1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp dạy học tác phẩm Đàn Ghita của Lorca của Thanh Thảo ( Chương trình ngữ văn lớp 12 - tập 1 theo hướng tiếp cận thi pháp học

122 650 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 889,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm cần phải được giải mã bằng chính văn bản nghệ thuật; chính bằng quá trình trực tiếp thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của bài thơ, người dạy và người học sẽ khám phá được giá tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI THANH THU

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM “ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA” CỦA THANH THẢO (CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12 - TẬP1) THEO HƯỚNG

TIẾP CẬN THI PHÁP HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI THANH THU

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM “ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA” CỦA

THANH THẢO (CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12-TẬP 1)

THEO HƯỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Khánh Thành

HÀ NỘI – 2011

Trang 3

Các kí hiệu viết tắt đƣợc sử dụng trong luận văn

BKHXH: Ban khoa học tự nhiên BKHXH: Ban khoa học xã hội GV: Giáo viên

HS: Học sinh SGK: Sách giáo khoa THPT: Trung học phổ thông

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3

4 Mẫu khảo sát 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

1.1 Thi pháp học 6

1.1.1 Khái niệm thi pháp học 6

1.1.2 Các nội dung chủ yếu cuả thi pháp học hiện đại 9

1.2 Thi pháp học và vấn đề dạy – học văn học trong nhà trường Phổ thông ở Việt Nam 12

1.2.1 Thi pháp học và ý nghĩa của thi pháp học đối với việc đổi mới cách tiếp nhận, phân tích văn học ở Việt Nam 12

1.2.2 Dạy học văn theo hướng thi pháp học 14

Chương 2: TIẾP CẬN ĐÀN GHI TA CỦA LORCA DƯỚI GÓC ĐỘ TH PHÁP HỌC 26

2.1 Giới thiệu chung về đời thơ Thanh Thảo và tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca 26

2.1.1 Thanh Thảo: một đời thơ - một hành trình không ngừng nghỉ 26

2.1.2 Giới thiệu tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca 27

2.2 Những điểm cần lưu ý khi dạy học Đàn ghita của Lorca dưới góc độ thi pháp học 30

2.2.1 Đàn ghita của Lorca thể hiện những ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng siêu thực đối với thơ Thanh Thảo 30

2.2.2 Đàn ghi ta của Lorca tiêu biểu cho thi pháp hiện đại của Thanh Thảo sau năm 1975 47

2.2.3 Đàn ghi ta của Lorca dưới góc độ thi pháp học 55

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM ĐÀN GHI TA CỦA LORCA THEO HUỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP HỌC 75

3.1 Khảo sát thực trạng dạy học Đàn ghi ta của Lorca trong nhà trường phổ thông 75

3.1.1 Đối tượng khảo sát 75

3.1.2 Kết quả khảo sát 76

3.2 Các phương pháp, biện pháp thích hợp để dạy học tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca theo hướng tiếp cận thi pháp học 80

3.2.1 Đọc sáng tạo văn bản theo con đường tiếp cận thi pháp thi pháp học 80 3.2.2 Phương pháp gợi tìm bằng các câu hỏi câu hỏi nêu vấn đề khai thác tác

Trang 5

3.2.3 Phối hợp các biện pháp bình giảng, trao đổi thảo luận, vấn – đáp 84

3.2.4 Sử dụng Grap như một phương tiện hỗ trợ 85

3.3 Thực nghiệm sư phạm 86

3.3.1 Mục đích thực nghiệm 86

3.3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 87

3.3.3 Nội dung thực nghiệm 87

3.3.4 Kết quả thực nghiệm 107

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109

1 Kết luận 109

2 Khuyến nghị 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đối với giáo dục của nước ta hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học chính là chìa khoá thành công của công cuộc cải cách và chấn hưng giáo dục Thi pháp học với tư cách là một bộ môn khoa học hình thành vào đầu thế

kỷ XX ở Nga rồi dịch chuyển sang Âu – Mỹ và phổ biến khắp thế giới Hiện nay, có nhiều cách hiểu về Thi pháp học, có thể hiểu, thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào văn bản là chính Thi pháp học chú ý đến những yếu tố hình thức tác phẩm như: hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, kết cấu, cốt truyện, điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Nội dung trong tác

phẩm phải được giải mã từ hình thức, đó là “hình thức mang tính nội dung” (Trần Đình Sử) Chúng ta hiểu, “Phương pháp hình thức là phương pháp

phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật để rút ra

ý nghĩa thẩm mỹ của nó” (Nguyễn Văn Dân) Ở Việt Nam, dạy học theo

hướng tiếp cận thi pháp học đang ngày càng thu hút được nhiều sự quan tâm

Năm 2009, Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo) lần đầu tiên được đưa vào

giảng dạy trong nhà trường phổ thông Đây là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Thanh Thảo: giàu suy tư, mãnh liệt, phóng túng trong cảm xúc,

nhuốm màu sắc tượng trưng, siêu thực Trên báo Văn học & Tuổi trẻ số 8 tháng 8 năm 2008, Nguyễn Phượng có bài viết Vài suy nghĩ về việc đọc hiểu

bài thơ Đàn ghi ta của Lorca Tác giả đã chỉ ra nguyên nhân khiến giáo viên,

học sinh lúng túng khi đọc hiểu bài thơ này: Vì thực tế, phần lớn người đọc

nói chung chưa thực sự được trang bị những kiến thức mĩ học để đọc thơ hiện đại Đây là tác phẩm rất khó dạy đối với giáo viên và khó học đối với học

sinh SGK đã đưa Đàn ghi ta của Lorca vào chương trình để cả giáo viên và

Trang 7

học sinh cập nhật hơn với đời sống văn học hiện đại của đất nuớc Sau năm

1975, văn học Việt Nam đã xuất hiện một loạt các “hiện tượng” văn học mới

trong đó có Thanh Thảo với tác phẩm tiêu biểu là Đàn ghi ta của Lorca Với

một tác phẩm có nhiều yếu tố đổi mới về thi pháp như vậy thì lối dạy - học tiếp cận tác phẩm theo hướng xã hội học đơn thuần với cách dạy học áp đặt đọc – chép nội dung sẽ không thể đem lại hiệu quả Tác phẩm cần phải được giải mã bằng chính văn bản nghệ thuật; chính bằng quá trình trực tiếp thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của bài thơ, người dạy và người học sẽ khám phá được giá trị thực sự của tác phẩm và thấy được ý nghĩa của tác phẩm trong tiến trình hiện đại hóa thơ ca dân tộc

Với những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: Phương pháp

dạy học tác phẩm “Đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo (Chương trình ngữ văn lớp 12-tập 1) theo hướng tiếp cận thi pháp học cho luận văn thạc sĩ

của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

- Nguyễn Phượng đã có bài viết: “Vài suy nghĩ về việc đọc hiểu bài thơ

Đàn ghi ta của Lor-ca”( Văn học & Tuổi trẻ số 8 tháng 8 năm 2008) đã chỉ ra

nguyên nhân khiến giáo viên, học sinh lúng túng khi đọc hiểu bài thơ này,từ

đó đưa ra ý kiến cần phải hiểu được trường phái thơ tượng trưng, siêu thực trước khi đi vào tìm hiểu bài thơ

- Phan Huy Dũng trong Ngữ văn 12 – Những vấn đề thể loại và lịch sử văn

học đã khám phá bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca từ góc độ thể loại và dưới cái

Trang 8

- Nguyễn Ái Học trong cuốn Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học

văn, đã đưa ra định hướng dạy học văn bản Đàn ghi ta của Lor-ca gắn với

loại thể, loại hình để giải mã văn bản

- Luận văn thạc sĩ Hệ thống biểu tượng trong thơ và trường ca của Thanh

Thảo, tác giả Vũ Thị Minh Hạnh đã giải mã biểu tượng “đàn ghi ta” trong tác

phẩm Đàn ghi ta của Lor-ca

- Luận văn thạc sĩ Sử dụng câu hỏi trong dạy học văn bản Đàn ghi ta của

Lorca (Thanh Thảo) (Ngữ văn 12 – tập 1) của Thế Thị Nhung tập trung xây

dựng hệ thống câu hỏi để tiến hành dạy tác phẩm

- Luận văn thạc sĩ Dạy học bài thơ Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo

ở trường THPT của Nuyễn Thị Ngọc Trâm đã bước đầu nghiên cứu chung về

việc dạy và học tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca ở trường THPT

Các công trình trên là nguồn tài liệu quý báu đối với chúng tôi, nhưng chưa có công trình nào xây dựng một cách có hệ thống phương pháp dạy học

tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo) theo huớng tiếp cận thi pháp

học

3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu về dạy học Văn học theo huớng tiếp cận thi pháp học

- Tìm hiểu thực trạng giảng dạy và học tập tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca

của Thanh Thảo (Chương trình ngữ văn lớp 12-tập 1) ở nhà trường phổ thông

hiện nay

- Đề xuất các phương pháp và biện pháp thích hợp để dạy học tác phẩm

Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo (Chương trình ngữ văn lớp 12-tập 1)

theo hướng tiếp cận thi pháp học

- Thiết kế giáo án thực nghiệm dạy học tác Đàn ghi ta của Lorca của

Thanh Thảo (Chương trình ngữ văn lớp 12-tập 1) theo hướng tiếp cận thi pháp học

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luâ ̣n văn , chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp xử lí thông tin

- Phương pháp khảo sát ,thực nghiê ̣m, thống kê, phân tích

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở Đầu và Kết Luận, chúng tôi dự kiến cấu trúc của luận văn gồm các chương:

Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Thi pháp học

1.1.1 Khái niệm thi pháp học

1.1.2 Các nội dung chủ yếu của thi pháp học hiện đại

1.2 Thi pháp học và vấn đề dạy – học văn học trong nhà trường Phổ thông ở Việt Nam

1.2.1 Thi pháp học và ý nghĩa của thi pháp học đối với việc đổi mới cách tiếp nhận, phân tích văn học ở Việt Nam

1.2.2 Dạy học văn theo hướng thi pháp học

Chương 2: TIẾP CẬN ĐÀN GHI TA CỦA LORCA DƯỚI GÓC ĐỘ THI PHÁP HỌC

2.1 Giới thiệu chung về đời thơ Thanh Thảo và tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca

2.1.1 Thanh Thảo: một đời thơ- một hành trình không ngừng nghỉ

Trang 10

2.1.2 Giới thiệu tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca

2.2 Những điểm cần lưu ý khi dạy học Đàn ghita của Lorca dưới góc độ thi pháp học

2.2.1 Đàn ghita của Lorca thể hiện những ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng siêu thực đối với thơ Thanh Thảo

2.2.2 Đàn ghi ta của Lorca tiêu biểu cho thi pháp hiện đại của Thanh Thảo sau năm 1975

2.2.3 Đàn ghi ta của Lorca dưới góc độ thi pháp học

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM ĐÀN GHI TA CỦA LORCA THEO HUỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP HỌC

3.1 Khảo sa ́ t thực tra ̣ng da ̣y ho ̣c Đàn ghi ta của Lorca trong nhà trường phổ thông

3.1.1 Đối tượng khảo sát

3.1.2 Kết qua ̉ khảo sát

3.1.3 Phân ti ́ch kết quả khảo sát

3.2 Các phương pháp, biện pháp thích hợp để dạy học tác phẩm Đàn ghi

ta của Lorca theo hướng tiếp cận thi pháp học

3.2.1 Đọc sáng tạo văn bản theo con đường tiếp cận thi pháp thi pháp học 3.2.2 Phương pháp gợi tìm bằng các câu hỏi câu hỏi nêu vấn đề khai thác tác phẩm từ hướng tiếp cận thi pháp học

3.2.3 Phối hợp các biện pháp bình giảng, trao đổi thảo luận, vấn – đáp

3.2.4 Sử dụng Grap như một phương tiện hỗ trợ

3.3 Thực nghiệm sư phạm

3.3.1 Mục đích thực nghiệm

3.3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm

3.3.3 Nội dung thực nghiệm

3.3.4 Kết quả thực nghiệm

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Thi pháp học

1.1.1 Khái niệm thi pháp học

Thi pháp học là bộ môn cổ xưa nhất của ngành nghiên cứu văn học Khái

niệm thi pháp học xuất hiện đầu tiên với công trình Nghệ thuật thơ ca của

Aristole Trong nguyên gốc tiếng Hy Lạp, “Poietike” nghĩa là “Kĩ nghệ chế tác”, tương đương với từ “Poietite” Như vậy, khái niệm của Aristole bao hàm hai nghĩa: “thơ” và “kĩ nghệ” “Poietike`” phái sính từ động từ “poiein” (chế tác), do đó, thi nhân là người chế tác (poietès) Thơ là thành phẩm chế tác (poièma) “Tekhne`” có nguồn gốc từ từ căn “tekhe” của ngôn ngữ Ấn – Âu, nghĩa gốc là “chế phẩm đồ gỗ” hoặc công nghệ mộc Thuật ngữ này vừa chỉ

kĩ thuật, kĩ nghệ, vừa chỉ nghệ thuật và công nghệ

Người Hy Lạp cổ không phân biệt rạch ròi hai hàm nghĩa đó Theo họ, thi nhân làm thơ cũng giống như thợ giày làm giày, đều dùng kĩ nghệ của mình

để “chế tác” ra vật dụng mà xã hội cần Vì vậy, họ không dung từ “graphen” (viết) mà dùng từ “poiein” (chế tác) để chỉ công việc làm thơ

Trong nền văn hóa phương Tây, thuật ngữ thi pháp học theo Aristole là chỉ lí luận văn học (do đương thời chưa có tiểu thuyết, điện ảnh,…do đó, lí luận văn học chỉ có nghĩa hẹp mà thôi); đến trung thế kỉ, thuật ngữ này chỉ kĩ nghệ, kĩ xảo sáng tác thơ ca; từ thế kỉ XIX trở đi, do sự nỗ lực của các nhà hình thức chủ nghĩa, thuật ngữ này được dùng như là lí luận văn học với nghĩa rộng, nó bao gồm sự tổng kết lí luận và nghiên cứu tất cả các thể tài văn học

W.Dilthey trong bài viết Sức mạnh của tưởng tượng thi ca - Những khởi

nguyên của thi pháp học đã rất chính xác khi nói: “Thi pháp học do Aristole lập ra trong suốt các thế kỉ của đời sống có ý thức của nghệ thuật thơ ca mãi

Trang 12

cho đến nửa sau của thế kỉ XVIII đã trở thành công cụ của các nhà thơ trong sáng tác của họ và là thước đo nghiệt ngã của nhà phê bình cho đến Boileau, Lessing Nó cũng là sách giáo khoa có hiệu quả nhất của ngữ văn học trong việc diễn giải, phê bình và đánh giá thơ ca Hy Lạp Cùng vốn ngữ pháp học,

tu từ học và logic học, nó là một bộ phận tạo nên học vấn cao cấp” [7, tr

145] Thi pháp học thực sự đã chỉ đạo lại ngành văn học và kĩ thuật tu từ thay thế nó bằng phê bình mĩ học xuất phát từ sự phân tích hình thức”

Ở phương Đông, nếu hiểu thi pháp như một nghệ thuật thì Văn tâm điêu

long của Lưu Hiệp là công trình thi pháp học sớm nhất bởi nó dạy cho người

ta những tinh túy của phép làm văn

Nhìn chung, thi pháp học cổ đại, trung đại đều thiên về nghiên cứu thể loại, ngôn ngữ để chỉ đạo sáng tác, đề xuất các lời khuyên Thi pháp được xem là hiện tượng bất biến và cấu trúc văn học được xét theo nguyên tắc nguyên tử luận – nghệ thuật do các nguyên tố nhỏ nhất liên kết với nhau mà thành, tác phẩm là tổng thể các nguyên tố riêng lẻ Nguyên tắc thi pháp được hiểu thành quy phạm

Đến nửa cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, thi pháp học hiện đại chính thức được dấy lên, hàng loạt các trường phái thi pháp học hiện đại theo sau xuất hiện

Như vây có thể thấy có rất nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau về thi pháp học Có thể định nghĩa một cách tổng quát như nhà phê bình văn học Nga

V.Girmunxki: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi ca (văn học) với tư

cách là nghệ thuật”

Trần Đình Sử cũng đưa ra định nghĩa: “Thi pháp học là bộ môn khoa học

có nhiệm vụ đặc thù trong lí luận văn học, phê bình văn học và lịch sử văn học Khi phê bình, phân tích tác phẩm văn học, nó hướng tới khám phá sự vận động, tiến hóa của các phương thức, phương tiện và hình thức nghệ

Trang 13

thuật Khi nghiên cứu lí luận văn học, nó tập trung khám phá các cấu trúc thể hiện bản chất nghệ thuật của văn học” [26, tr 5]

Cách hiểu thi pháp học là bộ môn nghiên cứu nghệ thuật thơ ca vốn có từ rất xa xƣa, ngày nay vẫn tồn tại, nhƣng tỏ ra quá hạn hẹp, bởi nó chỉ là một thể loại văn học và cũng không thể hiểu thi pháp theo một cách hạn hẹp chỉ đóng khung trong phạm vi ngôn ngữ học nhƣ R.Jakobsm, bởi văn học nghệ thuật còn là một hiện tƣợng “siêu ngôn ngữ ”

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp tức hệ thống các phương thức biểu hiện đời sống bằng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành của thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ, chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật

Xét các chỉnh thể văn học mang thi pháp thì có thể nói tới thi pháp một tác phẩm cụ thể, thi pháp một trào lưu, thi pháp một thời đại, một thời kì lịch

sử

Xét các phương tiện hình thức nghệ thuật đã được chia tách có thể nói tới thi pháp học của thể loại, thi pháp học của phương pháp, thi pháp kết cấu, thi pháp không gian, thời gian, thi pháp ngôn ngữ…

Xét về cách tiếp cận, thi pháp học có ba phạm vi nghiên cứu: thi pháp học đại cương (còn gọi là thi pháp học lí thuyết, thi pháp học hệ thống hóa hay thi pháp học vĩ mô), thi pháp học chuyên biệt (hay còn gọi là thi pháp học miêu tả vi mô) và thi pháp học lịch sử”[10, tr 304]

GS Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại lại đƣa ra quan niệm: “Thi

pháp là phương pháp tiếp cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học

từ các hình thức thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật, để tìm hiểu các ý nghĩa biểu hiện hoặc chìm ẩn của tác phẩm Cấp độ nghiên cứu thi pháp học các

Trang 14

hình thức yêu cầu tác phẩm như một chỉnh thể, ở đó các yếu tố ngôn từ liên kết chặt chẽ với nhau, họp thành một hệ thống, để biểu đạt ý tưởng, tình cảm,

tư duy, nhân sinh quan…tức là cái đẹp của thế giới, con người Điểm xuất phát của thi pháp là coi tác phẩm văn học là văn bản ngôn từ Nếu mĩ học là

lí luận của các nghệ thuật thì thi pháp là mĩ học của văn học, là lí luận văn học: vậy thi pháp học gắn chặt với ngôn ngữ học và mĩ học” [14, tr 10]

Thi pháp học nghiên cứu các thủ pháp, kĩ thuật văn học nhưng nó không đơn giản là “ kĩ thuật văn học” Nó đi sâu vào hoạt động sáng tạo, tư duy nghệ thuật của chủ thể, cho nên có thể xem xét nó như là một lĩnh vực gắn với mĩ học văn học, triết học nghệ thuật

1.1.2 Các nội dung chủ yếu cuả thi pháp học hiện đại

Thi pháp học truyền thống (cổ đại – trung đại) mang nặng tính qui phạm, chủ yếu nghiêng về nghiên cứu thể loại, ngôn từ để chỉ đạo sáng tác, đề xuất các lời khuyên Bước sang thế kỉ XIII – XIX, với sự ra đời của chủ nghĩa lãng mạn, lí luận văn học hiện đại bắt đầu xuất hiện, người ta đòi hỏi sức sáng tạo, giải phóng cá tính và sức tưởng tượng chống lại mô phỏng và những nguyên tắc, quy phạm ràng buộc nhà văn Thi pháp học truyền thống không được tôn sùng như trước Tuy nhiên, cũng phải tới đầu thế kỉ XX, với ảnh hưởng của quan niệm hệ thống trong ngôn ngữ học cấu trúc của F.de Saussure, thi pháp học đã có một đổi thay căn bản trở thành thi pháp học hiện đại Từ trường phái hình thức Nga đến trường phái phê bình Anh- Mỹ đầu thế kỉ, chuyển sang trường phái cấu trúc - kí hiệu học Pháp, hiện tượng học Đức và trường phái thi học lịch sử theo quan niệm Mac-xit thời Nga Xô Viết, thi pháp học đã được xác lập như một hệ thống cách tiếp cận đối với văn học

- Thứ nhất, văn học được xem như một sáng tác bằng chất liệu, có đời sống lịch sử độc lập với tác giả

Trang 15

Quan điểm này đề cập tới tính bản thể của văn học, cũng tức là tính độc lập, tự chủ của nó so với các quan hệ đời sống và với các hình thái ý thức xã hội khác Trước đây, lý luận văn học chủ yếu chỉ tập trung xem xét văn học trong mối quan hệ phụ thuộc với hiện thực, với văn hóa, nhận thức, tôn giáo, chính trị… Cách xem xét này làm cho tính đặc thù của nghệ thuật vẫn chưa được thực sự quan tâm Để phản ứng lại với cách tiếp cận đó, một số nhà hình thức chủ nghĩa, cấu trúc chủ nghĩa đã nêu ra những ý kiến đòi hỏi cách tiếp

cận văn học nghệ thuật như một nghệ thuật Jakobson cho rằng: “Đối tượng

của khoa học về văn học là tính văn học chứ không phải văn học”,

V.Girmunxki cũng xác định: “Đối tượng của thi pháp học là văn học với tư

cách là một nghệ thuật”

Các quan niệm này có khác nhau nhưng nhìn chung đều xem văn học như một nghệ thuật trong sự tồn tại của nó với những qui luật riêng Đó là một yêu cầu chính đáng và là một cơ sở để đổi mới cách tiếp cận Vinogrado cũng

viết: “Thi pháp học là một khoa học nghiên cứu các hình thức, các dạng thức,

các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm sáng tác các ngôn từ, các kiểu cấu trúc, các thể loại tác phẩm”, hay như Tz Todorov: “Thi pháp học cấu trúc quan tâm không phải là các tác phẩm văn học thực tế, mà là một thuộc tính trừu tượng, các thuộc tính làm thành dấu hiệu của sự thực văn học,- thuộc tính về tính văn học” Thậm chí các nhà phê bình mới “đề xuất phương pháp phê bình khách quan mà văn bản là đối tượng tự nó đầy đủ”[26, tr 10]

- Thứ hai, văn học là một hệ thống kí hiệu, có bản chất biểu trưng, được tổ chức một cách đặc biệt được biểu hiện một nội dung nghệ thuật đặc thù

Đây là một quan điểm xem văn học là một hệ thống kí hiệu, có bản chất biểu trưng, được tổ chức một cách đặc biệt để biểu hiện một nội dung nghệ thuật đặc thù, đề cập tới một cách tiếp cận mới hoàn toàn chưa có trong

Trang 16

truyền thống Lý thuyết hệ thống đã chứng minh bản chất sự vật do kết quả tác động qua lại của các yếu tố của nó, chứ không phải do số cộng giản đơn của các yếu tố đó Phẩm chất sự việc là một thuộc tính siêu tổng cộng Hệ thống là một sự thống nhất cụ thể của các yếu tố, trong đó mỗi cấu trúc hình thái có một kiểu hoạt động chức năng và kiểu phát triển đặc trƣng cụ thể hơn, một hệ thống đƣợc xây dựng trên sự kết hợp của ba nhân tố- yếu tố, quan hệ qua lại, tính chỉnh thể Vì vậy, sẽ là giản lƣợc nếu đồng nhất hệ thống, cấu trúc của văn học với khái niệm hệ thống nói chung đƣợc vận dụng trong toán học, sinh học Bởi vì đó là hệ thống cấu trúc khách thể, vật thể Là một hiện tƣợng của đời sống tinh thần, hệ thống thi pháp, là một bộ phận của hệ thống văn hóa biểu hiện Văn học là siêu ngôn ngữ của văn hóa Xét về mặt này, văn học là một hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật, có biểu trƣng, kí hiệu riêng, có nguyên tắc tổ chức, kết hợp riêng mà nền tẳng của nó là một kiểu mô hình hóa hiện thực đặc thù, một hệ thống quan niệm về thực tại E.Cassirer cũng đã

có cách hiểu biện chứng về mối quan hệ kí hiệu và nội dung tinh thần: “Trong

bắt cứ kí hiệu ngôn ngữ nào, trong bất cứ hình tượng thần thoại hay nghệ thuật nào , cái nội dung tinh thần mà về bản chất đã vượt qua toàn bộ lĩnh vực cảm giác đều được phiên dịch thành cái có thể nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy” Điều đó cho thấy, muốn hiểu các hình thức, hình tƣợng thì cần phải

giải mã để tìm thấy bản chất tinh thần của chúng, tính nội dung của chúng Iu.Lootman cũng xác nhận quan niệm trong nghệ thuật luôn luôn là mô hình, bởi vì quan niệm đó sáng tạo ra hình tƣợng và hiện thực Còn Mucarôpxki

xem “Tác phẩm là kí hiệu, tức là cái biểu đạt, hình tượng và ý nghĩa là cái

được biểu đạt, là khách thể thẩm mỹ chỉ bộc lộ trong quan hệ với người đọc”[26, tr 13]

Trang 17

- Thứ ba, văn học với tư cách là một hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn hóa, được xác lập bởi một hệ thống tư duy, bắt đầu từ quan niệm về văn học, quan niệm thế giới và ngôn ngữ

Đây là một sự cụ thể hóa hai quan niệm trên Việc nghiên cứu hệ thống thi pháp không thể tách rời với việc khám phá mô hình về con người, mô hình

về thế giới, không gian, thời gian… Không phải ngẫu nhiên mà trong thi pháp học hiện đại, phạm trù quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nghiên cứu Chẳng hạn, trong công trình

Những vấn đề thi pháp Dostoievski, Bakhtin đặt vấn đề về nghiên cứu nhà

văn Dostoievski, tức là nghiên cứu chủ thể của hệ thống nghệ thuật này Để làm được điều đó, ông bắt đầu khám phá từ “Cái nhìn nghệ thuật của tác giả”

Đồng thời có một đặc điểm khác là: nếu là thi pháp học truyền thống thường được đúc kết theo phương thức diễn dịch như kiểu văn học mô phỏng hiện thực …thì thi pháp học hiện đại chủ yếu thực hiên theo phương thức quy nạp, xuất phát từ các sự thực của biểu hiện Thi pháp học hiện đại dựa vào việc phát hiện các yếu tố lặp lại và không lặp lại có quy luật, xem xét cấu trúc bất biến của chúng, để xác lập các nguyên tắc nghệ thuật, đồng thời dựa vào các mã văn hóa chung của vùng và thời kí lịch sử mà giải thích nội dung quan niệm của chúng

1.2 Thi pháp học và vấn đề dạy – học văn học trong nhà trường Phổ thông ở Việt Nam

1.2.1 Thi pháp học và ý nghĩa của thi pháp học đối với việc đổi mới cách tiếp nhận, phân tích văn học ở Việt Nam

Thi pháp học đã bắt đầu được biết đến ở Việt Nam vào đầu những năm 60

của thế kỉ trước với bản dịch Thi pháp học của Aristole dịch qua bản tiếng Nga với tên Nghệ thuật thơ ca

Trang 18

Thi pháp học hiện đại vào Viêt Nam từ hai nguồn: nguồn Nga – Xô Viết và nguồn phương Tây Nguyễn Văn Trung là người sớm nhất nghiên

cứu văn học theo tinh thần thi pháp học trong bài “Đặt lại vấn đề Truyện

Kiều hay phê bình văn học”

Vào đầu những năm 80, khi giáo sư Trần Đình Sử chính thức giới thiệu thi pháp học hiện đại vào Việt Nam, nhiều người còn khá ngỡ ngàng, thậm chí có nhiều ý kiến hoài nghi Trần Đình Sử với một loạt công trình nghiên

cứu như Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi pháp văn học Trung đại Việt Nam, Thi

pháp Truyện Kiều… đã thực sự đưa thi pháp học vào đời sống phê bình văn

học Việt Nam, xua tan đi mọi nghi ngờ, thậm chí định kiến của nhiều người trước lí thuyết mới mẻ này

Sau đó, một loạt các công trình nghiên cứu thi pháp học ra đời của Nguyễn Kim Đính, Đỗ Lai Thúy, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Phan Cảnh…đã thực

sự khẳng định vai trò to lớn của thi pháp học trong việc đổi mới cách tiếp nhận, phê bình văn học ở Việt Nam, khai thông những bế tắc trong nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam về vấn đề hình thức Khi cách phân tích, phê bình chỉ hướng vào nội dung không chú ý đến hình thức, tách rời nội dung vào hình thức đã bộc lộ nhiều hạn chế

Thi pháp học đã đặt lại vấn đề hình thức, “cái lí” của hình thức, mối quan

hệ biện chứng qua lại của nội dung và hình thức Nhờ có một hệ thống khái niệm đã được hình thức hóa, một hệ thống lí luận phong phú toàn diện, thi pháp học đã trả lời được một loạt những câu hỏi về văn bản, hình thức hóa được những nộ dung vốn trừu tượng, khám phá được những mối quan hệ nội tại trong chiều sâu văn bản Tiếp cận bằng thi pháp học – một cách tiếp cận tổng thể, coi tác phẩm như một cấu trúc nghệ thuật, một hệ thống các thủ pháp nghệ thuật đã góp phần đóng góp quan trọng cho sự đổi mới nền phê

Trang 19

bình, lí luận văn học Việt Nam, đưa nền lí luận văn học nước nhà bước vào quỹ đạo hiện đại hóa, bắt kịp sự phát triển hiện đại của thế giới Đặc biệt, khi văn học Việt Nam bước vào thời kì đổi mới xuất hiện một loạt hiện tượng các tác giả như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh với cách viết mới mẻ thì thi pháp học thực sự là chìa khóa để các nhà phê bình giải mã các hiện tượng văn học này Đúng như

Đỗ Lai Thúy đã nhận định: “Thi pháp học là phương pháp đầu tiên chứng

minh cho thành quả sự thay đổi hệ hình (Paradigme) trong nghiên cứu văn học Nó mở ra một lối thoát cho phê bình văn học Việt Nam đang có nguy cơ đâm vào ngõ cụt”

Thi pháp học đã nhanh chóng chứng tỏ được ý nghĩa to lớn của mình Vì

vậy, đã có hàng loạt các công trình đi theo hướng thi pháp học: Thi pháp nhân

vật của Victor Hugo ( dưới ánh sáng quan điểm caranalesque của Bakhtin)

của Bửu Nam (1991); Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi

pháp thơ Huy Cận của Trần Khánh Thành (2002), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian của Nguyễn Xuân Đức (2003), Thi pháp thơ Tản Đà của

Nguyễn Ái Học (2007)…

Có thể thấy thi pháp học mặc dù mới được áp dụng nhưng đã nhanh chóng khẳng định được những ưu điểm và ý nghĩa to lớn của mình trong việc hiện đại hóa nền lí luận văn học nước nhà

1.2.2 Dạy học văn theo hướng thi pháp học

1.2.2.1 Văn học trong nhà trường và vấn đề đổi mới dạy - học văn trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam

Đời sống văn học đã có những thay đổi to lớn từ sau Đổi mới với sự ra đời của những tác phẩm mới, sự thay đổi cách tiếp cận và lí luận văn học theo hướng hiện đại hóa với sự ảnh hưởng sâu rộng của thi pháp học nói riêng và các lí thuyết hiện đại khác nói chung đang đặt ra những yêu cầu đổi mới đối

Trang 20

với việc dạy – học văn trong nhà trường phổ thông năm 2008 – 2009 với việc

thay đổi sách giáo khoa đã xuất hiện của một số tác phẩm mới như: Đàn ghi

ta của Lorca của Thanh Thảo, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh

Châu, Một người Hà Nội của Nguyễn Khải…Điều đó đặt ra nhiều nhiều vấn

đề mới cho cách dạy – học văn trong nhà trường

Đặc biệt là khi cả xã hội và bản thân giáo viên, học sinh đã nhận thấy cách dạy học tồn tại suốt bao năm trong nhà trường phổ thông đang tồn tại một số vấn đề:

- Tách rời việc dạy – học văn học với đối tượng người học trong cách dạy

“Lấy thầy làm trung tâm”, thầy đọc trò chép thụ động khiến người học nhàm chám, mất hứng thú với môn học

- Hạn chế trong việc tách rời kiến thức với phương pháp, hiểu biết với kĩ năng cùng khuynh hướng hình thức trong giảng dạy văn chương

- Coi tác phẩm văn chương như một hiện tượng tĩnh tại

- Đặc biệt là cách dạy học coi tác phẩm văn chương như một hiện tượng lịch sử - xã hội với lối dạy học theo ý, day học văn chương theo lối minh họa, biệt lập ngôn ngữ với văn chương, phân tích nội dung theo lối suy diễn, xa rời

cấu trúc ngôn ngữ văn bản và nghệ thuật tác phẩm “Văn học vốn là nghệ

thuật thiêng liêng đối với đời sống tâm hồn con người, có vai trò “dẫn đường” , “hướng đạo”, “định hướng lí tưởng nhân văn”, “tư duy về các cái khả nhiên”… bỗng trở thành rẻ rúng, bị hạ thấp thành công cụ minh họa”

Trang 21

Từ những năm 1980, giáo sư Nguyễn Đức Nam đã lên tiếng “trả lại văn chương lại cho nhà trường” cùng những nỗ lực của giáo sư Trần Đình Sử và rất nhiều thầy giáo mang tinh thần tiến bộ khác đã đưa thi pháp học vào nhà trường Việt Nam Thi pháp học khước từ một lối dạy học văn lạc hậu, chỉ chú trọng nội dung – tư tưởng, biến học sinh thành những cỗ máy sao chép ý thầy

Dạy học văn theo hướng tiếp cận thi pháp học là dạy học văn bám sát

vào văn bản, chủ ý đến những yếu tố nghệ thuật của tác phẩm như : hệ thống hình tượng, không gian, thời gian, kết cấu, cốt truyện, điểm nhìn, ngôn ngữ… Nội dung trong tác phẩm phải được giải mã từ hình thức, phân tích các khía cạnh hình thức để rút ra ý nghúa thẩm mĩ của tác phẩm

1.2.2.3 Những nguyên tắc khi tiến hành triển khai dạy học theo hướng tiếp cận thi pháp học

* Nguyên tắc thứ nhất là: dạy học tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học phải đi từ văn bản

Hiểu biết ngoài văn bản quan trọng nhưng vẫn không thay thế cho việc khám phá bản thân văn bản Dạy học theo hướng tiếp cận văn bản giúp người đọc, người nghiên cứu, giảng dạy không thoát li văn bản vốn là đề án tiếp nhận mà nhà văn muốn gửi đến bạn đọc Chú trọng văn bản nhưng nhận thức

về văn bản của tác phẩm cũng như quan điểm và phương pháp tiếp cận văn bản thường không thống nhất và đồng nhất trong giới nghiên cứu, phê bình và giảng dạy văn học

Văn bản là thông điệp, là đề án nhà văn gửi đến bạn đọc Đặc trưng cơ bản của văn bản nghệ thuật là thông tin thẩm mỹ Nhà văn gửi đến cuộc đời niềm xúc động mãnh liệt nhất, những rung động tha thiết nhất về cuộc sống và con người Đây là điểm mấu chốt phân biệt phương pháp tiếp cận văn học đích thực với lối phân tích xã hội học tầm thường, biến tác phẩm văn chương thành một đề cương giáo huấn, một sơ đồ xã hội học hay một hiện tượng lịch sử cằn

Trang 22

cỗi, một phương tiện minh họa giản đơn về bức tranh xã hội

Nói đến tác phẩm văn chương là nói đến một văn bản trong chỉnh thể Tác phẩm văn chương được cấu tạo bằng ngôn ngữ nghệ thuật nhằm xây dựng nên một thế giới nghệ thuật riêng được kết cấu một cách chặt chẽ trong những quan hệ giữa nội dung và hình thức, giữa bộ phận và tồng thể, giữa yếu tồ hữu hình và vô hình, giữa phản ánh và biểu hiện, giữa văn bản và tiền văn bản Trong giảng văn một số giáo viên vẫn có xu hướng xé lẻ, đập vụn tác phẩm làm cho văn bản văn chương mất đi tính nhất quán, cảm hứng chủ đạo của nhà văn, tư tưởng chủ đề của tác phẩm bị mờ nhạt hay xuyên tạc Đành rằng phân tích phải lựa chọn, lựa chọn là thủ pháp cần thiết, nhất là với những tác phẩm dài nhưng không phải vì thế mà coi nhẹ tính chỉnh thể của tác phẩm

* Nguyên tắc thứ hai là: dạy học tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học phải tuân theo các đặc trưng thể loại

Trong giờ giảng văn theo hướng thi pháp, cần chú ý đến thể loại vì nó chi

phối tất cả các yếu tố còn lại của hình thức tác phẩm Bakhtin nói: “Thi pháp

phải bắt đầu với thể loại” Mỗi thể loại có một đặc điểm riêng và yêu cầu

phân tích theo một phương pháp riêng Giáo viên cần phát hiện được cho ra

“tính chất của loại trong thể” Xác định được đúng loại thể của tác phẩm mới

giúp ta tiếp nhận được “đúng” và “trúng”, có như vậy giáo viên mới thâm nhập đuợc vào hồn cốt của tác phẩm và đem lại được sinh khí cho giờ văn

* Nguyên tắc thứ ba là: Dạy học tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học phải đặt học sinh vào trung tâm của quá trình dạy học

Tư tưởng nhấn mạnh vai tích cực chủ động của người học, xem người học

là chủ thể của quá trình học tập đã có từ lâu, ở thế kỉ XVII, A.Kômenski đã

viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát

triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn” S.Rassekh cũng có ý kiến: “Với sự tham gia tích cực

Trang 23

của người học vào quá trình học tập tự lực, với sự đề cao trí sáng tạo của mỗi người học thì sẽ khó mà duy trì mối quan hệ đơn phương và độc đoán giữa thầy và trò Quyền lực của giáo viên không còn dựa trên sự thụ động và dốt nát của học sinh mà dựa trên năng lực của giáo viên góp phần vào sự phát triển tột đỉnh của các em”… Một giáo viên sáng tạo là một giáo viên biết

giúp đỡ học sinh tiến bộ nhanh chóng trên con đường tự học Giáo viên phải

là người hướng dẫn, người cố vấn hơn là chỉ đóng vai trò công cụ truyền đạt tri thức.thời được rèn luyện về phương pháp tự học, được tập dượt phương pháp nghiên cứu Giáo viên quan tâmtvận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân và của tập thể học sinh để xây dựng bài học Giáo án được thiết kế theo kiểu phân nhánh Những dự kiến của giáo viên phải được tập trung chủ yếu vào các hoạt động của học sinh và cách tổ chức các hoạt động

đó, cùng với khả năng diễn biến các hoạt động của học sinh để khi lên lớp có thể linh hoạt điều chỉnh theo diễn tiến của tiết học, thực hiện giờ học phân hóa theo trình độ và năng lực của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự bộc lộ

và phát triển tiềm năng của mỗi em Vấn đề người học luôn luôn được đặt lên trong quá trình dạy học, nhất là với những khuynh hướng tiến bộ Học sinh bao giờ cũng là đối tượng cần được quan tâm nhằm tạo được những kết quả mong muốn Ngay trước nhu cầu đào tạo thích ứng với bước phát triển của khoa học kĩ thuật hiện đại, nền giáo dục bảo thủ vẫn phải thừa nhận thực thể học sinh như là một đối tượng không thể không quan tâm

Học sinh càng tích cực tham gia và tham gia một cách tự giác, có ý thức vào quá trình dạy học bao nhiêu thì kết quả của việc giảng dạy văn học càng vững chắc và sâu sắc bấy nhiêu Vì vậy, nội dung của việc phát huy năng lực chủ thể học sinh chính là sự huy động một cách có cơ sở khoa học phù hợp với quy luật cảm thụ văn học, những năng lực chủ quan của bản thân học sinh

để chủ động tích cực hứng thú tham gia vào quá trình dạy và học văn, do đó

Trang 24

tạo được một hiệu quả tối ưu

Một vấn đề trước tiên được đặt ra từ luận điểm “học sinh là chủ thể nhận thức” đó là việc xác định vai trò học sinh trong quá trình dạy và học văn Học sinh luôn luôn là một thực thể trực tiếp ảnh hưởng tới nhiệm vụ, phương pháp lên lớp của giáo viên Thực thể đó cũng là một nhân tố quan trọng trong mối liên hệ giữa dạy và học văn trong nhà trường Có thể nói tùy theo quan niệm tiến bộ hay lạc hậu của giáo viên mà vai trò của học sinh được nhìn nhận đúng đắn hay không Với quan điểm cũ học sinh chỉ có nhiệm vụ nghe, nhớ

và lặp lại điều đã nhớ được qua lời giảng của giáo viên Coi học sinh là chủ thể nhận thức, chủ thể cảm thụ trong quá trình học văn là xác định rõ tính ý thức, tính tự giác, tính chủ động sáng tạo của học sinh trên lớp cũng như ngoài lớp Khi học sinh chỉ đóng vai trò là những người nghe thụ động, cho

dù là những thính giả cần cù, tích cực nhất chăng nữa thì nhất định những năng lực chủ quan của học sinh cũng sẽ bị thui chột đi Đáng tiếc là hiện nay, trong nhà trường chúng ta, ý thức đầy đủ về vai trò chủ thể của học sinh chưa được xác định rõ ràng và vững chắc, nhiều giáo viên vẫn còn giảng dạy theo một lối mòn cũ Chúng ta thấy không ít những giờ dạy văn mà trong đó giáo viên là người trình bày suốt một mạch còn học sinh nghe thụ động và ghi chép, ghi nhớ một cách máy móc Tình trạng đó nếu cứ kéo dài từ giờ này sang giờ khác, từ lớp này sang lớp khác, hết giáo viên này đến giáo viên khác thì hậu quả đào tạo sẽ như thế nào Thực tại đó đã trở thành mối quan tâm đáng lo ngại của những người giáo viên

Quan điểm coi học sinh là chủ thể nhận thức sẽ xác lập lại một cơ chế dạy

và học văn trong những mối liên hệ hợp lí giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với bài văn và sách giáo khoa Giáo viên ở đây không phải nguồn kiến thức duy nhất, không phải là máy phát tin Học sinh được hướng dẫn, tổ chức để tìm tòi phát hiện, lựa chọn kiến thức một cách chủ động, sáng tạo Có

Trang 25

nhà sư phạm đã ví lớp học như một dàn nhạc, giáo viên là nhạc trưởng Nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc cùng hoạt động Nhạc trưởng không chơi đàn thay nhạc công Sách giáo khoa hay bài văn cùng với vốn hiểu biết của bản thân học sinh là những nguồn kiến thức quan trọng mà giáo viên hướng dẫn, khai thác, vận dụng

* Nguyên tắc thứ tư là: dạy học tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học phải tích hợp các cách tiếp cận, các phương pháp, biện pháp và công cụ dạy học một cách thích hợp

Chúng ta biết không có cách tiếp cận nào hay một phương pháp nào là vạn năng Dạy học tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học không có nghĩa là nguời dạy sẽ từ chối các con đường tiếp cận khác mà vấn đềở chỗ phải xác định đâu là con đường chủ đạo, chi phối Cùng với đó, phải áp dụng một cách tổng hợp nhiều phương pháp, biện pháp dạy thích hợp như phương pháp đọc sáng tao, phương pháp nghiên cứu hay sử dụng câu hỏi có vấn đề, sử dụng Grap, áp dụng công nghệ thông tin một cách nhuần nhuyễn mới có thể đem lại một giờ dạy văn thành công

1.2.2.4 Những lưu ý khi áp dụng thi pháp học vào việc dạy – học văn học ở trường phổ thông

Cở sở của việc áp dụng thi pháp học vào việc phân tích và dạy học ở

trường phổ thông là “Xem tác phẩm không chỉ như một văn bản ngôn từ, một

tổng cộng của các yếu tố xác định, mà như một chỉnh thể của thế giới nghệ thuật mang tính quan niệm Mặt khác, thế giới nghệ thuật này được xây dựng bằng văn bản ngôn từ, hiện lên từ chất liệu ngôn từ”[26, tr 37]

Vì vậy, để áp dụng thi pháp học vào việc phân tích dạy học tác phẩm văn học ở trường phổ thông, người dạy và người học cần khai thác các yếu tố ngôn từ trong chức năng xây dựng thế giới nghệ thuật, trong việc thể hiện cái nhìn, trong xác định hình tượng không gian, thời gian, trong hình thành các

Trang 26

biểu trưng, trong biểu hiện cảm giác “Tính hệ thống của ngôn từ nằm trong tính hệ thống của ngôn ngữ nghệ thuật, phục tùng việc tạo thành các chiều của thế giới đó”

Theo Trần Đình Sử: “Văn bản ngôn từ được hiểu như một biểu hiện

của ý thức nghệ thuật, một kết tich của quan hệ thẩm mĩ giữa chủ thể và khách thể Một mặt ngôn từ là sản phẩm của ý thức chủ thể, là phát ngôn của chủ thể, gắn với thế giới của các chủ thể Mặt khác, ngôn từ là một sự miêu

tả, biểu hiện của thế giới khách thể Mối liên hệ của hai mặt này tạo thành một không gian nội tại làm nảy sinh thế giới nghệ thuật” Như vậy, áp dụng

thi pháp học vào việc phân tích văn học là quá trình mà người thầy sẽ dẫn dắt, khơi gợi và định hướng cho người học thâm nhập vào văn bản, vào các cứ liệu ngôn từ (sự lặp lại, sự đối lập, lựa chọn…) để giải mã các mã nghệ thuật, khám phá các quan hệ của các yếu tố nghệ thuật nội tại của tác phẩm Trong

quá trình dạy và học cần chú ý: “Các nguyên tắc thi pháp thể hiện qua các

yếu tố lặp lại và không lặp lại Không tìm thấy tính độc đáo trong sáng tạo thì không thấy tính nghệ thuật, mà không thấy tính lặp lại trên nhiều cấp độ và trong một hay nhiều văn bản thì không thấy các qui tắc tổ chức hình thức”[26, tr 38]

Một chú ý thứ hai khi áp dung thi pháp học vào việc dạy – học văn học

ở trường phổ thông đó là người dạy không được nhầm lẫn áp dụng thi pháp là hoàn toàn chỉ dựa vào hình thức của tác phẩm một cách cực đoan mà đoạn tuyệt với bối cảnh văn hóa thời đại Vì như vậy, vô hình chung, người dạy sẽ khiến người học dễ lạc vào “ mê cung” của các khái niệm mà không có điểm tựa cụ thể dễ làm học sinh mơ hồ, khó nắm bắt Đúng như Trấn Đình Sử đã

chỉ ra “Nguyên tắc thi pháp chỉ có thể được lý giải trên bối cảnh văn hóa và

văn học của khu vực, dân tộc và thời đại” “Là một sản phẩm của đời sống xã

Trang 27

hội, văn học có nội dung lịch sử sâu sắc, do vậy nguyên tắc lịch sử rất cần thiết trong thi pháp” [26, tr 38]

Chú ý thứ ba là “thi pháp cần được tiến hành nghiên cứu liên ngành Các

phương pháp ngôn ngữ học, kí hiệu học, văn hóa học, tâm lí học cúng góp phần soi sáng các hệ thống thi pháp Các phương pháp thống kê số lượng được phân tích thấu đáo và có cơ sở khoa học cũng rất có ý nghĩa”[26, tr

39]

Như vậy, có thể thấy áp dụng thi pháp học vào việc phân tích và dạy – học văn trong trường phổ thông không hề đơn giản chỉ là chạy theo nghệ thuật tác phẩm một cách cực đoan Người thầy vẫn phải kết hợp rất nhiều con đường để giúp học sinh đến đích Nhưng áp dụng thi pháp học, người thầy sẽ

có được tấm bản đồ để đi đúng hướng một cách tích cực và hiệu quả

- Một lưu ý khác khi áp dụng thi pháp học vào việc dạy – học văn học trong nhà trường, đó là áp dụng thi pháp học không có nghĩa là người thầy sẽ rơi vào hình thức chủ nghĩa, ngâm vịnh, thưởng ngoạn văn chương một cách cực đoan Mà như đã phân tích, áp dụng thu pháp học vào việc dạy – học văn học là con đường hiệu quả nhưng người dạy và học không được cực đoan một chiều Cả người dạy và người học cần phải thấy, áp dụng thi pháp học vào

việc dạy – học văn là người thầy sẽ khơi gợi để người học “Khám phá văn

chương dựa trên tiêu chí của văn chương để khám phá nội dung đặc thù của tác phẩm văn chương”[18, tr 29]

1.2.2.5 Ý nghĩa của thi pháp học trong việc dạy – học văn học trong nhà trường

Áp dụng thi pháp học vào việc dạy – học văn học trong nhà trường góp phần quan trọng vào việc đổi mới cách dạy và học văn học Khi cả người dạy

và người học đều đi đúng hướng, khám phá tác phẩm từ chính bản thân văn bản nghệ thuật với các yếu tố nghệ thuật sẽ tránh được xu hướng dạy và học

Trang 28

suy diễn lấy ý, áp đặt một cách thô thiển Văn chương trong nhà trường sẽ sống cuộc sống thật của nó – một môn học đặc biệt đối với “Trò diễn bằng ngôn từ”

Cũng chính vì cả người dạy và người học được bước trên con đường khám phá văn chương, khám phá cái đẹp thực sự nên tiết văn sẽ bớt khô khan, nhàm chám, người thầy sẽ có cơ hội thăng hoa thành người nghệ sĩ – sứ giả của cái đẹp dẫn dắt học sinh vào địa hạt của nghệ thuật Và với người học, mỗi bước đi trên con đường học văn là mỗi bước khám phá ra bí mật huyền diệu của nghệ thuật, vì vậy mà học sinh sẽ được kích thích để tăng hứng thú học văn Vấn đề tạo được hứng thú cho học sinh với môn văn vẫn là vấn đề bấy lâu gây nhức nhối với những người thầy dạy văn trên bục giảng Chúng ta

biết “Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với hiện tượng nào đó

do ý nghĩa của nó trong đời sống và do sự hấp dẫn về tình cảm của nó”(

Côvalinốp) Như vây, có thể thấy muốn hình thành được hứng thú cho học sinh cần hội tụ được hai điểm:

- Bài học phải có ý nghĩa quan trọng đối với người học và ý nghĩa đó được người học nhận thức

- Phải có sự hấp dẫn tình cảm đối với người học

Khi dạy học văn theo lối dạy ý thầy đọc – trò chép thì người học vô hình chung sẽ bị ép buộc phải thừa nhận một ý nghĩa nào đó mà không hiểu tại sao lại vậy nên người học rất khó có thể có được hứng thú Tiếp cận theo hướng thi pháp học với phương châm “Lấy người học làm trung tâm” sẽ biến mỗi giờ văn thành một giờ khám phá mà chính người học sẽ đi giải mã các yếu tố nghệ thuật của văn bản đề từ đó quá trình “bùng nổ” bắt đầu Người học sẽ bị kích thích bởi cái đẹp của nghệ thuật và tư tưởng do chính mình khám phá ra

Vì vậy, người học sẽ vô cùng hứng thú với các tiết học văn

Trang 29

Chúng ta biết một trong những mục tiêu quan trọng của môn văn trong nhà trường là bồi dưỡng được cho học sinh kĩ năng đọc, kĩ năng nghe và biểu hiện ra ở kĩ năng nói và viết Áp dụng thi pháp học vào việc dạy văn có nghĩa

là người học phải trực tiếp xâm nhập vào văn bản để từ văn bản, từ nghệ thuật giải mã tác phẩm, giải mã nghệ thuật và tư tưởng, nội dung của tác phẩm một cách toàn diện Muốn làm được điều đó đòi hỏi học sinh phải đọc văn bản một cách thực sự để “đọc” ra những tín hiệu nghệ thuật và phân tích được cấu trúc ngôn từ của văn bản tác phẩm Dạy học văn học theo hướng thi pháp học

vì vậy sẽ bồi dưỡng được cho người học kĩ năng đọc văn học một cách hiệu quả

Một ý nghĩa khác của việc áp dụng thi pháp vào việc dạy văn học trong nhà trường là phát triển năng lực văn học cho học sinh “Phát triển năng lực tiếp nhận cho học sinh là hạt nhân của quá trình dạy học văn hiện đại”, Giáo

sư Phan Trọng Luận đã xác định tám hoạt động của năng lực tiếp nhận:

- Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm văn học

- Năng lực tái hiện hình tượng nghệ thuật

- Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học

- Năng lực cảm thụ cụ thể kết hợp với năng lực khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật trong tính chỉnh thể

- Năng lực nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận

- Năng lực cảm xúc thẩm mĩ

- Năng lực tự nhận thức

Việc áp dụng thi pháp vào dạy học văn học sẽ giúp người thầy rất nhiều trong việc hình thành các năng lực trên cho học sinh Do chính sự lờ mờ về thi pháp, không nắm vững được đặc trưng thi pháp thể loại và các yếu tố khác của thi pháp khiến người thầy dạy văn theo kinh nghiệm, theo thói quen Cứ thấy thơ là dạy trữ tình, truyện là dạy tự sự, dạy văn theo hệ thống ý 1, ý

Trang 30

2…khiến cho tiết học văn nhàm chán và học sinh thay vì hứng khởi chỉ thấy buồn ngủ

