Nghiên cứu QL HĐDH là đòi hỏi cần thiết nhằm giúp phòng Đào tạo thực hiện tốt nhiệm vụ dược giao, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các sơ đồ iv
Mục lục v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CỦA PHÒNG ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 5 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1.Trên thế giới 5
1.1.2.Tại Việt Nam 6
1.2 Những khái niệm liên quan đến Quản lý, Quản lý giáo dục và Quản lý nhà trường 7
1.2.1 Quản lý, chức năng của quản lý 7
1.2.2 Quản lý giáo dục 9
1.2.3 Quản lý nhà trường, Quản lý trường Đại học 10
1.3 Hoạt động dạy học 12
1.3.1 Hoạt động dạy học 12
1.3.2 Hoạt động dạy học ở Đại học 13
1.3.3 Quản lý HĐDH ở đại học 19
1.4 Quản lý HĐDH của phòng Đào tạo trong trường đại học 20
1.4.1 Chức năng nhiệm vụ của phòng đào tạo trường đại học 20
1.4.2 Nội dung QL của phòng Đào tạo đối với HĐDH 22
1.4.3 Các biện pháp QL của phòng Đào tạo đối với HĐDH trong trường đại học 22
1.5 Những yếu tố chính ảnh hưởng đến công tác QL của Phòng Đào tạo đối với HĐDH ở trường đại học 30
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 30
Trang 21.5.2 Các yếu tố khách quan 31
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA PHÒNG ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC 33 2.1 Vài nét chung về trường Đại học Điện lực 33
2.1.1 Nhiệm vụ của trường 34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và nhân sự của trường 34
2.1.3 Công tác đào tạo 36
2.2 Chức năng, nhiệm vụ và nhân sự phòng Đào tạo trường Đại học Điện lực 40
2.3 Thực trạng QL của phòng Đào tạo đối với HĐDH tại trường Đại học Điện lực 40
2.3.1 Thực trạng lập kế hoạch trong QL HĐDH 41
2.3.2 Thực trạng QL việc thực hiện kế hoạch đào tạo, thời khóa biểu, khối lượng giảng dạy 45
2.3.3 Thực trạng QL việc đổi mới PPDH 47
2.3.4 Thực trạng QL việc đánh giá kết quả giảng dạy và học tập 49
2.3.5 Thực trạng QL việc phối hợp QL CSVC, trang thiết bị đồ dùng dạy học 52
2.5 Đánh giá tổng hợp về kết quả điều tra thực trạng công tác QL của phòng Đào tạo đối với HĐDH trường Đại học điện lực 55
2.5.1 Những thành tựu điểm mạnh-nguyên nhân thành công 55
2.5.2 Những hạn chế điểm yếu – nguyên nhân của hạn chế 5 56 Tiểu kết chương 2 58
Chương 3 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA PHÒNG ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC 59 3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp QL của phòng Đào tạo đối với HĐDH tại trường Đại học Điện lực 59
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 59
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 59
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 60
Trang 33.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 60
3.2 Đề xuất các biện pháp QL của phòng Đào tạo đối với HĐDH tại trường Đại học Điện Lực 61 3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao năng lực QL cho CB QL phòng Đào tạo để đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ 61
3.2.2 Biện pháp 2: QL việc lập, thực hiện kế hoạch đào tạo, thời khóa biểu, khối lượng giảng dạy 64
3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học 66 3.2.4 Biện pháp 4: Phối hợp QL việc sử dụng có hiệu quả CSVC và trang thiết bị dạy học 68
3.2.5 Biện pháp 5: Đổi mới hoạt động kiểm tra đánh giá 70
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICTs) trong QL HĐDH 72
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 75
3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 76
3.4.1 Mục đích 76
3.4.2 Phương pháp thực hiện 77
3.4.3 Tiến hành thăm dò ý kiến 77
3.4.5 Tổng hợp, nhận xét chung 84
Tiểu kết chương 3 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
1 Kết luận 88
2 Khuyến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 94
Trang 4DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Quy mô tuyển sinh của nhà trường giai đoạn 2008 - 2011 37 Bảng 2.2 Quy mô đào tạo của Trường Đại học Điện lực 38 Bảng 2.3 Thực trạng lập kế hoạch trong QL HĐDH 42 Bảng 2.4 Đánh giá của Phòng đào tạo về các phương pháp lập kế
hoạch QL HĐDH 45 Bảng 2.5 Thực trạng QL việc thực hiện kế hoạch Đào tạo, thời khóa
biểu, khối lượng giảng dạy 46 Bảng 2.6 Thực trạng QL việc đổi mới PPDH 48 Bảng 2.7 Thực trạng QL hoạt động giảng dạy và học tập 50 Bảng 2.8 Thực trạng QL việc phối hợp QL CSVC, trang thiết bị đồ
dùng dạy học 53 Bảng 3.1.Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp QL
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp QL
Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1 Quan hệ giữa các chức năng của QL 8
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức Trường Đại học Điện lực 36 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa tính cần thiết và tính
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục ở bất kỳ thời đại và quốc gia nào cũng có vị trí quan trọng trong sự phát triển của xã hội Trong những năm gần đây, xu thế xã hội phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt đã đặt cho GD nói chung và GD Đại học nói riêng đòi hỏi phải đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, có thể thích nghi tốt với thị trường lao động thời hội nhập QL quá trình HĐDH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là một vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học, nhà QLGD, Đảng và nhà nước quan tâm và là đòi hỏi cấp thiết hiện nay Tính cấp bách không chỉ được toàn ngành GD&ĐT quan tâm mà còn được thể hiện trong đường lối lãnh đạo công tác GD&ĐT của Đảng và luật pháp của nhà nước
Được sự chỉ đạo của các cấp QL nhà nước, quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đã được triển khai trong các trường cao đẳng, đại học nhưng chưa thực sự đạt kết quả như xã hội mong muốn Thực trạng dạy học chay,
lý thuyết suông còn phổ biến, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học lạc hậu, chương trình, giáo trình chưa cập nhật, CSVC chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội
Trong thời đại ngày nay, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tiến trình hội nhập kinh tế thế giới thì tri thức con người là một trong những yếu tố cơ bản nhất để phát triển đất nước Chất lượng đào tạo là điều kiện tồn tại và phát triển đối với các cơ sở đào tạo hiện nay, góp phần nâng cao nguồn nhân lực cho xã hội để phục vụ mục tiêu chung của đất nước, của xã hội
Nhu cầu phát triển nguồn lực của ngành Điện không nằm ngoài những đòi hỏi trên của xã hội mà còn cần phát triển những nhà QL giỏi, những cán
bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao và những công nhân kỹ thuật lành nghề
để đáp ứng được sự phát triển của xã hội
Trang 8Cũng như ở các trường Đại học khác, phòng Đào tạo trường Đại học Điện lực là
một phòng chức năng có nhiệm vụ tham mưu và giúp hiệu trưởng trong việc quản
lý hoạt động đào tạo, trong đó có nhiệm vụ quản lý hoạt động dạy học
Nghiên cứu QL HĐDH là đòi hỏi cần thiết nhằm giúp phòng Đào tạo thực hiện tốt nhiệm vụ dược giao, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành điện trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ở thời kỳ hội nhập hiện nay
Chính vì vậy, là chuyên viên phòng đào tạo tôi chọn đề tài nghiên cứu
“Biện pháp quản lý của phòng đào tạo đối với hoạt động dạy học tại trường đại học điện lực” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ngành Quản lý giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận khoa học về quản lý giáo dục và phân tích thực trạng quản lý của phòng đào tạo đối với hoạt động dạy học tại trường Đại học Điện lực, đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học tại trường Đại học Điện lực
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học ở trường Đại học Điện lực
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý của phòng Đào tạo đối với HĐDH tại trường Đại học Điện lực
4 Giới hạn nghiên cứu
4.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy học trong nhà trường Đại học bao gồm hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên Do thời gian thực hiện luận văn có giới hạn, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, chúng tôi tập trung nghiên cứu công tác quản lý của phòng Đào tạo về hoạt động dạy của giảng viên trường Đại học Điện lực
4.2 Giới hạn khách thể điều tra
Trang 9Trưởng các phòng ban, Khoa, Tổ trưởng chuyên môn và một số cán bộ giảng viên của trường
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, các biện pháp QL của phòng Đào tạo đối với HĐDH trường Đại học Điện lực đã đạt được kết quả nhất định Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới công tác QL dạy học Nếu đề xuất các biện pháp QL dạy học hợp lý, đồng bộ, có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn của nhà trường , sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng yêu cầu đổi mới GD hiện nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Xây dựng cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu
6.2 Khảo sát thực trạng quản lý của phòng Đào tạo đối với hoạt động dạy học tại trường Đại học Điện lực
6.3 Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý của phòng Đào tạo đối với hoạt động dạy học tại trường Đại học Điện lực
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu, đọc phân tích, khái quát hoá, so sánh tổng hợp các thông tin, tư liệu để xác định cơ sở lý luận và những vấn đề chung có liên quan đén đề tài :
Các văn kiện, tài liệu lý luận của Đảng, Nhà nước về công tác quản lý giáo dục Các văn bản pháp quy như : Chỉ thị, thông tư, quy chế, hướng dẫncủa Bộ giáo dục
và đào tạo về công tác quản lý hoạt động dạy học
Các cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tế của các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà quản lý giáo dục đề cập tới những vấn đề chung của quản lý hoạt động dạy học trong nước, từ đó rút ra các vấn đề có liên quan đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học cho phòng Đào tạo trường Đại học Điện lực
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 10- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát việc chỉ đạo, điều hành hoạt động dạy học của phòng Đào tạo, việc thực hiện hoạt động dạy của giảng viên, sự quan tâm của cấp lãnh đạo tới việc quản lý hoạt động dạy học trong trường
- Phương pháp phỏng vấn: Hỏi trực tiếp CBQL, cán bộ phòng Đào tạo, giảng viên
về tình hình dạy học và việc thực hiện công tác QL hoạt động dạy học
- Phương pháp điều tra: Xây dựng các mẫu phiếu điều tra nhằm thu thập thông tin
về vấn đề nghiên cứu, điều tra xã hội học đối với lãnh đạo, CBQL và một số giảng viên trong trường
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tiếp xúc với một số chuyên gia, CBQL giáo dục, nhà nghiên cứu khoa học giáo dục và giảng viên giỏi để tìm ra những kết luận thỏa đáng trong việc đánh giá thực trạng và xin ý kiến đóng góp chỉnh sửa về việc đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học cho phòng Đào tạo trường Đại học Điện lực
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Phân tích các văn bản hướng dẫn hoạt động dạy học, tổng hợp các tư liệu, tài liệu minh chứng, những thuận lợi, khó khăn về quản lý hoạt động dạy học của phòng Đào tạo, qua đó rút ra những kết luận làm
cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp nhằm cải tiến công tác quản lý này
7.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu bổ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục, đánh giá số liệu thu được
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung cơ bản của luận văn được thể hiện trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý của phòng Đào tạo đối với hoạt động dạy học trong các trường đại học
Chương 2: Thực trạng quản lý của phòng Đào tạo đối với hoạt động dạy học tại trường Đại học Điện lực
Chương 3: Một số biện pháp quản lý của phòng Đào tạo đối với hoạt động dạy học tại trường Đại học Điện lực
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CỦA PHÒNG ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
đề cao việc tự học, tự tu dưỡng, phát huy tính tích cực sáng tạo, phát huy năng lực nội sinh, dạy học phải sát đối tượng, cá biệt hóa đối tượng, kết hợp học với hành, lý thuyết gắn với thực tế, phát triển động cơ hứng thú, ý chí của người học Đến nay phương pháp giáo dục của Khổng Tử vẫn là bài học lớn cho thế hệ chúng ta học tập
Ở phương Tây, nhà sư phạm J.A Cômanxiki (1592 - 1670) khi đặt nghiên cứu đề xuất hệ thống các nhà trường cũng đề cập đến vấn đề QL HĐDH Ông đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên Theo ông, quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp thu tri thức phải dựa vào sự vật, hiện tượng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng
uy quyền bắt buộc, gò ép, người ta chấp nhận bất kỳ điều gì Ông cũng đã đưa
ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị lớn như: nguyên tắc trực quan, nguyên tắc phát huy tính tích cực tự giác của học sinh, nguyên tắc hệ thống và liên tục, nguyên tắc củng cố kiến thức, nguyên tắc dạy học theo khả năng tiếp thu của học sinh, dạy học phải thiết thực, dạy học theo nguyên tắc cá biệt
Tiếp thu và phát triển tư tưởng của các bậc tiền nhân, các nhà nghiên cứu giáo dục đời sau đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu về HĐDH, QL HĐDH và ngày nay, cùng với sự phát triển của những nhà khoa học khác,
Trang 13QLGD đã trở thành một ngành khoa học ngày càng phát triển trong đó có nội dung QL HĐDH
1.1.2.Tại Việt Nam
Việt Nam là một dân tộc có truyền thống hiếu học HĐDH xuất hiện từ rất sớm, đến thời nhà Trần, thầy giáo Chu Văn An (1292 - 1370) đã không màng tới việc làm quan, ông làm thầy giáo một đời để làm thầy giáo của muôn đời
Thời nhà Lê, nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi (1380 - 1442) đã đưa ra thuyết trị nước: lấy dân làm gốc Ông đã khuyên nhà vua phải chăm dân thì mới giành được nước và xây dựng được đất nước Theo ông, QL đất nước là phải “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”
Như vậy, từ xa xưa ông cha ta đã biết làm thế nào để QL đất nước tốt nhất, QL việc dạy học tốt nhất
Sau cách mạng tháng Tám nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu khoa học QL giáo dục như công trình nghiên cứu “Cơ sở khoa học QLGD” của tác giả Nguyên Minh Đại, “Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận những mô hình” của tác giả Đặng Quốc Bảo; các nhà nghiên cứu như Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Kiểm, Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Gia Quí, Trần Kiều, Phạm Viết Vượng trong các công trình nghiên cứu của mình đã bàn về QL HĐDH hoặc những vấn đề liên quan đến QL HĐDH
Gần đây nhiều luận văn thạc sỹ khoa học GD, chuyên ngành QLGD đã nghiên cứu về QL HĐDH trong các cơ sở đào tạo ở nhiều nơi, nhiều bậc học dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể kể ra một số đề tài như:
- “Biện pháp QL HĐDH của hiệu trưởng trường trung học phổ thông An Hải - Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Bùi Thanh Bình năm 2008 [15]
- “Quản lý HĐDH của phòng Giáo dục và Đào tạo đối với các trường trung học cơ sở huyện Ý Yên tỉnh Nam Định” của tác giả Bùi Anh Đào năm 2011 [21]
Trang 14- “Biện pháp cải tiến QL HĐDH ở học viện kỹ thuật mật mã” của tác giả Đặng Thị Xuân Lương, năm 2008 [33]
- “Biện pháp QL HĐDH của phòng Đào tạo trường Đại học Tây Nguyên” của tác giả Lê Minh Hiền, năm 2008 [29]
- “Một số biện pháp QL HĐDH của phòng đào tạo trường Cao đẳng kinh
tế kỹ thuật Vĩnh Phúc” của tác giả Nguyễn Văn Hiền, năm 2011 [28]
1.2 Những khái niệm liên quan đến Quản lý, Quản lý giáo dục và Quản lý nhà trường
1.2.1 Quản lý, chức năng của quản lý
Trong toàn tập Các Mác - Ănghen toàn tập chỉ rõ “QL xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể QL đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”[29] Ngày nay, có rất nhiều cách hiểu và giải thích thuật ngữ QL Kinh tế học, hành chính học, luật học, điều khiển học, xã hội học v.v… đều sử dụng thuật ngữ QL với nội dung phù hợp với đối tượng nghiên cứu của mình
F.V Taylor (1856- 1915) người Mỹ cho rằng : QL là một nghệ thuật, biết rõ chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ “QL là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, QL có hệ thống là quá trình tác động hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [26]
Theo tác giả Trần Kiểm “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [31]
Trang 15Tác giả Hồ Văn Vĩnh và Trần Quốc Thành có cùng quan niệm : QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt tới mục tiêu, đúng với ý chí nhà QL, phù hợp với quy luật khách quan
Như vậy có thể nói QL là phương thức tốt nhất đề đạt mục tiêu chung của một nhóm người, một tổ chức, nói rộng hơn là một quốc gia hay toàn thế giới Khi đề cập vai trò của QL, Các Mác đã viết: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển bản thân, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [29] Hoạt động QL bắt nguồn
từ sự phân công hợp tác lao động QL – đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn, sửa sang và sắp xếp để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động được ổn định và phát triển
QL là một loại lao động đặc biệt, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật QL được xem là một nghề nhằm dẫn dắt trong một hoàn cảnh nhất định, một nhóm người để đạt được các mục tiêu phù hợp với mục đích của tổ chức QL được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy Có tổ chức thì mới phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung Đó là cơ sở hình thành các chức năng QL Từng chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất quán
Theo các nhà nghiên cứu giáo dục, QL bao gồm 4 chức năng cơ bản liên quan mật thiết với nhau Đó là kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, và thông tin QL Có thể mô hình hoá mối quan hệ giữa các chức năng QL như sau:
Sơ đồ 1.1 Quan hệ giữa các chức năng của QL
Kế hoạch hoá Tổ chức hoá Chỉ đạo thực hiện
Thông tin phục vụ QL
Kiểm tra
Trang 161.2.2 Quản lý giáo dục
Cũng như khái niệm QL, QLGD được hiểu theo nhiều góc độ, nhiều quan niệm khác nhau Trong cuốn cơ sở lý luận của khoa học QLGD, tác giả M.L Konđacốp đã định nghĩa “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục” [30]
Tác giả Nguyễn Quốc Chí cho rằng “QLGD thực hiện chức năng ổn định, duy trì đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền kinh tế - xã hội QLGD nhằm phối hợp với các ngành, các lực lượng xã hội tiến hành công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo QLGD thực hiện nhiệm vụ này thông qua việc thực hiện 4 chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [18]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “QLGD thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà trường nhằm tổ chức tối ưu các quá trình dạy học, giáo dục thể chất, theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” [32]
Sự thực thuật ngữ QLGD được xem xét dưới 2 cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô
và cấp vi mô QLGD cấp vĩ mô là QL một nền/hệ thống giáo dục Ở cấp độ này, QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch,
có hệ thống và hợp quy luật.…) của chủ thể QLGD đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả việc tổ chức, huy động, điều phối, giám sát và điều chỉnh các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin) để hệ thống giáo dục vận hành đạt mục tiêu phát triển giáo dục
QLGD cấp vi mô xem như QL trường học/tổ chức giáo dục cơ sở Ở cấp độ này QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích,
có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật.…) của chủ thể QLGD một cơ sở giáo dục đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể người học và các lực lượng tham gia
Trang 17giáo dục khác trong và ngoài cơ sở giáo dục đó, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo dục
Như vậy, QLGD thực chất là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của những người làm công tác QLGD nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong đó QL công tác đào tạo mà hạt nhân là QL HĐ DH, GD & ĐT thế hệ trẻ, nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu về số lượng - chất lượng con người cho sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và sự phát triển của đất nước
QLGD có đặc điểm là bao giờ cũng chia thành chủ thể QL và đối tượng bị
QL (gọi tắt là đối tượng QL) QLGD trước hết và thực chất là QL con người Do đặc thù riêng của ngành QL, QL con người có nghĩa là đào tạo, bồi dưỡng, chăm sóc việc hình thành, thực hiện nhân cách và tái sản xuất nguồn lực con người Đối tượng QL ở đây là những ai nhận được sự GD & ĐT QL việc GD & ĐT con người là loại hình QL khó khăn, phức tạp, đòi hòi tính khoa học và tính nghệ thuật cao Ngày nay, QLGD đã phát triển thành một ngành khoa học có hệ thống lí luận riêng của nó
1.2.3 Quản lý nhà trường, Quản lý trường Đại học
1.2.3.1 Quản lý nhà trường
Nhà trường là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội Đó là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ và được coi là “tế bào của hệ thống giáo dục quốc dân” Nhà trường là một khách thể cơ bản của tất cả các cấp QLGD và là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội Các cấp QLGD tồn tại trước hết cốt lõi là vì chất lượng hiệu quả hoạt động của nhà trường mà TT là HĐDH Nhà trường là nơi thực hiện mọi chủ trương, đường lối, chính sách giáo dục của Đảng, Nhà nước các cấp, đồng thời cũng là nơi kiểm chứng những vấn đề lý luận Khoa học giáo dục nói
Trang 18chung, Khoa học QLGD nói riêng Đó là TT giáo dục, văn hóa, khoa học kỹ thuật của cộng đồng và xã hội Vì thế, người ta coi Nhà trường là vầng trán của cộng đồng và xã hội, là bộ mặt phản ánh nền giáo dục của một đất nước
Xét về bản chất, Nhà trường là tổ chức mang tính Nhà nước - xã hội - sư phạm, thể hiện bản chất giai cấp, bản chất xã hội, bản chất sư phạm Cho nên, một cách khác, có thể hiểu:
QL Nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hòi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể QL lên tất
cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế
và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên Hoặc:
QL nhà trường là tổ chức HĐDH…Có tổ chức được HĐDH, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới QL được giáo dục, tức là
cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước Mặt khác, QL nhà trường về bản chất là
QL con người Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không chỉ bởi cơ chế hoạt động theo những quy luật/tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội - nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động QL của chính bản thân người dạy và người học Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát : QL nhà trường (một cơ sở giáo dục) là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tập thể GV, nhân viên, người học… và các lực lượng xã hội trong, ngoài nhà trường nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục
1.2.3.2 Quản lý trường Đại học
Tại điều 3 điều lệ trường Đại học quy định QL nhà nước đối với trường đại học: Trường đại học chịu sự QL nhà nước về giáo dục của Bộ GD & ĐT; chịu sự
QL hành chính theo lãnh thổ của Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Trường đặt trụ sở
Trang 19Mục tiêu đào tạo của trường đại học là đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việc QL trường đại học cũng như QL các trường, các cơ sở giáo dục trong
hệ thống giáo dục quốc dân, về tổng thể là:
- QL việc tham gia thiết lập và thực hiện các chế định GD & ĐT (nội quy, quy định …trong nhà trường);
- QL đội ngũ CB QL, nhà giáo, nhân viên và người học (bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học);
- QL hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng nguồn tài lực, vật lực cho giáo dục;
- QL hoạt động truyền thụ tri thức, kỹ năng và kỹ xảo đến người học một cách có khoa họcxây dựng và phát huy tác dụng của môi trường giáo dục (còn gọi là QL các mối quan hệ nhà trường);
- QL hệ thống thông tin giáo dục (QL hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong các hoạt động giáo dục và QL giáo dục)
1.3 Hoạt động dạy học
1.3.1 Hoạt động dạy học
Tri thức nhân loại luôn luôn phát triển và mỗi ngày một hoàn thiện hơn Khái niệm dạy học cũng dần dần được mở rộng về nội hàm để thích ứng với những yêu cầu về tiêu chuẩn nhân cách người học do mỗi hình thái xã hội quy định và để phù hợp với sự phát triển của các phương thức dạy học Trên cơ sở lý luận triết học Mác Lê nin về hoạt động nhận thức của con người, nhiều nhà khoa học đã tiếp cận khái niệm dạy học từ cơ sở lý luận của quá trình giáo dục tổng thể Dạy học – một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn – là quá trình tác động qua lại giữa GV và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên
cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các
Trang 20phẩm chất của nhân cách người học Như vậy, dạy học là khái niệm chỉ quá trình hoạt động chung của người dạy và người học Quá trình này là một bộ phận hữu
cơ của quá trình giáo dục tổng thể, trong đó:
- Hai hoạt động dạy và học tồn tại song song và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất, chúng bổ sung cho nhau, chế ước nhau và là đối tượng tác động chủ yếu của nhau, nhằm kích thích động lực bên trong của mỗi chủ thể để cùng
Như vậy, HĐDH bao gồm hoạt động giảng dạy của người thầy và của hoạt động học tập của người học
HĐDH có mục đích Mục đích của HĐDH là biến mục tiêu GD thành hiện thực Trong hệ thống GD quốc dân có nhiều cấp bậc và trình độ đào tạo khác nhau, mỗi cấp học lại có mục tiêu riêng, do đó nội dung, phương pháp HĐDH ở các cấp học khác nhau cũng khác nhau
Trong phạm vi và giới hạn nghiên cứu của đề tài, dưới đây chỉ nghiên cứu HĐDH ở cấp đại học
1.3.2 Hoạt động dạy học ở Đại học
Trước khi nghiên cứu HĐDH ở đại học cần tìm hiểu đôi nét về GD đại học để thấy rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp, đặc điểm của GD đại học
*Giáo dục đại học
GD đại học nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Hệ thống GDQD được quy định tại điều 4 của Luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã được sửa đổi bổ sung năm 2009) Dưới đây trích dẫn điều 4 của Luật giáo dục [9]
Trang 21“ Điều 4: Hệ thống giáo dục quốc dân
1 Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên
2 Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân gồm:
a Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;
b Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
c Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề
d Giáo dục đại học và sau đại học (gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ”
Nằm trong hệ thống GD quốc dân, GD đại học được xếp ở cấp cao nhất, được thực hiện sau GD phổ thông Đặc điểm của GD đại học là mang đậm tính dân tộc, đồng thời cũng mang đậm tính quốc tế GD Đại học là đỉnh cao của tri thức quốc gia; là cửa ngõ để văn hóa khoa học của quốc gia đến với thế giới và từ thế giới đến với quốc gia (không ngẫu nhiên các nguyên thủ quốc gia khi đến thăm các nước thường đến thăm và thuyết trình ở các trường đại học)
Trong thời đại ngày nay, GD đại học ngày càng có tính phổ quát, vai trò, vị trí của trường đại học ngày càng được đề cao trong xã hội GD Đại học
đã mang tính đại trà, không còn giới hạn ở GD tinh hoa như đại học truyền thống GD đại học là sự nghiệp chung không chỉ được hiểu với nghĩa là tất cả mọi người tích cực đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực cho sự nghiệp phát triển
GD đại học mà còn được hiểu là tất cả mọi người đều được tạo cơ hội tiếp cận với học vấn đại học Chúng ta đang từng bước xây dựng nền kinh tế tri thức tuân theo sự điều tiết của kinh tế thị trường GD đại học là loại hình sản xuất đặc biệt, nó sản xuất ra tri thức mới và nguồn nhân lực hàm chứa tri thức cao,
nó cho ra đời một lại hình sản xuất đặc biệt, phẩm chất của sản phẩm không
cố định sau đào tạo mà tiếp tục phát triển tùy thuộc môi trường hoạt động và động cơ phát triển của sản phẩm, GD đại học là ngành sản xuất phi lợi nhuận Lợi nhuận của GD đại học được phân phối tương đối công bằng cho ba đối
Trang 22tượng: nhà đầu tư (nhà nước và nhân dân), nhà sản xuất (nhà trường trong đó
có GV và SV) và người tiêu dùng (cơ sở sử dụng sản phẩm đào tạo) GD đại học là một bộ phận của kinh tế thị trường, phải tuân theo quy luật của kinh tế thị trường đặc biệt là quy luật giá trị
Sứ mạng cốt lõi của GD đại học là đào tạo những người tốt nghiệp đại học có tri thức cao và là những công dân có trách nghiệm
Mục tiêu, nội dung, phương pháp GD đại học được xác định dựa trên yêu cầu phát triển, kinh tế - xã hội
Mục tiêu GD đại học của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được qui định tại điều 3 Luật giáo dục của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (đã được sửa đổi bổ sung năm 2009) Dưới đây trích dẫn khoản 1 và khoản 3 của Điều 39 của Luật giáo dục [9]
“ Điều 39: Mục tiêu của giáo dục đại học
1 Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc
2 Đào tạo trình độ đại học giúp SV nắm vững kiến thức chuyên môn
và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo
và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo”
Yêu cầu về nội dung, phương pháp GD đại học được quy định tại điều
40 của Luật giáo dục hiện hành: “Nội dung GD đại học phải có tính hiện đại
và phát triển, phải đảm bảo cho SV có những kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn tương đối hoàn chỉnh, tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới; có phương pháp làm việc khoa học, có năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên môn”, “phương pháp đào tạo trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”
Trang 23Như vậy, GD đại học có hai đặc điểm, đặc thù cần chú ý:
- Thứ nhất, GD đại học luôn gắn bó với GD dạy nghề, là GD dạy nghề mỗi trường đại học đều tạo điều kiện đào tạo những ngành nghề cụ thể nhất định Danh mục ngành đào tạo của một trường không cố định, không khép kín, luôn được thay đổi, mở rộng theo nhu cầu của đời sống xã hội
- Thứ hai, GD đại học luôn gắn với NCKH, không NCKH nghiêm túc thì không phải và không còn là GD đại học
* Hoạt động dạy học ở đại học
GD đại học có mục tiêu, nội dung, phương pháp riêng, đặc điểm riêng, không giống như ở của các cấp GD khác nằm trong hệ thống GDQD, do đó HĐDH ở đại học cũng có nội dung, phương pháp riêng biệt nhằm biến mục tiêu
GD đại học thành hiện thực HĐDH ở đại học có những đặc điểm đặc thù sau:
HĐDH gắn liền với ngành nghề đào tạo, tính mục đích dạy nghề thể hiện rõ nét ở trường đại học hiện đại, nó đòi hỏi PPDH các bộ môn cơ bản, cơ
sở, chuyên ngành đều phải hướng vào mục tiêu của ngành đào tạo Nó yêu cầu người GV ngoài việc trang bị cho học sinh những tri thức khoa học hiện đại còn phải hết sức chú ý rèn kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho SV HĐDH ở đại học gắn liền với thực tiễn xã hội, sản xuất, thực nghiệm khoa học và thị trường, phản ánh mối liên kết có tính qui luật giữa GD và ĐT với khoa học và sản xuất của trường đại học Nó đòi hỏi người GV trong quá trình giảng dạy phải luôn bám sát những yêu cầu của NCKH, của thực tiễn sản xuất và của thị trường để kịp thời đổi mới nội dung và PPDH, nhằm làm cho quá trình đào tạo thực sự có chất lượng và hiệu quả thực tiễn đối với xã hội Về mục đích và nội dung dạy học của trường đại học so với trường trung học chuyên nghiệp
và dạy nghề Nó đòi hỏi người GV trong quá trình dạy học phải chú ý trình bày các quan điểm khác nhau, các học thuyết khác nhau về một vấn đề, phải hết sức quan tâm bồi dưỡng phương pháp NCKH cho SV
Ngoài ra, HĐDH ở đại học còn phải kích thích tính tích cực, độc lập, sáng tạo của SV Đặc điểm này, một mặt phản ánh yêu cầu cao của mục đích,
Trang 24nội dung dạy học ỏ đại học, một mặt phản ánh đặc điểm của đối tượng SV, lứa tuổi đã trưởng thành về mọi mặt tâm sinh lý Nó đòi hỏi người GV trong quá trình dạy học phải chú ý tôn trọng đến ý kiến SV, phải đảm bảo cho SV được tự do tư tưởng, phải chú ý phát triển óc tưởng tượng khoa học của SV, phải có những biện pháp kích thích về tinh thần và vật chất, phải có biện pháp sàng lọc, phải hướng dẫn SV chủ động, tích cực tự học, tự nghiên cứu trong quá trình học tập, làm quen với phương pháp NCKH và sử dụng công nghệ thông tin vào học tập
HĐDH ở đại học rất đa dạng, nó thay đổi tùy theo loại trường đại học, loại bộ môn, tùy thuộc vào mục đích, nội dung, điều kiện dạy học, tùy thuộc vào đặc điểm nhân cách của GV và SV Đặc điểm này phản ánh tính chất hết sức phong phú, phức tạp của mục tiêu, nội dung đào tạo đại học cũng như quá trình dạy học phải vận dụng các PPDH ở đại học một cách hết sức linh hoạt
và sáng tạo
Cuối cùng, HĐDH ở đại học gắn liền với các thiết bị, các phương tiện dạy học, đặc biệt các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại Đặc điểm này phản ánh mối quan hệ hữu cơ giữa phương pháp và phương tiện dạy học, đặc biệt phản ánh tính chất của trường đại học ở thời đại cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật Nó đòi hỏi GV và nhà trường phải hết sức chăm lo cho việc đầu
tư xây dựng CSVC kỹ thuật cho dạy học và phải sử dụng tối ưu các phương tiện kỹ thuật dạy học nhằm đạt kết quả dạy học cao nhất với sự chi phí về thời gian và sức lực của thày và trò ít nhất
* Đặc trưng của việc tự học trong trường Đại học
Hoạt động chủ đạo của SV là hoạt động học tập Nhưng so với hoạt động học tập của học sinh phổ thông, việc học tập của SV có nhiều điểm khác Trước hết hoạt động học tập của HS- SV cũng là quá t nh nhận thức nhằm chiếm lĩnh những tri thức trong kho tàng trí tuệ của nhân loại Điểm khác nhau là khi tiến hành hoạt động học tập, SVkhông thể chỉ nhận thức thông thường mà tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu
Trang 25trên cơ sở tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao để chuẩn bị cho một ngành nghề nhất định có chuyên môn năng lực cao Vì vậy, hoạt động học tập của SV còn gọi là hoạt động học tập nghề nghiệp Vốn học vấn tiếp thu được trong quá t nh này hết sức quan trọng vì nó là công cụ để họ tiến hành tham gia vào lĩnh vực nghề nghiệp sau này và là nền tảng cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu
Một điều khác nữa so với hoạt động học tập của học sinh phổ thông thì hoạt động học tập của SV mang tính tự giác, tích cực chủ động hơn SV ngoài giờ lên lớp theo chương trình chính khoá, họ còn phải tích cực đọc thêm sách và tài liệu tham khảo để tự phát triển kiến thức cho mình, tranh thủ sự giúp đỡ của GV để đào sâu kiến thức chuyên môn Có như vậy, sau khi ra trường họ mới vững vàng trong công việc của mình Chính sự khác biệt này đòi hỏi sinh viên phải có sự thay đổi lớn về nhận thức, tư duy Do vậy, khác với giáo dục phổ thông, yêu cầu về chất lượng kiến thức thức ở đại học không chỉ học sự kiện hay hiện tượng, không chỉ học biết, học hiểu
- Có năng lực trí tuệ và có khả năng sáng tạo và thích ứng
- Có khả năng hành động (các kỹ năng sống) để có thể lập nghiệp
- Có năng lực tự học, tự nghiên cứu để có thể học thường xuyên, suốt đời
- Có năng lực quốc tế (ngoại ngữ, tin học, văn hoá toàn cầu, ) để có
khả năng hội nhập
Ở các trường Đại học, tự học là cần thiết và là cách học ở đại học Đó
là một hình thức tổ chức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm chiếm lĩnh hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành Khi SV tự
Trang 26mình huy động mọi phẩm chất, năng lực của bản thân để tiến hành các hoạt động tìm tòi, khám phá độc lập nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức là họ tiến hành hoạt động tự học
Tóm lại, quá trình học tập của SV ở các trường Đại học về bản chất là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu Mỗi SV tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng Muốn vậy, khi tiến hành hoạt động học tập, SV không chỉ phải có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao Có nghĩa là, dưới vai trò chủ đạo của thầy, SV không nhận thức một cách máy móc chân lý có sẵn mà còn đào sâu hoặc mở rộng kiến thức Để có được những năng lực, khả năng này, người học ở bậc đại học phải có cách học chủ động, khả năng tự lực tìm kiếm và xử lí thông tin, năng lực tự học và khao khát sáng tạo Do vậy, cũng có thể nói “học đại
Về quản lý hoạt động giảng dạy của GV là một trong những yếu tố quan tâm hàng đầu đối với đào tạo đại học như việc thiết kế các giáo án điện
tử, việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy,… Ngoài
ra, việc kiểm tra- đánh giá kết quả học tập cho SV cũng không ngừng đổi mới như hình thức thi trắc nghiệm trên máy tính, tự luận,…nhằm tránh thói quen học thuộc lòng của SV, giúp cho SV có phương pháp tích cực trong học tập
Trang 27cũng như trong tư duy Một yếu tố không kém phần quan trọng là quản lý hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV, giúp GV nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ sư phạm đáp ứng sự phát triển của toàn xã hội
Đối với việc quản lý hoạt động học tập của SV là một trong những yếu
tố không nhỏ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo như: hướng dẫn việc tự học, tự nghiên cứu trong quá trình học tập cho SV, giúp SV làm quen với phương pháp NCKH và cách sử dụng công nghệ thông tin trong hoạt động học tập Việc kiểm tra đánh giá hoạt động học tập trên lớp của SV theo hướng tích cực, sáng tạo giúp SV năng động trong học tập và phát triển tư duy
Việc quản lý CSVC, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật ở đại học là rất quan trọng trong phục vụ HĐDH nhằm nâng cao chất lượng của các cơ sở đào tạo Việc XD kế hoạch, thực hiện mua sắm và sử dụng CSVC, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật tốt, hiện đại sẽ thu hút, kích thích SV tham gia học tập tốt hơn
1.4 Quản lý HĐDH của phòng Đào tạo trong trường đại học
QL HĐDH là sự tác động hợp quy luật của chủ thể QL dạy học đến chủ thể dạy học (người dạy và người học) bằng các giải pháp phát huy tác dụng của các phương tiện QL dạy học như chế định GD &ĐT, bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học, nguồn tài lực và vật lực dạy học, môi trường dạy học và thông tin dạy học nhằm đạt được mục đích QL dạy học QL HĐDH trong trường đại học là tổ chức chỉ đạo GV thực hiện quy trình dạy học theo quy luật khách quan nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường; QL quá trình truyền thụ kiến thức của đội ngũ
GV QL hoạt động học của SV là QL quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của SV và QL việc kiểm tra đánh giá quá trình lĩnh hội, sự vận dụng kiến thức đó của SV
1.4.1 Chức năng nhiệm vụ của phòng đào tạo trường đại học
Theo điều lệ trường đại học (Ban hành theo Quyết định số 58/2010/QĐ/TTg ngày 22 tháng 9 năm 2010 của thủ tướng chính phủ) thì phòng đào tạo trường đại học là một trong các phòng chức năng của trường
Trang 28đại học Chức năng, nhiệm vụ của phòng Đào tạo được qui định tại khoản 1 Điều 43 của Điều lệ trường đại học [9]
“Điều 43 Phòng chức năng
Các phòng chức năng có nhiệm vụ tham mưu và giúp Hiệu trưởng trong việc quản lý, tổng hợp, đề xuất ý kiến, tổ chức thực hiện các công việc theo chức năng, nhiệm vụ được Hiệu trưởng giao”
Như vậy khác với Điều lệ trường đại học trước đây, Điều lệ trường Đại học hiện hành không qui định cụ thể, chi tiết chức năng, nhiệm vụ của phòng đào tạo mà phân quyền cho Hiệu trưởng giao chức năng, nhiệm vụ cho phòng đào tạo Tuy nhiên trên thực tế, hầu hết phòng đào tạo của các trường đại học trong cả nước đều có nhiệm vụ tham mưu và giúp Hiệu trưởng trong việc quản lý, tổng hợp, đề xuất ý kiến, tổ chức thực hiện mảng công việc về đào tạo, cụ thể bao gồm:
- Tham mưu, đề xuất việc mở ngành đào tạo, quản lý chương trình các ngành đào tạo của trường
- Phụ trách tuyển sinh: Xây dựng chỉ tiêu, quảng cáo, nhận hồ sơ, lập các
kế hoạch và tổ chức thực hiện việc coi thi, chấm thi, xét tuyển, triệu thí sinh nhập học, làm các báo cáo về tuyển sinh, lưu trữ tài liệu tuyển sinh theo qui định của quy chế tuyển sinh
- Lập kế hoạch hoạt động giảng dạy học tập năm học (chi tiết đến học kỳ, từng tuần)
- Lập kế hoạch hoạt động nghiệp vụ năm học (kế hoạch bồi dưỡng giảng viên, kế hoạch thao giảng, kế hoạch thi học sinh giỏi, kế hoạch hưởng ứng các phong trào của ngành GD thuộc lĩnh vực đào tạo nếu có)
- Tổ chức triển khai thực hiện, tổ chức kiểm tra đánh giá việc thực hiện các
kế hoạch hoạt động đào tạo trong đó có kế hoạch HĐDH
- Phối hợp với các phòng chức năng khác tổ chức khai thác sử dụng và quản lý CSVC, trang thiết bị dạy học
Trang 29- Quản lý kết quả học tập của SV, lập các điểm phục vụ xét lên lớp, xét tốt nghiệp, xét học bổng, cấp phát bằng tốt nghiệp, lưu giữ kết quả học tập cảu SV Một số ít trường đại học thành lập TT tuyển sinh và giao nhiệm vụ tuyển sinh cho TT tuyển sinh như trường đại học Công nghiệp 4 ở thành phố Hồ Chí Minh
Một số trường đại học thành lập TT đào tạo liên kết và giao nhiệm vụ đào tạo các lớp liên kết cho trung tâm đào tạo liên kết, như trường Đại học Điện lực ở Hà Nội
1.4.2 Nội dung QL của phòng Đào tạo đối với HĐDH
QL của phòng Đào tạo đối với HĐDH trường đại học gồm các nội dung QL
cụ thể như :
- Lập kế hoạch trong QL HĐDH ;
- QL việc thực hiện kế hoạch, chương trình và nội dung dạy học ;
- QL khâu đổi mới PPDH và hình thức tổ chức dạy học;
- QL việc đánh giá kết quả dạy học và kết quả học tập;
- Phối kết hợp QL CSVC và trang thiết bị dạy học ;
- QL công tác hành chính giáo vụ
1.4.3 Các biện pháp QL của phòng Đào tạo đối với HĐDH trong trường đại học Theo từ điển tiếng Việt :“Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó” [33]
Trong QL, biện pháp QL là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ thể QL nhằm tác động đến đối tượng QL để giải quyết các vấn đề trong công tác QL, làm cho hệ QL vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể QL đã đề ra
và phù hợp với quy luật khách quan
Biện pháp QL là cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp QL vì đối tượng QL thường phức tạp đòi hỏi các biện pháp QL cũng phải rất đa dạng linh hoạt Các biện pháp sẽ giúp cho nhà QL thự thi tốt các biện pháp QL của mình, nhằm mang lại hiệu quả hoạt động hữu hiệu của bộ máy và tổ chức Tính hiệu quả của QL phụ thuộc một phần quan trọng vào sự chọn lựa đúng
Trang 30đắn và áp dụng linh hoạt các biện pháp QL Biện pháp QL giáo dục đóng vai trò đặc biệt quan trọng và là bộ phận năng động nhất trong hệ thống QL Biện pháp QL HĐDH của các nhà QL là những cách thức tiến hành của nhà QLGD tác động đến những hoạt động, những lĩnh vực trong QL HĐDH, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này và nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của cấp học, bậc học, ngành học đã đề ra
Trong thực tế QL, không có biện pháp nào là vạn năng, các nhà QL thường sử dụng phối hợp nhiều biện pháp để giải quyết một nhiệm vụ cụ thể,
ở mỗi biện pháp đều có ưu nhược điểm và hạn chế nhất định Do đó, các biện pháp QL HĐDH cần được thực hiện một cách có hệ thống và đồng bộ, điều này giúp cho các nhà QLGD phát huy được sức mạnh tổng hợp của các biện pháp thực thi tốt nhiệm vụ, công việc mình đảm nhận
- Lập kế hoạch phác thảo cho việc QL HĐDH
- Trao đổi với lãnh đạo các Khoa ngành về bản kế hoạch phác thảo
để có sự điều chỉnh cần thiết, đảm bảo tính khả thi của kế hoạch
- Lập kế hoạch chi tiết cho từng tuần, tháng, học kỳ và cho cả năm học Muốn xây dựng được kế hoạch chi tiết tỉ mỉ và đảm bảo tính thống nhất trong nhà trường, Phòng đào tạo cần phải phân tích được đặc điểm tình hình, nhiệm vụ năm học của nhà trường
Các phương pháp xây dựng kế hoạch
- Nghiên cứu hồ sơ có sẵn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn
Trang 31- Phương pháp điều tra
- Phương pháp phân tích SWOT
Ngoài ra việc lập kế hoạch có thể sử dụng các phương pháp dự báo khác khi lập kế hoạch như: Phương pháp ngoại suy, phương pháp mô hình hóa…
1.4.2.2 Các biện pháp tổ chức chỉ đạo thực hiện HĐDH của phòng Đào tạo trường đại học
Chúng ta đã biết, QL HĐDH là một trong những công việc quan trọng nhất trong công tác QL nhà trường QL HĐDH trong nhà trường là nội dung,
là cách thức mà chủ thể QL cần cụ thể hóa để thực hiện các chức năng QLGD
do Bộ GD & ĐT ban hành được cụ thể hóa trong từng nhà trường Mọi GV phải thực hiện nghiêm chỉnh, không tùy tiện thay đổi, thêm bớt là sai lệch chương trình, đồng thời tổ chức cho GV nghiên cứu cùng nắm vững mục tiêu, chương trình dạy học của cả bậc học, ngành học
Về yêu câù nắm vững chương trình:
+ Đối với phòng Đào tạo: Phải nắm vững những nguyên tắc cấu tạo mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo của từng chuyên ngành đào tạo, mục tiêu, nội dung kiến thức cơ bản của từng môn học và các hình thức dạy học của từng môn học đó
Trang 32+ Đối với GV: Phải nắm vững những nguyên tắc cấu tạo, mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo của từng chuyên ngành đào tạo, mục tiêu nội dung kiến thức cơ bản của các môn học có liên quan đến môn học mình giảng dạy ở từng chuyên ngành Nắm vững mục tiêu, nội dung kiến thức cơ bản của môn học, phương pháp đặc trưng dùng để giảng daỵ môn học mà mình giảng dạy
Để GV và Cán bộ quản lý (CBQL) nắm vững chương trình:
+ Ngay từ đầu năm học:
Phòng Đào tạo thừa lệnh Hiệu trưởng phổ biến những thay đổi về nội dung chương trình (nếu có), chỉ đạo các khoa thảo luận những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy học của năm học trước và những vấn đề mới của chương trình dạy học để thực hiện thống nhất trong năm học
+ Hàng tháng, cuối kỳ và kết thúc năm học:
Phòng Đào tạo yêu cầu các khoa lập kế hoạch dạy học môn học do mình phụ trách, trong đó việc thực hiện chương trình dạy học phải được thực hiện rõ; kết hợp với các khoa theo dõi, nắm bắt tình hình thực hiện chương trình dạy học hàng tuần, hàng tháng của GV
Sử dụng các bảng biểu, hồ sơ GV như: Sổ tay GV, sổ lên lớp, giáo án,
sổ dự giờ, hay thực hiện dự giờ thăm lớp để nắm tình hình thực hiện phân phối chương trình của GV và của khoa Sử dụng thời gian biểu để điều tiết tiến độ thực hiện chương trình dạy học của các môn, các lớp sao cho đồng đều, cân đối, đảm bảo tính khoa học
*QL việc lên lớp:
Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học Biện pháp hiệu quả nhất để QL giờ lên lớp là phải xây dựng được tiêu chuẩn giờ lên lớp đối với GV Nội dung cơ bản của tiêu chuẩn giờ lên lớp đó là: Bảo đảm cho HS-
SV nắm được kiến thức cơ bản nhất của bài học, rèn luyện được một số kỹ năng vận dụng kiến thức, tập duyệt được nếp tư duy tích cực cho HS- SV, qua bài dạy giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phát triển các năng lực trí tuệ cho HS- SV
Trang 33Phòng Đào tạo có kế hoạch dự giờ của GV, đảm bảo trong năm học tất
cả các GV đều được dự ít nhất một lần (không tính những giờ dự trong các kỳ thao giảng của nhà trường) Khi cần thiết đánh giá GV giỏi hoặc GV còn yếu thì phải dự nhiều giờ dạy của họ và chọn dự ở nhiều thời điểm khác nhau Sau khi dự giờ nhất thiết phải trao đổi với Trưởng khoa và cùng với Trưởng khoa nhận xét rút kinh nghiệm đối với GV dự giờ
Thời khóa biểu trong nhà trường có vai trò rất quan trọng và được GV đặc biệt quan tâm Thời khóa biểu chính là lệnh của Hiệu trưởng buộc mọi thành viên trong trường phải thực hiện nghiêm túc, nó có tác dụng duy trì nề nếp dạy học, điều khiển nhịp độ dạy và học hàng ngày, trong tuần, tạo nên bầu không khí sư phạm vừa trang nghiêm, vừa sôi động cuả nhà trường Chính vì vậy, Phòng Đào tạo phải thực sự coi thời khóa biểu là một yếu tố quan trọng trong QL HĐDH và QL lao động của GV trong trường
Để nâng cao chất lượng giờ lên lớp, Phòng Đào tạo cần phải phối hợp với các khoa tổ chức các chuyên đề về giờ lên lớp như: Tọa đàm về đổi mới phương pháp giảng dạy, về các tình huống ửng xử sư phạm, tổ chức giờ dạy mẫu, tổ chức thao giảng Điều lưu ý khi chọn các chuyên đề là biết chọn những đề tài thiết thực với tình hình cụ thể của nhà trường và phải chuẩn bị chu đáo khi thực hiện từng chuyên đề đó
- Phải nắm vững tình hình GV, thực hiện chế độ kiểm tra, cho điểm và đánh giá kết quả học tập của HS- SV Để làm tốt những việc trên phòng Đào tạo yêu cầu giáo vụ các khoa phải báo cáo kết quả theo dõi và tổng hợp tình hình hàng tháng, để thu thập nhận, chính xác các thông tin phục vụ cho việc
QL HĐDH trong toàn trường
*QL việc bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GV:
- QL hoạt động bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo kịp những thay đổi của nội dung chương trình cũng là một trong những hoạt động
QL dạy học Ngày nay, trong thời đại bùng nổ thông tin, người thầy cần phải luôn cập nhật những tri thức mới mẻ, không chỉ trong sách vở mà còn trong
Trang 34cuộc sống xã hội nhằm đưa đến cho HS -SV những kiến thức mới mẻ và chính xác Muốn đạt được điều đó hoạt động QL chuyên môn cần có biện pháp nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GV
- Sắp xếp, tạo điều kiện, khuyến khích GV đi học nâng cao (nhất là cao học hoặc nghiên cứu sinh) để củng cố và nâng cao năng lực cho GV
- Yêu cầu GV tham dự đầy đủ các lớp bồi dưỡng thường xuyên do cấp trên tổ chức
- Coi trọng công tác bồi dưỡng chuyên môn thông qua sinh hoạt chuyên môn, hội thảo khoa học, nghe báo cáo chuyên đề khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm, Nghiên cứu khoa học(NCKH)
- Tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề
*QL việc đổi mới PPDH:
QL đổi mới PPDH đó là:
- Xác định nhận thức về vị trí của 2 tác nhân trong sơ đồ dạy học đó là NGƯỜI DẠY – NGƯỜI HỌC, lấy người học làm TT, còn người dạy chuyển dần từ vai trò người truyền thụ sang vai trò hướng dẫn, cố vấn
- Xây dựng giáo trình, tài liệu, bài giảng, theo quan điểm mới, dẫn dắt người học tiếp cận khoa học, chỉ ra các tài liệu bắt buộc tham khảo để người học tự tìm kiếm, nghiên cứu trên cơ sở “Đề cương mở” và từ đề cương này dưới sự chỉ dẫn của người dạy, người học dễ dàng xây dựng mục đích cần đạt tới của mình và tự tìm kiếm phương pháp để đạt được mục đích đó
- Xây dựng một phương pháp giảng dạy hiệu quả: Tổ chức dạy học theo phương pháp nêu vấn đề và quan điểm “Cá thể hóa” quá trình giảng dạy
là hai mấu chốt cơ bản của việc đổi mới phương pháp giảng dạy
Tăng cường hệ thống tư liệu và trang thiết bị dạy học: PP dạy và học đòi hỏi một số điều kiện tiên quyết cho phép người học “phát huy nội lực” và người dạy “dạy cách phát huy nội lực”, trong đó nguồn tư liệu, giáo trình, tài liệu tham khảo, CSVC, trang thiết bị là điều kiện không thể thiếu
Trang 35- Gắn đào tạo với NCKH: Đây là một trong 2 nhiệm vụ chính của GV Đại học, nó góp phần quan trọng trong việc hình thành một phương pháp dạy học ở bậc Đại học Gắn NCKH với đào tạo là chắp thêm cánh cho người học
và người dạy bay xa hơn, tạo điều kiện để học đi đôi với hành, gắn hiệu quả
GD với cuộc sống NCKH giúp người học và người dạy phát triển tư duy khoa học và hình thành hệ thống phương pháp luận cho việc đổi mới PPDH
Để QL tốt việc đổi mới PPDH, cần tiến hành theo các bước sau:
Bước 1 Chuẩn bị:
Thành lập ban chỉ đạo dự thảo kế hoạch hành động; tác động đến nhận thức, tạo tâm thế và điều kiện sẵn sàng tham gia đổi mới PPDH của GV; phân tích nguyên nhân của việc tồn tại các PPDH lạc hậu; phát hiện các nhân tố tích cực; tổ chức hội thảo thống nhất kế hoạch hành động
Bước 2 Chỉ đạo điểm:
Xây dựng chuẩn đánh giá; Thống nhất về cách thiết kế bài học; dạy thử nghiệm; dự giờ, đánh giá, xác định kết quả; sơ kết, rút kinh nghiệm
Bước 3: Chỉ đạo mở rộng đại trà ở tất cả GV, tất cả các môn học
- Về sử dụng, bảo vệ trang thiết bị, tài liệu học tập
Hàng tháng Phòng đào tạo phối hợp với phòng Công tác HS-SV, các Khoa, TT thu thập tình hình, phân tích, đánh giá kết quả học tập của HS-SV theo các mặt: Tình hình thực hiện nề nếp học tập, tinh thần thái độ đối với học
Trang 36tập, sự chuyên cần, kỷ luật trong học tập; tổ chức việc kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học, qua đó có biện pháp tác động vào các khâu của quá trình giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục; kết quả học tập các môn học: điểm số, tình hình kiểm tra, nhận xét đánh giá của GV về tình hình học tập của HS-SV
*QL CSVC phục vụ cho dạy và học:
Phòng Đào tạo phối hợp với phòng Hành chính- Quản trị và các Khoa,
TT xây dựng quy định về sử dụng và bảo quản CSVC phục vụ cho dạy và học; Căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường mà lập kế hoạch trước mắt, lâu dài cho việc xây dựng, mua sắm mới các trang thiết bị hiện đại, tài liệu tham khảo, nghiên cứu…
1.4.2.3 Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch dạy học ở trường Đại học
Kiểm tra, đánh giá là một bộ phận hợp thành, một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Nó là khâu cuối cùng của mọi quá trình đào tạo, nó vừa đo lường kết quả, vừa có vai trò cung cấp thông tin giúp cải tiến việc xây dựng chương trình đào tạo và phương pháp dạy của GV
*Quy trình kiểm tra đánh giá:
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá;
- Tổ chức lực lượng kiểm tra;
- Chỉ đạo kiểm tra:
+ Kiểm tra GV: Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tuần, tháng, năm học của cá nhân, của khoa; kiểm tra việc chuẩn bị dạy học (giáo án, bài giảng, phương tiện dạy học); kiểm tra hoạt động giảng dạy trên lớp của GV…
+ Kiểm tra HS-SV: Kiểm tra sự có mặt trên lớp; kiểm tra kết quả học tập từng bài, từng môn; kiểm tra kết quả mục tiêu giáo dục:
- Phương pháp kiểm tra: Kiểm tra thông qua dự giờ, hồ sơ chuyên môn, đối thoại, thăm dò ý kiến HS-SV…
Kiểm tra đánh giá HĐDH của GV để làm căn cứ phân loại; xếp hạng HS-SV Điều quan trọng hơn là qua kiểm tra đánh giá thấy được rõ hơn cách dạy học của thầy và cách học của trò Từ đó, có cơ sở cho công tác QL như xét
Trang 37thi đua, lên lớp, tốt nghiệp; điều chỉnh, cải tiến mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi, mong muốn của người học và xã hội, đảm bảo cho sự sống còn của nhà trường
QL HĐDH của Phòng Đào tạo phụ thuộc nhiều vào việc người QL thực hiện nghiêm túc các chức năng QL, trong đó chức năng kiểm tra, đánh giá mà phương tiện chủ yếu là nắm bắt nguồn thông tin, đặc biệt là thông tin ngược một cách toàn diện, đầy đủ, kịp thời, khách quan… để ra quyết định đúng đắn, phù hợp là khâu rất quan trọng không thể thiếu
1.5 Những yếu tố chính ảnh hưởng đến công tác QL của Phòng Đào tạo đối với HĐDH ở trường đại học
1.5.1 Các yếu tố chủ quan
1.5.1.1 Phẩm chất chính trị của chủ thể QL phòng Đào tạo
Lãnh đạo phòng Đào tạo muốn thực hiện tốt chức năng QL HĐDH của mình thì bản thân phải là những người QL có nhân cách, có đạo đức nghề nghiệp; phẩm chất và lập trường quan điểm chính trị vững vàng, đi đầu trong mọi lĩnh vực hoạt động của nhà trường, biết hy sinh cái riêng để cống hiến cho sự nghiệp giáo GD&ĐT của nhà trường Nắm vững đường lối, chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước, chỉ đạo đúng hướng và kịp thời trong từng giai đoạn cụ thể của xã hội phù hợp với mục tiêu GD&ĐT của nhà trường
1.5.1.2 Trình độ chuyên môn của CB trong bộ máy QL
Những người này phải có kiến thức nghiệp vụ, chuyên môn sâu, rộng và toàn diện, nắm vững khoa học QL Luôn luôn không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn và QL, có trình độ lý luận, khả năng phân tích tổng hợp, nắm bắt thông tin kịp thời và đưa ra các quyết định QL phù hợp mang lại hiệu quả cao trong công tác QL đào tạo
1.5.1.3 Phẩm chất đạo đức của CB trong bộ máy QL
Bên cạnh năng lực QL, người QL phải là người xây dựng được uy tín cá nhân; có đạo đức tác phong mẫu mực, tiết kiệm, chí công vô tư, tận tụy với công việc, thái độ trân trọng mọi người, tập thể, không vụ lợi, liêm khiết, dám nghĩ,
Trang 38dám làm, dám chịu trách nhiệm CBQL phải xây dựng được môi trường sư phạm
có truyền thống tốt đẹp, có bầu không khí làm việc công bằng, đoàn kết, hỗ trợ, tôn trọng lẫn nhau thực hiện công việc chung cũng như tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần cho mọi người trong đơn vị
Tóm lại, hình ảnh người QL phải thể hiện được ba điều: đó là “tâm“, “tầm”
và “tài”
1.5.1.4 Người dạy và người học
QL HĐDH là QL hoạt động dạy của GV và QL hoạt động học của SV Vì vậy yếu tố “GV” và “SV” cũng là một trong những nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới hiệu quả QL HĐDH của nhà trường
Một đội ngũ GV đủ về số lượng, mạnh về chất lượng sẽ là lực lượng thực hiện các công việc liên quan đến HĐDH theo sự điều hành, chỉ đạo của cấp QL Chất lượng, quy mô tuyển sinh đầu vào của trường: Quy mô, chất lượng đầu vào của trường cần được quan tâm Cần phải tính toán để quy mô tuyển sinh không quá dư thừa và phải đảm bảo sự sàng lọc, chọn lựa chất lượng SV đầu vào
1.5.2.2 Chủ trương, chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm lãnh đạo của cấp trên đối với nhà trường với phòng Đào tạo
Nắm bắt kịp thời và tiếp thu quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong
xu thế hội nhập, toàn cầu hóa giáo dục và thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; sự quan tâm, kiểm tra, đánh giá, công nhận của Lãnh đạo cấp trên đối với trường, với phòng Đào tạo để từ đó có những quyết định QL đúng đắn, đảm
Trang 39bảo quyền lợi chính đáng cho tập thể GV, CB viên chức trong nhà trường như các chính sách đãi ngộ với GV, phục cấp ưu đãi đứng lớp, tạo cơ hội học tập nâng cao trình độ trong và ngoài nước…
1.5.2.3 Điều kiện kinh tế - văn hóa xã hội và an ninh của địa phương nơi nhà trường cư trú
Nhà trường nói chung và lãnh đạo phòng Đào tạo nói riêng cũng nên quan tâm tới các vấn đề như cơ chế, chính sách của địa phương, nắm bắt và khai thác được các thế mạnh, hạn chế những khó khăn của địa phương nhằm tranh thủ sự ủng hộ tối đa của chính quyền, sự tham gia, đóng góp và bảo vệ sự nghiệp giáo dục của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa phương
1.5.2.4 Sự phối hợp của các tổ chức, đơn vị và các thành viên trong trường
Để QL tốt hoạt động giảng dạy của GV đòi hòi phải có sự hợp tác, phối, kết hợp giữa các khoa, phòng ban, tổ chuyên môn, giữa các cá nhân với phòng Đào tạo, sự phối hợp giữa các tổ chức như Đảng, Chính quyền, Công đoàn, Phụ nữ, Đoàn Thanh niên tạo nên sức mạnh đoàn kết và nội lực dồi dào để thực hiện mục tiêu đào tạo và sự nghiệp GD&ĐT của nhà trường
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA PHÒNG ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC 2.1 Vài nét chung về trường Đại học Điện lực
Trường Đại học Điện lực trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 111/2006/QĐ-TTg ngày 19 tháng 5 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trường Cao đẳng Điện lực trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam Trường Đại học Điện lực có trụ sở chính tại 235 đường Hoàng Quốc Việt, Từ Liêm, Hà Nội; Cơ sở 2 tại Tân Minh, Sóc Sơn, Hà Nội
Trường Đại học Điện lực tiền thân là Trường Kỹ nghệ thực hành Hà Nội do người Pháp thành lập năm 1898 Hòa bình lập lại Nhà nước đã chia Trường Kỹ nghệ thực hành thành Trường Kỹ thuật I và Trường Kỹ thuật II… và ngày 15 tháng 2 năm 1955 khai giảng khóa đầu tiên của Trường Kỹ thuật I Tháng 8 năm 1962 đổi tên thành Trường Trung cao Cơ điện, tháng 11 năm 1965 trường sơ tán về thôn Phú Ninh, xã Thanh Vân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phú Ngày 8 tháng 2 năm 1966 Bộ Công nghiệp nặng chia trường Trung cao Cơ điện thành trường Trung học Điện (nay là trường Đại học Điện lực) và trường Trung học Cơ khí (nay là trường Đại học Công nghiệp Hà Nội) Trường Trung học Điện khi thành lập chuyển về xã Bắc Sơn, huyện Đa Phúc, tỉnh Vĩnh Phú; tháng 9 năm 1970 chuyển đến địa điểm mới là xã Tân Minh, huyện Đa Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc nay là xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Thực hiện chủ trương sắp xếp lại mạng lưới các trường đào tạo thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, ngày 8 tháng 4 năm 2000 Bộ Công nghiệp đã có Quyết định số 24/2000/QĐ-BCN sát nhập trường Trung học Điện I và Trường Bồi dưỡng tại chức thành trường Trung học Điện I trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam Ngày 19 tháng 5 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định thành lập Trường Đại học Điện lực trên
cơ sở trường Cao đẳng Điện lực trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam