễn đạt bằng biểu đồ là hình thức trình bày nội dung dưới dạng các hình đơn giản: đường thẳng hoặc cong, hình tròn, hình cột trên hệ trục nhất định Những hình này thường đơn giản về chi tiết, nhưng phức tạp về nội dung truyền tải Trong Sinh học, các nội dung đó phải có mối liên hệ tương quan giữa hai hay nhiều đối tượng Đối với học sinh, diễn đạt bằng hình thức này, đòi hỏi khả năng
tư duy cao để có thể lượng hóa một cách tương đối mối tương quan đó Tuy nhiên không phải nội dung kiến thức nào cũng có thể diễn đạt bằng biểu đồ
Hình thức diễn đạt bằng công thức
Công thức là nhóm ký hiệu diễn tả gọn một sự kiện tổng quát, một quy tắc, một nguyên lý hoặc khái niệm Công thức được trình bày một cách thuần khiết logic của nội dung, mang tính chất quy ước Trong công thức, yếu tố trực quan hầu như bị loại bỏ hết, chỉ thể hiện mối quan hệ logic thuần khiết giữa các yếu tố có thể được lượng hóa Do vậy, rèn luyện kỹ năng diễn đạt bằng công thức sẽ tạo điều kiện phát triển tư duy trừu tượng của học sinh, một thao tác tư duy quan trọng trong giai đoạn nhận thức lý tính
Trang 29Tuy nhiên, diễn đạt nội dung bằng công thức chỉ có thể thực hiện trên những yếu tố có thể lượng hóa và đòi hỏi tính chính xác cao, nên thành lập công thức phải có căn cứ rõ ràng (qua chứng minh, thực nghiệm)
Hình thức diễn đạt bằng câu hỏi
Diễn đạt bằng câu hỏi là hình thức trình bày nội dung dưới dạng những yêu cầu, đòi hỏi về vấn đề cần được giải quyết
Câu hỏi là một công cụ mã hóa nội dung Một câu hỏi được đặt ra phải đảm bảo sự cân đối giữa điều đã biết và điều cần tìm Điều cần tìm của câu hỏi trước sẽ là điều đã biết của câu hỏi tiếp theo Thông qua một hệ thống câu hỏi được đặt ra, tự bản thân người học cũng đã lĩnh hội được kiến thức một cách sâu sắc, có hệ thống
Muốn diễn đạt nội dung bằng câu hỏi, người học cần thực hiện phân tích, tổng hợp, so sánh v.v mới phát hiện được vấn đề cần hỏi và diễn đạt được thành câu hỏi đúng Rèn luyện kỹ năng diễn đạt bằng câu hỏi giúp người học phát triển năng lực tư duy, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập đồng thời rèn luyện các kỹ năng định hướng nhận thức tri thức mới, thu nhận và xử lý tri thức v.v chính là rèn luyện phương pháp học, năng lực tự học sáng tạo ở mức cao
Tuy nhiên, đây là hình thức tư duy cao, đòi hỏi người học phải vận động
tư duy tối đa để phát hiện vấn đề cần hỏi trong logic phát triển của nội dung Điều này, ngay với giáo viên, chưa phải giáo viên nào cũng thực hiện được, nó thể hiện qua cách đặt câu hỏi của giáo viên trong quá trình lên lớp Vì vậy, đặt được câu hỏi cho nội dung kiến thức đảm bảo mục tiêu nhận thức là rất khó Mặc
dù vậy, diễn đạt bằng câu hỏi là một quá trình rèn luyện tư duy, phát triển nhân cách, phong cách nghiên cứu khoa học, đồng thời cũng là quá trình mà tri thức khoa học dù chưa được giải đáp nhưng cũng dần hiện rõ các chi tiết, khía cạnh
Trang 30của vấn đề Thực tế, nhiều nhà khoa học trở thành bác học từ những câu hỏi tự đặt ra khi chưa có ai đề cập đến và tự mình tìm ra câu trả lời
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu diễn đạt kiến thức bằng bảng, sơ đồ, sơ đồ hình,lời văn
1.2.4.4 Các biện pháp logic cần diễn đạt
Để diễn đạt nội dung kiến thức được tốt cần có các biện pháp logic sau
Phân tích và tổng hợp tuy biểu hiện trái ngược nhưng đó là hai mặt không thể tách rời trong thao tác tư duy Phân tích cho ta thấy đặc điểm, tính chất, quy luật vận động của từng yếu tố cấu thành đối tượng, nhờ đó ta có cái nhìn cụ thể ở từng mặt, từng khía cạnh của một vấn đề Tổng hợp cho ta cái nhìn bao quát, toàn diện về đối tượng ở tất cả các khía cạnh, nhờ đó ta thấy được sự vận động của toàn bộ đối tượng một cách khách quan
So sánh đối chiếu
So sánh là thao tác trí tuệ nhìn vào đối tượng này để xem xét đối tượng khác qua việc thấy được sự giống, khác hay hơn, kém nhau giữa chúng
So sánh có thể ở mức độ đơn giản như tìm tòi, thống kê, nhận xét, cao hơn
là rút ra được các kết luận từ sự giống và khác, nêu được ý nghĩa, giải thích nguyên nhân của sự giống và khác đó So sánh có thể ở những dấu hiệu bên
Trang 31ngoài qua quan sát, hoặc những dấu hiệu, tính chất, quan hệ bên trong qua các thao tác tư duy
Tuy nhiên so sánh chỉ tiến hành được giữa các đối tượng thuộc cũng lớp
sự vật, hiện tượng nhằm tìm ra điểm giống, khác hoặc rút ra những kết luận, ý nghĩa từ những điểm giống và khác nhau.Trong dạy học, so sánh phải nâng dần
độ khó thể hiện qua số lượng đối tượng cần so sánh, độ giống và khác, số lượng tiêu chí so sánh v.v
Phân loại
Phân loạilà thao tác chia đối tượng thành từng nhóm dựa theo những tiêu chí nhất định qua việc so sánh giữa các đối tượng hay nhóm đối tượng.Khi tiến hành phân loại ta cần xác định các dấu hiệu cơ bản, căn cứ vào đó để xác định
dấu hiệu chung, dấu hiệu bản chất trong các đối tượng
Hệ thống hóa
Hệ thống hóa là thao tác sắp xếp thông tin về đối tượng nghiên cứu theo một logic nhất định nhằm phản ánh đầy đủ về đối tượng.Khi tiến hành hệ thống hóa, thông tin kiến thức cần hệ thống phải được gia công bằng những thao tác tư duy khác: phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu khái quát hóa, trừu tượng hóa, thiết lập các mối quan hệ… từ đó mà có thể xem xét đối tượng ở góc độ mới
Khái quát hóa- trừu tượng hóa
Khái quát hóa là thao tác tư duy xử lý thông tin thu được từ phân tích, tổng hợp, so sánh… nhằm tập hợp những tính chất chung của một nhóm đối tượng trong hàng loạt các đối tượng xem xét Nói cách khác, khái quát hóa là làm rõ cái chung trong các sự vật, hiện tượng đơn lẻ của hiện thực
Trừu tượng hóa là thao tác tư duy xử lý kết quả thu được từ khái quát hóa Việc tìm ra những tính chất chung chỉ giúp ta gom các đối tượng lại thành nhóm lớn Tuy nhiên, những tính chất chung chưa hẳn đã giúp ta phân biệt được các
Trang 32nhóm đối tượng Vì vậy, cần tìm ra trong các tính chất chung cái bản chất (cái riêng) đó là trừu tượng hóa
1.2.4.5 Vai trò của kỹ năng diễn đạt trong hoạt động nhận thức của học sinh
Trong học tập, để diễn đạt kiến thức dưới các dạng ngôn ngữ khác nhau, người học cần nghiên cứu kĩ kiến thức ở mọi khía cạnh, tích cực vận dụng các thao tác tư duy để nắm vững, hiểu sâu vấn đề, dựa trên nền thông hiểu đó mà triển khai kiến thức dưới dạng các ngôn ngữ mã hóa khác nhau Nhờ vậy, học sinh chủ động lĩnh hội được kiến thức và qua đó tư duy của học sinh được rèn luyện, phát triển
Mặt khác, một số hình thức diễn đạt như sơ đồ logic, bảng làm cho kiến thức được hệ thống hóa theo một logic nhất định, hay như hình ảnh, sơ đồ còn làm cho những vấn đề trừu tượng trở nên cụ thể trong tư duy Vì vậy, việc diễn đạt nội dung còn góp phần làm tăng độ bền kiến thức đã lĩnh hội
Ngoài ra, khi học sinh có thể trình bày được kiến thức nghiên cứu dưới dạng ngôn ngữ khác nhau, chứng tỏ học sinh đã thực sự thấu hiểu trọn vẹn được vấn đề trong một chỉnh thể Điều đó chứng tỏ sự tự giác, nghiêm túc, tích cực, sáng tạo trong học tập Qua đó giáo viên có thể đánh giá được tinh thần, thái độ cũng như chất lượng thông hiểu tài liệu và năng lực nhận thức của trò
1.3 Cơ sở thực tiễn
Tiến hành khảo sát thực tế đối với 445 giáo viên và 1690 học sinh ở các trường trung học phổ thông: Chuyên Lê Hồng Phong, Nguyễn Khuyến, Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Nguyễn Bính thuộc tỉnh Nam Định thu được kết quả sau:
1.3.1 Chất lượng học tập của học sinh
Theo kết quả thu được của phiếu điều tra số 4 (Phụ lục4) chỉ có khoảng 14,7% [Bảng 1.1] số học sinh tích cực, chủ động trong hoạt động tư duy, tự tìm
Trang 33cho mình kiến thức mới, 76,4% số học sinh thụ động tiếp thu kiến thức thông qua bài giảng của giáo viên, 8,9% số học sinh không quan tâm đến kiến thức thu được
Bảng 1.1 Kết quả điều tra về tính tích cực, chủ động trong hoạt động
Học tập mang lại kiến thức, nâng
14,7 Yêu thích môn học do nó có ích
em cho rằng khi học trung học phổ thông chỉ cần học ở lớp 12)
Trang 341.3.2.Thực trạng kỹ năng diễn đạt kiến thức của học sinh
Với kết quả thu được của phiếu điều tra số 5 (Phụ lục 5) cho thấy:
17,2% các em trình bày kiến thức trên quan điểm riêng theo cách hiểu của mình Số còn lại chủ yếu cầm sách đọc hoặc học thuộc nội dung giáo viên yêu cầu trình bày Vì vậy đa số các em trình bày không trên nền thông hiểu của bản thân về kiến thức đó
Diễn đạt kiến thức bằng lời được học sinh sử dụng nhiều nhất (khoảng 37% sử dụng thường xuyên) Các hình thức diễn đạt còn lại được các em sử dụng rất ít Ví dụ: hình thức diễn đạt bằng đồ thị - biểu đồ và công thức được sử dụng khoảng 1%, chỉ khoảng 0,12% các em dùng hình thức diễn đạt bằng câu hỏi(Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Kết quả điều tra về các hình thức diễn đạt kiến thức của học sinh
Nội dung điều tra Số lượng Tỷ lệ %
8.Diễn đạt kiến thức theo cách hiểu của mình 290 17,2
9 Diễn đạt kiến thức bằng cách học thuộc nội dung 1064 63
Theo kết quả trên thì bước đầu học sinh đã sử dụng các cách diễn đạt kiến thức khác nhau Đây là điều kiện thuận lợi để giáo viên rèn luyện kỹ năng này cho học sinh nhằm nâng cao năng lực tự học và phát triển tư duy logic cho các
em
Trang 351.3.3.Tình hình rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt kiến thức
Thông qua dự giờ, phiếu điều tra chúng tôi thấy phương pháp dạy học tích cực đã và đang được sử dụng, giáo viên có nhiều đổi mới trong giảng dạy nhằm tăng cường khả năng tư duy của học sinh Tuy nhiên các phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong các giờ hội giảng, thanh tra, việc rèn luyện cho học sinh cách học chưa thường xuyên, liên tục Theo kết quả thu được (Bảng 1.3) của phiếu điều tra số 1 (Phụ lục 1) chỉ có 10,1% số giáo viên sử dụng biện pháp đưa câu hỏi và bài tập lớn để học sinh độc lập làm việc với sách giáo khoa
Bảng 1.3 Kết quả điều tra về các phương pháp dạy học giáo viên thường sử
Trang 36Bảng 1.4 Kết quả điều tra về các hình thức diễn đạt kiến thức được giáo
viên hướng dẫn cho học sinh
Khảo sát về vai trò và sự cần thiết rèn kỹ năng diễn đạt cho học sinh, 83% (Bảng 1.5) giáo viên cho rằng cần thiết vì nó giúp học sinh lĩnh hội kiến thức sâu sắc, phát triển tư duy logic Qua đó giúp giáo viên đánh giá được năng lực nhận thức của học sinh để điều chỉnh phương pháp giảng dạy của mình
Trang 37Bảng 1.5 Kết quả điều tra về quan điểm của giáo viên về sự cần thiết rèn kỹ
năng diễn đạt cho học sinh trong dạy học Sinh học
Trang 38CHƯƠNG 2 RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG DIỄN ĐẠT KIẾN THỨC
TỪ NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC
SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Phân tích chương trình Sinh học 10 trung học phổ thông
