1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những thay đổi về phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa ngữ văn trung học phổ thông

112 620 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu được giảng dạy trong chương trình trung học phổ thông môn Ngữ văn với tư cách là một trong chín tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam.Thơ văn đồ Chiể

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THANH HÒA

NHỮNG THAY ĐỔI VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC GIA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU THEO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THANH HÒA

NHỮNG THAY ĐỔI VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC GIA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU THEO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thanh Hùng

HÀ NỘI – 2012

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài ……… 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.………2

3 Mục tiêu nghiên cứu………3

4 Phạm vi nghiên cứu……… 3

5 Mẫu khảo sát.……….4

6 Câu hỏi nghiên cứu.……….… 4

7 Luận cứ ……… ……… …4

8 Phương pháp nghiên cứu ………5

9 Cấu trúc luận văn………5

Chương1 : NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tiếp thu lí luận giáo dục hiện đại và yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam………6

1.2.Tiếp thu thành tựu nghiên cứu phê bình văn học thế giới để đổi mới dạy học Văn học sử ở bậc THPT ……… …… 101.3 Những đổi mới lý luận dạy học và phương pháp dạy học Ngữ văn ở Trung học phổ thông……… ……….12

1.3.1 Tâm lý học hoạt động, một định lý cơ bản trong dạy học Ngữ văn ……… ……….… 12

1.3.2 Lý luận dạy học và những khả năng lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với bài học Ngữ văn………… ……… 13

1.4 Quan niệm về tác gia văn học và tác gia Nguyễn Đình Chiểu 16

1.4.1 Tác gia văn học 16

1.4.2 Tác gia Nguyễn Đình Chiểu 19

1.4.3 Phương pháp dạy học tác gia văn học 22

Chương 2: KHẢO SÁT NHỮNG THAY ĐỔI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC GIA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU THEO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (TỪ NĂM 1975 ĐẾN 2006)

Trang 4

2.1.1 Cấu trúc chương trình ngữ văn của SGK Ngữ văn lớp 11 28

2.1.2 Cấu trúc bài học tác gia tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu 33

2.1.3 Nội dung bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu……….… 36

2.2 Phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong SGK từ năm 1975 đến 2006 52

2.2.1.Vị trí của tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong lịch sử văn học 52

2.2.2.Mục tiêu bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu 54

2.2.3 Nội dung và Phương pháp 56

Chương3: THAY ĐỔI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC GIA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU THEO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 3.1 Dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo đặc trưng bài học - bằng bản đồ tư duy 65

3.1.1.Đặc trưng bài học tác gia văn học 65

3.1.2.Dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo đặc trưng bài học bằng bản đồ tư duy 66

3.1.3.Nội dung và Phương pháp lên lớp khi dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu bằng bản đồ tư duy……… ………67

3.2.Dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh……… ……… 73

3.2.1 Giới thiệu phương pháp “học thông qua thực hành dạy……… ………… 73

3.2.2.Tích cực hóa hoạt động của học sinh khi dạy học bài học tác gia Nguyễn Đình Chiểu……… ……….78

3.3.Dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu như một tác gia đặc biệt……… 79

3.3.1 Hướng dẫn học sinh tự làm việc với sách giáo khoa……… … 79

3.3.2.Hướng dẫn học sinh thu thập, chọn lọc, sắp xếp tư liệu có liên quan đến bài học về tác gia văn học Nguyễn Đình Chiểu ………….… …85

3.3.3.Hướng dẫn, tổ chức học sinh thuyết trình về tác gia Nguyễn Đình Chiểu ………… ……….….87

3.3.4.Hướng dẫn, tổ chức học sinh thảo luận những vấn đề đặc biệt trong giờ học về tác gia văn học Nguyễn Đình Chiểu……… ……… 90

3.4 Giáo án thực nghiệm “Bài học : Tác gia Nguyễn Đình Chiểu”……… 92

KẾT LUẬN ……… 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….… …105

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đề tài được chọn lựa từ sự nhận thức về vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong tiến trình văn học và trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam

Nguyễn Đình Chiểu - Tấm gương của lòng yêu nước, biểu tượng đẹp của tâm hồn và bản sắc văn hoá Việt Nam, vai trò và vị trí của nhà thơ mù đất Đồng Nai này

đã được thừa nhận Đặc biệt, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu được giảng dạy trong chương trình trung học phổ thông môn Ngữ văn với tư cách là một trong chín tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam.Thơ văn đồ Chiểu luôn góp phần giáo dục cho học sinh về nhân cách, về lẽ sống, kêu gọi tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, rèn luyện ý chí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống

1.2 Đề tài xuất phát từ thực tiễn phát triển và thay đổi của việc giảng dạy tác gia văn học trong nhà trường phổ thông nói chung và trong sách giáo khoa nói riêng Trong chương trình và sách giáo khoa môn Văn ở trường phổ thông, khối kiến thức về tác gia văn học Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng Thời lượng,số lượng bài học giành cho khối kiến thức này lớn.Tiêu chuẩn lựa chọn tác gia văn học

để đưa vào sách giáo khoa Văn phổ thông rất nghiêm ngặt, chặt chẽ: những tiêu chuẩn mà bản thân ngành Văn học đặt ra (tác gia ấy phải đại diện tiêu biểu cho một giai đoạn quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc; có sự nghiệp thơ văn đồ sộ và giá trị, có phong cách nghệ thuật độc đáo, có tư tưởng nghệ thuật đúng đắn và một nhân cách cao đẹp…) Các bài học về tác gia văn học luôn chứa đựng những kiến thức Văn học cơ bản nhất, sâu sắc nhất và trọng yếu nhất, vì không có tác gia văn học, sẽ không có nền văn học với những đỉnh cao Sự xuất hiện của các tác gia và nghiên cứu về tác gia góp phần làm sáng tỏ những quy luật vận động hình thành và phát triển của nền văn học

Các bài học về tác gia văn học hiện nay đã phản ánh rõtính khoa học và nghệ thuật của một bộ sách giáo khoa Văn, mặt khác sự thay đổi của chương trình dạy học một tác gia văn học cũng phản ánh sự kế thừa và sự đổi thay phát triển của sách

Trang 7

giáo khoa Văn qua các thời kỳ Trên thực tế thì từ năm 1975 đến nay, chương trình

và sách giáo khoa Văn học trong trường phổ thông đó trải qua 3 lần thay đổi lớn - mỗi lần thay đổi lại thu hút rất nhiều sự quan tâm của cả xã hội Tương ứng với mỗi lần thay sách thì cách lựa chọn, hướng đánh giá, phương pháp biên soạn và phương pháp dạy học về tác gia văn học nói chung và tác gia Nguyễn Đình Chiểu nói riêng cũng thay đổi theo Điều này chi phối rất nhiều đến việc dạy và học tác gia văn học trong trường phổ thông.Vì vậy, yêu cầu cần thiết và tất yếu là phải nhìn nhận chương trình dạy học về tác gia văn học (trong sách giáo khoa Văn) là một đối tượng động, luôn có sự đổi thay, phát triển và đương nhiên, cần có sự thay đổi tương ứng trong phương pháp dạy học

Từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Những thay đổivề phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa Ngữ văn Trung học phổ thông”làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn

Nguyễn Đình Chiểu là một trong số ít những tác giả văn học trung đại Việt Nam ngay từ khi tác phẩm ra đời không lâu, được chú ý, nghiên cứu Cuốn Nguyễn Đình Chiểu tác gia – tác phẩm của nhà xuất bản giáo dục đã tổng kết, chọn lọc một cách khá đầy đủ những bài nghiên cứu, phê bình, tiểu luận, trích đoạn … từ những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước từ năm 1964 đến 1999 Trong đó, mục giảng dạy thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong nhà trường có những

bài viết rất đáng chú ý như: “Từ thực tế giảng dạy trong nhà trường nghĩ thêm về

Trang 8

hiểu Đồ Chiểu rõ hơn về mặt nghệ thuật” của Nguyễn Trung Hiếu hay “Phân tích, bình giảng tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trong nhà trường” của giáo sư Trần

Đình Sử Bên cạnh đó, ta còn thấy những luận văn, luận án đi sâu vào những vấn đề

khác nhau về thơ văn cụ đồ Chiểu như: “Từ láy trong thơ Nguyễn Đình Chiểu” của Nguyễn Thị Thu Hương (ĐHSP HN); “Tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu” của Phạm Văn Nhu (ĐHSP HN) và “Phương pháp dạy học thơ văn Nguyên Đình Chiểu ở trừơng THPT theo hướng hoạt động tiếp nhận của học sinh”Tuy

nhiên, chưa có một công trình nào trực tiếp đi vào vấn đềthay đổi phương pháp dạy tác gia Nguyễn Đình Chiểu khi đặt trong tiến trình thay đổi của sách giao khoa Ngữ Văn qua các thời kì, hi vọng luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu chung

Thông qua việc khảo sát các bộsách giáo khoa Văn trung học phổ thông qua các thời kì (1975- 2007), chúng tôi muốn đưa ra những những tổng kết, đánh giá bước đầu về sự thay đổi của bài học về tác gia, tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, từ đó mong muốn tìm ra những giải pháp, con đường tích cực hóa hoạt động dạy học tác gia này

- Đề xuất phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểucó hiệu quả, phù hợp với đặc trưng bài học

Trang 9

5 Mẫu khảo sát

Sách giáo khoa Văn lớp 11 từ 1975- 2007 mà chủ yếu là 3 bộsách :

- Sách giáo khoa Văn trước cải cách (1975- 1989)

- Sách giáo khoa Văn cải cách (1990- 2000)

- Sách giáo khoa Ngữ Văn mới ( 2007 - nay)

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Sách giáo khoa Ngữ văn qua các thời kì đã có sự thay đổi như thế nào?

- Giảng dạy tác gia Nguyễn Đình Chiểu như thế nào để phát huy được hiệu quả đào tạo và giáo dục cao nhất?

