1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo Đại học Hệ tại chức của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

132 583 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng quản lý lĩnh vực giảng dạy và học tập 76 Chương 3: Những biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tại chức của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM -*** -

VŨ THU NGỌC

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC TẠI CHỨC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ

NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14 05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

HÀ NỘI - 2006

Trang 2

NHỮNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

ĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội

GD & ĐT : Giáo dục và Đào tạo

NCPP & KTCL : Nghiên cứu phương pháp và Kiểm tra chất lượng

Trang 3

1.5.1 Các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo của một trường đại học 18

Trang 4

1.5.2 Các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tại chức 19

1.6 Quản lý các điều kiện đàm bảo chất lượng đào tạo đại học tại chức 24

Chương 2: Thực trạng quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng

đào tạo đại học tại chức của Trường Đại học Ngoại ngữ -

2.1.7 Khái quát về Khoa Tại chức và đánh giá chung về công tác đào

tạo đại học tại chức của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

32

2.2 Thực trạng các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tại

chức của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

35

2.3 Thực trạng quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại

học tại chức của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

64

2.3.2.2 Quản lý việc thực hiện các văn bản pháp quy 67

Trang 5

2.3.2.5 Quản lý giáo trình 71 2.3.2.6 Quản lý việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo 72

2.3.2 Thực trạng quản lý lĩnh vực giảng dạy và học tập 76

Chương 3: Những biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất

lượng đào tạo đại học tại chức của Trường Đại học Ngoại ngữ -

ĐHQGHN

82

3.1 Cơ sở và nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý 82

3.2.2 Triển khai thực hiện chương trình đào tạo theo chương trình hệ

chính quy

84

3.2.5 Chuẩn bị các điều kiện áp dụng học chế tín chế 88

3.2.8 Tăng cường trang bị và quản lý hiệu quả việc sử dụng phương tiện

dạy học

96

Trang 6

Tài liệu tham khảo 105

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Toàn cầu hoá có thể là cơ hội lớn cho các nước đang phát triển, nếu biết tiếp nhận tri thức và công nghệ hiện đại thông qua chính sách mở cửa và hội nhập Ngoại ngữ, với tư cách là điều kiện để tìm kiếm và tiếp nhận tri thức trong bối cảnh và xu thế phát triển của thế giới như vậy ngày càng trở nên quan trọng đối với từng cá nhân và có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, văn hoá, khoa học công nghệ của đất nước Đặc biệt, với chủ trương chủ động hội nhập của Đảng và Nhà nước ta, vai trò của ngoại ngữ một lần nữa được khẳng định rõ nét hơn

Năng lực ngoại ngữ đang trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong năng lực của con người Việt Nam hiện đại Số lượng người cần đến ngoại ngữ tăng không ngừng cùng với yêu cầu ngày càng cao về trình độ giao tiếp thông thường cũng như giao tiếp trong môi trường nghề nghiệp Để có một trình độ ngoại ngữ tương đối tốt và toàn diện thì môi trường học tập trong nhà trường đại học với loại hình đào tạo tại chức (vừa học vừa làm) là môi trường học tập lý tưởng đáp ứng nhu cầu trên Đào tạo cử nhân ngoại ngữ hệ tại chức đã không chỉ giới hạn ở mục đích đào tạo một nghề (giáo viên ngoại ngữ, phiên dịch) hay đơn giản chỉ vì mục đích nâng cao dân trí, mà thực sự trở thành một kênh trực tiếp tham gia đào tạo nhân lực, tham gia bồi dưỡng nhân tài

Với chủ trương coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, chất lượng giáo dục là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Tư

tưởng chỉ đạo đó đã được thể hiện rõ trong nghị quyết TW 9 Khoá 9: "Tập

trung chỉ đạo quyết liệt việc nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực" Mặc dù được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm,

nhưng đến nay, trong giáo dục chất lượng còn là vấn đề đáng lo ngại và còn nhiều vấn đề hạn chế, yếu kém chậm được khắc phục Văn kiện Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: "Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao

chất lượng dạy học" Văn kiện cũng đã xác định mục tiêu và phương hướng

Trang 8

phát triển 5 năm tới (2006-2010) là: "Nâng cao chất lượng giáo dục toàn

diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam"

Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập với chủ trương: phát triển

thành một trung tâm đại học đa ngành, đa lĩnh vực, có chuẩn mực chất lượng ngang tầm khu vực và tiến tới đạt trình độ quốc tế đã đặt ra yêu cầu ngày càng

cao hơn về chất lượng đối với tất cả các loại hình đào tạo Hướng ưu tiên phát

triển của Đại học Quốc gia Hà Nội là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao,

trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Là trường thành viên, Trường

Đại học Ngoại ngữ có mục tiêu phát triển không nằm ngoài lộ trình phát triển của Đại học Quốc gia Hà Nội Mọi hoạt động được thực hiện trong nhà trường đều hướng tới mục đích cuối cùng là góp phần đảm bảo, nâng cao chất lượng đào tạo

Trong bối cảnh thực tiễn đó, chất lượng đào tạo đại học tại chức đang đối mặt với những thách thức lớn Có thể khẳng định điều kiện đảm bảo chất lượng thấp và chưa được quan tâm duy trì là hiện trạng chung của hệ đào tạo tại chức trong hầu hết các cơ sở đào tạo của Việt Nam Không nằm ngoài tình trạng chung, chất lượng đào tạo đại học tại chức của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN còn nhiều hạn chế và bất cập Đây là hệ quả của nhiều nguyên nhân, trong đó một nguyên nhân quan trọng là do thiếu các biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng của hệ đào tạo Chính vì vậy, nghiên cứu các biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo sao cho công tác tổ chức quản lý đạt hiệu quả cao nhất, góp phần từng bước nâng cao chất lượng đào tạo hệ đại học tại chức là vấn đề được Đảng

uỷ, Ban Giám hiệu Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN đặc biệt quan tâm

Với những lý do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Biện pháp quản lý

các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tại chức của Trường Đại

Trang 9

học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội” làm vấn đề nghiên cứu cho luận

văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo

và đánh giá thực trạng các điều kiện và quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tại chức ở Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện các mục đích đề ra, luận văn tập trung triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận làm luận cứ giải quyết các nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu của đề tài

- Khảo sát đánh giá thực trạng các điều kiện và quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tại chức của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

- Lý giải nguyên nhân của những tồn tại và đề xuất những biện pháp quản

lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tại chức của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Hệ đào tạo đại học tại chức của Trường Đại học

Ngoại ngữ - ĐHQGHN

4.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất

lượng đào tạo đại học tại chức của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

5 Giả thuyết nghiên cứu

Trang 10

Chất lượng đào tạo đại học tại chức của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN còn hạn chế do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân từ công tác quản lý Chất lượng đào tạo sẽ được nâng lên, góp phần không nhỏ vào việc đạt mục tiêu giáo dục của nhà trường nếu có sự nghiên cứu đổi mới, hoàn thiện những biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo

6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu về quản lý điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tại chức, ngành tiếng Anh tại một số cơ sở đào tạo nằm trong mối quan hệ hệ thống đối với việc quản lý điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo chung của hệ ĐHTC và của toàn trường

- Số liệu khảo sát khoá ĐHTC tập trung K17 (2003 - 2008) và K19 (2005 - 2009) ngành tiếng Anh

- Trong khảo sát thực tế và đề xuất biện pháp luận văn sẽ tập trung vào các điều kiện đảm bảo chất lượng cơ bản và ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đào tạo ĐHTC như: Tổ chức và quản lý, Giảng dạy và học tập, Cơ sở vật chất

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần làm sáng tỏ các vấn đề về các điều

kiện đảm bảo chất lượng đào tạo và quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tại chức, ngành ngoại ngữ

7.2 Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đưa ra một số biện pháp có thể áp dụng để

triển khai quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tại chức nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và góp phần đảm bảo mục tiêu giữ vững vị thế trường đầu ngành ngoại ngữ của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

8 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra cho luận văn, chúng tôi tập trung sử dụng một số phương pháp sau:

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Tham khảo, phân tích tài liệu, sách, báo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Trang 11

- Nhóm phương pháp thực tiễn: khảo sát, điều tra, thống kê toán học, phân tích số liệu, lấy ý kiến chuyên gia, phỏng vấn sâu, tổng hợp, phân tích

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo

và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại

học tại chức của trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 3: Đề xuất những biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất

lượng đào tạo đại học tại chức của trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chất lượng đào tạo ngày càng thu hút được sự quan tâm không những của các nhà quản lý giáo dục mà còn của cả xã hội Đa dạng hoá và chuẩn hoá từng loại hình đào tạo về chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng là phương châm hành động để bảo đảm phát triển giáo dục trên cơ sở bảo đảm chất lượng Theo quan điểm này, chất lượng đào tạo đại học tại chức được bàn luận đến nhiều trên các báo, tạp chí thuộc chuyên ngành giáo dục, nhưng các ý kiến chủ yếu là khen chê mà chưa bàn đến cách thức tổ chức, quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

Nhận thức được vai trò quan trọng, tính cấp bách của việc nâng cao chất lượng đào tạo hệ tại chức nhằm góp phần khẳng định uy tín, vị thế của nhà trường, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN đã tổ chức hội thảo quốc

gia Nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ không chính quy đáp ứng nhu

cầu hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội trong hai ngày 16 -17 tháng 5

năm 2001 Và vào tháng 8 năm 2006 nhà trường tiếp tục tổ chức hội thảo

Hoàn thiện chương trình đào tạo cử nhân ngoại ngữ hệ vừa học vừa làm

Kỷ yếu các hội thảo ra đời đã thể hiện sự đóng góp thiết thực và quý báu của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo về công tác đào tạo ĐHTC ngành ngoại ngữ Tuy nhiên, cho đến nay Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học hệ tại chức

