1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp dạy học tác phẩm của Nam Cao trong trường trung học phổ thông từ việc khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn

150 506 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ THÌN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM CỦA NAM CAO TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ VIỆC KHAI THÁC CÁC PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO HÀM NG

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN THỊ THÌN

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM CỦA NAM CAO

TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ VIỆC KHAI THÁC

CÁC PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO HÀM NGÔN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN THỊ THÌN

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM CỦA NAM CAO TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ VIỆC KHAI THÁC CÁC PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO HÀM NGÔN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐỖ VIỆT HÙNG

HÀ NỘI – 2011

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 10

4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 11

5 Phạm vi nghiên cứu 11

6 Giả thuyết nghiên cứu 11

7 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

8 Phương pháp nghiên cứu 12

9 Đóng góp của luận văn 12

10 Cấu trúc luận văn 13

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 14

1.1 Cơ sở ngôn ngữ 14

1.1.1 Thuật ngữ hàm ngôn và các thuật ngữ hữu quan 14

1.1.2 Phân biệt tiền giả định và hàm ngôn 17

1.1.3 Phân loại hàm ngôn 21

1.1.4 Các phương thức cấu tạo hàm ngôn 23

1.1.5 Giá trị của cách nói hàm ngôn 38

1.2 Cơ sở tâm lí 39

1.2.1 Tâm lí lứa tuổi học sinh trung học phổ thông 39

1.2.2 Tâm lí tiếp nhận văn chương của học sinh trung học phổ thông 41 1.2.3 Tâm lí tiếp nhận tác phẩm văn chương từ phương thức tạo hàm ngôn của học sinh trung học phổ thông 46

Kết luận chương 1 50

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG THỨC TẠO HÀM NGÔN TRONG DẠY HỌC NHỮNG TÁC PHẨM CỦA NAM CAO Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 52

2.1 Thực trạng của việc dạy và học tác phẩm của Nam Cao trong trường trung học phổ thông hiện nay 52

Trang 5

2.1.1 Vị trí tác phẩm của Nam Cao trong chương trình sách giáo khoa

Ngữ văn 52

2.1.2 Dạy và học tác phẩm của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông- những thuận lợi và khó khăn 53

2.2 Định hướng vận dụng các phương thức tạo hàm ngôn trong dạy học tác phẩm Nam Cao ở trung học phổ thông 64

2.2.1 Hướng dẫn học sinh phương pháp đọc tác phẩm tạo cơ sở phát hiện hàm ngôn 64

2.2.2 Đọc hiểu văn bản theo hướng khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn ở cấp độ chi tiết, trường đoạn và cả tác phẩm 69

2.2.3 Tìm hiểu nghệ thuật viết văn của Nam Cao và bước đầu nhận định về phong cách ngôn ngữ của Nam Cao trong sự phối hợp với nghệ thuật dùng hàm ngôn 88

Kết luận chương 2 97

Chương 3 : ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP, THIẾT KẾ GIÁO ÁN VÀ THỰC NGIỆM 98

3.1 Đề xuất phương pháp 98

3.1.1 Những yêu cầu có tính nguyên tắc 98

3.1.2 Phương pháp dạy học tác phẩm theo hướng khai thác các phương thức tạo hàm ngôn 101

3.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm 102

3.3 Tiến hành thực nghiệm 126

3.3.1 Những vấn đề chung 126

3.3.2 Kết quả thực nghiệm 128

KẾT LUẬN 131

TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Trong mảng văn học Việt Nam, Nam Cao – một nhà văn hiện thực xuất sắc, một người trí thức trung thực đến vô ngần – là một trong những tác giả tiêu biểu được soạn giả chương trình sách giáo khoa phổ thông trung học lựa chọn giới thiệu bài khái quát về tác gia và hai tác phẩm Vì vậy, nghiên cứu

về tác phẩm của Nam Cao và đưa ra một phương pháp – phương pháp dạy học tác phẩm từ việc khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn - sẽ giúp ích rất nhiều cho công tác giảng dạy của chúng tôi sau khi tốt nghiệp khóa học đào tạo thạc sĩ

Ngữ dụng học là một chuyên ngành quan trọng có đóng góp lớn cho ngành ngôn ngữ học Không ai có thể phủ nhận được ứng dụng của nó trong đời sống và trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là công việc giảng dạy trong nhà trường, nhất là từ năm 2000, việc rèn luyện cho học sinh thành thạo bốn

kĩ năng nghe, nói, đọc, viết đã trở thành mục tiêu chủ yếu của môn tích hợp ngữ văn Trong quá trình học tập, nghiên cứu và giảng dạy, chúng tôi đã nhận thức được vai trò quan trọng của các vấn đề ngữ dụng, đặc biệt là vấn

đề hàm ngôn Việc vận dụng thành tựu của ngữ dụng học vào việc hình thành phương pháp dạy học thiết nghĩ sẽ có những hiệu quả không nhỏ

Trong tác phẩm Bút kí triết học, V.I.Lê nin đã nói: "Viết một cách

thông minh có nghĩa là giả định người đọc cũng thông minh, là không nói hết,

là để người đọc tự nói với mình những quan hệ, những điều kiện, những giới hạn - chỉ với những quan hệ, những điều kiện, những giới hạn này thì một câu nói mới có giá trị và ý nghĩa" Tác phẩm văn học chính là cách viết "thông minh" của các tác giả Mỗi tác phẩm văn học là một sự sáng tạo nghệ thuật được xây dựng trên cơ sở chất liệu ngôn ngữ Trong tác phẩm, sự cảm nhận, lí giải và đánh giá của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống như tình cảm, lẽ sống, tình người, đẹp, xấu, thiện, ác để từ đó gửi tới người đọc những

Trang 7

thông điệp sâu sắc không phải lúc nào cũng được thể hiện qua câu chữ một cách đơn thuần mà nằm sâu trong lớp nghĩa hàm ẩn Chính lớp nghĩa hàm ẩn

ấy là yếu tố góp phần tạo nên giá trị, sức hấp dẫn và sức sống cho tác phẩm Những tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao được đưa vào sách giáo khoa chương trình ngữ văn trung học phổ thông là những tác phẩm như vậy Bởi thế trong quá trình đọc hiểu khám giá trị tác phẩm, người đọc rất cần vận dụng những thành tựu của ngôn ngữ học và có thể nói, chỉ vận dụng hiệu quả những thành tựu của ngôn ngữ học mới thấy hết được chiều sâu giá trị của những tác phẩm bất hủ đó

Mặt khác, chúng tôi lựa chọn đề tài này còn xuất phát từ chính niềm yêu thích của bản thân với những tác phẩm của tác giả Nam Cao và niềm kính phục trước tài năng của ông

Từ những lí do trên, người viết đã lựa chọn đề tài: "Phương pháp dạy học tác phẩm của Nam Cao trong trường trung học phổ thông từ việc khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn" Hi vọng kết quả nghiên cứu của đề tài dù nhỏ bé nhưng sẽ giúp giáo viên có thêm những tư liệu bổ ích để việc dạy và học tác phẩm Nam Cao nói riêng và bộ môn Ngữ văn nói chung theo hướng tích hợp trong chương trình phổ thông sẽ có hiệu quả hơn, bổ ích và lí thú hơn

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu hàm ngôn

2.1.1 Lịch sử nghiên cứu hàm ngôn trên thế giới

Trên thế giới có khá nhiều các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về hàm ngôn và các vấn đề nghiên cứu liên quan đến nghĩa hàm ngôn

Thứ nhất là H.P.Grice - nhà nghiên cứu đã xây dựng những cơ sở đầu tiên quan trọng cho việc nghiên cứu các ý nghĩa hàm ẩn Dựa vào nguyên tắc cộng tác hội thoại của mình, Grice đã vạch ra những nét đầu tiên cho lí thuyết

về ý nghĩa hàm ẩn – những nét đầu tiên vô cùng quan trọng Đến nay bất kì

Trang 8

phân biệt những ý nghĩa được suy ra một cách ngẫu nhiên với những ý nghĩa được truyền đạt một cách có ý định, Grice nói đến các ý nghĩa tự nhiên (natural meaning) và ý nghĩa không tự nhiên (non – natural meaning), Grice

đã xác định ý nghĩa không tự nhiên như sau:

Người nói A muốn truyền báo ý nghĩa không tự nhiên bằng phát ngôn

U khi và chỉ khi mà:

(i) A có ý định thông qua phát ngôn U gây nên hiệu quả z ở người nghe B (ii) A muốn rằng (có ý định rằng) điều kiện (i) được thực hiện đơn giản chỉ là nhờ chỗ B nhận ra được ý định của A

Grice cũng đã nêu khái niệm hàm ý hội thoại (conversational ture) để chỉ ra hiện tượng thường thấy trong sử dụng ngôn ngữ hàng ngày

implica-trong giao tiếp: khi nói một điều này thực ra chúng ta muốn nói một điều khác Grice đưa ra bốn phương châm cộng tác hội thoại (Lượng; Chất; Quan

hệ; Cách thức) Nếu người nói có ý thức không tuân theo các phương châm nói trên và nhằm vào một mục đích nhất định thì sẽ tạo ra hàm ý

Như vậy, theo Grice, những lời có hàm ý là những lời phần nào đó không đầy đủ hoặc không bình thường, mà nguyên nhân là do thiếu đi hoặc còn thiếu một nội dung nào đó Chính nội dung này là hàm ý người nghe phải suy luận mà đoán ra

Thứ hai là tác giả O Ducrot Cũng phân biệt các ý nghĩa hàm ẩn như Grice nhưng O Ducrot lại phân biệt tiền giả định với hàm ngôn Ducrot coi tiền giả định là một hình thức hàm ngôn quan trọng, là cái hàm ngôn nằm trực tiếp trong bản thân "nghĩa từ ngữ" của lời Ông đối lập tiền giả định – điều

"người ta có thể nói mà vẫn làm như là điều ấy hà tất phải nói" – với hàm ngôn – điều người ta có thể nói mà "làm như là đã không nói" (theo Hoàng Phê) [49, tr 98] Hình thức hàm ngôn mà ông gọi là "biện luận" (formes d'implicite discursives), bản thân người nghe phải từ nghĩa từ ngữ tự mình suy luận để nắm lấy Ducot nhấn mạnh rằng: "thực chất của hàm ngôn là nói mà

