1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học

142 685 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM TRẦN NGỌC HUY CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐÁP ỨNG NHU CẦU NÂNG CẤP TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP I THÀNH TRƯỜNG ĐẠ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

TRẦN NGỌC HUY

CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN

ĐÁP ỨNG NHU CẦU NÂNG CẤP TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP I

THÀNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Trí

Hà Nội - 2007

Trang 2

1.2 Vấn đề nâng cấp nhà trường từ Cao đẳng lên Đại học 19

1.2.2 Yêu cầu và nội dung nâng cấp nhà trường từ Cao đẳng lên Đại

1.3 Nội dung công tác phát triển đội ngũ giảng viên 22

1.3.2 Những yêu cầu đối với công tác phát triển đội ngũ giảng viên 24

1.3.3 Những nội dung của công tác phát triển đội ngũ giảng viên 30 1.4 Quan điểm chỉ đạo định hướng phát triển đội ngũ giảng viên 36 1.4.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng phát triển đội ngũ

Trang 3

giảng viờn của Bộ Cụng nghiệp

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIấN VÀ CễNG

TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIấN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

2.1 Khỏi lược về trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Cụng nghiệp I 47

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và sứ mệnh Nhà trường 48

2.1.4 Hoạt động đào tạo và nghiờn cứu khoa học của Nhà trường 55 2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viờn trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật

2.3 Thực trạng cụng tỏc phỏt triển đội ngũ giảng viờn của trường Cao

2.3.1 Cụng tỏc quy hoạch phỏt triển đội ngũ giảng viờn 68 2.3.2 Cụng tỏc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viờn 69 2.3.3 Cụng tỏc phỏt triển giảng viờn đầu đàn, nũng cốt 73 2.3.4 Cỏc chế độ, chớnh sỏch đói ngộ đối với giảng viờn 73 2.3.5 Đỏnh giỏ chung về thực trạng cụng tỏc phỏt triển đội ngũ giảng

Chương 3: Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên

đáp ứng nhu cầu nâng cấp tr-ờng Cao đẳng Kinh tế

3.1 Đề ỏn thành lập trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Cụng nghiệp

trờn cơ sở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cụng nghiệp I 77

Trang 4

3.3.1 Giải pháp 1: Đổi mới tư duy và nâng cao nhận thức về quản lý

3.3.2 Giải pháp 2: Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên 91 3.3.3 Giải pháp 3: Đổi mới công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng 96 3.3.4 Giải pháp 4: Xây dựng đội ngũ giảng viên đầu đàn và kế cận 101 3.3.5 Giải pháp 5: Tạo môi trường làm việc và động lực để giảng viên

có thể phát huy được năng lực, sở trường của mình trong giảng dạy và

3.3.6 Giải pháp 6: Sử dụng có hiệu quả đội ngũ giảng viên 107 3.3.7 Giải pháp 7: Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và đánh giá 109 3.4 Tổ chức phối hợp thực hiện các giải pháp 111 3.5 Kết quả thăm dò ý kiến các giải pháp đề xuất 112

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Khoá VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo thì giải pháp có tính quyết định là xây dựng phát triển đội ngũ nhà giáo Ngày

15 tháng 6 năm 2004 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 40-CT/TW

về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Trong Chỉ thị này Ban Bí thư đã nhấn mạnh: “ phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục 2001-

2010 và chấn hưng đất nước”

Trong hệ thống giáo dục đại học nói, chất lượng đội ngũ giảng viên

có ảnh hưởng to lớn và mang tính quyết định đến chất lượng đào tạo Do vậy công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng viên về quy mô, cơ cấu, chất lượng luôn giữ vị trí quan trọng có tính sống còn của Nhà trường và hiện nay mang tính thời sự và cấp thiết

Đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt về các lĩnh vực kỹ thuật và công nghiệp, ngày 17 tháng 02 năm 2004 Bộ Công nghiệp

đã có công văn số 660/CV-TCCB ban hành đề án “quy hoạch, sắp xếp, nâng cấp các trường thuộc Bộ Công nghiệp giai đoạn 2004-2020” nhằm tập trung phát triển nâng cao chất lượng đào tạo để có được một nguồn nhân lực có đủ phẩm chất đạo đức cách mạng, có trí tuệ, năng lực đáp ứng cho yêu cầu sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trước những đòi hỏi này, những năm qua đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I đã thực sự là nòng cốt trong việc hoàn thành tốt các nhiệm vụ đào tạo thế hệ sinh viên mới Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới về nâng cao chất lượng đào tạo của bản thân nhà trường

Trang 6

cũng như những đòi hỏi của quá trình xây dựng nền kinh tế ở nước ta, đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục để thực

sự đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục -đào tạo như đề án: “Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010” của Chính phủ phê duyệt ngày 11 tháng 01 năm 2005 theo quyết định số 09/2005/QĐ-TTg

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I đang trên con đường phát triển và trong tương lai rất gần sẽ được nâng cấp lên thành trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp Nhiều khó khăn, thách thức đang đặt ra cho trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I, trong đó có vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên phục vụ cho nhiệm vụ mới: đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ đại học

Để góp phần giải quyết vấn đề đặt ra, tôi lựa chọn đề tài “Các giải

pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường Đại học”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp quản lý công tác phát triển đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Trang 7

Các giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường Đại học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giảng viên đại học

- Đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế

- Kỹ thuật Công nghiệp I, thực trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I

- Đề xuất các giải pháp quản lý có tính khả thi về phát triển đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu khi trường nâng cấp thành trường đại học

5 Giả thuyết khoa học

Công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I đã được thực hiện thường xuyên nhưng chất lượng chưa cao Nếu đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng viên, xác định được các giải pháp, bao quát được các vấn đề từ nhận thức đến hành động thì sẽ có tác động tích cực đến việc phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I khi nâng cấp thành trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài đưa ra các giải pháp quản lý có căn cứ khoa học về công tác phát triển đội ngũ giảng viên để đáp ứng nhu cầu của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I khi được nâng cấp

7 Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

Trong quá trình triển khai nội dung và nhiệm vụ của luận văn, tôi sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp khảo sát, điều tra, phỏng vấn

- Phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp

- Phương pháp thống kê xử lý số liệu

- Phương pháp chuyên gia

8 Giới hạn đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài chỉ phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I trong vòng 5 năm qua Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên của trường khi được nâng cấp

9 Kế hoạch thực hiện

Bắt đầu từ tháng 1 năm 2007, kết thúc tháng 12 năm 2007

- Quý 1: Xác dịnh đề tài

- Quý 2: Nghiên cứu tài liệu

- Quý 3: Nghiên cứu tài liệu, điều tra thực tiễn

- Quý 4: Hoàn chỉnh và bảo vệ luận văn

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng đội ngũ giảng viên và công tác phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I

Trang 9

Chương 3: Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường Đại học

Trang 10

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Quản lý, quản lý giáo dục

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1: QL khi là động từ mang ý nghĩa:

- “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định

- “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý” Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”.; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển” Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” thì tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ phát triển

không bền vững Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải

có “quản”, làm cho trạng thái hoạt động của hệ ở thế cân bằng động Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực) Sự quản

lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật

Trang 11

Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm QL:

- Nói đến QL không thể không nhắc đến tư tưởng sâu sắc của Mác, ông nhìn nhận vấn đề QL dưới ý tưởng phân công và hợp tác trong lao động: “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”

Các Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Khổng Tử (551 Các 479 TCN) cũng đã xác định vai trò của người quản lý, đó là người quản lý mà chính trực thì không cần phải tôn nhiều công sức mà vẫn khiến người ta phải làm theo trong việc “chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”

- Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói rằng: “ Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo” Tiếng Việt cũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống như “manager” và

“leader” trong tiếng Anh Trong thực tế chúng ta vẫn thường lẫn lộn hai khái niệm Không phải nhà quản lý nào cũng là nhà lãnh đạo và không phải nhà lãnh đạo nào cũng là nhà quản lý

- Theo Haror Koontz, QL là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định

- Theo Mariparker Follit (1868 - 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ thì: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”

- Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 năm nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học” Theo ông thì người quản lý phải là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc

Trang 12

- Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo trong cuốn “Cơ sở khoa học quản lý” thì “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL đến khách thể QL về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp

và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”

- Tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong cuốn “Lý thuyết quản lý” cho rằng:

“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường”

- Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”; “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức

Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm QL, đó là trả lời

Trang 13

thể quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); quản lý để làm gì (Mục tiêu quản lý) và từ đó chúng ta có thể đưa ra định nghĩa:

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường

Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý là hệ thống gồm bốn chức năng:

(1) Kế hoạch: Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản lý

(2) Tổ chức: Sự chuyển hóa những ý trưởng trong kế họach thành hiện thực

(3) Chỉ đạo: Điều khiển hệ thống là cốt lõi của chức năng chỉ đạo, nó tích hợp với hai chức năng trên

(4) Kiểm tra: Là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý

Trong một chu trình quản lý cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu trình này sang chu trình theo hướng phát triển trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng QL và là cơ sở cho việc ra quyết định trong QL

1.1.1.2 Quản lý giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó không ngừng

Trang 14

tiến lên Giáo dục tồn tại, vận động và phát triển với tư cách là một hệ thống Theo cách nói của Marx thì “dàn nhạc” giáo dục trong quá trình tồn tại và phát triển tất yếu phải có “nhạc trưởng” là QLGD Về QLGD cũng

có khá nhiều quan điểm, được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi mô và có nhiều định nghĩa như sau:

Trong cuốn: “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục”, tác giả M.I Kônđacốp định nghĩa: “ Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển

và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như mặt chất lượng”

Theo X.T.Groupe Lewin trong cuốn “Hỗ trợ từ xa - Giải thích thuật ngữ tâm lý giáo dục” của Dự án Việt Bỉ thì “Quản lý giáo dục là quá trình nghiên cứu khoa học về các sự kiện và phương pháp tham gia và quyết định tổ chức hoạt động giáo dục và khoa học quản lý chương trình giáo dục”

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội

tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu

dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “ Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”

Đối với tác giả Phạm Minh Hạc thì “ Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách

Trang 15

để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”

Theo UNESCO: QLGD là cách thức điều hành hệ thống giáo dục, nhất là các quy trình, thủ tục, quy định, quy chế … và cách thức vận hành của hệ thống giáo dục, tất cả các cấu phần hoạt động của hệ thống

Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức điều khiển hoạt động của khách thể quản lý thực hiện các mục tiêu giáo dục đề ra QLGD từ cấp vĩ mô đến

tầm vi mô đều hướng tới sử dụng có hiệu quả những nguồn lực dành cho giáo dục để đạt được kết quả (đầu ra) có chất lượng cao nhất

Đặc điểm của quản lý giáo dục:

Trang 16

Hệ thống giáo dục là một bộ phận của hệ thống xã hội, do đó quản lý giáo dục chịu sự chi phối của các quy luật xã hội, các tác động của quản lý

xã hội biểu hiện ở một số đặc điểm sau:

- QLGD gắn liền với việc quản lý con người, đặc biệt là lao động sư phạm của người giáo viên Đặc thù lao động của người giáo viên mà đối tượng lao động sư phạm là người học với những đặc điểm về tâm sinh lý lứa tuổi hết sức phức tạp Người học vừa là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục, do đó kết quả GD không chỉ phụ thuộc vào bản thân nhà giáo mà còn phụ thuộc vào thái độ của ngành học Đây chính là điểm khác biệt của lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung Mặt khác phương tiện lao động của giáo viên chủ yếu là phương tiện tinh thần bằng lời, bằng tấm gương, thái độ, bằng “điểm tựa”, bằng cảm hóa….Thời gian lao động của người giáo viên cũng khác, nó không được tách bạch, rạch ròi với thời gian không lao động sư phạm Với bất kỳ lúc nào, ngay cả khi nghỉ ngơi, giải trí hay làm việc gia đình…, người giáo viên có thể vẫn nghĩ về công việc sư phạm của mình Vì vậy trong công tác quản lý giáo dục cần tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần cho giáo viên, đặc biệt là tạo điều kiện để nâng cao tiềm lực của

họ, để họ toàn tâm, toàn ý cống hiến cao nhất cho sự nghiệp “ trồng người”

- Sản phẩm của GD có tính đặc thù nên QLGD phải chú ý ngăn ngừa sự rập khuôn, máy móc trong công việc tạo ra sản phẩm, cũng như không được phép tạo ra phế phẩm

- QLGD đòi hỏi cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính linh hoạt và tính phát triển

- QLGD và phát triển quan điểm quần chúng, kết hợp nhân tố bên trong và bên ngoài, trong đó nhân tố bên trong có tính chất quyết định Nên

Trang 17

cần phải phối hợp chặt chẽ và đồng bộ các lực lượng trong nhà trường, gia đình và xã hội

- QLGD là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, nó thu hút sự tham gia của rất đông các thành viên xã hội và có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội

- Quản lý giáo dục có tính xã hội rất cao, bởi vì: mọi người trong xã hội đều tham gia vào hoạt động GD, đặc biệt ở nước ta GD đã phổ cập đến bậc THCS Tất nhiên nhà nước, các tổ chức xã hội và tư nhân phải cùng nhau tham gia các hoạt động GD thì công tác GD mới có hiệu quả

- QLGD là hoạt động mang tính sáng tạo vì đối tượng của hoạt động QLGD là con người với các mối quan hệ phức tạp của nó QLGD phải là một hoạt động mang tính sáng tạo mới phát huy được sự sáng tạo của con người

- QLGD thể hiện tính bao hàm giữa học thuật và nghệ thuật, vì đây

là dạng quản lí phức tạp, do quan hệ đa chiều với môi trường xã hội ở nhiều phạm vi, mức độ, tầng bậc khác nhau

Nội dung quản lý giáo dục:

Nội dung QLGD là QL các yếu tố cấu thành của hệ thống giáo dục bao gồm:

Trang 18

- Trường sở và trang thiết bị dạy học

- Môi trường giáo dục, các lực lượng giáo dục

- Kết quả giáo dục

Bản chất của quản lý giáo dục: là QL quá trình sư phạm, quá trình dạy

và học diễn ra ở các cấp học, bậc học và tất cả các cơ sở giáo dục Từ góc

độ tổ chức và QL, quá trình sư phạm là quá trình tạo ra các điều kiện và cơ hội, đồng thời tổ chức việc sử dụng, tận dụng chúng làm cho người học tiếp thu, chiếm lĩnh, lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội để phát triển nhân cách tốt nhất Nơi thực hiện QL quá trình sư phạm có hiệu quả nhất là nhà trường, một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo nhân cách bằng việc truyền thụ những tri thức đạo đức mà nhân loại đã sàng lọc chiết suất được cho thế hệ trẻ

1.1.2 Phát triển

Trong đời sống xã hội, thuật ngữ “phát triển” được sử dụng hết sức phổ biến Đây là khái niệm rất rộng Theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả vê chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật hiện tượng và con người trong xã hội Theo từ điển tiếng Việt: “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” Mọi sự vật hiện tượng trong xã hội đều luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng

Sự biến đổi đó hoặc do sự vận động nội tại trong chính bản thân sự vật hiện tượng, hoặc dưới tác động của các tác nhân bên ngoài làm cho sự vật hiện tượng biến đổi tăng tiến về số lượng và chất lượng Tất cả những sự tăng tiến này đều được coi là phát triển Theo David C Korten, nhà hoạt động

xã hội nổi tiếng người Mỹ: “Phát triển là một tiến trình qua đó các thành viên của xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế của

Trang 19

bền vững… nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ”

Từ các quan niệm trên, ta thấy:

- Phát triển là sự vận động biến đổi theo chiều hướng đi lên của mọi

sự vật hiện tượng trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy

- Phát triển tuân theo quy luật vận động nội tại, khách quan

- Phát triển là sự tăng tiến, tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng

- Trong hoạt động xã hội xã hội, phát triển bao giờ cũng nhằm mục đích cụ thể

1.1.3 Phát triển nhân lực

Phát triển nhân lực là quan niệm chỉ sự tăng tiến, chuyển biến tiến bộ của các thành viên trong tổ chức để hoàn thành mục tiêu tổ chức đã đề ra Theo PGS Mạc Văn Trang: “Phát triển nhân lực là nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức thông qua đào tạo, bồi dưỡng các cá nhân thành viên” hoặc “phát triển nguồn nhân lực là hệ thống các hoạt động nhằm chuẩn bị

và cung cấp lực lượng lao động (kể cả số lượng, chất lượng và cơ cấu) đáp ứng yêu cầu của tổ chức khi nó thay đổi và phát triển”

Theo tác giả Phạm Đức Thành: “ Phát triển là quá trình học tập nhằm

mở ra cho các cá nhân những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức”

Như vậy, phát triển nhân lực là quan niệm chỉ sự tăng tiến, sự chuyển biến tiến bộ của các thành viên trong tổ chức nhằm thực hiện tốt mục tiêu

mà tổ chức đề ra Trong hoạt động của tổ chức, để nâng cao hiệu quả hoạt động thì các tổ chức phải có các chương trình, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của mình thông qua đào tạo, bồi dưỡng Vì thế, “phát triển nhân

Trang 20

lực là quá trình các hoạt động chuẩn bị cung cấp nhân viên theo kịp cơ cấu của tổ chức khi nó thay đổi hoặc tăng tiến”

Trong phát triển nhân lực, cần phát triển cả về số lượng, chất lượng và

cơ cấu tổ chức, ngành nghề và trình độ chuyên môn của các thành viên trong tổ chức theo những tiêu chuẩn đã quy định Đối với các thành viên trong tổ chức cần phát triển cả về số lượng, trí lực, thể lực và tâm lực nhằm nâng cao trình độ năng lực, cũng như thái độ nghề nghiệp để họ đáp ứng được yêu cầu tăng tiến của xã hội và mục tiêu của tổ chức Để phát triển nhân lực trong tổ chức, công tác đào tạo, bồi dưỡng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc làm tăng tiến về chất nguồn nhân lực cung cấp cho xã hội Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề phát triển nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng, quyết định đến sự thành bại của tổ chức

1.1.4 Giảng viên, đội ngũ giảng viên

1.1.4.1 Giảng viên

Theo Luật Giáo dục 2005 thì GV là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy

và nghiên cứu khoa học trong các trường cao đẳng, đại học GV có nhiệm

vụ quyền hạn theo luật định Điều lệ trường CĐ cũng đã xác định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của ĐNGV

* Tiêu chuẩn giảng viên:

- Có phẩm chất đạo đức, tư tưởng sức khỏe tốt và lý lịch bản thân rõ ràng

- Tối thiểu phải có bằng tốt nghiệp đại học và phải được bồi dưỡng

về nghiệp vụ sư phạm

* Nhiệm vụ giảng viên:

- Phải chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, Nghị quyết của Đảng,

Trang 21

Đào tạo, điều lệ trường cao đẳng và quy chế tổ chức và hoạt động nhà trường

- Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục

và Đào tạo và nhà trường đã qui định: viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập theo sự phân công của nhà trường, khoa, bộ môn

- Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và nghiên cứu khoa học

- Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng chuyển giao công nghệ theo sự phân công của nhà trường, khoa, bộ môn

- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, bảo vệ quyền và lơi ích chính đáng của người học, hướng dẫn người học trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống

- Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo

- Hoàn thành tốt công tác được trường, khoa, bộ môn giao

* Quyền của giảng viên:

- Được bố trí giảng dạy theo chuyên môn được đào tạo, xác định nội dung các giáo trình giảng dạy phù hợp với qui định chung của Bộ Giáo dục

Trang 22

- Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần theo các chế độ chính sách cho nhà giáo, được hưởng các chế độ nghỉ lễ theo qui định của Nhà nước và được nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ học kì theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Được kí hợp đồng giảng dạy và NCKH tại các cơ sở giáo dục, NCKH ngoài trường, theo qui định của Bộ luật lao động và quy chế thỉnh giảng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

- Tham gia thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường

- Được Nhà nước xét tặng các danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo Uu tú, huy chương “Vì sự nghiệp giáo dục” và các danh hiệu thi đua khác

1.1.4.2 Đội ngũ giảng viên

Hiện tại có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “Đội ngũ” Các khái niệm về đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như: đội ngũ cán bộ công chức; đội ngũ trí thức; đội ngũ văn nghệ sỹ; đội ngũ thầy thuốc; đội ngũ những người tình nguyện tất cả đều xuất phát từ cách hiểu theo thuật ngữ “đội ngũ” thường được dùng trong lĩnh vực quân

sự Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “ Đội ngũ là tập hợp một số đông người, cùng chức năng nghề nghiệp thành một lực lượng” Như vậy đội ngũ được cấu thành bởi các yếu tố sau:

- Là một tập hợp người

- Có cùng một lý tưởng, một mục đích

- Làm việc theo chung một kế hoạch

- Gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất và tinh thần

Đội ngũ giảng viên là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và

Trang 23

hiện hoàn thành nhiệm vụ, theo hệ thống, mục tiêu giáo dục, cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục HS, SV, theo sự ràng buộc của những nguyên tắc có tính chất hành chính của ngành giáo dục và của nhà nước

Do chức năng và nhiệm vụ của giáo dục đại học, tiêu chuẩn ĐNGV của các trường ĐH, CĐ là rất cao: thường phải tốt nghiệp ĐH loại khá giỏi

và đòi hỏi phải qua quá trình đào tạo ở mức độ cao hơn (cao học, nghiên cứu sinh), có năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học và có phảm chất đạo đức tốt Bất kỳ GV nào không hội đủ những điều kiện ấy trước sau gì cũng

bị đào thải khỏi đội ngũ giảng dạy đại học, cao đẳng Quá trình giảng dạy

ĐH, CĐ là quá trình sàng lọc khách quan nghiêm ngặt ĐNGV

1.1.5 Phát triển đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên là nguồn lực cơ bản của các trường đại học và cao đẳng Phát triển đội ngũ giảng viên chính là phát triển nguồn nhân lực trong nhà trường; phát triển nguồn nhân lực là việc tạo ra sự tăng trưởng bền vững của mỗi thành viên và hiệu quả chung của tổ chức, gắn liền với việc không ngừng tăng lên về mặt chất lượng và số lượng của đội ngũ cũng như chất lượng sống của nhân lực Tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau về phát triển đội ngũ giảng viên dẫn đến những quan niệm về phát triển ĐNGV Theo Menges J.R quan niệm mục tiêu của công tác phát triển ĐNGV:

“Nhằm mục đích tăng cường hơn nữa đến sự phát triển toàn diện của người giáo viên trong hoạt động nghề nghiệp.”

Theo tác giả Nguyễn Quang Tuyền về phát triển ĐNGV: “Xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, loại hình, đoàn kết, nhất trí trên cơ sở đường lối giáo dục của Đảng và ngày càng vững mạnh

về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ đủ sức thực hiện có chất lượng mục tiêu và ké hoạch đào tạo.”

Trang 24

Việc phát triển ĐNGV trong nhà trường chính là xây dựng ĐNGV yêu nghề, tâm huyết với sự nghiệp GD-ĐT, gắn bó với nhà trường, có đạo đức trong sáng, có lí tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tham gia và xây dựng

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, bổ sung nền văn hóa tiên tiến hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam Phát huy được tiềm năng con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng, có ý thức sáng tạo, tích cực nắm bắt và làm chủ tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến…ứng dụng tạo thành kỹ năng nghề nghiệp giỏi của ĐNGV

Công tác phát triển ĐNGV là phải tăng số lượng, không ngừng nâng cao chất lượng, và có cơ cấu hợp lý đồng bộ, để ĐNGV đủ sức thực hiện có hiệu quả mục tiêu ĐT của nhà trường Phát triển ĐNGV thực hiện được tốt khi gắn kết việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý với yếu tố chính sách đãi ngộ vật chất, tinh thần cho người GV; tạo động lực điều kiện môi trường sư phạm để người GV đóng góp, gắn bó lâu dài với nhà trường Phát triển ĐNGV thực chất là phát triển nguồn nhân lực trong GD-ĐT cho các trường cao đẳng và đại học Trong nhà trường, quản lý phát triển ĐNGV chính là xây dựng ĐNGV có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm, gắn bó với nhau trong một tập thể sư phạm đoàn kết thống nhất hỗ trợ nhau để đảm bảo thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ trong giảng dạy và NCKH

1.2 Vấn đề nâng cấp nhà trường từ Cao đẳng lên Đại học

1.2.1 Vai trò của giáo dục đại học

Giáo dục đại học có vai trò đặc biệt quan trọng: đào tạo nguồn nhân lực có trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ cao phục vụ cho nhu cầu của các lĩnh vực kinh tế, xã hội

Trang 25

Một trong những quan điểm và là quan điểm cơ bản của Đảng ta về phát triển sự nghiệp giáo dục là: Coi GD-ĐT là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài (Văn kiện Đại hội Đảng VII)

Theo quan điểm này, GD-ĐT có ba nhiệm vụ quan trọng:

- Nâng cao dân trí

- Đào tạo nhân lực

- Bồi dưỡng nhân tài

Tất cả các bậc, các cấp đào tạo ở mức độ trực tiếp hay gián tiếp góp phần giải quyết cả ba nhiệm vụ này Tuy nhiên, mỗi bậc, cấp đào tạo có một nhiệm vụ chủ yếu Cụ thể: nâng cao dân trí là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục phổ thông, đào tạo nhân lực là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục đại học, bồi dưỡng nhân tài là nhiệm vụ chung của mọi người, của mọi cấp bậc giáo dục

Trong khi thực hiện nhiệm vụ thứ hai - đào tạo nhân lực, bậc giáo dục chuyên nghiệp hướng đến trang bị tri thức, lý luận về một ngành nghề đào tạo ở mức độ thấp, chủ yếu là giáo dục kỹ năng, kỹ nghệ thực hành nghề Còn bậc giáo dục ĐH - sau ĐH hướng đến trang bị cho sinh viên tri thức lý luận, kỹ năng cao, chuyên sâu về các lĩnh vực kinh tế, xã hội Những người tốt nghiệp bậc ĐH và sau ĐH được coi là những chuyên gia về khoa học kỹ thuật và công nghệ có trình độ cao

Mặt khác, các trường ĐH, CĐ là nơi tập trung đông đảo các nhà khoa học và các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác NCKH và giảng dạy Các trường ĐH, CĐ cùng với các trung tâm, các Viện nghiên cứu lập thành một hệ thống khoa học kỹ thuật và công nghệ của một quốc gia Trong ý nghĩa này, giáo dục đại học là một bộ phận cực kỳ quan trọng của nền khoa học kỹ thuật và công nghệ của một quốc gia Do đó, thông qua sự

Trang 26

phát triển của giáo dục đại học, người ta có thể thấy được hướng đi và phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ của quốc gia ấy

Hơn nữa, trong mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, học với hành, giáo dục đại học phải có nhiệm vụ đáp ứng kịp thời, đầy đủ mọi yêu cầu về khoa học kỹ thuật và công nghệ do đời sống xã hội đặt ra những bài toán đòi hỏi giáo dục ĐH phải giải quyết Giáo dục ĐH thoát ly thực tế, không đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống thì giáo dục ĐH trở thành một loại giáo dục hàn lâm viện

Từ những điều đã nêu trên, vai trò của giáo dục ĐH đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói riêng, đến sự phát triển bền vững của đất nước nói chung là vô cùng to lớn Vai trò to lớn của giáo dục ĐH có thể thấy thông qua những khía cạnh chủ yếu sau đây:

Một là: Giáo dục ĐH có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao về khoa học kỹ thuật và công nghệ

Hai là: Giáo dục ĐH là một bộ phận không thể thiếu của nên khoa học

kỹ thuật và công nghệ của đất nước, là một bộ phận trực tiếp đáp ứng nhu cầu về khoa học kỹ thuật và công nghệ, đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Ba là: Cùng với các Viện, các Trung tâm nghiên cứu khoa học, các trường ĐH là những đơn vị chuyển giao khoa học kỹ thuật và công nghệ, đưa khoa học vào cuộc sống, đồng thời gắn chặt giáo dục với xã hội

1.2.2 Yêu cầu và nội dung nâng cấp nhà trường từ Cao đẳng lên Đại học

Việc nâng, chuyển cấp đào tạo từ cấp thấp hơn đến cấp cao hơn, cụ thể ở đây là trình độ CĐ lên ĐH kéo theo việc nâng, chuyển cấp đào tạo cho HS, SV thì nội dung, chương trình đào tạo sẽ có những thay đổi cả về

Trang 27

chất lẫn về lượng, đồng thời yêu cầu nâng cấp ĐNGV cũng có những hướng phát triển tích cực

Nâng cấp từ trường CĐ lên ĐH thì cần chú trọng một số những vấn đề sau:

- Nâng cấp ĐNGV: Đây là một việc làm hết sức quan trọng của một nhà trường bởi vì ĐNGV là một điều kiện trung tâm quyết định nhiệm vụ đào tạo của nhà trường

- Xây dựng chương trình, giáo trình: Phải hoàn thiện chương trình, giáo trình đào tạo trình độ ĐH trên tinh thần kế thừa chương trình, giáo trình đào tạo trình độ CĐ và trên cơ sở chương trình khung

- Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học: Cùng với giảng dạy, nghiên cứu khoa học là hoạt động chủ yếu, có tính chất bắt buộc đối với bất

kỳ GV nào Hoạt động nghiên cứu khoa học có tác dụng rất lớn đối với việc nâng cao trình độ chuyên môn của GV

- Về Cơ sở vật chất: Đầu tư nhiều trang thiết bị học tập hiện đại nhằm để cho ĐNGV đẩy mạnh phương pháp dạy học hiện đại vào hoạt động dạy học của nhà trường

- Tổ chức, quản lý đào tạo: Bộ phận này có nhiệm vụ quan trọng để

có thể thực hiện tốt công tác đào tạo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của trường ĐH Nhà trường phải xây dựng được hệ thống tổ chức quản lý đào tạo từ Ban Giám hiệu đến các Khoa, Phòng, Tổ bộ môn, thực hiện các công việc từ kế hoạch hoá quy mô, hình thức, chương trình đào tạo đến việc điều hành, quản lý giảng dạy, học tập

Đối với một trường CĐ khi được nâng cấp lên ĐH đòi hỏi tất cả các nội dung trên Nhà trường phải tổ chức quản lý và thực hiện một cách đồng

bộ, triệt để, chặt chẽ để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới

Trang 28

1.3 Nội dung công tác phát triển đội ngũ giảng viên

1.3.1 Vai trò của đội ngũ giảng viên

* Là người góp phần trực tiếp, tích cực vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh sinh viên

“Dạy người” hay “học lễ” là nhiệm vụ đầu tiên, quan trọng nhất, có tính tiên quyết của giáo dục - đào tạo Việt Nam đối với học sinh sinh viên – những chủ nhân tương lai của đất nước Dù HS, SV có học giỏi, có kiến thức chuyên môn cao mà nhân cách đạo đức kém, động cơ học tập và lao động mơ hồ, không đúng đắn … thì khó trở thành những con người hữu ích cho xã hội Điều này phù hợp với truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta: coi trọng đạo đức, nhân cách con người: “cái nết đánh chết cái đẹp” Đảng và Nhà nước ta đòi hỏi phải đào tạo và xây dựng một đội ngũ cán bộ công chức “vừa hồng vừa chuyên”

Nhân cách , đạo đức của HS, SV hình thành và phát triển như thế nào, tốt hay xấu chịu sự chi phối, tác động của nhiều nhân tố, nhiều lực lượng,

tổ chức xã hội tham gia: gia đình, làng xóm, bạn bè, đoàn thể, môi trường sống … và nhà trường Từ khi sinh ra đến khi đi vào cõi vĩnh hằng, con người chịu tác động của ba hình thức giáo dục: giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục của xã hội Mỗi loại giáo dục này chi phối, tác động đến con người ở một giai đoạn nhất định: giáo dục gia đình chủ yếu chi phối con người ở tuổi ấu thơ và một phần trong giai đoạn học đường; giáo dục nhà trường gắn với giai đoạn con người đang trên bước đường đi đến trưởng thành, giai đoạn đi học; giáo dục xã hội gắn với giai đoạn con người

đã vào đời, đã trưởng thành Trong ba hình thức giáo dục này, giáo dục nhà trường đóng vai trò quyết định vì đây là giai đoạn nhân cách và tri thức của con người mới hình thành, phát triển và dần được hoàn thiện Đây chính là

Trang 29

Trong suốt thời gian dài ngồi ghế nhà trường (10-12 năm phổ thông, 4-6 năm đại học), nhân cách và tri thức của HS, SV gắn chặt với nhà trường, bạn bè và đặc biệt với thầy giáo Người thầy không chỉ trang bị kiến thức khoa học (tự nhiên và xã hội) mà còn là người xây dựng nhân cách, đạo đức cho HS, SV, nuôi dưỡng ước mơ hoài bão, lý tưởng cho họ Nếu như người thầy với lương tâm nghề nghiệp của mình, với tư cách là một “kỹ sư tâm hồn” xây dựng được, hình thành và hoàn thiện những nhân cách cao đẹp, trong sáng, xây dựng được đạo lý làm người và đạo lý xã hội

ở HS, SV, thì có nghĩa là người thầy đã ươm được mật ngọt cho đời, đã

“trồng” được cho xã hội những công dân hữu ích

Có nhiều cách thức, nhiều con đường để người thầy hình thành, hoàn thiện và phát triển nhân cách cho HS, SV Có thể thông qua việc “tự làm gương”, “tự nêu gương” của chính người thầy; có thể thông qua bằng hình thức trình độ chuyên môn cao, sâu sắc, qua khả năng vượt khó vươn lên, qua năng lực sáng tạo của người thầy Gắn chặt với những cách thức trên, người thầy bằng năng lực của mình làm cho HS, SV biết cách chuyển tất cả những kiến thức đã được truyền thụ thành tri thức, khả năng của người học, làm cho người học biết vận dụng một cách sáng tạo và đưa những gì được truyền thụ vào cuộc sống, vào lao động sản xuất Nói khác đi, người thầy phải làm sao cho người học tiếp nhận đầy đủ, sâu sắc tri thức khoa học kỹ thuật và công nghệ trên cơ sở một quan niệm, động cơ, nhân sinh quan đúng đắn, từ đó sáng tạo nên nhứng sản phẩm, của cải … phục vụ cho xã hội

* Là người trực tiếp trang bị tri thức khoa học kỹ thuật và công nghệ cho học sinh, sinh viên, từ đó góp phần tạo nên nguồn nhân lực cao cho đất nước

Trang 30

Mỗi loại lao động xã hội đều tạo ra những sản phẩm với những công dụng khác nhau Lao động của người nông dân tạo ra lúa gạo để nuôi sống con người; lao đọng công nhân tạo ra vải vóc, nhà cửa phục vụ cho cái mặc, cái ở của con người…; lao động của người thầy tạo ra những con người, những chủ nhân tương lai của đất nước Lao động của người thầy là lao động đặc thù và đặc biệt quan trọng Đặc thù bởi lao động của người thầy không tạo ra của cải vật chất cụ thể, mà lại tạo ra con người và chính những con người - sản hẩm lao động của người thầy - lại tạo ra của cải vật chất Do đó chất lượng, hiệu suất của cải làm ra phụ thuộc vào chính tri thức khoa học của người lao động - những người đã qua lao động sáng tạo cuẩ người thầy Chính GD-ĐT và người thầy đã đào tạo ra nguồn nhân lực

có chất lượng cao, để rồi nguồn nhân lực ấy trực tiếp tạo ra của cải vật chất

và tinh thần phục vụ cho xã hội

Nói đến nhà trường là nói đến hai lực lượng: người học và người dạy Nếu người học là trung tâm của nhà trường thì người dạy là lực lượng quyết định nội dung, chất lượng của ngừi học, của quá trình GD-ĐT Vai trò to lớn của người thầy là ở đấy

Thông qua ĐNGV, ngành giáo dục - đào tạo thực hiện chức năng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Cả ba chức năng này

có quan hệ chặt chẽ với nhau và đều quan trọng Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII đã chỉ rõ điều này: “mục tiêu của giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, hình thành một đội ngũ tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”

1.3.2 Những yêu cầu đối với công tác phát triển đội ngũ giảng viên

1.3.2.1 Đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu

Trang 31

Phát triển ĐNGV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu là điều kiện cần

để đảm bảo hoạt động giáo dục đào tạo được tiến hành đồng bộ, toàn diện, nhịp nhàng giữa các bộ phận trong quá trình đào tạo; đảm bảo cho mục tiêu đào tạo được thực hiện đầy đủ Đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục

Muốn phát triển giáo dục nói chung, giáo dục đại học, cao đẳng nói riêng phải thường xuyên quan tâm phát triển ĐNGV đủ về số lượng, đồng

bộ về cơ cấu Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV BCH TW Đảng khoá VII khẳng định: “Để đảm bảo chất lượng đào tạo phải giải quyết vấn đề thầy giáo”, phải “xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng và loại hình, có đủ phẩm chất và năng lực, có đủ trình độ chuyên môn và nghiệp vụ được nâng cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp ở các bậc học, cấp học, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục phục vụ cho công cuộc CNH, HĐH đất nước”

GD-ĐT nước ta trong những năm gần đây đã có sự phát triển, tiến bộ vượt bậc Trình độ dân trí được nâng cao, quy mô giáo dục ở các cấp tăng nhanh, công tác xã hội hoá giáo dục đưa lại kết quả Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của sự công nghiệp hoá, hiên dại hoá, phát triển đất nước thì GD-

ĐT nước ta còn nhiều hạn chế: Chất lượng GD-ĐT ở các cấp, bậc học còn thấp, hiệu quả không cao, quy mô giáo dục chưa tương xứng với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội

Sự yếu kém đó do nhiều nguyên nhân, song một nguyên nhân chủ yếu là: Sự thiếu và không đồng bộ của đội ngũ giáo viên Nhận xét, đánh giá về điều này, chiến lược phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2010 xác nhận:

“Hiện nay, cả nước còn thiếu khoảng 11 vạn giáo viên phổ thông, thiếu nhiều nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa và một số môn đạo đức, giáo dục công dân, nhạc, hoạ Ở bậc ĐH, tỉ lệ GV có trình độ cao còn thấp (mới

Trang 32

có khoảng 14% GV có trình độ tiến sĩ, 18% có trình độ thạc sĩ) và có nguy

cơ hẫng hụt trong thời gian tới do thiếu người thay thế lớp người sắp nghỉ hưu Một bộ phận giáo viên thiếu động lực làm việc, phẩm chất sa sút” Cũng vấn đề này, tác giả Phạm Minh Hạc nhấn mạnh: “Trong các trường đại học, cao đẳng, tình trạng dạy quá tải của ĐNGV rất nghiêm trọng, do quy mô học sinh tăng quá nhanh trong khi quy mô giáo viên tăng không đáng kể, đội ngũ giáo viên có chất lượng cao ngày càng giảm, do chưa chú

ý đào tạo bổ xung kịp thời, nguy cơ hẫng hụt trong các trường đại học đã thành hiện thực”

Nhằm giải quyết nguy cơ thiếu GV trong nhà trường nói chung, thiếu

GV trong các cơ sở đào tạo ĐH, CĐ nói riêng, chiến lược phát triển

GD-ĐT đã nêu các giải pháp phát triển ĐNGV, trong đó có giải pháp phát triển

về số lượng như: “Có chính sách thu hút học sinh giỏi vào trường sư phạm, thu hút sinh viên tốt nghiệp các trường ĐH, CĐ gia nhập ĐNGV các trường này Tạo điều kiện biên chế để các trường ĐH có thể giữ học sinh giỏi ở lại trường Tăng 10% biên chế hoặc 10% quỹ lương cho các trường

để GV được luân phiên bồi dưỡng nâng cao trình độ và cập nhật kiến thức,

kỹ năng dạy học - giáo dục”

1.3.2.2 Chuẩn về năng lực nghề nghiệp

Kiến thức, kỹ năng, thái độ của GV là những yếu tố hợp thành phẩm chất năng lực của GV Phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ của GV nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của GV trong quá trình GV thực hiện nhiệm

vụ giảng dạy, nghiên cứu Phát triển phẩm chất, năng lực GV đòi hỏi phải phát triển cả ba yếu tố này

- Phát triển kiến thức

Kiến thức là yếu tố cơ bản trong các yếu tố tạo nên phẩm chất, năng

Trang 33

đề đảm bảo hoạt động của GV có hiệu quả trong giảng dạy, NCKH, phục

vụ cộng đồng Để có kiến thức chuyên môn sâu, GV cần được nghiên cứu sâu về môn chuyên ngành, đồng thời phải nghiên cứu nắm chắc kiến thức

cơ sở, cơ bản liên quan Trong thời đại bùng nổ khoa học công nghệ, bùng

nổ thông tin, sự phát triển của một ngành khoa học là kết quả vận động nội tại của bản thân nó trong mối liên hệ tác động chi phối tất yếu của các ngành khoa học khác Bởi vậy, nếu GV chỉ có kiến thức chuyên ngành thì chưa đủ mà còn phải nắm được các loại kiến thức khác về khoa học tự nhiên, xã hội; phải có hiểu biết về môi trường hoạt động, về tâm lý, về phương pháp sư phạm, về tin học, ngoại ngữ…

Hoạt động của GV bao giờ cũng được thực hiện trong một môi trường nhà trường cụ thể ở đó, ngoài những điểm chung giống nhau giữa các trường, mỗi trường còn có những đặc điểm, đặc trưng khác nhau về chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương pháp, cơ cấu, nguồn lực và quy định riêng Để đạt hiệu quả, GV phải có kiến thức rộng đồng thời phải có hiểu biết riêng về môi trường hoạt động cụ thể về nhà trường của mình GV mới cần được tổ chức bồi dưỡng ban đầu để họ hiểu biết về môi trường nghề nghiệp hoạt động của họ

Đối tượng giảng dạy của GV là sinh viên SV mỗi trường có đặc điểm tâm lý của SV nói chung đồng thời có đặc điểm tâm lý riêng SV từng trường, và trong SV lại có đời sống tâm lý cá nhân rất phức tạp, phong phú

Để đạt được hiệu quả giảng dạy, GV phải có những hiểu biết, những kiến thức về tâm lý đại cương, tâm lý lứa tuổi, tâm lý sư phạm…, về phương pháp sư phạm, phương pháp dạy học đại học, phương pháp tổ chức quản lý quá trình dạy học đại học… Thực tiễn GV được tuyển từ nhiều nguồn khác nhau, phần lớn chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức nghiệp vụ sư phạm nói chung, kiến thức nghiệp vụ sư phạm chuyên ngành nói riêng, cho nên cần có kế hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ

Trang 34

sư phạm và các kiến thức khác liên quan đến quá trình dạy học cho đối tượng GV này

Kiến thức với vai trò là yếu tố cơ bẩn tạo nên phẩm chât, nhân cách, là tiền đề tạo nên năng lực hoạt động của GV song dù vai trò đó có to lớn đến đâu, kiến thức cũng chỉ là “một thứ trang trí” không đem lại hiệu quả trong hoạt động của GV nếu GV không có, hoặc không nắm chắc các kỹ năng cần thiết trong quá trình thực hiện nhiệm vụ dạy học

- Phát triển kỹ năng

Có kiến thức toàn diện và kiến thức chuyên sâu về ngành nghề mình đảm nhiệm, song kiến thức ấy được truyền tải đến sinh viên, để sinh viên tiếp nhận nó một cách chủ động, tích cực, sáng tạo để hình thành nhân cách của mình phụ thuộc rất lớn vào kỹ năng của GV

Kỹ năng của GV thể hiện sự vận dụng những kiến thức vào hoạt động

sư phạm của GV trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Kỹ năng là yếu tố rất quan trọng trong năng lực GV Thông qua kỹ năng, kiến thức và thái độ mới biến thành kết quả thực qua hoạt động Trong hoạt động sư phạm của

GV cần có nhiều kỹ năng, mỗi kỹ năng có vai trò riêng trong việc vận dụng những kiến thức đã có vào hoạt động của người GV nhằm làm chuyển biến nhân cách học viên theo mục tiêu đào tạo đã được xác định Trong các kỹ năng hoạt động sư phạm của GV thì kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thiết kế bài giảng, kỹ năng tổ chức các hoạt động dạy học, kỹ năng sử dụng các thiết bị dạy học, kỹ năng cập nhật kiến thức có tính chất quyết định hiệu quả giảng dạy của GV

Kỹ năng chỉ có được thông qua quá trình học tập, rèn luyện một cách nghiêm túc, bền bỉ, sáng tạo Điều ấy đặt ra trong việc phát triển các kỹ năng của GV phải tiến hành đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng GV một cách

Trang 35

động, tính kiên trì, long nhiệt tình say mê, yêu nghề của GV trong quá trình hoạt động sư phạm

- Thái độ

Thái độ là một yếu tố, một mặt có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của GV Thái độ của GV thể hiện ở niềm tin, giá trị, sự tận tuỵ, lòng say

mê, tinh thần trách nhiệm của GV đối với nhiệm vụ của họ

Có kiến thức sâu rộng, uyên bác, có kỹ năng lao động tốt mới chỉ là những điều kiện cần để hình thành thái độ của GV Điều quan trọng có tính quyết định trực tiếp đến thái độ của GV là cách thức tổ chức quản lý phát triển ĐNGV đúng đắn; GV được tạo điều kiện để học tập, làm việc được đánh giá đúng chất lượng, hiệu quả hoạt động, được khuyến khích, năng lực được trọng dụng, nhu cầu của họ được chú trọng, đáp ứng đúng mức, kịp thời

Phát triển về kiến thức, kỹ năng, thái độ của GV là các nội dung phát triển gắn liền với nhau, tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển phẩm chất, năng lực của GV Qua trình đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, phát triển phẩm chất, năng lực GV cần chú trọng phát triển cả ba nội dung này, có như vậy ĐNGV mới thực sự được phát triển đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đảm bảo hiệu quả giảng dạy

1.3.2.3 Xây dựng sự gắn bó của đội ngũ giảng viên với nhà trường trong việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch đào tạo

Mục tiêu, kế hoạch đào tạo của nhà trường chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi và chỉ khi GV và nhà trường gắn bó chặt chẽ với nhau trong thực hiện nhiệm vụ chung, giải quyết hài hoà mối quan hệ chung - riêng về nhu cầu, lợi ích của GV và nhà trường

Môi trường là nhân tố luôn tác động ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhà trường và ĐNGV Ngày nay, trước tác động của nền kinh tế thị trường,

Trang 36

dưới tác động của những nhiệm vụ, yêu cầu mới đối với GD-ĐT trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trước đòi hỏi của thị trường lao động và bùng nổ của kiến thức thông tin, trước sự phát triển của khoa học và công nghệ, và trước những yêu cầu ngày càng cao của sinh viên, yêu cầu chuẩn hoá đòi hỏi ĐNGV phải phát triển toàn diện kiến thức, kỹ năng của mình trong hoạt động nghề nghiệp Điều đó chỉ ra rằng, dưới sự tác động của môi trường, nhà trường và GV đều nảy sinh nhu cầu phát triển, đều phải tham gia và có trách nhiệm đối với công tác phát triển ĐNGV

Để tạo ra sự gắn bó của ĐNGV với nhà trường trong việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch đào tạo cần đến sự hợp tác, cùng tham gia, cùng cộng tác trách nhiệm và cần đến việc tổ chức quản lý chương trình và hoạt động phát triển ĐNGV Có được ý thức tự giác, trách nhiệm, có ý chí quyết tâm vươn lên, khắc phục mọi khó khăn, tận tuỵ với công việc và có được bầu không khí gắn bó, đoàn kết xây dựng nhà trường trước những yêu cầu của

sự phát triển, vì chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch đào tạo cần có những chủ trương, chính sách phù hợp trong quản lý phát triển ĐNGV của nhà trường, của các cấp quản lý trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.3.3 Những nội dung của công tác phát triển đội ngũ giảng viên

Định hướng trong việc quản lý phát triển ĐNGV trong Nhà trường là quá trình thực hiện các nội dung về lập kế hoạch tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng và đào tạo môi trường sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của người GV thực hiện đáp ứng được mục tiêu kế hoạch đào tạo của Nhà trường

1.3.3.1 Lập kế hoạch

Trang 37

Theo tác giả Mạc Văn Trang trong đề cương bài giảng Quản lý nhân lực đưa ra định nghĩa:

“Lập kế hoạch nhân lực là một tiến trình đề ra và thực hiện các công việc về nhân lực để đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, cơ cấu nhân lực đáp ứng nhu cầu của đơn vị hay của tổ chức và đảm bảo việc bố trí sử dụng

nhân lực có hiệu quả”

Căn cứ vào kế hoạch phát triển tổng thể, để dự báo triển vọng theo kế hoạch 5 năm, 10 năm, trong đó gồm có dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Dự báo được xu hướng diễn biến của nhân lực Nhà trường về mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ giảng viên, chỉ ra được nhu cầu, điều kiện, khả năng thực hiện phát triển đội ngũ giảng viên Nhà trường; Thường thì dự báo chỉ có tính chất tương đối cho từng kế hoạch, khi thực tế thực hiện, tính chính xác ở những năm đầu phù hợp với dụ báo, các năm về sau

có thể khác xa với dự báo, nhưng có thể dẫn đi theo hướng dự báo và được

bổ sung điều chỉnh

Căn cứ vào ĐNGV hiện có, nhiệm vụ đào tạo của Nhà trường hiện tại

và theo hướng phát triển tương lai; Để phác họa dự báo kế hoạch nhân lực phù hợp với yêu cầu công việc: kế hoạch tuyển chọn mới, giải quyết ĐNGV hiện có đi đào tạo bồi dưỡng, giải quyết số GV dư thừa, không đáp ứng được giảng dạy điều chuyển công tác khác Để trong thời gian kế hoạch dự kiến (thường là 5 năm) Nhà trường sẽ được đội ngũ giảng viên đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu đào tạo

1.3.3.2 Tuyển chọn giảng viên

Đây là quá trình sử dụng các phương pháp nhằm lựa chọn, quyết định xem trong số những người được tuyển mộ, ai là người đủ tiêu chuẩn làm việc trong tổ chức đơn vị, phù hợp với cá nhân, với môi trường Nhà trường

và môi trường bên ngoài

Trang 38

Sơ đồ: Các bước trong tiến trình tuyển chọn giảng viên

Như vậy tuyển chọn là quá trình Nhà trường sử dụng các phương pháp nhằm lựa chọn, quyết định xem những người được tuyển mộ ai là người đủ tiêu chuẩn làm việc; công việc này đòi hỏi phải xây dựng các tiêu chuẩn cụ thể, rõ ràng cho từng đối tượng, từng bộ môn được tuyển chọn, vừa có những tiêu chuẩn chung, vừa có cái cụ thể cá biệt phù hợp với yêu cầu; để

đủ tiêu chuẩn để

dự phòng vào kho tài liệu

Sơ tuyển

Bổ nhiệm sử dụng Khám sức khoẻ

Quyết định chọn

Trang 39

có được đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ

về cơ cấu đáp ứng được mục tiêu kế hoạch đào tạo của trường

1.3.3.3 Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên

- Đào tạo:

Đào tạo ở đây được xác định là đào tạo mới; là quá trình hình thành kiến thức, thái độ kỹ năng chuyên môn, nghề nghiệp được huấn luyện có hệ thống theo chương trình quy định với những chuẩn mực nhất định (chuẩn mực quốc gia hoặc quốc tế), để người học sau thời gian khoá học đào tạo theo cấp học, có được trình độ chuyên môn, năng lực và kiến thức đáp ứng được yêu cầu công việc được giao

Như vậy đào tạo theo nghĩa trên cần phải lượng thời gian theo quy định và kinh phí đầu tư thích hợp; do đó đòi hỏi phải xây dựng kế hoạch, tiêu chuẩn đặt ra mang tính lâu dài, nhất là chính sách đào tạo mới của Đảng và Nhà nước Trung ương và địa phương trong thời điểm hiện nay, muốn nhanh chóng có nguồn nhân lực đào tạo chính quy trình độ cao trong

và ngoài nước, bằng kinh phí ngân sách Nhà nước, kinh phí tài trợ ký kết giữa các quốc gia và kinh phí tự túc của cá nhân gia đình

- Đào tạo lại:

Sau khi đã được đào tạo có một trình độ nhất định, nay vì một lý do nào đó lại tham gia quá trình đào tạo mới để đạt trình độ khác, nghề khác Hoặc đào tạo lại trên cơ sở trình độ đã có được nâng cao, hoàn chỉnh đáp ứng tiêu chuẩn quy định trong từng giai đoạn phát triển ngành nghề, Nhà nước yêu cầu

- Bồi dưỡng:

Theo từ điển Tiếng Việt : bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất

Trang 40

Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhât kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được chứng nhận bằng một chứng chỉ

Theo tác giả Mạc Văn Trang: Bồi dưỡng là làm nâng cao trình độ hiện

có về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để làm tốt hơn việc đang làm

Theo UNESCO: Bồi dưỡng có ý nghĩa là nâng cao nghề nghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp

Như vậy bồi dưỡng là nhằm giúp cho người lao động đã có một trình

độ nhất định, đã được đào tạo trước đây, nay do yêu cầu mới, hoặc chương trình đào tạo trước đây cần phải bổ sung những phần chưa đào tạo trong chương trình cũ, hoặc đã lạc hậu cần cập nhật kiến thức kịp thời, phù hợp khoa học tri thức mới

Mục đích của bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn của người lao động, để họ luôn đạt hiệu quả công việc một cách tốt nhất

Trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ giảng viên cần cập nhật kiến thức mới đáp ứng yêu cầu giảng dạy; cho nên việc đưa giảng viên đi bồi dưỡng ngắn hạn theo chuyên đề là việc làm thường xuyên hàng năm của các trường Đôi khi đầu tư lâu dài đối với lực lượng giảng viên còn trẻ cần bồi dưỡng dài hạn (đây là hình thức đào tạo lại) để củng cố và nâng cao trình

độ và năng lực chuyên môn, công tác lâu dài

1.3.3.4 Kiểm tra đánh giá đội ngũ giảng viên

Để việc phát triển đội ngũ giảng viên trong Nhà trường đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra, bước đầu phải tổ chức giúp giảng viên nhận thức hiểu

Ngày đăng: 17/03/2015, 07:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
2. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
3. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
4. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
5. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Luật Giáo dục 2005, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục 2005
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Đề án nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I thành Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I thành Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp
9. Các tài liệu dùng cho đào tạo Cao học Quản lý giáo dục. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tài liệu dùng cho đào tạo Cao học Quản lý giáo dục
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
10. Đặng Quốc Bảo. Quản lý nhà trường, quan điểm và chiến lược phát triển. (Tổng thuật và biên tập). Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà trường, quan điểm và chiến lược phát triển
11. Đặng Quốc Bảo. Một số khái niệm về Quản lý giáo dục. Trường cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về Quản lý giáo dục
12. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Những cơ sở khoa học về quản lý giáo dục. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở khoa học về quản lý giáo dục
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
13. Nguyễn Đức Chính (chủ biên): Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
14. Nguyễn Đức Chính - Đinh Thị Kim Thoa. Đo lường và đánh giá trong giáo dục. Bài giảng cho học viên lớp Cao học quản lý giáo dục - Khoa Sƣ phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
15. Vũ Cao Đàm. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nxb Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
16. Trần Khánh Đức. Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO&TQM. Nxb Giáo dục, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO&TQM
Nhà XB: Nxb Giáo dục
17. Phạm Minh Hạc. Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18. Phạm Minh Hạc. Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI. Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
19. Đặng Xuân Hải. Quản lý sự thay đổi và vận dụng nó trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. Bài giảng cho học viên lớp Cao học quản lý giáo dục - Khoa Sƣ phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sự thay đổi và vận dụng nó trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
20. Đặng Xuân Hải. Giáo dục học hiện đại. Bài giảng cho học viên lớp Cao học quản lý giáo dục - Khoa Sƣ phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học hiện đại
21. Bùi Minh Hiền (Chủ biên) - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo. Quản lý giáo dục. Nxb Đại học Sƣ phạm, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thống kê lưu lượng HSSV trong những năm vừa qua - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
Bảng 1. Thống kê lưu lượng HSSV trong những năm vừa qua (Trang 62)
Bảng 3. Chất lượng tốt nghiệp ra trường từ năm 2002 – 2007 - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
Bảng 3. Chất lượng tốt nghiệp ra trường từ năm 2002 – 2007 (Trang 65)
Bảng 5. Bảng Thống kê số lƣợng giảng viên từ 2002- 2007 - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
Bảng 5. Bảng Thống kê số lƣợng giảng viên từ 2002- 2007 (Trang 68)
Bảng 7. Bảng thống kê tuổi đời giảng viên theo từng khoa (năm học 2007-2008) - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
Bảng 7. Bảng thống kê tuổi đời giảng viên theo từng khoa (năm học 2007-2008) (Trang 69)
Bảng 8. Bảng thống kê cơ cấu giới tính đội ngũ giảng viên - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
Bảng 8. Bảng thống kê cơ cấu giới tính đội ngũ giảng viên (Trang 70)
Bảng 9.Thống kê chức danh cán bộ giảng dạy theo Khoa (năm học 2007-2008)         Chức danh - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
Bảng 9. Thống kê chức danh cán bộ giảng dạy theo Khoa (năm học 2007-2008) Chức danh (Trang 71)
Bảng 10.Thống kê thâm niên công tác của đội ngũ giảng viên - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
Bảng 10. Thống kê thâm niên công tác của đội ngũ giảng viên (Trang 71)
Qua bảng 10: bảng thống kê thâm niên giảng dạy của đội ngũ giảng  viên Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I chúng ta nhận thấy: - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
ua bảng 10: bảng thống kê thâm niên giảng dạy của đội ngũ giảng viên Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I chúng ta nhận thấy: (Trang 72)
Bảng 11. Thống kê trình độ đào tạo Giảng viên từ 2003 – 2007 - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
Bảng 11. Thống kê trình độ đào tạo Giảng viên từ 2003 – 2007 (Trang 73)
Bảng 13. Thống kê số lƣợng cán bộ giảng viên đƣợc đào tạo mới hàng năm - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
Bảng 13. Thống kê số lƣợng cán bộ giảng viên đƣợc đào tạo mới hàng năm (Trang 78)
Bảng 16. Dự kiến lưu lượng HSSV đào tạo chính quy - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
Bảng 16. Dự kiến lưu lượng HSSV đào tạo chính quy (Trang 92)
Bảng 17. Dự kiến số lƣợng giảng viên cần bổ sung - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
Bảng 17. Dự kiến số lƣợng giảng viên cần bổ sung (Trang 93)
Bảng 18. Tổng hợp dự kiến bổ xung lực lƣợng giảng viên trình độ sau ĐH - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
Bảng 18. Tổng hợp dự kiến bổ xung lực lƣợng giảng viên trình độ sau ĐH (Trang 94)
8  Hình thức khác - Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường đại học
8 Hình thức khác (Trang 139)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm