Việc xây dựng các hoạt động trợ giúp tâm lý cho học sinh trong nhà trường sẽ giúp cho giáo viên và học sinh hiểu biết rõ hơn về những vấn đề liên quan tới sự hình thành và phát triển nhâ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ THOA
NHU CẦU ĐƯỢC TRỢ GIÚP TÂM LÝ CỦA HỌC SINH
TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG HUYỆN ĐAN PHƯỢNG – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGHÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ THU DUNG
TS BÙI THỊ THÚY HẰNG
HÀ NỘI - 2012
Trang 2DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 ACA Hiệp hội tham vấn tâm lý Hoa Kỳ
2 ASCA Hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 2
3.Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4.Giả thuyết nghiên cứu 3
5.Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6.Phạm vi nghiên cứu 4
7.Phương pháp nghiên cứu 4
8.Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 5
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường 5
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại nước ngoài 5
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại Việt Nam 8
1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 13
1.2.1 Một số lý thuyết nghiên cứu về nhu cầu 13
1.2.2.Khái niệm nhu cầu 18
1.2.3 Khái niệm tâm lý học đường 22
1.2.4 Khái niệm “trợ giúp tâm lý học đường” 25
1.2.5 Khái niệm nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh 28 1.2.6 Một số đặc điểm tâm – sinh lý cơ bản của học sinh trung học phổ thông 28
1.2.7.Những khó khăn tâm lý mà học sinh trung học phổ thông thường gặp 34
1.2.8 Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THPT 36
1.3.Các tiêu chí để đánh giá nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh 37
Kết luận chương 1 39
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu 40
2.2 Quy trình nghiên cứu 40
2.3 Các phương pháp nghiên cứu 43
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 43
Trang 42.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 43
Kết luận chương 2 46
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
3.1 Thực trạng những khó khăn tâm lý mà học sinh trung học phổ thông gặp phải trong cuộc sống 37
3.1.1 Thực trạng những khó khăn tâm lý của học sinh 37
3.1.2 Các phương thức giải quyết khó khăn tâm lý của học sinh 69
3.2 Nhận thức của học sinh THPT về hoạt động trợ giúp tâm lý học đường 73
3.3 Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT 79
3.3.1.Nhu cầu của khách thể đối với các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường nói chung 79
3.3.2 Nhu cầu được trợ giúp tâm lý của học sinh đã sử dụng dịch vụ 81
3.3.3 Nhu cầu của học sinh về nội dung trợ giúp tâm lý học đường 83
3.3.4 Nhu cầu của học sinh về hình thức trợ giúp tâm lý học đường 88
3.3.5 Mong đợi của học sinh đối với các chuyên gia tâm lý 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Khuyến nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Tình trạng nghèo nàn, lạc hậu dần dần được khắc phục Đời sống vật chất, tinh thần của mọi người, mọi nhà đang từng bước được cải thiện Song xã hội càng phát triển thì những vấn đề của đời sống tâm lý, tình cảm cũng càng nảy sinh phong phú, đa dạng và bức xúc hơn Các hoạt động tham vấn tâm lý xuất hiện và ngày càng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, nhất là ở những đô thị đông dân Tham vấn tâm lý được ứng dụng ở nhiều loại hình tham vấn khác nhau, trong đó trợ giúp tâm lý học đường đang trở thành một nhu cầu cấp bách của xã hội cần được đáp ứng kịp thời Hoạt động trợ giúp tâm lý học đường không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với học sinh, sinh viên mà nó còn rất cần thiết cho giáo viên, phụ huynh học sinh – những người
có liên quan đến sự nghiệp “trồng người”
Sự phát triển với tốc độ nhanh và đầy biến động của nền kinh tế - xã hội, các yêu cầu ngày càng cao của nhà trường và cả những điều bất cập trong thực tiễn giáo dục; thêm vào đó là sự kỳ vọng quá cao của cha mẹ, thầy cô đang tạo ra những áp lực rất lớn và gây căng thẳng cho học sinh trong cuộc sống, trong học tập và trong quá trình phát triển Mặt khác, sự hiểu biết của học sinh về bản thân mình cũng như kỹ năng sống của các em vẫn còn hạn chế trước những sức ép nói trên Thực tế cho thấy, học sinh trong nhà trường phổ thông có thể có những rối loạn về phát triển tâm lý, rối loạn phát triển các
kỹ năng nhà trường (như đọc, viết, tính toán…), những rối loạn về cảm xúc như lo âu, trầm cảm hay những rối loạn về hành vi (như vô kỷ luật, bỏ học, trốn học, trộm cắp, hung bạo…) Theo số liệu điều tra, tỷ lệ có dấu hiệu rối nhiễu tâm lý trong trẻ em ở tuổi học đường là khoảng 20% (Hà Nội và các tỉnh lân cận, theo điều tra năm 1999 của Bệnh viện Nhi Trung ương là 10 – 24% và năm 2003 là 20 – 30%; tại Biên Hòa, theo điều tra của sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai, năm 2000 là 10 – 24%; tại Hà Nội ở 1023 học sinh tiểu
Trang 6học và trung học cơ sở là 19,46% theo điều tra năm 2005 của Bệnh viện Tâm thần Ban ngày Mai Hương) Hậu quả là ngày càng có nhiều học sinh gặp không ít khó khăn trong học tập, tu dưỡng đạo đức, xây dựng lý tưởng sống cho mình cũng như xác định cách thức ứng xử cho phù hợp trong các mối quan hệ xung quanh Vì vậy, những học sinh này rất cần được sự trợ giúp của các nhà chuyên môn, của thầy cô giáo và cha mẹ
Đứng trước thực trạng trên cho thấy rất cần có những hoạt động trợ giúp tâm
lý học đường cho học sinh Việc xây dựng các hoạt động trợ giúp tâm lý cho học sinh trong nhà trường sẽ giúp cho giáo viên và học sinh hiểu biết rõ hơn về những vấn đề liên quan tới sự hình thành và phát triển nhân cách của các em, để giúp đỡ và hướng cho các em phát triển một cách đúng đắn, lành mạnh, hiểu về bản thân và người khác tốt hơn Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta, các hoạt động trợ giúp tâm lý trong trường học còn chưa được thực hiện một cách phổ biến; một số trường phổ thông ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh (Tp HCM) có lập các phòng tư vấn nhưng hoạt động chưa có hiệu quả cao Riêng ở huyện Đan Phượng – thành phố Hà Nội, hiện nay chưa có trường phổ thông nào trên địa bàn huyện thành lập phòng tham vấn, hỗ trợ tâm lý cho học sinh; tổ chức hoạt động trợ giúp tâm lý cho học sinh tại các trường phổ thông còn rất ít Các
em chưa được biết, chưa được tiếp cận nhiều với các hoạt động trợ giúp tâm lý
Vì vậy việc tìm hiểu nhu cầu trợ giúp tâm lý trong trường học của của học sinh
là rất cần thiết, trên cơ sở đó đánh giá nhu cầu trợ giúp tâm lý theo các mức độ khác nhau để từ đó xác định phương hướng tổ chức các hoạt động trợ giúp tâm
lý nhằm đáp ứng nhu cầu của các em
Từ lý luận và thực tiễn trên chúng tôi chọn đề tài: “Nhu cầu được trợ giúp
tâm lý của học sinh trong một số trường trung học phổ thông huyện Đan Phượng – thành phố Hà Nội” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ thông nhằm đề xuất một số kiến nghị về việc triển khai các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường tại trường học
Trang 73 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ thông huyện Đan Phượng – thành phố Hà Nội
3.2.Khách thể nghiên cứu
Tổng số lượng khách thể nghiên cứu: 516 học sinh
Trong đó: 248 học sinh trường THPT Đan Phượng
268 học sinh trường THPT Hồng Thái (Số khách thể này được lựa chọn một cách ngẫu nhiên)
Tại các trường, chúng tôi lựa chọn khách thể ngẫu nhiên ở cả 3 khối: khối
10, khối 11, khối 12 để làm tăng tính khách quan và đa dạng của kết quả nghiên cứu
4 Giả thuyết nghiên cứu
- Nhu cầu trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ thông huyện Đan Phượng rất đa dạng và phong phú Có sự khác nhau nhưng không nhiều
về mức độ và sự biểu hiện nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường giữa các nhóm khách thể
- Học sinh trung học phổ thông huyện Đan Phượng hầu như chưa được tiếp cận với các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường vì nhiều lý do khác nhau
- Phần lớn khách thể vẫn có nhận thức chưa đầy đủ về dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
-Tìm hiểu cơ sở lý luận về nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ thông
-Nghiên cứu thực trạng nhu cầu trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ thông
-Đề xuất một số kiến nghị về việc triển khai các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường tại cơ sở
Trang 86 Phạm vi nghiên cứu
-Về địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Đan Phượng – thành phố Hà Nội
Trường THPT Hồng Thái – thành phố Hà Nội -Về thời gian nghiên cứu: đề tài được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 04/2011 đến 05/2012
7 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu và thực hiện luận văn này, chúng tôi lựa chọn những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp thống kê toán học
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 03 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại nước ngoài
Tâm lý học đường là một nhánh của nghành Tâm lý học được ra đời vào những năm đầu thế kỷ XX tại Mỹ Hiện nay, dịch vụ này đã phát triển và rất được quan tâm tại những nước phát triển Đây là ứng dụng thực tế của Tâm lý học vào môi trường học đường, trong đó có vận dụng các kiến thức,
kỹ năng của Tâm lý học phát triển, Tâm lý học nhận thức, Tâm lý học giáo dục và Tâm lý học lâm sàng
Jesse B Davis có thể được xem là một trong những người đầu tiên
trong lĩnh vực này khi giới thiệu một chương trình “Những hướng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức” (Vocational and Moral Guidance) cho học sinh trường công và Frank Parsons, được xem như là cha đẻ của nghề Hướng dẫn
(còn gọi là Khải đạo), khi ông giới thiệu cuốn sách “Lựa chọn một nghề”
(Choosing a Vocation) (1909), trong đó ông trình bày những phương pháp kết nối những đặc điểm tính cách của mỗi cá nhân với một nghề nghiệp Frank Parsons đã hình dung ra công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp có hệ thống trong trường học Nguyên tắc của ông trong công tác hướng dẫn tư vấn nghề
đã ảnh hưởng sâu sắc đến những lĩnh vực rộng lớn hơn của công tác tham vấn Mục đích chính của Parsons đối với công tác hướng dẫn tư vấn nghề được thể hiện trong 3 quá trình:
(1) Thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng thích hoài bão, nguồn lực cũng như những hạn chế của cá nhân đối với nghề, động lực thúc đẩy cá nhân chọn nghề
(2) Kiến thức về những yêu cầu, điều kiện của thành công, những thuận lợi và khó khăn, sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng phát triển trong giới hạn khác nhau của công việc
(3) Nguyên nhân thực sự trong mối liên hệ của hai nhóm trong thực tế
Trang 10Sau này, mặc dù công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp trong trường học được phát triển, song nhiều người đã tán thành việc cần có một cách tiếp cận rộng hơn với tham vấn trong trường học Những người này cho rằng, những chuyên gia tư vấn hướng nghiệp không nên chỉ tập trung quan tâm về nghành nghề mà nên chú ý đến sự khác biệt lớn trong những nhu cầu về tâm
lý và giáo dục của học sinh Nói cách khác, những chuyên gia tư vấn hướng nghiệp phải là những nhà tham vấn tâm lý
Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nhu cầu đánh giá các cá nhân bằng trắc nghiệm xuất hiện Khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, đã kéo theo những hậu quả tâm lý nặng nề làm nảy sinh nhu cầu này càng cao và
nó đã tác động một cách trực tiếp đến hoạt động hướng nghiệp trong trường học [35]
Năm 1927, chuyên nghành Tâm lý học đường đầu tiên được đào tạo tại trường Đại học New York bao gồm đào tạo đại học và sau đại học
Trong những năm sau đó, tham vấn nói chung và tham vấn tâm lý học đường được nhìn nhận một cách đầy đủ và chính thống hơn Năm 1930, lý thuyết về các nhân tố và đặc điểm của E G Williamson – lý thuyết chỉ đạo cho hoạt động tham vấn ra đời Năm 1940, Đạo luật về giáo dục hướng nghiệp (George Barden) ra đời đã đem lại những nguồn lực quan trọng cho sự phát triển và hỗ trợ cho hoạt động tham vấn trong môi trường học đường cũng như những môi trường khác Đây là lần đầu tiên những nhà tham vấn tâm lý học đường, những kiểm huấn viên địa phương và các tiểu ban nhận được những sự hỗ trợ chính thức từ chính phủ về sự quản lý, điều hành, tài chính, nhân lực… Do đó, hoạt động này dần dần đi vào quy củ hơn
Năm 1953, Hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đường Mỹ (ASCA) tham gia vào APGA – tiền thân của Hiệp hội tham vấn tâm lý Hoa Kỳ ACA (American Counseling Association) ngày nay Năm 1962, trong cuốn sách của Wrenn “Nhà tham vấn trong một thế giới thay đổi” (The Counselor in a changing world) đã định chế hóa các mục tiêu của tham vấn học đường
Trang 11Năm 1964, Hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tham vấn tâm lý học đường
Năm 1980, các nhà tham vấn tâm lý học đường đã thay đổi chức năng
và vai trò của nhà tâm lý học đường từ “đánh giá và đánh giá chuyên sâu” (assessment and placement intensive) sang “đánh giá và can thiệp sâu đối với những nhóm có nguy cơ ở trường phổ thông” (preferential assessment, interventions and at least secondary prevention for at risk groups) Những thay đổi này đã làm cho nỗ lực đáp ứng nhu cầu của sinh viên, học sinh cũng như phụ huynh học sinh, giáo viên và cộng đồng ngày được nâng cao
Đến những năm của thập niên 80, 90, nhu cầu về việc làm rõ những đặc tính và vai trò của nhà tham vấn tâm lý học đường được xuất hiện với sự
“chín muồi” của những vấn đề pháp lý liên quan
Đến năm 1997, các tiêu chuẩn quốc gia dành cho các hoạt động tham vấn, hỗ trợ tâm lý học đường (National Standards for School Counseling Programs) xuất hiện Kể từ đó, nghành tham vấn Tâm lý học đường được xem như chính thức ra đời
Hiện nay, Hiệp hội các nhà tham vấn Tâm lý học đường Hoa Kỳ (ASCA) được xem như là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tham vấn, hỗ trợ tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới ASCA hiện là một phân hội của ACA với hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới
Ngày nay, các dịch vụ tham vấn, hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên phổ biến và không thể thiếu được trong các trường học, các cơ sở đào tạo ở Anh, Pháp, Nga, Đức… và nhiều quốc gia khác trên thế giới
Ở Nga, hoạt động trợ giúp tâm lý xuất hiện muộn hơn vào khoảng những năm 80 của thế kỷ XX cùng với những thực nghiệm tâm lý nhằm ứng dụng Tâm lý học vào các trường học của thành phố Mátxcơva Tại đây, chính
sự xuất hiện nhiều chương trình, nhiều phương pháp dạy học khác nhau, các
cơ sở đào tạo mới ra đời và sự xuất hiện của các giá trị mới như tự do tư duy, tính tích cực… đã thúc đẩy sự phát triển của loại hình dịch vụ vừa ra đời này
Trang 121.1.2 Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại Việt Nam
Hiện nay, Tâm lý học đường trên thế giới đã có một quá trình phát triển lâu dài Tuy nhiên, ở nước ta, Tâm lý học đường vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ Các hoạt động tham vấn, trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh, sinh viên còn chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức
Trước đây, trong thời gian chiếm đóng miền Nam Việt Nam, Mỹ đã cho triển khai các hoạt động Khải đạo trong các trường học Đến năm 1975, khi miền Nam được giải phóng, cách thức tiếp cận với giáo dục đã thay đổi làm cho hoạt động này không còn tồn tại trong các trường học với đúng nghĩa của nó nữa
Năm 1984, trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ và tâm bệnh N-T do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thành lập đã trở thành nơi đầu tiên thực hành, phát triển nghề tham vấn trong đó có lĩnh vực tâm lý trẻ em và gia đình Phương châm nghiên cứu của trung tâm là chiết trung, không suy tôn một trường phái nào, không lấy một học thuyết nào làm chính thống Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu sâu từng trường hợp Phương pháp này xuất phát từ quan điểm mỗi con người là thế giới riêng Ngoài nghiên cứu ứng dụng, trung tâm còn biên soạn nhiều đầu sách, chương trình đào tạo, dịch và phổ biến một số phương pháp nghiên cứu tâm lý trẻ em.[4]
Ngoài ra phải kể đến các công trình nghiên cứu của Viện tâm lý học, khoa Tâm lý – giáo dục của trường Đại học Sư Phạm, khoa Tâm lý học – trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, các tổ bộ môn tâm lý - giáo dục các trường đại học, cao đẳng sư phạm trong cả nước Đó là những cơ sở không chỉ đào tạo nghành tâm lý, giáo dục mà còn là những cơ sở nghiên cứu
về tâm lý học đường ở nước ta.Trong những năm qua, sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động giáo dục và đào tạo trong nhà trường, gia đình và xã hội Khi đời sống kinh tế được nâng cao đã làm cho học sinh, sinh viên có điều kiện phát triển về thể lực, trí lực, về kỹ năng sống… Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi quan trọng do sự phát triển
Trang 13kinh tế - xã hội mang lại thì nó cũng có những thách thức Có thể thấy, trong thập niên gần đây,có khá nhiều học sinh, sinh viên trong các trường học vẫn đang phải đối mặt với các vấn đề tâm sinh lý trong tiến trình phát triển con người và vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình hội nhập Thực tế cho thấy, chưa bao giờ học sinh phổ thông lại phải chịu một áp lực học tập lớn như hiện nay bởi những kì vọng của gia đình và bối cảnh cạnh tranh gắt gao của cơ chế thị trường Những áp lực này đã tạo nên những khó khăn tâm lý rất lớn và các
em cần tới sự trợ giúp Trong nghiên cứu “Một số yếu tố ảnh hưởng đển công tác hướng nghiệp cho học sinh trong các trường trung học phổ thông hiện nay”(Hội thảo Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO Hội tâm lí
học – giáo dục học 7/2007) tác giả Phạm Mạnh Hà đưa ra nhận định, gần 80% trẻ có rối nhiễu tâm lý có căn nguyên từ học đường Khi khảo sát thực trạng lo
âu của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội năm 2006 người ta thấy cứ 10 trẻ đến tư vấn và trị liệu rối nhiễu tâm lý thì có 7 đến 8 trẻ có căn nguyên liên quan tới vấn đề học đường.Trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng người ta cũng cảnh bảo hiện tượng tự tử hiện nay của học sinh sinh viên cũng xuất phát từ một trong số lý do liên quan tới học tập của các em Chính vì vậy, thông tư số 9971/BGD – ĐT, Bộ giáo dục đào tạo đã gửi các cơ sở đào tạo và trường học về việc “triển khai công tác tư vấn cho học sinh – sinh viên”, đồng thời Bộ giáo dục cũng phát động việc xây dựng “ngôi trường thân thiện, học sinh tích cực” trong trường học Điều này chứng tỏ rằng, các cấp lãnh đạo nghành giáo dục bước đầu đã có những hoạt động quan tâm đến việc phát triển và cung cấp các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh, sinh viên nhằm giúp các em ngoài việc được trang bị tốt về văn hóa, các em còn có một sức khỏe tinh thần lành mạnh
Có lẽ cũng chính vì mục tiêu đó mà nhiều trường đã kết hợp với các tổ chức, các viện, các trường đào tạo nghiên cứu về tâm lý để mở ra các phòng
hỗ trợ tâm lý học đường cho học sinh, sinh viên Ở thành phố Hồ Chí Minh, tính đến nay đã có khoảng 35 trường từ bậc tiểu học, trung học cơ sở đến phổ
Trang 14thông trung học Bắt đầu từ năm 2009, sở giáo dục thành phố Hồ Chí Minh sẽ tuyển tham vấn viên tâm lý Ở Hà Nội, các phòng tham vấn của trường THPT Nguyễn Tất Thành, Trần Hưng Đạo, Lê Qúy Đôn, Trần Nhân Tông cũng bước đầu hoạt động có kết quả, do vậy, nhiều trường khác cũng đưa mô hình tham vấn học đường vào áp dụng để hỗ trợ cho học sinh, giáo viên, phụ huynh
Bên cạnh đó, nhiều cuộc hội thảo khoa học đã được tổ chức nhằm xác định mục tiêu, vai trò, nhiệm vụ, nội dung, mô hình hoạt động….của tâm lý học đường như:
- Bắt đầu từ năm 2000, một số trường học tại thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động phối hợp với các chuyên viên tâm lý và các tổ chức trong và ngoài nước
để triển khai các chương trình tham vấn tâm lý học đường cho học sinh và đã xây dựng được 2 phòng tham vấn tâm lý học đường Đên năm 2005, số phòng tham vấn tâm lý học đường là 31 [36]
- Năm 2003, lần đầu tiên, hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại thành phố
Hồ Chí Minh” do Viện nghiên cứu Giáo dục - Đại học sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh tổ chức
- Năm 2004, Trung tâm hỗ trợ tư vấn tâm lý (CACP) thuộc trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) được thành lập và hoạt động tham vấn tâm lý học đường được xem là một trong những lĩnh vực hoạt động chính của trung tâm
-Năm 2005, hội thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn trong trường học” do Văn phòng tư vấn trẻ em thành phố Hồ Chí Minh tổ chức
- Hội nghị toàn quốc về “Tư vấn tâm lý, giáo dục, thực tiễn và định hướng phát triển” do Hội khoa học tâm lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh tổ chức
năm 2006
- Năm 2007, hội thảo khoa học “Hỗ trợ tâm lý cho học sinh sinh viên” do Hội
khoa học tâm lý Đồng Nai tổ chức
- Hội thảo “Tâm lý học đường triển khai và ứng dụng thực tiễn vào nhà trường Việt Nam” do trường Đại học sự phạm Hà Nội và Viện nghiên cứu sư
Trang 15- Hội thảo khoa học quốc tế “Nhu cầu định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam” do nhiều cơ quan tổ chức nghiên cứu và đào tạo, tổ chức
Ngoài những cuộc hội thảo, tọa đàm về tâm lý học đường, những cơ quan, tổ chức nghiên cứu và đào tạo chuyên nghành tâm lý học cũng đã có những nghiên cứu về các vấn đề tâm lý học đường ở các cấp độ khác nhau
Có thể kể ra đây một số nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến vấn đề mà chúng tôi đang nghiên cứu như:
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mùi và cộng sự về đề tài “Nhu cầu tham vấn của học sinh một số trường trung học trên địa bàn thành phố Hà Nội” cho thấy “sự hài lòng, rất yên tâm” của các em về cuộc sống hiện tại chỉ chiếm 3,2% trong khi mức độ “hài lòng và lo lắng” pha trộn với “thường xuyên lo lắng, không yên tâm” là trên 65% Điều này phản ánh cuộc sống của
các em hiện đang có nhiều áp lực Các em rất cần có sự trợ giúp, tư vấn kịp thời để vượt qua những áp lực, trợ ngại, những khó khăn tâm lý
Nghiên cứu về “Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh – sinh viên Việt Nam hiện nay” của tác giả Bùi Thị Xuân Mai cho thấy có
trên 90% số khách thể được hỏi cho là cần và rất cần có các dịch vụ tham vấn tâm lý Nhóm khách thể ở lứa tuổi vị thành niên thì có nhu cầu tham vấn về vấn đề học tập,quan hệ bạn bè, vấn đề trạng thái tâm lý không cân bằng… Trong khi đó, nhóm lứa tuổi thanh niên lại quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề về việc làm, tình bạn, tình yêu, sức khỏe trong đó có trạng thái tâm lý không cân bằng
Trang 16Nghiên cứu “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh cuối THCS và THPT thành phố Nam Định” của tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng,
Nguyễn Thu Trang, cho thấy có đến 84,7% số học sinh được hỏi cho rằng, các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường là rất cần thiết và có 69,8% các em cho biết nếu có các hoạt động này ở trường thì các em sẽ tham gia vào các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường nói chung và sẵn sàng đến phòng tâm lý học đường khi bản thân có những khó khăn tâm lý
Ngoài những công trình nghiên cứu, các luận văn, các nghiên cứu về nhu cầu tư vấn tâm lý… ở các cơ quan, tổ chức nghiên cứu về tâm lý thì tại khoa tâm lý học trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia
Hà Nội cũng còn có các khóa luận tốt nghiệp, luận văn khác của sinh viên, học viên cao học nghiên cứu về những khó khăn, rối nhiễu tâm lý mà học sinh
thường gặp phải như: Khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu một số nguyên nhân tâm lý của hiện tượng kém thích nghi học đường ở học sinh lớp 6” của Nguyễn Thị Thúy (2002); “Bước đầu phát hiện và đánh giá rối nhiễu tăng động giảm chú ý của học sinh THCS” của Trần Quang Minh (2002); “Bước đầu tìm hiểu về rối nhiễu lo âu, trầm cảm của học sinh THPT” của Lê Thị Hà (2003); “Tìm hiểu những rối nhiễu hành vi và một số yếu tố liên quan đến rối nhiễu hành vi ở trẻ vị thành niên” của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2004)…
Những nghiên cứu trên đây đã phần nào cho thấy những khó khăn, rối nhiễu tâm lý mà học sinh hay gặp phải là rất đa dạng Học sinh ở bất kì cấp học nào cũng đều có nguy cơ mắc phải những rối nhiễu tâm lý Điều này chứng tỏ rằng, hoạt động trợ giúp tâm lý học đường là rất cần thiết Với những hiệu quả mà dịch vụ mang lại, chắc chắn sẽ góp phần giúp các em giải quyết các khó khăn tâm lý, hạn chế tối đa những rối nhiễu tâm lý mà các em có khả năng gặp phải, đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất
và tinh thần
Như vậy, tham vấn tâm lý học đường tại Việt Nam vẫn là một trong những vấn đề mang tính thời sự cao, thu hút sự quan tâm không chỉ của các
Trang 17nhà quản lý, các chuyên gia, các tổ chức trong nước và quốc tế mà ngay cả các em học sinh – sinh viên, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo Tuy nhiên, để
nó trở thành một hoạt động phổ biến trong trường học thì đòi hỏi phải có thời gian và sự nỗ lực lớn của không chỉ các nhà tham vấn mà còn của toàn xã hội
1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1 Một số lý thuyết nghiên cứu về nhu cầu
Trong Tâm lý học, nhu cầu là một đối tượng được nhiều trường phái, nhiều tác giả nghiên cứu, vì vậy mà có không ít quan điểm về nhu cầu
Đầu tiên phải kể đến chủ nghĩa hành vi do nhà tâm lý học Mỹ J Watson (1878 – 1958) sáng lập Bài báo với tên gọi “Tâm lý học từ góc nhìn
của nhà tâm lý học hành vi” vào năm 1913 được coi là sự công khai công bố khai sinh dòng tâm lý học này Theo ông, tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi cơ thể Hành vi của con người được hiểu là tất cả các cử chỉ và lời nói đã hình thành trong cuộc sống hay bẩm sinh và là những gì con người đã làm từ lúc sinh ra cho đến chết Hành vi
là tất cả các phản ứng (R) và sự đáp ứng các kích thích bên ngoài (S), gián tiếp qua đó cá thể được thích nghi [33, tr.170]
Theo Tâm lý học hành vi, mọi vấn đề tâm lý như ý thức, tư tưởng, tình cảm, nhu cầu, động cơ… đều là những khái niệm mơ hồ, không ai thấy được,
đo được Vì thế chúng đều là phi vật chất và không thể quyết định được một hiện tượng vật chất Nhưng mặt khác, ngay từ thế kỉ 19, các tác giả như Ethorndike, NE Miller đã có những thí nghiệm nghiên cứu về nhu cầu ở động vật và khẳng định: các kiểu hành vi của con vật được thúc đẩy bởi nhu cầu, nhu cầu có thể quyết định hành vi Sau này, các đại biểu tâm lý học hành vi mới đưa vào công thức S – R một biến số trung gian: đó là nhu cầu, trạng thái chờ đón, kinh nghiệm sống,… Các tác giả này giải thích rằng biến số trung gian có tác dụng điều chỉnh đáp ứng phù hợp với các kích thích vào cơ thể Các nhà hành vi không coi nhu cầu là thuộc về tâm lý, nhưng trên thực tế, nghiên cứu của họ cho thấy các thực nghiệm đã chỉ ra rằng các nhà tâm lý học
Trang 18hành vi nghiên cứu khá rõ và kỹ lưỡng về nhu cầu, đặc biệt là những nhu cầu sinh lý Điểm hạn chế của họ là quan niệm đồng nhất nhu cầu của con người
và nhu cầu ở con vật Thiếu sót này do các thực nghiệm mà các nhà tâm lý học hành vi dựa vào để đi đến kết luận thường là thực nghiệm trên động vật
Clark Hull (1952) với thuyết xung năng theo hướng tiếp cận sinh học cho rằng: nhu cầu sinh lý chi phối đời sống con người, thúc đẩy hoạt động của con người ng không phủ định sự có mặt của những nhu cầu, động cơ khác nhưng theo ông, chúng kết hợp và bị chi phối bởi nhu cầu thể chất Về bản chất, thuyết xung năng đã sinh vật hóa nhu cầu của con người, xem nhu cầu như là xung năng mang tính sinh vật, nảy sinh từ sự thiếu hụt thức ăn, nước uống, không khí… qua đó phủ nhận tính xã hội, bản chất xã hội của nhu cầu, quy gán nhu cầu nội tâm và nhu cầu xã hội đều do yếu tố sinh vật tạo ra
Một trong những học thuyết về tâm lý có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực cuộc sống và có giá trị thực tiễn cho đến ngày hôm nay là
thuyết Phân tâm học Nó gắn liền với tên tuổi của Sigmund Freud (1856 –
1939) và đã trở nên quen thuộc với nhiều người Trong quá trình nghiên cứu
của mình, ông cũng đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của con người” ng khẳng định, Phân tâm học coi trọng nhu cầu tự
do cá nhân như các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục S Freud cho rằng, toàn bộ sức mạnh tác động ở phía sau những nhu cầu cấp bách của của cái ấy và biểu hiện những nhu cầu thuộc loại thể chất trong tâm thần là xung lực Theo ông, những xung lực này có bản chất sinh học và rất đa dạng Nói cách khác, xung lực bắt nguồn từ những nhu cầu cơ thể Trong tất cả xung lực vốn có của cá nhân, chỉ có hai xung lực cơ bản: tính dục (Eros) và phá hủy (Thanatos) Khi phân tích các xung lực Eros, ông cho rằng Eros mạnh hơn Thanatos; từ đó Freud đi đến khẳng định, nó không phải là thứ nhu cầu tính dục nói chung, mà đó là xung lực khát dục (Libido), tức là những khoái lạc tính dục của cá nhân Theo cách hiểu của S.Freud, Libido giống như
sự đói ăn nói chung Con người đói, tức là nhu cầu tiêu thụ thức ăn cần phải
Trang 19được thỏa mãn, cũng vậy, con người khát dục khi có nhu cầu nhục dục cần được thỏa mãn Xung lực Libido chính là sự tạo ra khoái lạc nhục dục do nhu cầu tính dục được thỏa mãn [25, tr.259].Việc thỏa mãn nhu cầu tình dục sẽ giải phóng năng lượng tự nhiên, và như thế, tự do cá nhân thực sự được tôn trọng, kìm hãm nhu cầu này sẽ dẫn đến hành vi mất định hướng của con người
Một trong những nhà Tâm lý học nổi tiếng hiện nay theo xu hướng Freud mới là Erich Fromm (1901) E Fromm cho rằng cơ chế tự nhiên và xã hội trong con người là vô thức, đó là cái phi lý, hạt nhân của nhân cách Nó biểu hiện sự mong muốn vươn tới cái hài hòa toàn diện của con người ng cho rằng nhu cầu tạo ra cái tự nhiên trong con người Những nhu cầu đó là: 1 Nhu cầu quan hệ giữa người và người; 2 Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người; 3 Nhu cầu về sự bền vững và hài hòa; 4 Nhu cầu đồng nhất bản thân
và xã hội với dân tộc, với giai cấp, với tôn giáo; 5 Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu Những nhu cầu này là thành phần tạo nên nhân cách [1, tr.70]
Tâm lý học nhân văn ra đời như là một khuynh hướng đối lập với tâm lý học hành vi và Phân tâm học Trường phái tâm lý học nhân văn là sự tổng hợp nhiều khuynh hướng mới và nhiều trường phái tư tưởng khác nhau với các đại diện tiêu biểu như: A Maslow, C Rogers, G Allport trong đó “Thuyết thứ
bậc nhu cầu” của A Maslow (1908 – 1970) có tầm ảnh hưởng rất lớn trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự thứ bậc từ cấp thiết đến ít cấp thiết hơn như sau:
Trang 20=>nhu cầu tham gia các quan hệ liên cá nhân, giúp người khác tự khẳng định
=>nhu cầu tự hoàn thiện, tự khẳng định
=> nhu cầu thẩm mỹ, vươn tới cái đẹp
=> nhu cầu nhận thức, khám phá
=> nhu cầu được tôn trọng, được biết đến
=>nhu cầu được sở hữu và yêu thương
=> nhu cầu được an toàn
=> Nhu cầu về cơ thể: đói, khát, mệt
Bốn nhu cầu đầu tiên (bắt đầu từ dưới chân tháp lên) Maslow gọi là nhu
cầu thiếu hụt, các nhu cầu còn lại, ông cho chúng là nhu cầu phát triển Để đi
lên đến đỉnh của “chiếc thang nhu cầu” thì chúng ta phải bắt đầu từ chân
thang Mỗi nhu cầu đòi hỏi con người cần phải có những nỗ lực, cố gắng nhất
định để có thể chuyển lên bậc thang cao hơn Nếu một nhu cầu ở mức thấp
không được đáp ứng thì cá nhân đó sẽ khó có thể tiến lên bậc thang tiếp
theo.[1, tr.79]
Theo Maslow, sau khi các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn thì sẽ nảy
sinh đòi hỏi nhu cầu cấp cao hơn Quan điểm này khá cứng nhắc Để khắc
phục chúng, ông đã đưa ra quan điểm linh hoạt hơn như: hành vi của con
người thường không chỉ do một nhu cầu nào đó thúc đẩy mà là kết quả của
nhiều tác động Nó có thể là sự tác động tổng hợp của một số nhu cầu, cũng
có thể là kết quả tác động của tập quán, sự từng trải và năng lực của con người
Trang 21thường do hoàn cảnh bên ngoài dẫn đến Song, ông vẫn không nói rõ được những tác động tổng hợp của chúng đối với hành vi của con người.[28, tr.89]
Sau Cách mạng tháng Mười, nền tâm lý học ở Liên Xô đã có bước phát triển mạnh mẽ, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở phương pháp luận của tâm lý học Các nhà tâm lý học Liên xô khi nghiên cứu con người, đời sống tâm lý con người khẳng định: nhu cầu là yếu tố bên trong, quan trọng đầu tiên thúc đẩy hoạt động của con người Đó chính là điểm con người khác hẳn với con vật Mọi nhu cầu của con người (kể cả những nhu cầu sơ đẳng) đều có bản chất xã hội
D.N.Uznetze – người đầu tiên trong Tâm lý học Xô viết nghiên cứu về
nhu cầu ng khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi Tương ứng với mỗi kiểu hành vi là một nhu cầu ng cho rằng, không có gì đặc trưng cho một cơ thể sống hơn sự có mặt của nó ở nhu cầu Nhu cầu, đó là cội nguồn của tính tích cực và với ý nghĩa này thì khái niệm nhu cầu rất rộng… Nhu cầu
là một thuộc tính tâm lý đặc trưng giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi ng quan niệm rằng: nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra tính tích cực, nó xác định xu hướng, tính chất hành vi Và ông cũng cho rằng, dựa vào nhu cầu của con người để phân loại hành vi của con người
Nghiên cứu về nhu cầu, X.L.Rubinstein khẳng định, con người có nhu
cầu sinh vật, nhưng bản chất của con người là sản phẩm của xã hội vì thế phải xem xét đồng thời các vấn đề cơ bản của con người với nhân cách Nhu cầu mang tính tích cực, thúc đẩy con người hoạt động tìm kiếm cách thức, phương tiện, đối tượng thỏa mãn nó Sự hình thành nhu cầu cụ thể có sự tham gia của
ý thức và trải qua các giai đoạn:
Ý hướng là bước khởi đầu của nhu cầu Chủ thể mới xuất hiện trạng thái thiếu thốn của cơ thể, chưa có ý thức đầy đủ về đối tượng và khả năng thỏa mãn nó
Ý muốn là khi chủ thể đã ý thức rõ về đối tượng, mục đích hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu, nhưng chưa có, đang tìm kiếm phương thức, điều kiện thỏa mãn nhu cầu
Trang 22 Ý định, là giai đoạn chủ thể ý thức đầy đủ về ý thức, phương thức, phương tiện, điều kiện thỏa mãn nhu cầu và sẵn sàng hành động
A.N.Leonchiev – nhà tâm lý học Macxit, ông cho rằng: nhu cầu cũng có
nguồn gốc trong hoạt động thực tiễn và khi con người sinh ra đã có nhu cầu trong đó; ban đầu, nhu cầu xuất hiện chỉ như là một điều kiện, một tiền đề cho nhiều hoạt động Hoạt động càng đi xa bao nhiêu thì nhu cầu càng chuyển hóa thành kết quả của hoạt động bấy nhiêu Sự biến đổi nội dung đối tượng cụ thể của các nhu cầu kéo theo sự biến đổi các phương thức thỏa mãn chúng.[1 tr.131] Trong mối quan hệ giữa đối tượng thỏa mãn nhu cầu và nhu cầu, ông cho rằng: đối tượng tồn tại một cách khách quan và không xuất hiện khi chủ thể mới chỉ có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi Chỉ khi chủ thể thực sự hoạt động thì đối tượng thỏa mãn nhu cầu mới xuất hiện và lộ diện rõ ra Nhờ có sự lộ diện ấy mà nhu cầu mới có tính đối tượng của nó
ng phê phán việc tách nhu cầu ra khỏi hoạt động Vì như vậy, sẽ coi nhu cầu là điểm xuất phát của hoạt động Mối liên hệ giữa hoạt động với nhu cầu được ông mô tả bằng sơ đồ: Hoạt động – Nhu cầu – Hoạt động Theo A.N Leonchiev, cuộc sống là hệ thống các hoạt động thay thế nhau Mặt khác nếu nhìn nhận khởi thủy nhu cầu làm nảy sinh hoạt động thì sẽ không giải thích được nguồn gốc của nhu cầu Bởi vì nhu cầu của con người về cơ bản có nguồn gốc từ thế giới khách quan, nó nảy sinh thông qua hoạt động của mỗi người Tất nhiên đến lượt mình, nhu cầu lại phát huy tính tích cực trong hoạt động thỏa mãn nhu cầu Luận điểm này đáp ứng được quan niệm mác xít về nhu cầu, cho rằng nhu cầu con người cũng được sản xuất ra Đó là luận điểm
có ý nghĩa đối với tâm lý học
1.2.2.Khái niệm nhu cầu
Có nhiều quan niệm khác nhau về nhu cầu, tiêu biểu là các quan niệm
mà chúng ta đã xem xét trong phần “Một số lý thuyết về nghiên cứu về nhu cầu” Vậy, nhu cầu là gì?
Trang 23Trong từ điển Tâm lý học (Nguyễn Khắc Viện chủ biên): Nhu cầu trong
tiếng Anh là “need”, trong tiếng Pháp là “besoin” có thể được hiểu như sau:
Nhu cầu là điều cần thiết để đảm bảo tồn tại và phát triển của con người Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó khăn, căng thẳng, ấm ức Có nhu cầu của con người, có nhu cầu chung của tập thể, khi hòa hợp, khi mâu thuẫn; có nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có nhu cầu thứ yếu, giả tạo Nhu cầu do trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi.[33, tr.266] Cho nên, cần xác định
rõ những tiêu chuẩn sinh lý, xã hội, tâm lý để phân biệt những nhu cầu xác đáng và những ham muốn, đòi hỏi không quan trọng
Theo Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Minh Hạc trong cuốn Tâm lý học, cho rằng: Nhu cầu là đòi hỏi ở môi trường xung quanh những cái cần thiết (không thể thiếu) cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân
Theo tác giả Trần Hiệp trong cuốn Tâm lý học xã hội, cho rằng: Nhu cầu
là một trạng thái tâm lý xuất hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có điều kiện nhất định để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình Trạng thái tâm lý đó kích thích con người hoạt động nhằm đạt được những điều mình mong muốn
Theo Leonchiev (1903 – 1979) thì “Nhu cầu là một trạng thái của con người cần một cái gì đó cho cơ thể nói riêng và con người nói chung để sống và hoạt động Nhu cầu luôn có đối tượng Đối tượng của nhu cầu có thể là vật chất hoặc tinh thần chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu có vai trò định hướng đồng thời là động lực bên trong kích thích hoạt động của con người”
Tóm lại: Ở mỗi quan điểm khi nghiên cứu về nhu cầu có cách diễn đạt khác
nhau, nhưng tựu chung lại chúng ta có những ý chính sau:
Nhu cầu là trạng thái tâm lý của con người, thể hiện sự cần thiết thỏa mãn
về một đối tượng cụ thể cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của chủ thể
Sự thỏa mãn ấy là điều kiện để nhu cầu của chủ thể tồn tại và phát triển
Nhu cầu nếu được thỏa mãn thì chủ thể cảm thấy thoải mái dễ chịu, ngược lại, chủ thể sẽ cảm thấy bứt rứt khó chịu
Nhu cầu vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động
Trang 24 Thỏa mãn nhu cầu, thực chất là quá trình con người chiếm lĩnh một hình thức hoạt động nhất định trong xã hội
Nhu cầu thể hiện ở động cơ, cái thúc đẩy con người hoạt động và động
cơ trở thành hình thức thể hiện của nhu cầu
Như vậy, trên cơ sở tìm hiểu, phân tích các khái niệm khác nhau về nhu cầu và trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi sử dụng định nghĩa của Nguyễn
Quang ẩn “nhu cầu là trạng thái tâm lý của con người, biểu hiện mối quan
hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển với tư cách là một nhân cách”.[33]
1.2.2.1 Một số đặc điểm cơ bản của nhu cầu
- Tính đối tượng của nhu cầu: Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng cụ thể Đối tượng của nhu cầu có thể là nhu cầu vật chất hay nhu cầu tinh thần (chức năng) Khi đối tượng được phản ánh cụ thể, rõ ràng và có phương thức thỏa mãn thì nó trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động
- Tính nội dung của nhu cầu: Nhu cầu luôn có nội dung cụ thể Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quy định Phương thức thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào sự phát triển, phong tục tập quán, truyền thống của mỗi xã hội; phụ thuộc vào trạng thái tâm lý riêng, vào khả năng hoạt động của chủ thể
- Tính ổn định của nhu cầu: Trong xu thế vận động, nhu cầu có thể xuất hiện lặp lại (thông thường ở mức độ cao hơn) khi đòi hỏi sự gây ra nhu cầu tái thiết Ở cấp độ tâm lý, nhu cầu có tính ổn định
- Tính tích cực của nhu cầu: Nhu cầu bao giờ cũng mang tính tích cực Nó thúc đẩy cá nhân tiến hành hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Chính thông qua hoạt động mà tâm lý, ý thức, nhân cách của con người mới được nảy sinh, hình thành
- Tính thỏa mãn của nhu cầu: Nhu cầu là những đòi hỏi của con người cần được thỏa mãn Khi được thỏa mãn, nhu cầu sẽ thúc đẩy cá nhân hăng say
Trang 25hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu tiếp theo của mình Tính tích cực của con người càng được nâng cao hơn Nếu nhu cầu của con người không được thỏa mãn thì cá nhân sẽ xuất hiện tâm trạng bứt rứt, khó chịu
- Tính xã hội của nhu cầu: Nhu cầu của con người bao giờ cũng mang tính xã hội – lịch sử Tuy nhu cầu là những đòi hỏi, mong muốn của cá nhân nhưng
nó lại bị quy định bởi hoàn cảnh xã hội, thông qua các mối quan hệ xã hội, cũng như hoạt động giao tiếp xã hội mà con người tham gia Nền văn hóa cũng quy định tính xã hội của nhu cầu
- Tính chu kì của nhu cầu: Nhu cầu có tính chu kỳ Nhu cầu biến đổi theo chu
kỳ của hoạt động, thói quen của chủ thể; phương thức, điều kiện thỏa mãn nhu cầu của con người do trình độ phát triển của xã hội tạo ra
Khi nhu cầu được thỏa mãn thì nó không còn giữ vai trò là động lực để thúc đẩy hoạt động của chủ thể nữa nhưng nó lại làm nảy sinh nhu cầu khác
có cấp độ cao hơn và trở thành hoạt động động lực thúc đẩy hoạt động để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể Nhu vậy, nhu cầu phát triển không ngừng kéo theo
sự phát triển của chủ thể
1.2.2.2 Mối quan hệ giữa nhu cầu và nhận thức
Nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó Cái đó nó được cá nhân nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn về ý nghĩa của nó đối với sự tồn tại và phát triển của cá nhân Lúc đó, nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy
cá nhân hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu
Nhận thức có một vị trí đặc biệt đối với nhu cầu:
- Thứ nhất, nhận thức giúp nhu cầu chuyển thành động cơ thúc đẩy hành động
- Thứ hai, nhận thức giúp cá nhân tìm ra phương thức và cách thức thỏa mãn nhu cầu phù hợp với nền văn hóa xã hôi đương đại
- Thứ ba, nhận thức giúp cá nhân xác định được các công cụ, điều kiện thỏa mãn nhu cầu
-Thứ tư, nhận thức giúp cá nhân lựa chọn nhu cầu cơ bản, thường trực trong thời điểm hiện tại để thỏa mãn và kìm nén một số nhu cầu khác
Trang 26Ngược lại, nhu cầu có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động nhận thức của cá nhân Nhu cầu thôi thúc con người nhận thức, khám phá thế giới xung quanh, giúp hoạt động nhận thức của cá nhân có tính mục đích, có tính lựa chọn cao Và cũng chính trong quá trình nhận thức mà nhu cầu được nảy sinh, hình thành, phát triển
1.2.3 Khái niệm tâm lý học đường
1.2.3.1.Khái niệm tâm lý học đường
Tâm lý học đường hay tâm lý học trường học có tên tiếng Anh là
“school psychology”
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về tâm lý học đường
Có khái niệm cho rằng, “tâm lý học đường là một lĩnh vực của tâm lý học áp dụng nguyên tắc của tâm lý học lâm sàng và tâm lý học giáo dục để chẩn đoán và điều trị cho trẻ em và thanh thiếu niên có những vấn đề trong hành vi và học tập”.(Wikipedia, 2009)
Tuy nhiên, trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn khái niệm
Tâm lý học đường của Trần Thị Lệ Thu: “Tâm lý học đường (tâm lý học trường học) là một chuyên nghành thực hiện công việc đánh giá (phòng ngừa) nhằm phát hiện những học sinh có thể có khó khăn về nhận thức, cảm xúc, xã hội, hay hành vi; phát triển và thực hiện các chương trình can thiệp tâm lý học cho học sinh, cố vấn cho giáo viên, phụ huynh và các chuyên gia/cán bộ chuyên môn có liên quan; tư vấn cho học sinh; tham gia phát triển
và lượng giá chương trình; nghiên cứu; giảng dạy; hỗ trợ và giám sát cho những người đang học nghề” [36 tr.313]
1.2.3.2.Nội dung tư vấn tâm lý học đường cho học sinh trong trường học
Theo Ngô Thu Dung, nội dung hoạt động tư vấn học đường trong trường học cho học sinh, sinh viên như sau [35, tr100 – 106]:
1.Tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý, nhằm lắng nghe, khơi dậy nội lực, giúp học sinh, sinh viên tự phát triển thể chất tinh thần, tránh những sự phát triển lệch lạc không đáng có Việc trợ giúp, can thiệp vào những khó
Trang 27khăn học sinh gặp phải, phòng ngừa các rủi ro trong sự phát triển nhân cách của học sinh, sinh viên phải là trách nhiệm của cán bộ tư vấn học đường Có thể tham vấn trực tiếp qua cán bộ tham vấn học đường của trường học hoặc qua các
cơ sở tham vấn chuyên nghiệp, có thể tham vấn trực tiếp hoặc gián tiếp
2 Cung cấp một số kiến thức cũng như tổ chức các lớp rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên, giúp các em biết khám phá bản thân, biết
tự chủ, rèn luyện năng lực thích ứng Các hoạt động này hoặc được tổ chức chuyên biệt, hoặc được tích hợp trong nội dung các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động Đoàn, Đội
3 Tăng cường tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động vì cộng đồng, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao Thông qua các hoạt động này, các em có cơ hội hiểu biết thông cảm đồng thời huy động được năng lượng của học sinh, sinh viên vào các hoạt động có ích, khơi dậy trách nhiệm của các em với những người xung quanh, khơi dậy tính hướng thiện và sự đồng cảm với đồng loại, với những người thiệt thòi, với thế giới xung quanh
4 Nhiệm vụ và hoạt động sống cơ bản của học sinh, sinh viên là hoạt động học tập Tuy nhiên hoạt động này hiện cũng tạo khá nhiều áp lực cho học sinh, sinh viên Cần rèn luyện cho học sinh, sinh viên khả năng thích ứng học tập và rèn luyện bản lĩnh học tập Bên cạnh đó, việc giúp học sinh, sinh viên có được phương pháp học tập phù hợp, hiệu quả; kỹ năng quản lý thời gian và lập kế hoạch học tập rèn luyện cũng rất cần thiết
5 Mối quan hệ xã hội, quan hệ với con người như quan hệ với bạn bè, bạn khác giới, gia đình, thầy cô giáo, các tổ chức xã hội, …cũng sẽ gây ra
“khó khăn” cho học sinh, sinh viên mà nếu không biết giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng sẽ tạo ra những áp lực cho các em Năng lực giao tiếp, hợp tác, lắng nghe, biết trình bày, đều là những kỹ năng cần rèn luyện cho học sinh, sinh viên
Trang 286 Công tác hướng nghiệp, định hướng nghề (ở các trường phổ thông)
và thích ứng nghề (ở các trường chuyên nghiệp) Nhà trường cần tổ chức thường xuyên các hoạt động gắn kết giữa đào tạo với các cơ sở sử dụng nhân lực, giới thiệu về thị trường lao động, yêu cầu lao động nghề nghiệp… cho sinh viên, hỗ trợ các em trong việc rèn luyện thích ứng nghề, giải quyết công
ăn việc làm sau tốt nghiệp
7 Cần cung cấp kiến thức, kỹ năng bảo vệ sức khỏe, rèn luyện thể chất, sức khỏe sinh sản… cho học sinh, sinh viên Sự suy giảm thể lực, thể chất của học sinh, sinh viên là một tình trạng đáng báo động Những vấn đề này cần được tích hợp một cách có chủ định vào các môn học hoạt động như Giáo dục sức khỏe, lao động, thể dục, hoạt động… Bên cạnh đó, có thể tổ chức các hoạt động chuyên biệt theo chủ đề hàng tháng, hàng năm cho học sinh, sinh viên
8 Cần có những hoạt động bảo vệ, tạo điều kiện hòa nhập cho những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ khuyết tật, mồ côi, gia đình không hoàn chỉnh, trẻ chậm phát triển…
9 Không chỉ tư vấn cho học sinh, sinh viên, các nhà tư vấn học đường cần tư vấn các vấn đề phát triển của trẻ em với những lực lượng giáo dục, lực lượng xã hội liên quan trong vấn đề giáo dục, bảo vệ trẻ em như phụ huynh học sinh, thầy cô giáo, các lực lượng giáo dục xã hội…
Để triển khai tốt các nội dung tư vấn học đường, cần quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của người cán bộ tư vấn học đường như:
- Có chế độ trách nhiệm, hoạt động nghề nghiệp rõ ràng
- Được tham gia xây dựng kế hoạch sư phạm của nhà trường, của lớp học; được tham gia ý kiến trong việc giáo dục học sinh
- Được tiến hành độc lập các hoạt động tư vấn chuyên nghiệp, trợ giúp học sinh, sinh viên và phải chịu trách nhiệm pháp lý về các hoạt động của mình
- Được phép liên hệ với các tổ chức xã hội, tư pháp, giáo dục… để hỗ trợ học sinh, sinh viên, can thiệp, bảo vệ quyền lợi cũng như đảm bảo sự phát triển thuận lợi cho các em
Trang 29- Không chỉ hỗ trợ học sinh, sinh viên, nhà tư vấn học đường còn tham gia ý kiến, trợ giúp cho hoạt động chuyên môn của các nhà giáo, nhà quản lý, phụ huynh học sinh, các tổ chức xã hội trong việc giáo dục, đánh giá học sinh; lên tiếng cảnh báo các nguy cơ tác động tiêu cực đối với sự phát triển của thanh thiếu niên nhằm giảm thiểu hoặc phòng tránh những tác động tiêu cực này đến sự phát triển của học sinh, sinh viên
- Cần có những tổ chức chuyên nghiệp hỗ trợ nhà trường trong công tác tư vấn chuyên sâu như các tổ chức pháp lý, tổ chức xã hội, an sinh, các trung tâm hướng nghiệp, trị liệu tâm lý, ý tế…
1.2.4 Khái niệm “trợ giúp tâm lý học đường”
Trợ giúp tâm lý học đường là ứng dụng thực tế của tâm lý học học đường trong trường học Nó có vai trò trung tâm là trợ giúp tâm lý cho học sinh, ban giám hiệu, giáo viên và cha mẹ học sinh Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm “trợ giúp tâm lý học đường” của Nguyễn Thị Minh
Hằng: “Trợ giúp tâm lý học đường là một hệ thống ứng dụng các tri thức tâm
lý học vào thực tiễn nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi, tối đa giúp cho học sinh có thể tự quyết định hay giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống học đường của mình theo hướng tích cực để phát triển nhân cách toàn diện” 1.2.4.1 Nội dung của “trợ giúp tâm lý học đường”
Có nhiều cách hiểu khác nhau về hệ thống ứng dụng tri thức tâm lý vào hoạt động trợ giúp tâm lý cho học sinh Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi đưa ra quan điểm của Nguyễn Thị Minh Hằng về nội dung của hoạt động trợ giúp tâm lý học đường
Theo Nguyễn Thị Minh Hằng, hoạt động trợ giúp tâm lý học đường được hình thành trong khuôn khổ của mô hình chăm sóc, trợ giúp y học – tâm
lý – giáo dục – xã hội dành cho trẻ em nói chung và học sinh nói riêng với nhiệm vụ:
-Trợ giúp cho trẻ em có những khó khăn về y học, xã hội, tâm lý trong quá trình phát triển của mình
Trang 30-Ủng hộ các dự định, kế hoạch, các hoạt động, hứng thú của trẻ…để các em
có điều kiện thực hiện chúng
-Bảo đảm cho việc trẻ em được sống, vui chơi và học tập trong những điều kiện tốt, lành mạnh, có lợi cho sự phát triển về thể chất và tâm trí
Các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường diễn ra ngay trong khuôn khổ của môi trường, mỗi cơ sở đào tạo, được ban giám hiệu quan tâm, tạo điều kiện và cung cấp đầy đủ những trang thiết bị thiết yếu để có thể tiến hành các hoạt động trợ giúp tâm lý
Người thực hiện các hoạt động trợ giúp tâm lý cho học sinh được gọi là nhà tâm lý học đường Nhà tâm lý học đường là những người được đào tạo chính quy về tâm lý
Theo Nguyễn Thị Minh Hằng, nội dung các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường bao gồm 5 hoạt động cụ thể sau:
- Hoạt động chẩn đoán tâm lý học sinh: hoạt động này mang tính định hướng cho các nhà tâm lý học trong trường học Hoạt động này nhằm:
● Chẩn đoán để lập hoặc bổ sung dữ liệu cho hồ sơ tâm lý học đường của học sinh
● Chẩn đoán để xác định phương thức và hình thức giúp đỡ học sinh khi các
em gặp khó khăn trong học tập, trong giao tiếp và những khó khăn khác có liên quan
● Chẩn đoán nhằm lựa chọn phương tiện, công cụ và hình thức trợ giúp học sinh trong quá trình học tập một cách phù hợp nhất
- Hoạt động dự phòng và phát triển tâm lý: hoạt động này được tiến hành với tất cả học sinh trong trường học nhằm tạo ra những điều kiện tâm lý – xã hội thuận lợi để học sinh có thể phát triển tốt nhất về mọi mặt và nâng cao được chất lượng cuộc sống tinh thần của mình Hoạt động này bao gồm các hoạt động cụ thể sau:
● Giáo dục các kỹ năng sống cho học sinh
● Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu ở học sinh hoặc bồi dưỡng các nhân tài, thần đồng
Trang 31● Chẩn đoán sớm các rối nhiễu tâm lý có thể xuất hiện ở học sinh
● Hạn chế đến mức tối đa các rối nhiễu tâm lý học đường ở học sinh
- Hoạt động tư vấn, tham vấn tâm lý cho học sinh, giáo viên và phụ huynh: đặc thù của tham vấn, tư vấn tâm lý học đường thể hiện ở đối tượng được tham vấn, tư vấn gồm có học sinh, giáo viên và phụ huynh học sinh Đồng thời thể hiện ở nội dung tham vấn là các vấn đề liên quan đến học tập và các mối quan hệ trong trường học Trong các đối tượng trên thì đối tượng thường được tham vấn là các em học sinh Tuy nhiên, nhiều khi các em tìm đến với hoạt động trợ giúp tâm lý để được tham vấn không phải xuất phát từ nhu cầu của các em mà do yêu cầu của giáo viên hoặc phụ huynh
- Hoạt động trị liệu tâm lý: với hoạt động này, nhà tâm lý học đường trở thành nhà trị liệu cho học sinh, giúp học sinh vượt qua các rối nhiễu tâm lý Song, đây không phải là một nhiệm vụ ưu tiên của nhà tâm lý học đường Bởi vì, chỉ một mình nhà tâm lý học đường thôi thì không đủ thẩm quyền, chuyên môn
để tiến hành công việc này Hơn nữa, số lượng học sinh trong trường rất nhiều nên không thể tiến hành được hoạt động này Ở một số quốc gia khác, hoạt động này được xếp vào giới hạn chuyên môn của nhà tâm lý học đường
- Hoạt động điều phối: với hoạt động này, học sinh, phụ huynh, giáo viên sẽ nhận được sự giúp đỡ về xã hội – tâm lý của các cơ sở trợ giúp ngoài khuôn khổ trường học Hoạt động này chỉ diễn ra khi học sinh, giáo viên, phụ huynh cần sự trợ giúp đặc biệt vượt ra ngoài chức năng, thẩm quyền của nhà tâm lý học đường; khi bản thân nhà tâm lý học đường không đủ kiến thức, kinh nghiệm để trợ giúp học sinh; khi nhà tâm lý học đường gặp một vấn đề nào
đó mà sự giải quyết vấn đề ấy chỉ có thể thực hiện được khi ở ngoài không gian học đường, ngoài các mối quan hệ học đường
1.2.4.2 Những yêu cầu chuyên môn cần có của nhà tâm lý học đường
Tại Việt Nam, việc đào tạo chuyên môn thực hành để ra làm chuyên về
Tâm lý học đường còn rất hạn chế Theo Đinh Phương Duy trong “Định hướng cho công tác tư vấn học đường” [36 tr.490] thì chân dung nhà tâm lý
Trang 32học đường được xem xét với hai cấu trúc: những đặc điểm về giá trị và những đặc điểm về năng lực hoạt động, cụ thể như sau:
+ Nhà tư vấn có thái độ nhiệt tình với thân chủ
+ Nhà tư vấn phải tôn trọng thân chủ
+ Quan tâm đến thân chủ, tỏ lòng chân thành chia sẻ, giúp đỡ thân chủ
+ Nhà tư vấn phải xem sự giúp đỡ như là nhu cầu của mình
+ Nhà tư vấn phải có tư cách đạo đức nghề nghiệp
1.2.5 Khái niệm nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh
Dựa vào khái niệm “nhu cầu” và khái niệm “trợ giúp tâm lý học
đường” chúng tôi cho rằng: nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh là những mong muốn của các em học sinh được tiếp cận với các hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường, để được nâng đỡ về mặt tâm lý, giải tỏa cảm xúc, tư vấn, hỗ trợ các vấn đề liên quan đến học đường để đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển nhân cách toàn diện
1.2.6 Một số đặc điểm tâm – sinh lý cơ bản của học sinh trung học phổ thông
Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông bao gồm giai đoạn từ 14, 15 tuổi đến 17, 18 tuổi, tương ứng với lứa tuổi học sinh lớp 10 đến lớp 12 trường
Trang 33trung học phổ thông Đối chiếu với giai đoạn của tuổi thanh niên (từ 14, 15 tuổi đến 25 tuổi) thì giai đoạn này tương ứng với thời kỳ tuổi đầu thanh niên (lứa tuổi học sinh trung học phổ thông) hay tuổi thanh niên mới lớn, tuổi thanh niên học sinh
1.2.6.1 Đặc điểm phát triển về thể chất của học sinh trung học phổ thông
● Đặc điểm phát triển về thể chất
Tuổi đầu thanh niên là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực
và sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể của người lớn Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại Các em gái đạt được sự tăng trưởng của mình trung bình vào khoảng tuổi 16 và 17, các em trai khoảng 17, 18 tuổi Trọng lượng các em trai đã đuổi kịp các em gái và tiếp tục vượt lên Sức mạnh cơ bắp tăng rất nhanh, lực cơ của con trai 16 tuổi vượt lên gấp 2 lần so với lực cơ của các em lúc 12 tuổi
Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động phân tích tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập
Đa số các em đã vượt qua thời kì phát dục Nhìn chung đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối khoẻ đẹp, đa số các em đạt được những khả năng phát triển về cơ thể như người lớn
● Hoàn cảnh xã hội của sự phát triển
Hoạt động của thanh niên ngày càng phong phú và phức tạp, nên vai trò
xã hội và hứng thú xã hội của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng thanh niên mà còn biến đổi về chất lượng Ở thanh niên ngày càng xuất hiện nhiều vai trò của người lớn và họ thực hiện các vai trò đó ngày càng có tính độc lập và tinh thần trách nhiệm hơn
+ Thanh niên chiếm vị trí trung gian giữa trẻ em và người lớn Họ không phải là những trẻ em nữa mà là đang trở thành những người lớn
Trang 34+ Vai trò xã hội của thanh niên thay đổi một cách cơ bản vai trò độc lập
và mức độ trách nhiệm đối với gia đình ngày càng rõ rệt, họ là anh chị lớn trong gia đình tham gia lao động có ý thức với việc chọn nghề nghiệp tương lai Nhiều em đã làm ra của cải vật chất nhất định có vai trò khá quyết định đối với một số việc trong gia đình…
+ Quyền lợi xã hội của thanh niên được hiến pháp quy định: quyền bầu
cử, quyền công dân, có trách nhiệm thực sự trước xã hội như nghĩa vụ quân
sự, nghĩa vụ lao động Phải chịu trách nhiệm về tội hình sự trước những hành
vi của mình
Đây là giai đoạn lứa tuổi mà con người có những điều kiện thể chất thuận lợi để hoàn thiện vẻ đẹp hình thể của con người, tạo điều kiện cho hoạt động học tập, lao động, thể thao, nghệ thuật… phát triển mạnh mẽ
Vai trò trách nhiệm, quyền hạn xã hội thay đổi về chất, được xã hội thừa nhận một cách chính thức đã làm tăng cường các hoạt động xã hội, chi phối, quyết định sự phát triển của thanh niên về mọi mặt Theo Erikson đây là giai đoạn người thanh niên trẻ đang hình thành, tìm kiếm cái bản sắc riêng có đích xã hội của mình
1.2.6.2 Đặc điểm hoạt động của học sinh trung học phổ thông
- Tính chất, nội dung hoạt động học tập của học sinh trung học phổ thông khác nhiều so với những lứa tuổi trước đó Hoạt động học tập của học sinh trung học phổ thông đòi hỏi cao về tính năng động, tính độc lập, gắn liền với xu hướng học lên cao hay chọn nghề, vào đời Hoạt động học tập ở đây đòi hỏi sự phát triển khả năng nhận thức cao, đòi hỏi tư duy lý luận, sự suy đoán logic, cũng như khả năng trừu tượng, khái quát phát triển
- Tính phân hóa trong hoạt động học tập thể hiện rõ hơn, cao hơn học sinh tuổi thiếu niên do xu hướng chọn nghề chi phối
- Bên cạnh hoạt động học tập, ở những học sinh đầu tuổi thanh niên xuất hiện những nhu cầu, nguyện vọng, những đòi hỏi trực tiếp của một hoạt động mới Đó là những hoạt động liên quan đến việc chọn nghề Họ đang
Trang 35đứng trước một sự thúc bách đối với việc tìm cho mình một nghề cụ thể, một chuyên ngành nhất định cho tương lai gần sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông Đời sống tâm lý của học sinh trung học phổ thông bị chi phối không nhỏ bởi hoạt động này
- Ngoài ra những học sinh, thanh niên ở độ tuổi này còn tham gia những hoạt động xã hội nhất định tùy thuộc vào hứng thú, sở trường, điều kiện cụ thể của cá nhân (hoạt động đoàn thanh niên, thời trang, từ thiện…) Việc tham gia những hoạt động xã hội này có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển tâm lý, nhân cách của học sinh, giúp họ làm phong phú thêm đời sống nội tâm và thu lượm được nhiều kinh nghiệm xã hội
1.2.6.3 Những đặc điểm tâm lý cơ bản của học sinh trung học phổ thông
- Sự phát triển tự ý thức
Khả năng tự ý thức phát triển khá sớm ở con người và được hoàn thiện từng bước biểu hiện đặc trưng là thanh niên nhận thức những phẩm chất của mình trong xã hội, trong cộng đồng Đó là khả năng tự đánh giá mình theo những chuẩn mực xã hội trên bình diện thể chất tâm lý đạo đức
Thanh niên tự đánh giá về hình ảnh cơ thể của bản thân một cách tỉ mỉ, nghiêm khắc, thường họ không hài lòng về chiều cao (quá cao hoặc quá thấp) (vóc dáng thân thể quá gầy hoặc quá béo) những nỗi khổ đau này được dấu kín và “dày vò” không ít những cậu thanh niên, cô thiếu nữ dẫn đến “những bi kịch về tiêu chuẩn, hình thức” mà những người lớn xung quanh ít quan tâm
Ở thanh niên cũng xuất hiện sự đánh giá về những phẩm chất giới tính của mình Họ thường cố gắng phấn đấu để trở thành những người đàn ông đích thực hay những cô thiếu nữ dịu dàng theo tiêu chuẩn cái đẹp
- Sự tự đánh giá những phẩm chất cá nhân
Thanh niên khao khát muốn biết họ là người như thế nào? Có năng lực gì?
Để khẳng định và tự đánh giá mình, thanh niên có thể hành động theo 2 cách:
+ Tự nguyện nhận những nhiệm vụ khó khăn, cố gắng hoàn thành nó + Nhiều thanh niên thường làm là ngầm so sánh mình với người xung quanh, đối chiếu ý kiến của mình với những ý kiến của những người lớn
Trang 36Đôi khi thanh niên tự quan sát, tự xem xét bản thân mình Điều này thể hiện rõ trong việc ghi nhật kí của thanh niên Nội dung của nó cho thấy nhiều thanh niên rất nghiêm khắc, khắt khe với bản thân về một ý nghĩ hoặc về một hành vi sai trái nào đó Thế giới nội tâm của học sinh thường rất phong phú và phức tạp Ở đầu thanh niên sự tự ý thức tự đánh giá có những biến chuyển và chưa thực sự ổn định Cái tôi đang có, cái tôi đang biến động và cái tôi mơ ước, lý tưởng Điều quan trọng là xu hướng vươn lên của cái tôi đó được hướng dẫn, chỉ đạo bởi những điều kiện giáo dục, môi trường xã hội thế nào
sẽ quyết định phẩm chất của sự tự đánh giá, tự ý thức của thanh niên
Nếu nam, nữ thanh niên được giáo dục trong bầu không khí đạo đức lành mạnh, thì sự phát triển của họ cũng thường tích cực, tốt đẹp Mặt khác nếu bị lôi kéo vào những nhóm tự phát, không lành mạnh, thanh niên cũng dễ
bị hư hỏng vì tâm lý của họ rất ưa thích cái mới lạ
Thời kì mở cửa, giao lưu văn hoá mạnh mẽ tạo ra nhiều cơ hội để mở rộng tầm mắt nhưng mặt khác cũng gây “nhiễu” cho họ nếu không xác định
rõ những vấn đề thuộc thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn
Bởi vậy cần sự giáo dục từ nhà trường, gia đình nhằm hướng dẫn giúp
đỡ thanh niên trả lời đúng đắn những câu hỏi mà thanh niên thường xuyên nêu ra: Tôi là ai? Tôi là người như thế nào? Tôi có khả năng nào? Tôi muốn trở thành người như thế nào? Làm gì để tôi trở lên tốt đẹp hơn?
- Tính tự trọng
Tự trọng là khả năng tự đánh giá có tính khái quát, thể hiện sự chấp nhận hay không chấp nhận bản thân với tư cách là một nhân cách Ở lứa tuổi đầu thanh niên thường không chịu sự xúc phạm, dễ gây ra ẩu đả Một bên thể hiện tính tự trọng cao hơn, còn một bên lại hạ thấp xuống Dẫn đến sự không
ổn định trong nhân cách lứa tuổi này, gây ra những lo lắng, ảnh hưởng xấu tới
lối sống của bản thân mình
- Tính tích cực xã hội
Tính tích cực được hình thành và phát triển khá sớm trong quá trình trưởng thành của nhân cách Song đến tuổi trung học phổ thông do vị thế của
Trang 37người học sinh lớn (cuối phổ thông), vị thế trong gia đình, ngoài xã hội được tăng cường nên nó có những đặc điểm và sắc thái mới
+ Học sinh trung học phổ thông quan tâm nhiều đến tình hình kinh tế- chính trị, xã hội trên thế giới và trong nước, các em thường có sự đánh giá và trao đổi với nhau và tỏ thái độ của mình về vấn đề đó
+ Học sinh trung học phổ thông sẵn sàng tham gia những hoạt động xã hội phù hợp với hứng thú sở trường của mình như thi học sinh thanh lịch, văn nghệ, thể dục thể thao, tham gia các hoạt động từ thiện, bảo vệ môi trường…
+ Tâm lý chung trong công tác xã hội của thanh niên là họ thích tham gia những công việc lớn lao, muốn thử sức mình ở những công việc có nhiều khó khăn, thậm chí nguy hiểm mà không thích những công việc nhỏ đời thường Ở đây có mâu thuẫn giữa sự tự đánh giá của thanh niên và khả năng thực hiện của họ Tình hình này dẫn đến chỗ sau khi không thành công ở một vài việc nào đó, thanh niên thường dễ chán nản, bàng quan với công tác xã hội Từ đó có thể tự ti, thụ động, khép kín mình trong hoạt động
+ Ở nước ta sinh hoạt của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh hiện nay đang có nhiều vấn đề Nội dung hình thức sinh hoạt hiện nay vẫn chưa lôi cuốn được đa số thanh niên tham gia, đây là vấn đề mà xã hội cần quan tâm
- Sự hình thành thế giới quan
Thế giới quan là cái nhìn hệ thống, tổng hợp, khái quát về thế giới của con người Nó có ý nghĩa chỉ đạo đối với hoạt động, hành động, cách ứng xử của cá nhân trong những hoàn cảnh điều kiện cụ thể Thông qua hệ thống những tri thức kinh nghiệm đã tích luỹ để nhìn nhận thế giới quan, tuy nhiên những kinh nghiệm ấy của cá nhân có giới hạn nên có nhiều câu hỏi trong thực tế vượt qúa khả năng của họ Gặp trường hợp này các em thường hoang mang, lúng túng, thất vọng, thậm chí là tuyệt vọng
- Giao tiếp và đời sống tình cảm
+ Giao tiếp trong nhóm bạn
Nhu cầu được giao tiếp cùng bạn bè là rất lớn, trong nhóm bạn, bản thân học sinh được tự khẳng định mình, khẳng định vị trí của mình Trong
Trang 38nhóm xảy ra sự “phân cực” nhất định - Xuất hiện những người được lòng nhất
và những người ít được lòng nhất Những em có vị trí thấp (ít được lòng các bạn) thường băn khoăn và suy nghĩ nhiều về nhân cách của mình
Sự mở rộng phạm vi giao tiếp và sự phức tạp hoá hoạt động riêng của thanh niên học sinh khiến cho số lượng nhóm quy chiếu của các em tăng lên
rõ rệt Dẫn đến sự xung đột về vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn giữa các vai trò khác nhau ở các nhóm
+ Đời sống tình cảm
Ở lứa tuổi này nhu cầu về tình bạn tâm tình cá nhân được tăng lên rõ rệt Tình bạn của thanh niên mới lớn rất bền vững, có thể vượt qua mọi thử thách và thường lý tưởng hoá tình bạn, mang tính xúc cảm cao Nhu cầu tình bạn với bạn khác giới được tăng cường, xuất hiện những lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ
- Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề nghiệp
Hoạt động lao động tập thể có vai trò to lớn trong hình thành nhân cách của thanh niên mới lớn Hoạt động lao động sẽ giúp các em có nhu cầu nguyện vọng lao động
Điều quan trọng là việc lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc cần thiết của học sinh Lựa chọn nghề phải phù hợp với thể chất, tâm lý, khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp Điều này gây ra nỗi lo băn khoăn trong việc lựa chọn nghề (đặc biệt là các trường đại học) nếu như tâm thế vào đại học không được thực hiện sẽ gây ảnh hưởng đến các em
Tóm lại, lứa tuổi học sinh trung học phổ thông là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ, có nhiều thay đổi căn bản, song cũng là lứa tuổi có nhiều mâu thuẫn và khó khăn
1.2.7.Những khó khăn tâm lý mà học sinh trung học phổ thông thường gặp
Có nhiều cách phân loại các khó khăn tâm lý của học sinh Trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi lựa chọn đưa ra hai cách phân loại khó khăn tâm lý của học sinh thường được những nhà nghiên cứu nhắc đến nhiều
Trang 39nhất Cách phân loại khó khăn tâm lý này theo T.S.Nguyễn Thị Minh Hằng [11] thì có hai tiêu chí:
Một là: theo tính chất của khó khăn tâm lý, có 4 khó khăn tâm lý chính, đó là:
● Khó khăn liên quan đến học tập: không có động cơ học tập, hứng thú học tập; kết quả học tập kém…
● Khó khăn về tâm lý nói chung: rối nhiễu tâm lý về cảm xúc, trầm cảm, hành vi… như đánh bạn, cãi nhau, xâm phạm tài sản… Những khó khăn này dẫn đến rối nhiễu hành vi học đường như sau:
- Các dạng hành vi liên quan đến học tập: bỏ học, trốn giờ, không làm hoặc làm không đầy đủ bài tập trước khi đến lớp, không ghi chép bài, nói chuyện riêng trong giờ học, gây rối, chọc bạn, bày trò nghịch ngợm…
- Các hành vì xâm kích/vi phạm nội quy học đường như: nói tục, chửi bậy, xâm phạm tài sản chung của trường/lớp, đe dọa bạn, đe dọa giáo viên, cãi nhau với bạn, cãi lại thầy/cô giáo, đánh bạn, đánh thầy/cô giáo, ăn mặc lố lăng/hở hang không phù hợp với môi trường học đường, để kiểu tóc kì dị không phù hợp với lứa tuổi và môi trường học đường, mua/bán đồ dụng, vận dụng trong trường học, mang đến những vật dụng bị cấm (dao, kiếm…)
- Các hành vi phi xã hội (phạm pháp) như: ăn trộm, ăn cắp, ăn cướp, mua/bán/tàng trữ chất gây nghiện, mua/bán/tàng trữ các loại vũ khí, môi giới mãi dâm, hành nghề mại dâm, đua xe máy, làm mất trật tự trị an đường phố…
- Các hành vi rối nhiễu khác: bỏ nhà đi, nghiện rượu, nghiện game online, nghiện/chán ăn, sử dụng ma túy, quan hệ tình dục bừa bãi, toan tự tử, tự tử…
● Khó khăn trong các mối quan hệ: thầy cô, bạn bè, người khác…
● Khó khăn có nguyên nhân từ gia đình: không được bố/mẹ chăm sóc, có bất hòa trong gia đình, có mâu thuẫn/xung đột với bố/mẹ/anh,chị/ em , gia đình không hoàn chỉnh, ly tán, ly hôn
Hai là: dựa vào tiêu chí lứa tuổi/ bậc học
● Tuổi mẫu giáo bé: trẻ gặp khó khăn trong việc thích ứng với môi trường mới, khó khăn trong việc tách mẹ/người chăm sóc
Trang 40● Tuổi mẫu giáo lớn: trẻ gặp khó khăn khi chuẩn bị tâm thế sẵn sàng đi học, khó khăn trong việc hình thành các kỹ năng tiền học đường
● Tuổi tiểu học (nhi đồng): khó khăn nổi bật là khó khăn thích ứng với môi trường học đường mới, thường khó khăn của học sinh liên quan đến học tập như vụng đọc, vụng viết, tăng động giảm chú ý…
● Tuổi trung học cơ sở (thiếu niên): khó khăn nổi bật là các vấn đề về hành vi
do nhân cách hình thành mạnh Xuất hiện mâu thuẫn giữa mong muốn của bản thân và khả năng hiện có, mâu thuẫn giữa xu hướng muốn độc lập và sự kiểm soát của cha mẹ, thầy/cô giáo, người lớn…
● Tuổi trung học phổ thông (đầu thanh niên): khó khăn nổi trội là khó khăn định hướng nghề nghiệp trong tương lai
Dựa trên những tiêu chí phân loại khó khăn tâm lý ở trên, chúng tôi cũng
đưa ra bốn nhóm khó khăn tâm lý mà học sinh trung học phổ thông thường gặp, đó là:
Khó khăn từ chính bản thân: khó khăn trong giao tiếp, mặc cảm tự ti về bản thân, đánh giá thấp bản thân, luôn cảm thấy buồn rầu hay giận dỗi, cãi nhau vô cớ…
Khó khăn tâm lý trong học tập như: khó tập trung nghe giảng, khó tiếp thu bài, khó khăn trong việc ghi nhớ, khó khăn trong vận dụng kiến thức đã học…
Khó khăn tâm lý trong các mối quan hệ, gồm: khó khăn trong mối quan
hệ giữa cá nhân với bạn bè, với cha mẹ, với thầy/cô giáo; khó khăn trong mối quan hệ với hàng xóm/láng giềng…
Khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai
Đây cũng là 4 nhóm khó khăn tâm lý chính mà chúng tôi sẽ tiến hành điều tra thực tiễn
1.2.8 Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THPT
Trong cuộc sống mỗi con người đều có rất nhiều nhu cầu khác nhau, từ nhu cầu cơ bản nhất (ăn, mặc, ở…) đến những nhu cầu cao hơn (được tôn trọng,