Trang 9

coi như không nói, nghĩa là vừa có được hiệu lực của nói năng, vừa có sự vô can của im lặng" (Dẫn theo Hoàng Phê) [49, tr 100]

George Yule trong Dụng học cũng đã đề cập đến vấn đề hàm ngôn

George Yule chỉ ra rằng, trong cộng tác hội thoại, khi người nghe nghe lời diễn đạt phải nắm được là người nói đang cùng cộng tác và có chủ định thông báo một điều gì đó Cái điều gì đó ấy phải là điều hơn chính những gì mà nghĩa của các từ cung cấp cho Đó là thứ ý nghĩa phụ thêm được chuyển tải (trong lời nói đó), được gọi là hàm ý (implicature)

Tiếp đến là tác giả J.R Searle: Khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp (A: inderect speech act) do J.R Searle đưa ra vào năm 1969 được phát triển

trong công trình Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp năm 1975 Ông đưa ra bốn

điều kiện hành vi thỏa mãn ở lời Nghiên cứu của ông mới chỉ đứng ở phía người nói mà chưa đặt ra trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, chưa đứng ở phía người nghe để nghiên cứu sự nhận biết được các điều kiện vi phạm các hành

vi ngôn ngữ

Ngoài những tác giả tiêu biểu kể trên, còn có một số tác giả khác cũng nghiên cứu về hàm ngôn ở những cấp độ khác nhau như C.J Fillmore, J L Austin, G Lakoff, D Gordon

2.1.2 Lịch sử nghiên cứu về hàm ngôn ở Việt Nam

Kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu về hàm ngôn của các nhà ngôn ngữ thế giới, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam cũng rất tích cực tìm tòi nghiên cứu lĩnh vực này với những tính chất và ở những phương diện khác nhau

Hoàng Phê là một trong những người đầu tiên giới thiệu về nghĩa hàm ngôn, nghĩa hiển ngôn Ông đề nghị gọi điều nói ra gián tiếp - "khi chúng ta nói một điều này nhưng lại muốn cho người nghe từ đó hiểu ra một điều khác, hoặc hiểu thêm một điều khác nữa"[49, tr 93] - là hàm ngôn (implicit) đối lập với hiển ngôn (explicit) là điều nói ra trực tiếp Theo ông, khi một lời nói có

Trang 10

là dùng để nói hàm ngôn Cấu trúc ngữ nghĩa của lời có thể là một cấu trúc nhiều tầng, gồm có tiền giả định, hiển ngôn, hàm ngôn Giữa tiền giả định, hàm ngôn, hiển ngôn có quan hệ cấu trúc chặt chẽ, và có sự tác động lẫn nhau tạo nên ngữ nghĩa của lời Tiền giả định là cơ sở cho hiển ngôn và cùng với hiển ngôn là cơ

sở cho hàm ngôn Từ đó tác giả khẳng định: "Hàm ngôn là những gì người nghe phải tự mình suy ra từ hiển ngôn và tiền giả định, để hiểu được đúng và đầy đủ ý nghĩa của lời trong một ngôn cảnh nhất định".[49, tr 106]

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra:

"Các ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là ý nghĩa hàm ẩn" Trong nghĩa hàm ẩn ấy phân ra là hàm ngôn và tiền giả định Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu: "Hàm ngôn là tất cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó, từ ý nghĩa tường minh (ý nghĩa theo câu chữ) cùng với tiền giả định của nó" [4, tr 362]

Cao Xuân Hạo trong cuốn Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng cho

rằng: "Bên cạnh các tiền giả định trong các phát ngôn, còn có những hàm ngôn (implicatures) mà trong sinh hoạt ta thường gọi là "ẩn ý" hay "ám chỉ"

Đó là những ý nghĩa được truyền đạt không trực tiếp thông qua nguyên văn

để làm cho người nghe từ đó suy ra một ý khác" [23, tr 118]

Dưới góc độ của lôgic, Nguyễn Đức Dân trong Lôgic ngữ nghĩa cú pháp đã phân biệt tiền giả định và sự hiểu ngầm Ông cho rằng: Tiền giả định

là cái chung của hai người đối thoại, nó là của chúng ta Hiểu ngầm là cái người nghe tự suy ra, vậy nó là "cái của anh"

Nguyễn Thiện Giáp quan niệm: "Khi lĩnh hội ý nghĩa của câu nói, người nghe hiểu rằng ngoài nghĩa hiển ngôn (explicit meaning) tức là cái nghĩa mà họ

có thể rút ra từ nghĩa nguyên văn (nghĩa đen và nghĩa bóng) của các từ ngữ có mặt trong câu và từ những mối quan hệ cú pháp giữa các từ ấy, còn có những ý nghĩa vô hình không có sẵn trong ý nghĩa nguyên văn của từ ngữ và những mối quan hệ cú pháp của câu nhưng vẫn thấu đến người nghe qua một sự suy luận

Đó là ý nghĩa hàm ẩn (implicit meaning) của câu" [19, tr 115]

Trang 11

Hồ Lê cho rằng: "Hàm ý là tất cả những ý nghĩa, tình thái hàm ẩn mà người phát ngôn kí thác vào phát ngôn nhưng nằm ngoài ý nghĩa biểu hiện của phát ngôn, trong đó có việc biểu thị những sở chỉ khác với những sở chỉ

mà nghĩa hiển ngôn của phát ngôn biểu thị" [31, tr 335]

Đỗ Thị Kim Liên có quan niệm về nghĩa hàm ẩn và nghĩa hàm ngôn trùng với quan niệm của Đỗ Hữu Châu: "Nghĩa hàm ẩn là nghĩa có được nhờ thao tác suy ý hay còn gọi là nghĩa ngoài câu chữ" và "Hàm ngôn là những hiểu biết có thể suy ra từ ý nghĩa tường minh và tiền giả định Đây là ý nghĩa đích thực mà người nói hướng đến người nghe" [33,tr 236]

Một số tác giả khác như Dương Hữu Biên, Nguyễn Hữu Cầu, Trần Ngọc Thêm cũng có những quan niệm về hàm ngôn, hàm ý Điểm thống nhất trong quan niệm về hàm ngôn của các tác giả trên là đã tìm ra ranh giới và phân biệt được nghĩa tường minh với nghĩa hàm ẩn Họ cũng đều có chung quan niệm: Tiền giả định là một loại nghĩa ngầm ẩn nhưng là nghĩa ngầm ẩn không có giá trị thông báo Tiền giả định được phân biệt với các nghĩa ngầm

ẩn khác như hàm ngôn (hoặc hàm ý, ngụ ý, ẩn ý tùy theo cách gọi tên của từng tác giả) Mặc dù khi nói về loại ý nghĩa ngầm ẩn này, các tác giả dùng những thuật ngữ khác nhau và có đôi chút khác nhau trong quan niệm nhưng

sự thống nhất tương đối cao giữa các tác giả đã giúp cho người đang học tập, nghiên cứu về ngữ dụng học nói riêng không phải lúng túng trước các loại ý nghĩa ngầm ẩn, đặc biệt là tiền giả định và hàm ngôn

Trên đây là các tác giả với những công trình nghiên cứu có vai trò mở

đường cho Ngữ dụng học vào Việt Nam Vận dụng lí thuyết đó vào các vấn

đề cụ thể của tiếng Việt và văn học, có thể nói tới một số đề tài luận văn thạc

Trang 12

- Câu nghi vấn tiếng Việt – một số câu nghi vấn thường không dùng để hỏi – Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thìn, 1995 Một trong những kết quả

của luận án là sự xác lập, vận dụng cơ chế lí giải, nhận diện nghĩa hàm ngôn được quan tâm trong phạm vi câu hỏi

- Tìm hiểu nghĩa hàm ẩn của các hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại – Luận văn thạc sĩ của Đặng Thị Hảo Tâm, 1997 và Cơ sở lí giải nghĩa hàm ẩn của các hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại – Luận án tiến sĩ

của Đặng Thị Hảo Tâm, 2003 Đặng Thị Hảo Tâm đã đưa ra một số cơ chế lí giải nghĩa hàm ẩn như: Người nghe huy động những tiền giả định bách khoa, ngữ năng lôgic, ngữ năng tu từ, dụng học và các quy tắc nói năng từ đó phát hiện ra chiến lược mà người nói đã dùng để quyết định một chương trình hồi đáp thích hợp

- Hàm ngôn trong truyện và kí của Nguyễn Ái Quốc - Luận văn thạc sĩ

của Lê Thanh Hà, 2005 Lê Thanh Hà đã nhận diện được các loại hàm ngôn qua các truyện và kí, phân tích cách viết tạo ra những hàm ngôn ấy

Có thể nói nghĩa hàm ngôn là một vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Cơ chế tạo hàm ngôn, cơ chế lí giải nghĩa hàm ngôn đã được nghiên cứu khá đầy đủ và chi tiết nhưng những kiến thức đó phần nhiều thuộc về lí thuyết ngôn ngữ thuần túy Sử dụng lí thuyết nghĩa hàm ngôn, chỉ

ra những biểu hiện của nó trong cuộc sống và trong các tác phẩm văn học cũng đã được đề cập tới ở những cấp độ khác nhau Tuy nhiên, khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn như một phương pháp tiếp cận tác phẩm văn chương trong giờ đọc hiểu văn bản hầu như chưa được đề cập tới và đây chính là vấn đề được luận văn quan tâm

2.2 Lịch sử nghiên cứu về phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo hướng khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn và lịch sử nghiên cứu phương pháp dạy học tác phẩm của Nam Cao ở trường phổ thông

2.2.1 Lịch sử nghiên cứu về phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo hướng khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn

Trang 13

Những năm gần đây, do yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn, vấn đề dạy học theo hướng tích hợp được đặc biệt chú ý và quan tâm Qua một thời gian thực hiện, việc dạy học theo hướng tích hợp đã thực

sự thu được những hiệu quả nhất định Bởi vậy đã có không ít những công trình nghiên cứu đưa ra những phương pháp dạy học cụ thể theo hướng tích hợp để từ đó tìm kiếm một phương pháp giảng dạy hợp lí, đạt hiệu quả giáo dục Việc tích hợp các thành tựu của ngữ dụng học vào đọc hiểu các tác phẩm văn chương cũng đã được chú ý tới ở những cấp độ khác nhau

Đặc trưng của văn chương là tính đa nghĩa, bởi vậy một trong những đích đến của đọc hiểu tác phẩm là phải tìm được lớp nghĩa hàm ngôn, hàm ẩn trong những hình thức nghệ thuật độc đáo để từ đó hướng học sinh tới chân, thiện, mĩ của cuộc đời Vì thế, dạy học tác phẩm văn chương để khai thác nghĩa hàm ngôn đã, đang và sẽ được giáo viên luôn luôn chú ý Tuy nhiên, dạy học tác phẩm theo phương pháp khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn có lẽ là một vấn đề còn khá mới và có thể nói, đến nay, gần như chưa

có công trình nghiên cứu nào thực sự lớn đề cập riêng đến vấn đề này

2.2.2 Lịch sử nghiên cứu của chuyên ngành phương pháp dạy học về tác phẩm của Nam Cao ở trường phổ thông

Nam Cao xuất hiện trong chương trình phổ thông với tư cách là tác gia, được khẳng định là một trong số ít những gương mặt nổi bật của văn xuôi hiện đại, là cây bút tiêu biểu nhất, xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 – 1945 Thời gian sáng tác không dài, khối lượng tác phẩm để lại không nhiều nhưng chúng đã thực sự trở thành "mẫu số vĩnh hằng" trong nền văn học dân tộc Nhiều tác phẩm của Nam Cao đã đạt tới trình độ "mẫu mực", "cổ điển" cho thể loại truyện ngắn cũng như truyện dài

Do vậy, Nam Cao và các tác phẩm được đưa vào nhà trường của ông luôn là mối quan tâm trăn trở của nhiều giáo viên dạy ngữ văn, đặc biệt của các nhà nghiên cứu về chuyên ngành phương pháp Trong mấy chục năm qua, nhất là

Trang 14

sâu kinh nghiệm, nhiều thầy cô giáo tâm huyết đã mở ra hướng nghiên cứu khác nhau cùng với những tìm tòi phát hiện đầy mới mẻ nhằm tìm tới một phương pháp dạy học những tác phẩm của Nam Cao trong trường phổ thông một cách tối ưu, đạt hiệu quả

Về tài liệu hướng dẫn giảng dạy và học tập: Bên cạnh sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo, có một số cuốn sách hướng dẫn của một số

nhà phương pháp như Nam Cao – một đời văn của Lê Tiến Dũng (Hội nghiên

cứu và giảng dạy văn học Thành phố Hồ Chí Minh – Phát hành năm 2001);

Phân tích tác phẩm Nam Cao trong nhà trường của Nguyễn Văn Tùng (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1997); Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường – Nam Cao do Văn Giá tuyển chọn và biên soạn (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1999); Phương pháp giảng dạy tác phẩm văn chương theo loại thể của

tác giả Nguyễn Viết Chữ (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2002) Có thể nói đây là những tài liệu bổ ích và thiết thực cho công việc giảng dạy và học tập

về các tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thông

Nghiên cứu, khám phá những tác phẩm của Nam Cao, tác giả Nguyễn

Thị Thanh Hương trong bài Những tác động thẩm mĩ tiềm tàng trong tác phẩm của Nam Cao đã đề cập đến những tác động thẩm mĩ rất quan trọng

trong sáng tác của nhà văn này: "Cách thể hiện thực tiễn rất mới của Nam Cao trước hết là do kết quả của sự nhận thức về xã hội, về điều kiện sống của quần chúng nhân dân Nam Cao giải quyết những vấn đề về số phận con người, quyền sống, quyền làm người, khát vọng đời thường, quan điểm nghệ thuật sâu sắc " từ đó, tác giả của bài viết nhấn mạnh: "Dạy tác phẩm của Nam Cao ở trường phổ thông là phải giúp học sinh lĩnh hội được giá trị nhân văn, nhân bản, chủ nghĩa nhân đạo và những tác động giáo dục thẩm mỹ trong tác phẩm Trên cơ sở đó, học sinh sẽ nhìn lại quá khứ, hiểu hiện tại, xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn trong tương lai"

Bên cạnh đó còn có một số luận văn, khóa luận nghiên cứu về phương pháp dạy học các tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thông như:

Trang 15

Châu Thị Kim Ngân với đề tài: Nghiên cứu, tiếp thu và đi tới một cách dạy thích hợp truyện ngắn "Lão Hạc" của Nam Cao trong chương trình bậc Trung học cơ sở; Đỗ Bích Liên với đề tài : Đặc sắc nghệ thuật tác phẩm "Chí Phèo" và biện pháp giáo dục thẩm mỹ cho học sinh lớp 11, Nguyễn Văn Thắng với đề tài: Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tiếp nhận ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao ở trường THPT; Trần Thị Thu

Hà với đề tài khóa luận: Vận dụng tri thức đọc hiểu để hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao trong nhà trường THPT; Dương Văn Binh với luận văn thạc sĩ: Hướng dạy học truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao ở trường THPT theo đặc trưng loại thể Các tác giả đều từ cơ sở lí luận

về phương pháp và cơ sở thực tiễn của dạy học tác phẩm Nam Cao đưa ra những hướng dạy học tích cực nhằm giúp HS khám phá giá trị đích thực của tác phẩm

Như vậy có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học tác phẩm của Nam Cao Sau khi khảo sát các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy việc khai thác các phương thức tạo hàm ngôn như một phương pháp tiếp cận tác phẩm của Nam Cao là một vấn đề mới, chưa thực sự

có một công trình nghiên cứu chuyên sâu Đây là hướng khai thác của luận văn với mong muốn góp một phần nhỏ bé nhằm khơi dậy hứng thú, niềm yêu thích của học sinh với tác phẩm của Nam Cao nói riêng và tác phẩm văn học nói chung

3 Mục đích nghiên cứu

Nam Cao là một tác giả tiêu biểu của dòng văn học hiện thực Việt Nam

và là một trong số ít những tác giả được đưa vào sách giáo khoa chương trình trung học phổ thông với số lượng tác phẩm nhiều, bởi vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nam Cao và tác phẩm của ông Với đề tài này, chúng tôi không đặt vấn đề tìm hiểu tác phẩm của Nam Cao dưới góc độ nghiên cứu phê bình văn học mà mục đích là: vận dụng những lí luận về ngôn ngữ để tìm

Trang 16

dạy học ở trung học phổ thông, từ đó làm sáng tỏ sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ và văn học, đặc biệt là đề xuất những phương pháp, biện pháp cụ thể của việc dạy học tác phẩm Nam Cao theo hướng khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn nhằm nâng cao chất lượng dạy học, góp phần khẳng định ưu điểm và tính khả thi của phương pháp dạy học này

4 Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp dạy học tác phẩm Nam Cao trong

trường trung học phổ thông

4.2 Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 11, giáo viên dạy Ngữ văn lớp 11 ở

một số trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nam Định

5 Phạm vi nghiên cứu

Trong thời gian 15 năm hoạt động ở lĩnh vực nghệ thuật, bằng sự lao động nghiêm túc, miệt mài với quan điểm nghệ thuật tiến bộ, đầy tính nhân văn, Nam Cao đã để lại cho hậu thế một sự nghiệp văn học không nhỏ Khi triển khai đề tài của luận văn, chúng tôi không nghiên cứu tất cả các tác phẩm của Nam Cao mà chỉ tập trung vào hai tác phẩm tiêu biểu được lựa chọn và

đưa vào chương trình trung học phổ thông: Chí Phèo, Đời thừa

Tất cả các tác phẩm khác của Nam Cao được sử dụng như tài liệu tham khảo để mở rộng, phục vụ cho nghiên cứu

Phạm vi tiến hành thực nghiệm phương pháp đề xuất là một số trường trung học phổ thông thuộc địa bàn tỉnh Nam Định

6 Giả thuyết nghiên cứu

Luận văn được xây dựng với giả thuyết: Nếu có những giải pháp dạy học tác phẩm Nam Cao trong trường trung học phổ thông theo hướng khai thác các phương thức tạo hàm ngôn thì việc dạy và học tác phẩm của Nam Cao nói riêng và tác phẩm Ngữ văn nói chung sẽ đạt được hiệu quả cao hơn,

có sức hấp dẫn và lí thú hơn

Trang 17

7 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tiếp nhận và trình bày những lí thuyết cơ bản về hàm ngôn và tâm lí

lứa tuổi học sinh trung học phổ thông làm cơ sở lí luận cho luận văn

- Khảo sát thực trạng và đưa ra những định hướng cụ thể về việc vận

dụng phương thức cấu tạo hàm ngôn trong dạy học tác phẩm của Nam Cao ở trung học phổ thông

- Đề xuất những phương pháp, biện pháp cụ thể về việc dạy học tác

phẩm theo hướng khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn

- Trong phạm vi của luận văn nghiên cứu, chúng tôi thiết kế 1 bài dạy –

bài Chí Phèo - theo phương pháp khai thác các phương thức cấu tạo hàm

ngôn và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng kết quả nghiên cứu

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích

- Phương pháp khái quát, hệ thống hóa; nghiên cứu tiếp thu có chọn lựa các công trình, tài liệu có liên quan đến luận văn

9 Đóng góp của luận văn

9.1 Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội dung lí thuyết

hàm ngôn trong ngôn ngữ học, khẳng định hướng đổi mới đúng đắn của phương pháp dạy học tác phẩm văn chương từ việc khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn đồng thời đề xuất phương pháp dạy học tác phẩm Nam Cao

từ việc khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn

9.2 Về mặt thực tiễn

- Vận dụng những lí thuyết cơ bản về hàm ngôn để tìm hiểu truyện ngắn của nhà văn Nam Cao ở chương trình ngữ văn phổ thông, từ đó vận dụng vào thực tiễn giảng dạy trong nhà trường

- Đánh giá được tính khả thi của phương pháp dạy học tác phẩm Nam Cao trong trường phổ thông góp phần hoàn thiện việc xây dựng mô hình giờ

Trang 18

ngôn, giúp đồng nghiệp có thêm tư liệu tham khảo soạn giảng, nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn, để mỗi giờ học Ngữ văn thực sự là một giờ học lí thú với học sinh

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Thực trạng và định hướng vận dụng các phương thức tạo hàm ngôn trong dạy học những tác phẩm của Nam Cao ở trung học phổ thông

