1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang

131 444 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy mục tiêu của giáo dục Việt Nam được ghi rõ trong điều 2 Luật giáo dục 2005 như sau: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, s

Trang 1

§¹i häc Quèc gia Hµ Néi

Khoa S- ph¹m

NGUYỄN VĂN NINH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CẨM LÝ

HUYỆN LỤC NAM - TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành : QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số : 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Bùi Văn Quân

HÀ NỘI – 2006

Trang 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

Chương 1: Cơ sở lý luận của các giải pháp quản lý quá trình giáo

dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 5 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5 1.2 Các khái niệm công cụ 10 1.3 Quá trình giáo dục đạo đức trong trường THPT 16 1.4 Quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong trường THPT 25

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý quá trình giáo dục đạo

đức ở trường THPT Cẩm Lý – Huyện Lục Nam hiện nay 35 2.1 Khái quát tình hình kinh tế xã hội và giáo dục của huyện Lục

2.2 Thực trạng công tác GDĐĐ học sinh của trường THPT Cẩm Lý 39 2.3 Đánh giá thực trạng quá trình giáo dục đạo đức và biện pháp

quản lý quá trình giáo dục đạo đức của nhà trường 54

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

đạo đức cho học sinh trường THPT Cẩm Lý 72

Trang 3

3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 72 3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức

cho học sinh trường THPT Cẩm Lý 73 Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức cho các đối tượng tham gia quá

trình giáo dục đạo đức cho học sinh 73 Giải pháp 2: Nâng cao vị trí, vai trò của giáo viên chủ nhiệm 76 Giải pháp 3: Nâng cao ý thức tự tu dưỡng và phong trào tự quản của

đức

3.3 Mối quan hệ hữu cơ giữa các giải pháp 97 3.4 Các điều kiện để đảm bảo tính khả thi của các giải pháp 98 3.5 Khảo nghiệm tính khả thi của các giải pháp 99

Trang 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH - HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá CNXH Chủ nghĩa xã hội

GDTX Giáo dục thường xuyên

GS VS Giáo sư - Viện sĩ

GVCN Giáo viên chủ nhiệm

HĐND Hội đồng nhân dân

PGS TS Phó Giáo sư - Tiến sĩ

VH - VN Văn hoá- Văn nghệ

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay ở Việt Nam đã và đang đặt ra những nhiệm vụ rất nặng nề cho ngành Giáo dục và Đào tạo Vì vậy mục tiêu của giáo dục Việt Nam được ghi rõ trong điều 2

Luật giáo dục 2005 như sau: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt

Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và phát triển nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[25]

Giáo dục đạo đức là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cũng như tạo nên giá trị mỗi con người nên được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu, được thể chế hoá thành điều luật mang tính pháp lý cao Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh

tụ thiên tài, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta rất coi trọng giáo dục đạo

đức Người cho rằng: “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng” và coi giá trị mỗi con người gồm hai mặt: Đức và Tài Người chỉ rõ: “Có đức mà

không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô dụng” và: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"[1]

Từ năm 1986 khi Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN đã tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Trước xu thế mở cửa, hội nhập quốc

tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ, trở thành một quy luật và đòi hỏi tất yếu của thời đại, một số giá trị và chuẩn mực đạo đức truyền thống gặp những thách

Trang 6

thức lớn trước sự xâm nhập của văn hoá nước ngoài, của lối sống Phương Tây cũng như sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường

Tầng lớp thanh, thiếu niên vốn rất nhạy cảm với cái mới, nhưng kinh nghiệm cuộc sống còn hạn chế nên rất dễ bị cuốn vào vòng xoáy của những cám dỗ về vật chất, dễ mắc các tệ nạn xã hội và sa vào vòng ảnh hưởng của lối sống thực dụng, hưởng thụ vật chất, kích động bạo lực, tình dục, muốn thoát ly sự kiểm soát của gia đình, nhà trường, xã hội, coi thường và xa rời các chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc Tình trạng thanh thiếu niên mắc vào các tệ nạn xã hội, vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng và có chiều hướng diễn biến phức tạp Đặc biệt là các tệ nạn và tiêu cực xã hội, tình trạng bạo lực, lối sống buông thả, bắt đầu xâm nhập học đường gây rất nhiều lo lắng cho các bậc phụ huynh

Trong những năm gần đây, dư luận xã hội rất bức xúc trước tình trạng học sinh vô lễ, vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật, tình trạng bạo lực, quan hệ tình dục trước hôn nhân trong học đường, ngày càng gia tăng

mà một trong những nguyên nhân quan trọng là do những vấn đề còn bất cập trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, đặc biệt là học sinh bậc THPT Vậy chúng ta phải làm gì để khắc phục tình trạng trên, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước?

Xuất phát từ tầm quan trọng của giá trị đạo đức và quá trình giáo dục đạo đức đối với sự phát triển toàn diện của học sinh bậc THPT, từ thực trạng công tác giáo dục đạo đức và chất lượng hiệu quả công tác giáo dục đạo đức trong các trường THPT hiện nay còn nhiều bất cập

Xuất phát từ yêu cầu của giáo dục đạo đức đòi hỏi sự tham gia và kết hợp đồng bộ của mọi lưc lượng xã hội

Trang 7

Nhận thức được vai trò tổ chức quản lý của nhà trường và gia đình trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh

Trước những yêu cầu, kỳ vọng của gia đình - xã hội về chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức học sinh trong các trường THPT nói chung cũng như ở trường THPT Cẩm Lý nói riêng hiện nay, tôi chọn đề tài nghiên cứu luận văn:

“Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Cẩm Lý - Huyện Lục Nam

- Tỉnh Bắc Giang”

2 Mục đích nghiên cứu

Xác định một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Cẩm Lý - Huyện Lục Nam - Tỉnh Bắc Giang

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Lý luận và thực tiễn công tác quản lý quá trình giáo dục ở trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các giải pháp quản lý quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THPT Cẩm Lý - Huyện Lục Nam - Tỉnh Bắc Giang

4 Giả thuyết khoa học

Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Cẩm Lý - Huyện Lục Nam - Tỉnh Bắc Giang vẫn còn những hạn chế Một trong những nguyên nhân của hạn chế đó là công tác quản lý quá trình này trong nhà trường còn những bất cập

Nếu đề xuất được những giải pháp quản lý khoa học, khả thi sẽ góp phần nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THPT Cẩm Lý - Huyện Lục Nam - Tỉnh Bắc Giang

Trang 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quá trình giáo dục đạo đức

và quản lý quá trình giáo dục đạo đức học sinh trong trường THPT

- Nghiên cứu thực trạng quá trình giáo dục đạo đức và quản lý quá trình giáo dục đạo đức học sinh trong trường THPT Cẩm Lý - Huyện Lục Nam

- Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THPT Cẩm Lý - Huyện Lục Nam - Tỉnh Bắc Giang

7 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình thực hiện đề tài kết hợp các phương pháp sau đây:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và phân tích tài liệu trong

và ngoài nước có liên quan đến đề tài quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh

- Nghiên cứu các văn bản pháp quy, các văn kiện và chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục nói chung cũng như giáo dục đạo đức nói riêng

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra, phỏng vấn, phương pháp quan sát, phương pháp trao đổi tổng kết kinh nghiệm, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, sử dụng thống kê toán học

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của các giải pháp quản lý quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông

Trang 9

Chương2: Thực trạng công tác quản lý quá trình giáo dục đạo đức ở trường THPT Cẩm Lý – Huyện Lục Nam hiện nay

Chương3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Cẩm Lý

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nền văn minh Phương Đông có ảnh hưởng không nhỏ đến văn hoá

Việt Nam Vì thế, cha ông ta vốn rất coi trọng chữ “Đức” và coi đó là

một phẩm chất hàng đầu và không thể thiếu của mỗi con người, với triết

lý sống “tu nhân, tích đức” để tự răn mình, răn người Đó chính là cội

nguồn của truyền thống nhân đạo, nhân ái, vị tha, thấm đượm tình người, rất tốt đẹp của dân tộc ta, truyền thống đó còn tiếp nối tới ngày nay và còn mãi mãi về sau

Hiện nay chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng còn không ít những vấn

đề bức xúc về đạo đức cần phải giải quyết Đó là tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, của lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của người khác, hoàn toàn xa lạ với truyền thống văn hoá dân tộc Đó còn là ảnh hưởng của văn hoá ngoại lai, hậu quả của

xu thế toàn cầu hoá mà đáng lo ngại là sự xuống cấp về đạo đức của tầng lớp thanh, thiếu niên, đặc biệt là các em học sinh bậc THPT, lứa tuổi chuẩn

bị bước vào đời, chủ nhân tương lai của đất nước

Trước thực tế đó, ở Việt Nam đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn

đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung cũng như cho học sinh THPT nói riêng

Trang 10

Trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 - 2000 cho giáo

viên THPT: “Đạo đức học” các tác giả Phạm Khắc Chương và Trần Văn

Chương đã phân tích quá trình phát triển tâm sinh lý của học sinh THPT,

về tình bạn, tình yêu, khẳng định đại đa số học sinh hiếu học, ngoan ngoãn, thông minh và chỉ có một bộ phận học sinh hư mà người có lỗi lại là chính người lớn chúng ta Trong chương VI đề cập một số vấn đề cần quan tâm trong giảng dạy và giáo dục đạo đức học sinh, trong đó các tác giả xây dựng chuẩn mực về đạo đức mới trong gia đình, trong học tập, trong tình bạn, tình yêu và trong giao tiếp Trong chương VII đề cập đến việc học tập , tu dưỡng đạo đức theo gương cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đặc biệt trong chươngVIII các tác giả đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường THPT bằng một số nhóm phương pháp cụ thể và bằng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng như mối quan hệ giữa các phương pháp đó

Tác giả Phạm Trung Thanh trong công trình nghiên cứu của mình đã điều tra thực trạng đạo đức học sinh THCS của tỉnh Hải Dương Căn cứ vào kết quả đó, tác giả đưa ra 10 kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh đồng thời yêu cầu các nhà giáo và các nhà quản lý giáo dục phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, thường xuyên đổi mới và đa dạng hoá các hoạt động nhằm thu hút học sinh tích cực tham gia vào quá trình giáo dục và rèn luyện đạo đức

Tác giả Đặng Vũ Hoạt lại chú trọng đến công tác chủ nhiệm lớp, khẳng định vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh và nêu một số định hướng cho giáo viên chủ nhiệm trong việc đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường THPT

Trang 11

Tác giả Võ Huỳnh Ngọc Vân nghiên cứu các biện pháp chỉ đạo và phối hợp giữa hiệu trưởng và tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh

Tác giả Thái Duy Tuyên trong công trình nghiên cứu của mình:

“Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” [29] trong phần đánh giá

về thực trạng đã tỏ ra rất lo lắng trước sự sa sút về đạo đức ngày càng gia tăng cả về số lượng và mức độ nguy hại của một bộ phận học sinh.Tác giả kết luận đạo đức học sinh đang trên đà giảm sút và cho rằng giáo dục đạo đức là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội Công trình cũng đề cập đến một số yêu cầu của gia đình trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh cũng như phương hướng hoàn thiện giáo dục đạo đức trong nhà trường và kiến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu về giáo dục đạo đức

Trong tác phẩm: “ Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công

nghiệp hoá, hiện đại hoá” [14] của một nhóm tác giả do GS.VS Phạm

Minh Hạc làm chủ biên, trong chương VII nói về định hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng đã đánh giá thực trạng đạo đức học sinh, sinh viên hiện nay có một khoảng cách khá xa mới tiếp cận được với mục tiêu giáo dục giá trị đạo đức so với yêu cầu giáo dục của thời kỳ mới Các tác giả tổng kết có 7 nguyên nhân dẫn đến thực trạng đạo đức học sinh như ở trên, đồng thời nêu lên 3 mục tiêu giáo dục đạo đức, trên cơ sở đó đề ra 6 giải pháp giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong cuốn: “ Văn hoá với thanh niên - Thanh niên với văn hoá”

[3] do Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương biên soạn tập hợp các bài viết của nhiều tác giả, trong đó tác giả Hà Nhật Thăng trong bài viết của mình

đã nêu lên thực trạng đạo đức, tư tưởng chíng trị, lối sống của thanh niên

Trang 12

học sinh, sinh viên hiện nay và đi đến nhận định: Trong học sinh, sinh viên

có sự phân hoá khá rõ rệt, tỉ lệ giữa các nhóm có đạo đức tốt, chậm tiến, bình thường có sự chênh lệch khá lớn Tuy nhiên các giá trị đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống được đa số học sinh, sinh viên quan tâm vẫn là những giá trị đạo đức cốt lõi của nhân cách con người Việt Nam; tuy nhiên

có những giá trị mới do yêu cầu của CNH, HĐH chưa được học sinh, sinh viên coi trọng Tóm lại, những giá trị đạo đạo đức truyền thống của dân tộc vẫn được số đông học sinh, sinh viên coi trọng tuy vẫn chưa thể hiện qua hành vi, hoạt động Một bộ phận không nhỏ (khoảng 1/3 HS, SV) có sự dao động về nhận thức, có những hành vi sai trái liên quan tới một số giá trị quan trọng như: Trung thực, thẳng thắn, tinh thần trách nhiệm, lòng nhân

ái Tác giả nêu lên có 4 nguyên nhân, có thể khái quát lên là công tác giáo dục đạo đức còn chưa được coi trọng đúng mức, chưa đồng bộ Quá trình giáo dục còn nặng về kết quả học tập văn hoá, coi nhẹ việc rèn luyện đạo đức, hình thức giáo dục còn khô cứng, áp đặt, không phù hợp tâm lý lứa tuổi Từ thực trạng và nguyên nhân trên, tác giả đề xuất 8 giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên

Các tác giả Lê Thu Hồng - Lê Ngọc Lan - Nguyễn Văn Thàng trong

cuốn: “ Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm” [19] đã khẳng định

quá trình hình thành những phẩm chất đạo đức của học sinh là một quá trình phức tạp, bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khách quan, chủ quan và chúng có quan hệ chằng chịt với nhau Các tác giả khẳng định: Tổ chức giáo dục của nhà trường có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh; không khí đạo đức của tập thể là môi trường phát sinh, điều kiện tồn tại và củng cố hành vi đạo đức Bên cạnh vai trò của nhà trường, các tác giả đề cao nền nếp sinh hoạt và sự tổ chức giáo dục gia đình có ý

Trang 13

nghĩa đặc biệt trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh và coi sự tự tu dưỡng là yếu tố quyết định trực tiếp trình độ đạo đức của mỗi học sinh

Trong công trình nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, các tác giả Lê Trung Trấn - Nguyễn Dục Quang đề nghị cần phải đổi mới hoạt động giáo dục đạo đức theo nguyên tắc phù hợp với sự phát triển mới và yêu cầu của xã hội, giáo dục có hệ thống, tiếp cận phức hợp và xuất phát từ học sinh

Điểm lại các công trình nghiên cứu trên đây, mặc dù còn có những quan điểm chưa thống nhất nhưng tựu chung các tác giả đều khẳng định:

Đa số học sinh, sinh viên có phẩm chất đạo đức và lối sống tốt, ham hiểu biết, ham học hỏi, tôn trọng đạo lý, vẫn giữ gìn được bản sắc và truyền thống văn hoá của dân tộc, mặc dù nhận thức và hành động còn nhiều chỗ chưa đạt những chuẩn mực đạo đức, luật pháp hiện nay Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận thanh niên, học sinh sa sút về phẩm chất đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, coi thường luân thường đạo lý, phai nhạt lý tưởng XHCN, vi phạm pháp luật và sa vào các tệ nạn xã hội, có các hành vi xa lạ với các chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hoá của dân tộc, có chiều hướng diễn biến phức tạp và ngày càng gia tăng

Các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho học sinh khá nhiều nhưng chưa cụ thể và không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của từng nhà trường ở các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội rất khác nhau Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế ngày càng rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội và sự tác động của hoàn cảnh kinh tế - xã hội lên đời sống tâm lý của con người, nhất là lớp trẻ ngày càng tăng, từ đó công tác giáo dục đạo đức cho thanh, thiếu niên càng trở nên cấp thiết Trong thời gian tới đây khi chúng ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thì nhu cầu nguồn nhân lực đáp

Trang 14

ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước đặt ra vô cùng gay gắt, khi

mà cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên quyết liệt Nguồn nhân lực mới đòi hỏi vừa có trình độ Khoa học - Công nghệ và tay nghề cao, vừa phải có đạo đức trong sáng, kiên định lý tưởng XHCN, yêu nước, có lòng nhân đạo cao

cả, ân nghĩa, biết yêu thương con người, Tóm lại nguồn nhân lực mới phải

phát triển toàn diện cả “Đức và Tài” Một điều khiến chúng ta trăn trở là: Tại

sao trong những năm gần đây, bên cạnh những thành tựu chúng ta đạt được về mặt kinh tế thì tiêu cực và tệ nạn xã hội ngày càng diễn biến phức tạp, sự xuống cấp về đạo đức của một bộ phận thanh niên học sinh ngày càng gia tăng? Nguyên nhân của tình trạng trên là ở đâu? Trách nhiệm của các nhà trường, đặc biệt là các trường THPT đến đâu nhằm hạn chế tình trạng trên và nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh, một lực lượng chiếm tỷ lệ cao trong xã hội, là chủ nhân tương lai của đất nước, góp phần đào tạo nguồn nhân lực phát triển toàn diện đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới

Những phân tích trên, cho thấy, việc nghiên cứu đề tài là cần thiết và thiết thực góp phần tháo gỡ những bất cập trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho sinh THPT

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Đạo đức

Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, điều chỉnh hành vi trong các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên và xã hội, là sản phẩm của quá trình phát triển lịch

sử của xã hội và góp phần phản ánh sự tồn tại của đời sống tinh thần

Có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức, có thể kể đến một số định nghĩa sau:

Trang 15

Theo “Từ điển Tiếng Việt” [33] thì “đạo đức là những tiêu chuẩn,

nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”

Theo tài liệu “Giáo dục công dân lớp 10” của một nhóm tác giả do

Mai Văn Bính chủ biên thì : “Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực

xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội”

Dưới góc độ triết học thì: “Đạo đức là một trong những hình thái

sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực, điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta ta đánh giá hành vi, phẩm giá của của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ và danh dự ”(Hữu Ngọc - Từ điển Triết học giản yếu -

NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp - Hà Nội,1987)

Dưới góc độ đạo đức học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội

đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội” [20]

Dưới góc độ giáo dục học thì: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã

hội, là hệ thống các quan điểm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người” (Phạm Viết Vượng - Giáo dục học Đại

cương - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996)

Theo GS.VS Phạm Minh Hạc thì: “Đạo đức, theo nghĩa hẹp, là luân

lý, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống”

Trang 16

“Theo nghĩa rộng thì khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng; ở hành động góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp, giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại"[14]

Theo các tác giả: PTS Phạm Khắc Chương - Th.S Trần Văn Chương:

“Đạo đức là hệ thống những quy tắc chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với cả bản thân mình”[10]

Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm đạo đức Mỗi một giai cấp, một hình thái kinh tế xã hội hay mỗi dân tộc lại có một chuẩn mực đạo đức khác nhau, hay nói các khác đạo đức mang tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại Vì vậy trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi hình thái ý thức xã hội lại có những hình mẫu, những chuẩn mực đạo đức đặc trưng của xã hội ấy Chuẩn mực đạo đức không phải là bất biến mà một số có thể thay đổi theo thời gian Tuy nhiên có một số chuẩn mực đạo đức lại có tính bền vững cao do những chuẩn mực ấy có ý nghĩa tốt đẹp trong việc củng cố mối quan hệ giữa con người với con người, với tự nhiên và xã hội Theo đà phát triển của lịch sử và sự phát triển đi lên của xã hội mà chuẩn mực đạo đức qua cuộc đấu tranh, gạn lọc, kế thừa mà ngày càng tiến bộ

Trong thời đại ngày nay, chúng ta đang tiến hành công cuộc xây dựng chế độ XHCN thì điều đặt ra cấp bách là cần xây dựng một số chuẩn mực đạo đức mới, nhằm phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bên cạnh đó chúng ta cũng cần loại bỏ một số

Trang 17

chuẩn mực đạo đức cũ đã lạc hậu, lỗi thời Các chuẩn mực đạo đức mới được xây dựng trên cơ sở phải kế thừa được các truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và xu thế phát triển của thời đại

Với những phân tích trên, tác giả luận văn quan niệm: “ Đạo đức là

một hình thái ý thức xã hội, tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực

xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin

cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”

1.2.2 Quá trình giáo dục đạo đức

Dù ở thời đại nào, dưới chế độ nào thì việc giáo dục đạo đức cho thế

hệ trẻ cũng được toàn xã hội quan tâm đặc biệt

Bản chất của giáo dục đạo đức là quá trình biến những hệ thống các chuẩn mực đạo đức, từ những yêu cầu, đòi hỏi bên ngoài của của xã hội về hành vi đối với mỗi cá nhân thành những nhu cầu , đòi hỏi từ bên trong của cá nhân trong các mối quan hệ, ứng xử hằng ngày đối với cộng đồng xã hội, từ đó biến thành niềm tin, thói quen, nhu cầu của người được giáo dục

Giáo dục đạo đức được thực hiện ở các môi trường khác nhau Trường học được xác định là môi trường, là lực lượng quan trọng trong việc tổ chức giáo dục đạo đức Trong nhà trường , giáo dục đạo đức được

tổ chức, được điều khiển một cách khoa học nên nó tồn tại với tư cách là một quá trình

Với tư cách là một quá trình, tác giả luận văn quan niệm quá trình giáo dục đạo đức như sau:

Quá trình giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin hành vi, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập cho được những thói quen hành vi đạo đức

Trang 18

Giáo dục đạo đức có quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục pháp luật, khoa học và tôn giáo

Thực vậy, hành vi của mỗi con người trong cuộc sống hằng ngày không chỉ được điều chỉnh bằng các chuẩn mực đạo đức, mà còn bằng chế

độ chính sách, bằng pháp luật và bằng hiểu biết về khoa học, về đức tin trong tôn giáo

- Quan hệ giữa giáo dục đạo đức và giáo dục chính trị:

Tư tưởng chính trị là một hình thái ý thức xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội Nó xuất hiện trong lịch sử cùng với sự xuất hiện của nhà nước cổ đại

Tư tưởng chính trị của một thể chế xã hội là hệ thống quan điểm, tư tưởng thể hiện lợi ích căn bản của một giai cấp nhất định Vì vậy tư tưởng chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các hình thái ý thức xã hội khác,

trong đó có đạo đức Theo Menvechiúyt: “ Đạo đức học sẽ không có nội

dung, nếu nó không hoà lẫn với chính trị và pháp chế”

Quan hệ giữa đạo đức và chính trị thể hiện trước tiên là những quy định cụ thể bằng văn bản về nghị quyết, đường lối chính sách, pháp luật nhà nước có ý nghĩa luân lý

Dưới chế độ XHCN, tư tưởng chính trị và nội dung đạo đức có mối quan hệ thống nhất chặt chẽ với nhau, vì lợi ích chung của cả dân tộc

- Quan hệ giữa giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật:

Đạo đức và pháp luật có quan hệ khăng khít với nhau, vì trước hết có cùng mục đích và nhiệm vụ là điều chỉnh hành vi giữa con người với con người, con người với tự nhiên và xã hội

Tuy nhiên chúng cũng có sự khác biệt căn bản, cụ thể như sau:

Sự điều chỉnh hành vi của pháp luật là sự điều chỉnh mang tính bắt buộc, có tính cưỡng chế Đó là sự điều chỉnh thông qua những yêu cầu

Trang 19

tối thiểu, được quy định bằng văn bản của Nhà nước, buộc các cá nhân

và tổ chức phải tuân theo để đảm bảo lợi ích của công dân hoặc lợi ích chung của xã hội

Trong khi đó, sự điều chỉnh hành vi của đạo đức lại mang tính tự nguyện và thường là những yêu cầu cao của xã hội đối với con người

Trong thực tế có những trường hợp hành vi của cá nhân tuy không vi phạm pháp luật nhưng vẫn có thể bị lên án về mặt đạo đức

1.2.3 Chất lượng quá trình giáo dục đạo đức

Chất lượng nói chung và chất lượng giáo dục nói riêng là những khái niệm có thể được nhìn nhận từ nhiều từ nhiều góc độ khác nhau Khái niệm chất lượng phản ánh thuộc tính đặc trưng, giá trị, bản chất của sự vật tạo nên sự khác biệt (về chất) giữa sự vật này và sự vật khác

Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng giáo dục với đặc trưng sản phẩm

là con người lao động, là kết quả đầu ra của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp

Như vậy, chất lượng giáo dục chính là mức độ mà sản phẩm giáo dục của nhà trường đáp ứng nhu cầu của xã hội

Quá trình giáo dục đạo đức góp phần tạo nên những nhân cách theo yêu cầu của xã hội Sản phẩm của quá trình giáo dục đạo đức chính là những nhân cách có hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội

Theo đó, chất lượng quá trình giáo dục đạo đức là sự thoả mãn nhu

cầu xã hội về mặt phẩm chất đạo đức, nhân cách, năng lực, hành vi ứng xử của học sinh - sản phẩm giáo dục đào tạo của nhà trường

Như vậy chất lượng quá trình giáo dục đạo đức phải được biểu hiện qua các hành vi ứng xử của học sinh trong quan hệ với xã hội, môi trường sống và

Trang 20

làm việc Hành vi ứng xử đó phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, phù hợp với yêu cầu phẩm chất của người lao động mới Hay nói cách khác là nhà trường phải giúp học sinh hoàn thiện nhân cách - sức lao động phù hợp yêu cầu của xã hội, của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong nhà trường là tổng hợp các hoạt động sư phạm và bằng nhiều con đường, nhiều cách thức nhằm giúp học sinh hoàn thiện và phát triển nhân cách, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và mục tiêu giáo dục đạo đức mà Đảng và nhà nước đã đề ra và yêu cầu của xã hội về nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong khoa học, khái niệm giải pháp là một khái niệm rộng, bao quát hơn biện pháp, mang cả tính chất lý luận và có ý nghĩa định hướng cho nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề theo mục đích nhất định Khái niệm giải pháp thường gần nghĩa với khái niệm phương pháp Vì vậy, sự phân biệt các khái niệm biện pháp, phương pháp, giải pháp chỉ có ý nghĩa tương đối Khái niệm giải pháp được diễn đạt như cách thức, con đường để giải quyết một vấn đề nào nó mang tính khái quát và toàn cục

Như vậy, tác giả luận văn quan niệm giải pháp quản lý là cách thức,

con đường quản lý để giải quyết những vấn đề mang tính khái quát, toàn cục nảy sinh trong thực tiễn quản lý

Trang 21

1.3 Quá trình giáo dục đạo đức trong trường THPT

1.3.1 Đặc điểm chung của trường THPT

Trường THPT là bậc học cuối cùng của ngành học phổ thông, là nơi hoàn thiện kiến thức phổ thông cơ bản toàn diện cho học sinh

Học sinh THPT là lớp người có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi Hầu hết học sinh thể hiện hoài bão ước mơ của mình theo hướng tích cực, họ có nhiều nỗ lực cá nhân, nhằm giải quyết các mâu thuẫn giữa năng lực bản thân với yêu cầu của xã hội, để có thể tự lập trong bối cảnh phát triển kinh

tế - xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập ngày nay

Bối cảnh kinh tế xã hội chi phối nguyện vọng của học sinh và tác động lớn đến họ cũng như gia đình họ Học sinh THPT hôm nay chính là lực lượng lao động cơ bản trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước ta, đặc biệt là các yêu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức, giao lưu văn hóa, hội nhập quốc tế và khu vực,…trên nhiều lĩnh vực xã hội

Thực tế trong những năm qua, hầu hết các bậc cha mẹ học sinh có nhận thức đúng về yêu cầu nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước Từ đó họ đã định hướng cho con em mình tích cực chuẩn bị năng lực làm việc để bước vào đời, họ đã có những lo lắng thực sự và không ít gia đình đã tìm mọi cách để đầu tư cho việc học hành của con cái họ, nhằm tạo điều kiện để bản thân các em có năng lực và phẩm chất thích ứng với các yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội Chính các đặc điểm về bậc học, về độ tuổi, về gia đình, về yêu cầu nguồn nhân lực của xã hội đã tạo ra sự phân hóa nguyện vọng của học sinh THPT theo hai xu hướng chính:

- Một là: đa số các em có nguyện vọng tiếp tục học lên ở bậc học cao hơn

- Hai là: chấp nhận hòa nhập vào thị trường lao động của xã hội và đón chờ cơ hội tiếp tục học thêm ( vì phần đông học sinh không thể tiếp tục học lên ngay sau khi học xong THPT do năng lực của bản thân, điều kiện

Trang 22

kinh tế của gia đình họ và đặc biệt là họ không vượt qua được kỳ thi tuyển sinh vào Đại học và Cao đẳng tổ chức hàng năm)

Trường THPT là cái nôi đào tạo nguồn nhân lực lao động phổ thông cho nhiều ngành kinh tế Những người lao động này phải có kiến thức phổ thông nhất định thì mới đáp ứng được yêu cầu lao động, hơn nữa trong

“Chiến lựơc phát triển giáo dục 2001-2010” đã chỉ rõ: “…Đảm bảo cho

học sinh có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi bản thân học sinh, giúp học sinh có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho phân luồng sau trung học phổ thông để học sinh vào đời hoặc chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp Tăng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi vào THPT từ 38% năm 2000 lên 45% vào năm 2005 và 50% vào năm 2010”

Từ những đặc điểm trên và từ nhiệm vụ cơ bản của trường THPT đã được ghi trong điều lệ trường THPT ta có thể nêu lên một số đặc trưng về mục tiêu quản lý của Hiệu trưởng trường THPT đó chính là quá trình quản

lý dạy - học là nhằm mục tiêu kép:

- Chuẩn bị cho học sinh có cơ hội tiếp tục học lên

- Chuẩn bị cho học sinh hòa nhập vào môi trường xã hội, đi vào cuộc sống lao động, đóng góp sức lực và trí tuệ của mình vào sự phát triển kinh

tế - xã hội, có vị trí xứng đáng trong cộng đồng dân cư, phát huy khả năng của mình để có ít nhất một nghề, có việc làm ổn định và học tập thường xuyên hòa nhập với xã hội học tập

Hình thành cho học sinh năng lực thích nghi với sự thay đổi của thực tiễn cuộc sống để chủ động trong lao động và học tập nhằm hòa nhập với môi trường và cộng đồng

Trang 23

Trường THPT là một bộ phận trong hệ thống GD - ĐT, giữ vai trò

xung kích trong việc thực hiện “Chiến lựơc phát triển giáo dục”

1.3.2 Đặc điểm của học sinh THPT

- Đặc điểm cơ thể: Giai đoạn đầu của tuổi thanh niên cũng chính là thời

kỳ kết thúc tuổi thiếu niên, là giai đoạn các em đang là học sinh bậc học THPT Đây là giai đoạn đầu của sự phát triển về thể lực và đa số các em đã đạt được sự tăng tưởng của mình Hệ thần kinh có sự thay đổi quan trọng do các chức năng của não phát triển Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý, đa số các em đã vượt qua thời kỳ phát dục

Nhìn chung đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, khoẻ mạnh và đẹp

- Điều kiện xã hội của sự phát triển: Tuổi thanh niên vốn rất hiếu

động, ham hiểu biết, ham các hoạt động tập thể, hoạt động xã hôi Do mới bước vào ngưỡng cửa của người lớn nên các em rất muốn thể hiện vai trò của người lớn, muốn hoạt động và thể hiện trách nhiệm của mình, mong muốn được tự khẳng định mình Trong gia đình, vai trò của các em cũng tăng dần, được tham gia vào một số công việc của người lớn, không bị cha

mẹ coi là trẻ con nữa

Ở trường , các em đủ tuổi gia nhập Đoàn thanh niên Đến 18 tuổi các

em bắt đầu thực hiện quyền công dân của mình Tuy nhiên ở những năm học THPT, các em còn chưa hẳn được coi là người lớn, còn phụ thuộc vào người lớn, bị người lớn chi phối các hoạt động chính của mình, chưa được hoạt động độc lập theo ý mình Cả ở trong và ngoài xã hội, thái độ của nười lớn thường có tính hai mặt: Một mặt coi các em đã là người lớn, đòi hỏi các

em có tính trách nhiệm, độc lập, tự quyết, Mặt khác lại không hoàn toàn tin tưởng, đòi hỏi các em tuân thủ sự chỉ đạo, điều khiển của người lớn,

Trang 24

của cha mẹ, Điều đó tạo nên những nét tâm lý độc đáo của tuổi thanh niên

- Đặc điểm hoạt động học tập: Nội dung, tính chất học tập của thanh

niên có sự khác biệt nhiều so với lứa tuổi thiếu niên vì việc học tập ở lứa tuổi này đã đòi hỏi mức độ độc lập, tự giác cao hơn nhiều Hơn nữa học sinh càng trưởng thành thì kinh nghiệm sống càng phong phú nên các em đã tự ý thức được trách nhiệm của mình trước nhiệm vụ học tập Động cơ học tập của học sinh cũng trở nên thực dụng hơn do các em bắt đầu có ý thức trong việc lựa chọn nghề nghiệp, thi đại học sau này nên không ít em học lệch, chỉ chú trọng đến các môn học liên quan đến việc lựa chọn nghề nghiệp mà các em đã lựa chọn Vì vậy nhiệm vụ của giáo viên là cần làm cho học sinh thấy rõ ý nghĩa của kiến thức phổ thông đối với các môn học chuyên ngành và nghề nghiệp sau này cũng như đối với việc xây dựng cuộc sống trong tương lai, để từ đó các em xác định thái độ và động cơ học tập đúng đắn

- Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ: Tri giác có mục đích đạt tới mức

khá cao, quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Tuy nhiên quan sát của thanh niên học sinh hiệu quả không cao nếu không có sự hướng dẫn chỉ đạo của giáo viên Ở tuổi thanh niên học sinh, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng Từ đó hoạt động tư duy của học sinh có sự thay đổi quan trọng về chất, khác với lứa tuổi trước chủ yếu là thuộc lòng và ghi nhớ máy móc Tư duy của các em có tính độc lập hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Một số em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách sáng tạo trong các đối tượng đã được học, chưa được học ở trường

Trang 25

Tóm lại, tuổi thanh niên học sinh một số đặc điểm chung của con người về mặt trí tuệ đã được hình thành nhưng chưa đầy đủ mà còn phải tiếp tục hoàn thiện thêm

1.3.3 Cấu trúc quá trình giáo dục đạo đức trong trường THPT

* Mục tiêu giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức có 3 mục tiêu sau đây:

- Trang bị cho mọi người những tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật và văn hoá xã hội Cần truyền tải cho học sinh những hiểu biết về thước đo giá trị, định hướng giá trị trong các lĩnh vực chính trị xã hội, truyền thống lịch sử văn hoá của dân tộc, lịch

sử cách mạng của Đảng ta, đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh

Giáo dục đạo đức phải gắn liền với giáo dục pháp luật, chính trị tư tưởng, những tri thức về vốn sống qua các hoạt động: Giao tiếp ứng xử, học tập, lao động, hoạt động xã hội,

- Hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh

Đây là nhiệm vụ rất quan trọng vì chỉ khi có thái độ đúng đắn, có tình cảm trong sáng, có niềm tin đạo đức đối với bản thân và xã hội thì mới tạo ra động lực từ bên trong điều chỉnh nhận thức và hành vi của mỗi cá nhân phù hợp chuẳn mực đạo đức chung của xã hội Đặc biệt cần hình thành niềm tin vào Đảng, vào sự nghiệp đổi mới, vào sự thành công của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây là nhân tố quan trọng góp phần hình thành lý tưởng sống của mỗi cá nhân

- Rèn luyện để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định của pháp luật, nỗ lực học tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp công nghiệp hoá

Trang 26

- hiện đại hoá đất nước Hành vi và thói quen đạo đức là mục tiêu của giáo dục đạo đức và cũng là thước đo đánh giá nhân cách của mỗi con người

Hành vi và thói quen đạo đức phải được phải được thể hiện bằng những hành động cụ thể, bằng hiệu quả giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quan hệ của chủ thể với mọi người, với tự nhiên và xã hội

Tóm lại, mục tiêu giáo dục đạo đức là trang bị cho học sinh có nhận thức đúng đắn và đầy đủ những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của thời đại, nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ, bổn phận và trách nhiệm của cá nhân đối với xã hội, đối với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

* Nhiệm vụ giáo dục đạo đức

Qua phần trình bày ở trên, chúng ta đều nhận thấy vai trò to lớn của đạo đức đối với mỗi cá nhân và đối với toàn xã hội Mục tiêu của giáo dục

là học sinh được phát triển toàn diện Vì vậy giáo dục đạo đức trong nhà trường là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và rất nặng nề Để đạt được mục tiêu đã đề ra, giáo dục đạo đức có nhiệm vụ:

- Giáo dục ý thức đạo đức

Cung cấp cho người học những tri thức cơ bản về chuẩn mực đạo đức, phẩm chất đạo đức, những yêu cầu của xã hội đối với hành vi đạo đức của mỗi cá nhân, từ đó giúp họ ý thức được và có trách nhiệm trước hành

vi đạo đức của mình trong các mối quan hệ xã hội

- Giáo dục tình cảm niềm tin đạo đức

Qua quá trình giáo dục khơi dậy ở người học những rung động, xúc cảm trước hiện thực xung quanh, biết yêu, ghét rõ ràng, biết đồng cảm, chia sẻ với người khác và có niềm tin vào đạo lý, vào những điều tốt đẹp của cuộc sống từ đó có thái độ ứng xử đúng đắn trước các diễn biến phức tạp của đời sống xã hội

- Giáo dục hành vi thói quen đạo đức

Trang 27

Đây là quá trình tổ chức rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh hoạt, trong cuộc sống nhằm tạo nên thói quen, tạo lập được hành vi đạo đức đúng đắn, trở thành phẩm chất của nhân cách, trở thành thói quen nhân cách bền vững

* Nội dung giáo dục đạo đức

Nội dung của giáo dục đạo đức gồm những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những giá trị đạo đức cần thiết của con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần trang bị cho học sinh nhằm đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực của nền kinh tế xã hội đất nước Giáo dục đạo đức trong nhà trường XHCN phải hướng vào các yêu cầu của cuộc sống, của xã hội, của mục tiêu xây dựng nền đạo đức mới XHCN ở nước ta Đạo đức XHCN là kiểu đạo đức khắc phục được sự đối lập giữa lợi ích xã hội và lợi ích của cá nhân, đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân và toàn xã hội Trên cơ sở kế thừa những chuẩn mực đạo đức truyền thống, kết hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta có thể phân chia thành các nhóm chuẩn mực của nội dung giáo dục đạo đức sau đây:

- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị bao gồm giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với xây dựng Tổ quốc XHCN, đường lối công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, tình yêu quê hương đất nước, có lòng tự hào dân tộc, tin tưởng vào đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Những chuẩn mực đạo đức thể hiện tư tưởng chính trị sẽ góp phần định hướng lý tưởng sống cho mỗi cá nhân vì chỉ khi có lý tưởng sống đúng đắn thì mới tạo ra động lực mạnh mẽ trong học tập, lao động và cuộc sống

Đạo đức cao nhất của mỗi con người là sống, làm việc, rèn luyện vì “Dân

giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

- Nhóm chuẩn mực đạo đức hướng vào sự tự hoàn thiện bản thân bao gồm các chuẩn mực sau: Tự trọng, tự tin, tự lập, sống giản dị, tiết kiệm,

Trang 28

trung thực, siêng năng, hướng thiện, nhân ái, giàu lòng vị tha, có xúc cảm trước nhân tình thế thái

- Nhóm những chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với mọi người và với dân tộc khác Đó là lòng nhân nghĩa, lòng biết ơn tổ tiên, cha mẹ, thày cô, người có công với nước, có lòng yêu thương, khoan dung, vị tha, hợp tác, bình đẳng, tôn trọng, thuỷ chung, biết cùng chia sẻ và cùng chung sống, giữ chữ tín, Trong bối cảnh nước ta thực hiện nền kinh tế thị trường và mở rộng hội nhập Quốc tế như hiện nay, chuẩn mực này giúp học sinh có cách nhìn nhận, đánh giá, ứng xử đúng đắn trước những biến động phức tạp của tình hình kinh tế - xã hội đất nước cũng như xu thế toàn cầu hoá hiện nay

- Nhóm những chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với công việc

Đó là làm việc có tinh thần hợp tác và trách nhiệm cao, có lương tâm nghề nghiệp, tôn trọng pháp luật, lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết Những giá trị trên sẽ là động lực giúp mỗi cá nhân nâng cao hiệu quả hoạt động, hoàn thiện nhân cách, học tập, lao động và hoạt động xã hội, đồng thời thể hiện tập trung ý thức, trách nhiệm của mỗi công dân trong xã hội

- Nhóm chuẩn mực liên quan đến xây dựng môi trường sống tự nhiên

và xã hội Đó là xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên, môi trường, xây dựng xã hội dân chủ, tiến bộ văn minh, bình đẳng, bảo vệ hoà bình, phát huy truyền thống và di sản văn hoá dân tộc và nhân loại

Vấn đề giữ gìn và bảo vệ môi trường sống (Bao gồm cả môi trường gia đình và môi trường xã hội) đang là vấn đề bức xúc của thời đại ngày nay, khi mà tình hình kinh tế - chính trị - môi trường trên thế giới diễn biến ngày càng phức tạp, vì vậy đòi hỏi chúng ta phải giáo dục cho học sinh trở thành những người có lương tâm, có đạo đức, có trách nhiệm trước các vấn

đề cấp bách trên

Trang 29

* Phương pháp giáo dục đạo đức

Phương pháp giáo dục đạo đức là các thức tác động có của nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức hay nói cách khác là nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức và những kỹ năng ứng xử tốt đẹp trong các mối quan hệ, từ đó hình thành và phát triển nhân cách

Có nhiều phương pháp giáo dục đạo đức khác nhau, nhưng thông thường có thể được phân chia thành 3 nhóm sau đây:

- Nhóm phương pháp tác động lên nhận thức

Nhóm phương pháp này xuất phát từ nguyên tắc sự thống nhất giữa ý thức và hành động, giữa lý trí và tình cảm trong mọi hành vi của con người

có nguồn gốc từ nhận thức Quá trình hình thành và phát triển nhân cách là

sự kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động ý thức và hoạt động thực tiễn Mặc dù những kinh nghiệm mà học sinh thu lượm được trong cuộc sống là hết sức quan trọng song những kinh nghiệm ấy còn hạn hẹp, phiến diện, không phản ánh hết được các mối quan hệ hết sức phưc tạp, đa dạng và phong phú của xã hội Do đó các nhà giáo dục có trách nhiệm cung cấp cho họ những kinh nghiệm sống mà xã hội loài người đã tích luỹ được sau khi đã được khái quát hóa và hệ thống hoá nhằm giúp học sinh có cách nhìn đầy đủ hơn trước các vấn đề đặt ra trong cuộc sống

- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động và tích luỹ kinh nghiệm ứng

xử xã hội

Thực tế cuộc sống vốn vô cùng đa dạng và phong phú Thông qua hoạt động thực tế, rất nhiều mối quan hệ xã hội nảy sinh đòi hỏi đối tượng phải giải quyết, yêu cầu họ phải động não, phải vận dụng những tri thức đã

có để ứng xử từ đó họ sẽ được tập dượt, rèn luyện, tích luỹ kinh nghiệm sống, hình thành nên hành vi, thói quen từ đó dần hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình

Trang 30

- Nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng

xử của học sinh

Chức năng cơ bản của phương pháp này là kích thích, thúc đẩy, điều chỉnh, ức chế các hành vi ứng xử của học sinh Phương pháp này góp phần củng cố kết quả của hai nhóm phương pháp trên

Nhóm này gồm các phương pháp: Thi đua, khen thưởng, phê bình, trách phạt Thưởng phạt luôn luôn đi liền với nhau, bổ sung cho nhau Nếu thi đua khen thưởng là để động viên các cá nhân hoặc tập thể học sinh đua tài gắng sức, vươn lên đạt kết quả tốt đẹp, tích cực của xã hội, qua đó học sinh được động viên, khen thưởng thường rất tự hào phấn khởi thì hình thức trách phạt biểu thị thái độ không đồng tình, lên án, phủ định của giáo viên, của tập thể, của xã hội đối với những hành vi, những hành động của

cá nhân hay tập thể trái với quy tắc chuẩn mực ứng xử của xã hội, buộc họ phải từ bỏ hoặc điều chỉnh lại cách ứng xử cho phù hợp với chuẩn mực đã được quy định Việc khen thưởng hay trách phạt phải đảm bảo hết sức khách quan, công bằng, đúng mức thì mới có tác dụng tích cực, nếu không

sẽ phản tác dụng, việc khen chê sẽ không có hiệu quả

1.4 Quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong trường THPT

1.4.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức học sinh THPT

- Công tác tổ chức, quản lý quá trình giáo dục tổng thể của nhà trường

Quá trình giáo dục tổng thể là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, ảnh hưởng tự giác, chủ động đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách Do vậy, việc tổ chức quản lý tốt quá trình này sẽ đảm bảo vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách của học sinh

Công tác tổ chức, quản lý của nhà trường cũng có ảnh hưởng rất quan trọng đến quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh Trên cơ sở mục

Trang 31

tiêu giáo dục, nội dung chương trình, các hoạt động sư phạm của nhà trường có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao chất lượng giáo dục

- Môi trường giáo dục gia đình

Gia đình là nơi đầu tiên các em được học những bài học vỡ lòng về các chuẩn mực xã hội: Đó là quan hệ trên - dưới trong gia đình, sự lễ phép, lòng tôn kính ông bà cha mẹ, lòng nhân ái, vị tha, những bài học đầu tiên

để làm người Ảnh hưởng giáo dục gia đình còn hằn sâu trong mỗi con người trong suốt cuộc đời Vì vậy giáo dục gia đình chính là môi trường, là nơi đặt dấu ấn đầu tiên nhằm hình thành, phát triển các phẩm chất đạo đức, tình người cho mỗi cá nhân

- Những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Ảnh hưởng của các chuẩn mực đạo đức xã hội đối với quá trình giáo dục đạo đức học sinh thể hiện ở các điểm sau:

- Các chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp chính là một trong những cơ sở, là tiền đề để xây dựng mục tiêu giáo dục đạo đức con người Việt Nam mới trong thời đại ngày nay

- Vai trò xây dựng các quy tắc ứng xử giao tiếp trong cuộc sống sinh hoạt thường nhật của mỗi cá nhân đối với xã hội

- Vai trò định hướng cho nhận thức, định hướng trong quá trình giáo dục đạo đức học sinh và các chuẩn mực đạo đức xã hội là mục tiêu để các

em hướng tới trong quá trình hoàn thiện nhân cách của mình

- Vai trò điều chỉnh hành vi ứng xử trong các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với cộng đồng xã hội và với thế giới tự

nhiên Chuẩn mực đạo đức xã hội chính là cái “Thước”, cái “Khuôn” để

học sinh đối chiếu, điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn đó

Trang 32

- Điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội, sự tham gia của các lực lượng

xã hội và sự tác động của văn hoá ngoại nhập trước xu thế toàn cầu hoá như hiện nay:

Trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh, sự tham gia của các lực lượng xã hội cùng với gia đình, nhà trường là ba yếu tố cơ bản nhất, có ảnh hưởng quyết định nhất đến chất lượng giáo dục đạo đức học sinh

Trong tiến trình lịch sử của mỗi dân tộc, hiện tượng giao thoa văn hoá, tiếp nhận tinh hoa văn hoá thế giới sẽ làm giàu thêm vốn văn hoá của

mỗi dân tộc Tuy nhiên tiếp thu phải có chọn lọc nếu không sẽ bị “hoà

tan”, làm mất bản sắc văn hoá dân tộc

Trong tương lai, khi chúng ta gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), việc mở cửa hội nhập còn diễn ra toàn diện hơn nữa do đó ảnh hưởng của đạo đức, lối sống bên ngoài tới lớp trẻ càng mạnh mẽ, cả mặt tích cực và tiêu cực đều có Sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá thế giới sẽ làm phong phú thêm nền văn hoá của dân tộc Nhưng điều đáng

lo ngại nhất là sự tác động tiêu cực của lối sống thực dụng, kích động bạo lực, tình dục của Phương Tây, vốn xa lạ với truyền thống văn hoá, đạo đức của người Việt Nam chúng ta Nếu chúng ta không có các biện pháp giáo dục, tuyên truyền, ngăn chặn hữu hiệu với sự tham gia đồng bộ của mọi lực lượng xã hội thì một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên sẽ dễ bị tiêm nhiễm lối sống đó, xa rời truyền thống văn hoá dân tộc, các giá trị và chuẩn mực đạo đức truyền thống sẽ bị đảo lộn

1.4.2 Quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong trường THPT

Quản lý nói chung, quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong trường THPT nói riêng có thể được nghiên cứu theo tiếp cận chức năng hoặc tiếp cận nội dung (phụ thuộc vào đối tượng quản lý) Trong khuôn khổ luận văn, tác giả luận văn nghiên cứu về quản lý quá trình giáo dục đạo đức

Trang 33

trong trường THPT theo tiếp cận nội dung Theo đó, quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong trường THPT bao gồm các nội dung:

- Quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức

- Quản lý nội dung giáo dục đạo đức

- Quản lý phương pháp giáo dục đạo đức

- Quản lý hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình giáo dục đạo đức

- Quản lý các điều kiện để thực hiện quá trình giáo dục đạo đức

trong nhà trường

1.4.2.1 Quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức

Căn cứ vào mục tiêu GDĐĐ và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình GDĐĐ như đã trình bày ở trên, công tác quản lý của nhà trường phải đảm bảo cho quá trình GDĐĐ cho học sinh của mọi lực lượng tham gia quá trình này (Kể cả trong và ngoài nhà trường) luôn thực hiện thống nhất và đúng đắn mục tiêu đã xác định Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà mục tiêu GDĐĐ cho học sinh của Nhà trường - Gia đình và các lực lượng xã hội

có thể không giống nhau, từ đó dễ dẫn đến tình trạng “ trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” trong quá trình giáo dục Vì vậy kết quả giáo dục đạo đức chắc chắn sẽ có nhiều hạn chế Từ thực tế ấy đòi hỏi chúng ta phải làm thế nào

để các lực lượng này cùng thống nhất về mục tiêu giáo dục đạo đức, từ đó căn cứ vào chức năng, vai trò và nhiệm vụ của mỗi cá nhân, tổ chức, đoàn thể, mà xác định trách nhiệm của mình trong quá trình tham gia GDĐĐ cho học sinh sao cho vừa phù hợp với đặc thù công việc của mình, vừa phù hợp với mục tiêu chung của nhà trường Muốn vậy chúng ta phải thực hiện tốt những việc sau đây:

- Phổ biến, quán triệt cho các lực lượng tham gia quá trình giáo dục

để mọi cá nhân, tổ chức, đoàn thể trong nhà trường, gia đình học sinh và

Trang 34

các lực lượng xã hội cùng thống nhất về mục tiêu giáo dục đạo đức cũng như quan điểm trong quá trình triển khai thực hiện

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDĐĐ của nhà trường trên cơ sở bám sát các mục tiêu đã nêu đồng thời yêu cầu kế hoạch hoạt động giáo dục của mỗi cá nhân, tổ chức trong nhà trường cũng phải thể hiện rõ mục tiêu giáo dục đạo đức chung đồng thời chúng ta cần cụ thể hoá các mục tiêu GDĐĐ cho từng hoạt động cụ thể, phù hợp với đặc thù hoạt động giáo dục của từng bộ môn, từng tổ chức đoàn thể trong nhà trường

- Giáo dục đạo đức cho học sinh có thể được thực hiện bằng nhiều con đường và phương pháp khác nhau song mục tiêu giáo dục không được thay đổi Muốn vậy, trong quá trình chỉ đạo thực hiện chúng ta phải làm tốt công tác kiểm tra giám sát các hoạt động giáo dục hàng ngày để kịp thời điều chỉnh những sai lệch so với mục tiêu đã đề ra

Tóm lại, quản lý mục tiêu GDĐĐ chính là thực hiện tốt quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chiến lược phát triển toàn diện con người trong thời kỳ thực hiện CNH - HĐH đất nước

1.4.2.2 Quản lý nội dung giáo dục đạo đức

Để công tác GDĐĐ có hiệu quả, điều cốt lõi là chúng ta cần quản

lý tốt việc thực hiện đầy đủ các nội dung GDĐĐ trong nhà trường như

đã nêu ở trên Đây cũng là vấn đề cơ bản nhất để thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục đã đề ra Việc truyền tải các nội dung GDĐĐ cho học sinh

có thể được thực hiện bằng nhiều con đường và thông qua nhiều lực lượng khác nhau Vì vậy để đảm bảo việc thực hiện các nội dung này được thống nhất, đầy đủ, chính xác và có hiệu quả, chúng ta cần phải làm tốt những công việc sau đây:

- Phổ biến, tuyên truyền rộng rãi các nội dung GDĐĐ cho các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục bao gồm các lực lượng trong nhà

Trang 35

trường, gia đình học sinh và các lực lượng xã hội để các lực lượng này đều nắm được các nội dung cơ bản cần truyền tải tới học sinh và đảm bảo sự thống nhất về các nội dung giáo dục cả ở trong và ngoài nhà trường Chỉ có trên cơ sở thống nhất về mục tiêu và các nội dung GDĐĐ thì các lực lượng tham gia quá trình giáo dục mới có cùng quan điểm và tiếng nói chung trong quá trình triển khai thực hiện, khi đó mới phát huy được sức mạnh tổng hợp của nhà trường và toàn xã hội để đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra

- Đưa các nội dung GDĐĐ vào các hoạt động giáo dục hàng ngày Các nội dung GDĐĐ cần được thể hiện trong từng bài giảng của giáo viên

bộ môn, qua hoạt động của giáo viên chủ nhiệm, các hoạt động thi đua thực hiện nền nếp kỷ cương hàng ngày của các em học sinh, thông qua các hoạt động của Đoàn Thanh niên, qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thông qua các hoạt động xã hội và nền nếp sinh hoạt trong gia đình Chúng

ta phải làm thế nào để mỗi hoạt động giáo dục hàng ngày đều góp phần truyền tải những nội dung GDĐĐ tới học sinh

- Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh: Cần làm cho lý tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc, những phẩm chất của người lao động mới trở thành tư tưởng chủ đạo trong các hoạt động giáo dục của nhà trường cũng như trong ý thức tu dưỡng rèn luyện của học sinh Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải có các biện pháp nhằm ngăn chặn có hiệu quả những tiêu cực và tệ nạn xã hội xâm nhập học đường Cần làm cho học sinh có niềm tin vào công cuộc đổi mới, có cái nhìn lạc quan vào những mặt tích cực của xã hội, hướng tới cái “chân”, “thiện”,

“mỹ” để các em sống có lý tưởng, có mục đích tốt đẹp

- Các nội dung GDĐĐ cần được cụ thể hoá thành các tiêu chí thi đua, là cơ sở để định hướng và là căn cứ để xây dựng nội dung cho các hoạt động thực hiện nền nếp, học tập, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

và các hoạt động khác và là cơ sở để đánh giá xếp loại đạo đức học sinh

Trang 36

- Thường xuyên kiểm tra đôn đốc việc thực hiện quy chế chuyên môn, nền nếp giảng dạy của giáo viên Coi trọng và nâng cao vai trò của giáo viên chủ nhiệm, của Đoàn TN trong việc quản lý, giáo dục học sinh

Tóm lại, nhà trường cần quản lý chặt chẽ các nội dung GDĐĐ, huy động được mọi lực lượng trong và ngoài nhà trường cùng thực hiện tốt các nội dung này thì chúng ta mới có cơ sở để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục

1.4.2.3 Quản lý phương pháp giáo dục đạo đức

Quản lý và sử dụng tốt các phương pháp GDĐĐ sẽ giúp chúng ta đạt được mục tiêu giáo dục một cách hiệu quả nhất Quản lý tốt các phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh tức là chúng ta đã phát huy được sức mạnh của các thành viên trong hội đồng giáo dục nhà trường, phát huy được tiềm năng của các lực lượng xã hội và gia đình học sinh tham gia có hiệu quả vào công tác này Để quản lý tốt các phương pháp GDĐĐ, chúng

ta phải thực hiện tốt các các yêu cầu sau đây:

- Tăng cường công tác tuyên truyền vận động để nâng cao tinh thần trách nhiệm của các lực lượng tham gia quá trình giáo dục

- Sử dụng đồng bộ các phương pháp, các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh để các phương pháp này hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục

- Nâng cao chất lượng các môn học văn hoá, đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn là các môn học có lợi thế trong GDĐĐ Cần

có các biện pháp tuyên truyền, động viên khuyến khích để giáo viên các bộ môn này nâng cao tinh thần trách nhiệm, có ý thức lồng ghép các nội dung GDĐĐ trong từng giờ giảng của mình

- Thường xuyên đổi mới các hình thức tổ chức giáo dục đạo đức để tránh sự đơn điệu nhàm chán, đặc biệt là các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hình thức sinh hoạt tập thể, đặc biệt là hoạt động của Đoàn TN nhà trường sao cho các hình thức tổ chức này thật sinh động và hấp dẫn,

Trang 37

vừa đảm bảo mục tiêu và nội dung giáo dục, vừa phù hợp với tâm lý lứa tuổi và nguyện vọng của thanh niên, thu hút được đông đảo học sinh tham gia và được các em nhiệt tình ủng hộ

- Quản lý tốt các lực lượng giáo dục trên địa bàn, thường xuyên liên

hệ với phụ huynh học sinh để tạo ra sự đồng bộ, nhất quán và phát huy được hiệu quả của các môi trường giáo dục

1.4.2.4 Quản lý hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình giáo dục đạo đức

Dạy và học là những hoạt động chính trong nhà trường mà các đối tượng trực tiếp tham gia quá trình này là giáo viên và học sinh Đây cũng là những lực lượng quyết định đến việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Vì vậy để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong nhà trường, chúng ta phải quản lý tốt các hoạt động dạy - học của giáo viên và học sinh

Đối với hoạt động của giáo viên, bên cạnh quản lý tốt mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức như đã trình bày ở trên, chúng ta cần chú trọng nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng, tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ này, đồng thời quản lý chặt chẽ nền nếp kỷ cương trong việc thực hiện quy chế chuyên môn, kỷ luật lao động trong các hoạt động giáo dục Đồng thời chúng ta phải chú trọng đến việc rèn luyện và nâng cao phẩm chất đạo đức, tác phong của người thày trong các hoạt động giáo dục và trong sinh hoạt Cần tăng cường việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức đã đề ra để kịp thời điều chỉnh những sai sót vướng mắc trong quá trình thực hiện

Các hoạt động giáo dục đạo đức của học sinh mà chúng ta cần quản

lý bao gồm các hoạt động chính sau đây:

- Các hoạt động giáo dục chính khoá

- Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

- Các hoạt động sinh hoạt đoàn thể

Trang 38

- Các hoạt động xã hội và giáo dục trong gia đình

Quản lý hoạt động giáo của học sinh trong quá trình giáo dục đạo đức tức là quản lý tốt các hoạt động này, cả ở trong và ngoài nhà trường

Học sinh vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình giáo dục Kết quả hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vào quá trình tự học tự rèn của học sinh.Vì vậy, đối với hoạt động của học sinh, bên cạnh việc chú trọng nâng cao chất lượng giảng dạy, rèn luyện thói quen nền nếp kỷ cương trong các hoạt động hàng ngày, chúng ta cần có các giải pháp nhằm nâng cao ý thức tự giáo dục của các em Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh chỉ thực sự có hiệu quả khi tạo được sự tham gia một cách tích cực, tự giác của các em vào quá trình này

Nhà trường không những phải quản lý một cách toàn diện các hoạt động giáo dục học sinh trong phạm vi nhà trường mà còn phải kết hợp chặt chẽ với gia đình và các lực lượng xã hội cùng tham gia quản lý giáo dục học sinh

1.4.2.5 Quản lý các điều kiện để thực hiện quá trình giáo dục đạo đức trong nhà trường

Muốn có chất lượng giáo dục thì trước hết phải xây dựng và quản lý tốt các điều kiện giáo dục Các điều kiện để thực hiện quá trình giáo dục nói chung cũng như giáo dục đạo đức nói riêng trong nhà trường bao gồm:

- Công tác quản lý

- Cơ sở vật chất - thiết bị

- Đội ngũ cán bộ giáo viên

- Điều kiện kinh tế - xã hội

Để quản lý tốt các điều kiện giáo dục, trước hết chúng ta cần đổi mới công tác quản lý chỉ đạo, chú trọng nâng cao trình độ năng lực chuyên môn

và phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý cán bộ giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế xã hội

Trang 39

Một điều có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức chính là sự đầu tư CSVC và công tác quản lý, phát huy hiệu quả cơ sở vật chất và thiết bị Trong điều kiện nền kinh tế - xã hội của đất nước ta còn khó khăn, vì vậy cùng với nguồn ngân sách của Nhà nước cấp, chúng ta cần tranh thủ sự đóng góp của nhân dân và các lực lượng xã hội để tăng cường CSVC phục vụ cho các hoạt động giáo dục của nhà trường

Điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương như: Vị trí địa lý, dân trí, thu nhập, an ninh trật tự, tệ nạn xã hội, cũng có những ảnh hưởng rất quan trọng tới quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh Vì vậy nhà trường cần làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục để huy động các lực lượng xã hội tích cực cùng nhà trường làm tốt công tác quản lý giáo dục học sinh trên địa bàn

Tóm lại, vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh, đặc biệt

là học sinh THPT hiện nay đang được dư luận xã hội hết sức quan tâm trước những biểu hiện xuống cấp về đạo đức của một bộ phận thanh niên hiện nay Thực trạng này đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với ngành giáo dục nói riêng cũng như toàn xã hội nói chung trong việc từng bước khắc phục tình trạng trên đây đồng thời gìn giữ và phát huy được những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đề ra

Trang 40

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG THPT CẨM LÝ - LỤC NAM HIỆN NAY

2.1 Khái quát tình hình kinh tế xã hội và giáo dục của huyện Lục Nam

- tỉnh Bắc Giang

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội

Lục Nam là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang với diện tích tự nhiên là: 596,6 km2 cách trung tâm tỉnh lỵ Bắc Giang 22 km Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Đồi Ngô Lục Nam có 25 xã và 2 thị trấn với địa hình núi cao, đồi núi thấp xen lẫn những cánh đồng bằng phẳng Địa hình có độ cao trung bình 300m so với mực nước biển và được chia thành 3 vùng chính: Vùng rẻo cao; Vùng đồi núi thấp; Vùng đồng chiêm trũng Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện khoảng 59.660 ha Trong đó đất nông nghiệp: 20.060,96 ha có 12.287 ha thường xuyên canh tác hàng năm

Theo số liêụ điều tra dân số năm 2005 (Niên giám TK 2005) toàn huyện có: 207.200 người, trong đó có 145.089 người sống bằng nông nghiệp chiếm 70% dân số Toàn huyện có: 286 thôn bản với 25 xã và 2 thị trấn Tỷ lệ tăng dân số hàng năm là: 1,02% Số người trong độ tuổi lao động khoảng 89.000 người chiếm 43% dân số Toàn huyện có 8 dân tộc anh em cùng sinh sống gồm: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Hoa, Dao, Mường, Sán Chí trong đó người Kinh chiếm 86,6% Mỗi dân tộc có bản sắc văn hoá riêng như ngôn ngữ, phong tục, tập quán, và các quan hệ cộng đồng Song do sống xen kẽ nên có sự pha trộn và ảnh hưởng lẫn nhau cùng phát triển đồng thời cũng làm giàu thêm bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc

Tổng giá trị sản xuất tăng bình quân là 7,9%, tổng sản lượng cây có hạt hàng năm tăng 5,35%, lương thực bình quân năm 2005 ước đạt 400 kg/ người Diện tích cây thực phẩm tăng hàng năm 4,2%, cây công nghiệp ngắn

Ngày đăng: 17/03/2015, 07:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức Cách mạng - NXB Thông tin lý luận - Hà Nội 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức Cách mạng
Nhà XB: NXB Thông tin lý luận - Hà Nội 1986
2. Đặng Quốc Bảo - Vấn đề quản lý và việc vận dụng vào quản lý nhà trường - Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quản lý và việc vận dụng vào quản lý nhà trường
3. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương - Văn hoá với thanh niên - Thanh niên với văn hoá - Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá với thanh niên - Thanh niên với văn hoá
4. Ban chấp hành TW - Nghị quyết Hội nghị lần thứ II BCHTW Khoá VIII - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ II BCHTW Khoá VIII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội
5. Ban Bí thư khoá IX - Chỉ thị số 40 - CT của Ban Bí thư khoá IX về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Bí thư khoá IX -
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp - NXB Giáo dục - Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Nhà XB: NXB Giáo dục - Hà Nội 2006
7. Bộ Giáo dục - Điều lệ trường Trung học - NXB Giáo dục - Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường Trung học
Nhà XB: NXB Giáo dục - Hà Nội 2000
8. Nguyễn Hữu Công - Tìm hiểu quan điểm giáo dục toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp - Số 11/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quan điểm giáo dục toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh -
9. Trường THPT Cẩm Lý - Báo cáo tổng kết năm học (Từ năm học 2001 - 2002 đến năm học 2005 - 2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học
10. Phạm Khắc Chương - Trần Văn Chương - Đạo đức học - NXB Giáo dục - Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học -
Nhà XB: NXB Giáo dục - Hà Nội 1999
11. Vũ Cao Đàm - Phương pháp nghiên cứu khoa học - NXB KH-KT – Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB KH-KT – Hà Nội 2003
12. Đảng Cộng sản Việt Nam - Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội
13. Trần Khánh Đức - Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM - NXB Giáo dục - Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM
Nhà XB: NXB Giáo dục - Hà Nội 2004
14. Phạm Minh Hạc - Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2001
15. Phạm Minh Hạc - Nguyễn Khoa Điềm - Về phát triển văn hoá và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển văn hoá và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2003
16. Phạm Minh Hạc - Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI -NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI -
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1999
17. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Khoa triết học - Giáo trình đạo đức học Mác - Lê Nin - NXB Lý luận chính trị - Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức học Mác - Lê Nin
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị - Hà Nội 2004
18. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Khoa triết học - Giáo trình đạo đức học - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Giáo trình đạo đức học
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2000
19. Lê Văn Hồng - Lê Ngọc Lan - Nguyễn Văn Thàng - Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
20. Trần Hậu Kiêm - Giáo trình đạo đức học - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức học
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1992

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1:  Chất lượng  giáo  dục của  các  trường  THPT    công  lập  huyện Lục Nam năm học 2005 – 2006 - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
ng 2.1: Chất lượng giáo dục của các trường THPT công lập huyện Lục Nam năm học 2005 – 2006 (Trang 42)
Bảng  2.2:  Thống  kê  xếp loại  hạnh kiểm  hàng  năm  của  học sinh  THPT. - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
ng 2.2: Thống kê xếp loại hạnh kiểm hàng năm của học sinh THPT (Trang 43)
Bảng 2.3: Quy mô học sinh của trường trong những năm gần đây. - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.3 Quy mô học sinh của trường trong những năm gần đây (Trang 47)
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả  quá trình GDĐĐ. - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả quá trình GDĐĐ (Trang 54)
Bảng 2.7: Thực trạng thực hiện các biện pháp quản lý quá trình  giáo dục đạo đức của nhà trường - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.7 Thực trạng thực hiện các biện pháp quản lý quá trình giáo dục đạo đức của nhà trường (Trang 56)
Bảng  2.8:  Ý  kiến  đánh   giá  của  các  khách  thể  về  tình  hình  đạo  đức học sinh - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
ng 2.8: Ý kiến đánh giá của các khách thể về tình hình đạo đức học sinh (Trang 59)
Bảng 2.9: Kết quả xếp loại đạo đức trong 5 năm gần đây. - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.9 Kết quả xếp loại đạo đức trong 5 năm gần đây (Trang 59)
Bảng 2:  Thống kê học sinh thi đỗ Đại học Cao đẳng của các trường  THPT công lập huyện Lục Nam từ năm 2003 đến 2006 - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
Bảng 2 Thống kê học sinh thi đỗ Đại học Cao đẳng của các trường THPT công lập huyện Lục Nam từ năm 2003 đến 2006 (Trang 117)
Bảng 1 : Thống kê chất lượng học lực của các trường THPT trên địa  bàn huyện Lục Nam - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
Bảng 1 Thống kê chất lượng học lực của các trường THPT trên địa bàn huyện Lục Nam (Trang 117)
Bảng 4: Thống kê số lớp, số học sinh của các trường THPT công lập  huyện Lục Nam từ năm 2001 đến 2005 - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
Bảng 4 Thống kê số lớp, số học sinh của các trường THPT công lập huyện Lục Nam từ năm 2001 đến 2005 (Trang 118)
Bảng  3:  Thống  kê  học  sinh  thi  đỗ  tốt  nghiệp  THPT  của  các  trường  THPT công lập huyện Lục Nam từ năm 2003 đến 2006 - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
ng 3: Thống kê học sinh thi đỗ tốt nghiệp THPT của các trường THPT công lập huyện Lục Nam từ năm 2003 đến 2006 (Trang 118)
Bảng  6  :  Chất  lượng  đội  ngũ  giáo  viên  THPT  công  lập  huyện  Lục  Nam từ năm 2002 đến 2006 - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
ng 6 : Chất lượng đội ngũ giáo viên THPT công lập huyện Lục Nam từ năm 2002 đến 2006 (Trang 119)
Bảng 5 : Trình độ đào tạo đội ngũ giáo viên THPT công lập trên địa  bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang từ năm 2002 đến 2006 - Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông Cẩm Lý huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
Bảng 5 Trình độ đào tạo đội ngũ giáo viên THPT công lập trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang từ năm 2002 đến 2006 (Trang 119)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w