Trong chương trình Sinh học 10 trung học phổ thông các bài học được viết cho thời gian một tiết học và thường được bắt đầu bằng việc nêu ra các khái niệm mới sau đó học sinh vận dụng trả lời các câu hỏi Có thể bài học bắt đầu bằng một vài câu hỏi hay tình huống nhằm giúp học sinh thể hiện sự hiểu biết vấn đề sẽ được trình bày trong bài Việc nêu các vấn đề cho học sinh thảo luận trước khi giới thiệu kiến thức mới không phải chỉ nhằm tìm kiếm câu trả lời đúng của học sinh mà chính là phát hiện các ý tưởng, khả năng lập luận lôgic, những “lỗ hổng” về kiến thức và kỹ năng ở học sinh để giáo viên có biện pháp sửa chữa kịp thời Các câu hỏi được nêu trong bài giúp học sinh vận dụng kiến thức hoặc hiểu chính xác khái niệm Thông qua các hoạt động này, học sinh sẽ được rèn luyện các kỹ năng diễn đạt, khả năng làm việc tập thể, khả năng suy luận và khái quát…[Sách giáo khoa Sinh học 10]
Chương trình sinh học 10 trung học phổ thông gồm có 3 phần:
Phần một giới thiệu khái quát các cấp tổ chức sống trong sinh giới từ thấp đến cao và những đặc điểm chung của các cấp tổ chức sống
Phần hai được bắt đầu bằng việc giới thiệu về thành phần hóa học và cấu trúc của tế bào(chương I và II), tiếp đến là sự chuyển hóa vật chất và năng lượng xảy ra bên trong tế bào(chương III) và cuối cùng là sự phân chia tế bào(chương IV)
Phần ba giới thiệu các quá trình sinh học cơ bản đặc trưng ở cấp cơ thể nhưng dành riêng cho những sinh vật có kích thước nhỏ bé mà chủ yếu là vi
Trang 39khuẩn, vi nấm cùng những ứng dụng của chúng(chương I,II) Ngoài ra phần ba còn giới thiệu về virut, tuy chúng chưa được xem là một cơ thể sinh vật hoàn chỉnh nhưng có vai trò đặc biệt trong thế giới sống nói chung và con người nói riêng(chương III)
Chương trình Sinh học 10 trung học phổ thông còn chú trọng tăng các kênh hình minh họa và là nguồn cung cấp kiến thức nhằm giúp học sinh lĩnh hội kiến thức tốt hơn
Các câu hỏi trong bài không chỉ dừng ở việc đánh giá khả năng nhớ và hiểu bài của học sinh mà còn đánh giá khả năng vận dụng, liên hệ và tổng hợp kiến thức của học sinh
2.2.Các kỹ năng diễn đạt kiến thức cần rèn luyện cho học sinh
2.2.1 Kỹ năng lập bảng
2.2.1.1 Ý nghĩa của lập bảng
Lập bảng thể hiện rõ hiệu quả khi trình bày những nội dung phức tạp bao hàm nhiều lớp đối tượng với những dấu hiệu tương ứng, các nội dung có nhiều mối quan hệ Vì bảng không những trình bày kiến thức một cách cô đọng, đầy
đủ, hệ thống mà còn dễ dàng bao quát được toàn bộ nội dung trên các khía cạnh khác nhau hoặc đi sâu vào một khía cạnh nào đó trên các lớp đối tượng khác nhau
2.2.1.2 Các hành động cấu thành kỹ năng
Để lập bảng cần thực hiện các hành động sau:
Phân tích nội dung thông tin trong sách giáo khoa
Xác định mục tiêu xử lý thông tin đó
Xác định các tiêu chí để hệ thống hóa thông tin
Xác định các quan hệ giữa các tiêu chí
Thiết kế bảng: Kẻ khung, bố trí đối tượng và tiêu chí theo hàng ngang, cột dọc
Trang 40Lựa chọn thông tin phù hợp để điền vào ô có vị trí tương ứng trong bảng
* Ví dụ rèn cho học sinh kỹ năng diễn đạt bằng bảng nội dung mục I Đặc điểm chung của tế bào nhân sơ, bài 7 thì giáo viên phải định hướng cho học sinh thực hiện được các hành động sau:
Phân tích nội dung thông tin trong sách giáo khoa
Xác định mục tiêu xử lý thông tin đó
Xác định các tiêu chí để hệ thống hóa thông tin
Xác định các quan hệ giữa các tiêu chí
Thiết kế bảng: Kẻ khung, bố trí đối tượng và tiêu chí theo hàng ngang, cột dọc
Lựa chọn thông tin phù hợp để điền vào ô có vị trí tương ứng trong bảng Sau khi đã thực hiện các hành động trên thì học sinh có thể đưa ra bảng như sau
Bảng đặc điểm chung của tế bào nhân sơ
Cấu tạo
- Màng sinh chất, tế bào chất(không có hệ thống nội màng, không có các bào quan có màng bao bọc), nhân chưa hoàn chỉnh
Kích thước
- Khoảng 1-5µm( trung bình bằng 1/10 tế bào nhân thực)
- Diện tích bề mặt tế bào(màng sinh chất) trên thể tích của tế bào lớn
Ưu thế - Trao đổi chất với môi trường nhanh, sinh trưởng và
sinh sản nhanh
2.2.2.Kỹ năng xây dựng sơ đồ logic
2.2.2.1 Ý nghĩa của sơ đồ logic