Chương 3: Đề xuất phương pháp, thiết kế giáo án và thực nghiệm

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Cơ sở ngôn ngữ

1.1.1 Thuật ngữ hàm ngôn và các thuật ngữ hữu quan

Ví dụ: Phát ngôn : "Thôi, kẻ cắp chả dám ở chung với người Để tôi lên chợ Đồng Xuân tôi ở" ("Mất cái ví" – Nguyễn Công Hoan)

Phát ngôn trên có ý nghĩa tường minh là: Kẻ cắp không dám ở cùng người, tôi lên chợ Đồng Xuân ở Ngoài ra phát ngôn trên còn có ý nghĩa khác: Chúng mày bố láo, dám nghi cho ông lấy cắp ví của chúng mày, vậy thì ông

về, không thèm chơi với chúng mày nữa Ý nghĩa này không phải có thể tìm

được qua các câu chữ mà chỉ có thể suy ra từ tiền giả định (người đang nói và đối tượng nghe câu nói này đang "ở chung", nơi ở không phải là chợ Đồng Xuân), từ ngữ cảnh (ông Tham mất cái ví, con sen, thằng bếp đều có yếu tố ngoại phạm, bà Tham và ông Tham không thể lấy tiền của chính mình theo cách lập luận của ông Tham, vậy chỉ còn ông cụ đang ở chơi cùng nhà); từ quy tắc điều khiển lập luận (người phát ngôn sử dụng câu thành ngữ đương thời "kẻ cắp chợ Đồng Xuân" chỉ những hành động nhanh, tinh vi của những người hành nghề bất chính – nghề trộm cắp tại chợ Đồng Xuân)

Như vậy, có thể thấy: nghĩa thứ hai của phát ngôn trên không thể tìm thấy qua câu chữ mà phải suy ra từ các yếu tố khác Những ý nghĩa ấy gọi là nghĩa hàm ẩn

Trang 20

Khi nghiên cứu về ngữ dụng học, các nhà ngôn ngữ đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về nghĩa hàm ẩn như chúng tôi đã giới thiệu trong lịch

sử của vấn đề đang nghiên cứu, tuy nhiên tất cả các ý kiến đều gặp nhau ở một điểm: Nghĩa hàm ẩn là nghĩa ngoài câu chữ Quan niệm về nghĩa hàm ẩn ngắn gọn và giàu sức thuyết phục là: "các ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là ý nghĩa hàm ẩn" [12, tr 560] [4, tr 395] Như vậy, ý nghĩa hàm

ẩn được hiểu là những nội dung được tiếp nhận nhiều hơn, nằm ngoài những

gì được truyền báo qua phát ngôn

Phân loại nghĩa hàm ẩn: Theo các nhà ngôn ngữ, ý nghĩa hàm ẩn có thể chia làm hai loại là tiền giả định và các hàm ngôn (còn gọi là hàm ý, ẩn ý)

Ví dụ: " – Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!" (" Lão Hạc" – Nam

Trang 21

thuộc bộ phận thông báo chính, không tạo nội dung chính của lời nói mà là nội dung, điều kiện cho lời nói được tạo ra có ý nghĩa Có thể hiểu, tiền giả định là những điều được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận

1.1.1.3 Hàm ngôn

Hàm ngôn là gì? Nếu tiền giả định là những hiểu biết có sẵn ở cả hai phía (người nói, người viết và người nghe, người đọc – những nhân tố cơ bản của cuộc giao tiếp) thì hàm ngôn là những ý hiểu sau cùng (của cuộc giao tiếp) Nó là kết quả của sự suy ý

Ví dụ: Cứ bảo tuổi sửu có được không?

Đồn rằng có một ông quan huyện rất thanh liêm, không ăn của đút lót bao giờ Bà huyện thấy tính chồng như vậy càng không dám nhận lễ của ai

Có làng nọ muốn nhờ quan huyện bênh cho được kiện nhưng mang lễ vật gì đến quan cũng gạt đi hết Họ mới tìm cách đút lót với bà huyện Dân nằn nì mãi, bà nể tình mới bày cách:

- Quan huyện nhà tôi tuổi "tí", dân làng đã có ý như vậy thì hãy về đúc một con chuột bạc đến đây, rồi tôi thứ cố nói giùm cho, họa may được chăng!

Dân làng nghe lời, về đúc một con chuột cống thật to, ruột đặc, toàn bằng bạc đem đến Một hôm, ông huyện trông thấy con chuột bạc mới hỏi đâu

ra, bà huyện liền đem tình đầu kể lại Nghe xong, ông huyện mắng:

- Sao mà ngốc vậy! Sao lại bảo tôi tuổi "tí", cứ bảo tuổi "sửu" có được không?

(Truyện cười dân gian Việt Nam)

Bóc lột, vơ vét của dân đã trở thành bản chất của quan tham trong xã hội phong kiến Tuy nhiên các quan lại lại dùng vỏ bọc "thanh liêm" để che đậy Câu mắng của ông quan huyện kết thúc câu chuyện chứa đầy hàm ngôn: Ông trách vợ nhận ít quá, con chuột bạc quá nhỏ với lòng tham của ông, ông muốn có bạc to bằng con trâu kia Qua lời trách của quan và ngữ cảnh cụ thể của câu truyện, người đọc có thể suy ý: Đây là ông quan có lòng tham vô độ,

Trang 22

và qua sự xác nhận của bà huyện chỉ là vỏ bên ngoài hào nhoáng, che đậy bản chất tham lam bên trong

Như vậy có thể kết luận: "Hàm ngôn là những nội dung ý nghĩa không

được biểu hiện trực tiếp bằng từ ngữ mà có thể suy ra từ ý nghĩa tường minh, tiền giả định và hoàn cảnh giao tiếp (ngữ cảnh)"[12, tr 561]

1.1.2 Phân biệt tiền giả định và hàm ngôn

Tiền giả định và hàm ngôn "cùng nằm trong một phạm trù lớn hơn: phạm trù nghĩa hàm ẩn của phát ngôn"[12, tr 365] bởi chúng đều không được nói ra một cách tường minh, chúng chỉ có thể nắm bắt được nhờ thao tác suy

ý Tuy nhiên phân biệt giữa tiền giả định và hàm ngôn vẫn còn là vấn đề lớn của ngữ dụng học bởi có khá nhiều trường hợp "nhập nhằng" [4, tr 365], khó

có thể phân biệt rõ ràng Sự phân biệt này có thể dựa trên nhiều bình diện khác nhau, dưới đây là một số đặc điểm có thể dựa vào đó để phân biệt:

1.1.2.1.Quan hệ với ý nghĩa tường minh

Tiền giả định là các hiểu biết được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào chúng mà người nói tạo nên ý nghĩa tường minh trong phát ngôn

Ví dụ: "Pá Tra bước ra hỏi:

- Mất mấy con bò?

A Phủ trả lời tự nhiên:

- Tôi về lấy súng, thế nào cũng bắn được, con hổ này to lắm."

( Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)

Tiền giả định của phát ngôn trên là:

- A Phủ phải đi ở chăn bò trừ nợ cho thống lí Pá Tra

- A Phủ để hổ vồ mất một con bò của nhà thống lí

Nếu không có các tiền giả định sẽ không có các ý nghĩa tường minh là

- Thống lí Pá Tra muốn biết mất mấy con bò

- A Phủ về lấy súng bắn hổ

Trang 23

Các ý nghĩa tường minh này được tạo ra dựa trên những tiền giả định nêu trên

Hàm ngôn là những hiểu biết hàm ẩn có thể suy ra từ ý nghĩa tường minh và tiền giả định của ý nghĩa tường minh Nếu không có ý nghĩa tường minh và tiền giả định của nó thì không thể suy ra được hàm ngôn thích hợp Nghĩa tường minh và tiền giả định của nghĩa tường minh ấy là căn cứ để chúng ta xác định nghĩa hàm ngôn Hoàng Tuệ nhấn mạnh quan hệ mật thiết giữa hàm ngôn và hiển ngôn: "có hiển ngôn là có hàm ngôn Nếu không có hàm ngôn thì không cần đặt ra vấn đề hiển ngôn làm gì"[54, tr 17] Quay lại

ví dụ trên ta sẽ thấy rõ điều này:

Trong câu trả lời, A Phủ không trả lời trực tiếp vào câu hỏi của thống lí

mà trả lời bằng cách nói ra ý định của mình Bằng cách đó, câu nói đạt được những hàm ý:

- Vẫn thừa nhận việc để mất bò

- Muốn lấy công chuộc tội

- Sẽ mang lại lợi ích to lớn hơn cho nhà thống lí Pá Tra

Hàm ngôn trong câu trả lời của A Phủ được suy ra từ ý nghĩa tường minh và các tiền giả định của những ý nghĩa tường minh nêu trên

1.1.2.2.Quan hệ với ngữ cảnh giao tiếp và các lẽ thường (topos)

Tiền giả định là cơ sở tạo ra nghĩa tường minh của phát ngôn nên tiền giả định ít lệ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp còn hàm ngôn phụ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh giao tiếp Hơn nữa, hàm ngôn còn phải dựa vào các topos nhưng tiền giả định thì không dựa vào topos nào cả

Ví dụ : " Tàu đến rồi!"