Dạy học văn theo hướng thi pháp học như đã phân tích sẽ có ưu thế đặc biêt trong việc phát triển tri giác ngôn ngữ, năng lực tái hiện hình tượng cho học sinh Năng lực tri giác ngôn ngữ ở đây là cảm nhận được những thông tin nghệ thuật từ hệ thống tín hiệu ngôn ngữ hình tượng Tiếp cận tác phẩm theo hướng thi pháp học, áp dụng phương pháp thi pháp học tức người thầy sẽ hướng dẫn cho người học thâm nhập vào văn bản ngôn từ của tác phẩm, giải

mã các thông tin nghệ thuật ở các từ khó, ở hình ảnh, hình tượng

Vì vậy, thay vì chỉ nhớ ý 1, ý 2… một cách máy móc, học sinh sẽ dần dần phát triển năng lực tri giác ngôn ngữ để giải mã tác phẩm Cũng vì vậy

mà năng lực tái hiện hình tượng của học sinh và năng lực tưởng tượng nghệ thuật sẽ ngày càng trở nên sinh động, phong phú Vì chúng ta biết, hình tượng được dệt nên bằng ngôn ngữ hình tượng Bằng cách xâm nhập vào ngôn ngữ

và hình tượng tác phẩm với đầy đủ các yếu tố của không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, giọng điệu, điểm nhìn, ngôn ngữ… người học mới có thể

“bùng khởi” trí tưởng tượng về một thế giới nghệ thuật sống động với những hình tượng chân thật trong tâm hồn các em

Nắm vững được thi pháp và áp dụng vào dạy – học văn sẽ giúp cho người dạy và người học soi sáng được những “điểm mờ”, nhận diện được những hiện tượng văn học phức tạp, nhận biết được “chất của loại ở trong thể”

Cũng chính vì được xâm nhập vào thế giới nghệ thuật đầy phong phú của tác phẩm một cách hoàn chỉnh sẽ giúp người học phát triển được năng lực thẩm mĩ Trước hết đó là sự nhạy cảm rung động với nghệ thuật của tác phẩm, với cái đẹp của văn bản, sau đó là sự rung động với cái đẹp của thế giới hình tượng sống động hiện lên trong tâm hồn của người học Dạy văn trong nhà

trường như vậy sẽ “trả cho người học sinh những gì thuộc về nó”(J Dewey)

Trang 31

CHƯƠNG 2 TIẾP CẬN ĐÀN GHI TA CỦA LORCA DƯỚI GÓC ĐỘ

THI PHÁP HỌC 2.1 Giới thiệu chung về đời thơ Thanh Thảo và tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca

2.1.1 Thanh Thảo: một đời thơ - một hành trình không ngừng nghỉ

Thanh Thảo tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh năm 1946, quê ở huyện

Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tham gia kháng chiến chống Mĩ cứu nước ở chiến trường miền Nam Từ mấy thập niên trước, Thanh Thảo đã được công chúng chú ý qua những tập thơ và trường ca mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến Hiện ông là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi, phó chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam Thanh Thảo đã nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1979, giải thưởng Ban Văn học Quốc phòng An Ninh, Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995, giải thưởng Nhà nước (đợt 1) về văn học nghệ thuật năm 2001

Những năm gần đây, Thanh Thảo vẫn tiếp tục làm thơ đồng thời viết báo, tiểu luận phê bình và nhiều thể loại khác, nhưng đóng góp quan trọng và đặc sắc nhất của ông vẫn là thơ ca

Thơ Thanh Thảo là tiếng nói của người tri thức nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại

Các tác phẩm chính của Thanh Thảo gồm có: Những người đi tới biển (trường ca-1977), Dấu chân qua trảng cỏ (thơ-1978), Những ngọn sóng mặt

trời (trường ca-1981), Khối vuông rubic (thơ-1985), Từ một đến một trăm

(thơ-1988), Cỏ vẫn mọc (trường ca-2002), Metro (trường ca-2009)…

Hồn thơ Thanh Thảo là cả một hành trình dài mà ngay từ tác phẩm đầu tiên mang hơi thở nóng bỏng của chiến trường, mang đau thương và trăn trở

Trang 32

của cả thế hệ thanh niên Việt Nam thời chống Mỹ đã định hình rõ một “cái tôi” mang dấu ấn riêng:

Hạnh phúc nào cho tôi Hạnh phúc nào cho anh Hạnh phúc nào cho chúng ta Hạnh phúc nào cho đất nước Những câu hỏi chưa bao giờ nguôi được (Thử nói về hạnh phúc - Thanh Thảo)

Tác phẩm đầu tay của Thanh Thảo không được Chế Lan Viên cho đăng

in, bởi con mắt thơ tinh tế của Chế Lan Viên đã nhận ra sự xuất hiện của hạt giống tài năng, nên tác phẩm “đau thương” quá theo lời Chế Lan Viện, nhưng ông đã trân trọng nâng niu hạt giống ấy để làm một việc xưa nay chưa ai từng làm, đăng một lúc 13 bài của Thanh Thảo gửi ra sau đó từ chiến trường khói lửa Người ta ví sư xuất hiện của Thanh Thảo trong nền thơ ca Việt Nam thời chống Mỹ cũng giống như sự xuất hiện của Xuân Diệu trong Thơ Mới khi ngay bài thơ đầu tiên Thế Lữ đã nhận ra ánh sáng của Xuân Diệu - một tài năng lớn Chế Lan Viên đã làm một chuyện xưa nay chưa từng làm bởi ông

đã tiên đoán được, đã linh cảm được tài năng thơ Thanh Thảo

2.1.2 Giới thiệu tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca

- Bài thơ rút trong tập Khối vuông rubic được sáng tác trong một hoàn

cảnh đặc biệt Với nhà thơ Thanh Thảo, ông đã mang trong ba lô ra chiến trường những bài thơ của Lor-ca, qua bản dịch của Hoàng Hưng, chép trong

sổ "Thực ra Lorca đã sống trong tôi từ những năm 1969-1970 qua bản dịch

chép tay mà chúng tôi truyền cho nhau… Và tôi đã viết Đàn ghi ta của Lor-ca trong cái ngày rầu rầu của năm 1979 ấy Bài thơ được viết rất nhanh và hầu như không sửa chữa gì thêm" (Văn học và tuổi trẻ, số tháng 3/2009) Thanh

Trang 33

Thảo nói thêm: "tôi viết bài thơ trong trạng thái không nghĩ ngợi gì, một

trạng thái mà vô thức chiếm lĩnh tôi trọn vẹn" Điều này chứng tỏ Lor-ca đã

ám ảnh tâm thức của Thanh Thảo trong một thời gian dài, đến ngưỡng cảm hứng, thì tự nhiên bài thơ đã ngân vang như một khúc giao hưởng trầm buồn với phần đệm là những giọt âm thanh luyến láy thiết tha li-la li-la li-la ngân lên từ cây ghi ta cổ điển

* Về Phê-đê-ri-cô Ga-xi-a Lorca:

Lorca là một nhà thơ nước ngoài, mới với cả giáo viên và học sinh Để khám phá bài thơ này, người đọc nhất thiết phải có những hiểu biết cơ bản về Lor-ca và thơ ca của ông

Phê-đê-ri-cô Ga-xi-a Lor-ca (1898 – 1936) là một trong những nhà thơ lớn của Tây Ban Nha thế kỉ XX Ông còn được biết đến như một nhà soạn kịch, một họa sĩ và nhạc sĩ Lor-ca được xem là “con chim họa mi của xứ sở Tây Ban Nha” Ông sáng tác nhiều giai điệu ghi ta và gắn bó đời mình với cây đàn ghi ta huyền thoại

Lor-ca sinh ra ở một làng quê gần thành Granada, trong một gia đình nông dân bậc trung thuộc một dòng họ lâu đời, Lor-ca thừa hưởng ở người cha tâm hồn gắn bó với đất đai, thiên nhiên, thừa hưởng từ mẹ trí thông minh và năng khiếu nghệ thuật Mẹ ông chơi piano rất giỏi và ngay từ nhỏ ông đã học được nghệ thuật chơi đàn piano của mẹ Ngoài ra, Lor-ca đã học ghi ta từ cái nôi ghi ta của xứ sở đấu bò tót Đối với người Tây Ban Nha, “loại nhạc cụ này tự nhiên hệt như hơi thở”

Lor-ca tốt nghiệp đại học Luật ở Gra-na-đa nhưng lại lựa chọn hoạt động nghệ thuật Năm 1919, Lor-ca lên Ma-đrít (thủ đô Tây Ban Nha) tham gia vào đời sống nghệ thuật Trước một Tây Ban Nha, dưới sự cai trị của chế độ độc tài Pri-nô đê Ri-vê-ra, đã trở nên hết sức phản động về chính trị và lạc hậu về nghệ thuật, Lor-ca vừa tích cực đấu tranh cho công lí vừa đề xuất những đổi

Trang 34

mới trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Yêu công lí, chống bạo lực, năm 1936, ông và một số người cùng chí hướng thành lập “Liên đoàn trí thức chống Phát xít” Tinh thần đấu tranh của Lor-ca đã tác động không nhỏ đến đời sống xã hội Tây Ban Nha và lan tỏa đến các nước Tây Âu

Linh cảm về "một cái chết được báo trước" luôn ám ảnh Lorca, và chính

nó đã trở thành một trong những động lực lớn nhất của thơ ông “Tình yêu, sự

chết và cái đẹp là ba nỗi ám ảnh lớn trong thơ Lorca, nó hoán đổi nhau, cái này là tiền đề cho cái kia, kết thành một vòng tròn vĩnh hằng Lorca đã chấp nhận và tôn vinh sự chết như đã chấp nhận và tôn vinh tình yêu, cái đẹp vì ông đã thấy trong cái đẹp có sự chết cũng như trong cái chết có tình yêu Lorca siêu thực một cách tự nhiên, và hiện thực một cách tự nhiên Năng lượng sáng tạo trong ông nhiều tới mức dường như ông phóng bút là thành thơ, mở miệng là thành những khúc romance, ballad”.(Thanh Thảo) "Khi tôi

chết - hãy chôn tôi với cây đàn ghi ta", cây đàn ghi-ta ở đây giống như cây đàn lyre, là biểu tượng của thi ca, khởi phát và giữ nhịp cho thơ ca

"Tôi không muốn nhìn thấy máu!" ( ! Que no quiero verla!), Lorca đã

thảng thốt kêu lên trong một bài thơ định mệnh của mình, bài "Bi ca cho

Ignacio Sanchez Mejias" Nhưng "máu đã chảy tràn" chỉ một năm sau khi bài

thơ tuyệt tác này ra đời, và máu đó chính của Lorca “Nhà thơ đã không nhìn thấy máu mình chảy tràn trên đất Tây Ban Nha Nhưng toàn thế giới đã thấy,

và đã kêu nghẹn lên câu thơ "Tôi không muốn nhìn thấy máu!"(Thanh Thảo)

Ngày 16-7-1936, Lor-ca về quê hương Gra-na-đa để dự Hội Thánh

Fe-de-ri-co, đó cũng là những ngày bùng lên cuộc nội chiến giữa các lực lượng dân chủ Tây Ban Nha với các lực lượng phản động của phát xít Franco Ngày 17-8-1936, trên đường đi, Lor-ca bị bắt giữ rồi bị xử bắn tại một nơi gần mảnh đất Gra-na-đa thân yêu của ông vào một sáng tháng 8 năm 1936 Không có

mộ phần riêng của ông Không ai nhìn thấy thi thể ông Ông được chôn cất

Trang 35

đâu đó trong một ngôi mộ chung với những nạn nhân khác của chế độ phát xít Franco Ông đã trở thành một phần máu thịt của đất nước Tây Ban Nha, hương hồn ông đã hòa lẫn với sông núi Tây Ban Nha

“Con chim họa mi xứ Andalusia đã bị sát hại! Tiếng kêu ấy truyền đi khắp các trung tâm văn hóa châu Âu một ngày mùa thu năm 1936” (Thanh

Thảo) Cái chết của Lor-ca đã làm chấn động thế giới Tên tuổi của Lor-ca từ

đó trở thành bất tử và gắn liền với ngọn cờ chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ văn hóa dân tộc và văn minh nhân loại

2.2 Những điểm cần lưu ý khi dạy học Đàn ghita của Lorca dưới góc độ thi pháp học

2.2.1 Đàn ghita của Lorca thể hiện những ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng siêu thực đối với thơ Thanh Thảo

2.2.1.1 Chủ nghĩa tượng trưng siêu thực

a) Khái quát về chủ nghĩa tượng trưng

Theo Lê Bá Hán viết trong Từ điển thuật ngữ văn học: “Chủ nghĩa

tượng trưng là một Khuynh hướng văn nghệ xuất hiện ở một số nước châu Âu

vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Cơ sở lí thuyết của chủ nghĩa tượng trưng bắt nguồn từ triết học duy tâm của Sô-pen-hao-ơ” Vào cuối thế kỷ XIX đầu

thế kỷ XX tư duy phân tích và tư duy duy lý bộc lộ nhiều bất cập Chúng không thể giải thích, thể hiện được phần tiềm thức, vô thức, bí ẩn của những giấc mơ và thế giới tâm linh ẩn sâu trong tâm hồn con người Lúc này xuất hiện xu hướng quay trở về với đời sống tự nhiên, bột phát về cảm xúc, hành

động…nên những phương pháp duy lý bị phủ nhận mạnh mẽ: “Không thể

dùng tam đoạn luận để rút tỉa linh hồn của sự vật, cũng như không thể dùng câu liêm để kéo con quỷ Lévithan trong thánh kinh” Đồng thời phát hiện ra:

“Cuộc sống của chúng ta thật nhiệm màu nó tránh xa phản ánh của lý trí…

Nó bị lôi cuốn bởi cái huyền bí và nó chống lại sự an bài của phép tắc ngoại

Trang 36

hiện”(Albérès) Điều này dẫn con người đến sự khủng hoảng tinh thần cực

độ Những bí ẩn của tạo vật, của con người và cuộc sống mà tư duy duy lý không thể giải thích được được mặc sức khám phá và thể hiện bằng một trào lưu tư tưởng hoàn toàn mới Bắt đầu từ những thứ đã biết rất rõ ràng dần dần

đi vào khám phá một thế giới hoàn toàn bí ẩn mơ hồ nằm sâu bên trong bằng một phương pháp tư duy mới Chủ nghĩa tượng trưng hình thành cuối thế kỷ XIX và sau này là chủ nghĩa siêu thực hình thành vào đầu thế kỷ XX bắt nguồn từ cơ sở tư tưởng này Ngày 18/09/1886, Jean Moeas - Một nhà thơ

tượng trưng tiêu biểu đã viết Tuyên ngôn thơ tượng trưng (Manifeste du

symboliste) với đại ý như sau: “Phải chống lại sự dạy đời, sự huênh hoang lớn tiếng/ Chống lại thương cảm giả dối, sự miêu tả khách quan/ Thơ tượng trưng gắng gói gém ý tưởng bằng một hình thức dễ nhìn hơn/ Tuy nhiên nó không phải là mục đích thơ/ Nhưng dùng nó để phơi bày ý tưởng mà vẫn giữ được nội dung cơ bản” Bằng bản tuyên ngôn này, ông đã khai sinh ra “một

thời đại mới trong thơ ca” với những mạch, những trường cảm xúc hoàn toàn mới, ngôn ngữ thể hiện cũng đầy mới mẻ và lạ lẫm Cách nắm bắt và cách thể hiện đời sống và tâm hồn phức tạp của con người hiện đại cũng hoàn toàn mới mẻ Chủ nghĩa tượng trưng ra đời ở Pháp, rồi nhanh chóng lan rộng ra toàn châu Âu và cuối cùng là trên khắp thế giới có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ trong văn chương mà ảnh hưởng đến hầu hết các loại hình nghệ thuật khác như: âm nhạc, hội họa, sân khấu

* Cơ sở lí thuyết của Chủ nghĩa tượng trưng

Chủ nghĩa tượng trưng ra đời dựa trên một số quan điểm, thuyết lí cơ bản sau:

- Thuyết nghệ thuật vị nghệ thuật:

Nghệ thuật vị nghệ thuật chính là chủ nghĩa duy mĩ, cho rằng: nghệ thuật

không thể có giá trị thực dụng: “chỉ có những thứ nào vô dụng mới đẹp,

Trang 37

những loại có ích đều xấu” Gôchiê phản đối công cụ hoá, đạo đức hoá nghệ thuật, cái đẹp của thơ chỉ được quyết định bởi tính nhạc và âm luật của chính

- Thuyết Thuần văn học của Edgar Allan Poe:

E.A.Poe chia thế giới tinh thần ra làm 3 lĩnh vực: Trí lực thuần tuý, cảm quan đạo đức và hứng thú lần lượt sẽ sinh ra: chân lí, đạo nghĩa, cái đẹp Chỉ cần chúng ta tự thức tỉnh linh hồn của mình, từ đó chúng ta có thể phát hiện dưới gầm trời không hề có, không thể có một tác phẩm nào rất mực tôn quý, vô cùng cao thượng so với một bài thơ như thế này - một bài thơ tự nó, vì bài thơ

hỉ có hứng thú mới sinh ra cái đẹp Baudelaire cũng tán thành cách chia này

và đã cho rằng: “Thơ không giống với khoa học và đạo đức, nếu không sẽ suy

thoái và chết đi” Thuyết “thuần văn học” đề cao vai trò của âm nhạc trong

việc kích thích tình cảm thơ ca

- Quan niệm Cảm giác tương giao:

Beaudelaire cho rằng chủ nghĩa tượng trưng là quan niệm tương giao về cảm giác, các loại hình nghệ thuật như thơ ca, hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc đều có chỗ tương thông nên thơ ca có thể hấp thu những chỗ tinh diệu của các loại hình nghệ thuật khác mà cơ sở của nó là mối tương giao cảm giác Điều này ông có chịu ảnh hưởng của quan niệm huyền bí của Svâytenbây

Vạn vật là “khu rừng tượng trưng” thống nhất với nhau, phát ra những âm

thanh mơ hồ mà con người có thể cảm ứng được Do đó, nhà thơ chỉ là người phiên dịch, người giải thích những quan hệ tượng trưng trong đó mà thôi Cảm giác tương giao góp phần khám phá những quan hệ tiềm ẩn mang tính chất tượng trưng trong vạn vật, là một cách nhìn có tác dụng mở rộng tầm chiếm lĩnh của nghệ thuật đối với hiện thực nhưng không tránh khỏi trượt dần trên con đường huyền bí, xa lánh trần thế

* Đặc điểm của chủ nghĩa tượng trưng

Trang 38

- Khám phá thế giới bí ẩn trở thành mục đích và bản chất của thơ tượng trưng Các nhà thơ tượng trưng tin tưởng vào thế giới tinh thần đầy bí ẩn, nằm sâu trong lòng sự vật, trong mỗi con người Niềm tin này có cơ sở từ thuyết Thần học của Đức, một học thuyết chủ trương rằng thế giới hữu hình là hình ảnh của một thế giới vô hình… Ở hai thế giới đó có những điều tương ứng Người thụ pháp là người nhận biết được sự tương ứng đó và nếu cần thì nhờ

đó mà có những quyền lực thiêng liêng Các nhà thơ tượng trưng quyết liệt lên án lối thơ chỉ mô tả sự vật một cách đơn giản, hời hợt bên ngoài của chủ nghĩa lãng mạn, hiện thực, đặc biệt là lối thơ to tiếng, lên gân dạy đời Thơ phải hướng tới một thế giới huyền diệu và nhiệm màu, phải khám phá và thể hiện được những gì nằm ẩn sâu dưới cái vỏ hiện thực và đem lại cho thế giới tâm hồn một sức mạnh đặc biệt do phát hiện ra những bản chất mới bằng những loại suy bất ngờ trong sự tương hợp của tất cả các cảm giác trong đó có vai trò quan trọng của trực giác Mọi vật trong vũ trụ và con người có mối liên

hệ huyền bí, mơ hồ không thể nhận biết bằng tư duy duy lý: “Thiên nhiên là

những ngôi đền mà những cột trụ sống động/ Đôi khi thốt ra những ngôn từ lộn xộn/ Con người đi ngang, xuyên qua những khu rừng biểu tượng/ Vẫn quan sát mình bằng cặp mắt thân quen/ Như những tiếng vang vọng dài từ phía xa hòa lẫn/ Giữa cảnh bao trùm tăm tối thẳm sâu/ Mênh mông như đêm đen và như ánh sáng/ Hương thơm, sắc màu và âm thanh tương hợp với nhau”(Tương hợp - Baudelaire) Thế giới là một thể thống nhất, thẳm sâu đầy

huyền bí, thiêng liêng và vô cùng vô tận mà chỉ thi nhân mới có khả năng phát hiện ra những tương quan huyền nhiệm nằm sâu thẳm bên trong nó

- Đặc điểm thứ hai là tư duy tương hợp giữa các giác quan Trên cơ sở của những phát hiện về sự tương ứng giữa thế giới hữu hình và vô hình thì thơ tượng trưng gắn liền với lối tư duy tương hợp và cũng chính Baudelaire là người đầu tiên phát hiện ra sự tương hợp giữa các giác - quan Thế giới không

Trang 39

phải là những cái quan sát được bằng thị giác, thính giác, hay vị giác… mà là phần linh diệu và huyền nhiệm mà con người nắm bắt được bằng sự tương hợp của tất cả các giác quan Tất cả những điều ấy tư duy duy lý không bao giờ nắm bắt nổi Điều này khiến cho không gian trong thơ tượng trưng được

mở rộng về mọi phía và chiếm lĩnh đến vô tận vô cùng của tâm thức, tiềm

thức, vô thức, những bí ẩn, huyền nhiệm, vi tế của con người và thế giới “Có

những mùi hương tươi tắn như thịt da trẻ nhỏ/ Dịu dàng như tiếng kèn ô-boa, xanh rờn như đồng cỏ/ Và những mùi hương khác, đã biến chất, hân hoan, phong phú/ Mang tính bành trướng của những thứ vô biên/ Như long diên hương, xạ hương, an tức hương và nhựa hương/ Đang ca ngợi những cảm rung của giác quan và trí tuệ” (Tương hợp - Baudelaire) Tất cả mọi thứ và

thẳm sâu tâm hồn con người hòa quyện, tương hợp với nhau thành một thế giới thống nhất thông qua sự cảm nhận tổng hợp của tất cả các giác quan Hương thơm được cảm nhận bằng thị giác, xúc giác, khứu giác, thính giác…

và đặc biệt là luôn có sự tham gia của linh giác

- Tạo ra nhiều biểu tượng ẩn ý Khác với sự tượng trưng truyền thống, theo

đó một hình ảnh cụ thể (thí dụ như con chim bồ câu) gợi nên một ý nghĩa trừu tượng được xác định rõ ràng (hòa bình), đối với các nhà văn theo chủ nghĩa tượng trưng, ý tưởng được gợi nên bởi sự tượng trưng hoàn toàn không tồn tại trong chính ý tưởng đó; nó được nảy sinh từ sự xích lại gần nhau của những cảm giác và những thực tế cụ thể thường là tách biệt với nhau Vì thế sự tượng trưng cho phép tạo dựng nên thế giới những ý tưởng mang lại một trật

tự mới trong đó không còn những đối nghịch nữa Khi sáng tạo các biểu tượng, nhà thơ tượng trưng không thể chỉ dùng óc quan sát hay lý trí để nhận thức mà nhất thiết phải dùng linh cảm và khả năng trực giác siêu việt của mình vì chỉ có sự gì cảm thấy mà không tả mới là đáng kể mà thôi

Trang 40

- Chủ nghĩa tượng trưng luôn đề cao nhạc tính vì thơ là sự tái hiện những nhịp điệu, những tương ứng, sự hòa âm của vạn vật và tâm hồn con người tạo thành một thế giới thống nhất về âm thanh Phải công nhận rằng bất kỳ khuynh hướng sáng tác nào cũng luôn đề cao tính nhạc trong thơ nhưng có lẽ trong lịch sử chưa có trào lưu văn học nghệ thuật nào lại đặc biệt đề cao nhạc tính và thực hiện tính chất này một cách có ý thức và triệt để đến thế Âm nhạc trong thơ có những khả năng rất riêng biệt, nó len lỏi vào mọi ngõ ngách sâu thẳm của tâm hồn con người để đến với cả những phút giây tiềm thức, vô thức và những giấc mơ bí ẩn Nó nâng đôi cánh thơ đập mạnh tạo ra lực đẩy

vô biên giúp cho thơ ca bay cao, bay xa và đến với những chân trời vô tận của những ý tưởng nghệ thuật huyền nhiệm vô biên

Như thế “Thơ vừa là nhạc, là họa, là tạc tượng, là hùng biện, thơ phải làm

vui tai thích chí, tỏ rõ được âm thanh, bắt chước được màu sắc, khiến cho trông thấy mọi vật và kích thích ở ta những rung động… Thơ là nghệ thuật hoàn hảo, cần thiết và bao hàm các nghệ thuật khác” (Théodore de Banville)

b) Chủ nghĩa siêu thực

Chủ nghĩa siêu thực do Apollinaire sáng tạo ra vào năm 1916, nhưng cách gọi văn học “chủ nghĩa siêu thực” trên thực tế xuất hiện vào cuối xuân năm

1919 Ban đầu nó nói tới chỉ là kĩ xảo sáng tác, là lối viết tự động, tuy không

coi trọng quy luật sáng tạo văn học, nhưng lại không vượt qua phạm trù văn học Đợi đến tháng 10 năm 1924 sau khi “trung tâm nghiên cứu chủ nghĩa siêu thực” được hình thành ở Paris chủ nghĩa siêu thực mới phát triển thành một loại “tinh thần cách mạng” và nhập vào đấu tranh chính trị Những thành viên ban đầu của nó chủ yếu là những người được phân hóa từ chủ nghĩa Đa

đa, có khuynh hướng kịch liệt phản đối văn hóa truyền thống và sự dị hóa của

xã hội tư bản chủ nghĩa giống như chủ nghĩa Đa đa, muốn dùng sự tìm kiếm siêu thực để giải phóng nhân tính, từ đó cải cách xã hội và cuộc sống Với tư

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân. 150 thuật ngữ văn học. NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội
2. Mai Bá Ấn. Quan niệm của Thanh Thảo về thơ. Tạp chí Sông Hương, Số 191, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của Thanh Thảo về thơ
3. Nguyễn Thị Ban. Sử dụng Graph trong dạy học tiếng Việt cho học sinh trung học cơ sở. LA TS Giáo dục học, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng Graph trong dạy học tiếng Việt cho học sinh trung học cơ sở
4. Boey Kim Cheng. Thơ Thanh Thảo chống lại ngày quên lãng. Báo Thanh Niên, Số 125 (4516), 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Thanh Thảo chống lại ngày quên lãng
5. Nguyễn Viết Chữ. Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể. NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội
6. Phạm Minh Diệu (tổng chủ biên). Thiết kế bài giảng ngữ văn 12, tập 1. NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng ngữ văn 12, tập 1
Tác giả: Phạm Minh Diệu (tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2008
7. W.Dilthey. Sức mạnh của biểu tượng thi ca - những khởi nguyên của thi pháp học. Tạp chí Văn học nước ngoài số2, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh của biểu tượng thi ca - những khởi nguyên của thi pháp học
8. Phan Huy Dũng. Đàn gi ta của Lorca của Thanh Thảo dưới góc nhìn liên văn bản. Tạp chí Nghiên cứu văn học, tháng 12, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàn gi ta của Lorca của Thanh Thảo dưới góc nhìn liên văn bản
9. S.Freud, C.G.Jung, Jean Bellemin.... Phân tâm học và văn học nghệ thuật.( Đỗ Lai Thuý dịch), NXB Văn hóa thông tin, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và văn học nghệ thuật
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
10. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi. Từ điển thuật ngữ văn học.. NXB Giáo Dục, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo Dục
11. Vũ Thị Minh Hạnh. Hệ thống biểu tượng trong thơ và trường ca của Thanh Thảo. Luận văn Thạc sỹ Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống biểu tượng trong thơ và trường ca của Thanh Thảo
12. Phạm Ngọc Hiền. Mấy vấn đề dạy học theo hướng thi pháp học. Tạp chí Văn học tuổi trẻ số 217,218, 219, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề dạy học theo hướng thi pháp học
13. Đào Duy Hiệp. Thời gian trong Đi tìm thời gian đã mất của Marcel proust và ứng dụng vào nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam. Luận án tiến sỹ Ngữ văn, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian trong Đi tìm thời gian đã mất của Marcel proust và ứng dụng vào nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam
14. Đỗ Đức Hiểu. Thi pháp hiện đại. NXB Hội nhà văn, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
15. Nguyễn Ái Học. Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học văn. NXB Giáo Dục, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học văn
Nhà XB: NXB Giáo Dục
16. Hoàng Hƣng (dịch, tuyển chọn). Thơ chon lọc Federico Gaxia Lorca. NXB Sở văn hóa thông tin Lâm Đồng, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ chon lọc Federico Gaxia Lorca
Nhà XB: NXB Sở văn hóa thông tin Lâm Đồng
17. Lê Thị Hường. Chuyên đề dạy học ngữ văn 12, Đàn ghi ta của Lorca(Thanh Thảo). NXB Giáo Dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề dạy học ngữ văn 12, Đàn ghi ta của Lorca(Thanh Thảo)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
18. Nguyễn Thị Dƣ Khánh. Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường. NXB Giáo Dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường
Nhà XB: NXB Giáo Dục
19. Phan Trọng Luận, Trần Thế Phiệt, Nguyễn Thanh Hùng, Trương Dĩnh. Phương pháp dạy học văn. NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội
20. Phan Trọng Luận. Ngữ văn 12 (tập 1). NXB Giáo Dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12 (tập 1)
Nhà XB: NXB Giáo Dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Điều tra về mức độ hiểu bài của học sinh sau khi học xong “Đàn  ghi ta của Lorca” - Phương pháp dạy học tác phẩm  Đàn Ghita của Lorca  của Thanh Thảo ( Chương trình ngữ văn lớp 12 - tập 1 theo hướng tiếp cận thi pháp học
Bảng 3.2. Điều tra về mức độ hiểu bài của học sinh sau khi học xong “Đàn ghi ta của Lorca” (Trang 82)
Hình  ảnh  “bỗng  kinh  hoàng/  áo - Phương pháp dạy học tác phẩm  Đàn Ghita của Lorca  của Thanh Thảo ( Chương trình ngữ văn lớp 12 - tập 1 theo hướng tiếp cận thi pháp học
nh ảnh “bỗng kinh hoàng/ áo (Trang 100)
Hình  ảnh  của  những  chàng  matachor  (đấu sĩ đấu bò tót).  Hình ảnh chàng kị - Phương pháp dạy học tác phẩm  Đàn Ghita của Lorca  của Thanh Thảo ( Chương trình ngữ văn lớp 12 - tập 1 theo hướng tiếp cận thi pháp học
nh ảnh của những chàng matachor (đấu sĩ đấu bò tót). Hình ảnh chàng kị (Trang 102)
Hình ảnh “áo choàng bê bết đỏ”. - Phương pháp dạy học tác phẩm  Đàn Ghita của Lorca  của Thanh Thảo ( Chương trình ngữ văn lớp 12 - tập 1 theo hướng tiếp cận thi pháp học
nh ảnh “áo choàng bê bết đỏ” (Trang 103)
Hình ảnh nhƣ:  “kỵ sỹ”, “giọt nước - Phương pháp dạy học tác phẩm  Đàn Ghita của Lorca  của Thanh Thảo ( Chương trình ngữ văn lớp 12 - tập 1 theo hướng tiếp cận thi pháp học
nh ảnh nhƣ: “kỵ sỹ”, “giọt nước (Trang 106)
2.5. Hình tƣợng tác giả: - Phương pháp dạy học tác phẩm  Đàn Ghita của Lorca  của Thanh Thảo ( Chương trình ngữ văn lớp 12 - tập 1 theo hướng tiếp cận thi pháp học
2.5. Hình tƣợng tác giả: (Trang 110)
Hình  ảnh  người  chiến - Phương pháp dạy học tác phẩm  Đàn Ghita của Lorca  của Thanh Thảo ( Chương trình ngữ văn lớp 12 - tập 1 theo hướng tiếp cận thi pháp học
nh ảnh người chiến (Trang 111)
Bảng 3.4: Kết quả thực nghiệm - Phương pháp dạy học tác phẩm  Đàn Ghita của Lorca  của Thanh Thảo ( Chương trình ngữ văn lớp 12 - tập 1 theo hướng tiếp cận thi pháp học
Bảng 3.4 Kết quả thực nghiệm (Trang 113)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w