7 Luận cứ

7.1.Luận cứ lý thuyết

- Căn cứ lí luận và thực tiễn về dạy học tác gia văn học trong các bộ sách giáo khoa Văn bậc THPT từ 1975 tới nay

- Nội dung và phương pháp dạy học cơ bản về tác gia văn học

- Những điều khác nhau về nội dung và phương pháp dạy học tác gia văn học giữa các bộ sách giáo khoa

- Những căn cứ mới về dạy học tác gia văn học của tác giả luận văn (Xem Nguyễn Đình Chiểu là phạm trù tác gia đặc biệt)

Trang 10

8 Phương pháp nghiên cứu

Sự thay đổi sách giáo khoa Ngữ văn

bài học về tác gia, tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu

Từ quan điểm

chính trị đến

quan điểm đào

tạo con người

toàn diện

Từ cách nhìn xã hội học dung tục đến quan điểm văn chương đậm chất thẩm mỹ

Từ cách dạy học truyền thụ một chiều đến cách dạy học tích cực

Từ sách giáo khoa mang nhiều tư tưởng giáo điều đến sách giáo khoa với nội dung và phương pháp hiện đại, phát huy được tính tích cực của học sinh và đậm chất văn chương

Từ sự nặng nề về bài học và quan điểm chính trị đến sự giảm tài về số lượng tác phẩm và nhìn nhận đúng hơn về giá trị văn chương Nguyễn Đình Chiểu

+ Phân tích tổng hợp:Soi chiếu bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu trên nhiều

góc độ: Cấu trúc chương trình, số lượng tác phẩm, bài học, nội dung và phương pháp, câu hỏi… từ đó tổng hợp các bảng biểu nhằm so sánh và rút ra các kết luận

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Những tiền đề lí luận và thực tiễn của việc thay đổi mới sách giáo khoa Ngữ văn bậctrung học phổ thông

Chương 2: Khảo sát những thay đổi nội dung và phương pháp dạy học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa Ngữ Văn trung học phổ thông (từ 1975 đến 2006)

Chương 3: Phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình thay đổi của sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO NGỮ VĂN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tiếp thu lí luận giáo dục hiện đại và yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam

Một vấn đề có tính nguyên lý là việc giáo dục văn học ở bất kì chế độ nào và thời đại nào cũng phải nhằm vào mục tiêu xây dựng con người cho chế độ đó, đáp ứng yêu cầu của thời đại đó Nhìn lại toàn bộ hệ thống sách giáo khoaNgữ Văn được biên soạn từ 1975 tới nay, một điều có thể khẳng định ngay là nó luôn luôn cố gắng xuất phát từ mục tiêu đào tạo của nhà trường và dựa trên nguyên lý giáo dục của Đảng để đáp ứng được ở một mức độ đáng kể những nhiệm vụ chính trị và cuộc sống ở từng giai đoạn cách mạng, từng thời kỳ lịch sử cụ thể Cho nên, có thể bắt đầu từ những đổi thay trong chính trị, văn hoá, xã hội của các thời kỳ lịch sử để lý giải cho sự đổi thay của sách giáo khoa Văn học và chương trình, phương pháp dạy học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu

Thời kỳ 1975- 1989 (khoảng thời gian tương ứng với sự ra đời và tồn tại của

bộ sách giáo khoa Văn trước cải cách) có tầm quan trọng đặc biệt trong cách mạng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đó là một thời kỳ có dư âm vẻ vang của cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi nhưng đồng thời cũng có những khó khăn phức tạp của bước đầu đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn phổ biến,

có những đảo lộn kinh tế và xã hội sau một cuộc chiến tranh lâu dài, có những diễn biến không thuận lợi do chủ nghĩa đế quốc và bè lũ phản động gây nên Vì thế, hơn bất cứ lúc nào trước đó, giáo dục quốc dân phải gắn chặt với sự nghiệp cách mạng

xã hội chủ nghĩa, giáo dục không chỉ đảm đương chức năng văn hoá- xã hội mà còn

ở những mức độ khác nhau thể hiện rõ chức năng chính trị, kinh tế của mình Trong bối cảnh chung ấy, “các môn chính trị, đạo đức và các môn khoa học xã hội giữ một vai trò quan trọng trong việc truyền đạt tri thức thế giới quan khoa học, về chủ nghĩa Mác- Lênin, đồng thời quá trình giáo dục cũng là một cuộc đấu tranh gay gắt nhằm đẩy lùi những tàn dư của tư tưởng tư sản còn khá sâu đậm trong một bộ phận

Trang 12

tưởng nảy sinh trong quá trình vận động kinh tế trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ” [19, tr 98] Cụ thể hơn, sách giáo khoa Văn trong thời kỳ này “cần vạch cho học sinh thấy rõ những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa đối với chủ nghĩa Mác- Lênin Đặc biệt cần vạch rõ bản chất tư tưởng phản động của chủ nghĩa Mao Trạch Đông,

sự phản bội lớn nhất, tệ hại nhất và nguy hiểm nhất hiện nay của chủ nghĩa Mác- Lênin, chủ nghĩa xã hội” [1, tr 19] So sánh với mục tiêu đó, thì bộ sách giáo khoa Văn trước cải cách được đánh giá là đã góp phần với các bộ môn văn hoá khác đào tạo các thế hệ trẻ nước ta thành những chiến sĩ xung kích trên các mặt trận chiến

đấu, sản xuất, văn hoá, khoa học…tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Tuy nhiên, cũng bởi mục tiêu trên chi phối nên một đặc điểm chính của bộ

sách giáo khoa này là nặng về nội dung tư tưởng- chính trị, chưa phát huy được ưu thế về đặc trưng bộ môn- nói cách khác nó chưa tận dụng được vũ khí đặc trưng lợi hại của nó là hình tượng ngôn ngữ nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tính cách con người Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa Và dù chiến tranh đã qua đi, đất nước đã thống nhất song các tác phẩm được chọn giảng trong hệ SGK này vẫn tập trung chủ yếu phản ánh cuộc sống chiến đấu chống giặc ngoại xâm gian khổ, hào hùng của dân tộc, vẫn chỉ tập trung phản ánh chủ đề yêu nước Yêu nước trong chiến đấu, trong lao động sản xuất, trong mọi hoàn cảnh sống Dường như, mọi tình cảm riêng tư, sâu kín của con người: những dằn vặt, yêu thương, giận hờn, đau khổ đều không có “đất” tồn tại trong bộ sách giáo khoa tràn ngập không khí hào hùng

ấy Mặt khác, bộ sách giáo khoa trước cải cách “còn bó hẹp trong khuôn khổ một tài liệu thông tin, truyền thụ kiến thức đơn thuần; ít có tác dụng hướng dẫn tự học,

tự nghiên cứu Việc rèn luyện tư duy, rèn luyện con người, như thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần nhắc nhở, chưa được coi trọng đúng mức trong sách giáo khoa văn phổ thông” [1, tr 53].Và tất nhiên, chương trình và phương pháp dạy học về tác

gia Nguyễn Đình Chiểu cũng không nằm ngoài những đặc điểm chung đó

Bước sang thời kỳ 1990- 2000 (khoảng thời gian chứng kiến sự ra đời của bộ sách giáo khoa Văn cải cách), tình hình chính trị- văn hoá- xã hội của nước ta đã dần có nhiều đổi thay đáng kể Đất nước ta vượt qua được giai đoạn khó khăn của thời kỳ đầu thống nhất, của bước đầu quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Đặc biệt,

Trang 13

trong thời kỳ này, chủ trương đổi mới của đại hội Đảng VI (1986) mới thực sự đi vào cuộc sống, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về mặt tư duy: vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác- Lênin nhưng không cứng nhắc, giáo điều, tự do hơn, dân chủ hơn, năng động hơn và dám nhìn thẳng, nói thẳng trước sự thật Công cuộc đổi mới toàn diện này cũng đã mở ra cho ngành giáo dục Việt Nam một giai đoạn phát triển mới: không phải đào tạo ra những con người “chính trị, công dân” mà là “đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện: có đạo đức cách mạng, tinh thần nhân văn, có năng lực chuyên môn, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế nhiều thành phần”[19, tr103] Trước tình hình đó, sách giáo khoa Văn không thể là “phiên bản của cuốn đạo đức học, nặng về hô hào, lý thuyết” (GS Nguyễn Đức Nam) mà “được biên soạn với tinh thần trả lại bản chất nghệ thuật, thẩm mĩ cho môn Văn; phát huy ở mức cao nhất sức mạnh bộ môn; chú ý cụ thể, hoàn thiện hơn lĩnh vực phương pháp dạy học”[25, tr 11] Bởi vậy, một trong những đặc điểm nổi bật của sách giáo khoa thời kỳ này là đề cao tính thẩm mĩ và tính nhân văn của Văn học, phát huy sức mạnh đặc thù của văn chương, chống lối dạy học xã hội học tầm thường hay chính trị hoá một cách thô bạo Đồng thời bộ sách giáo khoa này cũng bắt đầu chú ý hơn đến Phương pháp dạy học Chương trình và phương pháp dạy học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong bộ sách giáo khoa Văn cải cách, vì thế, đã có những ưu điểm nổi bật hơn hẳn chương trình trong bộ SGK trước đó

Sang những năm đầu của thế kỉ XXI này (thời điểm chứng kiến sự ra đời của

bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới), tình hình chính trị- kinh tế- xã hội nước nhà có biến đổi mạnh mẽ Điểm khác biệt đầu tiên là đất nước ta đang phát triển với một tốc độ rất mau chóng theo xu thế tích cực hội nhập quốc tế Quá trình hội nhập ấy đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức Nó đòi hỏi con người muốn tồn tại và phát triển thì phải có những phẩm chất mới: năng động, sáng tạo, chủ động và có khả năng thích nghi tối đa với đời sống xã hội nhiều biến đổi Điểm khác biệt thứ hai là đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam về cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp Sự nghiệp to lớn trên đã đặt ra yêu cầu về một lớp người lao động có những

Trang 14

Đặc biệt phải có những giá trị mới như tư duy phê phán và khả năng sáng tạo; năng lực tổng hợp, chuyển đổi và ứng dụng thông tin vào hoàn cảnh mới để giải quyết các vấn đề đặt ra, để thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống; năng lực hợp tác và giao tiếp có hiệu quả; năng lực chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của sản xuất và thị trường lao động…Muốn có những thế hệ người thích ứng với thời đại và xã hội mới tất yếu phải đổi thay mô hình giáo dục, đổi thay sách giáo khoa Nhìn lại sách giáo khoa Văn cải cách, chúng ta thấy rằng hệ sách này đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của giai đoạn thống nhất hệ thống giáo dục phổ thông trên phạm vi

cả nước, góp phần quan trọng vào quá trình phổ cập và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông Tuy nhiên trước yêu cầu mới của giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nó đã bộc lộ nhiều hạn chế:

“+ Bộ sách giáo khoa này được xây dựng trên một mô hình “tri thức tĩnh”, chỉ chú trọng tới khối lượng kiến thức Kiến thức bị nhìn nhận một cách tĩnh tại, tách rời khỏi đối tượng tiếp nhận và con đường vận động của bản thân chủ thể tiếp nhận kiến thức đó

+ Bộ sách giáo khoa này là có phần bị thu gọn trong giới hạn của một lĩnh vực hẹp của một môn học, tách rời giả tạo khỏi những quan hệ vốn có của nó như quan hệ giữa văn và tiếng, giữa ngữ văn và làm văn, giữa ngữ văn của THPT với THCS, giữa văn học nhà trường với cuộc sống hàng ngày đang biến đổi không ngừng, tách rời cung cấp kiến thức và kĩ năng…

+ Nội dung tỏ ra lạc hậu với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, với mục tiêu đào tạo con người của thế kỉ mới.Chưa quan tâm tới đặc trưng phương pháp dạy học ở trường, lớp; làm hạn chế việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh.” [26, tr7]

Bởi vậy, sự ra đời của một bộ sách giáo Ngữ Văn của thế kỉ mới là một đòi hỏi hợp quy luật Trước đòi hỏi của tình hình lịch sử mới, bộ sách giáo khoa Ngữ Văn trung học phổ thông được biên soạn với nhiều điểm thay đổi tích cực:

- Bộ sách giáo khoa Ngữ văn lần này được xây dựng như một chỉnh thể văn hoá

mở trong nhiều mối quan hệ

Trang 15

- Lần đầu tiên ba bộ phận Văn học, Tiếng việt, Làm văn được tích hợp lại một cách khoa học tránh được những vướng mắc vừa chồng chéo vừa trùng lặp trong nhiều thập kỉ qua

- Hệ thống tri thức văn học được xây dựng một cách khá hợp lý trên các phương diện lịch sử và thể loại

- Văn chương không chỉ được nhìn nhận đơn thuần từ bản chất thẩm mĩ mà còn được xem xét trong bản chất văn hoá

- Những tri thức văn học không chỉ là những tri thức lý thuyết thuần tuý mà luôn gắn bó một cách tuần tự có hệ thống với Tiếng Việt và kỹ năng làm văn

- Đổi mới tích cực phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh

Qua việc khảo sát các đặc điểm của 3 thời kì lịch sử tương đương với 3 hệ SGK Văn học chúng tôi có thể rút ra một kết luận: tiến trình đổi mới của chương trình và phương pháp dạy học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu nói riêng, của sách giáo khoa Ngữ Văn bậc THPT nói chung là cần thiết, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn lịch sử

1.2.Tiếp thu thành tựu nghiên cứu phê bình văn học để đổi mới dạy học văn học sử ở trường THPT

Nhiều thập kỉ qua, việc tiếp cận, phân tích tác phẩm văn chương luôn chịu ảnh hưởng trực tiếp và khá mạnh mẽ của sự biến đổi các khuynh hướng, phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học

Suốt một thời gian dài (1950- 1986), lí luận văn học của nước ta coi lý thuyết phản ánh là định hướng cho con đường tiếp cận, khám phá tác phẩm văn học Theo

lý thuyết đó, văn học, nội dung, phương pháp sáng tác, tính chân thực, thể loại… đều được xét đến trước hết và chủ yếu như một hình thái ý thức xã hội trong quan

hệ văn học với hiện thực, phù hợp hay không phù hợp theo một hệ thống thế giới quan nhất định Văn học là công cụ đấu tranh xã hội, do đó nội dung thế giới quan (tính khuynh hướng, giai cấp) được quan niệm là quan trọng hơn là cá tính của nhà văn.Văn học được coi là “tấm gương phản ánh hiện thực” nên giá trị phản ánh được

Trang 16

cao nên tiêu chuẩn nội dung tư tưởng chính trị được coi trọng hơn tính nghệ thuật Phương pháp nghiên cứu, phê bình này đã làm cho việc đánh giá các hiện tượng, tác phẩm văn học trở nên đơn giản, võ đoán, không thấy hết được giá trị của các tìm kiếm nghệ thuật, hạ thấp vai trò chủ quan của nghệ sĩ và lúng túng trước những hiện tượng văn học phức tạp Vì thế nên có một thời, các tác phẩm văn học lãng mạn 1930- 1945 bị đưa ra khỏi chương trình văn phổ thông vì nó chỉ có lợi cho thực dân,

nó ru ngủ, làm mềm yếu thanh niên, làm cho họ xa rời thực tế đấu tranh dân tộc, tiếp thu chậm ánh sáng của Đảng Cũng vì thế mà rất nhiều giá trị thơ văn trung đại

bị đánh giá thiên lệch Giá trị thơ văn của Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến đều được nhìn nhận từ góc độ chính trị: chống thực dân, phong kiến Với

“Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã nói dùm nỗi niềm cho tất cả những người bị ngạt thở trong cái khuôn phong kiến Với các bài thơ yêu nước, Nguyễn Đình Chiểu trở

thành chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn nghệ chống thực dân Pháp xâm lược.Còn các bài thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến thì lại được coi là vũ khí lợi hại đánh vào xã hội thực dân nửa phong kiến Tình cảm yêu nước hay nhân đạo của các nhà thơ ấy cũng được mặc định dựa trên tiêu chuẩn chính trị trên: lòng nhân đạo của Nguyễn Du được quy vào khái niệm nhân dân tính, lòng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu được soi chiếu từ quan điểm yêu nước của giai cấp vô sản, tình cảm gắn

bó thắm thiết của Nguyễn Khuyến với người dân nông thôn được xem xét từ tình cảm giai cấp, quan niệm giai cấp (?) … Vô hình chung, cách tiếp cận này cũng đã khiến các giờ học văn trong nhà trường phổ thông trong một thời gian dài trở thành giờ dạy đạo đức, giáo dục công dân Và trong dạy học văn học ở nhà trường phổ thông, phương diện nội dung tư tưởng luôn lấn át phương diện nghệ thuật Bởi vậy, dạy học Văn thường chịuảnh hưởng chủ yếu của khuynh hướng tiếp cận “phi văn bản”, “ngoài văn bản”, “trên văn bản” mang nặng tính áp đặt

Từ năm 1986 đến nay, lí luận, phê bình, nghiên cứu văn học có những đột phá quan trọng Trên cơ sở của lý thuyết cấu trúc, kí hiệu, phân tâm học, giải thích học…lí luận văn học đã nêu vấn đề đặc trưng văn học trong cấu tạo của nó (thi pháp học); tiếp nhận văn học, vai trò của người đọc đối với văn học (lý thuyết tiếp nhận)… Cụ thể là: đặc trưng văn học được xem như một cấu trúc mang nghĩa, một

Trang 17

ngôn ngữ trên cơ sở lý thuyết hệ thống, kí hiệu Điều này không phủ nhận quan hệ phản ánh giữa ý thức và hiện thực, nhưng nó phủ nhận ảo tưởng về một sự phản ánh kiểu tấm gương Do đó tính giống thật không phải là bắt buộc Văn học trước hết là biểu hiện và tưởng tượng sáng tạo, tính xã hội và tính chất phản ánh nằm trong hoạt động sáng tạo của nhà văn Nội dung văn học không đóng khung trong quan điểm chính trị mà thể hiện trong toàn bộ kinh nghiệm sống, bao gồm mọi mặt văn hoá, xã hội, tâm linh, vô thức, lí tính, phi lí tính Văn học vẫn là một hình thái ý thức xã hội nhưng nó vẫn có một nguồn năng lượng bất kham có thể làm rạn nứt hệ thống hình thái ý thức đã có và góp phần kiến tạo hệ ý thức mới Văn học luôn được xem xét trong mối quan hệ với quy luật tiếp nhận của người đọc Rõ ràng, những cách tiếp cận mới hơn, toàn diện hơn đã góp phần khắc phục những ngộ nhận ngây thơ có tính trực quan về nội dung, đặc trưng văn học của thời kì trước Sự thay đổi của lĩnh vực lý luận phê bình văn học đã đưa đến sự thay đổi của việc tiếp cận, phân tích tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông Việc tiếp cận, tác phẩm văn chương

trong nhà trường phổ thông hiện nay đang vận động theo hướng: vận dụng đồng bộ, hài hoà các phương pháp lịch sử phát sinh, cấu trúc văn bản và lịch sử chức năng

1.3 Những đổi mới về lý luận dạy học và phương pháp dạy học ngữ văn ở THPT

1.3 1 Tâm lý học hoạt động, một định lý cơ bản trong dạy học Ngữ văn

Phát triển quan điểm của C.Mác: Cái tinh thần chẳng qua là cái vật chất được chuyển vào trong đầu mỗi người và được cải biến trong đó, tâm lý học khoa học đã phát hiện ra phạm trù hoạt động Đây là thành tựu nổi bật của tâm lý học thế kỉ XX

và vẫn giữ nguyên giá trị trong những năm đầu của thế kỉ XXI này

Áp dụng tâm lý học hoạt động vào dạy- học, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: theo lý thuyết hoạt động, cuộc đời con người là một dòng hoạt động, trong đó

có hoạt động dạy và học Và “cái cốt lõi trong hoạt động dạy là làm sao tạo ra được tính tích cực trong hoạt động học của học sinh, làm cho các em vừa ý thức được đối

tượng cần lĩnh hội, vừa biết cách chiếm lĩnh cái lĩnh hội đó” [18, tr 29]- Còn bản chất của hoạt động học là: “Cái đích của hoạt động học hướng tới là chiếm lĩnh tri

Trang 18

kết quả thì người học phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính ý

thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình” [18, tr 121]

Trước những đổi thay của tâm lý học và thành tựu của tâm lý học hoạt động, việc dạy – học ngữ văn trong nhà trường cũng phải có những đổi thay phù hợp Mục tiêu của dạy học ngữ văn ngày nay không chỉ nhằm mục đích truyền thụ một khối lượng kiến thức, rèn luyện một số kĩ năng, giáo dục một số phẩm chất bằng con

đường áp đặt từ thày và học sinh chỉ là một con người thụ động Dạy học ngữ văn bây giờ nhằm mục tiêu cao nhất là giúp học sinh có thể chủ động tự học dưới sự giúp đỡ của thầy.Trong giờ học, học sinh hoạt động, thực sự hoạt động bên trong,

chứ không hoạt động bên ngoài, hoạt động hình thức (lối học được đánh giá bằng tần số xuất hiện của học sinh hay số lượng câu hỏi do thày nêu ra) Và đổi mới phương pháp phải được bắt đầu bằng việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa

1.3.2 Lý luận dạy học và những khả năng lựa chọn phương pháp dạy họcphù hợp với bài học Ngữ văn

Lý luận dạy học trong thời gian qua đã có nhiều bước đột phá tích cực.Với

sự phát triển và thành tựu của các khoa học cơ sở và khoa học liên ngành, nhiều lý thuyết dạy học mới ra đời làm thay đổi cách hiểu về hiện tượng dạy học Có thể kể

ra một vài lý thuyết dạy học mới như : lý thuyết tình huống và quan điểm về tam giác dạy học của J Vial,lý thuyết sư phạm tương tác của Jean - Marc Denommé và Madeleine Roy,lý thuyết kiến tạo

Lý thuyết tình huống coi hoạt động học của người học một phần nào đó

giống như hoạt động của nhà nghiên cứu (chủ thể tích cực) Đồng thời nó cũng nhấn mạnh vai trò của giáo viên trong quá trình giúp học sinh thực hiện hoạt động học tập, đó là gắn việc lĩnh hội tri thức, phương pháp, giá trị của học sinh với một tình huống cụ thể; đó là tổ chức việc học tập gắn với hoạt động và bằng hoạt động

Lý thuyết kiến tạo ra đời làm thay đổi quan niệm về hoạt động học và hoạt

động dạy: chú trọng hơn đến đặc điểm tâm lý, tính chủ thể của người học và chú trọng sử dụng những phương pháp dạy học có khả năng phát huy cao tính tích cực, chủ động học tập của học sinh trong những môi trường học tập cụ thể, trong từng hoàn cảnh cụ thể

Trang 19

Lý thuyết sư phạm tương tác thì đặc biệt coi trọng sự tương tác hai chiều

giữa nhân tố người dạy - người học - môi trường dạy học Trong sự tương tác đó, quan hệ giữa người dạy và người học là bình đẳng, hợp tác, giúp đỡ Người học chủ động huy động mọi năng lực cá nhân để tìm cách học và lĩnh hội tri thức, tự tìm kiếm kiến thức cho chính mình Người dạy phải tạo những hoạt động, tạo ra điều kiện giúp người học được nói lên, được chia sẻ với người dạy và với bạn học

Các lý thuyết trên tuy có những điểm khác nhau trong việc tiếp cận hoạt động dạy- học nhưng đều có điểm chung : tôn trọng mối quan hệ tương tác, bình đẳng giữa người dạy và người học, đề cao và coi trọng tính chủ thể, tích cực, chủ động của người học

Dựa trên kết quả của những lý thuyết dạy học hiện đại đó, lý luận dạy học đã nhìn nhận lại bản chất của quá trình dạy học: đó không phải là sự tác động một

chiều, thụ động từ hoạt động dạy tới hoạt động học mà là sự tương tác giữa hoạt

động dạy và hoạt động học để tạo nên sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học, giữa truyền đạt và điều khiển trong dạy với giữa lĩnh hội và tự điều chỉnh trong học

Lý thuyết sư phạm tương tác một mặt giải phóng người học khỏi sự gò bó nhưng đồng thời đặt người dạy vào những thách thức không nhỏ: làm sao vừa bảo đảm được nội dung dạy học, vừa khiến người học tự điều khiển tự lĩnh hội kiến thức mà mình không mất đi vai trò truyền đạt, điều kiển

Nội dung dạy học

Trang 20

Như vậy, xuất phát từ bản chất của quá trình dạy học, giáo viên được coi là

người giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ tiến trình dạy và học, là người tổ chức và điều

khiển các hoạt động trí tuệ và hướng dẫn thực hành của học sinh trên lớp, còn học sinh

“là chủ thể của hoạt động học tập, chủ thể có ý thức, chủ động, tích cực và sáng tạo

trong nhận thức và rèn luyện nhân cách”

Theo định hướng này thì các phương pháp tích cực phải chú ý nhiều hơn tới

việc cung cấp cách thức tìm ra chân lý chứ không phải truyền thụ chân lý Cũng

như vậy, trong việc dạy học tác phẩm văn chương, vấn đề quan trọng không phải là thấy được cái hay, cái đẹp của tác phẩm mà còn phải làm cách nào để thấy được cái hay, cái đẹp đó Đây chính là sứ mệnh nặng nề, cao quý của nhà trường Đây cũng chính là một trong những điểm hạn chế nhất của phương pháp dạy học truyền thống Định hướng phát triển của phương pháp dạy học Văn là làm sao trong mỗi giờ Văn, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được tiếp xúc trực tiếp với thế giới hình tượng của tác phẩm, thế giới nghệ thuật của nhà văn, sau đó là sự cọ xát, tranh luận với thày giáo, bạn bè… nhưng cuối cùng phải tự mình chiêm nghiệm, phát hiện ra vẻ đẹp riêng biệt, độc đáo của tác phẩm theo cảm nhận của chính mình Trong văn chương, sáng tạo cũng như tiếp nhận, vai trò chủ thể là cực kì quan trọng Văn chương không lay động, thức tỉnh từng con người thì hiệu quả không bao giờ có được “Một thời gian dài chúng ta tin rằng dạy tưc là nói cho học sinh nội dung nào đó và họ sẽ ghi nhớ điều ta nói Sự thật thì phức tạp hơn nhiều Người học không chỉ ghi nhớ những gì giáo viên nói mà họ còn tạo nên “ngôn ngữ riêng” của mình về những gì được học Điều đó cho thấy người học luôn chủ động tìm cách đem lại ý nghĩa riêng về kiến thức được học cho thế giới của họ Tính hiệu quả của dạy học Ngữ văn không phải dựa vào điều giáo viên nói mà quan trọng hơn là dựa vào cách họ nói tác động đến việc học của các em trong môi trường giao tiếp với thầy, với bạn và với bài học.” [12, tr 15]

Những năm qua, khi bắt tay vào cải cách môn văn ở các cấp học, chúng ta bước đầu tạo được một chuyển biến đáng kể về tư tưởng dạy học văn mới Tuy nhiên những cố gắng ban đầu đó khi đến bậc trung học phổ thông thì bị đứt đoạn, chưa có sự đồng bộ ngay từ đầu giữa nội dung và phương pháp [22, tr 20] Sự thay

Trang 21

đổi về nội dung, biểu hiện là sự ra đời của bộ sách giáo khoa mới, dù tốt đến bao nhiêu cũng có thể sẽ là khập khiễng nếu sử dụng những lối giảng dạy cũ kĩ theo hướng áp đặt Do vậy, nghiên cứu sự phát triển song hành giữa nội dung và phương pháp trong một bộ sách giáo khoa trở nên hết sức cần thiết

1.4 Những thành tựu nghiên cứu về phương pháp dạy học tác gia văn học và tác gia Nguyễn Đình Chiểu

1.4.1 Quan niệm về Tác gia văn học

Hiện nay việc xác định một khái niệm về một tác gia văn học còn khá mơ hồ Nhà xuất bản Giáo dục đã xuất bản hẳn một bộ sách “Về tác gia và tác phẩm”, trong

đó có rất nhiều tác giả, từ Nguyễn Du, Nguyễn Trãi đến Tố Hữu, Nguyễn Tuân… Tổng cộng có hơn 40 tác giả văn học lớn trong văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại được tuyển vào bộ sách đồ sộ này Nhưng rõ ràng việc khuôn hơn 40 tác giả vào bộ sách còn gây nhiều ý kiến tranh luận, vì văn học Việt Nam không thể có nhiều tác giả lớn hay “tác gia” như vậy được

Muốn trở thành tác gia văn học, nhà văn phải dành được vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nền văn học dân tộc Thành tựu của một tác gia văn học không phải chỉ là số lượng sáng tác và sự phong phú về thể loại mà còn là chất lượng tác phẩm, trong đó có những tác phẩm góp phần khẳng định một khuynh hướng, trào lưu, định mốc cho sự hình thành và phát triển của nền văn học.[21, tr261]

Xác định đóng góp của một tác giả trong một giai đoạn văn học, trong một nền văn học sẽ xác định tác giả ấy có được coi là một “tác gia” hay không Trước tiên, phải căn cứ vào giá trị tư tưởng và nghệ thuật của chính tác giả ấy.Là thành viên của một thời đại, một dân tộc, tác giả văn học không thể vượt qua tầm cao nhất

về tư tưởng mà thời đại và dân tộc đó có thể đạt đến Nhưng là một thành viên đầy

tự giác, đầy tính sáng tạo, trong nhiều luồng tư tưởng trong một thời đại, nhà văn cần hướng đến tư tưởng tiến bộ nhất, phù hợp với đà phát triển của lịch sử Chẳng những phải ý thức được điều đó, mà bằng tác phẩm của mình, nhà văn phải đấu tranh cho những tư tưởng tiến bộ thắng lợi Những tác giả lớn (tác gia) là những

Trang 22

nhân dân, với tác phẩm của mình, họ làm cho nhân dân thấu hiểu được điều đó Tác gia văn học bao giờ cũng là một nhà tư tưởng, một nhà văn hóa.Hoạt động xã hội và nhân cách đạo đức của họ cũng ảnh hưởng đến đông đảo quần chúng nhân dân.Mỗi tác gia lớn là kết tinh tất yếu quá trình phát triển của một chặng đường văn học.Các tác giả văn học lớn là những nhà tư tưởng, là người báo hiệu, người mở đường cho một thời đại.“Lịch sử văn học từng nước đã lắng kết dần và lựa chọn được những tác phẩm, tác gia lớn có sức sống bền vững với thời gian”[21- tr 261] Nhắc đến văn học Nga người ta nhắc đến Lep Tonxoi, Puskin, Dot , văn học Pháp tự hào với Banrac, V.Hugo

Bên cạnh đó, một tác gia lớn cần phải được nhìn nhận ở những đóng góp về mặt ngôn ngữ, nghệ thuật, bởi họ chính là người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ Ta cũng cần nhận thấy không phải nhà văn nào được xem là tác gia văn học mà lại chỉ có một vài tác phẩm không mấy giá trị, bởi đã nói đến tác gia là nói đến một sự nghiệp văn học đã ổn định, một cuộc đời nghệ sĩ với nhân cách cao đẹp, một phong cách riêng có bản sắc độc đáo Để có những cái riêng ấy, các tác gia đã lao động nghệ thật hết sức nghiêm túc, trên hết họ luôn xác định một tư tưởng nghệ thuật rõ ràng, một quan điểm sống tiến bộ tích cực Điều quyết định nhất trong văn học chính là cái tâm của nhà văn với tấm lòng nhân ái, yêu thương con người, đặc biệt là những con người trên đất nước mình, tổ quốc mình Chất liệu tạo nên những tác phẩm của họ phải là chất liệu của cuộc sống, của thời đại họ đang sống, từ đó với trí tượng tượng phong phú của mình, họ tạo nên hiện thực nghệ thuật thật hơn cuộc sống Một tác gia lớn phải là tấm gương phản chiếu thời đại mình, dân tộc mình Nói như nhà thơ Chế Lan Viên:

Tâm hồn tôi khi tổ quốc soi vào Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ

Đánh giá về tác giả văn học, cần xem tác giả ấy đã kế thừa những gì trong truyền thống văn học quá khứ, của những người đi trước Đồng thời phải xem họ đã đem lại một cái gì mới: một mảng hiện thực, một cách nhìn cuộc sống, một giọng văn, những đổi mới về thể loại Phải xem ảnh hưởng của họ đối với các nhà văn đương thời, thậm chí, giá trị của họ có khi còn vượt ra khỏi biên giới quốc gia Ta

Trang 23

cũng cần quan tâm đến quan điểm lịch sử, tác giả vĩ đại nhất cũng không vượt qua được những hạn chế của thời đại mình Nếu hạn chế của tác giả trùng khít với hạn chế của thời đại, ta không thể đòi hỏi gì hơn Lịch sử sẽ gánh chịu hết thiếu sót của ông.Nói cách khác, một tác gia lớn luôn được nghiên cứu như một hiện tượng tiếp nối giữa giai đoạn văn học trước và giai đoạn văn học sau.“Tác gia văn học là một gạch nối lịch sử văn học, là nơi người ta có thể thấy được sự liên tục và gián đoạn,

sự phát triển và đột biến, những nét định hình tiêu biểu của phương pháp sáng tác

cũ và những nét manh nha của phương pháp sáng tác mới, giữa truyền thống và hiện đại” [21, tr 263]

Đánh giá về một tác gia văn học bao giờ cũng phải căn cứ vào tác phẩm của họ.Không có tác phẩm lớn sao có thể gọi là tác giả lớn?Tác phẩm đó phải chứa đựng những giá trị nội dung và nghệ thuật nổi bật của một giai đoạn lịch sử và có ý nghĩa lâu dài về nghệ thuật xây dựng con người và cuộc sống Đây là tiêu chuẩn đảm bảo sự hiện diện lâu dài của tác giả trong lịch sử văn học, bởi những tác phẩm

đó như những mốc son chói lọi mà họ đã tạo ra trong dòng chảy liên tục của văn học dân tộc Lep Tonxoi với “Chiến tranh và hòa bình”, Hugo với “Những người khốn khổ”, Hêminwe với “Ông già và biển cả”, Nguyễn Du với “Truyện Kiều”, là những minh chứng rõ ràng nhất

Tóm lại, khi đánh giá về một tác giả văn học có phải là một tác gia văn học lớn hay không, ta phải căn cứ vào những yếu tố:

- Giá trị tư tưởng và nghệ thuật

- Kế thừa và biểu hiện phong phú, đa dạng truyền thống văn học quá khứ, của những người đi trước

- Sáng tạo và đi trước thời đại

- Có những tác phẩm lớn, vĩ đại

- Tầm ảnh hưởng của nhân cách, con người của nhà văn đối với thời đại Việc xác lập một khái niệm sơ lược về tác gia văn học như trên có một ý nghĩa lớn đối với việc giảng dạy tác gia văn học trong nhà trường phổ thông.Trước tiên bởi tính chính xác khoa học không cho phép đưa vào nhà trường những tác gia

Trang 24

tác gia văn học lớn của dân tộc Hơn nữa, vì khuôn khổ của chương trình văn học, ta vẫn chứng kiến Ngô Thì Nhậm, Hồ Xuân Hương, Tản Đà vắng mặt trong số những tác gia được chọn Làm rõ được những vấn đè trên, giáo viên và học sinh sẽ nhận thức được tầm quan trọng và cái hay cái khó của bài dạy tác gia văn học trong trường THPT, từ đó tìm ra những cách thức dạy và học bài học tác gia sao cho phù hợp với vị trí, đặc biểm của nó để nâng cao hiệu quả giáo dục

1.4.2 Tác gia Nguyễn Đình Chiểu

Trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn mới nhất, phần dạy về tác gia được đặt trong phần Lịch sử văn học và có bài học về 6 tác gia lớn, mỗi tác gia được phân phối 01 tiết học Các tác gia văn học ấy gồm: Nguyễn Trãi, Nguyễn

Du, Hồ Chí Minh, Nguyễn Đình Chiểu, Tố Hữu, Nam Cao Như vậy, các nhà biên soạn sách giáo khoa đã đặt Nguyễn Đình Chiểu là một trong số những tác giả lớn,

có đóng góp và giá trị đặc biệt trong dòng chảy của văn học dân tộc

Trước tiên, chúng ta dễ dàng nhận thấy những giá trị nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu sống mãi trong lòng dân tộc Sinh ra trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, triều đình phong kiến thối nát suy tàn, Nguyễn Đình Chiểu

đã ghi lại cả một thời kì “khổ nhục nhưng vĩ đại” của dân tộc Với quan niệm văn chương lành mạnh và tiến bộ, ông coi ngòi bút như một thứ vũ khí chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược và giữ vững đạo lý dân tộc Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu có thể chia làm hai giai đoạn chính, căn cứ vào thời điểm Pháp xâm lược nước ta Trước thời điểm đó, ông đề cao tư tưởng nhân nghĩa, giữ vững đạo lý Nho giáo Sau đó, có thể khẳng định rằng, dù chưa vượt ra khỏi giới hạn của tư tưởng Trung quân ái quốc, nhưng có thể khẳng định Nguyễn Đình Chiểu chính là tiếng nói cho khát vọng dân tộc, là đại diện cho nhân dân trong thời đại mình: Đấu tranh đòi quyền độc lập của Dân tộc Trong thời đại của ông, không một tác giả văn học nào có thể làm được điều đó Trong một số bộ sách giáo khoa trước đó, có một tác giả văn học cùng thời đại (Thế kỉ XIX) với Nguyễn Đình Chiểu cũng đã được giảng dạy như một tác gia văn học lớn, đó là Nguyễn Khuyến Nhưng đến bộ sách giáo khoa mới này thì bài học về tác gia Nguyễn Khuyến đã được giảm tải, nhưng bài học về Nguyễn Đình Chiểu vẫn được giữ nguyên Không thể phủ nhận vai trò

Trang 25

và những đóng gióp của Tam nguyên Yên Đổ, đặc biệt là trong mảng thơ làng cảnh

và thơ trào phúng, nhưng Nguyễn Khuyến dường như chưa ghi lại được tiếng nói của dân tộc, tiếng thơ của ông đã phản ánh được hết những suy nghĩ, ước mơ của nhân dân Trong một tác phẩm nghị luận xuất sắc “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” – được đưa vào giảng dạy ở sách giáo khoa ngữ văn lớp 12, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có những kiến giải sâu sắc, có lí có tình về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu Trong đó cố thủ tướng nhấn mạnh rằng thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã tiếp nối mạch nguồn truyền thống yêu nước ngàn đời của dân tộc “Bài ca của Nguyễn Đình Chiểu làm chúng ta nhớ bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Hai bài văn: hai cảnh ngộ, hai thời buổi, nhưng một dân tộc… Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca những người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang…” Để rồi Phạm Văn Đồng kết luận

“Nguyễn Đình Chiểu là một chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta Đời sống

và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa và tư tưởng.”

Về cơ bản, không thể không nhận ra Nguyễn Đình Chiểu vẫn nặng lòng với Nho học, sáng tác của ông từ “Lục Vân Tiên” cho đến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” vẫn được soi rõ dưới lăng kính của Nho giáo Nhưng thái độ của ông đối với nhân dân thì có thể nói đã đi xa hơn nhiều so với những tác giả Nho gia truyền thống Nếu trào lưu nhân đạo chủ nghĩa thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX mà đỉnh cao là Nguyễn Du đã vượt qua và có nhiều điểm xung khắc với Nho giáo, mặt khác, họ tập trung sự chú ý vào số phận của những con người ưu tú, của những cá nhân xuất chúng Nguyễn Đình Chiểu không tiếp tục các đề tài “hồng nhan bạc mệnh”, “tài tử

đa cùng” mà ông chú ý vào những con người bình thường Ở Nguyễn Đình Chiểu, ông bình thản coi những người nông dân mặc nhiên xứng đáng với những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất.Ông trở thành người mở đầu cho trào lưu văn học chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc nhân danh toàn bộ dân tộc chứ không phải một bộ phận, một thiểu số nào đó Trong “Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn chung”,

Trang 26

Đình Chiểu “còn mang ý nghĩa quốc tế đậm nét … Nguyễn Đình Chiểu phải là một trong những tên tuổi đặt lên trước do việc biểu hiện lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng nhân danh toàn dân tộc” [28, tr 292] Nhưng chúng ta cũng thấy rằng, cũng như toàn bộ đẳng cấp của mình, Nguyễn Đình Chiểu dừng lại ở sự bi quan và tâm lý thất bại chủ nghĩa, thừa nhận một cách uất ức ưu thế lâm thời về trí xảo của chủ nghĩa thực dân, mà không đẩy nhận thức của mình đi xa hơn, để nhìn ra tính hai mặt của của nghĩa thực dân “Nguyễn Đình Chiểu góp phần trả giá bằng toàn bộ cuộc đời, bằng cả cái chết, cho thế hệ sau hiểu dần ra điều đó” [28, tr 295] Có thể khẳng định rằng, dòng chủ lưu của văn học thời kỳ này rõ ràng chảy trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, và ông trở thành một trong những tác giả “khép lại một giai đoạn phát triển của văn học sử, tiêu biểu nhất là sự khép lại của chủ đề bảo vệ và thực hành nho giáo, sự tự thủ tiêu của cặp đôi “trung quân ái quốc” để hình thành một sự kết hợp mới “dân nước””[28, tr 295]

Như vậy, xét về phương diện nội dung, Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là một tác gia lớn của văn học Việt Nam, khi mà ông được coi như một “bản lề” của hai giai đoạn văn học Mặt khác, chúng ta cũng đặt ra vấn đề tại sao Nguyễn Đình Chiểu lại được nhân dân Nam Bộ yêu quý đến vậy? Ví như ai ở Nam Bộ cũng đều đọc được vài câu trong Lục Vân Tiên? Có lẽ bởi vì con người tương thân tương ái, thấm đẫm tình cảm cộng đồng, chút hảo hán nghĩa hiệp và hành động ân oán rạch ròi ở Lục Vân Tiên là sáng tạo thành công của Nguyễn Đình Chiểu Nói cách khác, Nguyễn Đình Chiểu đã tạo ra một giao điểm giữa văn học dân gian và văn học bác học, nói đơn giản là những nội dung “Nho giáo” được thể hiện bằng hình thức “dân gian” Chẳng phải, “tác giả cố ý viết một lối văn “nôm na”, dễ hiểu, dễ nhớ, có thể truyền bá rộng rãi trong dân gian hay sao? So với các vùng đất khác, Nam Bộ là đất mới, thế nên việc Đồ Chiểu trở về sống và tạo dựng sự nghiệp ở khu vực này đặt ông vào tình thế trở thành đại diện quan trọng duy nhất của cả nền văn học “ngay tại chỗ” Sống và sáng tác trong môi trường ấy, ông đã mở cửa cho tinh thần văn học dân gian ùa vào trong sáng tác của mình, và vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Lục Vân Tiên nhanh chóng trở thành “Truyện Kiều của Nam Bộ” Bằng toàn bộ sáng tác của mình, Nguyễn Đình Chiểu cùng với các nhà thơ khác đã nâng vùng văn học

Trang 27

Nam Bộ lên ngang tầm phát triển chung của văn học dân tộc Hơn thế nữa, là miền đất sôi động nhất, văn học Nam Bộ trở thành bộ phận tiên phong, đi đầu với chủ đề yêu nước chống ngoại xâm

Từ đó ta có thể đi đến một kết luận, Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là một trong những tác gia văn học lớn của nước ta, sáng tác của ông vừa tổng kết lại những giá trị tinh thần truyền thống, vừa đặt nền móng cho một thời kì văn học khác, có ảnh hưởng sâu rộng đến thời đại Do đó, việc đặt Nguyễn Đình Chiểu vào

vị trí một trong số những tác gia lớn của văn học Việt Nam trong sách giáo khoa là chính xác và khoa học

1.4.3 Phương pháp dạy học tác gia văn học

1.4.3.1 Mục đích yêu cầu của bài dạy

- Thông qua bài học về tác gia văn học cần cung cấp cho học sinh kiến thức về qui luật của lịch sử văn học, về các chặng đường sáng tác, về hình thành tác gia

- Phân tích và đánh giá những đóng góp về sáng tác và lý luận văn học của tác gia đối với nền văn học dân tộc, nhất là đối với giai đoạn văn học mà nhà văn sống và sáng tạo.Bài học về tác gia cần góp phần hình thành, củng cố kiến thức lý luận văn học cho học sinh, một yêu cầu cần phải đạt được “dưới hình thức dạy trực tiếp trong giờ dành riêng cho môn học này và dạy kết hợp trong bài khái quát lịch sử văn học, các bài học về tác gia, tác phẩm văn chương Việt Nam và thế giới có ghi trong chương trình”

“Kiến thức lý luận quan trọng nhất là sự giải thích các điều kiện xã hội khách quan, những tiền đề văn học tác động đến chặng đường sáng tác văn học của tác gia Bên cạnh đó cần khắc họa phong cách nghệ thuật và cá tính sáng tạo của mỗi tác gia

để cho học sinh nhận ra sự phong phú đa dạng mà độc đáo của sự phát triển nền văn học - nền văn học đó vừa thừa kế truyền thống quá khứ vừa nâng cao bản sắc dân tộc Học sinh có thể rút ra những bài học về nhân cách nhà văn và tấm gương lao động của họ Đồng thời xây dựng niềm tự hào chính đáng về dân tộc và lòng yêu thích văn chương cho mình.” [21, tr 265]

1.4.3.2 Những kiến thức về tác gia văn học và phương pháp giảng dạy cơ bản

Trang 28

- Luôn nhất quán, thống nhất với đặc điểm văn học Việt Nam trên hai tư tưởng lớn: yêu nước và nhân đạo

- Đề cập trực tiếp đến nhân cách đặc biệt của nghệ sĩ, cá tính sáng tạo của nhà văn Bài học về tác gia văn học là loại bài đề cập trực tiếp đến nhân cách đặc biệt của người nghệ sĩ Đó là cách ứng xử của nhà văn trong nhiều mối quan hệ với con người, với cuộc đời, với dân tộc, với nhân dân, trước danh lợi

- Cắt nghĩa và đánh giá một tác giả văn học phải căn cứ vào tác phẩm của họ để làm sáng tỏ thành bại của sáng tác nhà văn, chúng ta cần tìm hiểu mỗi quan hệ giữa tư tưởng lý luận và sáng tác văn học của tác giả Trong tư tưởng lý luận của nhà văn, đặc biệt phải lưu ý đến quan điểm nghệ thuật, quan điểm sáng tác.Một quan điểm nghệ thuật rõ ràng bao giờ cũng định hướng cho một phong cách nghệ thuật riêng.Quan điểm nghệ thuật, phong cách nghệ thuật liên quan chặt chẽ đến thế giới quan của nhà văn

Tóm lại, bài dạy văn học sử về tác gia văn học là nhằm nhìn nhận và đánh giá sự nghiệp văn học của nhà văn tiêu biểu về nhiều phương diện Phải phân tích mỗi quan hệ của nhà văn và thời đại, với môi trường văn học, với chặng đường sáng tác, với tác phẩm khác, bên cạnh đó cũng cần nhìn thấy ảnh hưởng của giáo dục gia đình, sự đào tạo học vấn cũng như các biến cố trong đường đời quyết định đến đời sống vật chất, tinh thần, tâm lý, chí hướng của tác gia Nhất thiết phải phân tích và

lý giải sự xuất hiện của tác gia, thành tựu văn học và những cống hiến quan trọng của tác giả đối với tiến trình văn học Bài học về tác gia văn học là kiểu bài phân tích một cách tự giác theo quan điểm lịch sử văn học, theo chức năng xã hội của văn học và lý luận văn học

b Về phương pháp:

- Bài dạy về tác gia văn học là loại bài có thể vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu văn học và giảng dạy văn học một cách rộng rãi Trước hết, đó là phương pháp kết hợp tri thức khái quát với tri thức cụ thể để hình thành tri thức lý luận văn học, hình thành qui luật văn học sử, qui luật sáng tác và qui luật tiếp nhận văn học Mặt khác, dù tri thức đưa vào sách giáo khoa đã được cân nhắc đến từng

Trang 29

câu, từng chữ nhưng người giáo viên có trình độ vẫn cần minh chứng, chứng minh các tri thức ấy bằng những dẫn chứng sinh động, những minh họa cụ thể

-Dạy bài học về tác gia văn học phải vận dụng phương pháp đồng đại và lịch đại.Phương pháp dạy học bài tác gia cũng vận dụng sáng tạo những phương pháp giảng dạy văn nói chung Quan trọng nhất là phải tạo điều kiện để học sinh vừa nghiên cứu vừa tóm tắt hệ thống luận điểm, luận chứng dẫn tới tri thức khái quát về lịch sử văn học Học sinh tự mình có thể kiểm soát lại tính logic lý luận và sự phong phú, thuyết phục của dẫn chứng, của nội dung và hình thức trình bày kiến thức trong sách giáo khoa Cuối cùng dựa và sự hướng dẫn bổ sung của giáo viên, học sinh nhận thức thấu đáo và kiểm chứng thêm tính chính xác, hấp dẫn của kiến thức văn học sử trong sách giáo khoa

- Phương pháp gợi mở, phương pháp nêu vấn đề đều có thể vận dụng có tính toán cụ thể đối với đặc biểm từng tác gia văn học Có bài cần gợi tìm vấn đề tác gia trong tầm văn hóa và bi kịch cá nhân (Nguyễn Trãi) có bài học lại hướng học sinh vào tư tưởng, vị trí và tâm hồn lớn của tác gia hy sinh trọn đời cho sự nghiệp cách mạng (Hồ Chí Minh) Có tác gia được trân trọng trước hết vì nỗi đau trọn đời như Nguyễn Du hay có tác gia lại được thông cảm vì nỗi thẹn như Nguyễn Khuyến

Với tính chất cô đọng của tri thức, khi giảng dạy bài tác gia chúng ta cần chú

ý và sử dụng mối quan hệ phức tạp giữa tác gia với thời đại, giữa tác gia với giai đoạn văn học, giữa tác gia với nhà văn cùng thời, giữa tác gia và tác phẩm văn học, thiết nghĩ phương pháp tái hiện kiến thức đơn giản, sẵn có sẽ thiếu hiệu quả Chúng

ta cần vận dụng sáng tạo cách dạy nêu vấn đề, dạy dự án, phát huy tối đa sự chủ động tích cực của học sinh

- Trong bài dạy tác gia văn học thường phải vận dụng những nhận định đúng đắn của các nhà nghiên cứu có uy tín về tác gia để hỗ trợ cho những kết luận đã được nêu trong sách giáo khoa Mỗi tác gia văn học lớn đều được một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về sự nghiệp văn học và nhân cách của họ.Đồng thời cũng tham khảo và đưa vào bài giảng những nhận xét, đánh giá sắc sảo, độc đáo của những nhà văn cùng thời với tác gia.Đó là những bằng chứng sinh động cụ thể làm

Trang 30

cơ sở cho việc đánh giá nhà văn một cách phong phú để cuối cùng đưa ra những kết luận, nhận định quan trọng đúng đắn về tác gia [21, tr 268]

1.4.3.3 Cấu tạo bài học tác gia văn học và những biện pháp thực hiện

a Cấu tạo bài học

Bài học tác học gia văn học gồm hai phần: cuộc đời và sự nghiệp văn học, hai nội dung này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và làm sáng tỏ mối quan hệ giữa cuộc đời văn và cuộc đời riêng Xử lý mối quan hệ giữa văn và người không thể chỉ nhìn hình thức bên ngoài để cắt nghĩa đơn giản, thô thiển: văn là người, người thế nào văn thế ấy Vì có những hiện tượng văn học đặc biệt, như nhà văn Nam Cao, bề ngoài lạnh lùng, ít nói nhưng bề sâu lại chứa đựng tinh thần nhân đạo sâu sắc

Cấu tạo bài học về tác gia văn học thường có các phần sau:

- Cuộc đời tác giả Hay còn gọi là tiểu sử tác giả

- Sự nghiệp văn học Hay còn gọi là sự nghiệp thơ văn

Cuộc đời tác giả - Tiểu sử.Phần nội dung này bao giờ cũng được trình bày trước sự nghiệp văn học.Lịch sử văn hóa nhân loại luôn luôn gắn bó với sự sáng tạo của con người Việc trình bày trước sau như vậy hàm chứa tính hợp lý tự nhiên, đồng thời thể hiện quan điểm đúng đắn về mối quan hệ giữa con người với sản phẩm sáng tạo Sản phẩm dù có tinh sảo như thế nào đi chăng nữa thì vẫn thấp hơn người sáng tạo ra nó, trong khi ấy, nhà văn còn là một người nghệ sĩ, có nhân cách,

có những nét riêng, bản thân nhà văn cũng là một hình tượng văn học Do vậy, yêu cầu tìm hiểu cuộc đời tác giả, đặc biệt là các mối quan hệ xã hội của tác giả ấy là vô cùng cần thiết

Trong cuộc đời tác gia có thể đề cập tới tiểu sử, có thể khắc họa những nét ấy đặc biệt về chân dung và cuối cùng có thể nêu số phận nhà văn để thấy sức sống của một tác gia trong lao động nghệ thuật, khắc phục những khó khăn và giới hạn của bản thân để đạt tới một sự nghiệp văn học vĩ đại nói cuộc đời của một tác gia lớn là nói tới sự trả giá cho một khát vọng tốt đẹp

Số phận nhà văn bắt nguồn từ những mức độ phù hợp giữa khát vọng cá nhân với ước mơ chân chính của nhân loại.nói cách khác, mỗi nhân cách tác gia văn học đều là sự thống nhất giữa nhà tư tưởng và người nghệ sĩ

Trang 31

Có nhiều cách trình bày nội dung cuộc đời nhà văn trong khi dạy bài tác gia Cũng nội dung đó có thể khi thì dùng hình thức con người tác phẩm, khi thì trình bày thân thế và sự nghiệp hay đường đời và văn nghiệp, hoặc có thể nhấn mạnh hành trình cuộc sống và những đỉnh cao sáng tác

Nội dung cuộc đời càng phong phú trên cơ sở cân nhắc để nêu bật một nhân cách cao đẹp, một lối sống giản dị, một tấm lòng nhân ái, một tấm gương đạo đức hay tình yêu nước nồng cháy Những yếu tố đó trong nhân cách nhà văn có ảnh hưởng rõ rệt tới tác phẩm, tới sự nghiệp của tác gia sau này

Sự nghiệp văn học - Sự nghiệp văn chương.Nói đến yếu tố đầu tiên làm nên

vị trí, vai trò của một tác gia trong lịch sử văn học là sự nghiệp văn học cũng là hoàn toàn đúng.Phần sự nghiệp văn học giữ vai trò quan trọng trong bài dạy tác gia Xét tác gia như một chỉnh thể văn học sử thì phải chú ý đầy đủ mối quan hệ cuộc đời và sự nghiệp văn chương với tuổi thọ của những trang sách và hoạt động mà nhà văn để lại Nhà văn chỉ trở thành tác gia khi đằng sau họ có một sự nghiệp sáng tác văn học phong phú, đa dạng, kết tụ trong những tác phẩm lớn

Có thể lần lượt trình bày bước đầu tiên vào nghề bao gồm ảnh hưởng văn học, quá trình viết và công bố tác phẩm đầu tay nghề nghiệp trước khi vào làng văn Tiếp theo, nên trình bày các chặng đường sáng tác, phản ánh các bước đường tư tưởng của tác gia Trình bày thành tựu văn học không chỉ liệt kê tác phẩm mà nên dừng dại phân tích các tác phẩm chính để soi sáng những nhận định văn học sử và

lý luận văn học có liên quan Ngoài những tác phẩm văn học chính có ý nghĩa lớn đối với tác gia, với tiến trình văn học, nên điểm qua những tành tựu văn học khác như lý luận phê bình, các thể loại sáng tác khác của tác gia Cống hiến quan trọng của tác gia vẫn là tác phẩm văn học có giá trị sâu sắc, đủ sức làm rõ nét một phong cách nghệ thuật đã định hình và đem đến cho nền văn học dân tộc một cá tính sáng tạo độc đáo, một tiếng nói riêng không ai thay thế được

“Bài học tác gia tạo nên một cách nhìn tổng thể về tiến trình văn học và tránh được sự khô khan, phiến diện vì nó kết hợp được cái chung và cái riêng, tri thức khái quát và tri thức cụ thể, con người và tác phẩm, nhân cách và tài năng, lý luận

Trang 32

văn học và thực tiễn sáng tác Vì vậy bài học về tác gia có khả năng tạo sự sinh động về tri thức và giáo dục.”[21, tr 271]

Tóm lại, trước những yêu cầu của thực tiễn giáo dục, đồng thời tiếp thu những nghiên cứu về khoa học giáo dục, lý luận văn học, về tác gia văn học, nghiên cứu những thay đổi về nội dung và phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu là một nhu cầu tất nhiên và có cơ sở khoa học

Trang 33

CHƯƠNG2 KHẢO SÁT NHỮNG THAY ĐỔI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC GIA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU THEO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

(TỪ 1975 ĐẾN 2006)

Như trong phần mở đầu chúng tôi đã đề xuất, mẫu khảo sát của chúng tôi là

3 bộ sách giáo khoa:

- Sách giáo khoa Văn trước cải cách (1975- 1989)

- Sách giáo khoa Văn cải cách (1990- 2000)

- Sách giáo khoa Ngữ Văn mới ( 2006 - nay)

Với nhiệm vụ là nghiên cứu quá trình thay đổi về nội dung và phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong 3 bộ sách này Việc phân tách hay phương diện nội dung và phương pháp vốn đã rất khó khăn, đặc biệt là với một bài học trong sách giáo khoa, vốn chỉ là một hệ thống kiến thức cụ thể Vì vậy chúng tôi đã hướng tới một giải pháp, đó là tìm hiểu sách giáo khoa để nắm bắt cấu trúc và nội dung bài học tác gia Nguyễn Đình Chiểu, và tìm hiểu thêm cả sách giáo viên để khảo sát phương pháp dạy học

2.1 Cấu trúc và nội dung bài học tác gia Nguyễn Đình Chiểu(từ năm 1975 đến 2006)

2.1.1 Cấu trúc chương trình ngữ văn của sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11

Bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong 3 bộ sách giáo khoa đều được giảng dạy ở tập 1 lớp 11, trong phần văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ X đến thế kỉ XIX - Phần văn học này được nối tiếp từ chương trình ngữ văn lớp 10 Bài văn học

sử về tác gia Nguyễn Đình Chiểu nằm trong hệ thống kiến thức của văn học Việt Nam từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XX, vì vậy vị trí và mối quan hệ của bài học này với các bài học khác cũng cần khảo sát Chính từ kết quả của quá trình khảo sát này, chúng ta mới có thể nhận ra việc đặt vị trí bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu có

ý nghĩa và dụng ý gì của những người biên soạn sách giáo khoa

Trang 34

Bảng 2.1so sánh cấu trúc chương trình SGK Ngữ văn

SGK trước cải cách SGK cải cách Sách giáo khoa

mới Bộ cơ bản

SGK mới Bộ nâng cao

Phần 1: Văn học Việt Nam

từ giữa thế kỉ XVIII đến

1930

Chương I Văn học Việt

Nam từ giữa thế kỉ XVIII

-Thơ Cao Bá Quát

Chương II Văn học Việt

X đến thế kỉ XIX

- Kiêu binh nổi loạn

- Bài ca ngất ngưởng

- Dương phụ hành

- Nguyễn Đình Chiểu

-Lẽ ghét thương

-Văn tế nghĩa

sĩ Cần Giuộc -Xúc Cảnh -Nguyễn Khuyến

Dương Khuê

- Chùm thơ thu

- Mồng hai tết viếng cô kí

- Thương vợ

- Hương sơn

Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX

- Vào phủ chúa Trịnh

- Tự tình

- Câu cá mùa thu

- Thương vợ

- Đọc thêm: Khóc Dương Khuê;

Vịnh khoa thi Hương

- Bài ca ngất ngưởng

- Bài ca ngắn đi trên bãi cát

-Lẽ ghét thương -Đọc thêm:

+Chạy giặc +Bài ca phong cảnh Hương Sơn -Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

+Phần 1: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu

+Phần 2: Tác

Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX

- Vào phủ chúa Trịnh

-Lẽ ghét thương -Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

- Nguyễn Đình Chiểu

- Tự tình

- Bài ca ngắn đi trên bãi cát

- Câu cá mùa thu

- Nguyễn Khuyến

- Thương vợ

- Bài ca ngất ngưởng

- Chiếu cầu hiền

Trang 35

+ Thà đui mà giữ đạo nhà

-Đọc thêm về thơ văn

chống Pháp

-Thơ văn Nguyễn Khuyến

-Đọc thêm thơ văn Nguyễn

* Bộ sách giáo khoa văn học trước cải cách: Phần giảng dạy về tác gia Nguyễn

Đình Chiểu mở đầu chương II trong phần văn học Việt Nam từ giữa thế kỉ XVIII đến 1930 Chương I của phần văn học này đã giới thiệu văn học Việt Nam từ giữa thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX, tập trung phần lớn vào Nguyễn Du và Truyện Kiều, ngoài ra còn có Hoàng Lê nhất thống chí và thơ của Cao Bá Quát Rất tiếc là sách giáo khoa thời kì này chúng ta không được thấy Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm hay Nguyễn Công Trứ Quan điểm nặng về tư tưởng, xem nhẹ yếu tố văn chương tiếp tục được khẳng định các bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương cũng chủ yếu khai thác các bài học đề cao trung nghĩa, chống phong kiến, thực dân như “Chạy Tây, Văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc, Thà đui mà giữ đạo nhà” (Nguyễn Đình Chiểu); “Ông nghè tháng 8, Hội Tây, Hỏi thăm quan Tuần mất cướp” (Nguyễn Khuyến) hay “Lắm quan, Vịnh khoa thi hương, Thói đời” (Trần Tế Xương) Đặt vị trí Nguyễn Đình Chiểu mở đầu cho giai đoạn văn học từ 1858 đến đầu thế kỉ XX đã phản ánh rõ nét việc các tác giả sách giáo khoa đề cao tư tưởng yêu nước của Đồ Chiểu, coi ông như một người mở đầu cho văn học chống thực dân, văn học yêu nước

* Bộ sách giáo khoa cải cách năm 2000 đặt bài văn học sử tác gia Nguyễn

Đình Chiểu ở vị trí thứ 4 trong chương trình ngữ văn 11, sau các bài: “Kiêu binh nổi loạn – Ngô gia văn phái, Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ, Dương phụ hành – Cao Bá Quát” Sau đó là tác gia Nguyễn Khuyến, tác giả Tú Xương, Chu Mạnh Thinh Cách sắp xếp này phản ánh rõ nét quan niệm bám chắc vào tiến trình văn

Trang 36

trước thì được giảng dạy trước, tác giả tác phẩm nào ra đời sau thì giảng dạy sau Cách tiếp cận này có thế mạnh là học sinh dễ nắm bắt được tiến trình văn học sử Việt Nam, mạch kiến thức được bảo đảm rõ, sự logic trong việc giải thích các hiện tượng văn học được thể hiện rõ ràng Điểm hạn chế của cách sắp xếp này là hệ thống loại thể văn học gần như bị phá vỡ, giáo viên và học sinh phải tìm hiểu từ: tiểu thuyết chương hồi đến hát nói, đến thể hành, rồi đột ngột chuyển qua thơ lục bát, văn tế, thơ thất ngôn và cuối cùng quay lại với thể hát nói

* Bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới bộ cơ bản đã có cách sắp xếp bài học

khác hẳn Bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu được đặt ở gần cuối học phần văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến XIX Trước khi đến với Văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc và tác gia Nguyễn Đình Chiểu, học sinh đã được giới thiệu những tác phẩm của Lê Hữu Trác, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ, Cao

Bá Quát … Điều này có nghĩa cách sắp xếp theo tiến trình văn học sử đã bị phá vỡ, các tác phẩm và tác giả không còn được đặt vào sách giáo khoa theo năm tháng nữa Quan niệm mới lúc này là theo tương quan thể loại:

+ Cụm các bài Tự tình, Câu cá mùa thu, Thương vợ là cụm tác phẩm theo thể thơ Nôm Đường luật

+ Cụm các bài Bài ca ngất ngưởng; Bài ca ngắt đi trên bãi cát là cụm tác phẩm theo thể hành, hát nói, khá tự do

+ Tiếp theo là các thể thơ lục bát, văn tế, chiếu …

Sự thay đổi này khiến học sinh và giáo viên khó khăn hơn khi giải thích những hiện tượng văn học sử, ví dụ đặt tâm trạng buồn tủi, phẫn uất và khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương cạnh tâm trạng thời thế của Nguyễn Khuyến và tình cảm của Tú Xương về người vợ của mình sẽ khó có sự liên kết chặt chẽ giữa các bài Bởi dù sao mỗi tác phẩm cũng cần đặt vào hoàn cảnh lịch sử nhất định: Thế kỉ XVII – XVIII là tiếng nói cá nhân (Tự Tình, Bài ca ngất ngưởng…); thế kỉ XIX lại

là tấm lòng yêu nước, tâm sự thời thế (Văn tế, chùm thơ Thu…) Tuy nhiên nếu khắc phục được hạn chế là phá vỡ mối liên kết của tiến trình lịch sử văn học thì việc giảng văn theo thể loại như trên lại giúp cho học sinh nắm bắt tốt hơn thi pháp văn học trung đại, đặc biệt là phân tích hình thức nghệ thuật tác phẩm Việc rút ra những

Trang 37

nhận định trên giúp giáo viên khi giảng dạy bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu cần thấy vài trò và vị trí của tác gia này trong học phần văn học từ thế kỉ X đến XIX

- được coi là tác gia lớn cuối cùng có vị trí bản lề, then chốt trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, về lý tưởng thẩm mỹ, chủ đề - đề tài, hình tượng văn học cơ bản hay hệ thống thể loại như đều tổng kết lại

cả một chặng đường lịch sử dân tộc cũng như lịch sử văn học.Từ đó, nhanh chóng xác định trong học sinh một tâm thế trang trọng, biết ơn với nhà thơ mù đất Đồng Nai

* Bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới – Nâng cao lại có cách sắp xếp vị trí tác

phẩm khác hẳn, vừa phá vỡ tiến trình văn học sử, vừa khó theo hướng đặc trưng thể loại Tuy nhiên, vì mỗi bài học đều có phần chú thích thể loại, với thời lượng tiết học dành cho ban nâng cao thì giáo viên có thể dễ dàng làm cho học sinh rõ về đặc

trưng của các thể loại văn học Ví dụ dạy bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, cần chỉ ra

vẻ đẹp hình thức của thể văn biền ngẫu như: các vế phải đối nhau về số tiếng, thanh điệu, nhịp, nội dung, tất cả các câu đều gieo theo một vần, sử dụng nhiều điển cố và

từ ngữ giàu hình ảnh…Có như vậy học sinh mới thấy được kỳ công của Nguyễn Đình Chiểu và ngưỡng mộ tài năng nghệ thuật của ông Dạy thể loại còn phải chú ý tới “tính nội dung của thể loại” Như thơ thất ngôn bát cú mang tính cổ kính, trang trọng, thơ lục bát đậm đà tính dân tộc, thơ tự do cho thấy tâm hồn phóng khoáng của tác giả… Nhiều nhà văn thích sử dụng một thể loại nhất định và chính điều này góp phần làm nên phong cách của nhà văn đó Dạy bài văn học sử về tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong sách ban Nâng cao không thể dạy như ban Cơ bản được, bởi gần như lúc này học sinh mới nắm bắt được những giá trị nội dung và nghệ thuật riêng của Nguyễn Đình Chiểu chứ chưa thể thấy được giá trị và vị trí to lớn của tác gia này trong dòng chảy của văn học dân tộc

Một trong những vấn đề khác biệt giữa bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới và các bộ sách trước đó là sự tích hợp giữa các phân môn văn học – tiếng việt – làm văn, do vậy việc giảng dạy bài học tác gia Nguyễn Đình Chiểu cũng cần chú ý đến vấn đề này

Trang 38

Sách giáo khoa mới Bộ cơ bản

Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX -Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

+Phần 1: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu

+Phần 2: Tác phẩm

- Thực hành về thành ngữ, điển cố

-Chiếu cầu hiền -Đọc thêm: Xin lập khoa luật

- Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng

Ngay sau những bài học về tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc” và tác giả Nguyễn Đình Chiểu có hai bài thực hành tiếng Việt : Thực hành về thành ngữ, điển

cố và thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng Trong đó giáo viên có thể sử dụng những ngữ liệu của hai bài Lẽ ghét thương và Văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc làm bài tập thực hành

Ví dụ: Tìm trong bài “Lẽ ghét thương” và “Văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc” các thành ngữ, điển cố và phân tích ý nghĩa của chúng

Từ đó củng cố thêm nhận định về nghệ thuật thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: giản dị, mộc mạc mà vô cùng ý nghĩa, đơn giản nhưng càng nhìn càng sáng, vẻ đẹp thơ văn ông không phát lộ rực rỡ ở bề ngoài mà tiềm ẩn trong tầng sâu cảm xúc, luôn bắt nguồn từ chất liệu văn hóa dân gian

2.1.2 Cấu trúc bài học tác gia tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu

Cấu trúc chương trình dạy học về tác gia cấu tạo bởi ba bộ phận sau:

- Bài khái quát về cuộc đời sự nghiệp văn học của tác gia văn học

- Tác phẩm được dạy chính

- Tác phẩm đọc thêm

Cấu trúc chương trình và nội dung dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu cũng tuân theo cấu trúc thường thấy như trên, tuy nhiên qua khảo sát chúng ta thấy có sự thay đổi qua các bộ sách giáo khoa:

Trang 39

Bảng 2.2so sánh cấu trúc bài học của SGK Ngữ văn

Sách giáo khoa mới Bộ nâng cao Thơ văn Nguyễn

2 Bài học chính:

-Lẽ ghét thương -Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

-Xúc Cảnh 3.Bài học thêm:

- Thà đui mà giữ đạo nhà

1.Bài học chính:

-Lẽ ghét thương 2.Bài đọc thêm:

-Chạy giặc 3.Bài học chính:

-Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

+Phần 1: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu

+Phần 2: Tác phẩm

1.Bài học chính: -Lẽ ghét thương

2 Đọc thêm: Chạy giặc

3 Bài học chính -Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

4 Bài khái quát tác gia Nguyễn Đình Chiểu

Qua bảng so sánh trên chúng ta có thể thấy rõ cách sắp xếp bài văn học sử về tác gia văn học đã có sự thay đổi Mỗi tác gia văn học thường gắn với một số tác phẩm tiêu biểu, vĩ đại Nhắc đến Nguyễn Đình Chiểu người ta thường nhắc đến Văn tế nghĩa

sĩ Cần Guộc, Lục Vân Tiên, và vì vậy bên cạnh bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu thì sách giáo khoa còn đưa vào chương trình các tác phẩm đó

*Hệ sách giáo khoa cải cách (2000) và trước cải cách thường đưa bài học

về tác gia lên trước rồi mới đưa các tác phẩm giảng dạy sau, các tác phẩm giống như minh chứng cho những nội dung về tác giả đã được đề cập đến ở bài học trước

đó Cách sắp xếp tác phẩm theo kiểu diễn dịch như vậy có ưu điểm là sự logic giữa

Trang 40

Tuy nhiên như vậy có thể làm giảm bớt vai trò của các tác phẩm văn học, nói cách khác nếu như học sinh đã tìm hiểu kĩ về tác gia văn học trong bài văn học sử rồi thì khi học những tác phẩm của tác giả đó sẽ như là các “ví dụ chứng minh”, thậm chí là sự áp đặt kiến thức, tạo ra lối mòn trong cảm nhận của học sinh

*Khi bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới được biên soạn, các bài văn học sử

về tác gia văn học luôn được xếp cuối cùng, tức là sau khi học sinh đã học các tác phẩm của tác gia đó thì mới được học kĩ về tác gia ấy Đó là cách sắp xếp theo hướng qui nạp, nó có thể sẽ giúp cho học sinh luôn giữ được cái nhìn “tươi mới” về tác phẩm, quá trình đọc tác phẩm sẽ đúng là quá trình “khám phá”, “tìm hiểu” Mặt khác, điều này sẽ giúp học sinh rèn luyện được tư duy khái quát hóa, trừu tượng hóa đối tượng Nó giống như khi chúng ta đọc một cuốn sách, ta khám phá cái hay cái đẹp của nó, để rồi ta nắm bắt những giá trị tư tưởng của tác phẩm và tưởng tượng hình dung về tác giả của cuốn sách ấy

Giải thích cách sắp xếp này các nhà biên soạn lưu ý giáo viên về phương

pháp “bài học tác gia trong chương trình sở dĩ đặt sau các bài đọc văn của chính tác gia đó là nhằm dựa vào kiến thức đã học để khái quát tư tưởng và nghệ thuật của tác gia Vì ậy một mặt giáo viên cần nêu câu hỏi để học sinh nhắc lại nội dung các bài đã học, hướng dẫn học sinh quy nạp thành nội dung của bải Mặt khác, khi quy nạp sẽ nảy sinh một số vấn đề mới, giáo viên sẽ cho học sinh trao đổi, thảo luận

và đi đến tổng kết” (Sách giáo viên nâng cao 11)

Tuy nhiên vị trí của bài khái quát của tác gia giữa hai bộ sách nâng cao và cơ

bản là khác nhau Với bộ sách ban cơ bản, bài học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu

nằm trong bài học về tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc”, trong khi trong bộ sách ban nâng cao thì bài học này được tách riêng Việc gộp bài học về tác gia nằm trong tác phẩm sẽ dẫn tới một số hạn chế: Giáo viên và học sinh chưa có tâm thế dạy học

Tác gia Nguyễn Đình Chiểu Nội dung - Nghệ thuật thơ văn

Văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc

- Yêu nước thương dân

“Lẽ ghét thương” - Tư

tưởng đạo đức

Xúc cảnh

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2003), Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc ph-ơng pháp của sách giáo khoa tr-ờng phổ thông Khác
2. Hồ Ngọc Đại (2000),Tâm lý học dạy học.Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Néi Khác
3. Nguyễn Hữu Đảng. (2000). Xã hội với sách giáo khoa - Tập 1 – Tài liệu l-u hành nội bộ – Nhà xuất bản Giáo dục Khác
4. Nguyễn Hữu Đảng (2000), Xã hội với sách giáo khoa - Tập 2 – Tài liệu l-u hành nội bộ – Nhà xuất bản Giáo dục Khác
5. Hà Minh Đức (Chủ biên) (2001), Lý luận văn học – Nhà xuất bản Giáo dục 6. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (2001), Giáo dục thế giới đi vào thế kỉ XXI. Nhàxuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
7. Lê Văn Hồng (1997),Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học s- phạm.Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
8. Đỗ Đức Hiểu. (2000), Thi pháp hiện đại. Nxb Hội nhà văn Khác
9. Nguyễn Thanh Hùng (1994), Văn học và nhân cách. Nhà xuất bản Văn học 10. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương. Nhà xuất bản Giáodục Khác
11. Nguyễn Thanh Hùng (2000), Văn học điểm nhìn biến đổi. Nhà xuất bản Văn học Khác
12. Nguyễn Thanh Hùng (2000), Hiểu văn dạy văn. Nhà xuất bản Giáo dục Khác
13. Nguyễn Thanh Hùng (2006), Phương pháp dạy học Ngữ văn ở THPT. Những vấn đề cập nhật - Nhà xuất bản Sư phạm Khác
14. Nguyễn Thanh Hùng (2007), Phương pháp dạy học ngữ văn ở cao đẳng sư phạm. Nhà xuất bản đại học Sư phạm Khác
15. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường. Nhà xuất bản Giáo dục Khác
16. Nguyễn Thanh Hùng (2011), Kĩ năng đọc hiểu văn. Nhà xuất bản Đại học sư phạm Khác
17. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS. Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội Khác
18. Nguyễn Kì (chủ biên) (1996), Mô hình dạy học tích cực lấy ng-ời học làm trung t©m. NXB §HQG Khác
19. Nguyễn Quang Kính (chủ biên) (2005). Giáo dục Việt Nam 1945 - 2005 Khác
20. Phan Trọng Luận (1989), Mấy vấn đề về giảng dạy văn học sử ở tr-ờng phổ thông cấp III. NXBGD Khác
21. Phan Trọng Luận (1999), Ph-ơng pháp dạy học văn. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
22. Phan Trọng Luận (2001), Văn học nhà tr-ờng – Nhận diện, tiếp cận, đổi mới. NXB ĐH S- phạm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1so sánh cấu trúc chương trình SGK Ngữ văn - Những thay đổi về phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa ngữ văn trung học phổ thông
Bảng 2.1so sánh cấu trúc chương trình SGK Ngữ văn (Trang 34)
Bảng 2.4So sánh hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc bài trong SGK Ngữ văn - Những thay đổi về phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa ngữ văn trung học phổ thông
Bảng 2.4 So sánh hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc bài trong SGK Ngữ văn (Trang 53)
Bảng 2.5so sánh nội dung trả lời của các câu hỏi trong SGK Ngữ văn - Những thay đổi về phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa ngữ văn trung học phổ thông
Bảng 2.5so sánh nội dung trả lời của các câu hỏi trong SGK Ngữ văn (Trang 56)
Bảng 2.8. Nội dung và phương pháp dạy học trong SGV Ngữ văn cải cách  Hoạt động thầy và trò  Kiến thức cần đạt - Những thay đổi về phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa ngữ văn trung học phổ thông
Bảng 2.8. Nội dung và phương pháp dạy học trong SGV Ngữ văn cải cách Hoạt động thầy và trò Kiến thức cần đạt (Trang 62)
Bảng 2.10. Nội dung và phương pháp dạy học trong SGV Ngữ văn mới (Nâng cao)  Hoạt động thầy và trò  Kiến thức cần đạt - Những thay đổi về phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa ngữ văn trung học phổ thông
Bảng 2.10. Nội dung và phương pháp dạy học trong SGV Ngữ văn mới (Nâng cao) Hoạt động thầy và trò Kiến thức cần đạt (Trang 66)
Bảng 3.1. Sơ đồ tư duy về tác gia Nguyễn Đình Chiểu của học sinh - Những thay đổi về phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa ngữ văn trung học phổ thông
Bảng 3.1. Sơ đồ tư duy về tác gia Nguyễn Đình Chiểu của học sinh (Trang 76)
Bảng 3.2. Sơ đồ tư duy về tác gia Nguyễn Đình Chiểu của học sinh lớp 11A8 - Những thay đổi về phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa ngữ văn trung học phổ thông
Bảng 3.2. Sơ đồ tư duy về tác gia Nguyễn Đình Chiểu của học sinh lớp 11A8 (Trang 77)
Sơ đồ tư duy - Những thay đổi về phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa ngữ văn trung học phổ thông
Sơ đồ t ư duy (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w