Tiền giả định: - Có một đoàn tàu

- Tàu đang chạy đến ga đỗ

Ý nghĩa tường minh: tàu đến

Từ tiền giả định và ý nghĩa tường minh trên có thể dẫn tới nhiều hàm

Trang 24

người đang đợi tàu, có thể có hàm ngôn: "Sắp được lên tàu", với những người bán hàng ở ga, hàm ngôn là "có thể bán thêm được hàng" Đối với chị em Liên

trong tác phẩm Hai đứa trẻ - Thạch Lam thì câu nói đó lại chứa đựng niềm

mong mỏi, khát khao về một thế giới khác Con tàu đến là lúc Liên sống lại với quá khứ, mơ tưởng đến "một Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo" – tương phản với cái tối mù mịt và cuộc sống tẻ nhạt, đơn điệu, buồn đọng, tù túng, bế tắc nơi phố huyện nghèo mà hai chị em Liên đang sống

1.1.2.3.Quan hệ với hình thức ngôn ngữ tạo nên phát ngôn

Tiền giả định có tính chất hiển nhiên đúng và phải có quan hệ với các yếu tố ngôn ngữ cấu thành phát ngôn, phải có những dấu hiệu ngôn ngữ đánh dấu nó Hàm ngôn, trái lại, không tất yếu phải được đánh dấu bằng các dấu hiệu ngôn ngữ

Ví dụ: "Tiên sư mày, có dậy không, cậu áo trắng dài đã đến rồi kia kìa" (Trúng số độc đắc – Vũ Trọng Phụng)

Tiền giả định: "có một người chưa dậy" có dấu hiệu ngôn ngữ là "Có dậy không", tiền giả định "cậu áo dài trắng ngày nào cũng đến vào một giờ cố định" được đánh dấu bằng dấu hiệu ngôn ngữ "cậu áo trắng dài đến rồi"

Hàm ngôn: "đã 9 giờ" không được báo trước bằng một dấu hiệu nào trong phát ngôn tường minh

1.1.2.4 Lượng tin và tính năng động của hội thoại

Tiền giả định không có tính thông tin Nó không phải là cái mới và có lượng tin thấp Tiền giả định có thể là một bước để tiếp tục hội thoại nhưng nếu tiếp tục hội thoại mà dựa vào tiền giả định thì cuộc hội thoại sẽ giật lùi và đôi khi luẩn quẩn Điều quan trọng đối với giao tiếp là tính năng động hội thoại của tiền giả định, ý nghĩa tường minh và hàm ngôn Nói chung ý nghĩa tường minh và hàm ngôn có tính năng động hội thoại cao hơn là tiền giả định

Có nghĩa là ý nghĩa tường minh và hàm ngôn (nằm trong ý định truyền báo của phát ngôn) là một giai đoạn trong hội thoại, từ giai đoạn này mà hội thoại tiến lên bước mới Ví dụ:

Trang 25

"- Thôi, u không ăn, để phần con Con chỉ được ăn ở nhà bữa này nữa thôi U không muốn ăn tranh của con Con cứ ăn thật no, không phải nhường nhịn cho u

- Vậy bữa sau con ăn ở đâu?

Điểm thêm một giây nức nở, chị Dậu ngó con một cách xót xa:

- Con sẽ ăn ở nhà cụ Nghị thôn Đoài." ("Tắt đèn" – Ngô Tất Tố)

Cuộc thoại này tiến lên dựa vào hàm ngôn: Chị Dậu phải bán con cho Nghị Quế Như vậy đối với một hướng hội thoại đã cho, hàm ngôn có tính năng động hội thoại cao, nó là bước thúc đẩy cuộc thoại tiến lên đạt tới đích

1.1.2.5 Phản ứng với các dạng phát ngôn

Tiền giả định bất biến với các phép biến đổi cú pháp Với tiền giả định, khi phát ngôn chuyển từ dạng khẳng định sang phủ định, khi chuyển từ phát ngôn xác tín sang phát ngôn hỏi, mệnh lệnh, tiền giả định vẫn giữ nguyên

và không bị khử bỏ ngay trong một phát ngôn Hàm ngôn không có đặc điểm như vậy

Ví dụ: "Tàu sẽ dừng ở ga tới" (dẫn theo Nguyễn Đức Dân)

Qua từ "dừng" ta biết được: Trước đó và hiện thời tàu đang chạy

Nếu đem phủ định câu trên: Tàu sẽ không dừng ở ga tới

hay chuyển thành câu nghi vấn: Tàu sẽ dừng ở ga tới phải không?

hoặc chuyển thành câu cầu khiến: Đề nghị tàu dừng ở ga tới!

thì tiền giả định Trước đó và hiện thời tàu đang chạy không thay đổi Nghĩa là không thể khử bỏ tiền giả định Trước đó và hiện thời tàu đang chạy trong cùng một phát ngôn Chẳng hạn, không thể nói: Tàu sẽ dừng ở ga tới nhưng tàu không chạy

Tuy nhiên hàm ngôn của phát ngôn trên không có đặc điểm này Cụ thể:

hàm ngôn "có thể xuống tàu" hoặc "mua bán những gì cần thiết" không còn

giữ nguyên khi chuyển câu nói thành câu phủ định hoặc sang câu hỏi, câu mệnh lệnh Hàm ngôn này cũng được loại bỏ dễ dàng nhờ kết tử đối nghịch

Trang 26

Chẳng hạn ta có thể nói: Tàu sẽ dừng ở ga tới nhưng tôi không xuống (hoặc không mua bán gì cả)

1.1.3 Phân loại hàm ngôn

Giáo sư Đỗ Hữu Châu chia hàm ngôn làm hai loại: Hàm ngôn ngữ nghĩa và hàm ngôn dụng học [4, tr 393]

1.1.3.1 Hàm ngôn ngữ nghĩa

Hàm ngôn ngữ nghĩa là hàm ngôn được suy ra từ nội dung ngữ nghĩa tường minh của phát ngôn Hàm ngôn ngữ nghĩa là các luận cứ hoặc kết luận không được nói ra một cách tường minh mà để cho người nghe rút ra dựa vào quan hệ lập luận Hàm ngôn ngữ nghĩa có cơ sở là các lẽ thường

Thứ nhất: Hàm ngôn ngữ nghĩa là các luận cứ hoặc kết luận không được nói ra một cách tường minh, mà để người nghe dựa vào quan hệ lập luận mà

rút ra Ví dụ phát ngôn sau: "- Ừ thì lấy! Con lớn thuốc, con bé thuốc thuốc lắm rồi sau cũng có lúc được đi ăn mày." (Nước mắt – Nam Cao) có hàm

ngôn ngữ nghĩa là "hết cả tiền", có thể dựng lại quan hệ lập luận như sau:

"thuốc lắm thì hết cả tiền, hết cả tiền mà không có việc thì phải đi ăn mày mới sống được" – Nam Cao đã bỏ đi luận cứ trung gian, luận cứ trung gian trở thành một hàm ngôn Bằng phát ngôn này, nhân vật Điền muốn trách vợ về việc chỉ lo đến thuốc cho con mặc dầu bệnh của chúng không đáng lo mà không nghĩ đến việc tiền nong cạn kiệt

Thứ hai là hàm ngôn ngữ nghĩa được suy ra từ một quan hệ lập luận đã cho một cách tường minh trong phát ngôn Ví dụ phát ngôn: "nếu trời đẹp thì tôi đi chơi" gắn với hàm ngôn "còn trời mưa thì tôi ở nhà"

Có thể xếp vào hàm ngôn ngữ nghĩa hiện tượng do các yếu tố tình thái có trường tác động khác nhau như phát ngôn: "Anh ta không yêu cô ta vì cô ta giàu" (dẫn theo Đỗ Hữu Châu) có các hàm ngôn sau:

- Hàm ngôn "Anh ta không yêu cô ta, lí do của sự không yêu là sự giàu có của cô ta" nếu trường tác động của từ "không" rơi vào vị ngữ "yêu"

Trang 27

- Hàm ngôn "Anh ta yêu cô ta, nhưng lí do yêu không phải là sự giàu có của cô ta mà là một lí do nào khác" nếu trường tác động "không" rơi vào bổ ngữ "vì cô ta giàu"

Nói một cách tổng quát, hàm ngôn ngữ nghĩa có cơ sở là các topos (các

lẽ thường) Do đó có thể gọi hàm ngôn ngữ nghĩa là hàm ngôn lập luận, cũng

có thể gọi là hàm ngôn mệnh đề vì nó căn cứ vào mệnh đề được diễn đạt một

cách tường minh trong phát ngôn Xét theo sự phân loại của Grice thì hàm ngôn ngữ nghĩa là những loại hàm ngôn được suy ra từ nghĩa tường minh của phát ngôn, "chúng dựa vào các topos, ít lệ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp trực tiếp"[4, tr 395], thường được biểu thị bằng một phương tiện ngôn ngữ đặc biệt

1.1.3.2 Hàm ngôn ngữ dụng

Hàm ngôn ngữ dụng là những hàm ngôn do sự vi phạm các quy tắc ngữ dụng (bao gồm các quy tắc chỉ xuất, chiếu vật, quy tắc lập luận, quy tắc chi phối các hành vi ngôn ngữ, quy tắc hội thoại, trong đó quan trọng nhất là phương châm và các nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice) mà có Theo các tác giả H.P Grice, George Yule thì hàm ngôn ngữ dụng (tương ứng với tên gọi hàm ý hội thoại) hình thành từ sự vi phạm các quy tắc ngữ dụng sẽ phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh giao tiếp

Đối tượng nghiên cứu của luận văn chủ yếu là hàm ngôn ngữ dụng Tuy nhiên cần lưu ý: Hàm ngôn là điều ngầm ẩn mà người nói muốn hướng tới người nghe hay điều người nghe suy ý được từ phát ngôn, nó là phần ý nghĩa được thông báo nhiều hơn các từ ngữ trong phát ngôn Nếu coi toàn bộ

ý nghĩa ngầm ẩn mà người nói muốn hướng đến người nghe và ý nghĩa ngầm

ẩn do người nghe suy ý từ phát ngôn đều thuộc phạm trù hàm ngôn thì phạm

vi nghiên cứu về đối tượng sẽ vô cùng lớn Bởi bất kì một cuộc giao tiếp nào, bất kì phát ngôn nào cũng có hàm ý kể cả những cuộc hội thoại tào lao chỉ với mục đích giải trí hoặc không có chủ đề Điều này có thể nói trái với thực tế giao tiếp bởi lẽ không phải bất cứ hoạt động giao tiếp nào người giao tiếp

Trang 28

hàm ngôn không có vai trò gì trong giao tiếp, tức là không phải là điều mà phát ngôn gửi gắm, cũng không phải là điều người nghe cần tiếp nhận và nhận

ra Đối tượng nghiên cứu và khảo sát mà luận văn hướng tới là những nội dung hàm ngôn nằm trong ý định truyền báo của người nói, người viết và được người đọc, người nghe suy ra và lĩnh hội

