Lịch sử nghiên cứu trong nước Xét trong lịch sử dạy học của nước ta, chú trọng đến đối tượng người học, đến chủ thể học sinh trong quá trình giáo dục và đào tạo của nhà trường, nhằm phá
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THANH THẢO
NHỮNG BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG THEO HƯỚNG COI HỌC SINH LÀ BẠN
ĐỌC Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Hà Nội – 2011
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THANH THẢO
NHỮNG BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG THEO HƯỚNG COI HỌC SINH LÀ BẠN
Trang 45
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài ……….1
2 Lịch sử nghiên cứu ……… 3
3 Mục tiêu nghiên cứu ………5
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu ……… 5
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu ………5
6 Mẫu khảo sát……….………… 6
7 Hệ thống các phương pháp được sử dụng trong đề tài ………6
8 Câu hỏi nghiên cứu ……….6
9 Giả thuyết nghiên cứu ……….6
10 Cấu trúc luận văn ……… 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG THEO HƯỚNG COI HỌC SINH LÀ BẠN ĐỌC Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ……… …8
1.1 Cơ sở lí luận ………8
1.1.1 Nhận diện về tác phẩm văn chương và tác phẩm văn chương trong nhà trường ……… 8
1.1.2 Những cơ chế dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường ……….11
1.1.3 Dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường theo hướng coi học sinh là bạn đọc……… 14
1.1.4 Những thay đổi cơ bản trong phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc ……….20
1.1.5 Những hình thức hoạt động của học sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương ………28
1.1.6 Vai trò định hướng của giáo viên ………31
1.1.7 Những khuynh hướng trái chiều trong phát triển và cảm thụ văn chương của học sinh trung học ……….34
1.2 Thực tiễn dạy học tác phẩm văn chương ở THPT ……….38
1.2.1 Phương thức dạy học tác phẩm văn chương hiện nay ………38
1.2.2 Học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương hiện nay ……….43
1.2.3 Nhận xét thực tiễn dạy học tác phẩm văn chương ở THPT……… 45
Trang 56
Chương 2: BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG THEO
HƯỚNG COI HỌC SINH LÀ BẠN ĐỌC ……… 48
2.1 Năng lực văn học của bạn đọc học sinh- tiền đề để dạy học tác phẩm văn chương ……….48
2.1.1 Những hiểu biết cơ bản về năng lực văn học ……….48
2.1.2 Năng lực tiếp nhận văn học……… 49
2.1.3 Năng lực sáng tạo văn học ……… 55
2.2 Những định hướng chính cho việc dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường ……….62
2.2.1 Căn cứ đặc trưng của tác phẩm văn chương trong nhà trường vừa là nguồn thông tin thẩm mĩ, vừa là công cụ giáo dục ……… 62
2.2.2 Căn cứ đặc điểm của người học sinh về mặt tâm lý cảm thụ văn học và vị trí trong cơ chế dạy học văn ……….63
2.2.3.Căn cứ mục đích của việc dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường ………64
2.3 Những biện pháp đề xuất trong dạy học tác phẩm văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc ……….65
2.3.1 Đọc văn ………65
2.3.2 Dạy học nêu vấn đề ……….73
2.3.3 Đối thoại đa chiều (Bạn đọc học sinh- giáo viên- nhà văn)……… 76
2.3.4 Thực hành thuyết trình, bình giảng ……….79
2.3.5 Thực hiện dự án ……… 83
Chương 3: GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM ……… 87
3.1 Định hướng thiết kế ………87
3.1.1 Mục đích ……….87
3.1.2 Nội dung và phương pháp thực hiện ……….…… 87
3.1.3 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực hiện ……….…….87
3.2 Thiết kế giáo án thể nghiệm ……….…….88
3.2.1 Bài “Hai đứa trẻ- Thạch Lam” (Tiết 37- 38 Ngữ văn 11)……… 88
3.2.2 Bài “Tam Quốc Diễn Nghĩa” (Ngữ Văn 10) ……… 98
3.3 Thuyết minh giáo án thể nghiệm ……… 102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ……… 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….107
Trang 6ưu nhằm phát huy cao độ được chủ thể học sinh, một đối tượng hàng đầu mà chúng ta phải quan tâm Học sinh vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện, là phương thức đạt đến mục tiêu trong sự thống nhất biên chứng với nhau; đây là
sự đổi khác cơ bản về nguyên lí
1.2 Dạy học tác phẩm văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc là sự vận dụng những thành tựu mới của lý thuyết tiếp nhận về mối quan hệ giữa tác phẩm và bạn đọc
Tôn trọng tồn tại khách quan của tác phẩm qua văn bản là cần thiết, là khoa học, nhưng văn bản nói chung vẫn chưa phải là tác phẩm Trong cơ chế dạy- học văn bản chưa thể trở thành đối tượng thẩm mỹ, đối tượng cảm thụ phân tích của học sinh Muốn văn bản trở thành một yếu tố thực sự trong cơ chế dạy-học văn, tác phẩm phải chuyển hóa từ một tác phẩm bên ngoài, một tác phẩm khách quan xa lạ trở thành đối tượng hứng thú, đối tượng quan tâm của bản thân học sinh Tác phẩm từ chỗ là tiếng nói nội tâm của nhà văn phải trở thành một vấn đề nội tâm của học sinh- bạn đọc Tác phẩm đến đây mới thực sự
Trang 7Bàn về mối quan hệ giữa tác phẩm văn chương với bạn đọc, nhà thơ Xô
Viết Marsac đã có lý khi nói rằng: “Bạn đọc là nhân vật không thể không có được Không có bạn đọc, không có sách của chúng ta và cả những tác phẩm của Homere, Dante, Shakespeare, Đốt, Puskin, tất cả chỉ là đống giấy chết”[14,
tr.12] Vị trí đặc biệt quan trọng của khâu cảm thụ về mặt lý luận cũng như thực tiễn hoạt động văn học nghệ thuật là điều không có gì đáng nghi ngại Bạn đọc
là một nhân tố đặc biệt quan trọng để đưa tác phẩm vào đời sống Như vậy trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông việc coi đối tượng học sinh là bạn đọc là điều hoàn toàn phù hợp
1.4 Việc dạy học tác phẩm văn chương ở THPT đến nay vẫn còn thiên lệch
về văn bản mà coi nhẹ hoạt động tiếp nhận của học sinh
Điều đó cũng phần nào chịu ảnh hưởng của khuynh hướng phê bình mới
và chủ nghĩa cấu trúc Sự cần thiết chuyển trung tâm từ văn bản và giáo viên sang trung tâm là học sinh đang được đặt ra trong lí luận dạy học hiện đại về tác phẩm văn chương ở nhà trường
Từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Những biện pháp dạy học tác phẩm văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc ở trung học phổ thông” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn xác định lại một cơ chế giảng
dạy phù hợp nhất nhằm phát huy cao độ chủ thể học sinh trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương
Trang 83
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu ngoài nước
Quá trình tìm tới con đường đổi mới phương pháp dạy học nhiều thập kỉ qua ở nhiều nước phương Tây đặc biệt đề cao lý thuyết học sinh là trung tâm, coi như một sự đối trọng lại phương pháp truyền thống Công đầu thuộc về nhà
sư phạm nổi tiếng đầu thế kỉ XX ở Mĩ, đó là J.Dewey Một phương châm nổi tiếng hồi đó được Dewey nhắc tới như một sự cách tân của thế giới sư phạm là
“Học sinh là mặt trời xung quanh nơi hội tụ mọi phương tiện giáo dục” Bằng
những hoạt động tại Trường Thực nghiệm giáo dục, J.Dewey có được những tư liệu cần thiết để viết nên những tác phẩm quan trọng về giáo dục, đầu tiên là
“Trường học và xã hội” (The School and Society, 1899) và sau đó là Trẻ em và chương trình học (1902) Đây là hai tác phẩm đã trình bày và chứng minh cho
những nguyên lý chủ yếu của triết lý giáo dục do ông khởi xướng Về sau, những ý tưởng này đã được J.Dewey triển khai sâu hơn, khái quát hơn trong
Dân chủ và giáo dục (Democracy and Education, 1916) - tác phẩm được chính
ông khẳng định là cuốn sách tổng kết đầy đủ nhất “toàn bộ quan điểm triết học” của mình Tư tưởng của Dewey muốn bổ sung nguồn kiến thức cho học sinh ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên, đề cao hoạt động đa dạng của học sinh kể cả những hoạt động gắn với đời sống; dạy học không chỉ là công việc truyền thụ một khối kiến thức mà còn là sự phát triển một số kĩ năng cho người học Lý thuyết học sinh là trung tâm là một khuynh hướng tiến bộ lành mạnh nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của người học sinh Đó là những điều hấp dẫn, hứng thú, đáng chú ý ở tư tưởng Dewey Tư tưởng học sinh là trung tâm đã một thời ảnh hưởng nhiều nước phương Tây và cả Nhật Bản Tuy nhiên còn một số điểm bất cập thể hiện tính cực đoan của chủ nghĩa nhi đồng học hơn nữa Dewey không đề cập trực tiếp đến vấn đề dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Trang 94
2.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước
Xét trong lịch sử dạy học của nước ta, chú trọng đến đối tượng người học, đến chủ thể học sinh trong quá trình giáo dục và đào tạo của nhà trường, nhằm phát huy cao độ tính tự giác, tính năng động, tính sáng tạo của bản thân người học thì đó là một phương hướng mà bản thân chúng ta nhiều năm đã có những cố gắng đáng kể với những tư tưởng như “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”, “thầy chủ đạo trò chủ động”, “dạy học cá thể hóa”, “dạy học nêu vấn đề”, “học sinh là chủ thể sáng tạo”, “học sinh là bạn đọc”… Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần nói về vấn đề phát huy óc thông minh, trí sáng tạo của học sinh Chú trọng đến học sinh không phải là điều hoàn toàn mới lạ, có mới lạ chăng là thái độ tuyệt đối hóa vai trò học sinh thành nhân vật trung tâm, điều mà chính ở đất nước của nó cũng đã lên án từ lâu Trong tình hình giáo dục nhiều năm nay của chúng ta còn quá trì trệ dưới ảnh hưởng của
“giáo dục truyền thống”, còn nặng về uy thế người thầy, còn quá thiên về lối thuyết giảng thì một sự nhắc nhở điều chỉnh, quan tâm thỏa đáng đến người học, chủ thể học sinh là một việc làm có ý nghĩa quan trọng trong việc đổi mới phương pháp đào tạo và giảng dạy ở nhà trường
Tác giả Phan Trọng Luận là người có nhiều bài viết và công trình về phương pháp dạy học tác phẩm văn chương nghiên cứu về nội dung này; đáng
kể trước tiên là cuốn Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường (1978) đã đề
xuất một số phương pháp đặc thù của giảng văn Những chuyên luận tiếp theo
như Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học; đặc biệt với chuyên đề Học sinh bạn đọc sáng tạo- Con đường đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường (1996), Thiết kế bài học tác phẩm văn chương trong nhà trường, tập I và II (1996-1998), Đổi mới bài học tác phẩm văn chương (1999)
thì những tư tưởng và luận điểm của tác giả mới hoàn thiện một cách chặt chẽ
và có hệ thống Tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề nêu trên đặc biệt qua cuốn
Trang 105
sách Văn chương bạn đọc sáng tạo (2003) đề cao vai trò học sinh- bạn đọc
trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường Ngoài ra một số tác giả đi trước đã nghiên cứu về vấn đề này như Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Trọng Hoàn… Những nghiên cứu này đã nhìn nhận học sinh như một chủ thể đích thực, toàn diện, chủ động trong cảm thụ TPVC và chú ý rèn luyện những đặc điểm cảm thụ cho các em
Việc dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường theo hướng coi học sinh là bạn đọc luôn là câu hỏi khó cho bộ môn Ngữ Văn nói chung và giáo viên Văn nói riêng, cũng như cần được ứng dụng thực tiễn một cách có hiệu quả Vì vậy, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề này này với mong muốn đóng góp đổi mới giờ dạy học TPVC trong nhà trường phổ thông
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài “Những biện pháp dạy học tác phẩm văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc ở trung học phổ thông” nhằm khẳng định vai trò của học
sinh trong giờ học tác phẩm văn chương và đề ra được những biện pháp nhằm hiện đại hóa phương pháp dạy học tác phẩm văn chương ở THPT
4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: quá trình tâm lí hoạt động của học sinh trong giờ dạy học tác phẩm văn chương với tư cách là bạn đọc
- Khách thể nghiên cứu: Dạy và học của giáo viên và học sinh THPT
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Do những điều kiện hạn chế nhất định, đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi về những biện pháp dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường THPT theo hướng coi học sinh là bạn đọc
Trang 116
6 Mẫu khảo sát
- Giáo án dạy học của 3 tác phẩm văn chương
- Phiếu thăm dò ý kiến học sinh về thực trạng dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông hiện nay
7 Hệ thống các phương pháp được sử dụng trong đề tài
Để nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng hệ thống các phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa
những vấn đề lý luận về Dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường Phổ Thông hiện nay và Dạy học theo hướng coi học sinh là bạn đọc
Phương pháp đàm thoại: tiến hành trao đổi trực tiếp với học sinh để tìm
hiểu nhận thức của học sinh về Dạy học tác phẩm văn chương và quan điểm đối với bộ môn Văn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tìm hiểu thực trạng Dạy học tác
phẩm văn chương ở nhà trường Phổ Thông hiện nay và quan điểm của học sinh đối với hướng tiếp cận Dạy học coi học sinh là bạn đọc
Phương pháp thống kê toán học: Được sử dụng để phân tích và xử lý
các kết quả nghiên cứu
8 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nhằm tìm hiểu một số phương diện của dạy và học tác phẩm văn chương ở nhà trường THPT hiện nay
9 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu những biện pháp dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường THPT theo hướng coi học sinh là bạn đọc được thực thi thì hiệu quả của giờ học tác
Trang 127
phẩm văn chương sẽ được nâng cao và con đường đổi mới giờ học tác phẩm văn chương cũng được khẳng định một cách có căn cứ lí luận và thực tiễn
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, cấu trúc luận văn gồm các phần chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và Cơ sở thực tiễn về dạy học tác phẩm văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc ở trung học phổ thông
Chương 2: Những biện pháp để hình thành năng lực bạn đọc của học sinh
Chương 3: Giáo án thể nghiệm
Trang 131.1.1 Nhận diện về tác phẩm văn chương và tác phẩm văn chương trong nhà trường
1.1.2.1 Tác phẩm văn chương
Tác phẩm văn chương xét từ những góc độ khác nhau, trong những trường hợp và mục đích không giống nhau, đã được các nhà thơ, nhà văn, nhà lý luận đưa ra những định nghĩa khác nhau Tuy nhiên từ những ý kiến đó chúng ta giảng dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường
Xét về mục đích sáng tác, tác phẩm văn chương thể hiện ý định của người cầm bút.Ý định đó bao giờ cũng được thể hiện qua nội dung và hình thức nghệ thuật Nội dung đó được cấu tạo nên bởi hai yếu tố hợp thành gắn quyện vào nhau là hiện thưc khách quan và chủ quan của tác giả, tùy tài năng sáng tạo của nhà văn và đặc điểm loại thể mà phương thức biểu hiện nội dung hình thức có điểm khác biệt Nhưng nhìn chung dù là tự sự hay trữ tình, tác phẩm văn học đều lấy ngôn ngữ làm vật liệu thể hiện Ngôn ngữ cấu tạo thành hình tượng tính cách, trong từng thể loại lại có những đặc điểm riêng
Sức mạnh của tác phẩm văn chương chính là ở mặt tình cảm Nhà văn muốn bày tỏ một vấn đề, một quan niệm, một thái độ sống đến những bạn đọc nhất định cho nên bất cử tác phẩm nào cũng là một lời tri âm, một tiếng lòng của tác giả Tác giả dẫn dắt và thuyết phục người đọc bằng cách đốt cháy trong
Trang 14tưởng tượng: “Người kể chuyện luôn phải dùng đến trí tưởng tượng để thấy những hình ảnh của sự vật và khác nào vẽ lại những hình ảnh ấy bằng tiếng nói
do đó mà truyền đạt vào trí tưởng tượng của người nghe những hình ảnh như đang sống thực, có sức mạnh cuốn hút và làm lay động cả trí tuệ và tình cảm của người nghe” [15, tr 120] Mối liên hệ với bạn đọc là sức mạnh của tác
phẩm văn chương, không những phù hợp với ý định sáng tác của nhà văn mà còn thể hiện sự nhận thức đúng đắn về con đường vận động khách quan của tác phẩm đến cuộc đời Những thập niên gần đây với sự xuất hiện của những lý thuyết như chủ nghĩa cấu trúc, thông tin, văn bản học đã có nhiều quan niệm khác nhau về văn học và tác phẩm văn chương Nhưng điều quan trọng về nguyên tắc là: không vì nhấn mạnh đến một chức năng, một yếu tố nào đó của văn học và tác phẩm văn chương mà coi nhẹ nội dung và ý nghĩa thẩm mỹ của bản thân tác phẩm
Từ những bình diện nghiên cứu trên, tác phẩm văn chương có thể được tóm tắt sơ lược như sau:
- Mỗi tác phẩm văn chương bao giờ cũng là lời nhắn gửi trực tiếp hay gián tiếp, kín đáo hay công khai của nhà văn về cuộc đời và với cuộc sống
- Bằng nghệ thuật sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật theo phong cách riêng của mình, nhà văn tạo nên một hình thức độc đáo của tác phẩm chứa đựng một nội dung nhất định bao gồm: hai yếu tố khách quan phản ánh và chủ quan biểu hiện chuyển hóa thâm nhập vào nhau nhằm gây được một tác động đặc biệt đến
Trang 1510
tâm hồn và tình cảm của bạn đọc, đối tượng tạo nên mối liên hệ sinh mệnh của tác phẩm đối với đời sống
1.1.2.2 Tác phẩm văn chương trong nhà trường
Vòng đời của tác phẩm văn chương là một vòng tròn khép kín đan kết nhiều quá trình và nhiều quan hệ: cuộc sống- nhà văn- tác phẩm- bạn đọc- cuộc sống Trong quá trình vận động và biến đổi đi từ cuộc sống và trở về với cuộc sống, tác phẩm văn chương có những quan hệ máu thịt và tác động ngược lại các yếu tố trên, như Bêlinxki viết: “Nghệ thuật không chỉ nhận thức cuộc sống,
mà nó còn là câu hỏi và câu trả lời về cuộc sống” Những quan hệ đó không phải là những công thức cứng nhắc, nhân tố trên thay đổi thì tự bản thân tác phẩm cũng thay đổi Mối quan hệ giữa tác phẩm và bạn đọc là mối quan hệ qua lại một cách hữu cơ; tác phẩm đến với bạn đọc vốn không đồng nhất về diều kiện cảm thụ, nên tác động của tác phẩm đối với mỗi bạn đọc và ở mỗi thời kì cũng không giống nhau Người đọc có những điều kiện chủ quan, có sự lựa chọn nhất định đối với tác phẩm Trong điều kiện tác phẩm đối với bạn đọc học sinh, ở khuôn khổ nhà trường, không hoàn toàn giữ nguyên vẹn những quan hệ vốn có với bạn đọc nói chung
Đối với sách giáo khoa trong nhà trường, tác phẩm trước hết chịu sự lựa chọn của bản thân người soạn sách, tuân theo những yêu cầu của cơ quan giáo dục Những tác phẩm hay không nhất thiết đã có thể chọn dạy trong nhà trường, cũng như một tác phẩm hay nhiều khi vẫn không thể và không có diều kiện giữ nguyên vẹn khi đi vào trong sách giáo khoa
Sức mạnh của tác phẩm văn học đối với học sinh luôn được nhân lên bởi năng lực của người giáo viên Tác phẩm đến với học sinh thông qua vai trò trung gian của giáo viên, nhưng đồng thời đây cũng là cơ sở để học sinh tự nhận thức dựa trên vốn kinh nghiệm và đặc điểm tâm sinh lý của bản thân các em Cho nên một định nghĩa chung về tác phẩm văn chương thường được xác định
Trang 1611
trên cơ sở lý luận chung của khoa văn học, cần được đặt trong mối liên hệ cụ thể với thực tiễn nhà trường, với bản thân người đọc- học sinh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên văn
Tác phẩm văn chương trong nhà trường không chỉ là một phương tiện nhận thức mà còn là đối tượng thẩm mĩ, đồng thời còn là một cơ sở để hình thành những hiểu biết về lịch sử văn học và là công cụ giáo dục đặc biệt giúp học sinh tự phát triển một cách toàn diện và cân đối Cách hiểu như trên về tác phẩm văn học trong nhà trường sẽ không làm mờ nhạt bản chất chức năng đặc thù của hình tượng văn học, vừa không loại trừ tính nhà trường, tính sư phạm của tác phẩm với tư cách là một công cụ giáo dục đặc biệt
1.1.2 Những cơ chế dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Cơ chế dạy học tác phẩm trong nhà trường chịu ảnh hưởng của các phương pháp nghiên cứu Nhiều thập kỉ qua những khuynh hướng tiếp cận tác phẩm văn chương luôn biến đổi dưới ảnh hưởng của các phương pháp lịch sử xã hội, văn bản học, phê bình mới hoặc thuyết giao dịch đáp ứng… đặc biệt là phương pháp nghiên cứu phê bình văn học Trong nghiên cứu và giảng dạy văn học có khi đã quá thiên về mặt lịch sử phát sinh, có khi lại chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận hoặc văn bản học quá chú trọng tới bản thân tác phẩm Ở Việt Nam cũng vậy, tùy theo sự am hiểu, tinh thông phương pháp luận nghiên cứu văn học và cũng tùy theo bản lĩnh khoa học mà mỗi người có con đường tiếp cận tìm hiểu tác phẩm văn chương theo những chiều hướng khác nhau: chú trọng hoàn cảnh phát sinh hay tuyệt đối hóa yếu tố tác phẩm; khám phá cấu trúc văn bản một cách khoa học hay biệt lập văn bản khỏi hoàn cảnh phát sinh; hướng vào bạn đọc không khép kín văn bản hay cường điệu hóa sở thích cảm thụ chủ quan của người đọc đi đến thoát li văn bản… Chính vì vậy, một sự cường điệu hóa máy móc trong phương pháp tiếp cận văn chương nhất định sẽ đưa đến hậu quả thiếu khách quan và phản khoa học
Trang 17và liên hệ là những thành tố tạo nên cấu trúc Cấu trúc xét trong sự vận động của nó là cơ chế Tiếp đó, hệ thống cấu trúc trong dạy học TPVC được thể hiện thông qua mối quan hệ nhiều chiều giữa những thực thể học sinh- giáo viên- nhà văn thông qua văn bản Cơ chế dạy học văn với quan điểm hệ thống cấu trúc được hiểu theo nhiều cấp độ khác nhau Yếu tố ngoài hệ thống và cấu trúc bên trong của bản thân cơ chế, cấu trúc nội tại của những yếu tố trong cơ chế Những yếu tố ngoài hệ thống bao gồm môi trường xã hội, đời sống chính trị, tư tưởng văn hóa thẩm mĩ, môi trường học đường… Những yếu tố cấu trúc của của cơ chế dạy học văn bao gồm những chủ thể học sinh, chủ thể giáo viên, chủ thể nhà văn thông qua văn bản; những liên hệ hữu cơ biện chứng giữa giáo viên- học sinh- nhà văn trên văn bản Ngoài những yếu tố ngoài hệ thống, bản thân mỗi yếu tố trong cơ chế cũng là một hệ thống nhỏ cần được nghiên cứu công phu như tác phẩm, chủ thể học sinh… Quan điểm hệ thống cấu trúc cho phép nhìn được toàn diện hơn mọi yếu tố của quá trình dạy và học văn trong nhà trường ở những cấp độ khác nhau, tuy nhiên vẫn không giải quyết được những vấn đề cơ bản trong cải tiến phương pháp dạy học văn Sai lầm cơ bản của quan điểm dạy học văn truyền thống là nhận thức phiến diện mất cân đối về các yếu tố đó trong cơ chế dạy học văn Ta thấy rõ trong những trường hợp sau đây:
- Cơ chế I: Giáo viên có tiếp xúc với văn bản Mối liên hệ giữa nhà văn
và giáo viên được xác lập Nhưng trong cơ chế này đã mất hẳn đi mối liên hệ cơ
Trang 18- Cơ chế II: Giáo viên có chú ý đến mối liên hệ giữa thầy và trò, nhưng một vấn đề nghiêm trọng đã xảy ra là mối liên hệ giữa học sinh- bạn đọc với nhà văn lại không xảy ra Như vậy phương pháp dạy học văn tương tác hai chiều giữa giáo viên và học sinh vẫn chưa nhận thức được vai trò quan trọng của học sinh trong việc tiếp nhận tác phẩm văn chương thông qua tương tác trực tiếp với nhà văn
- Cơ chế III: đã xác lập được một cách cân đối, toàn diện những mối liên
hệ giữa ba chủ thể Nhà văn- Giáo viên- Học sinh Đó là cơ chế tối ưu của quá trình dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Như trên đã nói, xác định một cách đúng đắn hệ thống cấu trúc dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, là kết quả của một nhận thức đúng đắn
hệ thống cấu trúc dạy học tác phẩm trong nhà trường, cũng như nhận thức đúng đắn vị trí, chức năng của ba chủ thể nói trên, nhất là chủ thể học sinh mà trong dạy học văn truyền thống không thấy được Tuy nhiên một vấn đề cơ bản cần đặt ra là quan điểm nhận thức như thế nào về sự vận động của cơ chế trên Cơ chế đó sẽ hoạt động một cách hình thức và giả tạo nếu nó vận động nhờ những biện pháp tác động từ bên ngoài Ngược lại nếu là kết quả của một hoạt động tâm lý của chính bản thân chủ thể thì cơ chế dạy học văn mới thực sự là một cơ chế lý tưởng mà chúng ta cần xây dựng để thay thế cho lối giảng văn dựa vào những thao tác từ bên ngoài Từ quan điểm và nguyên lý cơ bản đó, chúng ta
Trang 2015
quyết định số phận của tác phẩm lại là độc giả” ta có thể thấy bạn đọc là thành phần không thể thiếu và có vai trò rất quan trọng trong đời sống văn học nói chung và sự tồn tại của một sinh thể nghệ thuật nói riêng Nếu xem quá trình sáng tác là một hoạt động sản xuất (sản xuất tinh thần) và tác phẩm văn chương
là một loại sản phẩm (sản phẩm tinh thần) thì vai trò của người đọc có thể thấy
rõ trong phát biểu nổi tiếng của Mac: “Chỉ có sử dụng mới hoàn tất hành động sản xuất, mang lại cho sản phẩm một sự trọn vẹn với tư cách là sản phẩm” Đó
là những căn cứ quan trọng khẳng định tư cách của bạn đọc- người góp phần quyết định sức sống của tác phẩm văn chương sau khi “chào đời”
Như vậy, Bạn đọc là một trong những những yếu tố quan trọng cấu thành nên TPVC thực sự, là người lĩnh hội và tạo nên sức sống lâu bền cho tác phẩm, không có Bạn đọc đồng nghĩa với TPVC chỉ tồn tại về mặt văn bản mà không được trả về với cội nguồn của nó là hiện thực đời sống Vai trò, ý nghĩa quan trọng của Bạn đọc đối với sự ra đời, tồn tại và phát triển của TPVC là điều không thể chối bỏ
1.1.3.1.2 Tính sáng tạo của bạn đọc trong tiếp nhận văn chương
Sáng tạo nói chung được hiểu là một hoạt động tinh thần riêng có của con người mà sản phẩm của nó thường là những phát minh hoặc phát hiện mới, độc
đáo của thư duy, tưởng tượng Theo GS Thái Duy Tuyên, “sáng tạo là một hoạt động trí tuệ cấp cao mà kết quả là tìm ra cái mới Hoạt động sáng tạo dựa trên hai yếu tố cơ bản là tư duy và tưởng tượng” [5, tr 68] Biểu hiện chung
nhất của sáng tạo là tìm ra một tri thức mới, một phương pháp mới cho một vấn
đề đã cũ hoặc cũng có thể là vận dụng những tri thức đã có Cơ sở của sáng tạo
là sự hoạt động của hai yếu tố cơ bản: tư duy và tưởng tượng
Sáng tạo trong tiếp nhận văn học của người đọc cũng thể hiện ở cái mới, cái độc đáo Đó có thể là những phát hiện mới về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm mà trước đó chưa ai nghĩ ra, song cũng có thể là những kiến giải
Trang 21tượng như các hoạt động sáng tạo nói chung, đồng thời gắn liền với những biểu hiện của “trí tuệ- cảm xúc” con người trong quá trình hưởng thụ thẩm mĩ Tính sáng tạo của bạn đọc trong tiếp nhận văn chương có những biểu hiện, cấp độ cơ bản sau:
- Thứ nhất: sự tái hiện mang tính sáng tạo Do đặc trưng của chất liệu ngôn từ nên hình tượng văn học có tính phi vật thể, không thể cảm nhận một cách trực tiếp; nó phải thông qua tưởng tượng của người đọc được gắn với thuộc tính tất yếu là sự sáng tạo Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, khung
cảnh mùa xuân hiện lên thông qua tưởng tượng của đọc giả thật mĩ lệ “Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”, không có trải
nghiệm cuộc sống và sự sáng tạo qua lăng kính của người đọc thì mùa xuân trong thơ Nguyễn Du đâu thể khoác lên mình màu xanh đẹp truyệt trần và sự nên thơ, giàu sức sống đến vậy Nhờ có tái hiện mang tính sáng tạo, hình tượng văn học sống động, chân thực và lôi cuốn hơn
- Thứ hai, trong quá trình tiếp nhận bạn đọc đã “điền thêm” vào những
“khoảng trống”, những “điểm trắng”, mà nhà văn đã cố tình hoặc vô tình tạo ra Điều này dễ dàng nhận thấy trong các tác phẩm có kết thúc mở, như hình ảnh chị Dậu chạy ra trong bóng tối mịt mùng của Tắt đèn, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng trong truyện ngắn của Kim Lân, hình ảnh lò gạch trong Chí Phèo … đều
để lại trong lòng người đọc những cảm xúc và mường tượng về cái kết của câu truyện, và hầu như mỗi người đều tự bản thân xây dựng nên một cái kết cho nhân vật của mình
Trang 2217
- Thứ ba, người đọc bổ sung các phạm vi ý nghĩa mới, giá trị mới cho tác phẩm Vai trò sáng tạo của bạn đọc thể hiện rõ nét nhất là ở sự mở rộng các giới hạn, phạm vi nghĩa cho tác phẩm Đọc tác phẩm là đưa nó vào văn cảnh mới, quan hệ mới, xúc cảm mới riêng tư của bạn đọc để từ đó phát hiện các lớp nghĩa
mà trước đó tác giả và bạn đọc khác chưa nghĩ đến Điều này được thể hiện trong nhiều phương diện khác nhau, ví dụ trong bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ, bản thân nhà thơ khi sáng tác cũng không gắn ngay cho con hổ là tượng trưng cho người dân mất nước, vườn bách thú là “nhà tù chế độ”, tuy nhiên sau khi bài thơ đi vào hiện thực cuộc sống, chính người đọc đã tạo nên lớp ý nghĩa thứ hai này, đưa bài thơ lên một tầm cao mới, triết lý và sâu sắc hơn
Tính sáng tạo trong tiếp nhận của bạn đọc có thể được thấy thông qua các biểu hiện thông thường như: Kiến giải lại các vấn đề đã từng tiếp nhận với những suy nghĩ và quan niệm mới; Sự đáp ứng trở lại tác giả bằng chính văn chương (tiểu luận, phê bình, chuyển thể kịch bản…); Đề xuất cách thức mới
chiếm lĩnh tác phẩm… Như vậy , bạn đọc sáng tạo là khái niệm chỉ người đọc văn học tích cực và sáng tạo, là người không chỉ chuyển hóa văn bản nghệ thuật thành tác phẩm văn chương mà còn giúp nhà văn bổ sung cho tác phẩm những ý nghĩa và giá trị mới.[5, tr.70]
1.1.3.1.3 Học sinh là bạn đọc trong dạy học tác phẩm văn chương
Dạy học TPVC trong nhà trường là quá trình GV tổ chức để HS hoạt động tiếp nhận tác phẩm Đọc văn, học văn trong nhà trường xét cho cùng là việc HS cảm thụ văn học và học cách tiếp nhận tác phẩm dưới sự hướng dẫn của GV Nếu không có lao động cảm thụ thực sự ở HS thì việc dạy học văn đích thực vẫn chưa xảy ra; đồng thời có nghĩa chừng nào HS còn đứng ngoài vòng đời của một tác phẩm, còn chưa phải là bạn đọc thì chừng đó giờ dạy học văn vẫn chỉ có GV là độc giả của nhà văn Bởi vậy, coi HS là bạn đọc tức là đã xác nhận đúng vị trí, vai trò của người học văn trong nhà trường
Trang 2318
HS là kiểu bạn đọc đặc biệt so với bạn đọc ngoài xã hội vì họ có chung những đặc điểm tâm sinh lý, môi trường học đường và trình độ văn hóa tương đồng Đối với HS học văn không chỉ là việc cảm thụ tùy hứng mà còn là yêu cầu của giáo dục nhà trường, giữa HS với nhà văn và tác phẩm còn có “cầu nối” đặc biệt là thầy cô giáo Mặc dù có những điểm đặc thù như vậy nhưng nhìn chung bạn đọc học sinh vẫn phải tuân theo những quy luật riêng của cảm thụ thẩm mĩ Môi trường học đường chỉ ảnh hưởng một phần nào đó chứ không thể thay đổi các quy luật nội tại của tiếp nhận văn học Vì vậy, việc học sinh trở
thành bạn đọc là hoàn toàn có cơ sở thực thi Học sinh là bạn đọc chỉ người học sinh tích cực, sáng tạo trong hoạt động tiếp nhận văn học dưới sự hướng dẫn của giáo viên; là chủ thể cảm thụ tác phẩm, là người đối thoại với nhà văn qua tác phẩm, đồng hành với giáo viên và các bạn lĩnh hội tri thức
HS là một nhân tố căn bản trong hoạt động dạy học nên một quan niệm mới về người HS tất yếu sẽ dẫn đến những thay đổi trong cơ chế, quá trình, PPDH tác phẩm… Nói cách khác, một quan niệm mới về người HS sẽ đưa đến
một sự thay đổi về hệ hình dạy học, làm chuyển động tư duy dạy học văn truyền thống sang quỹ đạo mới Theo ý nghĩa đó, Học sinh là bạn đọc là quan niệm hiện đại về vị thế của người học trong giờ dạy học văn, thể hiện ý nghĩa mới về
hệ hình phương pháp, phù hợp với bản chất của dạy học tác phẩm văn chương
ở nhà trường phổ thông trên tinh thần phát huy tính tích cực chủ động của người học
Với cách định danh như trên, gọi tên Học sinh là Bạn đọc trong giờ dạy học TPVC là một quan niệm mới về vị thế của người HS, dẫn đến những điều chỉnh của cả hệ hình dạy học, đồng thời đặt ra yêu cầu mới về dạy học TPVC hiện nay
1.1.3.2 Lí do dạy học tác phẩm văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc
Trang 241.1.3.2.2 Thực tiễn dạy học tác phẩm văn chương ở THPT hiện nay thiên lệch
về văn bản mà coi nhẹ hoạt động tiếp nhận của học sinh
Trong dạy học TPVC hiện nay tuy có những thay đổi, cải cách về sách giáo khoa cũng như cơ chế dạy và học nhưng việc giảng văn theo phương pháp truyền thống vẫn chiếm ưu thế GV thường giảng dạy thiên về khai thác văn bản, thực hiện giảng văn hơn là dạy và học văn HS vẫn giữ vai trò bị động trong bài giảng, tuy có đổi mới về cách thức giảng dạy song về bản chất khó thay đổi Các hình thức tổ chức dạy học văn có cải tiến, song việc HS giữ thế chủ động, trực tiếp lĩnh hội và cảm nhận TPVC còn nhiều hạn chế Điển hình là thực trạng GV dạy học TPVC bằng việc phân tích, tìm hiểu tác phẩm theo quan điểm cá nhân và SGK, HS chỉ biết ghi chép, thậm chí học thuộc lòng nội dung bài giảng của GV; như vậy tuy các em có nhận thức đúng về tác phẩm song khả năng cảm thụ tác phẩm hoàn toàn biến mất, hậu quả là gây sự chán nản, không
Trang 2520
hứng thú với môn học Do đó, việc xác lập vị thế mới cho người học, việc HS chủ động tiếp nhận tri thức là mục đích của quá trình dạy học văn hiệu quả
Lí luận và phương pháp dạy học hiện đại đạt được những thành tựu mới
về phương pháp dạy học, khuyến khích khả năng tự học của HS, GV trở thành người hướng dẫn và hỗ trợ HS trên con đường lĩnh hội tri thức Dưới ảnh hưởng của nền giáo dục hiện đại, dạy học TPVC nói riêng và dạy học Ngữ Văn nói chung cần có sự đổi mới, tiếp cận và hòa nhập với xu thế chung của nhân loại Dạy học TPVC theo hướng coi học sinh là bạn đọc là việc coi trọng vai trò chủ động khám phá tri thức từ phía HS, giúp dạy học TPVC trở nên hiệu quả và phù hợp nhu cầu, xu thế của người học
Với những lí do trên, thực hiện dạy học TPVC theo hướng coi HS là Bạn đọc là hướng dạy học ưu thế giúp phát huy khả năng của người học và người dạy đồng thời tiếp cận phương pháp dạy học hiện đại tại các nước có nền giáo dục tiên tiến
1.1.4 Những thay đổi cơ bản trong phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc
1.1.4.1 Dạy học tác phẩm văn chương ở THPT theo hướng coi học sinh là bạn đọc đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản về hệ hình
Hệ hình (paradigm) dạy học là tổng thể các quan niệm, cơ chế, nguyên
tắc, phương pháp… Dạy học TPVC theo hướng coi HS là bạn đọc là sự chuyển đổi về hệ hình dạy học văn từ hệ hình giảng văn lấy thầy lam trung tâm sang hệ hình đọc văn coi trò như một trung tâm trong cơ chế dạy học, từ chỗ coi việc truyền thụ tri thức văn của thầy là chủ đạo sang việc đặt hoạt động tiếp nhận văn học của HS vào trục chính của giờ dạy học TPVC,
Sự thay đổi cơ bản về hệ hình nhận thấy rõ nét thông qua cơ chế dạy học văn mới như sau
Trang 2621
N
G H
N (nhà văn): chủ thể sáng tạo tác phẩm
G (giáo viên): chủ thể của hoạt động dạy văn
H (học sinh): chủ thể tiếp nhận văn học, bạn đọc của nhà văn
Mũi tên hai chiều: thể hiện sự tương tác qua lại
Vòng tròn: sự vận hành của cơ chế, là kết quả của tương tác sư phạm đồng thời
cũng có thể là trạng thái “cộng hưởng cảm xúc” cần được thiết lập trong giờ học tác phẩm
Vận dụng vào giờ học TPVC ta thấy cơ chế dạy học được xác lập bởi ba yếu tố cơ bản: nhà văn- giáo viên- học sinh Thiếu đi một trong ba yếu tố, cơ chế dạy học văn bị phá vỡ, cấu trúc giờ văn không được xác lập Ngay cả khi hội đủ ba yếu tố những các yếu tố không được đặt đúng vị trí của chúng trong quan hệ tương tác với những yếu tố còn lại thì cơ chế dạy học văn cũng không được vận hành
Tác phẩm văn của nhà văn chừng nào còn chưa thể hiện ra trong sự tiếp nhận của GV và HS thì chừng đó tiếng nói chủ thể của nhà văn vẫn chưa cất lên
Trang 2722
trong môi trường học đường và nhà văn cũng chưa hiện diện trong cơ chế dạy học Điều này có nghĩa là vai trò Bạn đọc của HS chỉ tồn tại khi các em diễn ra quá trình tiếp nhận văn học đích thực Mối quan hệ tương tác qua lại giữa nhà văn và HS sẽ chỉ thực sự sinh thành khi cái chủ quan của HS bắt gặp cái chủ quan của nhà văn qua hình tượng tác phẩm Sự nhầm lẫn cơ bản trong dạy học văn ở nhà trường phổ thông lâu nay không chỉ dừng lại ở chỗ coi nhẹ yếu tố HS
mà cả khi đã chú ý đến vai trò của HS thì việc dạy học mới chỉ là những tác động sự phạm bên ngoài của GV chứ chưa phải là những hoạt động bên trong của HS; nói cách khác HS mới chỉ gặp “người phát ngôn” của nhà văn là GV chứ chưa trực tiếp đối thoại với nhà văn qua tác phẩm
Tất nhiên ta không phủ nhận tồn tại khách quan của tác phẩm ở văn bản, nhưng văn bản chưa phải là tác phẩm Văn bản mới chỉ là vỏ vật chất của tác phẩm, sự chuyển hóa từ văn bản đến tác phẩm là sự chuyển hóa từ hệ thống ký hiệu vật chất sang thế giới tinh thần diễn ra trong nội tâm người đọc Đó là quá trình giải mã kí tự ngôn ngữ, từ đó đối thoại các vấn đề thế sự và nhân sinh với nhà văn Mặt khác, ngay từ đầu văn bản chưa là đối tượng thẩm mĩ, đối tượng cảm thụ của nhà văn; chỉ khi nào văn bản ấy trở thành mối quan tâm của bản thân HS và tác phẩm từ chỗ là tiếng nói nội tâm của nhà văn trở thành vấn đề nội tâm của HS thì khi đó tác phẩm mới đi vào cơ chế dạy học, quan hệ tương tác giữa nhà văn và HS mới được thiết lập và giờ học văn mới chính thức được
vận hành Như vậy, cơ chế dạy học văn mới xác nhận vai trò của Bạn đọc- học sinh trong tương quan với đối tượng tiếp nhận là tác phẩm văn chương Sự vận hành của cơ chế mới đòi hỏi sự chuyển hóa của chính bản thân HS từ thụ động sang chủ động chiếm lĩnh tác phẩm trong vai trò mới là Bạn đọc trên cơ sở gắn liền với sự chuyển đổi từ văn bản thành tác phẩm văn chương
Giáo viên là tác nhân quan trọng trong cơ chế dạy học, định hướng quá trình tiếp nhận của học sinh Trong giờ học văn, vai trò chủ thể hoạt động dạy
Trang 2823
văn của giáo viên sẽ được hiện thực hóa khi hoạt động học văn của HS được tiến hành GV định hướng hoạt động học của HS trên cơ sở HS là chủ thể của hoạt động tiếp nhận văn chương, tức là bạn đọc của nhà văn Quan hệ của GV
và HS dựa trên sự cảm thông, tin cậy, tôn trọng và hợp tác; mặt khác thầy cũng
là bạn đọc có kinh nghiệm, là chủ thể của hoạt đọng giáo dục trong nhà trường
do vậy thầy đóng vai trò tác nhân, là người tổ chức cho HS tiếp nhận TPVC
Như vậy, cơ chế dạy học văn hiện đại đặc biệt coi trọng tính năng động trong đáp ứng văn học của Bạn đọc- học sinh Đó là kết quả của những hoạt động bên trong và bên ngoài của HS dưới tác động sự phạm của GV
1.1.4.2 Dạy học tác phẩm văn chương theo hướng Học sinh là Bạn đọc đòi hỏi
tổ chức học sinh hoạt động cảm thụ văn học theo đặc trưng của quy luật tiếp nhận
Quá trình tiếp nhận văn học của Bạn đọc- Học sinh diễn ra rất phức tạp song đó là hạt nhân của quá trình dạy học văn Trong quá trình tiếp nhận, nội dung và kết quả lĩnh hội tri thức phải được tái tạo bởi chính học sinh thông qua những hiện tượng văn học cụ thể, do đó hiệu quả giáo dục phụ thuộc chủ yếu vào mức độ hoạt động tự giác của học sinh khi tiếp nhận tác phẩm Tiếp nhận là một hoạt động tái tạo và cải biến hình tượng nghệ thuật mang đặc điểm nhân cách Tác phẩm văn chương- đối tượng tiếp nhận của học sinh vốn đã không đơn giản nhưng quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học của học sinh trong nhà trường lại càng phức tạp hơn Đó là hoạt động kết hợp hài hòa giữa cảm thụ cụ thể cảm tính với lĩnh hội tri thức khoa học và hoạt động thể nghiệm nếm trải thẩm mĩ của bản thân chủ thể người học
Quá trình tiếp nhận trong dạy học văn nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa quá trình tiếp nhận của học sinh đối với quá trình giáo dục của giáo viên Hoạt động nhận thức của HS trong giờ học TPVC thực chất là hoạt động tiếp nhận tác phẩm dưới sự hướng dẫn của GV, đó là quá trình biến tác phẩm của nhà văn
Trang 2924
thành tác phẩm của người đọc Nhà lí luận văn học E.V.Vônkôva từng nói: “Tác phẩm nghệ thuật là một sự chuyển hóa đặc thù của khách thể vào chủ thể và của chủ thể vào khách thể, được hình thành trong quá trình hành chức nghệ thuật và tồn tại xã hội của nó” Nếu hoạt động sáng tạo của nhà văn được xem là một
“hoạt động tinh thần- thực tiễn” (Mac) thì cũng có thể nói tiếp nhận văn học ở bạn đọc thuộc dạng hoạt động thực tiễn- tinh thần, tức là chuyển hóa một tồn tại khách quan vào ý thức chủ quan của con người Vì vậy dạy học TPVC là phương pháp tổ chức hoạt động cảm thụ bên trong của Bạn đọc- Học sinh theo con đường cảm xúc hóa phù hợp với quy luật tiếp nhận văn học Quan niệm này cần có sự chuẩn bị về đặc điểm tâm lí, nhận thức của người đọc nói chung và học sinh nói riêng trong cảm thụ văn học Nghiên cứu quá trình tiếp nhận nghệ thuật của Bạn đọc- Học sinh có những đặc điểm cơ bản sau:
- Trạng thái tâm lí đầu tiên trong cảm thụ văn học được lí thuyết tiếp
nhận gọi là tâm thế Tâm thế được dùng để chỉ trạng thái tâm hồn, tình cảm, trí
tuệ, nhận thức đang tồn tại ở người đọc khi bắt đầu tiếp xúc với tác phẩm văn học Tâm thế của người đọc khi bước chân vào thế giới văn học rất phong phú, điều đáng lưu tâm là những trạng thái tình cảm ấy tùy từng mức độ khác nhau
mà ảnh hưởng nhất định đến việc tiếp nhận văn học và hiệu quả cảm thụ nghệ thuật Tuy nhiên, với những bạn đọc phát triển thì dù đang ở trong trạng thái tình cảm nào cũng đều ý thức được rằng tiếp xúc với tác phẩm là tiếp xúc với một thế giới khác- nơi có được cơ hội trải nghiệm mới, từ đó sẽ nhanh chóng thoát ra những trạng thái tâm lí đời thường để bước vào thâm nhập thế giới tác phẩm Học sinh như những bạn đọc nói chung đều có trạng thái tâm lí vô cùng
đa dạng, tạo nên các tâm thế khác nhau, điều này đặt ra cho giáo viên yêu cầu định hướng HS tiếp xúc với tác phẩm Mỗi GV phải đóng vai trò cầu nối để các
em chuyển từ không gian cá nhân sang thế giới văn học với trạng thái tối ưu cho hoạt động đọc Tuy nhiên, GV cần giúp HS có được tâm thế tiếp nhận của một
Trang 3025
người đọc trưởng thành với khả năng điều khiển cảm xúc và ý thức được ý nghĩa của hoạt động nhận thức mình đang thực hiện
- Phản ứng tâm lý kế tiếp của quá trình cảm thụ văn học là sự chú ý Quá
trình cảm thụ chỉ bắt đầu khi có sự nhập thân của bạn đọc, thời gian đó được
gọi là khoảnh khắc “tiền nhập cảm” khi người đọc tạm thoát ly những liên hệ trực tiếp với cuộc sống xung quanh hoặc loại bỏ những suy nghĩ cản trở cho việc cảm thụ nghệ thuật Tất nhiên, sự chú ý này có nét đặc thù riêng không giống sự chú ý trong môi trường phi thẩm mĩ, sự chú ý trong tiếp nhận nghệ
thuật bao giờ cũng gắn liền với những khoái cảm thẩm mĩ ban đầu, với sự
chuyển hóa trong tình cảm người tiếp nhận trước hình thức nghệ thuật đẹp và độc đáo của tác phẩm
- Tâm thế và chú ý có liên quan mật thiết đến các biểu hiện tâm lý, nhận
thức như nhu cầu, động cơ, hứng thú của người đọc Động cơ tạo ra hứng thú Hứng thú nảy sinh trên cơ sở nhu cầu Hứng thú lại là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh ra nếp suy nghĩ độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Trong nhận thức nói chung và nhận thức văn học nói riêng, hứng thú không chỉ là tiền đề
mà còn là biểu hiện của hoạt động nhận thức Như vậy, tâm thế và chú ý trở thành những hoạt động tâm lý tích cực chuẩn bị cho những hoạt động cảm thụ văn học diễn ra ngay sau khi HS đến với tác phẩm bằng động cơ chính đáng, nhu cầu tinh thần thực sự và hứng thú với hoạt động đọc và học văn
- Để cảm thụ được tác phẩm văn chương, người đọc không thể không trải
qua khâu tri giác ngôn ngữ nghệ thuật Đây là hoạt động tâm lý- nhận thức diễn
ra ở người đọc khi trực tiếp tiếp xúc với văn bản tác phẩm Tri giác ngôn ngữ đem đến một cái nhìn toàn vẹn về hình thức nghệ thuật của tác phẩm khi nó tác động vào giác quan của người đọc, do hình thức đầu tiên của tác phẩm là ngôn
từ nghệ thuật nên tri giác ngôn ngữ giúp người đọc nhận biết TPVC bao gồm cả
Trang 3126
âm điệu, nhịp điệu, hình ảnh, chi tiết, nhân vật… nhờ vậy sự tồn tại mang tích chất vật thể của tác phẩm dần nhường chỗ cho những hình ảnh sống động và âm hưởng, nhịp điệu dù đôi khi người đọc chưa thể cắt nghĩa được rõ ràng Trong những vần Thơ Mới đặc sắc, ngôn từ kì diệu của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… chỉ thật sự sống qua tri giác ngôn ngữ nghệ thuật với những
“trăng, gió, mây, lá trúc, nhánh khô gầy, vườn xuân…” hiện lên sống động, tinh
tế và mới mẻ
- Đi liền với tri giác ngôn ngữ nghệ thuật, tưởng tượng hỗ trợ cho tri giác
đồng thời mở rộng giới hạn và mức độ cảm thụ nghệ thuật Tưởng tượng được các nhà tâm lí xác định ở hai dạng: tưởng tượng tái hiện (tái tạo) và tưởng tượng
sáng tạo Nếu tưởng tượng tái hiện là quá trình tâm lí tạo ra những hình ảnh mới
đối với cá nhân người tưởng tượng dựa trên sự mô tả của người khác hoặc sách
vở, tài liệu thì tưởng tượng sáng tạo là quá trình xây dựng những hình ảnh mới
chưa có trong kinh nghiệm cá nhân cũng như trong hiện thực Cả hai loại tưởng tượng này đều xuất hiện trong bạn đọc khi cảm thụ văn học Tưởng tượng tái hiện giúp người đọc dựng lại cuộc sống đã được nhà văn miêu tả trong tác phẩm đồng thời làm nền cho tưởng tượng sáng tạo, góp phần kích hoạt những năng lực tinh thần ở người đọc để họ cùng sáng tạo với nhà văn Ta có thể nhận thấy
rõ nét từ hình ảnh căn buồng của Mị trong Vợ chồng A phủ, người đọc tái hiện được không gian tù túng, ngột ngạt và khổ đau của Mị; đồng thời hiện lên bức tranh chân dung bao kiếp người bé nhỏ trong xã hội cũ- những người phụ nữ bất hạnh và cả những người dân lao khổ dưới ách thống lí Chỉ bằng hình ảnh, cuộc đời Mị và A Phủ, thế giới đau thương sau những hủ tục nghiệt ngã và đàn áp của bản làng miền núi hiện lên chân thực và rõ nét
- Để thế giới nghệ thuật đi sâu vào đời sống tâm hòn tình cảm, lay động cảm xúc và tư duy của người tiếp nhận, con người phải cần đến và dùng đến sức liên tưởng để “từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả” (Paul Eluya)
Trang 3227
Kinh nghiệm cảm thụ văn học cho thấy khi đọc một câu thơ, bài văn; bắt gặp một hình tượng tính cách trong sách, kí ức ta sống dậy những chuyện trực tiếp hay gián tiếp có liên quan Hình tượng văn học từ chỗ bên ngoài ta đã đi vào đời sống tâm hồn tình cảm của ta, thức tỉnh trong ta những tình cảm thẩm mĩ đối với cuộc sống và con người Có thể nói, sự cảm thụ tác phẩm nông hay sâu, phong phú hay hạn hẹp, phần lớn là do sức liên tưởng và trường liên tưởng thẩm mĩ không giống nhau ở mỗi bạn đọc Sức liên tưởng càng mạnh, trường liên tưởng thẩm mĩ càng phong phú thì khả năng cảm thụ nghệ thuật càng sâu Như vậy, liên tưởng là đầu mối của những rung động thẩm mĩ và cảm xúc nghệ thuật
- Phân tích, cắt nghĩa, suy luận, phán đoán, tổng hợp… là những thao tác
quen thuộc của tư duy trong quá trình đi sâu khám phá tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, nhận thức giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Trong Vân đài
loại ngữ, dẫn lời của Văn Tử, Lê Quý Đôn đã phân biệt ba cách học: “Bậc thượng học, lấy thần mà nghe; bậc trung học lấy tâm mà nghe; bậc hạ học, lấy tai mà nghe Tai nghe thì học ở bì phu, tâm nghe thì học ở cơ nhục, thần nghe thì học ở cốt tủy” [5, tr.97] Đọc một tác phẩm mà chỉ mới biết có nội dung là
tiếp xúc ở “bì phu” (ngoài da thịt) Đọc mà có cảm xúc, thấy được chỗ hay nhưng chưa lí giải được là đi vào “cơ nhục” Chỉ đến khi lí giải được cảm xúc, cắt nghĩa được ý nghĩa sâu xa của tác phẩm, đem tác phẩm soi vào đời mới có thể đi vào “cốt tủy”, hiểu được cái thần của tác phẩm Như vậy, người đọc không thể dừng lại ở nhận thức cảm tính đơn thuần hay một vài phản ứng tâm lí
mà cần hiểu văn để làm cho cảm xúc sâu sắc hơn, để làm được điểu đó ta thấy
sự hiện diện của các thao tác tư duy thiết yếu trên
- Cảm thụ nghệ thuật không thể thiếu xúc cảm thẩm mỹ, đó là những phản
ứng tâm lí đối với văn học nghệ thuật, là thái độ thưởng ngoạn, sự thích thú của người đọc, người nghe trước đối tượng nghệ thuật Trong cảm thụ nghệ thuật,
Trang 3328
xúc cảm và xúc cảm thẩm mỹ là hoạt động tâm lý dễ nhận biết vì thường đi kèm
các dấu hiệu ngoại hiện: nụ cười, giọt nước mắt, sự cử động của chân tay, sự bật thốt của lời cảm thán, sự biểu cảm của lời nói… thường xuất hiện ở người đọc, người nghe khi tiếp nhận một tác phẩm nghệ thuật
- Một biểu hiện tâm lý đồng thời cũng là kết quả tốt đẹp của cảm thụ văn
học là sự thanh lọc (catacxit), đó là sự cân bằng hài hòa về tâm ls và mở rộng
nâng cao về tâm hồn và nhân cách sau quá trình tiếp nhận văn chương Không chỉ tìm thấy sự thăng bằng về tâm lý trong cuộc sống, người đọc còn có được sự bừng tỉnh, giác ngộ từ bên trong sau những tác động thẩm mĩ diệu kì của văn học Đối với những người đọc văn học thực sự , những phản ứng tâm lý và hành động thức tỉnh lương tâm là những hiện tượng thường thấy ở giai đoạn cuối của quá trình cảm thụ
Sự phân tách thành các biểu hiện cụ thể, các giai đoạn của tâm lý cảm thụ nêu trên chỉ là thao tác khoa học chứ trên thực tế đó là một hệ thống những phản ứng tâm lý đan xen, xuyên thấm vào nhau một cách chặt chẽ và tồn tại như một quá trình, không hề có một ranh giới tách bạch giữa các hoạt động ấy Dựa vào các yếu tố có tính phổ biến này, ta có thể xác định những hoạt động mà GV tổ chức cho HS tiếp nhận tác phẩm theo con đương cảm xúc hóa phù hợp với quy luật cảm thụ văn học
1.1.5 Những hình thức hoạt động của học sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương
Dựa trên những đặc trưng trong quá trình tiếp nhận tác phẩm của HS xác định một số hoạt động cảm thụ căn bản của HS trong giờ dạy học TPVC như sau:
Trang 3429
1.1.5.1 Hoạt động cảm nhập ban đầu (tạo tâm thế)
Hoạt động này có tính chất chuẩn bị cho quá trình tiếp nhận văn học ở bạn đọc HS, nhiệm vụ là kiến tạo môi trường cảm thụ, giúp HS chuyển từ không gian bên ngoài vào không gian thẩm mĩ, gạt bỏ những bộn bề của cuộc sống bên ngoài đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn Để hoàn thành nhiệm vụ ban đầu này, GV cần tạo dựng tâm thế tiếp nhận cho HS, thu hút được sự chú ý
và hứng thú của các em đối với bài học, tạo tiền đề cho quá trình trở thành BĐST của nhà văn
1.1.5.2 Hoạt động tri giác ngôn ngữ nghệ thuật
Đây là hoạt động trong giai đoạn đầu của quá trình cảm thụ tác phẩm từ lớp vỏ đến lớp hình Quá trình nhận thức thẩm mĩ chỉ thực sự bắt đầu khi người đọc làm sống dậy những kí hiệu, những con chữ trên trang giấy, dần dần đi vào thế giới tác phẩm cùng với nhà văn Bằng hoạt động cơ bản này, HS bước đầu hình dung được cuộc sống mà nhà văn miêu tả trong tác phẩm cùng âm thanh và cảm xúc chứa đựng trong đó, tạo tiền đề cho hoạt động tiếp theo
1.1.5.3 Hoạt động tái hiện hình tượng
Hoạt động tái hiện hình tượng là bước thứ hai giúp HS bước vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm Chức năng của hoạt động là kích hoạt trí tưởng tượng của HS, điều cần chú ý là GV không tưởng tượng thay cho HS mà là người gợi
mở để HS nhận thức về thế giới và con người trong tác phẩm bằng tưởng tượng của chính các em
1.1.5.4 Hoạt động phân tích, cắt nghĩa và khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm
Đây là bước tiếp theo trong quá trình nhận thức thẩm mĩ của bạn đọc học sinh, bao gồm những thao tác tiếp nhận để HS thâm nhập vào văn bản nghệ
Trang 3530
thuật, khám phá từng lớp nghĩa để rồi nắm bắt được giá trị nội dung và nghệ
thuật của tác phẩm Phân tích là việc xác định các khía cạnh cụ thể và tiêu biểu
của tác phẩm dựa trên cơ sở bức tranh thế giới hình tượng do tưởng tượng tái
hiện cung cấp Cắt nghĩa là thao tác giải thích ý nghĩa nghệ thuật của đối tượng
được lựa chọn trong hoạt động phân tích, bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri thức văn học, ngôn ngữ học, xã hội học… làm sáng tỏ ý nghĩa tường minh và hàm ẩn của đối tượng phân tích Dựa trên nền tảng những hiểu biết cơ bản về
tác phẩm, HS tiến hành các thao tác tổng hợp, khái quát hóa để xác định chủ đề
tư tưởng của tác phẩm và thông điệp nghệ thuật mà nhà văn muốn chuyển đến người đọc
1.1.5.5 Hoạt động tự bộc lộ, tự nhận thức của học sinh
Tự bộc lộ là hoạt động chủ động, tự nguyện của bạn đọc học sinh thể hiện kết quả tiếp nhận của mình về tác phẩm, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau về sự rung động, nhận thức, tình cảm, thái độ… của HS trước những sự kiện, số phận mà nhà văn xây dựng trong tác phẩm Tự bộc lộ khác hẳn lối áp đặt của GV lên HS trong giảng văn truyền thống bởi nó là hoạt động thể hiện tính dân chủ trong giờ học văn, là cơ hội để bạn đọc học sinh nói lên những suy nghĩ và tình cảm chân thật về tác phẩm và tác giả Tự bộc lộ thể hiện qua sự trao đổi những mối quan tâm chung và thu hoạch riêng giữa các bạn đọc học sinh và giữa các em với GV, từ đó nâng cao nhận thức Vì thế, GV cần chú ý định hướng và điều tiết để giúp HS hình thành và hoàn chỉnh hoạt động này như một thói quen trong đọc và học văn
Dựa trên những đặc điểm tâm lý cảm thụ văn học của người đọc nói chung và bạn đọc học sinh nói riêng, ta đã xác định được con đường tổ chức hoạt động tiếp nhận theo hướng coi hoc sinh là bạn đọc Sự phân chia các hoạt động trên chỉ mang tính chất tương đối vì việc dạy học cần mềm dẻo, linh động, hơn nữa dạy học TPVC là một hoạt động nhận thức thẩm mĩ đặc thù Vì vậy,
Trang 3631
tùy từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể GV cần linh hoạt để ứng dụng cho phù hợp
1.1.6 Vai trò định hướng của giáo viên
Con người mới trong chế độ hiện nay đòi hỏi phát triển cân đối và toàn diện, đặc điểm quan trọng vẫn là sự phát triển cân đối về trí tuệ và tình cảm Trong đó việc bồi dưỡng và rèn luyện năng lực tư duy hình tượng là yêu cầu cấp thiết không thể thiếu được, gồm hai mặt của vấn đề: năng lực cảm thụ văn học và năng lực sáng tác văn học Con đường dạy học văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc sáng tạo cũng hướng đến 2 nhiệm vụ nêu trên của GV đối với HS trong giờ dạy học TPVC
1.1.6.1 GV cần bồi dưỡng nhận thức đúng đắn về đặc trưng của văn học và bộ môn văn học cho HS
Trong tình hình giảng dạy hiện nay, có một hiện trạng phổ biến là HS chưa ý thức đúng đắn về tác dụng của văn học nói chung cũng như bộ môn văn học trong nhà trường nói riêng, những hiểu biết về đặc trưng văn học còn hạn chế Một trong những nguyên nhân là các em chưa có ý thức đúng đắn và đầy
đủ về bộ môn, trong khi đó là tiền đề tạo hứng thú học tập Những bài mở đầu giáo trình hàng năm là dịp thuận lợi cho GV bồi dưỡng và nâng cao ý thức học tập văn học cho HS Trong quá trình học tập giảng văn, những khái niệm bước đầu đó sẽ được củng cố và hoàn thiện dần Nếu như người sáng tác cần có những hiểu biết sâu sắc về tư duy hình tượng, thì người GV ngữ văn cũng cần
có những hiểu biết vững chắc, sâu sắc bản chất của tư duy hình tượng trong quá trình sáng tác và cảm thụ văn học để bản thân mình cảm thụ và giảng dạy văn học một cách có ý thức Bản thân HS dưới sự hướng dẫn của GV có những hiểu biết cần thiết thì trên con đường học tập văn học trong nhà trường sẽ được tiến hành thuận lợi, hứng thú và có hiệu quả
Trang 3732
Văn học là hình ảnh của cuộc đời, nhân vật là tấm gương con người trong
xã hội nhưng không phải là sự thật trực tiếp của cuộc đời và con người Đặc điểm đó của đối tượng cảm thụ quy định sự nỗ lực và hình thức lao động đặc biệt của HS khi học văn Khi đọc TPVC HS cần có ý thức mình đang thâm nhập vào một thế giới vừa hư vừa thực song lại còn thực hơn cả sự thật, tạo được khả năng đó thì mới có điều kiện tiền đề cho cảm thụ văn học đúng đắn và sâu sắc Một nhận thức như vậy trong GV và HS về đặc trưng văn học, về bản chất của quá trình cảm thụ văn học… có ý nghĩa nghiệp vụ thiết thực trong công tác dạy học văn
1.1.6.2 Giáo dục cho học sinh ý thức đúng đắn rằng cảm thụ văn học là quá trình lao động sáng tạo
Cảm thụ văn học do bản thân đối tượng cảm thụ quyết định, đó là một hoạt động tâm lý theo những quy luật nhất định phù hợp với mối quan hệ giữa tồn tại với ý thức ở dạng đặc biệt, tuy nhiên không có nghĩa tác phẩm văn học gắn liền với cảm thụ văn học Cảm thụ văn học là một quá trình tâm lý phức tạp
và đầy sáng tạo của HS Nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo hình tượng đã phấn đấu gian khổ để vượt lên giới hạn nhỏ hẹp của cuộc sống riêng, kinh nghiệm riêng để nâng một chi tiết cụ thể, một hoàn cảnh nhất định đến mức độ khái quát
có ý nghĩa điển hình Con đường cảm thụ của bạn đọc học sinh là con đường đi ngược chiều lại, lấy hình tượng tác phẩm làm chuẩn HS khi cảm thụ TPVC cũng phải đi từ kinh nghiệm, vốn sống cá nhân đến vốn kinh nghiệm và vốn sống chung mà nghệ sĩ đã khái quát, cụ thể hóa trong hình tượng để rung cảm với nghệ sĩ GV cần giúp HS thấy được đọc văn, học văn cũng không kém phần gian khổ khi vượt qua sự ngăn cách giữa bản thân với nhà văn, đòng thời yêu cầu HS phải năng mình lên, mở rộng giới hạn vốn sống tích cực của bản thân để hòa vào thế giới rộng lớn hơn của cuộc sống mà những hình tượng nghệ thuật chứa đựng Nói cách khác thì cảm thụ văn học là kết quả của quá trình khắc
Trang 3833
phục được sự ngăn cách giữa nghệ sĩ với người đọc Cảm thụ văn học là hoạt động tự giác, là sự vận động nhiều năng lực chủ quan của người đọc; bao nhiêu năng lực đã được vận dụng để tiếp thu chân lý nghệ thuật Sức mạnh của liên tưởng, tưởng tượng, hồi ức… càng mạnh bao nhiêu thì sức cảm thụ càng lớn bấy nhiêu
Quá trình HS cảm thụ văn học là sự tiếp nối quá trình sáng tác của nhà văn, lao động của nghệ sĩ chỉ có hiệu lực nếu được lao động của bạn đọc- học sinh bổ sung và tiếp nhận thêm Quá trình cảm thụ văn học diễn ra dài hay ngắn
là tùy theo trình độ của người cảm thụ và dung lượng của tác phẩm kể cả mặt số lượng và chất lượng Hình tượng càng rộng lớn, phức tạp, có sức khái quát cao, càng đòi hỏi thời gian cảm thụ nhiều hơn GV cần hiểu và giúp HS hiểu cảm thụ văn học là quá trình lao động sáng tạo, là quá trình vận dụng nhiểu năng lực và
là sự tiếp nối quá trình sáng tạo của nhà văn Những cơ sở lý luận đó cần thiết cho việc dạy học văn song không phải thế mà coi cảm thụ là mục đích của người học, cảm thụ chỉ là tiền đề để đi vào tác phẩm, là bước đầu trong nhận định và đánh giá tác phẩm
1.1.6.3 Nắm vững tình hình học tập và cảm thụ văn học của học sinh
Biện pháp trên có ý nghĩa rất quan trọng về mặt tổ chức và giảng dạy, có tác dụng động viên tinh thần HS và giúp đỡ GV đi sát nắm chắc đối tượng của mình, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy và giáo dục Phạm vi điều tra bao gồm: tinh thần, thái độ, năng lực, nguyện vọng, phương pháp… Trước hết GV cần nắm vững những xu hướng nhận thức đúng sai của HS về mặt cảm thụ văn học, cần giúp những HS có định kiến sai lầm về năng khiếu bẩm sinh để các em thấy rằng cảm quan nghệ thuật là khả năng rèn luyện được Năng lực cảm thụ văn học là một năng lực sáng tạo do quá trình lao động bền bỉ đưa lại Thái độ sư phạm khéo léo và nghệ thuật hướng dẫn HS chu đáo là những điều kiện tối cần giúp cho HS vượt qua những định kiến mơ hồ và thái độ lệch lạc trong học tập
Trang 3934
Khi phụ trách một lớp có nhiều đối tượng, trình độ, nguyện vọng… phức tạp và phong phú, GV có ý thức và trách nhiệm cao, thường điều tra tình hình học tập của đối tượng mình sắp giảng dạy, đây là hoạt động thiết thực bổ ích về nghiệp
vụ cần được thực hiện và rút kinh nghiệm để ngày một tốt hơn
1.1.7 Những khuynh hướng trái chiều trong phát triển và cảm thụ văn chương của học sinh trung học
Trong lý luận văn học hiện đại, vấn đề cảm thụ và sáng tác được nhận thức như một cơ chế biện chứng, như một hệ thống động và mở Quá trình văn học là sự thống nhất hữu cơ biện chứng giữa sáng tác và đồng sáng tác, vấn đề chủ thể bạn đọc được đặt ra một cách đúng mức và toàn diện hơn Trong nghiên cứu năng lực cảm thụ văn học thường xảy ra hai khuynh hướng đối lập: một là chỉ chú ý đến nguồn nhận thức là tác phẩm văn học, nghĩa là chỉ chú ý đến tính khách quan của cảm thụ và xem nhẹ vai trò của chủ thể cảm thụ Hai là khuynh hướng duy tâm sa vào nhận thức chủ quan, cường điệu tính chủ quan tùy tiện trong cảm thụ của người đọc
1.1.7.1 Khuynh hướng ngoại văn bản
Khuynh hướng ngoại văn bản luôn tồn tại và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình sáng tác và cảm thụ TPVC, nếu cực đoan sẽ khiến người đọc có cái nhìn phiến diện về tác phẩm, tuy nhiên trong chừng mực cho phép thì đây cũng là hướng nghiên cứu tác phẩm bao quát và toàn diện “Ngoại văn bản”
là những yếu tố không nằm trong văn bản chính thống của tác phẩm, bao gồm: hoàn cảnh sáng tác, địa điểm, thời gian, bối cảnh lịch sử, quan điểm nhà văn… Nhìn chung, nghiên cứu năng lực cảm thụ văn học tuy không thể tách rời những hiểu biết về năng lực chung trong hoạt động văn học, đó là năng lực tư duy hình tượng ngôn ngữ nghệ thuật- đặc trưng phân biệt với tư duy khoa học, nhưng việc quá chú trọng đến những vấn đề ngoài văn bản khiến tác phẩm trở nên xa rời thực tế văn học Một sự am hiểu tường tận về tư duy hình tượng là tiền đề
Trang 4035
cho sự xác định đặc trưng cảm thụ văn học Sự lí giải về đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học, về cấu trúc ngôn ngữ và cấu trúc văn học trong một TPVC chưa được sáng tỏ thì việc xác định tiêu chuẩn cảm thụ văn học nhất định cũng có nhiều chỗ chưa thỏa đáng Đồng thời, việc quá chú trọng đến lớp vỏ bên ngoài cùng các sự kiện xã hội, lịch sử của thời đại tác phẩm khiến TPVC đi ra ngoài quỹ đạo ý đồ nghệ thuật của tác giả
Sức mạnh kì diệu của TPVC dựa vào sức sáng tạo của ngôn ngữ nghệ thuật, từ ngôn từ độc đáo của tác giả mà tác phẩm nói lên được bao điều mới
mẻ, tinh tế và lôi cuốn người đọc Dưới ngòi bút tài hoa của nhà văn, một từ trong tác phẩm vừa có nội dung cụ thể, vừa có nội dung khái quát nhưng nó vẫn
là một từ cụ thể và mới mẻ, chứa đựng nội dung được mở rộng thêm trong những liên hệ của nó với hệ thống từ của tác phẩm, trong những văn cảnh nhất định mà nhà văn đã khổ công sáng tạo nên Sự am hiểu về đặc trưng văn học, về cấu trúc tầng lớp của tác phẩm, về cấu trúc hình tượng, về tính ước lệ cũng như bản chất của sáng tác… làm cho bản thân khả năng cảm thụ của người đọc đúng đắn và có ý thức hơn Hình tượng do nhà văn sáng tạo nên trong tác phẩm là hình ảnh của hiện thực qua sự sáng tạo và hư cấu; quá trình thể hiện ý đồ, tưởng tượng, xây dựng hình tượng trong tác phẩm gắn bó biện chứng với quá trình sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật Một người đọc phát triển về văn học hiểu được rằng, TPVC là hình ảnh của đời sống được nhà văn phản ánh, đánh giá theo quan điểm thẩm mĩ của mình và tái tạo lại trong hình tượng ngôn ngữ nghệ thuật Cho nên cuộc sống trong tác phẩm vừa là hình ảnh của đời sống thực nhưng không phải chính bản thân cuộc sống thực; hình ảnh trong tác phẩm thể hiện một cách điển hình và tập trung những tồn tại thông qua các chi tiết cảm tính Một sự chín muồi hay không trong cảm thụ TPVC được biểu hiện ở trình
độ lĩnh hội hình tượng văn học trong sự kết hợp hài hòa giữa khả năng cảm thụ trực tiếp cụ thể với khả năng khái quát một cách sâu sắc Hiện tượng HS tách rời những chi tiết cảm thụ với tư tưởng khái quát ý đồ nghệ thuật của tác giả