Vận dụng các kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học chuyên ngành quản lý giáo dục nhằm góp phần giải quyết một trong những vấn đề tồn

Trang 13

tại hiện nay của nhà trường, trong luận văn, thông qua thực nghiệm tác giả sẽ nghiên cứu vấn đề một cách tương đối toàn diện, từ đó đề xuất các hướng giải quyết dưới dạng các biện pháp quản lý hiệu quả các điều kiện đảm bảo chất

lượng đào tạo Đề tài "Biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất

lượng đào tạo đại học hệ tại chức của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN" lần đầu tiên được nghiên cứu với các điều kiện và số liệu cụ thể

ở hệ đào tạo đại học tại chức Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

1.2 Các khái niệm cơ bản về quản lý

1.2.1 Quản lý

Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tuỳ thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị:

- F.W Taylor (1856 -1915) người được mệnh danh là cha đẻ của lý luận quản lý một cách khoa học cho rằng quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó khiến được họ hoàn thành công việc tốt nhất

và rẻ nhất [5 tr.23]

- H Fayol (1841-1925) coi quản lý là một loại công việc đặc thù, khác với các loại công việc khác của xí nghiệp và trở thành một hệ thống độc lập, phát huy tác dụng riêng có của nó mà các hệ thống khác của xí nghiệp không thể nào thay thế được Ông nói về nội hàm của khái niệm quản lý như sau:

“Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” (24, tr.59) Năm yếu tố trên đã tồn tại như những chuẩn mực được tuân theo một cách phổ biến trong quản lý hiện đại

- P Drucker (1909-2005) luôn nhấn mạnh quản lý sinh ra từ thực tiễn

và trở về với thực tiễn Ông quan niệm: “Quyền uy duy nhất của quản lý chính là thành tựu mà nó có thể đạt được ” [24, tr.338]

- Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng định nghĩa rõ hơn cả về quản lý đó là: "Quá

Trang 14

trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra" [2, tr.1]

Như vậy, có nhiều cách tiếp cận quản lý, song các định nghĩa đều đề cập tới bản chất của hoạt động quản lý, đó là cách thức tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm làm cho toàn bộ tổ chức hướng đến mục tiêu, đạt được thành quả mong muốn Quản lý là sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý Tác động quản lý thường mang tính tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau Vì vậy, trong quản lý không thể tuân thủ theo những quy định cứng nhắc mà phải linh hoạt, mềm dẻo

Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Là một khoa học

vì các hoạt động quản lý luôn là hoạt động có tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể Chỉ khi nhận biết đúng các quy luật đó, các đặc điểm của từng cá thể, các đặc trưng tâm lý khác nhau thì tác động của quản lý mới có kết quả Mặc dù trong hoạt động quản lý, nhà quản lý luôn tìm cách đúc kết kinh nghiệm và cải tiến công việc để có hiệu quả, tuy nhiên, muốn quản lý tốt thì phải học, không thể chỉ làm theo kinh nghiệm được

Quản lý đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động quản lý là hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động Không có một nguyên tắc chung nào cho mọi tình huống Nhà quản lý phải làm sao để có thể

xử lý sáng tạo, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra, điều đó phụ thuộc vào bí quyết sắp xếp các nguồn lực, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp v.v của từng người

Xã hội ngày càng phát triển, vai trò của quản lý càng được nhấn mạnh

và nội dung của hoạt động quản lý càng phức tạp Quản lý luôn gắn với tổ chức cụ thể và là nhân tố quyết định sức sống và sự thành công của tổ chức

1.2.2 Chức năng của quản lý

Trang 15

Chức năng quản lý là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý Quản lí có bốn chức năng cơ bản, có quan hệ mật thiết với nhau là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra

1.2.2.1 Kế hoạch hoá: là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý

Kế hoạch hoá bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động và quyết định cách thức, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý để đạt được mục tiêu Kế hoạch hoágiúp nhà quản lý có cái nhìn tổng thể, toàn diện, từ đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ phận.Việc lập kế hoạchcho phép lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức và có khả năng ứng phó với sự thay đổi Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra Không có kế hoạch sẽ không thể xác định tổ chức hướng tới đúng hay chệch mục tiêu và không biết khi nào đạt được mục tiêu Cũng do đó kiểm tra trở thành vô căn cứ Nhà quản lý thông qua kế hoạch có thể nhìn thấy tương lai,

có thể điều chỉnh những quyết định trước đó, bảo đảm hướng vào mục tiêu đã định

1.2.2.2 Tổ chức: Tổ chức là việc biến những ý tưởng trừu tượng của kế hoạch

thành hiện thực Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lý thực hiện có hiệu quả Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý Họ cần thiết kế cơ cấu các bộ phận, sử dụng các nguồn nhân lực và vật lực sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức

1.2.2.3 Chỉ đạo: đây là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để tác động đến

đối tượng bị quản lý một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của

họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung Chỉ đạo là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau việc lập kế hoạch

và cơ cấu tổ chức đã hoàn tất, mà nó hoà quyện và ảnh hưởng đến hai chức năng kia

Trang 16

1.2.2.4 Kiểm tra: là chức năng quan trọng xuyên suốt quá trình quản lý Mục

đích của kiểm tra nhằm bảo đảm các kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời những sai lệch, tìm nguyên nhân và biện pháp điều chỉnh các sai lệch nhằm làm cho toàn bộ hệ thống đạt mục tiêu đã định Kiểm tra là một quá trình bao gồm các bước: xây dựng các tiêu chuẩn; đo lường việc thực hiện; đánh giá các tiêu chuẩn so với kế hoạch Kiểm tra là tai mắt của quản lý, là việc làm bình thường, không được cản trở đối tượng thực hiện mục tiêu

Bốn chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra tạo thành hệ thống quản lý thống nhất với một trình tự nhất định Trong hệ thống quản lý này, yếu tố thông tin luôn có mặt ở tất cả các giai đoạn với vai trò là điều kiện phương tiện không thể thiếu được đối với việc thực hiện các chức năng quản

1.2.3 Biện pháp quản lý

Biện pháp, theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, được xác định là: “cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể”

Trong quản lý, biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đã đặt ra Biện pháp quản lý đòi hỏi sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý

Các biện pháp quản lý rất đa dạng và phải luôn được nhà quản lý sử dụng linh hoạt, sáng tạo để xử lý các tình huống cụ thể trong một môi trường luôn biến đổi Có biện pháp quản lý đúng đắn sẽ giúp cho các tổ chức hạn chế được các nhược điểm của mình, liên kết gắn bó mọi con người trong tổ chức, tạo niềm tin, sức mạnh và truyền thống của tổ chức Biện pháp quản lý cần được xây dựng trên cơ sở vận dụng những kinh nghiệm đã được đúc kết, khái quát hoá thành những nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản lý cần thiết

1.2.4 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành được nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung Giống như khái niệm quản

Trang 17

lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau

Có thể khái quát như sau: quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay theo quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, giáo dục không còn giới hạn cho thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người, cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

Theo lý luận của giáo dục hiện đại quản lý giáo dục được hiểu như việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đối với toàn bộ các hoạt động giáo dục [3, tr.17] Quá trình của hệ quản lý này dựa trên cơ sở của việc ra những quyết định đúng đắn, việc điều chỉnh linh hoạt và việc xử lý thông tin về các hoạt động giáo dục một cách kịp thời

1.3 Các khái niệm cơ bản về đào tạo đại học

1.3.1 Đào tạo

Đào tạo, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, là "một quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội"

Tác giả Nguyễn Minh Đường trong đề tài KX07-14 đã xác định: "Đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả"

Đào tạo là một loại hoạt động giáo dục, tuy nhiên mục đích, tính chất, quy mô, thời gian của hoạt động đào tạo được xác định cụ thể hơn Vì thế, đào tạo giúp cho giáo dục có hình thái thực thể xác định Đào tạo thực hiện các chức năng giáo dục như chức năng chuyển giao văn hoá, chức năng phát

Trang 18

triển, chức năng văn hoá tư tưởng Giáo dục được nhìn nhận như là con đường quan trọng nhất để phát triển xã hội còn đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong xã hội

Đối tượng của đào tạo bao giờ cũng là những con người cụ thể, do đó, mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức đào tạo phải phù hợp với những đặc điểm tâm lý của người học trong từng hoàn cảnh cụ thể Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, đào tạo còn bao gồm cả đào tạo lại, đào tạo thường xuyên nhằm cung cấp thêm kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nâng cao trình độ cho những người đang tham gia vào hoạt động xã hội để học làm tốt hơn công việc của mình

1.3.2 Đào tạo đại học

Giáo dục đại học là một phần của hệ thống liên tục bắt đầu từ giáo dục mẫu giáo, tiểu học và giáo dục thường xuyên suốt đời GDĐH đa dạng về chuyên môn, tính khoa học cao và có tính tự chủ đặc thù Mục tiêu, nội dung

và phương pháp được xác định trên cơ sở yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội Sứ mạng cốt lõi của GDĐH là đào tạo những người tốt nghiệp có chất lượng cao và những công dân có trách nhiệm và cung cấp cơ hội cho học tập đại học và cho học tập suốt đời

Trong thời đại hiện nay, GDĐH ngày càng có tính phổ quát, vai trò của trường đại học trong xã hội hiện đại ngày càng cao GDĐH giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo GDĐH là sự nghiệp chung không chỉ được hiểu với nghĩa là mọi người tích cực đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực cho sự nghiệp phát triển GDĐH mà còn được hiểu là mọi người được tạo cơ hội tiếp cận với học vấn đại học

1.3.3 Đào tạo đại học tại chức

Trang 19

Hiện nay, trên thế giới quan niệm về giáo dục thường xuyên còn rất khác nhau, tuỳ theo bối cảnh chính trị, kinh tế văn hoá, xã hội cụ thể của từng quốc gia GDTX luôn gắn liền với những thay đổi sâu sắc về chính trị, kinh

tế, xã hội, khoa học và mỗi nước, tuỳ theo hoàn cảnh của mình để xác định tầm quan trọng của nó, nhưng nhìn chung, cùng với thời đại mà vị trí của GDTX, giáo dục suốt đời ngày càng được khẳng định Ở nước ta, giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên là hai phương thức giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân GDTX là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, đồng thời là phương thức để tạo cơ hội thường xuyên tốt nhất cho mọi người có thể thoả mãn nhu cầu học tập và hiểu biết GDTX bảo đảm cho mọi công dân có quyền được học tập ở bất kỳ lứa tuổi và thời gian nào Nhà nước có chính sách phát triển GDTX, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập Trong GDTX không bao giờ có một giải pháp giản đơn, càng không thể có giải pháp lý tưởng cho mọi quốc gia, trong mọi thời kỳ Vì vậy trong GDTX phải luôn chú ý ưu tiên việc nghiên cứu, cải tiến để phát triển

Các hình thức thực hiện chương trình GDTX để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân, theo Luật Giáo dục được ban hành năm 2006 bao

gồm: vừa học vừa làm (tại chức), học từ xa và tự học có hướng dẫn Đào tạo

đại học tại chức (vừa học vừa làm) là một hệ đào tạo chiếm một số lượng lớn trong hình thức thực hiện chương trình GDTX để lấy văn bằng ở nước ta Đào tạo ĐHTC góp phần đáng kể vào sự nghiệp xã hội hoá giáo dục Đối với một nước còn nghèo, lại muốn cho ai nấy được học hành, xã hội có nhu cầu, cá nhân muốn được tiếp thu tri thức thì đào tạo ĐHTC song song với đào tạo đại học chính quy trong thời điểm này là thật sự cần thiết Đào tạo ĐHTC giúp mọi người vừa học vừa làm, được tiếp tục học, được đào tạo lại, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp, thích nghi với đời sống xã hội, tạo thêm công ăn việc làm và góp phần xoá đói giảm nghèo Đây

Trang 20

là cũng chính là hình thức đào tạo góp phần giảm bớt sự bất bình đẳng về cơ hội học tập trong xã hội ta ngày nay

1.4 Các khái niệm cơ bản về chất lượng đào tạo

1.4.1 Chất lượng

Theo Đại từ điển tiếng Việt, thuật ngữ chất lượng được hiểu là: “Cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật” Mặc dù là "cái" tạo ra phẩm chất, giá trị song khi xem xét về chất lượng thì phải căn cứ vào phẩm chất, giá trị do nó tạo nên

Theo cách tiếp cận truyền thống, chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, là

cái tốt nhất, là những sản phẩm được làm ra một cách hoàn hảo bằng các vật

liệu quý hiếm, đắt tiền Khái niệm chất lượng này mang nghĩa tuyệt đối Những thứ được coi là có chất lượng sẽ có những chuẩn mực rất cao không

thể vượt qua được Theo người tiêu dùng thì chất lượng là sự phù hợp với nhu

cầu, mong muốn của họ Sự chuyển đổi từ đáng giá sang phù hợp yêu cầu là

một điều có ý nghĩa Tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm hay dịch vụ đối với người tiêu dùng không nhất thiết phải là đặc biệt mà là sự phù hợp yêu cầu Theo quan điểm triết học, chất lượng hay sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích luỹ về lượng (quá trình tích luỹ, biến đổi) tạo nên những bước nhảy vọt về chất của sự vật và hiện tượng Chất lượng là tập hợp của các đặc tính, tạo nên sự khác biệt về chất giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác thông qua quá trình tích luỹ và biến đổi không ngừng Quá trình

đó chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau trong môi trường nhất định Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN - ISO 8402) thì chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn

Một cách khái quát, có thể định nghĩa chất lượng là tổng hợp các đặc trưng của sản phẩm hoặc dịch vụ liên quan đến khả năng thoả mãn một nhu cầu đã cho

1.4.2 Chất lượng đào tạo đại học

Trang 21

Chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là "con người lao động" nên

là một phạm trù động, đa chiều, khó xác định và đánh giá, nó phản ánh nhiều mặt của hoạt động giáo dục, khó có thể khái quát bằng một định nghĩa duy nhất Chất lượng đào tạo là sự thoả mãn tối đa các mục tiêu đã đặt ra đối với quá trình đào tạo, là sự hoàn thiện trình độ, kiến thức, kỹ năng, thái độ theo mức độ đã xác định và khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội hoặc cá nhân, đồng thời thoả mãn được yêu cầu đa dạng của kinh tế xã hội luôn phát triển Chất lượng đào tạo được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu, mà nhu cầu thì luôn biến động nên chất lượng cũng luôn biến động theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng Chất lượng được duy trì nếu như các cơ sở đào tạo xây dựng được các chương trình đào tạo với các chuẩn mực chất lượng nhất định và có các cấu trúc ra quyết định phù hợp

Thuật ngữ chất lượng đào tạo đề cập đến chất lượng của một phức hợp loại hình, trình độ đào tạo khác nhau Trong đó, chất lượng đào tạo đại học là vấn đề được toàn xã hội quan tâm ở hầu hết các nước trên thế giới và là vấn

đề quan trọng nhất của tất cả các trường đại học Chất lượng đào tạo đại học luôn gắn với một giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể, mỗi giai đoạn đòi hỏi những phẩm chất, năng lực cần thiết của nguồn nhân lực phù hợp với đặc điểm của giai đoạn đó

Trong GDĐH, với quan niệm chất lượng là sự nổi tiếng thì khi nói đến chất lượng là nói đến các trường đại học như Oxford, Cambridge, Harvard, Tuy nhiên với quan niệm tuyệt đối về chất lượng như trên khó có thể sử dụng

để đánh giá chất lượng trong toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Quan niệm này không còn phù hợp khi xã hội ngày càng đặt ra yêu cầu lớn hơn đối với giáo dục đại học là vừa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân được học, được đào tạo, vừa phải đảm bảo giáo dục có chất lượng

Theo tác giả Nguyễn Đức Chính, về chất lượng GDĐH hiện có nhiều định nghĩa do các cách tiếp cận khác nhau: theo quan điểm chất lượng phụ

thuộc vào "đầu vào" hay còn gọi là "quan điểm nguồn lực" thì cứ có đầu vào

tốt (yếu tố đầu vào quyết định nhất là trình độ sinh viên) là có chất lượng tốt

Trang 22

Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo được diễn ra rất

đa dạng và liên tục trong trường đại học Tuyển chọn đầu vào khắt khe là một

cơ sở để có chất lượng, nhưng các điều kiện khác trong quá trình giảng dạy

cũng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng Chất lượng căn cứ bằng "đầu ra"

của quá trình đào tạo, chính là mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của một trường Dựa vào quan điểm này, đã có không ít ý kiến chỉ tập trung phân tích một số biểu hiện hạn chế của sản phẩm đầu ra của giáo dục để từ đó phê phán cả hệ thống giáo dục, phủ nhận sự nỗ lực của nhà trường, của các nhà giáo dục Chất lượng

được đánh giá bằng "giá trị gia tăng", tức là hiệu số của giá trị của "đầu ra"

và "đầu vào" Kết quả thu được là "giá trị gia tăng" mà các trường đại học đã đem lại cho sinh viên Trong thực tế khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất đánh giá chất lượng "đầu vào" và "đầu ra" để từ đó đánh giá được chất lượng nhà trường Hơn nữa, các chỉ số của giá trị gia tăng chỉ là một yếu tố cấu thành chất lượng và không cung cấp được thông tin gì về sự cải tiến quá

trình đào tạo trong từng trường đại học Chất lượng được đánh giá bằng "giá

trị học thuật" là quan điểm truyền thống của nhiều trường đại học phương

Tây Theo quan điểm này, cứ trường nào đội ngũ cán bộ giảng dạy có năng lực học thuật, uy tín khoa học cao, thì được xem là trường có chất lượng cao Vấn đề đặt ra là liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ cán

bộ giảng dạy và nghiên cứu khi xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng Quan điểm chất lượng được đánh giá

bằng "Văn hoá tổ chức riêng" dựa trên nguyên tắc cơ sở đào tạo phải tạo ra

được nét đặc trưng quan trọng hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Quan điểm này mượn từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại nên khó

có thể áp dụng trong lĩnh vực giáo dục đại học Một quan điểm nữa cho rằng

chất lượng được đánh giá bằng "Kiểm toán" Theo quan điểm này nếu một cá

nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các quyết định chính xác và chất lượng được đánh giá qua quá trình thực hiện, còn "đầu vào" và "đầu ra" chỉ là các yếu tố phụ Cách đánh giá này chưa lý giải được trường hợp một cơ

Trang 23

sở đại học có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin nhưng vẫn có những quyết sách chưa phải là tối ưu

Cách tiếp cận chất lượng từ góc độ tiêu chuẩn có nguồn gốc từ ý niệm kiểm soát chất lượng trong các ngành sản xuất và dịch vụ Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước đó Cách tiếp cận này tạo cơ hội cho các trường đại học muốn nâng cao chất lượng đào tạo có thể đề ra các tiêu chuẩn nhất định về các lĩnh vực trong quá trình đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường mình và phấn đấu theo các chuẩn đó Tuy nhiên, chất lượng không phải là tĩnh tại mà luôn phải nhận thức lại, bổ sung và cần cụ thể hoá, do đó việc lập ra những cơ chế để điều khiển, kiểm soát chất lượng và tìm ra một tiêu chuẩn cố định cho giáo dục không còn thích hợp

Tổ chức đảm bảo chất lượng đại học quốc tế INQAAHE (International Network of Quality Assurance Agencies in Higher Education) định nghĩa chất lượng giáo dục đại học là sự tuân theo các chuẩn quy định và đạt được các mục tiêu đề ra

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì một định nghĩa về chất lượng giáo dục đại học được hầu hết các nhà phân tích và hoạch định chính sách giáo dục

đại học chấp nhận là: "Sự trùng khớp với mục đích" Theo định nghĩa này,

một khoá đào tạo của một trường đại học được xem là có chất lượng phù hợp nếu nó tuân thủ các tiêu chuẩn xác định hoặc đạt được mức độ nào đó của mục đích thiết kế Mục đích của khoá học được xây dựng trên cơ sở xác định

"chất lượng bên trong" là sự phù hợp với mục tiêu đào tạo và "chất lượng bên ngoài" là sự thoả mãn nhu cầu xã hội Trong thực tế, xã hội luôn luôn vận động và phát triển làm phát sinh, xuất hiện các nhu cầu mới, vì vậy chất lượng luôn gắn với mục tiêu, điều kiện, không gian, thời gian nhất định Đối với từng khoá học, ngành học cụ thể có thể xác định rõ ràng các yêu cầu mang tính giai đoạn Các yêu cầu được phản ánh vào mục tiêu đào tạo, vì vậy, việc xác định mục tiêu phù hợp cũng chính là bảo đảm sự thoả mãn nhu cầu Mục tiêu đào tạo càng cụ thể, càng dễ quan sát, dễ lượng hoá thì càng thuận lợi khi

Trang 24

xác định chất lượng qua các phương pháp định tính và định lượng Như vậy, định nghĩa trên tỏ ra có ý nghĩa đối với việc xác định chất lượng và cả việc đánh giá nó

1.4.3 Đảm bảo chất lượng đào tạo

Đảm bảo chất lượng là quá trình quản lý chất lượng nhằm ngăn ngừa những sản phẩm kém chất lượng hay các chuẩn mực chất lượng thấp [19,tr.65]

Đảm bảo chất lượng, theo TCVN (tiêu chuẩn Việt nam) 5814, là toàn

bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được tiến hành trong hệ thống quản lý

đã được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thoả đáng rằng đối tượng sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng

Trong đào tạo, khái niệm đảm bảo chất lượng được coi là "Một hệ thống các biện pháp, các hoạt động có kế hoạch được tiến hành trong và ngoài nhà trường và được chứng minh là đủ cần thiết để tạo ra sự tin tưởng thoả đáng rằng các hoạt động và sản phẩm đào tạo sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu

về chất lượng đào tạo theo mục tiêu đào tạo dự kiến" [8, tr.48]

Theo hiệp hội Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á SEAMEO, đảm bảo chất lượng đào tạo là "việc áp dụng các quan điểm, chính sách, mục tiêu, các nguồn lực, các quá trình, các thủ tục và các công cụ vào quá trình giáo dục để đảm bảo thực hiện được sứ mạng và mục tiêu đề ra nhằm tạo ra lòng tin đối với người học, người sử dụng lao động và xã hội"

Theo quy định về kiểm định chất lượng trường đại học do Bộ GD &

ĐT nước ta ban hành ngày 02.12.2004 thì đảm bảo chất lượng giáo dục đại học là toàn bộ các chủ trương, chính sách, mục tiêu, cơ chế quản lý, các hoạt động, điều kiện nguồn lực, cùng những biện pháp khác đề duy trì, nâng cao chất lượng giáo dục nhằm đáp ứng mục tiêu đề ra

Đảm bảo chất lượng là quá trình xảy ra trước và trong quá trình đào

tạo, với mục đích cho ra những sản phẩm "không mắc lỗi" và là quá trình

quan trọng, cần thiết bởi ý nghĩa đặc biệt của sản phẩm đào tạo là không có

"phế phẩm" Vấn đề được đặt ra là làm thế nào để có thể xác định được một

Trang 25

sinh viên tốt nghiệp có bằng cấp đạt chất lượng "không mắc lỗi", bởi hiện

chưa có một bộ chuẩn đánh giá nào có thể giúp đo được chính xác tính hiệu quả của quá trình đào tạo ra một sinh viên tốt nghiệp Theo tác giả Nguyễn Đức Chính thì "đối với một sinh viên tốt nghiệp đại học, vấn đề chất lượng

không phải là khái niệm "sản phẩm không mắc lỗi" mà là mức độ thành đạt

của sinh viên trong công việc ngoài các bằng cấp tối thiểu"

Bản chất của quản lý chất lượng theo hình thức đảm bảo chất lượng đào tạo là sử dụng các quy trình, cơ chế bên trong trường đại học để duy trì chất lượng, hướng vào phòng ngừa các sản phẩm chất lượng thấp, tăng cường hiệu quả quản lý Đảm bảo chất lượng còn là sự phối hợp trách nhiệm quản lý bên trong cơ sở đào tạo đại học với trách nhiệm giám sát bên ngoài của các cơ quan quản lý giáo dục đại học và xã hội Trách nhiệm quản lý bên trong theo các quy trình và cơ chế đã được xây dựng và pháp lý hoá luôn được đề cao và

là yếu tố duy trì chuẩn mực chất lượng Thông qua việc đảm bảo chất lượng, các cơ sở đào tạo đại học khẳng định chất lượng đào tạo, nghiên cứu, cung cấp dịch vụ của mình Quá trình đảm bảo chất lượng nhất thiết phải xuất phát

từ một hệ thống đảm bảo chất lượng mà trong đó chú trọng đến quá trình cải tiến chất lượng liên tục Do đó, để tạo ra một quá trình cải tiến liên tục, các nhà quản lý giáo dục phải sẵn sàng phân chia trách nhiệm về chất lượng và xây dựng được một nền văn hoá chất lượng

1.5 Các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo

1.5.1 Các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo của một trường đại học

Đã từ lâu việc đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo trong giáo dục đại học ở nhiều nước phát triển trên thế giới đã trở thành đương nhiên và là điều kiện để các trường đại học tồn tại Các tiêu chí chuẩn về điều kiện ĐBCLĐT ở nhiều nước do hiệp hội đánh giá chất lượng hoặc chính Bộ Giáo dục đề ra Ở nước ta, bộ tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo dùng cho các trường đại học do Bộ GD & ĐT ban hành kèm theo quyết định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 02.12.2004 Theo Bộ

Trang 26

tiêu chí, các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo của trường đại học bao gồm 10 lĩnh vực:

- Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học

- Tổ chức và quản lý

- Chương trình đào tạo

- Các hoạt động đào tạo

- Đội ngũ cán bộ, giảng viên và nhân viên

- Đội ngũ sinh viên

- Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

- Hoạt động hợp tác quốc tế

- Thư viện, trang thiết bị và cơ sở vật chất khác

- Tài chính và quản lý tài chính

Các điều kiện ĐBCLĐT và tiêu chí đánh giá được xây dựng trên cơ sở vận dụng cơ sở lý luận, luận cứ khoa học và những kinh nghiệm được rút ra

từ các công trình nghiên cứu và triển khai thực tiễn về kiểm tra đánh giá và đảm bảo chất lượng giáo dục đại học là công cụ đánh giá chất lượng đào tạo trong các trường đại học Việt Nam Các điều kiện ĐBCLĐT là yếu tố quan trọng nhất tạo nên chất lượng đào tạo: không thể có một chất lượng đào tạo cao khi các điều kiện ĐBCLĐT lại ở mức thấp

1.5.2 Các điều kiện cơ bản đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tại chức

Có sự khác biệt giữa các điều kiện ĐBCLĐT của một cơ sở đào tạo với điều kiện ĐBCLĐT của một chương trình đào tạo Các điều kiện ĐBCLĐT của một chương trình đào tạo chỉ được xem như là một bộ phận trong điều kiện ĐBCLĐT của nhà trường Các lĩnh vực của điều kiện ĐBCLĐT của một chương trình đào tạo có trọng tâm tập trung ở quá trình đào tạo, vì vậy, được xác định là không trùng khớp với các điều kiện của một nhà trường Các điều kiện ĐBCLĐT còn lại là điều kiện chung của nhà trường, được đề cập đến như là bối cảnh để thực hiện chương trình đào tạo

Đào tạo là một quá trình gồm một hệ thống các khâu mang tính logic khoa học và biện chứng cao, đòi hỏi một sự nhất quán, xuyên suốt trong toàn

Trang 27

bộ hệ thống Vì vậy, tuy không nhất thiết phải bao gồm toàn bộ các điều kiện ĐBCLĐT của một cơ sở đào tạo, các điều kiện ĐBCLĐT hệ ĐHTC đảm bảo

đề cập tới các yếu tố: chương trình, giáo trình, giảng viên, sinh viên, kiểm tra đánh giá và công tác tổ chức, quản lý đào tạo và cơ sở vật chất, phương tiện

kỹ thuật hỗ trợ hoạt động dạy và học Đây là những yếu tố cơ bản, quan trọng nhất trong công tác quản lý hệ ĐHTC và chỉ khi quản lý được các yếu tố này mới có thể đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo Các lĩnh vực còn lại là bối cảnh mà hệ đào tạo không thể tách rời nhưng là điều kiện ĐBCLĐT chung của nhà trường

Theo cách tiếp cận này, các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo ĐHTC trong điều kiện cụ thể ở Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN sẽ được tác giả nghiên cứu ở các lĩnh vực: 1) Tổ chức và quản lý; 2) Giảng dạy

và học tập; 3) Cơ sở vật chất

1.5.2.1 Tổ chức quản lý

Tổ chức và quản lý là lĩnh vực quan trọng hàng đầu để đảm bảo chất lượng đào tạo Tổ chức và quản lý tốt có thể nhân lên và tạo ra nguồn lực tiềm tàng để đảm bảo chất lượng đào tạo Ngược lại, tổ chức và quản lý tồi sẽ làm tiêu tán nguồn lực, dẫn đến chất lượng đào tạo không đạt yêu cầu đặt ra Tổ chức và quản lý hiệu quả là tiền đề đảm bảo các hoạt động của cơ sở đào tạo thực hiện được kế hoạch và mục tiêu đề ra

Trong tổ chức và quản lý các vấn đề được quan tâm hàng đầu đó là đội ngũ cán bộ; việc thực hiện văn bản pháp quy; tuyển sinh; chương trình, giáo trình đào tạo; tổ chức thực hiện chương trình; lưu trữ hồ sơ học tập và kiểm tra đánh giá Tổ chức và quản lý đào tạo thực chất là quá trình kết hợp hoạt động của cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên nhằm cải biến nhân cách của sinh viên do trường quản lý Tổ chức quản lý đào tạo phải dựa trên hệ thống văn bản, quy chế để hoạt động đào tạo được diễn ra một cách an toàn, hiệu quả

Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo là tiêu chí thể hiện việc tổ chức chặt chẽ để đảm bảo từng bước thực hiện được mục tiêu đề ra Kế hoạch tổ

Trang 28

chức thực hiện chương trình càng chi tiết, cụ thể và khả thi càng đảm bảo cho việc thực hiện thành công Quá trình tổ chức thực hiện chương trình ĐHTC được tiến hành dựa trên đối tượng người học với trình độ, mục đích, điều kiện học tập, tuổi tác rất khác biệt so với đối tượng sinh viên chính quy

Phương thức tổ chức, quản lý đào tạo cứng nhắc, không khoa học theo niên chế hiện nay đã làm hạn chế hiệu quả và chất lượng đào tạo, số sinh viên

bỏ dở khoá học ngày một tăng đến mức báo động do sinh viên không thể đáp ứng các yêu cầu gò bó, thiếu tính cơ động của quy trình đào tạo Các hoạt động đào tạo cần được tổ chức theo quy trình và học chế mềm dẻo, phát huy tính tích cực của người học, nhằm nâng cao chất lượng vào hiệu quả đào tạo toàn diện Học chế tín chỉ là vấn đề được các nhà quản lý giáo dục nước ta quan tâm từ lâu như hướng đến một giải pháp cho công tác tổ chức quản lý đào tạo Tăng cường việc tự học của sinh viên, giảm một phần số giờ lên lớp

lý thuyết, cho phép sinh viên chủ động xây dựng kế hoạch học tập thích hợp nhất, ngắn hạn cũng như dài hạn, đối với riêng bản thân họ, khuyến khích sinh viên từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học đại học… đó là những điều kiện học tập cần thiết đối với sinh viên tại chức Và cũng chính là những ưu điểm của quy trình đào tạo theo tín chỉ

1.5.2.2 Giảng dạy và học tập

+ Giảng viên và hoạt động giảng dạy

Giảng viên có trình độ học vấn cao, có năng lực chuyên môn và năng lực nghiệp vụ sư phạm giỏi là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng đào

tạo Tỉ lệ giảng viên có học hàm học vị là tiêu chí để đảm bảo về chuyên môn

và nghiệp vụ trong giáo dục đại học Nhà trường phải có đủ số lượng giảng viên tương ứng với số lượng sinh viên và chương trình đào tạo theo tỉ lệ quy định Tỉ lệ sinh viên trên giảng viên là tiêu chí đảm bảo hiệu quả và hiệu suất đào tạo Tỉ lệ cao sẽ giảm chất lượng, tỉ lệ thấp sẽ giảm hiệu suất đào tạo Cường độ lao động hợp lý sẽ tạo điều kiện cho giảng viên có thời gian nghiên cứu, có nguồn lực cải tiến và nâng cao chất lượng chuyên môn và nghiệp vụ của mình

Trang 29

Yêu cầu đầu tiên đối với một giảng viên là họ phải có một lượng tri thức tương đối rộng và sâu ở lĩnh vực chuyên ngành và liên ngành Đồng thời,

họ cần phải có kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, pháp luật, hành chính nhà nước, môi trường, dân số, an ninh quốc phòng, hướng nghiệp Giảng viên không chỉ là người có kiến thức chuyên môn mang tính

lý luận mà còn phải có khả năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Bên cạnh đó, giảng viên cần thiết phải có kỹ năng sư phạm vì đó là yếu

tố cấu thành cơ bản tạo nên tư chất người giảng viên Các kỹ năng sư phạm bao gồm: kỹ năng lập kế hoạch dạy học; kỹ năng tổ chức và tiến hành dạy học trên lớp; kỹ năng tổ chức, quản lý, tư vấn giúp đỡ, giáo dục sinh viên ngoài giờ học; kỹ năng giao tiếp; kỹ năng lập hồ sơ giảng dạy, hồ sơ sinh viên, học liệu; kỹ năng đánh giá; kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông trong giảng dạy; kỹ năng thích ứng với những thay đổi đang diễn ra nhanh chóng trong giáo dục cũng như đời sống xã hội; kỹ năng tự học và học tập suốt đời Như vậy, giảng viên đại học phải là người thực sự yêu nghề, yêu trò, vững chuyên môn, có phương pháp truyền thụ kiến thức cho sinh viên, khơi dạy được khả năng tự học, óc tư duy sáng tạo, óc phê phán của trò, thường xuyên cập nhật thông tin, có ý thức học tập suốt đời, có phong cách của người giáo viên thì mới có thể có được một chất lượng đào tạo tốt

Giảng dạy ĐHTC là một hoạt động văn hoá, xã hội phức tạp mang nhiều nét đặc thù Trong điều kiện giảng dạy ĐHTC, giảng viên cần phải tìm hiểu các yếu tố cá nhân và xã hội có ảnh hưởng đến quá trình dạy học như động cơ, thái độ, tuổi tác, cá tính và năng lực của người học Những giảng viên thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy ĐHTC phải là những người vững vàng

về chuyên môn và chuẩn mực về phương pháp, kỹ năng sư phạm, có kinh nghiệm giảng dạy, có khả năng giao tiếp tốt với đối tượng người học rất đa dạng Đồng thời họ phải có sức khoẻ, lòng nhiệt tình, tận tâm và sự kiên trì khắc phục khó khăn trong giảng dạy để thích ứng với các điều kiện dạy học thường là không thuận lợi về thời gian, địa điểm, phương tiện giảng dạy và cả phương tiện đi lại Người học sẽ tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo hơn và

Trang 30

kết quả học tập của họ sẽ tốt hơn nếu người thầy - chủ thể của hoạt động giảng dạy trở thành nguồn khích lệ, nguồn tạo hứng thú với mỗi sinh viên và toàn bộ lớp học

+ Sinh viên và và hoạt động học tập

Sinh viên vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá trình đào tạo Sinh viên ĐHTC có những đặc điểm riêng và những hạn chế nhất định Chất lượng đầu vào là một trong các yếu tố quyết định chất lượng đào tạo, trong khi đó, chất lượng đầu vào của hệ ĐHTC nhìn chung là thấp, trình độ học vấn và văn hoá rất không đồng đều, động cơ, mục đích học tập rất đa dạng Tuổi tác cũng

là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng khả năng tiếp nhận kiến thức mới của người học Mỗi độ tuổi phù hợp với hình thức tổ chức học tập khác nhau,

trong khi đó đặc điểm của một lớp học ĐHTC là tuổi tác của học viên rất

chênh lệch, bao gồm các đối tượng từ trẻ đến già Thời gian có thể dành cho việc học tập của sinh viên tại chức nhìn chung là eo hẹp Đại đa số sinh viên học tại chức chưa được trang bị phương pháp học tập và kỳ vọng giảng đường đại học là phương thuốc thần kỳ sẽ đem lại cho họ sự tiến bộ vượt bậc Con người mà xã hội cần ngày nay là con người luôn năng động, tích cực tư duy trong công việc, người học rất cần có ý thức, thái độ học tập đúng đắn tạo động lực cho việc học Trong khi đó đặc điểm và cũng chính là điểm hạn chế của sinh viên tại chức là học thụ động, ỷ lại vào thầy, vào sự châm chước, chiếu cố trong thi cử Nếu không có được hướng dẫn cụ thể, sự nhiệt tình của giáo viên, họ nhanh chóng bị hụt hẫng, chán nản, dẫn đến tình trạng hoặc là

bỏ học, hoặc là đến lớp chỉ để điểm danh, học vì điểm, học cốt để lấy được văn bằng Nhưng đó không phải lỗi hoàn toàn của người học Yếu tố quản lý ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng trên

Tóm lại, không thể áp đặt cho những đối tượng đặc biệt này những gì

đã được thực hiện dù có kết quả tốt ở đào tạo chính quy

1.5.2.3 Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất là điều kiện rất quan trọng để thực hiện hoạt động dạy - học và để đảm bảo chất lượng, hiệu quả, hiệu suất đào tạo Phương tiện, trang

Trang 31

thiết bị dạy học hỗ trợ giảng viên chuyển tải nội dung và giúp sinh viên thực hiện quá trình nhận thức nội dung Phương tiện góp phần nâng mức độ nhận thức nội dung và tạo cơ hội cho học viên học tập tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức Trong đào tạo ĐHTC, cơ sở vật chất không được nhà nước đầu tư trang

bị như ở hệ chính quy nên đáp ứng đầy đủ về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập là việc rất khó và rất cần được quan tâm

1.6 Quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học tại chức

Trong đào tạo, quản lý là nhân tố không trực tiếp xuất hiện thường xuyên trong quá trình dạy học trên lớp, nên thường không được coi là nhân tố tạo nên chất lượng dạy học của từng môn học, nhưng trên thực tế nó lại trực tiếp chi phối toàn bộ quá trình hoạt động của các nhân tố khác bằng những hoạt động cụ thể như: tham gia xây dựng chương trình và phê duyệt chương trình đào tạo; quyết định đưa môn học vào chương trình đào tạo với tư cách là môn chính, môn phụ hoặc thay đổi, cắt bỏ hẳn môn học; tuyển chọn, phân bố học sinh vào lớp; bố trí, sử dụng giáo viên phù hợp; giám sát, chỉnh đốn, hỗ trợ hoạt động dạy học của giáo viên và sinh viên; quy định hình thức thi hết môn học, thi tốt nghiệp; công nhận kết quả dạy học; đảm bảo các phương tiện dạy học; đánh giá, khen thưởng

Trong quản lý đào tạo hệ tại chức, xuất phát từ đặc điểm, nhu cầu của một phức hợp đối tượng người học, để thực hiện được mục tiêu của GDTX, biện pháp quản lý tổ chức đào tạo ĐHTC phải linh hoạt, mềm dẻo, có sự khác biệt theo địa phương, theo đối tượng, tạo cơ hội học tập đa dạng, thuận tiện cho người học Song, do sự mở rộng quy mô đào tạo, nhiều cơ sở đào tạo không đủ các điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị để duy trì chất lượng đào tạo Điều này tất yếu dẫn đến hậu quả chất lượng đào tạo ĐHTC trong nhiều năm nay không thể kiểm soát được Đào tạo chính quy đã có truyền thống lâu dài, có lực lượng hùng mạnh về cả cơ sở vật chất lẫn đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu Thế nhưng mọi sự áp đặt về nội dung, phương pháp hay hình thức tổ chức cũng như các thể chế chính quy đều không phù hợp với

hệ đào tạo ĐHTC ĐHTC cần kế thừa, tận dụng được đội ngũ giảng viên, tài

Trang 32

liệu, giáo trình, cơ sở vật chất của đào tạo chính quy kết hợp với đầu tư, cải tiến Như vậy, yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý hệ ĐHTC là phải đảm bảo nguyên tắc quá trình đào tạo như mục đích, đối tượng, nội dung chương trình,

tổ chức quản lý, đánh giá hiệu quả và không được tách rời mà phải liên kết, phối hợp chặt chẽ với đào tạo chính quy, nhưng phải giữ được "đặc thù riêng" của hệ ĐHTC

Quản lý các điều kiện ĐBCLĐT hệ ĐHTC là quản lý một hệ thống bao gồm nhiều thành tố cấu trúc đặc thù Việc quản lý đòi hỏi vừa phải làm sao cho mỗi điều kiện của hệ đào tạo có nhiều đặc thù này có được lực tác động

đủ mạnh, lại vừa phải đảm bảo sự vận động nhịp nhàng và thống nhất của toàn bộ quá trình quản lý, không để yếu tố nào vận động yếu làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung Mục tiêu quản lý các điều kiện ĐBCLĐT hệ ĐHTC

là tạo ra sự vận động hài hoà, huy động triệt để các nhân tố, các nguồn lực trong hệ thống vận hành đúng mục đích nhằm thực hiện mục tiêu, kế hoạch, nội dung chương trình đào tạo theo đúng tiến độ, đạt hiệu quả cao Chúng ta tìm hiểu tính chất đặc thù của hệ đào tạo để lựa chọn, thực hiện và cải tiến các hình thức tổ chức quản lý đào tạo phù hợp, không vì mục đích biện minh cho quản lý lỏng lẻo

Các biện pháp quản lý trong đề tài là dựa vào những phương pháp cụ thể tìm ra những tồn tại có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến các điều kiện ĐBCLĐT hệ ĐHTC, nghiên cứu tìm ra cơ chế tác động hiệu quả nhất để giải quyết những tồn tại, từ đó đề xuất các hướng giải quyết phù hợp và khả thi dưới dạng các biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo

1.7 Một số vấn đề về đào tạo ngoại ngữ

Ngoại ngữ ngày càng trở thành một ngôn ngữ quan trọng bên cạnh tiếng bản địa trong vai trò là công cụ giao lưu, hội nhập và phát triển của một quốc gia Trong lĩnh vực văn hoá và khoa học kỹ thuật, các tình huống có nhu cầu sử dụng ngoại ngữ ngày càng nhiều Đào tạo ngoại ngữ có mục đích chủ yếu là trang bị cho người học một công cụ giao tiếp mới vì về bản chất ngoại ngữ chính là công cụ giao tiếp

Trang 33

Là bộ môn văn hoá cơ bản, việc dạy và học ngoại ngữ ở nước ta có những đặc điểm chung giống các bộ môn văn hoá khác Nó cũng có mục đích giáo dục thế giới quan và nhân sinh quan, đồng thời, góp phần nâng cao trình

độ văn hoá chung cho người học Tuy nhiên, mỗi ngành đào tạo tất yếu đều

có đặc thù riêng, ngoại ngữ là một ngành có nhiều đặc thù, cụ thể:

- Sinh viên: Sinh viên ngoại ngữ thường được đánh giá là người có

năng khiếu ngoại ngữ hoặc có tư chất thông minh hoặc hội đủ cả hai yếu tố trên Theo Caroll và Sapon (1959) năng khiếu ngoại ngữ bao gồm 3 thành tố: khả năng nhận biết và ghi nhớ những âm thanh mới, có khả năng nhạy cảm về mẫu câu, có khả năng quan sát, nhận ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa nội dung và hình thức tức là có năng khiếu về ngoại ngữ Năng khiếu là một yếu tố quan trọng trong học ngoại ngữ nhưng nó chỉ thể hiện trong quá trình học tập Còn thông minh là khả năng học tập chứ không phải là lượng kiến thức có trong đầu người học Thông minh không phải là yếu tố then chốt trong học ngoại ngữ Sinh viên thông minh nhưng không có quyết tâm, không giành đủ thời gian và không có kế hoạch học tập thích hợp sẽ không thể đạt được kết quả cao

- Giáo viên: Ngoại ngữ là một ngành khoa học nhân văn, việc dạy học

ngoại ngữ có ý nghĩa giáo dục nhân văn gắn trong từng bài giảng Giáo viên ngoại ngữ ngoài những năng lực cơ bản của người thầy như: năng lực giảng dạy, năng lực giáo dục và năng lực tự đào tạo còn phải là người có nghệ thuật

và tình yêu nghề nghiệp và cả sự mẫu mực Đối với họ, ngoại ngữ vừa là nội dung giáo dục, vừa là phương tiện truyền tải nội dung giáo dục và thực hiện mục tiêu giáo dục Trong giao tiếp luôn phải vừa sử dụng thành tạo vốn từ liên quan đến chủ đề, đồng thời phải am hiểu về chủ đề đó Giáo viên phải xây dựng quan hệ giao tiếp bằng ngoại ngữ với sinh viên, đồng thời phải làm chủ những kỹ năng nghiệp vụ được thực hiện bằng ngoại ngữ Ngoài ra, ngoại ngữ là một môn học đặc biệt, nó có quan hệ mật thiết với văn hoá đến mức không thể nói đến cái này mà không nói đến cái kia Giáo viên cần có sự am hiểu sâu sắc về văn hoá nước mình và nắm vững những đặc điểm của nền văn

Trang 34

hoá của các dân tộc có thứ tiếng mà họ giảng dạy Đặc biệt, giáo viên ngoại ngữ rất cần được hoạt động, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức trong môi trường ngôn ngữ tự nhiên

- Phương pháp học: có thể khẳng định không có phương pháp học ngoại

ngữ nào có thể áp dụng chung cho mọi đối tượng, trong mọi hoàn cảnh, mọi yêu cầu Mỗi người học đều có phương pháp tiếp cận riêng của mình Không

ai có thể học, luyện tập, thực hành thay chính họ dù chỉ một tiết học Phương pháp học ngoại ngữ hiệu quả nhất được hiểu là phương pháp thích hợp nhất với tố chất của từng người theo sở thích, tính cách, cách tư duy, môi trường, kinh nghiệm Ý thức được về các đặc điểm riêng biệt của mình cùng với việc nắm vững các nguyên lý học các kỹ năng ngôn ngữ, người học điều chỉnh cách học của mình để có thể phát huy các lợi thế đồng thời khắc phục các hạn chế

- Phương pháp giảng dạy: Ngày nay, việc dạy ngoại ngữ được xác định

không phải là quá trình tích luỹ kiến thức ngôn ngữ mà là quá trình phát triển

kỹ năng, tập trung vào khả năng sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể Phương pháp giảng dạy ngoại ngữ xuất phát từ quan điểm trên thiên về đường hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp Do lấy khả năng giao tiếp của sinh viên là đích của hạot động dạy - học, mọi hoạt động dạy - học phải lôi cuốn được người học thực hiện các mục đích giao tiếp chứ không phải vì mục đích luyện tập cấu trúc Trong dạy - học ngoại ngữ không tồn tại hình thức độc thoại, truyền thụ kiến thức một chiều mà mọi hoạt động phải do người học thực hành đa chiều, người học phải trở thành trung tâm của mọi hoạt động dạy học

- Hình thức tổ chức học tập: Việc hoàn thiện và nâng cao các kỹ năng

thực hành nghe, nói, đọc, viết cho sinh viên có thể xem như mục đích xuyên suốt quá trình trình đào tạo, do vậy, không thể tổ chức đào tạo ngành ngoại ngữ theo hình thức không tập trung, một năm chỉ học hai ba đợt ngắn hạn mà bắt buộc phải đào tạo theo hình thức tập trung liên tục Đây là một khó khăn đáng kể đối với đối tượng người học tại chức trong điều kiện vừa học vừa

Trang 35

làm Vì vậy hình thức tổ chức học tập luôn cần được quan tâm trong công tác quản lý

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học: yêu cầu về cơ sở vật chất của

ngành ngoại ngữ cũng rất đặc thù Một lớp học các kỹ năng thực hành tiếng không thể là hội trường học đại trà mà tiêu chuẩn chỉ cho phép học trong phòng nhỏ, một lớp học không quá 20 sinh viên Không có gì là ngạc nhiên nếu trong một lớp học ngoại ngữ bàn ghế được xếp thành hình tròn hoặc xếp theo từng nhóm Ngày nay phòng học ngoại ngữ trong trường đại học tối thiểu phải được trang bị đầy đủ phương tiện nghe nhìn Đối với một số giờ học, môn học đặc biệt hơn, hoạt động dạy - học cần được thực hiện ở phòng Multimedia

Trang 36

Chương 2 :

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC TẠI CHỨC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ ,

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

2.1 Giới thiệu tổng quát về Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Trường Ngoại ngữ được thành lập năm 1955 theo đề nghị của Bộ Giáo dục và được Thủ tướng Chính phủ đồng ý qua công văn số 1861/ BKT-KH ngày 12.07.1955 của Ban Kinh tế Chính phủ Trường do GS.VS Nguyễn Khánh Toàn trực tiếp làm hiệu trưởng Năm 1958, Trường Ngoại ngữ được sát nhập vào Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và trở thành Khoa Ngoại ngữ, đến năm 1963 phát triển thành 4 khoa ngoại ngữ: Khoa Nga văn, Khoa Anh văn, Khoa Trung văn và Khoa Pháp văn Ngày 14.08.1967, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 128/CP thành lập Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ

Hà Nội trên cơ sở 4 khoa ngoại ngữ được tách ra từ Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội Ngày 10.12.1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/CP thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở sát nhập 3 trường đại học: Trường Đại học Tổng hợp Hà nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học

Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội Trở thành trường thành viên của ĐHQGHN, năm 1995 Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội được đổi tên thành Trường Đại học Ngoại ngữ

2.1.2 Sứ mạng và mục tiêu

Trường Đại học Ngoại ngữ từ khi thành lập đến nay có sứ mạng đào tạo và bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ, cán bộ biên phiên dịch, cán bộ nghiên cứu ngoại ngữ, các cán bộ có trình độ ngoại ngữ cho các khu vực kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn quốc Thực hiện sự chỉ đạo của ĐHQGHN và Nghị

quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ 16 của Trường: "Quyết tâm giữ vững vị trí đầu

ngành ngoại ngữ" và theo hướng chiến lược của Nghị quyết Trung ương 2 về

Trang 37

định hướng phát triển giáo dục, Trường Đại học Ngoại ngữ đã đặt ra những mục tiêu trung hạn phải đạt được: sáu Khoa đào tạo trong trường hoàn thành

lộ trình nâng cao chất lượng tiến tới đạt chuẩn quốc tế, tập trung đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá và đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ đầu ngành

2.1.3 Loại hình, quy mô đào tạo

Trong hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN luôn khẳng định vai trò đầu ngành ngoại ngữ, là trường có quy mô đào tạo ngoại ngữ lớn nhất cả nước Trường hiện là cơ sở đào tạo ngoại ngữ bậc cao (tiến sĩ, thạc sĩ) đầu tiên của cả nước, có quy mô đào tạo sau đại học lớn nhất ngành ngoại ngữ và hiện nay vẫn là cơ sở đào tạo ngoại ngữ duy nhất đào tạo bậc tiến sĩ ở các ngành khoa học ngoại ngữ Nhà trường có hệ đào tạo

cử nhân ngoại ngữ chất lượng cao và lại là trường đại học duy nhất có đào tạo sinh viên năng khiếu ngoại ngữ bậc THPT, tạo nguồn nhân tài ngoại ngữ cho các trường đại học và các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội Tính đến năm học 2005 - 2006, nhà trường đã đào tạo hàng chục tiến sĩ, hơn 500 thạc sĩ, gần 20.000 cử nhân hệ chính quy, hơn 30.000 cử nhân hệ tại chức, hơn 1.500 cử nhân hệ văn bằng thứ hai, gần 1.000 cử nhân cử tuyển, gần 1.000 cử nhân hệ chuyên tu, hơn 2.000 cử nhân cao đẳng, hơn 7.000 học sinh THPT chuyên ngoại ngữ và đào tạo, bồi dưỡng gần 500.000 lượt học viên ngoại ngữ với

nhiều hình thức, trình độ khác nhau (nguồn: Phòng Đào tạo trường Đại học

Ngoại ngữ - ĐHQGHN)

Đặc biệt, trong những năm gần đây, nhà trường không ngừng phát triển

về quy mô đào tạo cũng như nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng nghiên cứu khoa học Hiện nay, Trường có 09 Khoa đào tạo, 04 Bộ môn trực thuộc,

05 Trung tâm Cùng với việc duy trì và phát triển 4 ngành đào tạo truyền thống: tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung, nhà trường đã mở một số ngành mới: tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Hàn Quốc, tiếng Ả Rập, tiếng Thái Lan

2.1.4 Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý

Trang 38

Trường hiện đang là cơ sở đào tạo có đội ngũ cán bộ, chuyên gia, giảng viên ngoại ngữ đông đảo nhất và mạnh nhất của cả nước Đội ngũ cán bộ với

680 cán bộ, giáo viên, công nhân viên, trong đó có 01 giáo sư, 12 phó giáo sư,

01 tiến sĩ khoa học, 50 tiến sĩ, 200 thạc sĩ

Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên đã được nhà trường tạo điều kiện cho đi học tập nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn, chính trị ngoại ngữ và tin học Trong 5 năm qua nhà trường đã gửi được 10 giảng viên đi đào tạo chuyên sâu tại nước ngoài, hơn 200 lượt cán bộ đi học thạc sĩ, tiến sĩ Cũng trong 5 năm qua, số cán bộ có học vị của trường đã tăng lên nhanh chóng từ

10 lên 50 tiến sĩ hiện nay

2.1.5 Nghiên cứu khoa học

Nhà trường đã hoàn thành xuất sắc nhiều trọng trách về nghiên cứu ngoại ngữ do Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục - Đào tạo giao phó Trường

đã xây dựng một cách tổng thể và toàn diện về hoạt động NCKH trong toàn trường từ ngắn hạn đến dài hạn, từ đó có những yêu cầu và đặt hàng nghiên cứu những vấn đề cấp bách cả về lý luận và thực tiễn phục vụ yêu cầu dạy học ngoại ngữ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phục vụ cho công tác đào tạo, đổi mới giáo trình, phương pháp giảng dạy và nâng cao năng lực NCKH của giáo viên Hiện nhà trường có 01 tạp chí Khoa học Ngoại ngữ Tham gia biên soạn hàng chục bộ chương trình, hàng trăm bộ giáo trình, sách giáo khoa ngoại ngữ dùng trong các nhà trường Tất cả 4 Chủ tịch Hội đồng

bộ môn ngoại ngữ của Bộ Giáo dục và Đào tạo đều do cán bộ của nhà trường đảm nhận

2.1.6 Cơ sở vật chất phục vụ dạy học

Một trong những hướng đi của nhà trường là đầu tư chiều sâu cho trang thiết bị và phương tiện để hỗ trợ hoạt động dạy - học và nghiên cứu khoa học Trường hiện có bộ phận thư viện của ĐHQGHN phục vụ công tác đào tạo của trường với khoảng trên 20.000 đầu sách các loại, trong đó có14.600 đầu sách ngoại ngữ, 37 đầu báo, 62 đầu tạp chí trong và ngoài nước Ngoài ra tại các

Trang 39

Khoa đào tạo và Trung tâm nghiên cứu còn có thêm 8 phòng đọc phong phú sách hiện đại chuyên về ngoại ngữ

Diện tích thuộc trường quản lý và sử dụng hiện nay là trên 9 ha, trong

đó có 7 khu giảng đường với 423 phòng học với diện tích 16167 m2 Nhà trường đặc biệt quan tâm tới việc đầu tư tăng cường trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học Số phòng học chuẩn, phòng thực hành Nghe-Nhìn, phòng máy đa chức năng, phòng nghiên cứu và thực hành

sư phạm, thực hành phiên dịch, thực hành tiếng chất lượng cao của trường có hơn 30 phòng (được trang bị máy vi tính, cassette, Projector, tivi) Hầu hết các giảng đường có trang bị đầy đủ hệ thống thiết bị cần thiết: amply, máy chiếu

2.1.7 Khái quát về Khoa Tại chức và công tác đào tạo đại học tại chức của Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

Khoa Tại chức Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN) được thành lập theo quyết định số 1278/QĐ do Bộ trưởng Bộ Giáo dục ký ngày 08.09.1978 với quy định chức năng và nhiệm vụ như sau:

1 Bồi dưỡng giáo viên giảng dạy ngoại ngữ trong các trường của ngành giáo dục để hoàn chỉnh chương trình đại học sư phạm ngoại ngữ hệ tại chức

2 Đào tạo giáo viên ngoại ngữ có trình độ đại học sư phạm ngoại ngữ bằng hình thức tại chức nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy ngoại ngữ trong các trường phổ thông của ngành giáo dục

3 Tham gia việc giảng dạy ở các lớp học ngoại ngữ tại chức cho cán bộ giáo viên trong ngành giáo dục, cho cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật

và cho công nhân kỹ thuật, quản lý các trường, lớp ngoại ngữ, tổ chức thi, kiểm tra và cấp chứng chỉ cho các học viên đạt yêu cầu trong các kỳ thi

4 Tích cực chuẩn bị những điều kiện để trong vài năm tới có thể tiến hành việc đào tạo sau đại học bằng hình thức tại chức cho giáo viên ngoại ngữ

Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục, ngay sau khi thành lập Khoa Tại chức đã triển khai các hoạt động tổ chức, quản lý đào tạo được giao:

Trang 40

- Quản lý và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tại chức, xét đặc cách cấp bằng đại học sư phạm ngoại ngữ: từ năm 1980 - 1989 Khoa Tại chức đã tổ chức các khoá học ngắn hạn đào tạo bổ sung và bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo viên có bằng tốt nghiệp ngoại ngữ chương trình đào tạo 2,3,4 năm lên trình độ đại học sư phạm ngoại ngữ hệ 5 năm Tổng số đã bồi dưỡng và xét cấp 627 bằng đại học theo hình thức trên

- Quản lý và tổ chức các khoá bồi dưỡng hè cho giáo viên phổ thông: năm 1978 Khoa được giao nhiệm vụ thực hiện chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ 3 năm cho các giáo viên trong toàn quốc vào các dịp hè nhằm nâng cao

và hoàn chỉnh chương trình đại học sư phạm ngoại ngữ Trong 3 hè các năm

1978, 1979, 1980, với sự tham gia của các chuyên gia ngoại ngữ đầu ngành của Việt nam và các chuyên gia Liên Xô, Khoa đã tổ chức khoá bồi dưỡng cho 698 lượt giáo viên ngoại ngữ thuộc các trường đại học, cao đẳng, phổ thông khu vực phía Bắc tại Hà Nội và 629 lượt giáo viên khu vực phía Nam tại thành phố Nha Trang Những năm tiếp theo Khoa đã mở các lớp bồi dưỡng các thứ tiếng Nga và tiếng Anh tại các tỉnh: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng cho 2668 lượt giáo viên

- Quản lý và đào tạo các khoá sau đại học: từ tháng 9 năm 1978, Khoa Tại chức được nhà trường giao nhiệm vụ tổ chức, quản lý đào tạo khoá Sau đại học đầu tiên cho các ngành tiếng Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc Tính đến năm 1989, Khoa đã tổ chức đào tạo 9 khoá sau đại học với 396 học viên tốt nghiệp

- Quản lý các khoá bồi dưỡng hàm thụ tiếng Nga: ngay từ năm 1978 Khoa Tại chức đã phối hợp với các chuyên gia Liên Xô tổ chức được 9 khoa bồi dưỡng hàm thụ cho giáo viên, phiên dịch viên tiếng Nga

- Tổ chức, quản lý đào tạo các chương trình ngoại ngữ cấp độ A, B, C: Khoa Tại chức đã tổ chức và phối hợp tổ chức, tham gia quản lý trên 30 Cơ

sở đào tạo ngoại ngữ tại chức các cấp độ A, B, C

- Tổ chức, quản lý đào tạo các lớp đại học hoá: từ năm 1983 Khoa được giao nhiệm vụ làm đầu mối tổ chức và quản lý các lớp đại học hoá cao đẳng

Ngày đăng: 17/03/2015, 07:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo, Quản lý giáo dục - một số cách tiếp cận, Trường quản lý cán bộ Giáo dục và Đào tạo Trung ƣơng I, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục - một số cách tiếp cận
2. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Cơ sở khoa học quản lý, Tài liệu giảng dạy cao học quản lý giáo dục, Khoa Sƣ phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học quản lý
3. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Những quan điểm giáo dục hiện đại, Tài liệu giảng dạy cao học quản lý giáo dục, Khoa Sƣ phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm giáo dục hiện đại
4. Nguyễn Đức Chính, Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
5. Đỗ Minh Cương, Những vấn đề cơ bản về quản lý khoa học và công nghệ, NXB Chính trị Quốc gia, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về quản lý khoa học và công nghệ
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
6. Diana Green, What is Quality in Higher Education, Society for Research into Higher Education & Open University Press, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What is Quality in Higher Education
7. Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận Nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận Nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
8. Trần Khánh Đức, Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO và TQM, NXB Giáo dục, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO và TQM
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Vũ Ngọc Hải - Trần Khánh Đức, Hệ thống Giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ 21 (Việt nam và Thế giới), NXB Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống Giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ 21
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Bùi Hiền, Phương pháp hiện đại dạy - học ngoại ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp hiện đại dạy - học ngoại ngữ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
11. Bernhard Muszynki - Nguyễn Thị Phương Hoa, Con đường nâng cao chất lượng cải cách các cơ sở đào tạo giáo viên - Cơ sở lý luận và giải pháp, NXB Đại học Sƣ phạm, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường nâng cao chất lượng cải cách các cơ sở đào tạo giáo viên - Cơ sở lý luận và giải pháp
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
12. Đặng Vũ Hoạt - Hà Thị Đức, Lý luận dạy học đại học, NXB Đại học Sƣ phạm, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
13. Trần Kiểm, Khoa học Quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học Quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Giáo dục
14. Trần Kiểm, Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục, NXB Đại học Sƣ phạm, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
15. Đặng Bá Lãm, Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI - Chiến lược phát triển, NXB Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI - Chiến lược phát triển
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Đặng Bá Lãm, Quản lý Nhà nước về Giáo dục Lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về Giáo dục Lý luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
17. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Một số vấn đề về giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục đại học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
19. Phạm Thành Nghị, Quản lý Chất lượng giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Chất lượng giáo dục đại học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
20. Peter F. Drucker (Vũ Tiến Phúc dịch), Những thách thức của quản lý trong thế kỷ 21, NXB Trẻ, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thách thức của quản lý trong thế kỷ 21
Nhà XB: NXB Trẻ
21. Nguyễn Ngọc Quang, Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Trường quản lý cán bộ Giáo dục và Đào tạo Trung ương I, Hà Nội, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kết quả khảo sát về mức độ nghiêm túc trong kiểm tra đánh giá - Biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo Đại học Hệ tại chức của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát về mức độ nghiêm túc trong kiểm tra đánh giá (Trang 54)
Bảng  2.1  cho  thấy  các  ý  kiến  của  cán  bộ  quản  lý  và  giảng  viên  khá  thống nhất  rằng việc tổ chức thi, kiểm tra  mới đạt mức độ t-ơng đối  nghiêm  túc, do còn tồn tại tâm lý n-ơng nhẹ, cho qua đối với sinh viên - Biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo Đại học Hệ tại chức của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
ng 2.1 cho thấy các ý kiến của cán bộ quản lý và giảng viên khá thống nhất rằng việc tổ chức thi, kiểm tra mới đạt mức độ t-ơng đối nghiêm túc, do còn tồn tại tâm lý n-ơng nhẹ, cho qua đối với sinh viên (Trang 55)
Bảng 2.2 :  Kết quả khảo sát thực trạng các hoạt động của giáo viên trong giảng dạy - Biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo Đại học Hệ tại chức của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát thực trạng các hoạt động của giáo viên trong giảng dạy (Trang 57)
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát chuyên cần của sinh viên khoá 17 &19 - Biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo Đại học Hệ tại chức của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát chuyên cần của sinh viên khoá 17 &19 (Trang 65)
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát sinh viên về nguyên nhân chính dẫn đến việc - Biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo Đại học Hệ tại chức của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát sinh viên về nguyên nhân chính dẫn đến việc (Trang 66)
1. Bảng phấn - Biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo Đại học Hệ tại chức của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
1. Bảng phấn (Trang 125)
1. Bảng phấn - Biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo Đại học Hệ tại chức của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
1. Bảng phấn (Trang 129)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w