1.1.4 Các phương thức cấu tạo hàm ngôn

Mặc dù cách phân chia ý nghĩa hàm ẩn có khác nhau (Đỗ Hữu Châu chia nghĩa hàm ẩn thành hai loại: Tiền giả định và hàm ngôn; còn Hoàng Tuệ lại chia nghĩa phát ngôn theo quan điểm phân chia lưỡng phân của Ducrot: Hiển ngôn và hàm ngôn thuộc nghĩa phát ngôn, ẩn ý và tiền giả định nằm trong hàm ngôn) nhưng có thể thấy mọi sự phân chia đều chỉ là tương đối Hàm ngôn, hàm ý, ẩn ý chỉ là những tên gọi Chúng đều là những ý nghĩa ngầm ẩn nói chung Do đó khi nói tới cơ chế, hay rộng hơn là phương thức tạo ra nghĩa hàm ẩn cũng là những cơ chế hay những phương thức tạo ra nghĩa hàm ngôn

Theo Đỗ Hữu Châu, các ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên được tạo ra dựa vào tất cả các quy tắc ngữ dụng từ nguyên tắc chiếu vật và chỉ xuất, quy tắc chi phối các hành vi ngôn ngữ, quy tắc lập luận cho đến các quy tắc hội thoại Tuy nhiên, các quy tắc này nếu được áp dụng một cách chuẩn mực, chân thực thì chỉ cho ta những ý nghĩa tường minh trong giao tiếp Muốn tạo

ra được hàm ngôn, "người nói một mặt phải tôn trọng các quy tắc này và giả định là người nghe cũng biết và tôn trọng chúng, mặt khác lại cố ý vi phạm chúng và giả định rằng người nghe cũng ý thức được chỗ vi phạm đó của mình".[4, tr 377-378]

1.1.4.1 Sự vi phạm các quy tắc chiếu vật và chỉ xuất

Thuật ngữ chiếu vật được dịch từ chữ reference tiếng Anh Theo các nhà ngôn ngữ học, thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ phương tiện nhờ đó người nói phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này người nói nghĩ

Trang 29

rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến

Hình thức ngôn ngữ được dùng để chiếu vật là biểu thức chiếu vật Cái được biểu thị bởi biểu thức chiếu vật là sự vật – nghĩa chiếu vật Giữa biểu thức chiếu vật và nghĩa chiếu vật có quan hệ chiếu vật Quan hệ chiếu vật là

sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ trong diễn ngôn với sự vật hiện tượng đang được nói tới trong một ngữ cảnh nhất định

Ví dụ: " Mặt trời (1) của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời (2) của mẹ, con nằm trên lưng"

("Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ" - Nguyễn Khoa Điềm) Trong hai câu thơ trên có hai từ "Mặt trời" Cùng một biểu thức chiếu

vật "mặt trời" nhưng biểu thị những ý nghĩa chiếu vật khác nhau Mặt trời (1)

chỉ " thiên thể nóng sáng, ở xa trái đất, là nguồn chiếu sáng và sưởi ấm chủ

yếu cho trái đất Mặt trời (2) dùng để chỉ em bé người dân tộc Tà Ôi trong

cách gọi âu yếm, tin yêu của người mẹ Em bé là tất cả ý nghĩa cuộc đời của

mẹ, là nguồn động viên, tiếp thêm sức mạnh và niềm tin cho mẹ trong công cuộc lao động, sản xuất ra lúa gạo để tiếp tế nuôi bộ đội

Trong giao tiếp, người nói (người viết) có ý định chiếu vật khi dùng từ ngữ và phải có niềm tin chiếu vật, đích chiếu vật, kế hoạch chiếu vật và các hành động cụ thể tạo ra các biểu thức chiếu vật sao cho đạt hiệu quả Niềm tin chiếu vật thể hiện ở chỗ căn cứ vào hình ảnh tinh thần mà mình xây dựng được về người nghe, người đọc mà người nói, người viết cho rằng người nghe, người đọc qua biểu thức chiếu vật mà mình đưa ra trong phát ngôn, đối chiếu với ngữ cảnh sẽ xác định được nghĩa chiếu vật như mình mong muốn Tức là người tạo phát ngôn tin rằng người tiếp nhận có khả năng suy ý (to infer) từ biểu thức chiếu vật của mình mà xác định được nghĩa chiếu vật của

từ ngữ Hơn nữa, vì đích chiếu vật là làm cho người nghe biết cái mà mình nói trong phát ngôn là nói về cái gì, làm cho người nghe nắm được ý nghĩa

Trang 30

với khả năng suy ý của người nghe thì người nghe mới không bị quy chiếu nhầm sự vật - nghĩa chiếu vật Có thể dùng các phương thức chiếu vật như: dùng tên riêng, biểu thức miêu tả, chỉ xuất

Về phía người nghe, khi tham gia hoạt động giao tiếp, trước những từ ngữ của người nói cũng phải tin rằng người này có ý định chiếu vật, từ đó mà vận dụng các quy tắc chiếu vật để quy chiếu đúng và tìm ra ý nghĩa chiếu vật Giữa các thực thể và các từ không có mối liên hệ nên nhiệm vụ của người nghe là phải suy luận đúng thực thể mà người nói muốn chiếu vật

Thực tế sử dụng ngôn ngữ là không phải lúc nào các nhân vật giao tiếp cũng thực hiện hành động ngôn ngữ chiếu vật theo đúng quy tắc của nó Các yếu tố trong diễn ngôn mà người nói, người viết sử dụng có thể không có sự tương ứng với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong hoàn cảnh giao tiếp hoặc có sự nhầm lẫn của người nhận trong việc xác định nghĩa chiếu vật của biểu thức chiếu vật Trong những trường hợp như vậy, người nói, người nghe

Ở ví dụ trên, An và mẹ đã giải mã sai biểu thức chiếu vật bởi đã tách rời biểu thức chiếu vật với hoàn cảnh giao tiếp, dẫn đến tình trạng "ông nói

gà, bà nói vịt"

Trang 31

Hai là: Trong quá trình giao tiếp, đôi khi các nhân vật giao tiếp cố tình

vi phạm quy tắc chiếu vật để tạo ra hàm ngôn trong phát ngôn của mình nhằm đạt được mục đích giao tiếp Ví dụ:

"Đơn vị hành quân dã ngoại, dọc đường nghỉ tại nhà dân Chiến sĩ A mượn cụ chủ nhà con dao để chặt cây Vốn tính cẩu thả, khi dùng xong, con dao bị mẻ nham nhở nhiều chỗ, chiến sĩ A vẫn đưa trả cụ chủ nhà mà không mài lại Cụ chủ nhà cầm con dao, nheo mắt hỏi:

- Chú có trả nhầm không đấy?

- Dạ không ạ Vừa nãy cháu mượn con dao này mà

- Thế mà bây giờ chú trả cưa Không nhầm là gì?"

(Tiếu lâm Việt Nam hiện đại)

Cụ chủ nhà cố tình gọi tên sai sự vật Cụ không gọi là "dao" mà gọi là

"cưa" Chỉ cần với cách gọi tên sai đó của cụ, người nghe, người đọc hình dung được một cách hình ảnh về tình trạng con dao có lưỡi sứt mẻ nhiều chỗ như lưỡi cưa vậy, đồng thời chiến sĩ A sẽ thấy cụ chủ nhà tỏ ý không hài lòng một cách tế nhị, với hàm ý nhắc nhở, trách móc sự cẩu thả, thiếu trách nhiệm của người chiến sĩ trẻ

Cũng cần lưu ý: Trong tiếng Việt, hệ thống các từ xưng hô trong hội thoại hết sức phức tạp, tế nhị "Mỗi cặp từ xưng hô (ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai) đều tiền giả định những kiểu quan hệ vị thế hội thoại nhất định và việc sử dụng cặp từ xưng hô nào sẽ quy định quan hệ giao tiếp cần phải giữ trong suốt cuộc hội thoại." [4, tr 378] Khi một người trong số những người tham gia giao tiếp đột ngột chuyển cách xưng hô thông thường thì cách xưng hô mới bao giờ cũng ẩn chứa hàm ý về sự thay đổi mối quan hệ giữa những người tham gia giao tiếp Cách xưng hô hàm chứa một hàm ngôn nào đó

1.1.4.2 Sự vi phạm các quy tắc hội thoại

Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ Các nhà ngữ dụng học như C K Orechioni, Sacks, Scheglofs, P Grice đã

Trang 32

giành cho lí thuyết hội thoại sự quan tâm đặc biệt và họ đã tìm ra hệ thống những quy tắc điều khiển cấu trúc – chức năng hội thoại

Luận văn chỉ tập trung vào nguyên tắc cộng tác hội thoại, lí thuyết quan yếu và phép lịch sự để chỉ ra sự vi phạm các nguyên tắc hội thoại đó trong việc tạo ra những hàm ngôn trong giao tiếp

Thứ nhất là nguyên tắc cộng tác hội thoại (của Grice)

Nguyên tắc cộng tác hội thoại do Grice nêu ra từ năm 1976 và được phát biểu một cách tổng quát như sau: "Hãy làm cho phần đóng góp của anh chị vào cuộc hội thoại như nó được đòi hỏi ở giai đoạn của cuộc hội thoại mà

nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào" [4, tr 229] Nguyên tắc cộng tác hội thoại trên được Grice tách thành 4 phương châm nhỏ:

(1) Phương châm về lượng

a) Hãy làm cho đóng góp của anh chị có lượng tin đúng như đòi hỏi b) Đừng làm cho phần đóng góp của anh chị có lượng tin lớn hơn đòi hỏi (2) Phương châm về chất

Hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là:

a) Đừng nói điều gì mà anh tin là không đúng

b) Đừng nói điều gì mà anh không đủ bằng chứng

(3) Phương châm quan hệ

Hãy làm cho đóng góp của anh quan yếu, tức là hãy nói vào đề, nói đến điều dính líu đến câu chuyện đang diễn ra

(4) Phương châm cách thức

Dạng tổng quát của phương châm này là hãy nói cho rõ ràng, dễ hiểu và đặc biệt là:

a) Tránh lối nói tối nghĩa

b)Tránh lối nói mập mờ (có thể hiểu nhiều nghĩa )

c) Hãy nói ngắn gọn (tránh nói dài dòng)

d) Hãy nói có trật tự

Trang 33

Nguyên tắc cộng tác và các phương châm của Grice đúng cho những cuộc hội thoại chân thực, trong đó những người tham gia hội thoại thực sự muốn làm cho nó đạt hiệu quả một cách tường minh, trực tiếp Nếu như vậy, cuộc hội thoại sẽ đạt được tính cộng tác giữa những người tham gia hội thoại, đạt được tính quan yếu, có nghĩa là những điều được nói ra luôn bám sát vấn

đề được đưa ra trò chuyện, đạt được tính chân thành có nghĩa là người tham gia hội thoại mong muốn chân thành nó sẽ thành công, đạt yêu cầu về lượng tin và đạt yêu cầu triệt để Đồng thời cũng có nghĩa: những điều mà người tham gia hội thoại cho rằng cần phải biết thì được biết hết, những gì cần giải quyết thì giải quyết xong

Đối với những cuộc hội thoại chân thực, nguyên tắc và phương châm cộng tác của Grice có vẻ như không có gì đáng phải chú ý Nhưng trong hội thoại, không phải bao giờ chúng ta cũng trò chuyện với nhau một cách "thẳng thắn" những điều cần nói Gặp những trường hợp đó, nguyên tắc và phương châm cộng tác của Grice đóng vai trò quan trọng vì chúng sẽ có hiệu lực giải thích những ẩn ý sau câu chữ

Thứ hai, nguyên tắc về lí thuyết quan yếu (của Wilson và Serber)

Wilson và Sperbe cho rằng Grice đã chú ý quá nhiều đến tương tác bằng ngôn ngữ Các tác giả này nhận thấy không cần đến 4 phương châm, chỉ với 1 phương châm quan yếu sẽ đủ lí giải toàn bộ cơ chế của hoạt động giao tiếp Theo hai tác giả này, tất cả các phát ngôn đều có tính quan yếu Một phát ngôn có tính quan yếu là một phát ngôn có tác động đối với ngữ cảnh cho nên tác động đến ngữ cảnh là tác động đến người giao tiếp, trước hết là người tiếp nhận Nói cách khác, một phát ngôn càng quan yếu khi nó càng làm giàu thêm hoặc làm thay đổi càng nhiều hiểu biết và quan niệm của người nghe

Giữa cách hiểu về khái niệm quan yếu của Grice với Wilson và Serber

có sự khác nhau Quan yếu theo Grice là có liên quan, dính líu đến đề tài, đến đích, đến phương hướng cuộc hội thoại cho nên là tính chất của phát ngôn

Trang 34

trong quan niệm Wilson và Serber là tính chất của phát ngôn đó đối với ngữ cảnh, đối với người tiếp nhận, do đó ít bị lệ thuộc vào các phát ngôn khác

Thứ 3, nguyên tắc về phép lịch sự (của R Lakeff, G.Nleech, P Brown,

đó của quan hệ liên cá nhân, ta có hai phương diện lịch sự: Lịch sự quy ước của xã hội (lịch sự quy ước, lịch sự chuẩn mực) và lịch sự trong giao tiếp (lịch

sự chiến lược)

Đặc tính của lịch sự quy ước là có những phương tiện ít nhiều quy ước, bắt buộc khiến cho bất kì ai rơi vào một vị trí ở trục quan hệ dọc hay trục quan hệ ngang nào đó cũng phải sử dụng, nếu không sẽ bị xem là bất lịch sự hoặc vô lễ, hoặc hỗn láo, hoặc lạnh lùng, vô tình, khách sáo Phép lịch sự quy ước chia thành hai nhóm theo quan hệ dọc và quan hệ ngang Quan hệ dọc là trục quan hệ quyền thế, được phân chia thành nhiều bậc khác nhau từ cao xuống thấp Phép lịch sự này được gọi là phép lịch sự vị thế Quan hệ ngang là quan hệ thân cận – thân sơ cũng được chia thành cấp bậc khác nhau Phép lịch sự này được gọi là lịch sự thân sơ

Phương diện lịch sự thứ hai là lịch sự chiến lược: Lịch sự chiến lược liên quan tới những cái xảy ra trong cuộc hội thoại chứ không bị quy định của nguồn gốc xã hội như lịch sự quy ước Vì thế lịch sự chiến lược có thể hiểu là

Trang 35

lịch sự bao trùm tất cả các phương diện của việc sử dụng các hành vi ở lời và việc đề cập đến các đề tài sao cho có thể giữ gìn được tính chất hài hòa của

quan hệ liên cá nhân trong cuộc hội thoại Ví dụ: "– Bạn có thể mở nhỏ đài

đi một chút được không?" Điều được thỉnh cầu ở đây được rào đón và được

nói theo lối nói hàm ẩn để giữ gìn được mối quan hệ liên cá nhân trong cuộc hội thoại

Lưu ý: Brown và Levinson xây dựng lí thuyết về lịch sự chiến lược trên

cơ sở khái niệm thể diện "Thể diện nên hiểu là cảm giác về giá trị cá nhân của mỗi người, nó là hình ảnh về ta, về chính mình Cái hình ảnh này có thể bị tổn hại, được giữ gìn hay được đề cao trong tương tác" [33, tr 85]

Có hai chiến lược lịch sự: Lịch sự âm tính và lịch sự dương tính

Phép lịch sự âm tính hướng vào thể diện âm tính của người tiếp nhận

Nó có tính lảng tránh, nghĩa là tránh không dùng những hành vi đe dọa thể diện, hoặc có tính bù đắp, nghĩa là bù đắp lại những tổn hại về thể diện khi không thể tránh mà bắt buộc phải thực hiện một hành động đe dọa thể diện nào đấy Những biện pháp dịu hóa các hành động đe dọa thể diện như: Thay thế nó bằng một hành động khác (chẳng hạn hành động hỏi thay thế cho hành động sai khiến), biện pháp nói giảm; các lời nói ướm; các biểu thức rào đón; những biểu thức thanh minh; xin lỗi, giảm thiểu mức độ khẳng định

Phép lịch sự dương tính hướng vào thể diện dương tính của người tiếp nhận Nó thể hiện hành vi tôn vinh thể diện người nhận, tỏ ra quan tâm đến người nhận Ví dụ như khen, nói quá Lịch sự dương tính chẳng những tôn vinh thể diện người nhận mà còn tôn vinh thể diện dương tính của chính người nói, bởi tôn trọng người cũng là buộc người phải tôn trọng mình

Từ những lập luận trên có thể thấy: cuộc hội thoại vẫn gặp trở ngại nếu như quan hệ liên cá nhân bị va chạm (cho dù nội dung thông tin, đích, hướng

là đúng đắn, khoa học và cấp thiết) Muốn cuộc hội thoại thành công, bên cạnh nguyên tắc cộng tác không thể bỏ qua nguyên tắc lịch sự

Trang 36

Tuy nhiên trong giao tiếp, đôi khi vì lí do nào đó mà các nhân vật giao tiếp không tuân thủ các quy tắc hội thoại nhằm đạt được mục đích giao tiếp nhất định

Tóm lại, vi phạm những nguyên tắc cộng tác hội thoại, vi phạm nguyên tắc lịch sự, nguyên tắc tôn trọng thể diện là một trong những cách người tham gia hội thoại (người nói, người viết) thường sử dụng để tạo hàm ngôn

Cụ thể:

(1) Vi phạm phương châm về lượng: Người nói cố tình cung cấp một lượng thông tin thừa hay thiếu một cách bất thường Chính sự bất thường ấy tạo ra hàm ngôn

Ví dụ: Truyện cười "Lợn cưới, áo mới" Có thể tóm tắt câu chuyện như sau: Anh chàng hay khoe của vừa may được chiếc áo mới, đứng suốt từ sáng đến chiều chưa khoe được thì gặp một anh chàng khác cũng đang tìm cơ hội khoe con lợn cưới Cuộc đối đáp giữa họ thật độc đáo:

- Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua không?

- Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả!

Tình tiết gây cười bật ra ngay trong lời hỏi - đáp của hai nhân vật Mục đích của anh tìm lợn là hỏi để người ta giúp anh tìm con lợn Lẽ ra trong câu hỏi của anh phải có những thông tin mà người được hỏi cần biết

về con lợn (con lợn to hay nhỏ, màu lông ra sao, gầy béo thế nào ), anh lại hỏi về con lợn cưới Thông tin này là thừa với người được hỏi (Ai cần biết con lợn ấy anh để làm gì?) Anh được hỏi cũng chẳng vừa, lẽ ra chỉ cần thông báo điều mà người hỏi muốn biết (không nhìn thấy con lợn), anh lại cũng tranh thủ khoe luôn chiếc áo mới của mình “Chiếc áo mới” ở đây là một thông tin thừa Người hỏi đang cần biết thông tin về con lợn, chứ đâu cần biết chiếc áo anh đang mặc là mới hay cũ và anh mặc nó từ bao giờ!

Như thế gọi là “kẻ cắp bà già gặp nhau” Anh khoe của lại gặp đúng cái

anh cũng thích khoe của, mà anh kia khoe của còn tài hơn Anh tìm lợn dù

Trang 37

sao cũng chỉ cài thêm thông tin vào một cách khéo léo (con lợn ấy là con lợn cưới), từ đó khiến anh kia suy ra rằng nhà anh sắp có cỗ bàn to lắm Anh khoe áo thì nói huỵch toẹt: Từ lúc tôi mặc cái áo mới này thông tin của anh hoàn toàn không liên quan gì đến vấn đề mà anh kia quan tâm (con lợn bị sổng chuồng)

Qua cuộc hội thoại với lượng thông tin thừa, chúng ta nhận ra hàm ý sâu sắc của thiên truyện: nhân dân ta phê phán tính hay khoe khoang của con người, nhất là khoe khoang về của cải Tính khoe của biến con người thành những kẻ lố bịch, hợm hĩnh, trở thành đối tượng cho mọi người cười chê (2) Vi phạm phương châm về chất: Khi giao tiếp người ta cố tình nói ra những điều mâu thuẫn với lẽ thường hoặc không đúng với sự thật nhưng người nghe vẫn có thể lí giải được và tìm ra hàm ngôn của cách nói ấy

Ví dụ: Viên thuyền phó của một tàu Viễn Dương nọ có thói nát rượu Một hôm ông thuyền trưởng phải ghi vào nhật kí của tàu: "Hôm nay phó thuyền trưởng lại say rượu" Hôm sau, đến phiên trực của mình, viên thuyền phó đọc thấy câu này trong nhật kí của tàu giận lắm, liền viết vào

trang kế tiếp theo: "Hôm nay, thuyền trưởng không say rượu"

Sự thật là thuyền trưởng không hề uống rượu bao giờ Câu in đậm trên gợi liên tưởng thuyền trưởng là con người thường xuyên rượu chè, say xỉn

Phát ngôn này của viên thuyền phó có hàm ý "chơi xỏ" thuyền trưởng

(3) Vi phạm phương châm quan hệ: người nói cố tình nói quanh co, vòng vo, không nói thẳng vào vấn đề hoặc câu chuyện đang trao đổi

Ví dụ: Hà: - Ngày mai đi siêu thị đi!

Linh: - Còn bao nhiêu bài tập vẫn chưa làm xong đây này

Câu trả lời của Linh không ăn nhập với lời đề ngị của Hà (tức là Linh

đã vi phạm nguyên tắc giao tiếp) nhưng Hà vẫn tìm thấy câu trả lời thỏa đáng

ở Linh: Linh không có thời gian để đi siêu thị mà phải ở nhà để làm cho xong bài tập

Trang 38

(4) Vi phạm phương châm cách thức: Người nói cố ý không nói rõ ràng, rành mạch, nói loanh quanh, vòng vo, mập mờ và mơ hồ về nghĩa

Ví dụ: Một cách chỉ nhà

Bình đưa thiệp báo hỉ cho Liên

Liên ( nhìn tấm thiệp cưới): cư xá giáo sư thì nhiều nhà và nhiều phòng nên khó tìm lắm, anh chỉ cho rõ hơn để hôm nào tôi đến khỏi lầm phòng!

Bình: Cư xá giáo sư có ba tòa riêng biệt và mỗi tòa có ba tầng lầu, tôi

ở tòa bên trái, phòng số 5 Anh lấy cùi trỏ để bấm chuông sẽ có người ra mở

cửa, nếu cánh cửa mở không được rộng thì anh lấy chân đẩy mạnh mà bước vào

Liên: Anh chỉ như thế thì chắc thế nào tôi cũng tìm ra Nhưng tôi không hiểu sao lại lấy cùi trỏ để bấm chuông và dùng chân để đẩy cửa vào?

Bình: Vì anh đến mừng lễ cưới của tôi chẳng lẽ anh đi hai tay không?

Trong cách chỉ nhà của Bình có những tình tiết Bình nói nghe rất khó hiểu: người ta thường lấy ngón tay để bấm chuông, lấy bàn tay để đẩy cửa thì Bình lại nói một cách mập mờ rằng "Anh lấy cùi trỏ để bấm chuông sẽ có người ra mở cửa, nếu cánh cửa mở không được rộng thì anh lấy chân đẩy mạnh mà bước vào" Cách nói này của Bình đã vi phạm phương châm cách thức có hàm ý nhắc khéo đến món quà cưới – vật mà ai đó được mời đám cưới không nên quên

(5) Sự vi phạm nguyên tắc tôn trọng thể diện của người tham gia hội thoại: Thể hiện ở hai dạng : tích cực và tiêu cực Trong giao tiếp, người nói cố tình

vi phạm đến một trong hai dạng thể diện trên sẽ sinh ra hàm ngôn

Trang 39

vàng, phải biết quý thời gian! Như vậy quy tắc lập luận và sự vi phạm quy tắc này cũng là một phương thức tạo hàm ngôn

Lập luận là gì? "Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới".[4, tr 125] Lập luận là suy lí diễn ra trong đầu, trong quá trình suy nghĩ Trong lập luận có tiền đề (còn gọi là luận cứ), kết luận và quan hệ lập luận, tức là quan hệ trong suy lí, quan hệ giữa tiền đề và kết luận, cách lập luận hay cách rút ra kết luận từ tiền đề

Suy lí thường được đề cập là suy lí hình thức gồm có suy lí giản đơn và suy lí phức tạp (gọi là tam đoạn luận) Trong suy lí, có thể chỉ sử dụng một tiền đề, cũng có thể hơn một tiền đề Mối quan hệ giữa các tiền đề sẽ quyết định suy lí đó là đơn giản hay phức tạp

Trong một lập luận có các dấu hiệu hình thức mà nhờ chúng người nghe nhận ra được hướng lập luận và các đặc tính lập luận của các luận cứ trong một quan hệ lập luận Đó chính là những chỉ dẫn lập luận Chỉ dẫn lập luận gồm có: Tác tử lập luận, kết tử lập luận và các dấu hiệu giá trị học

Như vậy, trong một quan hệ lập luận ít nhất có hai phát ngôn Một phát ngôn luận cứ và một phát ngôn kết luận Việc cố tình không thể hiện yếu tố ngôn ngữ thuộc một trong hai thành phần của quan hệ lập luận mà câu vẫn có thể chấp nhận được là biện pháp hữu hiệu để tạo ra hàm ý Nói cách khác trong hội thoại, có khi người nói chỉ đưa ra luận cứ để người nghe suy ra kết luận hoặc đưa ra kết luận để người nghe suy ra luận cứ Cách làm này được coi là một phương thức biểu thị hàm ý Ví dụ:

A: - Đã bốn giờ rồi cơ à?

B: - Mới bốn giờ thôi à?

Hai phát ngôn A và B mới chỉ có tiền đề nhưng người nghe vẫn có thể suy ra kết luận: A có hàm ý: "nhanh lên" và B "Hãy từ từ, thong thả vì còn sớm" vì theo quan niệm của O.Ducrot, lẽ thường làm cơ sở lập luận ở ví dụ

Trang 40

trên là : còn ít thời gian thì người ta phải vội vã, nhanh chóng, còn nhiều thời gian thì không phải vội vã mà cứ thong thả, từ từ

Các tiền đề lôgic và các thao tác lôgic không phải là cơ sở lập luận trong giao tiếp bình thường Theo Oswald Ducrot, cơ sở của lập luận là các

"lẽ thường" (topos) "Lẽ thường là những chân lí thông thường có tính chất kinh nghiệm, không có tính chất tất yếu, bắt buộc như các tiền đề lôgic, mang đặc thù địa phương hay dân tộc, có tính chất khái quát mà nhờ chúng mà chúng ta xây dựng được những lập luận riêng" [4, tr 191]

Các lẽ thường có tính chất là được mọi người thừa nhận Nói như vậy không có nghĩa đó là những chân lí quốc tế, luôn đúng và bao giờ cũng hợp quy luật khách quan, lôgic Có những lẽ thường của dân tộc này và địa phương này nhưng lại kì lạ với các dân tộc khác và địa phương khác Chẳng hạn sự khác nhau trong quan niệm về lời mời giữa người miền Bắc và người miền Nam trong cùng cộng đồng đất Việt Thậm chí trong cùng một cộng đồng ngôn ngữ có những lẽ thường nhiều khi trái ngược nhau Chính vì thế

mà trong thực tế có những trường hợp cùng một đối tượng, cùng một phát ngôn với những chỉ dẫn lập luận giống nhau nhưng dẫn tới những kết luận khác nhau tùy theo lẽ thường được vận dụng

Ví dụ: (1) Thà rằng ăn nửa trái hồng

Còn hơn ăn cả chùm xung chát lè (Ca dao)

(2) Thà rằng ăn cả chùm xung Còn hơn ăn nửa trái hồng dở dang (Ca dao)

Trong ví dụ (1) lẽ thường "hồng ngọt, sung chát" được vận dụng dựa trên tiêu chí "chất lượng" Bởi vậy câu ca dao có hàm ý: Thà có ít, được hưởng ít nhưng "có chất lượng" còn hơn có nhiều, hưởng nhiều mà "kém chất lượng" Còn ở ví dụ (2) lẽ thường lại được xây dựng trên tiêu chí về "sự trọn vẹn hay không trọn vẹn" Thà có một cái gì đó dù không được tốt nhưng đầy

đủ, trọn vẹn còn hơn có thứ hay, tốt mà dang dở, không trọn vẹn Các kết luận

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Bảo, Hà Minh Đức (và nhiều tác giả). Giảng văn văn học Việt nam. Nhà xuất bản Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn văn học Việt nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
2. Dương Hữu Biên . Vài ghi nhận về lôgic và hàm ý. Ngôn ngữ số 1, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ghi nhận về lôgic và hàm ý
3. Dương Văn Binh. Hướng dạy học truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao ở trường THPT theo đặc trưng loại thể. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chí Phèo
4. Đỗ Hữu Châu. Đại cương ngôn ngữ học, tập 2. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 2
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
5. Đỗ Hữu Châu. Cơ sở ngữ dụng học,tập 1. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học,tập 1
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
6. Đỗ Hữu Châu. Giáo trình ngữ dụng học. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ dụng học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
7. Đỗ Hữu Châu. Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng. Nhà xuất bản Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
8. Đỗ Hữu Châu. Trường từ vựngngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm văn học . Ngôn ngữ số 3, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựngngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm văn học
9. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán. Đại cương ngôn ngữ học, tập1. Nhà xuất bản Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập1
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
10. Trần Đình Chung. Thiết kế bài giảng Ngữ văn, nâng cao, tập 1. Nhà xuất bản Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn, nâng cao, tập 1
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
11. Vũ Quốc Chung, Lê Hải Yến. Để tự học đạt được hiệu quả. Nhà xuất bản Đại học sư phạm, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để tự học đạt được hiệu quả
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
12. Mai Ngọc Chừ (chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán. Nhập môn ngôn ngữ học. Nhà xuất bản Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
13. Nguyễn Viết Chữ. Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
14. Đinh Văn Đức . Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt. Ngôn ngữ số 2, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt
15. Hà Minh Đức (sưu tầm và giới thiệu) . Nam Cao toàn tập, quyển 1. Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao toàn tập, quyển 1
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an Nhân dân
16. Hà Minh Đức (sưu tầm và giới thiệu) . Nam Cao toàn tập, quyển 2. Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao toàn tập, quyển 2
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an Nhân dân
17. Hà Minh Đức . Nam Cao đời văn và tác phẩm. Nhà xuất bản Văn học, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao đời văn và tác phẩm
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
18. Nguyễn Văn Đường (chủ biên). Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11, tập 1. Nhà xuất bản Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11, tập 1
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
19. Nguyễn Thiện Giáp. Dụng học Việt ngữ. Nhà xuất bản quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
20. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên). Dẫn luận ngôn ngữ học. Nhà xuất bản Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  tượng  nhân  vật  Bá - Phương pháp dạy học tác phẩm của Nam Cao trong trường trung học phổ thông từ việc khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn
nh tượng nhân vật Bá (Trang 118)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w