1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội

118 510 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực trạng còn nhiều bất cập của quá trình đổi mới PPD-H ở các trường đại học và cao đẳng Những năm gần đây việc đổi mới toàn diện PPD-H nhằm cải tiến chất lượng đào tạo ĐH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

- o0o -

NGÔ TRUNG HÀ

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM HẠN CHẾ NHỮNG YẾU TỐ CẢN TRỞ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY - HỌC

TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

Hµ Néi - 2007

Trang 2

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề về đổi mới PPD-H 5 1.1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề về đổi mới ở bậc ĐH-CĐ và các

yếu tố cản trở quá trình này

ĐH-CĐ và những biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố này

19

1.4.1 Các yếu tố cản trở thường gặp trong quá trình đổi mới PPD-H ở bậc

đại học - cao đẳng

19

Trang 3

1.4.2 Những biện pháp quản lý nhằm hạn chế các yếu tố cản trở thường gặp

trong quá trình đổi mới PPD-H ở bậc đại học - cao đẳng

29

Chương 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY - HỌC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI VÀ

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 31 2.1.2 Chứ c năng, nhiê ̣m vụ 31 2.1.3 Cơ cấu tổ chứ c của Trường và đô ̣i ngũ giáo viên, CBCNV 32 2.1.4 Quy mô, chất lượng đào ta ̣o 33 2.1.5 Hệ thống cơ sở vâ ̣t chất sư pha ̣m 34

2.2.1 Nhận thức và chủ trương chỉ đạo của Trường về đổi mới PPD-H 35 2.2.2 Những kết quả đã đạt được trong quá trình đổi mới PPD-H 36 2.2.3 Đánh giá thực trạng đổi mới PPD-H tại Trường 44

2.3.1 Những yếu tố liên quan đến giáo viên 47 2.3.2 Những yếu tố liên quan đến sinh viên 50 2.3.3 Những yếu tố liên quan đến các cấp quản lý 54 2.3.4 Những yếu tố liên quan đến cơ sở vật chất - kỹ thuật 59 2.3.5 Những yếu tố liên quan đến chương trình đào tạo 62

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM HẠN CHẾ NHỮNG YẾU

TỐ CẢN TRỞ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY - HỌC TẠI

3.1.1 Các cơ sở xây dựng biện pháp quản lý 65 3.1.2 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp quản lý 67

3.2.1 Biện pháp nâng cao nhận thức , tinh thần trách nhiệm của các thành

viên trong Trường về đổi mới PPD-H

67

Trang 4

3.2.2 Nhóm biện pháp tăng cường năng lực chuyên môn , kỹ năng ứng dụng

PPD-H, khai thác phương tiện dạy-học và tài liệu của GV

3.2.5 Nhóm biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng cơ sở vật

chất - kỹ thuật, trang thiết bị dạy-học

83

3.2.6 Nhóm biện pháp cải tiến chương trình đào tạo 86 3.2.7 Mối liên quan giữa các biện pháp 89

3.3.1 Kiểm chứng tính cần thiết củ a các biê ̣n pháp 90 3.3.2 Kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp 90 3.3.3 Sự tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biê ̣n pháp 90

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bô ̣ GD&ĐT Bô ̣ Giáo dục và Đào ta ̣o

Bộ LĐ-TB-XH Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

GDĐH Giáo dục đại học

GD-ĐT Giáo dục - đào tạo

GV Giáo viên

KS Khách sạn

KTĐG Kiểm tra - đánh giá

NCKH Nghiên cứu khoa ho ̣c

PP Phương pháp

PPD-H Phương pháp da ̣y - học

PTTH Phổ thông trung học

Trang 6

Trong những năm gần đây, xu thế xã hội phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt đã đặt nhiệm vụ của GD nói chung và GD ĐH nói riêng trước đòi hỏi mới Đó là, giáo dục phải đào tạo nên nguồn nhân lực có đầy đủ các phẩm chất, năng lực, chủ động, sáng tạo và linh hoạt để có thể thích nghi cao với thị trường lao động trong thời hội nhập Đổi mới PPD-H phù hợp với yêu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội hiện nay là một việc làm tất yếu trong sự nghiệp đổi mới GD&ĐT Đó cũng là một sự thay đổi cần thiết trong các nhà trường nói chung và các trường ĐH, CĐ nói riêng,

để nhà trường ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được các nhu cầu của xã hội Với ý nghĩa đó, đổi mới PPD-H ở các trường ĐH, CĐ là một đòi hỏi cấp thiết trong quá trình nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường

Tính cấp bách của đổi mới PPD-H ở tất cả các cấp, bậc học không chỉ là vấn

đề được toàn ngành GD&ĐT quan tâm mà còn được thể hiện trong đường lối lãnh đạo công tác GD&ĐT của Đảng và luật pháp của Nhà nước, ví dụ như: Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) (tháng 1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban chấp hành Trung ương về việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục, Luật Giáo dục,

1.2 Xuất phát từ quy luật vận động theo hệ thống

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, mọi sự vật hiện tượng đều luôn luôn vận động Đổi mới nhà trường nói chung và đổi mới PPD-H nói riêng là xu thế tất yếu, phù hợp quy luật khách quan Chính vì thế, các CBQL nhà trường không thể

né tránh, không thể đứng ngoài sự thay đổi này mà cần tác động, quản lý nó theo chiều hướng có lợi nhất cho nhà trường Quản lý quá trình đổi mới PPD-H là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình quản lý sự thay đổi của nhà trường

và trở thành một trong những nhiệm vụ của người CBQL giáo dục

Trang 7

Như đối với bất cứ sự thay đổi nào, quá trình đổi mới PPD-H không diễn ra ngẫu nhiên, một chiều Nó bị chi phối bởi các nhiều yếu tố bao gồm cả các yếu tố thúc đẩy và các yếu tố cản trở Điều này đòi hỏi mỗi CBQL nhà trường không chỉ nhìn thấy những mặt thuận lợi mà còn phải nhận dạng rõ nét những rào cản đối với quá trình đổi mới PPD-H, trên cơ sở đó tìm ra những biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế chúng, đảm bảo quá trình đổi mới đạt kết quả tốt nhất

1.3 Xuất phát từ thực trạng còn nhiều bất cập của quá trình đổi mới PPD-H ở các trường đại học và cao đẳng

Những năm gần đây việc đổi mới toàn diện PPD-H nhằm cải tiến chất lượng đào tạo ĐH và CĐ được toàn thể xã hội, trong đó có các nhà khoa học và các nhà quản lý, rất quan tâm, trở thành một vấn đề thời sự bức xúc Trên cơ sở chỉ đạo của các cấp quản lý nhà nước, quá trình này đã được triển khai trong các trường ĐH, CĐ nhưng chưa thực sự đạt kết quả như xã hội mong muốn Hiện tượng thày đọc - trò ghi, dạy chay - học chay, … còn phổ biến ở nhiều giảng đường Giữa các GV còn tồn tại nhiều khác biệt trong nhận thức về tính cấp thiết của đổi mới PPD-H Một số người còn thiếu hiểu biết về các PPD-H hoặc có hạn chế trong kỹ năng vận dụng chúng Ngay cả khi các yếu tố này được khắc phục thì sự thiếu thốn hoặc không đồng bộ của cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, chương trình đào tạo, nhận thức và trình độ của SV còn kém, sự thiếu quan tâm, ủng hộ của các cấp quản lý

cơ sở, … lại là những nguyên nhân khác dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong đổi mới PPD-H ở các nhà trường

1.4 Xuất phát từ thực tế quá trình đổi mới phương pháp dạy-học của Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội

Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội được nâng cấp từ Trường Trung học nghiệp

vụ Du lịch Hà Nội từ năm 2003 Đào tạo sinh viên ở bậc Cao đẳng là công việc còn nhiều mới mẻ đối với Nhà trường Chính vì thế, việc đổi mới PPD-H nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và đối với hệ Cao đẳng nói riêng được xác định là một mục tiêu quan trọng Bên cạnh việc khuyến khích mọi GV áp dụng các PPD-H hiện đại vào quá trình giảng dạy của mình, Trường đã tạo điều kiện cho họ tham gia các khóa bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy học hiện đại, các hội thảo về quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm Trong các bài thao diễn và đặc biệt là trong các hội thi GV giỏi Thành phố Hà Nội và toàn quốc, nhiều GV đã ứng dụng thành công các phương pháp này và đã giành được các thứ hạng cao, giải thưởng lớn

Tuy nhiên, có một thực tế là, số lượng những tiết dạy hàng ngày có ứng dụng các PPD-H hiện đại hay có những yếu tố đổi mới phương pháp của các GV trong Trường và ngay cả của những GV đã đạt giải trong các hội thi GV giỏi còn chiếm

Trang 8

một tỷ lệ khiêm tốn trong chương trình Điều này là một trong những nguyên nhân gây ra những bất cập, làm giảm chất lượng đào tạo của Trường

Thực tế đặt ra một vấn đề: đã có những yếu tố nhất định cản trở quá trình đổi mới PPD-H tại Trường Để quá trình này đạt được kết quả như mong đợi, các nhà quản lý của Trường cần quan tâm tìm hiểu kỹ vấn đề trên, từ đó tìm ra các biện pháp khắc phục có hiệu quả

Xuất phát từ các cơ sở về lý luận và thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu: "Biện

pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội” là một vấn đề thiết thực cả

về mặt giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần vào nâng cao hiệu quả đổi mới PPD-H

và chất lượng đào tạo của Trường

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những yếu tố cản trở quá trình đổi mới PPD-H ở hệ cao đẳng Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố này, góp phần nâng cao hiệu quả đổi mới PPD-H của Trường

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận làm luận cứ giải quyết các nhiệm vụ, nội dung

nghiên cứu của đề tài

- Khảo sát thực trạng quá trình đổi mới PPD-H ở hệ cao đẳng Trường Cao

đẳng Du lịch Hà Nội và nhận dạng các yếu tố cản trở quá trình này

- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá

trình đổi mới PPD-H ở hệ cao đẳng Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình thực hiện đổi mới PPD-H tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Các yếu tố cản trở quá trình đổi mới PPD-H hệ Cao đẳng tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội và biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố đó

5 Giả thuyết khoa học

- Quá trình đổi mới PPD-H ở hệ cao đẳng Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội

gặp những yếu tố cản trở liên quan đến giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo và các cấp quản lý

- Các yếu tố cản trở quá trình đổi mới PPD-H ở hệ cao đẳng Trường Cao

đẳng Du lịch Hà Nội sẽ được hạn chế nếu áp dụng những biện pháp quản lý tác động toàn diện và đồng bộ đến tất cả các yếu tố liên quan

Trang 9

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài giới hạn trước hết ở việc nhận dạng và đề xuất biện pháp quản lý

nhằm hạn chế các yếu tố cản trở quá trình đổi mới PPD-H ở hệ cao đẳng Trường

Cao đẳng Du lịch Hà Nội

- Khảo sát và sử dụng các số liệu từ các năm học 2004 - 2005 trở lại đây

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ các yếu tố chủ yếu gây cản trở quá trình đổi

mới PPD-H trong một trường cao đẳng nghề

- Luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý có thể triển khai thực hiện tại

Trường CĐ DL HN để hạn chế các yếu tố cản trở quá trình đổi mới PPD-H, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển Trường theo mô hình một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của ngành Du lịch

8 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này cần kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

8.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: thu thập, đọc, phân tích, xử lý tài liệu 8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp điều tra chọn mẫu,

thu thập thông tin, phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia, xử lý kết quả bằng thống kê

toán học

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn được trình bày trong

ba chương có tên như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Khảo sát thực trạng quá trình đổi mới PPD-H tại Trường Cao

đẳng Du lịch Hà Nội và nhận dạng các yếu tố cản trở quá trình này

Chương 3: Các biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá

trình đổi mới PPD-H đối với hệ cao đẳng Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội

Cuối luận văn là phần danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Bước vào thế kỷ XXI, trong bối cảnh hô ̣i nhâ ̣p khu vực và quốc tế , khi tri thức đươ ̣c coi là nguồn lực quyết định sự phát triển và tăng trưởng nền kinh tế , vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục của Viê ̣t Nam đã đượ c đề cập đến ở nhiều góc độ khác nhau Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu , "Nền giáo dục Việt Nam đã trải qua 15

năm đổi mới với nhiều thành tựu quan trọng nhưng cũng còn những yếu kém, bất cập" [2, tr.9] Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho chất lượng GD - ĐT

của ta còn thấp so với trình độ phát triển của khoa học - công nghệ hiện đại là sự la ̣c

hâ ̣u về PPD -H Vì thế, đổi mới phương pháp giáo dục nói chung, PPD-H nói riêng, vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu của công cuộc cải tiến chất lượng Tầm quan trọng, ý nghĩa và tính cấp bách của việc đổi mới này đã được nêu lên rất nhiều lần trong các văn bản của Đảng, Nhà nước và của các cấp quản lý ngành Giáo dục Nghị

quyết TW2 (khoá VIII) đã chỉ rõ: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào

tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy-học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là SV ĐH…"; Chỉ thị 15 (ngày 20/4/1999) của Bộ trưởng Bộ GD &ĐT

nhấn ma ̣nh việc đẩy mạnh hoạt động đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập

trong các trường sư phạm, … Ngày 2/11/2005, Chính phủ đã có Nghị quyết

14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn

2006-2020 [69] Nghị quyết đề ra bảy nhóm nhiệm vụ với những giải pháp đổi mới giáo

dục trong đó nhấn mạnh đến yếu tố đổi mới PPD-H tại mọi cấp học, bậc học

Ngay từ đầu những năm 1990, các khía cạnh của đổi mới PPD-H đã được

nhiều nhà nghiên cứu đề cập như Đặng Vũ Hoạt, Ngô Hiệu với "Vấn đề hoàn thiện

các PPD-H" (1991), Trần Bá Hoành "Phương pháp tích cực" (1996), Nguyễn

Đình Chỉnh "Phương pháp dạy học - vấn đề cốt lõi, đổi mới không dễ" (1997), Nguyễn Hoàng Kì "Đổi mới phương pháp dạy học" (2000), Nghiêm Đình Vì "Tiếp

tục đổi mới PPD-H theo hướng "hoạt động hóa người học""(2000), Trần Trọng

Thủy "Vấn đề đổi mới nội dung, PPD-H nhìn từ góc độ Tâm lý học" (2000), Trần Viết Lưu "Những yếu tố ảnh hưởng tới việc đổi PPD-H ở nước ta hiện nay" (2001), Phan Đình Diệu, "Một cách nhìn về vấn đề đổi mới PPD-H" (2003) [25] Trong

những năm gần đây, ngành GD&ĐT đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học, hội tụ các nhà sư phạm, nhà khoa học, nhà quản lý uy tín nhằm nghiên cứu những giải pháp

thực hiện đổi mới PPD-H hiệu quả Ví dụ, hội thảo "Nâng cao chất lượng đào tạo"

toàn quốc lần thứ III được tổ chức tại Hà Nội tháng 6 năm 2002; hội thảo "Đổi mới PPD-H ở ĐH và CĐ" tháng 3 năm 2003, hô ̣i thảo "Đổi mới giáo dục đại học Việt

Trang 11

Nam - Hô ̣i nhập và thách thức" tháng 3 năm 2004, … Cơ sở lý luận và những điều

kiện thực tế cho đổi mới PPD-H cũng đã hình thành được những nền tảng cơ bản Song song với các công trình nghiên cứu, Nhà nước cũng đã đầu tư mỗi năm nhiều

tỷ đồng để mua sắm thiết bị GD nhằm hỗ trợ chuyển từ PPD-H thụ động, đọc - chép, dạy chay - học chay, sang GD chủ động, dạy và học gắn với thực hành

Tại Hội nghị Hiệu trưởng các trường ĐH, CĐ (10/5/2006) bản báo cáo tóm

tắt có tiêu đề "Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục ĐH Việt Nam giai đoạn

2006 - 2020, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của lãnh

đạo Bộ GD&ĐT trình bày đã tiếp tục đề ra những giải pháp và chương trình hành động cụ thể để triển khai thực hiện Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ

Trước mắt, để tập trung cho giai đoạn 2006-2010, về PPD-H, Bộ đã xác định rõ: "Từ

năm 2006 triển khai cuộc vận động đổi mới dạy và học ở ĐH theo quan niệm mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp nhằm tạo nên con người có các loại tiềm năng:

để học tập nghiên cứu sáng tạo; để phát triển cá nhân gắn kết với xã hội; để tìm, và tạo việc làm Đổi mới phương pháp dạy và học theo các phương châm: dạy cách học; phát huy tính chủ động của người học; và tận dụng công nghệ thông tin và truyền thông mới, giảm bớt giờ lên lớp, tăng thời gian tự học và thảo luận"

ĐH - CĐ và các yếu tố cản trở quá trình này

Theo phương hướng mà Nghị quyết TW2 (khoá VIII) và Chiến lược phát triển

giáo dục 2001-2010 đã đề ra, việc nâng cao chất lượng giáo dục ĐH ở nước ta trong

bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải đổi mới tổ chức quá trình đào tạo ĐH, đặc biệt là đổi mới PPD-H ở bậc ĐH và CĐ Vấn đề đổi mới PPD-H cũng đã được Bộ GD&ĐT và nhiều trường ĐH, nhiều nhà khoa học, nhà giáo quan tâm

Đề cập đến các vấn đề chung của đổi mới PPD-H ĐH có các tác giả tiêu

biểu như: Vũ Văn Tảo với "Vài nét về xu thế đổi mới phương pháp giảng dạy và

học tập ĐH trên thế giới" (1997), Lâm Mai Long "Tăng cường hiệu quả của đổi mới phương pháp trong các trường ĐH" (1998), Lê Văn Giáo và Nguyễn Thị An

Vinh "Một số ý kiến về đổi mới PPD-H ở ĐH" (1999), , Lê Đức Phúc "Về đổi mới

PPD-H ĐH" (2001), Trần Hữu Luyến "Mục đích, cơ sở, nội dung và giải pháp đổi mới PPD-H ở trường ĐH và CĐ" (2002), Phạm Xuân Hậu "Đổi mới PPD-H theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của SV" (2002), Nguyễn Thường

Lạng "Kết hợp giữa phương pháp giảng dạy truyền thống với phương pháp giảng

dạy hiện đại để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ĐH hiện nay" (2002), Lê

Khánh Bằng "Một số phương hướng đổi mới PPD-H ở ĐH" (2003), Đặng Xuân Hải "Vận dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi để chỉ đạo đổi mới PPD-H ở nhà

trường hiện nay" (2004), Lê Công Triêm, Nguyễn Đức Vũ, Lê Đình "Đổi mới PPD-H ĐH theo hướng đề cao vai trò chủ thể của người học" (2004), Trần Thị

Thanh Thủy "Một cách tiếp cận đối với việc đổi mới phương pháp dạy học ở ĐH"

(2005),… [25] và nhiều nhà nghiên cứu, nhà QLGD khác

Trang 12

Trong các hội thảo khoa học ở các cấp khác nhau, các vấn đề về PPD-H ĐH

và việc đổi mới để đáp ứng các nhu cầu, đòi hỏi bức thiết của xã hội đối với chất lượng đào tạo ở bậc học này đã được bàn đến rất nhiều Trong các hội thảo ở cấp

quốc gia như Hội thảo toàn quốc lần III "Nâng cao chất lượng đào tạo " (2002), Hội thảo "Đổi mới phương pháp dạy - học ở ĐH và CĐ" (2003), Hội thảo khoa học "Đổi

mới nội dung và phương pháp dạy học ở các trường ĐH sư phạm", đã có rất nhiều

tham luận về thực trạng công cuộc đổi mới PPD-H ở bậc ĐH cũng như các xu hướng phát triển và các giải pháp chung, kinh nghiệm cụ thể tại một số trường ĐH

và CĐ, trong đó có cả các trường sư phạm

Vấn đề đổi mới PPD -H ta ̣i các nhà trường cũng đã được quan tâm , nghiên cứu trong mô ̣t số luâ ̣n văn tha ̣c sỹ tại Khoa Sư pha ̣m - Đại học Quốc gia Hà Nội như

"Các biện pháp quản lý đổi mới việc thực hiện phương pháp giảng dạy tại Viện ĐH

Mở Hà Nội" của Nguyễn Mai Hương (2004) [29] và "Các biện pháp chỉ đạo đổi

mới PPD -H ở các trường trung học phổ thông quận Ngô Quyền thành phố Hải

Phòng" của Đào Thi ̣ Hu ệ (2004) [28] Các đề tài này có phân tích các yếu tố ảnh

hưởng đến quá trình đổi mới PPD -H nhưng tâ ̣p trung hơn vào nghiên cứu quy trình chỉ đạo đổi mới PPD -H trên tinh thần quản lý sự thay đổi

Trong thực tiễn, việc thực hiện đổi mới PPD-H ở các cơ sở GD ĐH còn gặp nhiều khó khăn, cản trở Bên cạnh những khó khăn khách quan (về cơ sở vật chất, về các nguồn lực cho bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ,…) cũng có nhiều cản trở mang tính chủ quan (ở CBQL, ở bản thân các GV, về tổ chức, chỉ đạo, điều hành) Trong các bài viết về đổi mới PPD -H ở bậc ho ̣c này , nhiều tác giả đã nêu lên thực trạng của quá trình và đề cập đến một số các yếu tố bất cập , gây cản trở đổi mới Cụ

thể, Phạm Minh Hùng với "Những lực cản đối với việc đổi mới phương pháp giảng

dạy ở các trường ĐH Việt Nam hiện nay" (2004) [55]; Lê Thu Hương với "Đổi mới giáo dục đại học : Yếu tố SV " (2004) [56]; Đặng Đình Cung với "Một số khó khăn trong đổi mới phương pháp giảng dạy bậc đại học " (2004) [54]; Bùi Văn Quân với

"Như ̃ng trở ngại trong đổi mới PPD -H dưới góc nhìn của quản lý " (2005) [39]; Lê

Tràng Định với "Rào cản đổi mới PPD-H hiê ̣n nay ở Viê ̣t Nam" (2006) [19]; …

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

"Phương pháp" là một khái niệm trừu tượng vì nó không mô tả những trạng

thái, những tồn tại tĩnh trong thế giới hiện thực mà chủ yếu mô tả phương hướng vận động trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Thuật

ngữ "phương pháp" bắt nguồn từ chữ "methodos" trong tiếng Hy Lạp và có nghĩa

là con đường, cách thức vận động của một sự vật hiện tượng để đạt tới một mục

đích nhất định Theo G.Hegel, "phương pháp là hình thức vận động của nội dung

sự vật" [34, tr.142] Phương pháp không tồn tại độc lập mà luôn gắn liền với nội

dung và hình thức tổ chức hoạt động Vì thế, khi nói đến phương pháp người ta

Trang 13

thường gắn nó với một lĩnh vực hoạt động cụ thể của con người, giúp cho con người hoàn thành được nhiệm vụ phù hợp với mục đích đã đề ra

Cùng chung quan điểm cho rằng phương pháp như cách thức, phương thức hoạt động để đạt được mục đích cụ thể [8, tr.31] nhưng theo cách tiếp cận của

K.Marx thì phương pháp có tính độc lập tương đối với nội dung, tức là có thể tách

tương đối giữa cái và cách triển khai vấn đề Cùng với phương tiện, phương pháp là

thước đo trình độ lao động

Theo Đại từ điển Tiếng Việt: phương pháp là cách thức tiến hành để có hiệu

quả cao [51, tr.1351] Nói cách khác, cái tạo ra sự khác biệt về trình độ và hiệu quả của một hoạt động chính là phương pháp

Theo Lưu Xuân Mới, phương pháp được hiểu theo nghĩa kế hoạch được tổ

chức hợp lý trong quản lý [33, tr.152] Trong những hoàn cảnh cụ thể phương pháp còn đồng nghĩa với các thủ thuật , biện pháp kỹ thuật

Như vâ ̣y, phương phá p có thể được hiểu là cách thức , con đường, phương

tiện, là tổ hợp các bước mà trí tuệ phải đi theo để tìm ra và chứng minh chân

lý, là tổ hợp những quy tắc, nguyên tắc dùng để chỉ đạo hành động Theo cách

đó, phương pháp được sử dụng trong quá trình tiến hành hoạt động dạy - học được gọi là phương pháp dạy - học

Theo cách hiểu về phương pháp như trên thì PPD-H là hình thức vận động của một hoạt động đặc thù: hoạt động dạy - học Đó là cách thức hoạt động cùng nhau của người dạy và người học hướng tới việc giải quyết các nhiệm vụ dạy học (bao gồm cả trang bị tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; hình thành các phẩm chất nhân cách; phát triển những khả năng và năng lực) PPD-H chính là cách mà người dạy chỉ đạo (tổ chức, điều khiển, lãnh đạo) hoạt động của người học và cách mà người học tiến hành hoạt động lĩnh hội năng lực người Từ trước đến nay đã tồn tại rất nhiều các quan niệm khác nhau về PPD-H

Iu Babansky quan niệm PPD-H là những cách thức hoạt động tương tác

được điều chỉnh của giáo viên và học sinh hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học [48, tr.226]

I.Ia.Lecne quan niệm PPD-H là một hệ thống những hành động có mục đích

của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo học sinh lĩnh hội nội dung học vấn [48, tr.226]

Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Hà Thị Đức quan niệm PPD-H là cách

thức hoạt động phối hợp thống nhất của người dạy và người học nhằm thực hiện tối

ưu các nhiệm vụ dạy học [26, tr.119] Theo các tác giả này, PPD-H có 3 chức năng:

chức năng nhận thức (tức nhờ nó mà người học nắm vững được hệ thống tri thức, kĩ

năng, kĩ xảo ở các mức độ từ thấp đến cao), chức năng phát triển năng lực hoạt

động trí tuệ (đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo) và chức năng giáo dục (hình thành

các phẩm chất đạo đức)

Trang 14

Theo Trần Bá Hoành thì PPD-H là "cách thức hoạt động của giáo viên trong

việc chỉ đạo tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt được các mục tiêu dạy học" [52, tr.27]

Quá trình dạy học là một quá trình bao gồm hai mặt hay hai quá trình bộ phận, quá trình DẠY của giáo viên và quá trình HỌC của học sinh, tồn tại trong mối quan

hệ biện chứng tác động qua lại với nhau Bởi thế, PPD-H cũng phải bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học, trong đó hai phương pháp này cũng tác động qua lại chi phối lẫn nhau

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu PPD-H là cách thức hay phương thức tiến

hành hoạt động dạy học để đi đến mục đích dạy học đã định

Theo khái niê ̣m trên , PPD-H có các đặc điểm sau:

- PPD-H phản ánh hình thức vận động của nội dung dạy - học;

- PPD-H phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt được mục đích học tập;

- PPD-H phản ánh cách thức hoạt động, tương tác, sự trao đổi thông tin, dạy học (truyền đạt và lĩnh hội) giữa thày và trò;

- PPD-H phản ánh cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức và kiểm tra - đánh giá kết quả nhận thức của học sinh; phản ánh cách thức tự tổ chức,

tự điều khiển, tự kiểm tra - đánh giá [33, tr.153]

Tương ứng theo các cấp độ của dạy học, tác giả Phan Trọng Ngọ cho rằng

PPD-H có 3 cấp độ Thứ nhất , PPD-H là cách thức tiến hành các hoạt động của người dạy và người học nhằm thực hiện một nội dung dạy học đã được xác định Thứ hai, PPD-H là phương pháp triển khai một quá trình dạy học cụ thể Thứ ba, PPD-H là cách thức triển khai của một hệ dạy học đa tầng, đa diện, cho một bậc học, cấp học, … [34, tr.146] Như vậy, ở những bậc học khác nhau thì PPD-H có những đặc điểm riêng biệt

Theo Điều 40, khoản 2 Luật Giáo dục (2005), "PPD-H ở bậc CĐ, ĐH phải

coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng"

Bản chất quá trình dạy học ở bâ ̣c ĐH là quá trình nhận thức có tính chất nghiên

cứu của SV, được thực hiện dưới vai trò chủ đạo của giáo viên Vì thế, PPD-H ĐH

phải xích gần với phương pháp NCKH Trên cơ sở quan niệm như vậy, Đặng Vũ

Hoạt, Hà Thị Đức đã đưa ra khái niê ̣m : "Phương pháp dạy học ĐH là tổng hợp

cách thức hoạt động của giáo viên và SV, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học

ở ĐH góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, kĩ thuật, cán bộ quản lý, nghiệp vụ

có trình độ đại học" [26, tr.120] Tương tự, tác giả Lưu Xuân Mới [33, tr.120], làm

rõ thêm chức năng của GV và SV trong quá trình dạy học ở ĐH: "Phương pháp dạy

học ĐH là tổng hợp các cách thức hoạt động tương tác được điều chỉnh của giảng

Trang 15

viên và SV, trong đó hoạt động dạy là chủ đạo, hoạt động học là tự giác, tích cực, tự lực, sáng tạo, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở ĐH, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ quản lý, nghiệp vụ có trình độ ĐH"

Như vậy, có thể thống nhất c oi PPD-H ĐH bao gồm các phương pháp dạy

và các phương pháp học trong sự thống nhất của GV và SV, trong đó hoạt động dạy của GV là chủ đạo, hoạt động học của SV là tự giác, tích cực, tự lực, sáng tạo và chủ động nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở ĐH [9, tr.11] PPD-H

đa ̣i ho ̣c hướng tới trang bi ̣ cho SV những tri thức khoa ho ̣c cơ bản , rèn luyện tay nghề và đă ̣c biê ̣t là rèn luyê ̣n cho ho ̣ phương pháp suy nghĩ, tự ho ̣c, tự nghiên cứu

Các đặc điểm của PPD -H đa ̣i ho ̣c đã được các tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị

Đức [26, tr.120-121] và Lưu Xuân Mới [33, tr.171-172], tổng kết như sau:

- Gắn liền với ngành nghề đào tạo, với thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống

và sự phát triển của khoa học, công nghệ;

- Ngày càng tiếp cận với phương pháp NCKH;

- Có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của SV;

- Có tính phong phú, đa dạng, thay đổi tùy theo trường ĐH, đặc điểm của bộ môn, điều kiện, phương tiện dạy học, đặc điểm nhân cách giáo viên và SV;

- Ngày càng gắn liền với các thiết bị và các phương tiện dạy học hiện đại

Một số PPD-H chủ yếu ở ĐH là: PP thuyết trình, PP giải quyết vấn đề, PP nghiên cứu trường hợp, PP nói chuyện chuyên đề, PP thảo luận nhóm, PP đóng vai,

PP nghiên cứu, PP thảo luận lớp, PP đàm thoại, [12, tr.325]

Theo Đa ̣i từ điển Tiếng Viê ̣t (1999) do Nguyễn Như Ý chủ biên [61, tr.657]:

Đổi mới là thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước Như vậy, đổi mới PPD-H là thay đổi phương pháp đã và đang dạy - học bằng phương pháp tối ưu hơn, đem lại hiệu quả cao hơn

Đổi mới PPD-H không phải là sự phủ nhận

hoàn toàn với PPD-H truyền thống mà phải

có sàng lọc, lưu giữ lại những tinh hoa của

các phương pháp đó để kế thừa và phát huy

một cách linh hoạt, sáng tạo trong hoàn cảnh

hiện tại Đồng thời phải vận dụng cho được

các PPD-H tiên tiến, hiệu quả trên thế giới

Đổi mới PPD-H gắn liền với hai mặt

có quan hệ biện chứng thống nhất với nhau

trong quá trình dạy học là dạy và học Đổi

mới phương pháp dạy không thể tách rời đổi

mới phương pháp học và ngược la ̣i Như

chúng ta đã biết , không có PPD-H nào nằm

ngoài nội dung dạy học cụ thể, hay PPD-H là

(Ghi chú : MT: mục tiêu; ND: nội dung;

GV: giáo viên; HS: học sinh; ĐK: điều kiện, Mtr: môi trường, H: hình thức dạy - học, KTĐG: kiểm tra đánh giá) [29, tr.25]

Trang 16

sự vận hành của nội dung dạy học Nội dung và PPD-H đều được thực hiện thông qua một hình thức tổ chức dạy học thực tế , xác định Vì thế, GS Hoàng Tuỵ đã rất

có lý khi cho rằng "không thể có sự đổi mới phương pháp trên cơ sở nội dung lạc

hậu" [11, tr.81]

Ngoài các mối liên hệ trên , quá trình dạy học còn luôn chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quan khác nên việc đổi mới PPD-H phải được gắn liền với các bộ phận có liên quan trong quá trình dạy học và đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa GV, học sinh, giữa các bộ phận quản lý và bộ phận phục vụ dạy - học Đổi mới PPD-H luôn là một quá trình phức tạp, diễn ra trong thời gian dài Nó đòi hỏi người dạy, người học và những người có liên quan phải có sự chuyển biến thực sự mạnh mẽ trong nhận thức và hành động, phải có ý chí bền bỉ, có quyết tâm cao khi

thực hiện [11, tr.112] Theo các tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa [24, tr.13] và

Trần Đức Tuấn , để đổi mới PPD -H hiệu quả cần hình thành nên mô ̣t cơ chế phối

hơ ̣p hoa ̣t đô ̣ng đổi mới của cả ba chủ thể của quá trình : Giáo viên - Học sinh - Cán

bô ̣ quản lý, tức là ta ̣o nê n "tam giác đổi mới " [47, tr.81]

Mô ̣t cách tổng quát , đổi mới PPD -H là đổi mới cách thức tổ chức hoạt

động nhận thức cho người ho ̣c và triển khai nội dung dạy học để đạt đ ược mục tiêu dạy học tốt nhất Quá trình đổi mới này được tiến hành trên ba góc độ : Cải

tiến, hoàn thiện PPD-H đang sử dụng để góp phần nâng cao chất lượng , hiệu quả của việc da ̣y - học; Bổ sung, phối hợp nhiều PPD-H để khắc phục mặt hạn chế của

Tăng cường năng lực thiết kế, tổ

chức & đánh giá chất lượng bài

học theo quan điểm đổi mới

Tạo ra môi trường và điều kiện thuâ ̣n lợi để đổi mới PPD-H

CBQL

GIÁO VIÊN

Tăng cường năng lực tự tìm kiếm, khai thác, xử lý & trình bày thông tin (kiến thức)

HỌC SINH

ĐỔI MỚI PPD-H Hình 1.2: Mô hi ̀nh "tam giác" của đổi mới PPD-H

Trang 17

phương pháp đã và đang sử dụng nhằm đạt được mục tiêu dạy - học; Thay đổi phương pháp đã và đang sử dụng bằng phương pháp mới ưu việt hơn, đem lại hiệu quả dạy - học cao hơn

Xuất phát từ mục tiêu đào tạo, việc dạy học ở bậc ĐH và CĐ đặt ra những yêu cầu riêng đối với PPD-H Trước xu thế phát triển chung của xã hội và yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo ĐH, vấn đề đổi mới PPD-H đã trở thành cấp thiết Đổi mới PPD-H ở ĐH và CĐ là bỏ qua những gì lỗi thời, đưa những yếu tố mới vào làm cho phù hợp với người học và thời đại Đổi mới đi liền với hiện đại hóa [11, tr.15] Ở đây, đổi mới có thể được hiểu theo nghĩa sử dụng PPD-H nào phù hợp và có hiệu quả nhất nhằm thay đổi phương pháp học của SV, hướng họ chủ động tư duy và thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp vấn đề một cách hệ thống trong mối quan hê ̣

cô ̣ng tác với các yếu tố khác của quá trình da ̣y - học như GV , tài liệu học tập , trang thiết bi ̣ da ̣y-học,

Theo quan điểm của Nghị quyết TW2 (khóa VIII) thì đổi mới PPD-H chính là

"…khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của

người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và định hướng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là SV ĐH, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo "

Trong tham luận trình bày tại Hội thảo khoa học "Đổi mới PPD-H ở ĐH và

CĐ" GS Vũ Văn Tảo đã viết: “Đổi mới PPD-H ĐH nhằm biến việc đổi mới mục

tiêu và nội dung thành hiện thực, bằng vai trò chủ động của người học - chủ thể của quá trình dạy học và vai trò hướng dẫn, chỉ đạo của người thày - tác nhân của quá trình dạy - học, trong điều kiện đổi mới của môi trường dạy học Đổi mới PPD-H

ĐH nhằm mục đích thực hiện chất lượng mới của giáo dục ĐH” Quan điểm này đã

được các thành viên hội thảo chia sẻ và tán thành [11, tr.47]

Như vậy, có thể hiểu đổi mới PPD-H ở ĐH, CĐ là đổi mới cách thức triển

khai nội dung dạy -học và cách thức tổ chức hoạt động nhận thức cho SV để đạt được mục tiêu dạy học tốt nhất , đảm bảo chuyể n từ mô hình da ̣y - học truyền thống, truyền đa ̣t tri thức thụ đô ̣ng sang mô hình dạy - học hợp tác, hướng dẫn

SV chủ đô ̣ng tư duy , giúp họ có phương pháp tự học , tự nghiên cứu, phát triển đươ ̣c năng lực cá nhân và năng lực là m viê ̣c cô ̣ng tác

1.2.6.1 Quản lý

Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của

con người Nó "xưa cũ như chính con người vậy" [14, tr.10] Tuy nhiên, chỉ mới gần

đây người ta mới chú ý đến "chất khoa học" của quá trình quản lý và dần dần hình thành các "lý thuyết quản lý" Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau:

K.Marx: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến

hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều

Trang 18

hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [31, tr.480]

F.W Taylor (1856 - 1915) là người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý

khoa học đã cho rằng cốt lõi trong quản lý là: "Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều

phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ" "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất" [16, tr.1]

Henri Fayol (1841 - 1925) thì lại xuất phát từ các loại hình hoạt động

quản lý khi cho rằng: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng

cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra" [16, tr.46]

H.Koontz (Mỹ): "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối

hơp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất" [30, tr.33]

Mary Parker Follett (1868 - 1933) đã có những đóng góp lớn lao trong

thuyết hành vi trong quản lý khẳng định: "Quản lý là một quá trình động, liên tục, kế

tiếp nhau chứ không tĩnh tại" [14, tr.33]

Theo Đại từ điển tiếng Việt: quản lý là "tổ chức, điều khiển hoạt động của

một đơn vị, một cơ quan", là "trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì" [51, tr.1363]

Nghĩa Hán Việt của "Quản" là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, duy trì sự vật ở trạng thái ổn định; quá trình "Lý" bao gồm sửa sang, sắp đặt công việc, đổi mới, đưa hệ thống đó vào phát triển Trong "quản" phải có "lý" thì toàn hệ mới có thể phát triển, trong "lý" phải có "quản" thì sự phát triển của hệ mới ổn định, bền vững [16, tr.2] Hai quá trình này phải được gắn bó chặt chẽ với nhau thì toàn hệ mới đạt được thế cân bằng động, tồn tại và phát triển phù hợp trong mối tương tác với các yếu tố bên trong và bên ngoài

Theo cố GS Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là sự tác động có mục đích tới

tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích

đã định trước" [16, tr.23]

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: hoạt động quản

lý là "tác động có định hướng , có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý ) đến

khách thể quản lý (người bị quản lý ) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [15, tr.1]

Từ những quan niệm trên, ta thấy bản chất chung của khái niệm quản lý là

một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể quản

lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả

Trang 19

nhất trong điều kiện biến động của môi trường Quản lý tồn tại trong mọi quá

trình hoạt động xã hội và là điều kiện quan trọng để tổ chức vận hành và phát triển

Trong khái niệm quản lý ta cần chú ý đến các yếu tố sau:

- Chủ thể quản lý: là một cá nhân, một nhóm người hay tổ chức tạo ra những tác động quản lý Nó trả lời câu hỏi: ai quản lý?

- Khách thể quản lý: là đối tượng tiếp nhận các tác động quản lý Khách thể quản lý có thể là người (trả lời câu hỏi: quản lý ai?), là vật (trả lời câu hỏi: quản lý cái gì?) hoặc sự việc (trả lời câu hỏi: quản lý việc gì?)

1.2.6.2 Các chức năng cơ bản của quản lý

Quản lý là một quá trình , mô ̣t khoa ho ̣c , mô ̣t nghê ̣ thuâ ̣t và có những chức năng riêng của nó Chức năng quản lý biểu thi ̣ hình thức tác đô ̣ng có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý , là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý

Có nhiều các h khác nhau phân loa ̣i các chức năng quản lý Căn cứ vào các giai đoa ̣n thực hành thì quản lý có bốn chức năng cơ bản là : kế hoa ̣ch hóa , tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra

- Kế hoa ̣ch hóa : Kế hoa ̣ch hóa là mô ̣t quá trình bắt đ ầu từ việc xác định mục

tiêu và đi ̣nh rõ chiến lược , kế hoa ̣ch, chính sách, thủ tục để đạt mục tiêu đó , đi ̣nh rõ các giai đoạn phải trải qua để thực hiện mục tiêu đã xác định của tổ chức

Kế hoa ̣ch hóa có vai trò quan t rọng vì nó là chức năng khởi đầu của quá trình

QL, tạo tiền đề cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác Nó cho phép nhà QL hình dung rõ hơn về quá trình phát triển của tổ chức , kịp thời phát hiện , ứng phó với sự thay đổi và tính không chắc chắn của môi trường , giúp tổ chức tập trung sự chú ý vào các mục tiêu và tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra

- Tổ chư ́ c : Chức năng tổ chức là quá trình xác đi ̣nh các công viê ̣c cần phải

đươ ̣c thực hiê ̣n , những người thực hiê ̣n các công viê ̣c đó , đi ̣nh rõ chức trách , nhiê ̣m

vụ, quyền ha ̣n của mỗi bô ̣ phâ ̣n , mỗi cá nhân cũng như mối liên hê ̣ giữa các bô ̣ phâ ̣n , giữa các cá nhân đó trong khi tiến hành thực hiê ̣n các công viê ̣c

Tổ chức được coi là chức năng cốt lõi của quản lý vì khi được tiến hành khoa học và có hiệu quả nó sẽ giúp người quản lý sử dụng triệt để nhất các nguồn lực của tổ chức, nhất là nguồn nhân lực , giúp cho các thành viên trong tổ chức phát huy tốt nhất năng lực sở trường, tích lũy kinh nghiệm , nâng cao trình đô ̣

- Lãnh đạo : Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ sẵn

sàng, cố gắng, hăng hái hướng tới viê ̣c hình thành các mục tiêu Như vâ ̣y, chức năng này bao gồm "việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức" [14, tr.4]

Lãnh đạo là một trong những hoạt động chủ yếu của các nhà quản lý vì nó giúp biến những sản phẩm của quá trình kế hoạch hóa và tổ chức thành hiện thực thông qua viê ̣c tác đô ̣ng đến con người Cũng thông qua lãnh đạo , tài năng của nhà

Trang 20

quản lý được thể hiện rõ né t với các công viê ̣c như ta ̣o lâ ̣p ảnh hưởng , hình thành uy tín với các thành viên , dẫn dắt tổ chức

- Kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân,

một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết [51, tr.4]

Kiểm tra giú p nhà quản lý xác đi ̣nh chính xác các nguyên nhân không đạt mục tiêu và kịp thời khắc phục , hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tới tổ chức

1.2.6.3 Biện pháp quản lý

Theo Đại từ điển tiếng Việt, biện pháp là "cách làm, cách thức tiến hành,

giải quyết một vấn đề cụ thể" [51, tr.161] Từ đó, có thể hiểu biện pháp quản lý là

tổng thể cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra

Có 4 loại biện pháp quản lý cơ bản là: biện pháp hành chính tổ chức, biện pháp kinh tế, biện pháp tâm lý - giáo dục và biện pháp thuyết phục

- Biện pháp hành chính - tổ chức: là cách tác động của chủ thể quản lý đến

đối tượng quản lý dựa trên mối quan hệ về mặt tổ chức của hệ thống tức là mối quan

hệ giữa quyền uy-phục tùng, điều hành-chấp hành, cấp trên-cấp dưới,

- Biện pháp kinh tế: là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng

quản lý dựa trên cơ sở lý thuyết động lực kinh tế với luận điểm: lợi ích kinh tế sẽ tạo

ra động lực thúc đẩy con người hành động mà không cần sự can thiệp về mặt hành chính của cấp trên

- Biện pháp tâm lý - giáo dục: (còn được gọi là biện pháp tuyên truyền giáo

dục) là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý ứng dụng thành tựu của các khoa học như Tâm lý học, Xã hội học, Khoa học giáo dục,

- Biện pháp thuyết phục: là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối

tượng quản lý dựa trên cơ sở các lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu này

Mỗi biện pháp quản lý được dựa trên những cơ sở khác nhau và có những ưu, nhược điểm riêng Vì thế, trong quá trình hoạt động nhà quản lý phải biết lựa chọn

và sử dụng nhiều biện pháp để chúng bổ sung cho nhau giúp hoạt động quản lý đạt kết quả tốt nhất

1.2.7.1 Quản lý giáo dục

Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của con người , có sự tham gia của nhiều thành tố khác nhau nhằm hướng tới một mục tiêu đào thế hệ trẻ cho đất nước Dưới góc độ coi giáo dục là một hoạt động chuyên biệt thì QLGD là quản lý các hoạt

đô ̣ng của một cơ sở giáo dục như trường học , các đơn vị phục vụ đào tạo , là sự điều

Trang 21

hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đạt được mục tiêu đào tạo Dướ i góc đô ̣ xã

hô ̣i, QLGD là quản lý mo ̣i hoa ̣t đô ̣ng giáo dục trong xã hô ̣i

Theo Nguyễn Ngọc Quang: "QLGD là hệ thống có mục đích, có kế hoạch,

hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên

lý của Đảng, thể hiện tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ

là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến tới trạng thái mới về chất" [40, tr.35]

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, QLGD là

hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ

thống đạt được mục tiêu của nó [17, tr.69-70] "Mục đích cuối cùng của QLGD

là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh , sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội" [49, tr.206] Trong thời đại "giáo dục cho tất cả mọi người" như hiện nay , mục

tiêu của giáo dục được cụ thể hoá là nâng cao dân trí , đào ta ̣o nhân lực , bồi dưỡng nhân tài Đối tượng của QLGD là toàn thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh và các

cơ sở vật chất kỹ thuật như trường, lớp, các trang thiết bị dạy - học, … và các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chức năng của giáo dục

1.2.7.2 Quản lý nhà trường

Nhà trường là một tổ chức giáo dục, là cơ sở trực tiếp thực hiện mục tiêu đào

tạo, là "vầng trán của cộng đồng" [23, tr.210] với vai trò hình thành "nhân cách -

sức lao động", phục vụ phát triển cộng đồng

Bàn về vấn đề này, Phạm Minh Hạc viết: quản lý nhà trường l à "đưa nhà

trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục" [20, tr.12]

Theo Phạm Viết Vượng : "Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan

quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của gi áo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD&ĐT trong nhà trường" [49, tr 21]

Trong cuốn Tâm lý học quản lý, Hoàng Minh Thao nêu rõ: "Quản lý trường

học là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch) mang tính

tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể GV, học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường làm cho quá trình này vận hành một cách tối

ưu tới việc hình thành mục tiêu dự kiến" [43, tr.11]

Tóm lại, "quản lý nhà trường là một quá trình tác động có ý thức (tác

động thông qua các chức năng quản lý theo các nguyên tắc định hướng vào mục tiêu

giáo dục, bằng các biện pháp QL hợp với các đối tượng QL…) của bộ máy quản lý

nhà trường lên các khách thể QL (mọi người tham gia vào quá trình GD&ĐT của

nhà trường, các nguồn lực, điều kiện cho hoạt động giáo dục đào tạo của nhà

trường)" [22, tr.27]

Trang 22

1.2.8 Quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy - học trong nhà trường

Đổi mới PPD-H là tạo ra những thay đổi trong một khâu của quá trình dạy học - một quá trình cơ bản trong hoạt động của nhà trường Vì thế, chắc chắn nó sẽ tạo ra những thay đổi trong nhà trường Dù xuất phát từ góc độ nào thì sự đổi mới này cũng đặt ra cho người quản lý nhà trường những nhiệm vụ và thách thức nhất định, làm sao để quá trình đổi mới diễn ra một cách có hiệu quả nhất và ít gây ra

những xáo trộn không cần thiết trong tổ chức Quản lý quá trình đổi mới PPD -H

về thực chất chính là quản lý sự thay đổi Nó bao gồm kế hoạch hóa , điều hành, chỉ đạo triển khai và kiểm tra những đổi mới về PPD -H để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng dạy - học

Theo lý thuyết quản lý sự thay đổi, việc quản lý quá trình đổi mới PPD-H diễn

ra theo "11 bước" [21, tr.10], cụ thể như sau:

- Bước 1: Nhận thức những vấn đề liên quan đến sự thay đổi

- Bước 2: Chuẩn bị cho sự thay đổi

- Bước 3: Thu thập số liệu, dữ liệu

- Bước 4: Tìm các yếu tố khích lệ, hỗ trợ việc đổi mới PPD-H

- Bước 5: Xác định mục tiêu cụ thể cho các bước chỉ đạo đổi mới PPD-H

- Bước 6: Xác định trọng tâm của các mục tiêu

- Bước 7: Liệt kê các giải pháp thúc đẩy quá trình đổi mới PPD-H

- Bước 8: Lựa chọn giải pháp trên cơ sở khả năng chỉ đạo của người quản lý

và điều kiện hoàn cảnh cụ thể của trường

- Bước 9: Lập kế hoạch chỉ đạo việc thực hiện đổi mới PPD-H

- Bước 10: Đánh giá sự thay đổi

- Bước 11: Đảm bảo sự tiếp tục đổi mới

1.3 Các xu hướng cơ bản trong đổi mới PPD-H ở bậc ĐH - CĐ

Ngay từ những năm 1970, vấn đề đổi mới PPD -H đã được các nhà khoa học , nhà giáo dục tại nhiều nước phát triển như Pháp , Đức, Hà Lan, … quan tâm nghiên

cứu một cách rộng rãi Theo nghiên cứu của cố GS.Nguyễn Ngo ̣c Quang [41, tr.100],

xu hướng đổi mới PPD -H trên thế giới có ba đă ̣c trưng cơ bản sau :

- PPD-H được đổi mới theo hướng "tự ho ̣c có hướng dẫn", đòi hỏi tỷ tro ̣ng tự lực cao ở người ho ̣c , đồng thời với sự điều khiển sư pha ̣m thông minh , khéo léo của người da ̣y Mục đích của đổi mới là đáp ứng nhu cầu hiê ̣u quả , chất lượng và năng suất ho ̣c tâ ̣p của nhiều đối tượng người ho ̣c khác nhau , tạo điều kiện để người học

"vào" và "ra" khỏi hệ thống đào tạo đã được phân hóa , cá thể hó a cao độ của nhà trường một cách không khó khăn và tiến lên theo nhi ̣p đô ̣ cá nhân

- Quy luật cơ bản chi phối chiến lược đổi mới PPD -H là quy luâ ̣t về sự chuyển hóa của PP khoa ho ̣c - kỹ thuật thành PPD -H, thông qua xử lý sư ph ạm Những tiếp câ ̣n khoa ho ̣c hiê ̣n đa ̣i (như tiếp câ ̣n hê ̣ thống , ) trong PP khoa ho ̣c - kỹ thuâ ̣t đã làm xuất hiê ̣n những tổ hợp PPD -H phức hợp như algorit da ̣y ho ̣c , module

Trang 23

dạy học, Chỉ những tổ hợp này mới cho phép GV phố i hơ ̣p có hiê ̣u quả với những

hê ̣ truyền thông đa kênh , kể cả kỹ thuâ ̣t vi tính , điều mà các PPD -H cổ truyền không

có khả năng Đây là xu hướng đầy triển vo ̣ng của viê ̣c sáng ta ̣o ra các PPD -H mới

- Việc đổi mới PPD -H chi ̣u ảnh hưởng của quan điểm tiếp câ ̣n hê ̣ thống Nghĩa là, mọi đổi mới PPD -H phải gắn liền và chi ̣u sự chi phối của cả mục tiêu , nô ̣i dung lẫn hình thức tổ chức da ̣y ho ̣c

Tại Việt Nam, mọi người đều thừa nhận việc học chay, dạy chay, thày đọc - trò chép không thể được tiếp tục kéo dài Từ cuối thế kỷ XX , cuô ̣c cách ma ̣ng đổi mới về PPD -H đã được tiến hành song song với viê ̣c đổi mới nô ̣i dung da ̣y ho ̣c theo hướng hiê ̣n đa ̣i hóa Bản chất của nó là chuyển từ các phươ ng pháp truyền tin sang các phương pháp tổ chức và điều khiển để người học tự mình tìm tòi , phát hiện , chiếm lĩnh nô ̣i dung ho ̣c vấn bằng chính hành đô ̣ng và thao tác của ho ̣ [44, tr.16]

Trong mô ̣t số công trình nghiên cứu , các tác giả Lê Khánh Bằng, Lê Công Triêm,

Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức đã có cùng quan điểm cho rằng cuô ̣c cách ma ̣ng về

PPD-H ở nước ta diễn ra theo ba xu hướ ng chủ yếu [26, tr.139 và 11, tr.38] Đó là:

- Tích cực hóa hoạt động nhận t hứ c Phát huy cao độ nội lực của người học

bằng cách vận dụng quan điểm dạy học của Hồ Chí Minh: "Cách học tập: lấy tự

học làm cốt Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào" [37, tr.27] Cần xem mục tiêu của

việc học là học cách học , biến quá trình da ̣y ho ̣c t hành quá trình tự học Theo quan điểm này cần phát huy cao độ sức mạnh và tiềm năng vật chất, tinh thần của bản thân người học với sự hỗ trợ của thày và bạn để họ có thể trở thành những con người, những cán bộ khoa học kỹ thuật và quản lý năng động, sáng tạo, mang đậm bản sắc dân tộc, thời đại, hết sức tự tin và biết tự khẳng định mình, có ý chí và năng lực tự học suốt đời về cả ba mặt thể chất, đạo đức và trí tuệ

- PPD-H đại ho ̣c phải góp phần tăng cường rèn luyện năng lực nghề nghiệp cho SV , đảm bảo ho ̣ nắm vững nghề nghiê ̣p chuyên môn của mình để sau khi tốt nghiê ̣p có khả năng hoa ̣t đô ̣ng tốt trong lĩnh vực ngành nghề đã cho ̣n Theo hướ ng này, công tác đào tạo phải được gắn với NCKH và thực tiễn sản xuất , từng bước làm cho phương pháp ho ̣c của SV ngày càng thống nhất với phương pháp NCKH

- Công nghệ hóa quy trình da ̣y ho ̣c Xây dựng và sử dụng tối ưu các phương tiện kỹ thuật dạy-học, đặc biệt là các phương tiện của CNTT và truyền thông

Theo các xu hướng trên, mục tiêu cơ bản của quá trình đổi mới PPD-H ở các trường ĐH - CĐ [38, tr.16 và 46, tr.39] là :

- Phải phát huy tính tích cực, chủ động học tập của SV, làm cho họ tự giác

và hứng thú học tập Đây là điều kiện tiên quyết để đổi mới PPD-H có hiệu quả

- Phải làm cho SV nắm được tri thức cơ bản, khoa học và đặc biệt là biết vận dụng những tri thức đó vào giải quyết được những vấn đề của thực tiễn xã hội

- Phải làm cho SV có khả năng vừa học tập, vừa nghiên cứu Khơi dậy tính sáng tạo, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu của họ Điều này đảm bảo cho SV có tay nghề vững và có thể tiếp tục việc NCKH sau khi ra trường

Trang 24

- Phải giúp cho SV tiếp cận được các phương tiện, thiết bị học tập và nghiên cứu hiện đại, tiến dần đến việc biết sử dụng các thiết bị đó với tư cách là các công cụ

để thay đổi phương pháp, thói quen học tập, nghiên cứu, suy nghĩ và làm việc

1.4 Các yếu tố cản trở thường gặp trong quá trình đổi mới PPD-H ở bậc đại học - cao đẳng và những biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố này

1.4.1.1 Những yếu tố liên quan đến giáo viên

Trong tất cả các yếu tố để đảm bảo đổi mới PPD-H thành công thì GV là đối tượng phải được quan tâm đầu tiên vì chính họ là những người triển khai cụ thể các phương pháp dạy , trực tiếp tác động , hướng dẫn SV vươn tới mục tiêu của quá trình đào tạo Họ cũng chính là người triển khai các chủ trương của nhà QL về đổi mới PPD-H vào thực tiễn dạy-học Chỉ khi GV xác định đổi mới PPD-H như là một nhu cầu tự thân, không mang tính áp buộc thì họ mới thực sự phát huy sáng tạo và làm quá trình đổi mới đi vào chiều sâu, chất lượng và bền vững

Thực tiễn đào tạo ĐH những năm qua cho thấy, khi tiến hành đổi mới PPD-H

đã xuất hiện nhiều yếu tố trở ngại liên quan đến GV kể cả khách quan và chủ quan

 Nhận thức và tâm lý

Những cản trở về mặt tâm lý và nhận thức đã ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức

và tính tự giác đổi mới của không ít GV Các yếu tố này bao gồm:

+ Mô ̣t số GV cho rằng đổi mới PPD -H hiện nay chỉ mang tính hình thức , là công việc của các nhà nghiên cứu , QLGD là chính Những thành tích , danh hiệu

"GV dạy giỏi " hay bằng cấp , học hàm, học vị theo đú ng yêu cầu "chuẩn hoá " của trường, những uy tín và kinh nghiệm đã thu được trong những năm công tác làm nảy sinh ở một số GV tư tưởng "bằng lòng ", "an phận", không cần đổi mới hoă ̣c không cần sốt sắng đổi mới PPD-H Ở một số GV khác, các tư tưởng như "trung bình chủ nghĩa", "biên chế nhà nước", "công thần ", "chuẩn bị về hưu ", … đã khiến họ ngại động não, ngại va chạm để tìm những hướng đi tích cực hơn cho PPD -H của mình

+ Mô ̣t số GV quan niê ̣m đổi mới PPD -H là phải thay thế hoàn toàn những PPD-H hiện nay bằng hê ̣ thống PPD -H mới, hiê ̣n đa ̣i Mô ̣t số khác la ̣i đánh đồng đổi mới PPD-H với viê ̣c sử dụng toàn những phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c kỹ thuâ ̣t tinh vi , phức tạp, Cả hai quan niệm này đều không phản ánh đúng thực chất của vấn đề , làm nảy sinh những lo lắng hoặc đòi hỏi đầu tư thái quá dẫn đến thực hiê ̣n sai chủ trương đổi mới PPD-H

+ Các quan niê ̣m như : "dạy ĐH chỉ là dạy nội dung " và "cứ giỏi về kiến thức chuyên môn là có thể dạy tốt", "dạy giỏi là tài năng bẩm sinh của một số người" vẫn còn tồn tại Nhận thức này không sai nhưng chưa đầy đủ vì : Giỏi chuyên môn là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho da ̣y ho ̣c tốt ; Bên cạnh đó , trong khuôn khổ 4 - 5 năm học ở trường , không GV nào có thể trang bi ̣ cho SV tất

Trang 25

cả mọi kiến thức để họ hành nghề suốt đời Những nhận thức này phủ nhận việc đổi mới PPD-H và khả năng cải tiến PPD-H của mọi GV

- Tâm ly ́ e nga ̣i, lo lắng

Bất cứ sự đổi mới nào cũng chứa đựng những rủi ro và đòi hỏi chấp nhận những mạo hiểm Yêu cầu đổi mới PPD-H có thể khiến không ít GV có những lo lắng, bất an như:

+ Băn khoăn, thiếu tự tin do chưa được chuẩn bị đầy đủ về lý luận và kỹ năng áp dụng các PPD-H mới

+ Lo lắng về những thay đổi trong kế hoa ̣ch làm việc và thời gian nếu phải tham gia đổi mới PPD -H như: không sắp xếp được thời gian để tham gia các lớp tâ ̣p huấn về PPD -H hiê ̣n đa ̣i , phải dành nhiều thời gian , công sức để thu thâ ̣p tài liê ̣u , soạn lại giáo án cho phù hợp với PPD -H mới, phương tiện hiê ̣n đa ̣i ,

+ Tư tưởng "thành tích" làm cho GV lo ngại không đạt được thành công như khi dạy bằng PP truyền thống đã quen thuộc lâu nay và phải đối mă ̣t với nguy

cơ bi ̣ đào thải nếu không đáp ứng được các yêu cầu của PPD -H hiê ̣n đa ̣i Viê ̣c phải từ bỏ những thói quen da ̣y h ọc đã ăn sâu trong từng giờ lên lớp cũng khiến GV khó chấp nhâ ̣n thay đổi

+ Lo "cháy giáo án " do phải tích cực đối thoại , phát vấn nhiều hoă ̣c tổ chức các hoạt động dạy học tích cực trong giờ học , đă ̣c biê ̣t là với những bài ho ̣c có nội dung dài nhưng chỉ được quy đi ̣nh khung thời gian ha ̣n he ̣p

+ Lo nga ̣i không kiể m soát tốt thảo luâ ̣n của SV hoă ̣c phải "va chạm " ý kiến, nhất là trước những vấn đề "nhạy cảm" Tâm trạng này có thể thấy ở những

GV trẻ, vốn sống kinh nghiệm thực tiễn còn ít , trong khi các SV có nhiều thông tin hơn, rất hăm hở trong việc thảo luận, chia sẻ ý kiến và kể cả "thử tài" GV

+ Mô ̣t số GV e nga ̣i bị đồng nghiệp đánh giá chưa đúng về mình Họ rất muốn áp dụng PPD-H mới nhưng lại ngại bị coi là "chơi trội"

+ Yếu tố lòng tin đối với trình độ của SV cũng ảnh hưởng không ít đối với quyết tâm đổi mới của GV Sự không yên tâm về tính hê ̣ thống và chă ̣t chẽ của những kiến thức SV đã lĩnh hô ̣i cũng như những kỹ năng tư duy của h ọ khiến một số

GV cho rằng những PPD-H hiện đại chỉ phù hợp với những SV khá giỏi chứ không thể áp dụng rộng rãi cho mọi đối tượng [58, tr.1] Mô ̣t số GV khác la ̣i e nga ̣i về viê ̣c

cả thày và trò đều chưa quen với cách thức làm việc mới , làm việc cộng tác trong giờ ho ̣c sẽ ảnh hưởng đến kết quả truyền thụ và tiếp thu kiến thức

+ Đổi mới PPD-H không phải là công việc của chỉ một GV mà phải là sự

nỗ lực của cả tập thể nhà trường Ở một số cơ sở, do còn thiếu sự đồng thuận, thiếu

sự chia sẻ kinh nghiệm giữa cán bộ quản lý và các đồng nghiệp khác, nhiều GV còn cảm thấy lạc lõng, cô đơn trên con đường gian nan này Khi thành công họ không được khuyến khích kịp thời, không biết sẻ chia những kinh nghiệm với ai để tiếp tục nhân rộng Khi thất bại họ thiếu sự an ủi, động viên, thiếu những chỉ dẫn chân thành

để khắc phục các thiếu sót, thậm chí còn bị dè bỉu, bị tiếng "oan", do phản ứng của

Trang 26

một vài SV không tích cực Những bất cập trên đã ảnh hưởng đến uy tín, quyền lợi của GV và có thể dập tắt động lực, làm nản lòng những GV tâm huyết với nghề, gây ảnh hưởng xấu đến tiến trình cải tiến PPD-H

+ Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về đổi mới PPD-H cùng tồn tại Việc có quá nhiều hoặc quá ít thông tin về đổi mới PPD-H cùng với sự định hướng cho GV lọc thông tin chưa khoa học đã khiến họ bị nhiễu thông tin và là một yếu tố tạo sự cản trở trong đổi mới PPD-H [39, tr.50]

+ Khi muốn áp dụng PPD-H mới, bên cạnh trình độ chuyên môn vững vàng, người GV phải vất vả hơn rất nhiều trong và ngoài giờ dạy Việc thiếu những nguồn lực vật chất giúp sức cho GV như kinh phí in ấn tài liệu phát tay, sao chụp các phiếu học tập, mẫu báo cáo, bảng số liệu, chế độ tiền lương, … trong điều kiện cuộc sống còn nhiều khó khăn khiến việc động viên GV nhiệt tình đầu tư vào cải tiến PPD-H là điều không dễ

và tổ chức các hoạt động giúp SV chủ động khám phá kiến thức , khó tạo ra và hướng SV tới các tình huống có vấn đề của môn học đó một cách hiệu quả [57, tr.2] Gặp trở nga ̣i , GV dễ dàng quay trở về lối mòn an toàn là độc thoại, đọc - chép, áp đặt cho SV những kiến thức hàn lâm đã có sẵn trong giáo trình và coi đó là đã hoàn thành nhiệm vụ

+ Để đổi mới PPD -H, mỗi GV phải có nghiệp vụ sư phạm vững vàng và nhất thiết phải hiểu rõ về các PPD -H, các đặc trưng , ưu, nhược điểm của chúng Trên thực tế, nhiều GV hăm hở đổi mới PPD-H trong khi chưa nắm vững về nó nên còn rất lúng túng trong các bước đi cụ thể

- Kỹ năng của GV

+ Theo xu hướng đổi mới PPD -H, viê ̣c đào ta ̣o t rong các trường ĐH phải nhằm rèn luyê ̣n kỹ năng nghề nghiê ̣p cho SV Sự yếu kém trong rèn luyện thực tiễn khiến việc dạy của GV không thể đáp ứng tốt yêu cầu này

+ Kỹ năng ứng dụng các PPD-H hiện đại và phối hợp chúng với các PPD-H truyền thống chưa tốt gây khó khăn cho GV trong viê ̣c chuyển tải nô ̣i dung dạy - học đến SV và làm giảm hiệu quả của giờ học rất nhiều

+ Những thiếu hụt , hạn chế trong kỹ năng sử dụng phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c hiê ̣n đa ̣i làm nao núng nhiều GV khi họ b ắt tay vào quá trình đổi mới PPD-H và trực

Trang 27

tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả dạy - học, thậm chí gây phản tác dụng đối với đổi mới PPD-H do không phát huy được các ưu điểm của PPD-H mới

+ Hạn chế trong kỹ năng sử dụng máy tính , internet,… gây khó khăn r ất nhiều cho GV trong viê ̣c tìm kiếm , câ ̣p nhâ ̣t thông tin , soạn bài, truyền đạt thông tin , trao đổi ý kiến với SV ,… Không sử dụng tốt ngoại ngữ đã ngăn cản GV tiếp câ ̣n những thông tin , trao đổi kinh nghiệm trực tiếp với chuyên gia nước ngoài, đọc những tài liê ̣u mới về chuyên môn và PPD -H bằng tiếng nước ngoài trong khi những tài liệu này ở Viê ̣t Nam chưa có nhiều hoặc chưa cập nhật kịp

1.4.1.2 Những yếu tố liên quan đến sinh viên

 Nhận thức và tâm lý

Cũng giống như đối với các GV, bản thân các SV cũng vấp phải nhiều trở ngại về mặt tâm lý và nhận thức khi họ tham gia vào quá trình đổi mới PPD-H

- Nhận thức chƣa đúng về đổi mới PPD-H

+ Một bộ phận SV cho rằng việc dạy học là của GV, của nhà trường, không liên quan nhiều đến họ Họ thờ ơ, không bận tâm đến đổi mới PPD-H

+ Nhiều người có suy nghĩ chẳng cần đổi mới làm gì vì cứ với phương pháp học như hiện tại họ vẫn trả bài thi, vẫn lên lớp, ra trường, … bình thường

- Tâm lý ỷ lại

+ Ảnh hưởng của những quan niệm truyền thống về dạy và học, về thày và trò cùng với lối mòn học tập, thi cử trong suốt những năm học phổ thông đã tạo ra một sức ỳ khiến nhiều SV ỷ lại, phụ thuộc hoàn toàn vào GV Trong suy nghĩ của

họ, sự lựa chọn PPD-H của thày luôn là quyết định, là chuẩn mực nên chẳng cần phải tìm hiểu thêm, cứ làm theo những gì thày đã truyền đạt là đủ

+ Ảnh hưởng của tâm lý thi cử và sức ỳ của cách dạy - học truyền thống khiến nhiều SV chỉ muốn học làm sao vừa đủ thông tin để đi thi Với họ, cách dạy - học "đọc - chép" là "chắc ăn" nhất vì đến kỳ thi họ chỉ việc học lại những gì GV đã cho ghi chép trong vở là đủ, không phải mất công tìm các tài liệu khác

- Tâm lý e ngại, lo lắng

+ Để đổi mới PPD-H, SV cần thay đổi cách học theo hướng chủ động, tự nghiên cứu Điều này đòi hỏi SV phải làm việc nhiều hơn, mất nhiều thời gian để tìm tài liệu, đọc thêm sách, chuẩn bị bài trước khi lên lớp , làm nảy sinh tâm lý ngại đọc, ngại vất và cản trở họ tích cực tham gia vào quá trình này

+ SV lo ngại về việc khi đổi mới PPD-H họ "học tích cực" nhưng cuối kỳ, hết môn họ vẫn "thi tái hiện", chủ yếu là tự luận Cách kiểm tra đánh giá này thường chỉ lợi cho những SV đã chăm chỉ chép bài theo lời đọc của thày hoặc "học tủ" Vì thế, quan niệm chỉ cần "học theo cách nhà trường sẽ tổ chức kiểm tra - đánh giá" nảy sinh và hạn chế hứng thú cải tiến cách học của SV

+ Tâm lý thụ động, tự ti về bản thân còn tồn tại Nhiều SV có thói quen học thụ động ngay từ nhỏ, luôn lắng nghe nhưng nhiều khi không hiểu, cũng e ngại

Trang 28

không dám bày tỏ các vướng mắc để trao đổi với các bạn hoặc với GV Bản tính rụt rè, ngại nêu ý kiến, ngại tranh luận đã gây khó khăn không nhỏ cho chính bản thân

họ trong quá trình tiếp thu tri thức nhưng đồng thời cũng là một rào cản đối với đổi mới PPD-H Hiện tượng này thường xảy ra với các SV ít được rèn luyện trong môi trường quan hệ giao tiếp cởi mở, đặc biệt là các em từ nông thôn [54, tr.4]

+ SV còn ngại bị các bạn trong lớp cho là "trơi chội', "thích thể hiện" khi tích cực tham gia xây dựng bài hoặc sợ bị chê cười do phát biểu sai Có một thời gian hiện tượng SV "lười" giơ tay phát biểu trong giờ học đã được các cơ quan báo chí mổ xẻ, phê phán

+ Ý thức, động cơ và mục tiêu học tập thiếu tích cực của SV là một yếu tố cản trở hoạt động đổi mới PPD-H Bên cạnh những SV đến giảng đường với những mục đích học tập nghiêm chỉnh, còn không ít người đến trường chỉ vì những nguyên nhân khác như áp lực của xã hội và gia đình về một tấm bằng ĐH, "đi học hộ bố mẹ", đi học để thể hiện đẳng cấp,… Vì thế, họ không cần quan tâm đến đổi mới, thậm chí còn "phá ngang" Nhiều SV có xuất thân từ các vùng miền khác nhau Những ảnh hưởng của điều kiê ̣n môi trường kinh tế - xã hội , hoàn cảnh gia đình buộc họ phải đi làm thêm để trang trải chi phí ho ̣c tâ ̣p Sự thiếu hụt về thời gian , chia

sẻ sức lực, tâm trí cho nhiều mục tiêu khiến ho ̣ gă ̣p khó khăn trong viê ̣c đáp ứng các yêu cầu đổi mới PPD -H

 Trình độ và kỹ năng

Đổi mới PPD-H đòi hỏi SV phải có những kỹ năng cần thiết như: kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, kỹ năng học tập độc lập, kỹ năng sử dụng vi tính, ngoại ngữ, khả năng thích ứng với những PP học tập mới, … Sự hạn chế về trình độ và những kỹ năng ảnh hưởng đến quá trình đổi mới PPD-H được biểu hiện như sau

áp dụng các PPD-H hiện đại nhiều SV cảm thấy rất hay và thích thú Tuy nhiên, khi

GV phát vấn hoặc tổ chức các hoạt động học tập khác nhau thì họ lại hưởng ứng một cách cầm chừng, đùn đẩy nhau Một lý do dẫn đến hiện tượng này chính là những

"lỗ hổng" trong kiến thức của họ

+ Trình độ kiến thức của nhiều SV "đầu vào" đại học còn thấp và không đồng đều cùng ảnh hưởng của cách học thụ động ở bậc phổ thông gây ảnh hưởng đến việc xếp lớp, khó tạo mặt bằng thuận lợi cho những cải tiến PPD-H

Trang 29

- Yếu tố kỹ năng

+ Kỹ năng đặt và giải quyết vấn đề kém cộng với chưa có thói quen hoài nghi khoa học khiến SV chưa biết cách chủ động phát hiện những chỗ hổng trong kiến thức của mình và tìm cách bù đắp

+ Những hạn chế trong kỹ năng học của SV khiến họ trở nên thụ động, làm theo GV một cách máy móc, trái với bản chất của đổi mới PPD-H Theo một nghiên cứu của PGS.TS Phạm Minh Hùng (Trường ĐH Vinh) về phương pháp học tập của

SV ở một số môn học thì 74,5% SV học theo vở ghi là chủ yếu, chỉ có 7,6% SV biết

tự nêu và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập [10, tr.389]

+ Phương pháp giáo dục áp đặt , thụ động ngay từ khi mới đi học đã ảnh hưởng tiêu cực đến các thao tác tư duy của SV như phân tích , so sánh, tóm tắt, quy nạp, Thiếu các kỹ năng tự nghiên cứu và tự tổ chức học ngoài giờ lên lớp đã làm

SV khó có thể nắm vững, nắm sâu, phát triển kiến thức hoặc vận dụng chúng để giải quyết các tình huống thực tiễn Nhiều SV không có thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp Một số khác muốn chuẩn bị nhưng không biết phải chuẩn bị gì, chuẩn bị như thế nào do thiếu thông tin về chủ đề học sắp tới Khi đến lớp họ cứ ngồi yên, nghe thày độc diễn, ảnh hưởng đến không khí học tập tích cực trên lớp

+ Đổi mới PPD-H đề cao tính chủ động , tích cực hoạt động của người học

Vì thế, sự hạn chế của SV trong các kỹ năng giao tiếp , thảo luận, cộng tác học tập, làm việc theo nhóm, trình bày vấn đề và bảo vệ quan điểm cá nhân trước tập thể cũng là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của những hoạt động học tập được tổ chức trong giờ học Do thiếu chủ đô ̣ng , nhiều SV còn lúng túng , không ki ̣p thích nghi với những đổi mới của GV

+ Trước khi học ĐH nhiều SV chưa từng được tiếp xúc với các phương tiện dạy học hiện đại nên không có kỹ năng sử dụng Họ rất ngại ngùng khi được yêu cầu làm việc với chúng hoặc không thể khai thác hết các tính năng của thiết bị cho mục đích học tập, nghiên cứu của mình Mặc dù, máy vi tính đã trở thành quen thuộc với

đa ̣i đa số SV nhưng nhiều SV (trừ các SV chuyên ngành tin học) còn lúng túng khi phải sử dụng máy tính như một công cụ học tập , chẳng hạn như thiết kế bài thiết trình hoặc tìm tài liê ̣u tham khảo trên internet ,

+ Viê ̣c da ̣y và ho ̣c ngoa ̣i ngữ cò n nhiều bất câ ̣p nên SV gặp nhiều khó khăn khi tiếp câ ̣n các tài liê ̣u bằng tiếng nước ngoài Việc đo ̣c thêm sách , tài liệu tham khảo, trao đổi giữa SV với GV , chuyên gia hoă ̣c với các SV khác chưa được SV hưởng ứng theo tinh thần đ ổi mới PPD-H

1.4.1.3 Những yếu tố liên quan đến các cấp quản lý

Tham gia vào quá trình đổi mới PPD -H không chỉ có GV và SV mà còn có sự góp mặt rất quan trọng của đội ngũ CBQL các cấp từ Trường đến Khoa và Bộ môn Trong "tam giác đổi mới PPD -H" họ là đầu mối tạo dựng môi trường và điều kiện thuâ ̣n lơ ̣i cho quá trình này Tuy nhiên , cũng có những yếu tố trở ngại đổi mới PPD-H xuất phát và liên quan đến đô ̣i ngũ CBQL

Trang 30

 Nhâ ̣n thức và tâm lý

Đứng trước xu thế đổi mới PPD-H được thể hiện rõ nét trong những văn bản của các cấp quản lý nhà nước và thực tiễn, đại đa số CBQL đều có những thay đổi tích cực trong nhận thức về tính cấp thiết và quan trọng của quá trình này đối với chất lượng đào tạo của nhà trường Mặc dù vậy, vẫn còn một số nhận thức chưa đúng đắn tồn tại trong suy nghĩ của các CBQL gây trở ngại cho việc triển khai đổi mới Đó là:

- CBQL nhận thức đổi mới PPD-H là công việc chỉ liên quan đến GV và SV

là chính nên họ còn thờ ơ, chưa thực sự quan tâm đầy đủ, thiếu chia sẻ và quyết tâm cùng GV vượt qua những yếu tố trở ngại khi triển khai đổi mới

- Nhận thức về tư duy giáo dục, tư tưởng về tổ chức dạy- học của CBQL chưa rõ ràng và đầy đủ Họ chưa sẵn sàng từ bỏ những thói quen cũ trong quản lý nhà trường Chẳng hạn, đổi mới PPD-H yêu cầu GV tích cực hoá hoạt động của SV trong giờ học, tăng cường thảo luận, trong khi đối với CBQL một lớp học "im phăng phắc" chăm chú nghe GV giảng bài dễ được chấp nhận hơn hình ảnh những lớp học

ồn ào, "mất trật tự" [39, tr.50]…

- Một số CBQL lo lắng về việc đổi mới PPD-H sẽ làm phát sinh nhiều công việc mới, đòi hỏi họ đầu tư nhiều thời gian, công sức hơn cho công việc quản lý đào tạo vốn đã rất bận rộn của họ

- Đổi mới PPD-H có thể kéo theo những yêu cầu quản lý mới, trong đó có những việc chưa thể được đáp ứng ngay vì những lý do khách quan hoặc từ chính bản thân các CBQL Khi phải đối mặt với việc đảm bảo yêu cầu về quản lý đào tạo của cấp trên, CBQL nảy sinh tâm lý lo ngại, không muốn chấp nhận rủi ro

 Cơ chế, chính sách

Cơ chế chính sách còn nhiều bất cập luôn là một vấn đề xã hội nóng bỏng ở nước ta Yếu tố này ảnh hưởng đến quá trình đổi mới PPD-H như sau:

- Cơ chế quản lý đào tạo còn bất cập ở cách tiếp cận cứng nhắc, quy định chế

độ thi cử, hình thức, nội dung thi và kiểm tra, chế độ quản lý giờ giấc, chất lượng giờ dạy, quy định, tiêu chuẩn đánh giá GV và SV, thủ tục hành chính rườm rà … chưa thuận lợi theo hướng khuyến khích đổi mới PPD-H Các nhà QLGD luôn nhấn mạnh đổi mới PPD-H phải phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh nhưng trong thực tế, rất nhiều các quy định, chính sách cụ thể đối với GV lại hầu như đi ngược lại mục tiêu ấy và mặc nhiên "trói tay" người thày lại [19, tr.26]

- Cuộc vận động đổi mới PPD-H hiện nay chưa kèm theo một thể chế thi đua khen thưởng hoặc giám sát, kiểm tra đánh giá cụ thể Việc đánh giá giờ dạy còn tuân thủ theo các hướng dẫn lạc hậu làm cho kết quả đánh giá không khách quan Cơ chế

"cào bằng" trong đánh giá, thi đua và khen thưởng vẫn còn tồn tại làm nảy sinh tâm

lý bất bình từ phía những người đã thực sự trăn trở và có đóng góp vào sự đổi mới Điều này còn góp phần tạo nên những đố kỵ, mất đoàn kết nội bộ, … không có lợi cho tiến trình đổi mới

Trang 31

- Các cấp quản lý chưa có các chính sách đủ mạnh tạo động cơ khuyến khích mọi thành phần tham gia vào đổi mới PPD-H Cơ chế đãi ngộ những người chuyên tâm đổi mới PPD-H chưa được xây dựng hoặc không cụ thể, rõ ràng khiến người thày chẳng muốn mất công tìm tòi các cải tiến trong phương pháp

 Trình độ quản lý

Trình độ quản lý là một yếu tố quan trọng trong quản lý một tổ chức, một quá trình Nó đòi hỏi mỗi CBQL phải thông thạo các chức năng quản lý, biết cách khai thác hiệu quả các nguồn lực của tổ chức và nhanh nhạy trong việc đưa ra các quyết định quản lý, …

Cách thức quản lý của trường, khoa, bộ môn đối với đổi mới PPD-H hiện nay chưa được tiêu chuẩn hoá, mới chủ yếu dựa trên các kinh nghiệm được đúc kết trong thực tiễn quá trình chỉ đạo dạy học đã khiến việc quản lý còn lỏng lẻo, mang tính sự

vụ là chính Trình độ quản lý của bản thân đội ngũ CB còn nhiều bất cập như không nắm vững và vận dụng được lý thuyết quản lý sự thay đổi cũng như các chức năng quản lý khác vào chỉ đạo đổi mới PPD-H trong điều kiện cơ sở của mình Cụ thể hơn, trước những đòi hỏi về đổi mới, nhiều CBQL không biết phải xuất phát từ đâu, quy trình để quản lý các yếu tố liên quan như thế nào, … Công tác lập kế hoạch, xác lập các nguồn lực cần thiết cho quá trình đổi mới chưa được thực hiện tốt và thường xuyên Sự yếu kém này có thể dẫn tới việc không điều khiển, làm chủ được quá trình đổi mới hoặc đưa quá trình này đi trệch mục tiêu

 Triển khai công tác quản lý

Những yếu tố trở ngại đổi mới PPD-H xuất phát từ việc triển khai công tác quản lý bao gồm:

- Cơ cấu tổ chức của trường còn cồng kềnh, nhiều tầng bậc Các quyết định quản lý và các ý kiến phản hồi phải mất nhiều thời gian mới đến người tiếp nhận, thông tin không thông suốt gây khó khăn cho các hoạt động đổi mới của các thành viên

- Trường, khoa chưa xây dựng được hệ thống và quy trình quản lý cụ thể các nội dung của quá trình đổi mới PPD-H nên việc triển khai, giám sát, đánh giá thiếu căn cứ chặt chẽ, khoa học

- Số lượng GV không nhiều, mỗi người được phân công dạy các bộ môn khác nhau, kế hoạch giảng dạy đã được xác định nên việc sắp xếp, bố trí GV tham gia các đợt tập huấn về đổi mới PPD-H hoặc các hoạt động liên quan khác còn gặp khó khăn

- Thiếu nguồn lực tài chính dành riêng cho các hoạt động đổi mới PPD-H là một cản trở rất lớn không dễ vượt qua

- Thiếu sự đồng thuận, sự chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác chặt chẽ, đồng bộ giữa các bên liên quan (GV, SV, CBQL) về các vấn đề liên quan nội dung đổi mới

Trang 32

1.4.1.4 Những yếu tố liên quan đến cơ sở vật chất - kỹ thuật

Một trong những cản trở của quá trình cải tiến PPD-H chính là các cơ sở vật chất - kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu của phương pháp mới Không có trang thiết bị, nhà xưởng, tài liệu tương xứng thì khó có thể đổi mới PPD-H thành công

 Phòng học

- Phòng học là nơi sẽ diễn ra các hoạt động học tập, giao lưu giữa thày và trò Sự thiếu thốn phòng học (kể cả lý thuyết và thực hành) đạt chuẩn làm cho việc giảng dạy và học tập bị đình trệ, việc chuyển giao kiến thức, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho SV không thể được thực hiện đúng theo yêu cầu đổi mới

- Thiết kế các phòng học chưa hợp lý như diện tích không đủ rộng, không cách âm, sắp xếp bàn ghế theo kiểu "truyền thống" tạo nên một không khí "bó hẹp, cứng nhắc", …không thuận tiện cho việc tổ chức các hoạt động tương tác như thảo luận nhóm, học qua trò chơi, … Nhiều trường hiện nay còn dùng loại bàn liền ghế, khi đã xếp vào phòng học thì khó có thể di chuyển, sắp xếp lại cho phù hợp với cách thức tổ chức dạy học hiện đại

- Do thiếu phòng học và các điều kiện về vật chất và GV nên buộc Trường phải sắp xếp số lượng SV trong lớp đông Đây là một trở ngại rất lớn đối với hoạt

đô ̣ng cải tiến phương pháp , tích cực hoá hoạt động học tập của SV Đa số những PPD-H hiện đại chỉ khả thi và hiệu quả với lớp học qui mô nhỏ nên trong lớp đông viê ̣c giao tiếp giữa SV với GV khó khăn hơn , chất lượng hoa ̣t đô ̣ng nhóm của SV chưa đươ ̣c GV bao quát và đảm bảo , ảnh hưởng đến hứng thú , nhiê ̣t tình của SV và kết quả của quá trình da ̣y - học theo hướng đổi mới

 Trang thiết bi ̣, phương tiện da ̣y - học

- Tình trạng thiếu trang thiết bị dạy - học, đặc biệt là những trang thiết bị dạy học hiện đại, máy tính, máy chiếu là tình trạng chung của nhiều trường hiện nay Đây là một trong những băn khoăn lớn nhất của GV vì không có sự hỗ trợ của phương tiện họ khó có thể tăng tính trực quan của các đối tượng nhận thức hoặc không thực hiện được các bài tập thực hành, ảnh hưởng đến việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho SV [50, tr.6] Thiếu phương tiện dạy - học thì việc áp dụng các PPD-H mới rất khó khăn vì cả GV và SV sẽ mất nhiều thời gian cho những công việc thuần tuý kỹ thuật, ít có thời gian cho những hoạt động sáng tạo

- Sự không đồng bộ giữa các trang thiết bị, giữa phương tiện dạy - học với phòng học như phòng quá sáng, vị trí nguồn điện không thuận tiện, không có chỗ đặt trang thiết bị, thủ tục mượn - trả trang thiết bị rườm rà, vận chuyển trang thiết bị cồng kềnh, mất thời gian … đều ảnh hưởng đến việc hiệu quả giờ học

 Giáo trình, tài liệu và các cơ sở vâ ̣t chất khác

- Hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu học tập còn đang thiếu, chưa phong phú và đa dạng, chưa đồng bộ với chương trình đào tạo, nhiều tài liệu chưa được cập nhật kiến thức mới … không đáp ứng được nhu cầu học và tự học

Trang 33

của SV Nếu SV đã có đủ giáo trình thì GV mới có thể tập trung vào việc hướng dẫn

họ tìm kiếm kiến thức mới, áp dụng PPD-H tích cực

- Tài liệu tham khảo tiếng nước ngoài, tài liệu về phương pháp dạy và học chưa nhiều do thiếu kinh phí hoặc chưa được nhà trường quan tâm đúng mức gây khó khăn cho những người muốn tìm hiểu thêm về đổi mới PPD-H

- Nhiều trường chưa có những điều kiện vật chất như máy tính, tài khoản thư viện điện tử, … để GV, SV có thể truy cập thông tin trên internet đã hạn chế khả năng mở rộng kiến thức, rèn luyện kỹ năng khai thác tài liệu của họ

- Thư viện chưa có đủ các đầu sách đang được quan tâm, diện tích phòng đọc chật hẹp, thái độ phục vụ của nhân viên thư viện và các quy định về mượn - trả sách chưa phù hợp là những bất cập ảnh hưởng xấu đến hoạt động nghiên cứu của GV và SV

1.4.1.5 Những yếu tố liên quan đến chương trình đào tạo

 Quan điểm thiết kế và nội dung chương trình đào tạo

- Chương trình đào tạo hiện nay còn quá nặng và chủ yếu tập trung vào nội dung kiến thức đã tạo nên sự cứng nhắc, bó hẹp, gây khó khăn cho quá trình áp dụng các PPD-H mới Để có điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới PPD-H cần xây dựng chương trình theo cách tiếp cận hướng tới mục tiêu và quá trình

- Mục tiêu đào tạo thể hiện trong chương trình đào tạo của nhiều cơ sở còn chung chung, chưa thực sự coi trọng năng lực chủ động, sáng tạo của SV, chưa chú trọng rèn luyện cho SV có khả năng nhận thức ở những bậc cao (theo thang đo do BS.Bloom [36, tr.207] đề xuất), do đó chưa đáp ứng đúng yêu cầu đào tạo ĐH

- Nội dung chương trình đào tạo có những môn chưa phù hợp yêu cầu thực

tế, nhiều kiến thức còn xa rời thực tiễn, thời lượng dành cho các môn chuyên ngành chưa thoả đáng, … ảnh hưởng đến rèn luyện kỹ năng nghề

- Việc xây dựng các chương trình môn học chưa được chú trọng một cách khoa học mà chủ yếu là giao khoán cho GV phụ trách môn học Khuynh hướng cũ là tiếp cận nội dung khi xây dựng các chương trình môn học khiến nhiều GV lo lắng bị thiếu giờ Vì thế, trong giờ giảng họ chỉ tranh thủ thuyết trình, ít quan tâm đến phương pháp và hoạt động học tập của SV Trong chương trình môn học chưa nói rõ PPD-H, không có những thông tin về việc tổ chức hoạt động dạy - học, những chỉ dẫn về phương pháp KT ĐG và các tài liệu học tập

 Triển khai thực hiê ̣n chương trình đào ta ̣o

- Trong quá trình triển khai chương trình đào tạo, việc thiếu đồng thuận giữa người quản lý (CBQL) và người thực hiện (GV) đã gây khó khăn cho việc triển khai các PPD-H mới Việc không thông báo chương trình đào tạo tới từng SV đã hạn chế

sự chủ động của họ trong quá trình học tập

- Quy định về quản lý, đánh giá, rút kinh nghiệm việc triển khai thực hiện chương trình đào tạo còn chưa chặt chẽ thông qua những chuẩn đánh giá cụ thể, còn mang nặng tính hình thức nên chưa giúp nhiều cho việc cải tiến, cập nhật, hạn chế

sự hỗ trợ đổi mới PPD-H

Trang 34

- Công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV hiện nay còn chủ yếu tập trung vào chức năng cho điểm, xếp loại SV mà chưa cho phép SV được tham gia

tự đánh giá nên chưa khách quan và chưa thể hiện được chức năng hỗ trợ cho việc học của SV Các đề thi, kiểm tra mới chỉ tập trung vào tự luận với mức "tái hiện", chưa đánh giá dựa trên sự thông hiểu nên đã hạn chế SV phát huy tính độc lập, sáng tạo, vận dụng tri thức vào tình huống mới dựa trên các kỹ năng suy nghĩ có phân tích, phê phán Công việc coi thi, chấm thi còn nhiều tiêu cực Kiểm tra đánh giá còn mang tính chỉ huy quá trình dạy - học, tạo nên những tâm lý không thuận lợi cho đổi mới PPD-H như đã phân tích ở phần GV và SV

1.4.2 Những biện pháp quản lý nhằm hạn chế các yếu tố cản trở thường gặp trong quá trình đổi mới PPD-H ở bậc ĐH - CĐ

1.4.2.1 Chủ thể và đối tượng chịu tác động của các biện pháp QL nhằm hạn chế các yếu tố cản trở thường gặp trong quá trình đổi mới PPD-H ở bậc ĐH - CĐ

Các rào cản đổi mới PPD-H xuất phát từ các yếu tố liên quan đến quá trình này như GV, SV, CBQL, trang thiết bị, chương trình đào tạo, Để hạn chế chúng, cần tạo ra những tác động thích hợp tới từng nhóm yếu tố Do ảnh hưởng của các mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố này nên việc xác định chủ thể và đối tượng tác động của các biện pháp quản lý chỉ mang tính tương đối và cần phải linh hoạt Chẳng hạn, GV vừa là đối tượng tiếp nhận các biện pháp quản lý của CBQL nhưng lại vừa là chủ thể tạo nên những tác động đến SV Một mặt, các CBQL và GV là chủ thể của các biện pháp quản lý vì tuỳ theo chức năng đã được phân công, họ là những người tạo ra và triển khai các biện pháp này vào thực tiễn đổi mới Mặt khác, họ lại

là đối tượng của các biện pháp quản lý vì bản thân họ liên quan trực tiếp đến nhiều yếu tố đang cản trở quá trình đổi mới Trên cơ sở tính tương đối đã nêu trên, chủ thể

và đối tượng của các biện pháp quản lý trong trường hợp này có thể được xác định như sau:

- Chủ thể của các biện pháp liên quan đến việc nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm của các thành viên về đổi mới PPD-H là CBQL trường, khoa/bộ môn, GV; đối tượng tác động là CBQL, GV, SV

- Các biện pháp nhằm giải quyết các yếu tố cản trở liên quan đến GV có chủ thể là CBQL trường, khoa/bộ môn; đối tượng tiếp nhận tác động là GV

- Các biện pháp nhằm giải quyết các yếu tố cản trở liên quan đến SV có chủ thể tác động là CBQL, GV; đối tượng tiếp nhận tác động là SV

- Trong các biện pháp nhằm hạn chế những yếu tố cản trở liên quan đến các cấp quản lý thì các CBQL trường, khoa, bộ môn vừa là chủ thể vừa là đối tượng chịu tác động

- Các biện pháp nhằm giải quyết các yếu tố cản trở liên quan đến cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy - học có chủ thể là CBQL, GV; đối tượng là các cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị dạy - học

- Các biện pháp giải quyết các yếu tố cản trở liên quan đến chương trình đào tạo có chủ thể là CBQL, GV; đối tượng tác động là chương trình đào tạo

Trang 35

1.4.2.2 Nội dung cơ bản của các biện pháp nhằm hạn chế các yếu tố cản trở thường gặp trong quá trình đổi mới PPD-H ở bậc ĐH - CĐ

- Nhóm biện pháp về nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm của các

thành viên về đổi mới PPD-H [27, tr.25]

- Nhóm biện pháp tăng cường năng lực chuyên môn, kỹ năng ứng dụng PPD-H, khai thác phương tiện dạy-học và tài liệu của GV: nhóm này tập trung

vào việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng của GV về các mặt: chuyên môn kỹ thuật, PPD-H, ngoại ngữ, vi tính, kỹ năng sử dụng phương tiện dạy - học và tăng cường cơ

chế giám sát chuyên môn, cơ chế khen thưởng,

- Nhóm biện pháp bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho SV: nhóm này đi

sâu giải quyết các vấn đề về tổ chức các hoạt động nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của SV trong tự học và NCKH, bồi dưỡng SV về các kỹ năng tổ chức học

lý thiết bị dạy - học Ngoài ra, còn có các biện pháp liên quan đến việc xây dựng các

cơ chế quản lý, quy định liên quan đến số lượng và chất lượng SV trong mỗi lớp,

nhằm tạo điều kiện cho hoạt động đổi mới PPD-H

- Nhóm biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị dạy - học: tập trung giải quyết các vấn đề đầu tư cơ

sở vật chất như phòng học, trang thiết bị dạy - học, giáo trình, trong điều kiện của

từng cơ sở cùng với các quy định về khai thác và quản lý chúng sao cho hiệu quả

- Nhóm biện pháp cải tiến chương trình đào tạo: giải quyết các vấn đề

liên quan đến tư duy xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, cơ cấu chương trình

và các biện pháp giám sát, kiểm tra quá trình thực hiện chương trình đào tạo tại cơ sở

Kết luận chương 1

Chương 1 là tổng kết một số cơ sở lý luận về vấn đề đổi mới PPD-H nói chung và ở bậc ĐH - CĐ nói riêng Nội dung của Chương đã đề cập đến các khái niệm cơ bản liên quan đến PPD-H, đến quản lý và quản lý nhà trường, trong đó có quản lý đổi mới PPD-H Các xu hướng đổi mới PPD-H trong nhà trường ĐH và CĐ cũng đã được tổng hợp và trình bày một cách tổng quát Bên cạnh đó, một trong những nội dung lớn của Chương 1 là làm rõ các yếu tố cản trở thường gặp trong quá trình đổi mới PPD-H ở trường ĐH - CĐ và những biện pháp quản lý nhằm hạn chế ảnh hưởng của chúng Đây là những cơ sở quan trọng giúp cho việc tiến hành khảo sát thực trạng và đề xuất các giải pháp đạt kết quả tốt

Trang 36

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PH ÁP DẠY - HỌC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI

VÀ NHẬN DẠNG CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ QUÁ TRÌNH NÀY

2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội

- Tháng 6/1984: Trườ ng đươ ̣c đổi tên thành Trường Du lịch Việt Nam

- Ngày 21/8/1995: thành lập Trường Du lịch Hà Nội trên cơ sở sát nhập Khách sạn Hoàng Long (trực thuô ̣c Công ty Du li ̣ ch Hà Nô ̣i ) vào Trư ờng Du lị ch Viê ̣t Nam để tổ chức thí điểm mô hình Trường - Khách sa ̣n

Trong giai đoa ̣n này Trường vẫn giữ chức năng chủ yếu là đào ta ̣o công nhân phục vụ trong khách sạn

2.1.1.2 Giai đoạn 1997 - 2003

- Ngày 24/7/1997: Trườ ng đươ ̣c nâng cấ p thành Trường Trung ho ̣c nghiê ̣p vụ

Du li ̣ch Hà Nô ̣i theo Quyết đi ̣nh số 239/QĐ-TCDL của Tổng cục Du li ̣ch

- Chứ c năng của Trường đươ ̣c mở rô ̣ng hơn trước , bao gồm đào ta ̣o mới hê ̣ trung cấp (2 năm), hê ̣ ho ̣c nghề (1 năm) cho các nghiê ̣ p vụ KS DL và bồi dưỡng công chức, CBQL công ty DL, KS, nhà hàng theo yêu cầu

2.1.1.3 Giai đoạn 2003 đến nay

- Ngày 27/10/2003 Trườ ng đươ ̣c nâng cấp thành Trường Cao đẳng Du li ̣ch

Hà Nội theo Quyết định số 5907/QĐ-BGD&ĐT-TCCB của Bô ̣ trưởng Bô ̣ GD&ĐT Trường được phép đào ta ̣o đa ngành , đa hê ̣, đa cấp bâ ̣c

- Về quản lý nhà nước , Trường là đơn vi ̣ trực thuô ̣c Tổng cục Du li ̣ch Về công tác đào ta ̣o , Trường chi ̣u sự quản lý của Bô ̣ GD&ĐT và Tổng cục dạy nghề (Bộ LĐ-TB-XH)

2.1.2 Chư ́ c năng, nhiê ̣m vụ

Trường CĐ DL HN (sau đây gọi tắt là Trường) là cơ sở đào tạo công lập, trực thuô ̣c Tổng cục Du li ̣ch , đào ta ̣o 3 cấp: cao đẳng, trung cấp và sơ cấp nghề về các chuyên ngành DL, KS và liên quan , đồng thời chịu sự quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT, Bộ L Đ-TB-XH về chiến lươ ̣c , quy hoa ̣ch , kế hoa ̣ch và chính sách phát triển giáo dục; tiêu chuẩn GV, mục tiêu, nô ̣i dung, chương trình , …

Trang 37

Chức năng , nhiê ̣m vụ cụ thể của Trường được Tổng cục Du lịch quy định trong Quyết đi ̣nh số 493/QĐ-TCDL bao gồm:

- Đào ta ̣o và bồi dưỡng đô ̣i ngũ cán bô ̣ có trình đô ̣ Cao đẳng (gồm 6 chuyên ngành) và các trình độ thấp hơn (đào ta ̣o mới hê ̣ Trung cấp và hê ̣ Sơ cấp nghề : gồm

7 nghiệp vụ; đào ta ̣o liên thông Trung cấp - Cao đẳng) trong các lĩnh vực DL KS và liên quan;

- Bồi dưỡng nghiê ̣p vụ chuyên môn cho các CBQL KS -DL thuô ̣c mo ̣i thành phần kinh tế, liên kết đào ta ̣o với nước ngoài để tổ chức các lớp nâng cao

- Hoạt động nghiên cứ u, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ yêu cầu phát

triển kinh tế - xã hội (Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính Trường CĐ DL HN)

2.1.3 Cơ cấu tổ chư ́ c của Trường và đội ngũ GV, CB, công nhân viên

2.1.3.1 Cơ cấu tổ chư ́ c của Trường CĐDL HN

Cơ cấu tổ chức của Trường được thể hiện trong sơ đồ sau :

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Trường Cao đẳng Du li ̣ch Hà Nô ̣i

(Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội) 2.1.3.2 Đội ngũ GV, CB, công nhân viên

Theo thống kê của Phòng Tổ chức - Hành chính , toàn Trường có 309 nhân viên Trong đó có 114 GV, 80 CB, 115 công nhân viên KS Trường

Về ho ̣c hàm ho ̣c vi ̣ , hiê ̣n ta ̣i Trường có 01 Giáo sư - Tiến sỹ, 02 Tiến sỹ, 17 Thạc sỹ , 01 GV đang làm luâ ̣n á n tiến sỹ , trên 35 CB, GV đang theo ho ̣c chương trình cao học các ngành khác nhau , còn lại là cử nhân Căn cứ vào Chỉ thị số

BAN GIÁM HIỆU

Hô ̣i đồng

Khoa ho ̣c – Đào tạo

Các Hô ̣i đồng

SV

Phòng Kế

hoạch

- Đầu

Phòng NCKH và

QHQT

Phòng Tổ

chức -

HC

Phòng Kế

toán - Tài chính

Phòng Quản trị - Đời sống

Trạm

y tế

Khách sạn trường Trung tâm

Tư liê ̣u - Thư viê ̣n

Trung tâm ứng dụng CNTT

Trang 38

CBCNV ngành DL kinh nghiệm trên 5 năm

SV tốt nghiệp các trường CĐ, ĐH liên quan khác

Hê ̣ Trung cấp (2 năm)

HỌC SINH TỐT NGHIỆP PHỔ THÔNG

Hê ̣ Sơ cấp nghề (1 năm hoă ̣c 4 tháng)

1 Nghiệp vụ lễ tân

2 Nghiệp vụ nhà hàng

3 Nghiệp vụ buồng

4 Kỹ thuật chế biến món ăn

18/2001/CT-TTg củ a Thủ tướng Chính phủ về "mô ̣t số biê ̣n pháp cấp bách xây dựng

đô ̣i ngũ nhà giáo th uô ̣c hê ̣ thống giáo dục quốc dân " thì lực lượng này còn mỏng , mới đáp ứng được khoảng 34% yêu cầu Chất lượng GV còn nhiều bất cập là một trong những vấn đề đang được Trường quan tâm giải quyết

2.1.4 Quy mô, chất lươ ̣ng đào tạo

Những năm đầu khi mới thành lâ ̣p , Trường chỉ đào ta ̣o hệ công nhân khách sạn, quy mô đào tạo nhỏ, trung bình khoảng 200 học sinh/năm

Từ năm 1989, khi đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển DL thực sự đi vào cuô ̣c sống , con số ho ̣c sinh của Trường không ngừng tăng lên , các ngành nghề đào tạo cũng từng bước được mở rộng theo nhu cầu xã hội

Từ năm ho ̣c 2001 - 2002, được sự hỗ trợ của các chính sách phát triển DL ma ̣nh

mẽ của Nhà nước, quy mô của Trường được mở rộng về mọi mặt , lưu lượng SV tăng nhanh, chất lượng đào ta ̣o ngày càng được quan tâm hơn Từ năm ho ̣c 2004 - 2005

Trường đã tiến hành đào ta ̣o cả 3 hê ̣ Hình 2.2 cho ta biết mối liên hệ giữa các hệ

đào tạo của Trường (tính đến năm ho ̣c 2006 - 2007)

Hình 2.2: Mối quan hê ̣ giữa các hê ̣ và ngành nghề đào ta ̣o của Trường

(Nguồn: Phòng Đào tạo trươ ̀ ng Cao đẳng Du li ̣ch Hà Nội)

Trang 39

Kết quả đào ta ̣o từ năm 2004 đến nay cụ thể như sau :

Bảng 2.1: Số lươ ̣ng ho ̣c sinh của Trường từ năm 2001 đến nay

Năm ho ̣c Hê ̣ CĐ Hê ̣ trung cấp Hê ̣ sơ cấp Ngắn ha ̣n Tổng số HS - SV

2004 - 2005 116 1.542 1.756 2.135 5.549

2005 - 2006 512 1.908 2.407 1.572 6.408

2006 - 2007 616 1.139 738 1.500 3.993

(Nguồn: Phòng Đào tạo Trươ ̀ ng Cao đẳng Du li ̣ch Hà Nội)

Số lươ ̣ng lớn ho ̣c sinh của Trường sau khi tốt nghiê ̣p được các doanh nghiê ̣p tiếp nhâ ̣n , chiếm khoảng 85% Riêng đối với hê ̣ CĐ , do bắt đầu tuyển sinh và đào tạo từ năm học 2004-2005 nên hiê ̣n nay c hưa có khóa nào ra trường

2.1.5 Hê ̣ thống cơ sở vật chất sư phạm

2.1.5.1 Hệ thống phòng học, nhà xưởng: Trường được chia thành 3 khu:

- Khu hiệu bộ: gồm trên 20 phòng bố trí các phòng chức năng làm việc ,

NCKH Các văn phòng này đều được kết nối mạng nội bộ và internet ;

- Khu giảng đường lý thuyết: gồm

+ 39 phòng học lý thuyết, trong đó có 27 phòng loại nhỏ (dành cho 1 lớp học sinh), 12 phòng loại lớn (dùng cho 2 lớp học sinh)

+ 2 giảng đường lớn (sức chứa: 200 học sinh/phòng)

+ 2 hội trường lớn: (sức chứa: từ 300 đến 500 học sinh/phòng)

- 12 phòng học thực hành cho các chuyên ngành khác nhau , trong đó có : 5 xưởng thực hành chế biến món ăn ; 3 nhà hàng và quầy bar ; 2 phòng thực hành lễ tân KS; 1 phòng thực hành phục vụ buồng ; 1 phòng lữ hành , hướ ng dẫn DL;

- 3 phòng học vi tính (hơn 100 máy) và 2 phòng ngoại ngữ (25 cabin/phòng);

- 1 phòng học nghe - nhìn có sức chứa khoảng 70 - 90 học sinh;

- 1 thư viện với 2700 cuốn sách thuộc nhiều lĩnh vực, phòng đọc 150 chỗ;

nằm ta ̣i xã Xuân Đỉnh , cách Trường khoảng 3 km Tại đây có 45 phòng khách sạn tiêu chuẩn 2 sao, 2 nhà hàng, các cơ sở vật chất phục vụ c ác hội nghị , hô ̣i thảo ta ̣o môi trường đảm bảo cho trên

600 học sinh học lý thuyết và thực hành tại chỗ

6.500 m2 , bao gồm: khu ký túc xá và khu tập thể của CBCNV

2.1.5.2 Hệ thống trang thiết bị, phương tiện dạy- học

Các phương tiện dạy-học của Trường chưa nhiều, bao gồm:

- Các dụng cụ thực hành nghiệp vụ DL

- Hệ thống loa - micro - amply ở hầu hết các phòng ho ̣c lý thuyết

- Máy chiếu đa phương tiện (multimedia LCD projector): 5 chiếc

- Máy chiếu hắt (overhead projector): 7 chiếc

- Máy chiếu phim dương bản : 2 chiếc

- Máy cassette dạy ngoại ngữ : 11 chiếc

Trang 40

2.2 Thực trạng đổi mới phương pháp dạy-học tại Trường CĐ DL HN

2.2.1 Nhận thức và chủ trương chỉ đạo của Trường về đổi mới PPD-H

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của ngành Du lịch, hệ thống

cơ sở đào tạo du lịch cũng tăng nhanh về số lượng, năng lực đào tạo, chuyên ngành

và trình độ đào tạo, Cả nước có khoảng 49 cơ sở đào tạo du lịch hệ ĐH, CĐ Thực

tế này đã buộc các trường phải có những đổi mới, trong đó có đổi mới PPD-H, để

tồn ta ̣i và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt

Tại Trường CĐ DL HN, đổi mới PPD -H được đi ̣nh hướng theo mục tiêu đào tạo và được chia làm 3 nhóm:

- Đổi mới PPD -H để nâng cao khả năng đô ̣c lâ ̣p suy nghĩ , học tích cực, sáng tạo, chủ động phát huy nội lực của người học , tăng cường thảo luâ ̣n trong quá trình dạy - học, tăng cường giờ tự ho ̣c của SV

- Ứng dụng PPD -H giải quyết vấn đề và các PPD -H hiện đại khác để nâng cao năng lực xử lý tình huống của SV hướng tới để rèn luyện năng lực thực hành và

kỹ năng nghề nghiệp theo yêu cầu của ngành Du lịch Xây dựng các mô hình ho ̣c tâ ̣p

mô phỏng theo điều kiê ̣n làm viê ̣c c ủa các doanh nghiệp KS DL , gắn quy trình đào tạo với thực tiễn sản xuất trong và ngoài nước

- Khai thác và tâ ̣n dụng triê ̣t để lơ ̣i thế của trang thiết bi ̣ tiên tiến và các

thành tựu mới của CNTT phục vụ dạy -học Sử dụng phương tiện kỹ thuật và giảng dạy hiện đại nhằm trực quan hoá nội dung, đa giác quan hoá hoạt động học, tạo nên

sự tham gia tích cực của SV trong việc chiếm lĩnh tri thức

Xuất phát từ các định hướng trên và mong muốn đạt hiệu quả cao trong đổi mới PPD-H, lãnh đạo Trường đã chỉ đạo các bộ phận trực thuộc tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Nâng cao nhận thức của GV , CBQL và SV về ý nghĩa và các nội dung cơ bản của đổi mới PPD -H trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Đổi mới PPD -H phải bắt đầu từ tư duy đổi mớ i của đô ̣i ngũ GV , CBQL và ngay trong tư duy về phương pháp ho ̣c của SV

- Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn và trình độ nghiệp vụ

sư phạm (bao gồm cả PPD-H, hình thức tổ chức dạy-học, ) của GV

- Cải tiến mục tiêu, nội dung đào tạo

- Cải thiện điều kiện, môi trường dạy-học, bao gồm đầu tư cải tạo, nâng cấp

cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm các trang thiết bị, phương tiện phục vụ dạy-học lý thuyết và thực hành; nâng cao chất lượng, số lượng của tài liệu học tập và tham khảo; đầu tư cho thư viện

- Nghiên cứu cải tiến phương thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của

SV, đánh giá chất lượng GV và CBQL

Thực tế cho thấy những nhâ ̣n thức và chủ trương của Trường trong thời gian qua đã ta ̣o ra sự chuyển biến bước đầu tương đố i ma ̣nh mẽ trong cách nhìn nhâ ̣n và hành động của GV, SV, CBQL đối với nhiê ̣m vụ đổi mới PPD -H

Ngày đăng: 17/03/2015, 07:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Quyết đi ̣nh số 97/2002/QĐ-TTg ngày 22/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ về viê ̣c Phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010.Kỷ yếu Hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010
8. Nhiều tác giả, Kỷ yếu Hội thảo Nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ III, Bộ GD&ĐT, 6/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo Nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ III
9. Nhiều tác giả, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đổi mới nội dung và PPD-H ở các trường ĐH sư phạm, Bộ GD&ĐT, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đổi mới nội dung và PPD-H ở các trường ĐH sư phạm
10. Nhiều tác giả, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đổi mới GD ĐH Việt Nam - Hội nhập và thách thức, Bộ GD&ĐT, Hà Nội, 3/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đổi mới GD ĐH Việt Nam - Hội nhập và thách thức
11. Nhiều tác giả, Kỷ yếu Hội thảo khoa học PPD-H ở đại học và cao đẳng, NXB Giáo dục, Bộ GD&ĐT, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học PPD-H ở đại học và cao đẳng
Nhà XB: NXB Giáo dục
12. Nhiều tác giả, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên, Khoa Sư phạm - ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 10/2004,Tác giả, tác phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên
13. Đặng Quốc Bảo, Vấn đề "quản lí" và "quản lí nhà trường", Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Khoa Sư phạm - ĐH Quốc gia Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: quản lí" và "quản lí nhà trường
14. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Lý luận đại cương về quản lý, Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Khoa Sư phạm - ĐH Quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận đại cương về quản lý
15. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Cơ sơ ̉ khoa học quản lý , Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Khoa Sư phạm - ĐH Quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học quản lý
16. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Lý luận quản lý nhà trường, Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Khoa Sư phạm - ĐH Quốc gia Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận quản lý nhà trường
17. Nguyễn Quốc Chí, Những cơ sở lý luận QLGD, Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Khoa Sư phạm - ĐH Quốc gia Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở lý luận QLGD
18. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Những quan điểm giáo dục hiện đại, Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Khoa Sư phạm - ĐH Quốc gia Hà Nội, 2001-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm giáo dục hiện đại
19. Lê Tràng Định, Rào cản đổi mới PP dạy học hiện nay ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐH Sư phạm Hà Nội, số 6 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rào cản đổi mới PP dạy học hiện nay ở Việt Nam
20. Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề về quản lý giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản lý giáo dục và khoa học giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục
21. Đặng Xuân Hải , Quản lý sự thay đổi và vận dụng nó trong quản lý giáo dục/nhà trường, Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Khoa Sư phạm - ĐH Quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sự thay đổi và vận dụng nó trong quản lý giáo dục/nhà trường
22. Đặng Xuân Hải, Nhận diện khái niệm quản lý và lãnh đạo trong quá trình điều khiển một nhà trường, Tạp chí Phát triển giáo dục số 4, tháng 7 và 8 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện khái niệm quản lý và lãnh đạo trong quá trình điều khiển một nhà trường
23. Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo, Quản lý giáo dục, NXB ĐH Sư phạm, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục
Nhà XB: NXB ĐH Sư phạm
24. Nguyễn Thị Phương Hoa, Lý luận dạy học hiện đại, Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Khoa Sư phạm - ĐH Quốc gia Hà Nội, 5/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại
25. Nguyễn Thị Phương Hoa, Phương pháp giảng dạy môn Giáo dục học tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội dưới hình thức các chuyên đề, đề tài NCKH mã số: QN.01.06, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy môn Giáo dục học tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội dưới hình thức các chuyên đề
26. Đặng Vũ Hoạt - Hà Thị Đức , Lý luận dạy học đại học , NXB Đa ̣i ho ̣c Sư phạm, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Nhà XB: NXB Đa ̣i ho ̣c Sư phạm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Các yếu tố của quá trình  dạy  -  học  ảnh  hưởng  đến  PPD-H - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Hình 1.1 Các yếu tố của quá trình dạy - học ảnh hưởng đến PPD-H (Trang 15)
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Trường Cao đẳng Du li ̣ch Hà Nô ̣i - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Trường Cao đẳng Du li ̣ch Hà Nô ̣i (Trang 37)
Hình 2.2: Mối quan hê ̣ giữa các hê ̣ và ngành nghề đào ta ̣o của Trường - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Hình 2.2 Mối quan hê ̣ giữa các hê ̣ và ngành nghề đào ta ̣o của Trường (Trang 38)
Bảng 2.4 : Thực tra ̣ng sử dụng PPD-H và phương tiê ̣n dạy - học của giáo viên - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Bảng 2.4 Thực tra ̣ng sử dụng PPD-H và phương tiê ̣n dạy - học của giáo viên (Trang 43)
Bảng 2.5: Mức độ đáp ứng của GV  đối với  yêu cầu đổi mới PPD-H (%)  Nội dung - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Bảng 2.5 Mức độ đáp ứng của GV đối với yêu cầu đổi mới PPD-H (%) Nội dung (Trang 44)
Bảng 2.6: Tự nhận xét của SV về mức đô ̣ thực hiê ̣n các phương pháp ho ̣c  (%) - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Bảng 2.6 Tự nhận xét của SV về mức đô ̣ thực hiê ̣n các phương pháp ho ̣c (%) (Trang 45)
Bảng 2.7: Mức độ đáp ứng của CBQL đối với  yêu cầu đổi mới PPD-H - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Bảng 2.7 Mức độ đáp ứng của CBQL đối với yêu cầu đổi mới PPD-H (Trang 46)
Bảng 2.8: Mức độ thực hiện các hoạt động dạy-học của GV - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Bảng 2.8 Mức độ thực hiện các hoạt động dạy-học của GV (Trang 47)
Hình 2.4: Mức độ quan tâm của lãnh đạo - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Hình 2.4 Mức độ quan tâm của lãnh đạo (Trang 49)
Bảng 2.9: Mức độ triển khai đổi mới PPD-H - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Bảng 2.9 Mức độ triển khai đổi mới PPD-H (Trang 50)
Bảng 2.11: Định mức thời gian cho các nhiệm vụ công tác của GV hệ CĐ - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Bảng 2.11 Định mức thời gian cho các nhiệm vụ công tác của GV hệ CĐ (Trang 60)
Hình 2.7: Hình thức khen thưởng của  CBQL các cấp đối với GV có thành tích - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Hình 2.7 Hình thức khen thưởng của CBQL các cấp đối với GV có thành tích (Trang 61)
Bảng 2.12: Mƣ́c đô ̣ đáp ƣ́ng yêu cầu đổi mới PPD-H của CBQL - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Bảng 2.12 Mƣ́c đô ̣ đáp ƣ́ng yêu cầu đổi mới PPD-H của CBQL (Trang 62)
Hình 2.8 cho thấy một số nguyên - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Hình 2.8 cho thấy một số nguyên (Trang 64)
Hình 2.9: Đánh giá về hệ thống tài liệu  học tập và tham khảo của Trường - Biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Hình 2.9 Đánh giá về hệ thống tài liệu học tập và tham khảo của Trường (Trang 67)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w