Để góp phần nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ cũng như giúp giáo viên hoàn thiện và nâng cao kỹ năng dạy học và giáo dục, tiến tới đạt chuẩn về đội ngũ, tác giả chọn đề tài nghiên cứu:
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
HỒ MAI HOA
Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ
sư phạm cho giáo viên trường Cao đẳng Kinh tế -
Kỹ thuật Công nghiệp I
luËn v¨n th¹c sÜ GIÁO DỤC HỌC
Hµ néi - 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
HỒ MAI HOA
Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ
sư phạm cho giáo viên trường Cao đẳng Kinh tế -
Kỹ thuật Công nghiệp I
luËn v¨n th¹c sÜ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Thị Kim Thoa
Hµ néi - 2007
Trang 3MỤC LỤC
Trang
1.2.2 Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và quản lý hoạt động bồi dưỡng
nghiệp vụ sư phạm
15 1.3 Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm 23 1.3.1 Nguyên tắc quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm 23 1.3.2 Các nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm 24
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm cho giáo viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công
nghiệp I
37 2.1 Sơ lược về trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I 37 2.1.1 Tiến trình phát triển, chức năng và nhiệm vụ của nhà trường 37
2.1.4 Định hướng phát triển trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công
nghiệp I trong giai đoạn mới
48 2.2 Thực trạng hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
và công tác quản lý hoạt động này tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
Công nghiệp I
50 2.2.1 Thực trạng hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
Trang 4của nhà trường 50 2.2.2 Thực trạng về quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I
54
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm cho giáo viên trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
3.4 Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm 78 3.4.1 Tăng cường nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của các hoạt
động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
78 3.4.2 Xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng các đối tượng giáo viên
khác nhau
80 3.4.3 Cải tiến hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
81 3.4.4 Cải tiến công tác kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng nghiệp vụ sư
3.4.5 Tăng cường các điều kiện vật chất đảm bảo cho hoạt động bồi
dưỡng nghiệp vụ sư phạm có hiệu quả
85 3.4.6 Nhóm biện pháp tăng cường quản lý giảng viên các lớp bồi dưỡng
nghiệp vụ sư phạm và phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động bồi
dưỡng nghiệp vụ sư phạm
87 3.4.7 Kịp thời đánh giá hiệu quả bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và xác
định nhu cầu bồi dưỡng tiếp theo
89
3.6 Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp 93 3.6.1 Khảo nghiệm bằng phương pháp xin ý kiến chuyên gia 93 3.6.2 Khảo nghiệm bằng phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý 96
Trang 5PHẦN PHỤ LỤC
Trang 6CNH - HĐH : công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của khoa học công nghệ, của sự phát triển như vũ bão trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Một trong những vấn đề nóng bỏng được cả xã hội quan tâm, ảnh hưởng tới mọi người, mọi nhà là giáo dục và đào tạo Giáo dục không chỉ là sản phẩm của
xã hội mà đã trở thành nhân tố tích cực, một động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Trên phạm vi toàn thế giới hiện nay đang diễn ra một cuộc đua tranh về kinh tế, mà thực chất là đua tranh về khoa học và công nghệ Bản chất của khoa học và công nghệ là trí tuệ của con người Giáo dục hiện đại giúp các quốc gia giành thắng lợi trong các cuộc đua tranh đó
Phát triển GD là bí quyết thành công, là con đường ngắn nhất, đi tắt, đón đầu trong công cuộc CNH - HĐH, tạo điều kiện cho mỗi quốc gia đào tạo ra nguồn nhân lực và là nguồn gốc để BD nhân tài, làm giàu thêm
“nguyên khí của quốc gia” là nguồn tài sản vô giá của dân tộc và nhân loại Mục đích của GD hiện đại là đào tạo những con người phát triển toàn diện,
có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đủ sức cạnh tranh trong quá trình phân công lao động quốc tế
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của WTO và yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao là điều mà chúng ta đang phải đối mặt Thách thức này cũng đặt ra cho các trường cao đẳng và đại học của Việt Nam Nhưng khi chúng ta quyết tâm vượt qua các thách thức đó thì chúng lại trở thành cơ hội Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, quản lý giáo dục đóng vai trò then chốt
Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I, một trường cao đẳng thuộc Bộ Công nghiệp với bề dày 50 năm xây dựng và phát triển, có nhiệm vụ đào tạo ra
Trang 8đội ngũ những người lao động các ngành kinh tế và kỹ thuật thuộc các lĩnh vực công nghiệp có trình độ từ công nhân kỹ thuật đến cao đẳng, cung cấp một phần đáng kể cho nguồn nhân lực ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng Nam Sông Hồng
Trong bối cảnh chung cũng như trong điều kiện phát triển của Nhà trường, chất lượng đào tạo đóng vai trò hết sức quan trọng, trong đó không thể không kể đến vai trò của đội ngũ cán bộ QLGD và đội ngũ GV trực tiếp tham gia giảng dạy Chất lượng đội ngũ GV phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của họ cùng với việc rèn luyện năng lực sư phạm Tuy nhiên đa số giáo viên của trường, ngoại trừ một số nhỏ giáo viên dạy các môn khoa học
cơ bản, chưa qua đào tạo tại các trường sư phạm, cho nên việc dạy học chủ yếu dựa trên kinh nghiệm là chính Để góp phần nâng cao chất lượng quản
lý đội ngũ cũng như giúp giáo viên hoàn thiện và nâng cao kỹ năng dạy học
và giáo dục, tiến tới đạt chuẩn về đội ngũ, tác giả chọn đề tài nghiên cứu:
“Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm trong bối cảnh hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên Trường Cao
đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 9Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến quản lý hoạt
động bồi dưỡng NVSP cho giáo viên các trường cao đẳng công nghệ
- Đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân thực trạng của công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên Trường Cao
đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I
nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
5 Giả thuyết khoa học
Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I đã được thực hiện thường xuyên song chất lượng chưa cao Nếu bao quát được các chức năng quản lý, nắm được đặc thù của hoạt động BDNVSP và thực hiện tốt các biện pháp quản
lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên của trường thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu đề tài sẽ là cơ hội để tìm hiểu, đánh giá và đề xuất các
biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho giáo viên của trường
Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I nơi tác giả đang công tác Đề tài này nếu được thông qua và chấp thuận thì sẽ đóng góp một phần cho
công tác quản lý hoạt động BDNVSP cho giáo viên của trường theo tinh thần khoa học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường
7 Phạm vi nghiên cứu
Trang 10Đề tài chỉ dừng ở việc xây dựng một số biện pháp quản lý hoạt động BDNVSP cho giáo viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I, khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
8 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp sách, tài liệu, báo cáo khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu,
- Tham khảo Luật giáo dục, các văn kiện của Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp khảo sát, điều tra
- Phỏng vấn
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp toán thống kê, xử lý số liệu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
9 Kế hoạch thực hiện
Bắt đầu từ tháng 1, kết thúc tháng 11 năm 2007:
Quý 1: Xác định đề tài
Quý 2: Nghiên cứu tài liệu
Quý 3: Nghiên cứu tài liệu, điều tra thực tiễn
Quý 4: Hoàn chỉnh và bảo vệ luận văn
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn sẽ trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp
Trang 11- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm cho giáo viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I
Trang 12Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả của sự nghiệp giáo dục - đào tạo chính là đội ngũ giáo viên Sự phát triển của GD & ĐT ngày nay đòi hỏi người giáo viên cần có nhiều năng lực, bởi họ sẽ là những người trực tiếp tham gia vào sự nghiệp đào tạo, GD thế hệ trẻ thành những con người có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của
xã hội hiện đại Để có được đội ngũ giáo viên đủ mạnh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện nay, vấn đề đào tạo bồi dưỡng GV là hết sức cần thiết và quan trọng Vấn đề này đã được các nhà khoa học GD, các nhà QLGD quan tâm, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đã bước sang thế kỉ
21 với nền kinh tế trí thức và yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục
Hiện nay ở nước ngoài đã có nhiều tác giả nghiên cứu về nghề dạy học Tác giả N.L.Bônđurep có sách: “Chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trường phổ thông” Trong cuốn sách này vai trò kỹ năng sư phạm đối với nghề dạy học được tác giả quan tâm đặc biệt và nhấn mạnh rằng những kỹ năng đó chỉ được hình thành và củng cố trong hoạt động thực tiễn của người thầy giáo Theo tác giả những yêu cầu chuyên môn của người thầy giáo không phải chỉ có những kiến thức phong phú mà còn phải
có những kĩ năng cần thiết để tổ chức và thực hành công tác GD Muốn làm công tác giáo dục tốt cần phải có những kĩ năng giáo dục và thời gian Vì vậy việc BDGV nhất thiết phải được làm thường xuyên [3]
Tác giả Michell Develey trong cuốn “Một số vấn đề đào tạo giáo viên” có đề cập đến vấn đề đào tạo GV bao gồm nhiều công đoạn: quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp…
đó là một cuốn sách góp phần đổi mới sự nghiệp đào tạo BDGV [12]
Trang 13Ở Việt Nam hiện nay, nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục, nhiều cán
bộ giảng dạy, cán bộ quản lý giáo dục,… quan tâm nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên ở các góc độ, nội dung, hình thức khác nhau nhằm nâng cao trình độ, vị trí, vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên
và của công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên
Trước những năm 1970 việc nghiên cứu về xây dựng đội ngũ GV không theo những đề tài riêng mà được tiến hành gần với các đề tài giáo dục học và tâm lý học, về nội dung và phương pháp dạy học các môn học
Từ đầu những năm 1970, do nhu cầu nghiên cứu chuẩn bị cho cải cách giáo dục nên những vấn đề người GV và việc xây dựng đội ngũ GV được coi trọng hơn Tổ chức nghiên cứu cải cách sư phạm đã được hình thành ở Cục đào tạo và BDGV với những vấn đề như: tổng kết kinh nghiệm xây dựng đội ngũ giáo viên ở các trường tiên tiến; nghiên cứu vị trí, vai trò và nhiệm vụ của người giáo viên và của công tác đào tạo và BDGV,… Nhưng vấn đề chỉ là những bài viết, những quy định của ngành trong các cuốn nội san hoặc các quyết định về quy chế tạm thời của Bộ
GD
Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ năm 1987 sau khi cơ quan nghiên cứu của Bộ Giáo dục hợp nhất thành Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, là trung tâm nghiên cứu ĐT và BD giáo viên với nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề cơ bản và cấp bách về người GV và việc xây dựng đội ngũ GV Nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về nghề dạy học, về những vấn đề như thực tập NVSP tập trung, rèn luyện NVSP thường xuyên, nhân cách người thầy giáo, đặc điểm lao động sư phạm của người thầy giáo,
Trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, vấn đề bồi dưỡng được nâng lên một tầm cao mới Nghị quyết các Đại hội Đảng từ khoá IV
đã tiếp thêm sức mạnh cho giáo dục phát triển Đến năm 1998, vấn đề bồi dưỡng giáo viên đã được đưa thành chính sách quốc gia và tiếp tục duy trì
Trang 14ở Luật GD 2005: “Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo về chuyên
môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hoá nhà giáo Nhà giáo được
cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, được
hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ” (Mục 3, Điều 80)
Bồi dưỡng NVSP là một hoạt động không thể thiếu được trong công
tác BDGV đang tham gia công tác giảng dạy Các vấn đề liên quan tới đào
tạo và BDNVSP cho GV đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều chuyên gia đề
cập tới Đã có khá nhiều công trình như: Lê Trần Lâm với “Đào tạo và bồi
dưỡng giáo viên” (1992); Nguyễn Hữu Long chủ nhiệm đề tài: “Xây dựng
và hoàn thiện quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm theo quy trình đào tạo
mới” (Đại học SP 1 Hà Nội - 1994); Nguyễn Minh Đường với “Bồi dưỡng
và đào tạo lại nguồn nhân lực” (1996); Nguyễn Hữu Dũng với “Hình thành
kỹ năng sư phạm cho sinh viên” (1995); Phạm Trung Thanh và Nguyễn Thị
Lý với “Rèn luyện nghiệp vụ SP thường xuyên” (2004),…
Ngoài ra còn khá nhiều các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các
luận văn, bài báo đề cập tới hoạt động bồi dưỡng giáo viên nhưng ít công
trình đề cập tới hoạt động BDNVSP cho giáo viên các trường cao đẳng
công nghệ Trong bối cảnh chung của các trường cao đẳng công nghệ, đa
số giáo viên của trường, ngoại trừ một số nhỏ giáo viên dạy các môn khoa
học cơ bản, chưa qua đào tạo tại các trường sư phạm thì việc nghiên cứu
biện pháp quản lý hoạt động BDNVSP cho giáo viên là hết sức cần thiết để
góp phần nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ cũng như giúp giáo viên
hoàn thiện và nâng cao kỹ năng dạy học và giáo dục, tiến tới đạt chuẩn về
đội ngũ
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý và quản lý nhà trường
1.2.1.1 Quản lý và quản lý giáo dục
Trang 15* Khái niệm quản lý
Từ khi xuất hiện hoạt động lao động tạo ra các giá trị phục vụ cuộc sống đã hình thành sự phân công lao động, sự hợp tác lao động trong một
tổ chức nhất định nhằm đạt hiệu quả và năng suất lao động cao hơn Do đó cần có người đứng đầu để chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh…, xuất hiện người quản lý và sự quản lý
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1: Quản lý khi là động từ mang ý nghĩa:
+ “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định
+ “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định
Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý” Quá trình “quản” gồm
sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”.; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển” Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp,
tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ phát
triển không bền vững Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý”
phải có “quản”, làm cho trạng thái hoạt động của hệ ở thế cân bằng động
Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực) Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau
Nói đến quản lý không thể không nhắc đến tư tưởng sâu sắc của Các
- Mác, ông nhìn nhận vấn đề quản lý dưới ý tưởng phân công và hợp tác
Trang 16trong lao động: “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Khổng Tử (551 - 479 TCN) cũng đã xác định vai trò của người quản lý, đó là người quản lý mà chính trực thì không cần phải tôn nhiều công sức mà vẫn có thể “chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”
Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói rằng: “ Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo” Tiếng Việt cũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống như “manager” và
“leader” trong tiếng Anh Trong thực tế chúng ta vẫn thường lẫn lộn hai khái niệm Không phải nhà quản lý nào cũng là nhà lãnh đạo và không phải nhà lãnh đạo nào cũng là nhà quản lý
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách
“Các nguyên tắc quản lý theo khoa học” Theo ông thì người quản lý phải
là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc [29]
Tác giả Nguyễn Minh Đạo trong cuốn “Cơ sở khoa học quản lý” thì cho rằng quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [18]
Tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong cuốn “Lý thuyết quản lý” cho rằng:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội
Trang 17của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường” [31]
Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm rằng quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung, và quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức
để đạt dược những mục tiêu cụ thể” [2]
Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lí, đó là trả lời câu hỏi: Ai quản lý? (Chủ thể QL); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể QL); Quản lý như thế nào? (Phương thức QL); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ QL); quản lý để làm gì (Mục tiêu QL) và từ đó chúng ta
có thể đưa ra định nghĩa:
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường
Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý là hệ thống gồm bốn chức năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Trong một chu trình quản
lý cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu trình này sang chu trình theo hướng phát triển trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định trong quản lý Có thể sơ đồ hoá chu trình quản lý như sau:
Kế hoạch
Trang 18
* Khái niệm quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó không ngừng tiến lên Giáo dục tồn tại, vận động và phát triển với tư cách là một hệ thống Theo cách nói của Marx thì “dàn nhạc” giáo dục trong quá trình tồn tại và phát triển tất yếu phải có “nhạc trưởng” là quản lí giáo dục Về quản
lí giáo dục cũng có khá nhiều quan điểm, được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi mô và có nhiều định nghĩa như sau:
Trong cuốn: “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục”, tác giả M.I Kônđacốp định nghĩa: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển
và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như mặt chất lượng” [22,33]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội
Chỉ đạo
Trang 19tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu
dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [25,37]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2,31]
Đối với Phạm Minh Hạc thì “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ
và với từng học sinh” [20,71]
UNESCO định nghĩa QLGD là cách thức điều hành hệ thống giáo dục, nhất là các quy trình, thủ tục, quy định, quy chế … và cách thức vận hành của hệ thống giáo dục, tất cả các cấu phần hoạt động của hệ thống
Ngày nay, giáo dục không còn là một thứ phúc lợi xã hội đơn thuần
vì nó được gắn với quá trình phát triển xã hội Việc đi học của mỗi người phải là: “học thường xuyên, học suốt đời” Do vậy giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người, cho nên quản lí giáo dục cũng có thể hiểu là: sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Như vậy ta có thể định nghĩa:
Trang 20Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức điều khiển hoạt động của khách thể quản lý thực hiện các mục tiêu giáo dục đề ra Quản lý giáo dục từ cấp
vĩ mô đến tầm vi mô đều hướng tới sử dụng có hiệu quả những nguồn lực dành cho giáo dục để đạt được kết quả (đầu ra) có chất lượng cao nhất
Đặc điểm của quản lý giáo dục:
- Quản lý giáo dục gắn liền với việc quản lý con người, đặc biệt là lao động sư phạm của người giáo viên Đặc thù lao động của người giáo viên mà đối tượng lao động sư phạm là người học với những đặc điểm về tâm sinh lý lứa tuổi hết sức phức tạp Người học vừa là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục, do đó kết quả giáo dục không chỉ phụ thuộc vào bản thân nhà giáo mà còn phụ thuộc vào thái
độ của người học Đây chính là điểm khác biệt của lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung Mặt khác phương tiện lao động của GV chủ yếu là phương tiện tinh thần bằng lời, bằng tấm gương, thái độ, bằng “điểm tựa”, bằng cảm hóa….Thời gian lao động của người giáo viên cũng khác,
nó không được tách bạch, rạch ròi với thời gian không lao động sư phạm Với bất kỳ lúc nào, ngay cả khi nghỉ ngơi, giải trí hay làm việc gia đình,… người GV có thể vẫn nghĩ về công việc sư phạm của mình Vì vậy trong công tác quản lý giáo dục cần tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần cho giáo viên, đặc biệt là tạo điều kiện để nâng cao tiềm lực của họ, để
họ toàn tâm, toàn ý cống hiến cao nhất cho sự nghiệp “ trồng người”
- Sản phẩm của giáo dục có tính đặc thù nên quản lý giáo dục phải chú ý ngăn ngừa sự rập khuôn, máy móc trong công việc tạo ra sản phẩm, cũng như không được phép tạo ra phế phẩm
- Quản lý giáo dục đòi hỏi cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính linh hoạt và tính phát triển
Trang 21- Quản lý giáo dục và phát triển quan điểm quần chúng, kết hợp nhân
tố bên trong và bên ngoài, trong đó nhân tố bên trong có tính chất quyết định Nên cần phải phối hợp chặt chẽ và đồng bộ các lực lượng trong nhà trường, gia đình và xã hội
- Quản lí giáo dục là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, nó thu hút sự tham gia của rất đông các thành viên xã hội và có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội
- Quản lí giáo dục là hoạt động mang tính sáng tạo vì đối tượng của hoạt động quản lí giáo dục là con người với các mối quan hệ phức tạp của
nó Quản lí giáo dục phải là một hoạt động mang tính sáng tạo mới phát huy được sự sáng tạo của con người
- Quản lí giáo dục thể hiện tính bao hàm giữa học thuật và nghệ thuật, vì đây là dạng quản lí phức tạp, do quan hệ đa chiều với môi trường
xã hội ở nhiều phạm vi, mức độ, tầng bậc khác nhau
Nội dung quản lý giáo dục: là quản lý các yếu tố cấu thành của hệ
thống giáo dục bao gồm: Mục tiêu GD, nội dung GD, phương pháp GD, tổ chức GD, người dạy, người học, trường sở và trang thiết bị dạy học, môi
trường GD, các lực lượng GD, kết quả GD
Bản chất của quản lý giáo dục: là quản lý quá trình sư phạm, quá
trình dạy và học diễn ra ở các cấp học, bậc học và tất cả các cơ sở giáo dục
Từ góc độ tổ chức và quản lý, quá trình sư phạm là quá trình tạo ra các điều kiện và cơ hội, đồng thời tổ chức việc sử dụng, tận dụng chúng làm cho người học tiếp thu, chiếm lĩnh, lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội để phát triển nhân cách tốt nhất Nơi thực hiện quản lý quá trình sư phạm có hiệu quả nhất là nhà trường, một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo nhân cách bằng việc truyền thụ những tri thức đạo đức mà nhân loại đã sàng lọc chiết suất được cho thế hệ trẻ
Trang 22Nhà trường có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền
- Tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên tham gia vào quá trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo cán bộ, nhân viên;
- Tuyển sinh và quản lý người học;
- Quản lý và sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật;
- Phối hợp với gia đình người học, tổ chức cá nhân trong HĐGD
- Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thấm quyền kiểm định chất lượng giáo dục
Như vậy quản lý nhà trường là một hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thể hiện tính chất nhà trường xã hội chủ nghĩa, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, GD
Trang 231.2.2 Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và quản lý hoạt động BDNVSP
1.2.2.1 Đào tạo và bồi dưỡng
* Đào tạo
Theo quan niệm phổ biến, đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ phẩm chất đạo đức cho người học để họ có thể trở thành những người lao động có kỹ thuật, có năng suất lao động cao Quá trình đào tạo diễn ra theo kế hoạch, chương trình ứng với từng thời gian quy định trong các cơ sở đào tạo
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì đào tạo là quá trình tác động đến một con người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận được sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [32]
Hiện nay đào tạo có nhiều dạng: đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyên sâu, đào tạo cơ bản, đào tạo ngắn hạn, đào tạo từ xa và đào tạo lại (tương đương với bồi dưỡng),… Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động mà người ta phân loại đào tạo gồm đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp và chỉ khi nào quá trình đào tạo biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới thực sự có kết quả cao
Theo Hồ Ngọc Đại thì “ Đào tạo” được hiểu là quá trình hoạt động
có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và thái độ của người lao động nhằm xây nhân cách cơ bản cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể tham gia lao động nghề nghiệp trong cuộc sống xã hội [14]
Nguyễn Minh Đường cùng nhóm tác giả đề tài KX 07 – 14 thì cho rằng: Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình
Trang 24thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả.[19]
Như vậy chúng ta có thể hiểu: Đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng ban đầu cùng với những phẩm chất, thái độ cần thiết để người được đào tạo có thể hành nghề và trở thành người lao động có kiến thức, có kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của xã hội
* Bồi dưỡng
Theo Đại từ điển tiếng Việt: Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất [32] Như vậy, có thể hiểu: bồi dưỡng chính là quá trình bổ sung tri thức và kỹ năng nhằm tăng cường về năng lực và phẩm chất
Theo UNESCO định nghĩa bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp
Nguyễn Minh Đường cùng nhóm tác giả đề tài KX 07 - 14 cho rằng bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường xuyên được xác nhận bằng một chứng chỉ [19]
Mục đích bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc đang làm
Bồi dưỡng thực chất là bổ sung “bồi đắp” những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở “nuôi dưỡng” những cái cũ còn phù hợp
Trang 25để mở mang có hệ thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả lao động
Trong giáo dục và đào tạo, với phương châm “giáo dục thường xuyên”, “học tập suốt đời” thì đào tạo, bồi dưỡng là quá trình thống nhất Bồi dưỡng là sự tiếp nối quá trình đào tạo chứ không phải là khởi đầu; cũng
có khi bồi dưỡng lại tạo ra tiền đề về tiêu chuẩn cho quá trình đào tạo chính quy ở bậc cao hơn về trình độ chuyên môn trong lĩnh vực cụ thể
1.2.2.2 Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
* Nghiệp vụ sư phạm
Thuật ngữ “nghiệp vụ sư phạm” là từ ghép của hai từ “nghiệp vụ” và
“sư phạm” Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “nghiệp vụ” là công việc thuộc chuyên môn riêng của từng nghề và “sư phạm” là khoa học
về giáo dục và giảng dạy, khuôn phép của nghề dạy học [32]
Nói đến sư phạm có thể hiểu theo 2 góc độ:
- Thứ nhất: có thể hiểu sư phạm là khoa học về giáo dục mà đối tượng nghiên cứu là quá trình GD con người, tìm tòi, phát hiện những quy luật GD, những con đường có hiệu quả để nâng cao chất lượng GD, đặc biệt là sự can thiệp về mặt GD của giáo viên trong những tình huống giáo dục thực Môn khoa học sư phạm này thường được gọi là giáo dục học
- Thứ hai: có thể hiểu sư phạm là tên gọi chuyên ngành đào tạo, bồi dưỡng giáo viên các cấp: trường đại học sư phạm, trường cao đẳng sư phạm, trường trung học sư phạm,…
Như vậy cũng có thể hiểu nghiệp vụ sư phạm chính là công việc chuyên môn của nghề dạy học, là những hoạt động giáo dục và phương pháp dạy môn học cụ thể nào đó của người giáo viên
Theo chúng tôi, nghiệp vụ sư phạm chính là khả năng lao động sư phạm của người giáo viên tạo ra sản phẩm đặc biệt là nhân cách học sinh
Trang 26Nó được đúc kết từ kiến thức, kỹ năng và tình cảm thái độ đối với nghề dạy học của người giáo viên Nó đảm bảo cho người giáo viên biết cách tổ chức
và thực hiện có hiệu quả các quá trình giáo dục (giáo dục, dạy học và tự hoàn thiện) theo đúng yêu cầu, chức năng nhiệm vụ của mình Hay nói cách khác, NVSP của người giáo viên chính là hệ thống các năng lực sư phạm và những phẩm chất cần thiết nhằm thực hiện có hiệu quả hoạt động giáo dục, dạy học và tự hoàn thiện Người giáo viên có NVSP là người có phẩm chất nhà giáo và có hệ thống năng lực sau:
- Năng lực phân tích và hiểu biết về chương trình hoạt động và GD
- Năng lực thiết kế hoạt động dạy học và giáo dục
- Năng lực triển khai thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục
- Năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn DH & GD
- Năng lực giám sát, KTĐG kết quả học tập và rèn luyện của HS
- Năng lực tổ chức
- Năng lực tự hoàn thiện mình
Đây chính là những thành tố được gắn với nhau tạo thành cấu trúc NVSP Trong bất cứ nghề nghiệp nào cũng có những quy phạm hay yêu cầu của người đó đặt ra Các yêu cầu đó thường bao gồm hệ thống kiến thức và năng lực nghề đảm bảo cho con người hoạt động có hiệu quả, có năng suất cao trong lao động nghề nghiệp Thông thường người ta gọi yêu cầu ấy với cái tên dưới dạng tổng hợp là “ trình độ nghiệp vụ” Với nghề dạy học thì đó chính là trình độ nghiệp vụ sư phạm
Một người muốn hành nghề trước hết phải có trình độ nghề nghiệp nhất định và trình độ nghiệp vụ ấy trong xã hội không ngừng phát triển như ngày nay, liên tục được cập nhật và không ngừng được hoàn thiện để nâng cao Đối với ngành giáo dục đào tạo cũng vậy, những người trực tiếp làm
Trang 27những chuẩn mực nhất định về nghiệp vụ sư phạm hay nói cách khác người giáo viên phải phấn đấu để có tay nghề sư phạm vững vàng Đòi hỏi người giáo viên phải thường xuyên bồi dưỡng và tự bồi dưỡng NVSP, không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, hoàn thiện nhân cách để cống hiến cho sự nghiệp “ trồng người”
* Yêu cầu về NVSP đối với GV các trường dạy nghề
Chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung phụ thuộc vào trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của họ Với các trường nghề, đội ngũ giáo viên ngoài việc phải đáp ứng các yêu cầu chung của ngành giáo dục còn phải có những phẩm chất và năng lực mang tính đặc thù
Khoản 1 điều 6 trong Điều lệ trường cao đẳng nghề nói về Nhiệm vụ
và quyền hạn của trường cao đẳng nghề có ghi: “Tổ chức đào tạo nhân lực
kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho
họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động”
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, đội ngũ giáo viên phải đáp ứng được các tiêu chuẩn và trình độ chuẩn của giáo viên dạy nghề Khoản 2 điều 28 của Điều lệ trường cao đẳng nghề quy định trình độ chuẩn của giáo viên dạy nghề như sau:
a) Giáo viên dạy lý thuyết trình độ sơ cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
Trang 28b) Giáo viên dạy lý thuyết trình độ trung cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề trở hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
c) Giáo viên dạy lý thuyết trình độ cao đẳng nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề trở hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
d) Trường hợp giáo viên dạy nghề quy định tại các điểm a, b và c của khoản này không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ sư phạm dạy nghề
Như vậy người giáo viên nghề phải đạt trình độ chuẩn, đủ kiến thức khoa học để lĩnh hội và tiếp thu tri thức mới và có khả năng ứng dụng có hiệu quả vào công việc giảng dạy và học tập Đối với giáo viên dạy thực hành ngoài trình độ lý thuyết phải có trình độ tay nghề vững vàng ở mức thành thạo, khả năng miệng nói tay làm với các thao tác mẫu mực trong truyền nghề cho học sinh sinh viên, phổ biến các kinh nghiệm được đúc kết trong thực tế sản xuất,… nhằm giúp HSSV nhanh chóng vượt qua khó khăn, đạt kết quả cao trong nghề nghiệp và áp dụng vào thực tế sau khi tốt nghiệp
Đối với người giáo viên, trình độ sư phạm và phương pháp giảng dạy
là chìa khoá mở cửa trí tuệ, là phương tiện duy nhất đúng dẫn người học đi nhanh đến đỉnh cao của ước mơ nghề nghiệp, khơi dậy lòng ham muốn sáng tạo và say sưa lao động Kiến thức và kỹ năng sư phạm hiện đại có vai trò quyết định đến năng lực hoạt động của người giáo viên, trong đó có việc hình thành kỹ năng kỹ xảo trong nền kinh tế tri thức Các phương tiện thông tin như máy tính, đa truyền thông, đa phương tiện, mô hình ảo, là
Trang 29ngữ, trình độ tin học, trình độ nhận thức xã hội là các yếu tố không không kém phần quan trọng trong nghiệp vụ của người giáo viên dạy nghề
Để có các nhân tố trên, trong mỗi giáo viên phải tự rèn luyện, phấn đấu nhiều năm mới có thể chiếm lĩnh được Do vậy phải có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cập nhật và thường xuyên tạo điều kiện thuận lợi
để người giáo viên có thể hoàn thành được vai trò, vị trí của mình
Một trong những nhiệm vụ của giáo viên theo điều 29 của Điều lệ trường cao đẳng nghề là “thường xuyên học tập, bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ; rèn luyện phẩm chất đạo đức; giữ gìn uy tín, danh dự của nhà giáo” Mặt khác trong những trường nghề, ngoại trừ một
số không nhiều giáo viên dạy các môn chung đạt chuẩn nói trên thì hầu hết giáo viên nghề là người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề; cao đẳng nghề, đại học chuyên ngành hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao, đại đa số giáo viên chưa qua đào tạo tại các trường sư phạm, việc dạy học chủ yếu dựa trên kinh nghiệm là chính nên để đạt chuẩn giáo viên nghề, đáp ứng nhiệm vụ của giáo viên nghề thì giáo viên phải tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
* Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
Sản phẩm của sư phạm sau khi được đào tạo là giáo viên thì bồi dưỡng NVSP chính là quá trình tác động bổ sung và hoàn thiện thêm kỹ năng, tình cảm thái độ cho người giáo viên đó, giúp họ đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của giáo dục Nếu đào tạo mà thiếu bồi dưỡng thì sản phẩm sẽ không đáp ứng được sự thay đổi phát triển của xã hội, và bồi dưỡng không trên cơ sở đào tạo thì sản phẩm sẽ không tồn tại bền vững, sẽ tụt hậu
Người giáo viên đóng vai trò của người “tổ chức hướng dẫn” và
“người hỗ trợ” là “thang đỡ”, “điểm tựa” của học sinh trong quá trình học
Trang 30tập với tất cả tính chủ động và sáng tạo của họ Đảm đương vai trò mới của mình trong một thiết chế giáo dục đang có sự đổi mới
Khoa học SP đã chỉ ra những yêu cầu mà một GV phải đáp ứng là:
- Phải có sự hiểu biết về nội dung môn học
- Phải có tri thức về sự phát triển thông qua việc hiểu rõ tư duy, hành
vi, hứng thú và tri thức hiện có của học sinh sinh viên
- Phải có hiểu biết về sự khác biệt có thể nảy sinh từ các nhân tố văn hóa, ngôn ngữ, gia đình, cộng đồng, giới tính, quá trình học tập đã qua, hoặc các nhân tố khác đã hình thành nên kinh nghiệm của người học, ảnh hưởng thuận lợi hoặc tạo nên những khó khăn cho việc học tập
- Phải có tri thức về việc học tập để có khả năng hỗ trợ việc học tập
cụ thể bằng các chiến lược dạy học khác nhau, sử dụng những phán đoán
về những loại hình học tập nào là cần thiết trong những bối cảnh khác nhau
- Phải hiểu biết về đánh giá học sinh, hình thành và sử dụng công cụ đánh giá mặt mạnh và mặt yếu của học sinh để có phương pháp dạy học và giáo dục phù hợp với từng đối tượng
- Phải hiểu biết các nguồn của chương trình và công nghệ, giúp người học biết cách tìm ra và sử dụng một “dải” rộng các nguồn để định hình và giải quyết vấn đề chứ không để chỉ sử dụng một nguồn đơn nhất hoặc sách giáo khoa mà thôi
- Phải am hiểu và đánh giá cao sự cộng tác giữa thầy và trò, nhà trường và gia đình để nâng cao kết quả của việc dạy và học
Để đáp ứng được các yêu cầu nói trên, người giáo viên không thể chỉ làm việc với vốn kiến thức đã được đào tạo của mình cùng kinh nghiệm công tác mà phải tham gia vào các loại hình hoạt động khác nhau: dạy học
Trang 31thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm nghề nghiệp nhằm nâng cao phẩm chất và đặc biệt là trình độ NVSP
Bồi dưỡng NVSP là một loại hình BD thường xuyên cho GV về tổ chức các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện qui chế chuyên môn, công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh,…đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp GD & ĐT
1.2.2.3 Biện pháp quản lý hoạt động BDNVSP
Theo Đại từ điển tiếng Việt: Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể [32] Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, khi sử dụng một phương pháp người ta có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau Mặt khác cùng nhiều biện pháp có thể dùng nhiều phương pháp Điều đó nói lên tính linh hoạt của biện pháp khi giải quyết một hay nhiều vấn đề
Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng NVSP chính là tổ hợp các cách thức tác động vào quá trình bồi dưỡng NVSP nhằm đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý giáo dục mong muốn là không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giao viên, đáp ứng nhu cầu của xã hội trong từng giai đoạn phát triển
1.3 Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
1.3.1 Nguyên tắc quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
Nguyên tắc là tư tưởng chỉ đạo quy tắc cơ bản, yêu cầu cơ bản đối với hoạt động và hành vi rút ra từ tính quy luật được khoa học thiết lập
Những nguyên tắc bồi dưỡng NVSP là những luận điểm cơ bản có tác dụng chỉ đạo việc xây dựng mục tiêu, lựa chọn nội dung, phương pháp, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện hoạt động BDNVSP có hiệu quả Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục chuyên nghiệp, quản lý hoạt động BDNVSP phải thực hiện các nguyên tắc sau đây:
Trang 32- Nguyên tắc quán triệt quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước:
Để trở thành người giáo viên mẫu mực về nhân cách, tinh thông về nghiệp
vụ thì mỗi người giáo viên cần phải quán triệt sâu sắc những quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước, và cụ thể hoá những quan điểm
đó thành những nhiệm vụ thiết thực, những việc làm có hiệu quả trong việc đào tạo ra những lớp người lao động có tri thức, có tay nghề đáp ứng được nhu cầu đổi mới của đất nước
Đứng trước những yêu cầu ngày càng cao của thời đại, của sự phát triển khoa học công nghệ như vũ bão, GV các trường cao đẳng công nghệ phải nhanh chóng hình thành cho mình một mẫu ngườt lao động mới, chuyển từ lối sống theo khuôn mẫu thụ động sang lối sống năng động, tìm tòi, sáng tạo, với phương châm học tập thường xuyên, liên tục, suốt đời
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, học
đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với đời sống, với những nhiệm vụ phát triển của đất nước: đảm bảo đào tạo thế hệ người lao động sau đào tạo vừa
có kiến thức chuyên môn vững vàng, vừa có tay nghề thành thạo, có thể tiếp cận nhanh vào các cơ sở sản xuất và đời sống xã hội
- Nguyên tắc phối hợp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên phải đảm bảo tính hệ thống, tính khoa học, tính vừa sức, tính kế thừa, tính phát triển, phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của người giáo viên nhằm nâng cao tay nghề của đội ngũ giáo viên phù hợp với yêu cầu của thời đại của đất nước và của địa phương
1.3.2 Các nội dung quản lý hoạt động BDNVSP
1.3.2.1.Quản lý mục tiêu bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
Chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 - 2010 đề ra mục tiêu tổng quát: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân tạo nền tảng để đến năm
Trang 332020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa” Để đạt được các mục tiêu nêu trên giáo dục và khoa học công nghệ
có vai trò quyết định, nhu cầu phát triển giáo dục là bức thiết
Bồi dưỡng giáo viên là một việc làm thường xuyên của giáo dục và đào tạo để nâng cao, hoàn thiện trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho các giáo viên đang giảng dạy và công tác trong trường học
Theo Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005, mục tiêu chung của giáo dục Việt Nam là “…đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, cả đạo đức, cả tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (điều 2 trang 63) Trong đó mỗi bậc học lại đặt ra các mục tiêu cụ thể để thực hiện mục tiêu chung này
Theo điều 4 của Luật Dạy nghề thì “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp,
ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”
Theo điều 3 chương 1 của Mục tiêu bồi dưỡng, sử dụng nhà giáo chưa đạt trình độ chuẩn quy định về việc bồi dưỡng, sử dụng nhà giáo
chưa đạt trình độ chuẩn (Ban hành kèm theo Quyết định số BGDĐT ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo):
Trang 3422/2006/QĐ Xây dựng đội ngũ nhà giáo đạt trình độ chuẩn và có kế hoạch bồi dưỡng số nhà giáo chưa đạt trình độ chuẩn ở tất cả các cấp học để đến năm
Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm là một hoạt động đặc trưng không thể thiếu trong quá trình bồi dưỡng giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc học Đặc biệt ở các trường dạy nghề với đặc thù là rất nhiều giáo viên chưa được đào tạo qua các trường sư phạm thì hoạt động này là hết sức cần thiết và có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên qua các hoạt động này, giáo viên nắm vững mục tiêu, chương trình, nguyên tắc và phương pháp dạy học
Mục tiêu công tác bồi dưỡng NVSP nhằm giúp giáo viên bổ sung và hoàn thiện thêm kỹ năng, tình cảm thái độ, giúp họ đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của giáo dục, thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh sinh viên, hình thành và phát triển năng lực tư duy khoa học, hoàn thiện nhân cách và trau dồi năng lực toàn diện cho thế hệ trẻ
Quản lý mục tiêu bồi dưỡng NVSP chính là quá trình giúp giáo viên nhận thức đúng đắn, đầy đủ về vai trò, ý nghĩa và nhiệm vụ của công tác
Trang 35bồi dưỡng NVSP, từ đó giáo viên cần có các hoạt động trau dồi và nâng cao năng lực và phẩm chất của mình đạt mục tiêu giáo dục
1.3.2.2 Quản lý nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
Bồi dưỡng NVSP cho giáo viên là hoạt động không thể thiếu ở tất cả các cơ sở giáo dục, hoạt động này đặc biệt cần thiết trong các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp Nội dung bồi dưỡng NVSP bao gồm: bồi dưỡng chuẩn hoá; bồi dưỡng thường xuyên và bồi dưỡng nâng cao trình độ
* Nội dung bồi dưỡng chuẩn hoá: Đối với những giáo viên chuẩn
bị hoặc đã tham gia giảng dạy mà chưa đạt chuẩn theo quy định thì ngoài việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên môn; ngoại ngữ, tin học và những nội dung khác mà tiêu chuẩn chức danh quy định thì những giáo viên đó phải tham gia các khoá học bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm :
- Phương pháp dạy học bộ môn
- Nghiên cứu đề tài khoa học giáo dục
- Chuyên đề tự chọn
* Nội dung bồi dưỡng thường xuyên:
Trang 36Đây là nội dung bồi dưỡng được tổ chức thường xuyên, liên tục cho toàn thể đội ngũ giáo viên để cập nhật kiến thức, kỹ năng kỹ xảo định kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm, giúp giáo viên ngày càng được hoàn thiện trình độ nghề nghiệp đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội
Nội dung BD thường xuyên bao gồm: phổ biến các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước, các quy định về dạy nghề; BD kiến thức chuyên môn, những tiến bộ khoa học, công nghệ mới thuộc chuyên môn giảng dạy; BD kỹ năng nghề (bao gồm cả việc
sử dụng những thiết bị sản xuất hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến của nghề); bồi dưỡng tin học, ngoại ngữ Đặc biệt là bồi dưỡng NVSP có vai trò hết sức to lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy và học
Nội dung bồi dưỡng NVSP thường xuyên bao gồm:
- Phổ biến các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước, các quy định về dạy nghề
- Các vấn đề về kế hoạch đào tạo, nhiệm vụ của nhà trường trong năm học, trong từng giai đoạn phát triển
- Các vấn đề chuyên môn, nghiệp vụ theo hướng cập nhật hoá, hiện đại hoá và đổi mới tri thức giảng dạy
- Trao đổi kinh nghiệm các hoạt động dạy học và giáo dục: các biện pháp cần thiết để đổi mới phương thức và phương pháp giảng dạy, cập nhật phương pháp dạy học mới, phương pháp xây dựng chương trình và sử dụng phương tiện dạy học mới
* Nội dung bồi dưỡng nâng cao:
Đây là nội dung bồi dưỡng cho tất cả hoặc một bộ phận giáo viên về những vấn đề do yêu cầu công việc và nghề nghiệp; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, năng lực thực hành hoặc các tiêu chuẩn
Trang 37quy định của chức danh cao hơn tuỳ theo yêu cầu của nghề nghiệp và nhiệm vụ được phân công
1.3.2.3 Quản lý hình thức tổ chức hoạt động BDNVSP
* Hình thức tổ chức BDNVSP
Hiện nay BDGV thường được tiến hành theo phương thức sau:
- Bồi dưỡng theo hình thức tập trung: giáo viên thường được tập trung theo đơn vị khoa hoặc toàn trường Tại đây giáo viên lên lớp nghe giảng về lý thuyết hoặc thực hành kỹ năng, xêmina
Hình thức này có ưu điểm là GV được lĩnh hội nội dung chương trình bồi dưỡng một cách đầy đủ có chất lượng, có hiệu quả cao nếu được
tổ chức, chuẩn bị một cách chu đáo về chương trình và kế hoạch Tuy nhiên theo hình thức này số lượng GV thường tập trung đông, GV phụ thuộc vào giảng viên, không chủ động học tập, đôi khi còn học tập đối phó hoặc theo kiểu đánh trống ghi tên Đồng thời hình thức này khó có thể thực hiện được trong năm vì người GV còn phải phụ thuộc vào tiến độ của năm học
- Bồi dưỡng theo hình thức tự học: Trên cơ sở được cung cấp tài liệu, giáo trình học tập cần thiết, người giáo viên sẽ tự nghiên cứu, học tập trao đổi theo tổ, nhóm, bộ môn
Hình thức này có ưu điểm là phù hợp với điều kiện tổ chức thực hiện hiện nay, ít tốn kém, có thể tiến hành trong năm học, nếu giáo viên có khả năng và tinh thần tự học tập nghiên cứu thì chất lượng và hiệu quả rất tốt Tuy nhiên mặt hạn chế của hình thức này là chất lượng phụ thuộc vào khả năng, tính tự giác và niềm đam mê của giáo viên trong khi phần đông giáo viên còn hạn chế về khả năng tự học , tự nghiên cứu, nhất là những vấn đề mới và khó nên hiệu quả của phương thức này còn chưa cao
- Kết hợp giữa hai hình thức: học tập trung và tự học Nội dung của hình thức này là dựa trên cơ sở GV phải tự học, tự nghiên cứu là chính, có
Trang 38tập trung để nghe giảng viên hướng dẫn, giải đáp thắc mắc, kết hợp với thảo luận, trao đổi tổ, nhóm Nhiệm vụ của GV là nghiên cứu tài liệu, hệ thống kiến thức, đề xuất khó khăn, vướng mắc không thể tự giải quyết được để đưa ra nhờ tổ, nhóm và giảng viên tháo gỡ Nhiệm vụ của giảng viên là giải đáp những khó khăn, vướng mắc của những vấn đề đã nêu ra từ trước; hướng dẫn, định hướng những vấn đề tiếp theo cho học viên tiếp tục nghiên cứu, tự học, hướng dẫn cho họ cách tự đánh giá kết quả học tập của mình
Ưu điểm của hình thức này là phát huy được ưu điểm, khắc phục được những hạn chế, khó khăn của hai phương thức trên, nhưng nếu công tác quản lý không tốt sẽ tạo chất lượng không cao, dẫn đến việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng không đạt hiệu quả như mong muốn
* Quản lý tổ chức hoạt động BDNVSP
- Các đơn vị chức năng thuộc Bộ chủ quản:
+ Làm việc với các Bộ, Ban ngành hữu quan phối hợp chỉ đạo triển khai thực hiện
+ Hướng dẫn đôn đốc kiểm tra việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng tại các cơ sở đào tạo
+ Chỉ đạo công tác biên soạn tài liệu và công tác chuẩn bị các phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho các đợt bồi dưỡng
+ Cân đối và phân bổ kinh phí từ các nguồn thuộc ngân sách nhà nước, các đề án, dự án, chương trình mục tiêu phục vụ công tác bồi dưỡng
+ Tổ chức rút kinh nghiệm, đánh giá kết quả thực hiện công tác BD
- Các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ chủ quản :
+ Trên cơ sở khung kế hoạch của Bộ, các cơ sở đào tạo trực thuộc chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch bồi dưỡng NVSP cho giáo viên cho
Trang 39+ Tổ chức nghiêm túc và chặt chẽ công tác bồi dưỡng theo kế hoạch
đã được duyệt, bao gồm :
o Tổ chức bồi dưỡng các lớp nghiệp vụ sư phạm bậc 1 và bậc 2 cho những giáo viên đã đứng lớp và chuẩn bị đứng lớp nhưng chưa đạt chuẩn trình độ sư phạm
o Tổ chức các lớp bồi dưỡng thường xuyên cho toàn thể đội ngũ giáo viên để cập nhật kiến thức, kỹ năng kỹ xảo định kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm với các đợt học tập trung ngắn hạn (5-10 ngày) hoặc cung cấp các tài liệu liên quan đến bồi dưỡng NVSP để giáo viên tự học tập, nghiên cứu
o Tổ chức các lớp bồi dưỡng trong hoặc ngoài nước sử dụng ngân sách hoặc các nguồn vốn, nguồn dự án nước ngoài cho một bộ phận giáo viên về những vấn đề do yêu cầu công việc và nghề nghiệp nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm và năng lực thực hành
o Tổ chức các hội thi giáo viên giỏi các cấp, qua đó toàn thể đội ngũ giáo viên, cả người tham dự các tiết giảng hoặc nghe ác tiết giảng đều học hỏi được rất nhiều về cả chuyên môn lẫn NVSP
+ Chuẩn bị kinh phí phục vụ công tác bồi dưỡng
+ Tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng, tổng kết rút kinh nghiệm phục vụ cho công tác quản lý chỉ đạo
1.3.2.4 Quản lý quá trình kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động BDNVSP
* Hoạt động kiểm tra đánh giá tại các lớp BDNVSP
Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng của công tác bồi dưỡng NVSP Thông qua đó giúp giảng viên và những người tổ chức lớp bồi dưỡng thu được những thông tin cần thiết về kết quả học tập của học viên Đây là cơ sở để giảng viên và các nhà quản lý điều chỉnh và hoàn thiện quá trình bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đã đề ra Đồng thời
Trang 40KTĐG kết quả học tập của học viên sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, nâng cao ý thức kỷ luật tự giác, hình thành nhu cầu và thói quen tự kiểm tra đánh giá, củng cố và phát triển trí tuệ cho học viên
Trong các đợt bồi dưỡng NVSP, giảng viên là những người trực tiếp giảng dạy nhưng không phải là lực lượng kiểm tra chủ yếu Tuỳ theo tính chất của các đợt BD mà ban tổ chức quyết định có KTĐG hay không, kiểm tra theo hình thức nào là hợp lý Tâm lý chung của giáo viên khi tham gia
BD là chỉ thích được học, thích được nghe giảng viên trình bày chứ rất ngại làm bài KTĐG kết quả học tập Chính vì vậy để đạt hiệu quả bồi dưỡng thì khâu KTĐG không cần quá cứng nhắc đối với tất cả các lớp và các đối tượng bồi dưỡng Với những lớp bồi dưỡng chuẩn hoá thì KTĐG là bắt buộc, tuy nhiên với một số lớp bồi dưỡng thường xuyên hoặc bồi dưỡng trên chuẩn thì KTĐG nên được tiến hành nhẹ nhàng, mang tính chất khuyến khích học viên tự KTĐG thậm chí có một số nội dung bồi dưỡng không tiến hành KTĐG Các hình thức kiểm tra đánh giá bao gồm:
- Tổ chức thi, kiểm tra viết (tự luận hoặc trắc nghiệm)
- Học viên viết thu hoạch
- Kiểm tra kỹ năng thực hành
- Tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm
* Quản lý quá trình kiểm tra đánh giá hoạt động BDNVSP:
Quản lý quá trình kiểm tra đánh giá hoạt động BDNVSP bao gồm :
- Tổ chức việc xây dựng chuẩn ĐG cho từng hoạt động BDNVSP
- Tổ chức việc lựa chọn các phương thức dánh giá, cách thức đo đạc thành tích và so sánh với mục tiêu bồi dưỡng
- Giám sát hoạt động đánh giá và đo đạc để nhận nhận biết hoạt động KTĐG có khách quan, trung thực và đạt kết quả như mong muốn không