Trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đều có sự tham gia của hoạt động quản lý như: Quản lý nhà nước, quản lý giáo dục, quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà trường … mỗi l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN HỮU TOÀN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NHÓM NGÀNH NGHỆ THUẬT CỦA TRƯỜNG TRUNG CẤP VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT NAM ĐỊNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2009
Trang 2MỤC LỤC
33
1.4 Đặc trưng công tác quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ
thuật trong trường trung cấp chuyên nghiệp
Trang 3HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NHÓM NGÀNH NGHỆ THUẬT CỦA
TRƯỜNG TRUNG CẤP VĂN HÓA NGHỆ THUẬT NAM ĐỊNH
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị văn hóa
xã hội, giáo dục của tỉnh Nam Định
41
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân số 41
2.1.2 Kinh tế và văn hóa xã hội 41
2.1.3 Giáo dục và đào tạo 42 2.2 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định
43
2.2.1 Bối cảnh ra đời và một số thành tựu nổi bật 43
2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của trường trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định
44
2.1.4 Các ngành đào tạo của trường trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định 46
2.1.5 Cơ cấu bộ máy tổ chức của trường trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định 46 2.2 Thực trạng hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật của trường trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định
48
2.2.1 Quy mô đào tạo của trường trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định 49
2.2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý 49
2.2.3 Thực trạng về chương trình, kế hoạch đào tạo 53
2.2.4 Thực trạng về trang thiết bị, cơ sở vật chất, phương tiện dạy học 58
2.2.5 Thực trạng về học sinh 59
2.2.6 Thực trạng về chất lượng học tập của học sinh 60 2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật của trường trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định
63
2.3.1 Về đội ngũ cán bộ quản lý 63
2.3.2 Thực trạng về công tác quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên 65
2.3.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động học của học sinh 69
2.3.4 Các hoạt động quản lý khác phục vụ hoạt động dạy học 72
Trang 42.3.5 Đánh giá phân tích nguyên nhân 74 2.4 Định hướng phát triển của trường trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định đến năm 2020
78
Chương 3 BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC NHÓM NGÀNH NGHỆ THUẬT CỦA TRƯỜNG
TRUNG CẤP VĂN HÓA NGHỆ THUẬT NAM ĐỊNH
3.2.3 Tăng cường công tác quản lý hoạt động dạy của giáo viên 92
3.2.4 Nâng cao động lực học cho học sinh, kích thích tính chủ động, sáng tạo của người học
102
3.2.5 Xây dựng củng cố và sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học 108
3.2.6 Tăng cường mối quan hệ giứa nhà trường với gia đình và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và cộng đồng xã hội trong quản lý hoạt động dạy học
111
3.4 Kiểm chứng sự nhận thức, tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 114
Phụ lục
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là một xu thế phát triển khách quan Điều đó đặt ra sự nghiệp hiện đại hoá, công nghiệp hoá của đất nước nói chung, sự nghiệp giáo dục nói riêng trước những thời cơ và thách thức không nhỏ Điều 2 Luật Giáo dục nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam năm 2005 đã khẳng định: "Mục tiêu của Giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực công dân, đáp
ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" Trong sự phát triển của đất nước,
giáo dục đóng vai trò quan trọng, do đó trong chiến lược xây dựng và phát
triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã khẳng định: "Giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu", "là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" (Nghị
quyết 4 BCHTU Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII)
Giáo dục Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giáo dục trong tương quan so sánh với các nước trong khu vực và thế giới
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII chỉ rõ: “Cùng với khoa
học và công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Đại hội IX đề ra nhiệm vụ "Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học và hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá giáo dục" Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt
Nam tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ phát
huy vai trò quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Thực hiện mục tiêu trên một trong những
phương hướng cơ bản của Đảng là: Đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý,
Trang 6phương pháp giáo dục theo hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”
nâng cao chất lượng dạy và học Một trong những đổi mới cơ bản, quan trọng
và cấp thiết của giáo dục hiện nay là đổi mới công tác quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là nhân tố then chốt đảm bảo sự thành công của phát triển giáo dục Vì thông qua quản lý giáo dục, việc thực hiện mục tiêu đào tạo, các chủ trương chính sách giáo dục quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục … mới được triển khai có hiệu quả Quản lý giáo dục là vấn đề lớn với nhiều khó khăn phức tạp diễn ra trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay Quản lý giáo
dục phải lấy nhà trường làm nền tảng, "Nhà trường là vầng trán của cộng
đồng" và "Cộng đồng là trái tim của nhà trường" Từ hai quá trình "Xã hội hoá giáo dục" và "Giáo dục hoá xã hội" quyện chặt vào nhau để hình thành
"Xã hội học tập", tạo nên sự đồng thuận, tăng trưởng kinh tế cho mỗi quốc gia
với mục tiêu phát triển con người - phát triển nhân văn đưa giáo dục đến với mỗi người, cho mọi người và huy động mọi tiềm năng, mọi nguồn lực của xã hội cho giáo dục Đồng thời nhà trường phải lấy việc quản lý hoạt động dạy học là khâu cơ bản thực hiện mục tiêu quản lý giáo dục đặt ra
Quản lý hoạt động dạy học đã được nhiều tác giả làm công tác giáo dục
đề cập Tuy nhiên thực tế cho thấy trong từng giai đoạn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương, của cơ sở đào tạo việc vận dụng lý luận quản lý dạy học có khác nhau Nhìn chung kết quả đạt được trong quá trình quản lý dạy học đáp ứng mục tiêu giáo dục đặt ra Song bên cạnh đó quá trình quản lý hoạt động dạy học đặc biệt trong các trường Trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề nói chung, các trường nghệ thuật nói riêng trước biến đổi của kinh tế, chính trị - xã hội cần phải được đổi mới, tăng cường các biện pháp cho phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực hiện nay
Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, trường Trung cấp Văn
Trang 7hoá Nghệ thuật Nam Định tiền thân là trường Nghiệp vụ Văn hoá Thông tin Nam Hà, được thành lập vào năm 1976 theo quyết định số 623/QĐ-TC ngày 21/02/1967 của Chủ tịch UBND tỉnh Nam Hà Năm 1978 đổi tên trường thành Nghiệp vụ Văn hoá Thông tin Hà Nam Ninh theo quyết định 60/QĐ-TC ngày 10/02/1978 của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam Ninh Năm 1984 trường được nâng cấp và đổi tên thành trường Trung học Văn hoá Nghệ thuật Hà Nam Ninh Quyết định số 1872/QĐ-UBND ngày 22/9/2008 của UBND tỉnh Nam Định về việc đổi tên trường thành trường Trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định Bắt đầu từ đó đến nay trường có chức năng, nhiệm vụ: Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho các nhóm ngành Văn hoá, Nghệ thuật, Sư phạm Nhạc - Hoạ với trình độ trung cấp phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực và của đất nước
Hơn 40 mươi năm phấn đấu và trưởng thành, nhà trường luôn quán triệt
quan điểm “Chất lượng đào tạo là sự sống còn của nhà trường” và xác định
uy tín của nhà trường phụ thuộc vào chất lượng đào tạo mà chất lượng đào tạo lại phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng dạy học của nhà trường trong đó quản lý nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng có ý nghĩa chiến lược đối với chất lượng đào tạo Vì vậy, bên cạnh những nhiệm vụ chính trị, công tác quản lý hoạt động dạy học được nhà trường hết sức quan tâm và coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà trường
Cùng với tiến trình phát triển của nhà trường bên cạnh những thành tích
đã đạt được Là trường đào tạo nghệ thuật nên công tác quản lý nói chung và quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật có những khó khăn nhất định Khắc phục khó khăn nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng trong giáo dục đáp ứng nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH - HDH đất nước Việc tìm ra các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật của trường Trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định trong giai đoạn hiện nay là nhiệm vụ cấp thiết
Trang 8Vận dụng lý luận quản lý giáo dục với thực tế công tác của mình tôi chọn
đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật của
trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định trong giai đoạn hiện nay”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật thích hợp, sáng tạo và khả thi nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý dạy học nhóm ngành nghệ thuật của trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật của trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định trong giai đoạn hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận, tìm hiểu, hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục và quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật
4.2 Khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động dạy học và các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật tại trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định
4.3 Đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học nhóm ngành nghệ thuật của trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định trong giai đoạn hiện nay
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật ở trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật tuy đã đạt được những thành tựu nhất định song còn có hạn chế do nguyên nhân chủ quan và khách quan, chưa đáp ứng được so với yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo
Trang 9Nếu đề xuất và áp dụng một cách đồng bộ, hợp lý, sáng tạo các biện pháp mang tính khả thi, đồng thời phù hợp với đặc điểm của nhà trường và nhu cầu thực tế tại địa phương thì sẽ nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận và biện pháp quản lý hoạt động dạy học của trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định trong giai đoạn 2006 – 2009 (tính đến tháng 6 năm 2009) từ đó đề ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
+ Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát những lý luận
có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài qua sách, báo và các tài liệu
có liên quan đặc biệt là tài liệu giảng dạy chuyên ngành nghệ thuật
+ Tham khảo Luật giáo dục, các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp khảo sát, điều tra Điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn với giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh để thu thập thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học ở trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định
+ Phương pháp quan sát Tiến hành quan sát hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh
+ Phương pháp phỏng vấn giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh
+ Phương pháp chuyên gia Trao đổi, phỏng vấn, trưng cầu ý kiến cán
bộ quản lý nhà trường, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, học sinh, chuyên gia
có nhiều kinh nghiệm trong quản lý giáo dục
+ Phương pháp thực nghiệm
Trang 10+ Phương pháp toán thống kê, xử lý số liệu Dùng phương pháp thống
kê xử lý những số liệu thu được từ khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học
+ Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm Tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn về các hoạt động dạy học
8 Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
- Ý nghĩa về lý luận: Luận văn hệ thống hoá các cơ sở lý luận về quản
lý hoạt động dạy học, đề ra một số giải pháp về quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật cho trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định
- Ý nghĩa về thực tiễn: Nêu được thực trạng công tác quản lý hoạt động
dạy học nhóm ngành nghệ thuật của trường trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định đồng thời chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng Hệ thống hoá và vận dụng lý luận quản lý giáo dục để đề ra các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định Nếu các biện pháp được đánh giá khả thi thì sẽ có tác dụng quan trọng trong công tác quản lý hoạt động dạy học ở trường Trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo nội dung luận văn được trình bày gồm 03 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật của trường trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định Chương 3 Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học của trường
trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trang 11Quản lý là một trong những loại hình quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn Nghiên cứu quản lý sẽ giúp cho con người có được những kiến thức cơ bản nhất, chung nhất đối với các hoạt động quản lý
Khái niệm quản lý đã được phát hiện mấy ngàn năm trước Công nguyên Lúc đó quản lý mang tính cách là một thứ triết học Nói cách khác quản lý chưa được tách ra để trở thành một khoa học độc lập Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người đến nay quản lý đã trở thành môn khoa học Xã hội càng phát triển thì khoa học quản lý càng phát triển Cho tới nay, có rất nhiều
tư tưởng, học thuyết quản lý khác nhau và các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý nói chung và QLGD nói riêng
Hoạt động quản lý đã mang lại những lợi ích to lớn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống làm cho xã hội ngày càng phát triển Từ xa xưa đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về quản lý Ở phương Đông cổ đại, đặc biệt là Trung Hoa và Ấn Độ cổ đại đã xuất hiện những nhà tư tưởng về quản lý lỗi lạc (đến nay vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách quản lý của nhiều nhà quản lý
ở nhiều nước châu Á) như Khổng Tử (551-479 tr.CN), Mạnh Tử (372-289 tr.CN), Hàn Phi Tử (280-233 tr.CN), Thương Ưởng (390-338 tr CN)
+ Khổng Tử là nhà giáo dục, tư tưởng chính là Nho giáo Có thể điểm tới
các quan điểm chính sau: “Dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa, từ đơn giản
đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, đòi hỏi học trò phải luyện tập, phải hình thành về nền nếp, thói quen trong học tập” và
“Học không biết chán, dạy không biết mỏi”
+Trong các học thuyết về quản lý ở phương Đông cổ đại Khổng Tử,
Mạnh Tử, Tuân Tử và một số người khác chủ trương dùng “Đức trị” để cai
trị dân Ngược lại Hàn Phi Tử, Thương Ưởng và một số người khác lại chủ
trương dùng “Pháp trị” để quản lý xã hội, cai trị
Trang 12- Ở phương Tây thời cổ Hy Lạp đã áp dụng quản lý tập trung và dân chủ Khái niệm kiểm tra và trách nhiệm đã có vào khoảng năm 1750 trước Công nguyên:
+ Nhà triết học Xôcrat (Thế kỷ IV - III tr CN) cho rằng “Những người nào
biết cách vận dụng con người sẽ điều khiển công việc hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt, trong khi những người khác không biết làm như vậy mắc sai lầm trong việc tiến hành cả hai công việc này”
+ Platon (427-347 tr CN) đánh giá “Muốn trị nước thì phải biết đoàn kết dân lại, phải vì dân Người đứng đầu phải ham chuộng hiểu biết; thành thật; tự chủ; biết điều độ; ít tham vọng về vật chất và đặc biệt là phải được đào tạo kỹ lưỡng” Chales Babbage (1792 -1871); H.Fayol (1841-1925), Elton Mayol
(1850 - 1947) F.Taylor (1856-1915) là những nhà nghiên cứu quản lý tiêu biểu ở thế kỷ XVIII–XIX Sau này nhiều công trình nghiên cứu với các cách tiếp cận
khác nhau về quản lý góp phần làm cho khoa học quản lý ngày càng hoàn thiện
- Từ cuối thế kỷ XIV, khi Chủ nghĩa Tư bản xuất hiện, hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học đã được nhiều nhà giáo dục thực sự quan tâm Nổi bật nhất là CôMenxki J.A (1592 - 1670), ông là ông tổ của nền giáo
dục cận đại, theo ông nghề thầy giáo “Dưới ánh mặt trời không có nghề
nghiệp nào cao quý hơn” Ông nêu ra hàng loạt nguyên tắc dạy học chủ yếu
dựa vào cơ sở triết học mới nhất về nhận thức luận, ông đã đặt cơ sở lý luận cho một nền dân chủ giáo dục tiến bộ sau này và cho đến ngày nay hệ thống
lý luận đó vẫn còn giá trị tích cực, tiến bộ đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội văn minh hiện đại
Vào cuối thế kỷ XVII có nhiều nhà nghiên cứu về quản lý tiêu biểu như RoBer Owen (1771 – 1858), Frederics Wiliam Taylor (1856 – 1915) người
được coi là “Cha đẻ của thuyết quản lý khoa học”
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện hàng loạt công trình với nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý Như tính khoa học và nghệ thuật quản lý , những động cơ để thúc đẩy một tổ chức phát triển làm thế nào để
Trang 13việc ra quyết định quản lý đạt kết quả cao … Trong lĩnh vực giáo dục, khoa học giáo dục đã thực sự biến đổi về lượng và chất
Các tác phẩm kinh điển của Mác - Lênin đã định hướng cho hoạt động giáo dục
như các quy luật về “Sự hình thành cá nhân con người” về “Tính quy định về kinh tế -
xã hội đối với giáo dục”… Các quy luật đó đã đặt ra yêu cầu đối với quản lý giáo dục
và tính ưu việt của xã hội đối với việc tạo ra các phương tiện và điều kiện cần thiết cho giáo dục Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều nhà khoa học giáo dục
đã có những thành tựu khoa học đáng trân trọng về QLGD và quản lý dạy học
Ở Việt Nam, tư tưởng quản lý cũng đã xuất hiện từ lâu và thay đổi tuỳ từng thời kỳ Như thời Tiền Lê tư tưởng quản lý hướng vào pháp trị; thời Nhà
Lý hướng vào đức trị; thời Hậu Lê hướng vào đức trị và pháp trị Kế thừa truyền thống của dân tộc và tiếp thu có chọn lọc các tư tưởng ở trong nước và quốc tế, nhiều tư tưởng về quản lý và QLGD mới đã xuất hiện Tiêu biểu đó là:
+ Thầy giáo Chu Văn An (1292 – 1370) – nhà Nho, nhà hiền triết, nhà
sư phạm mẫu mực cuối thời Trần Ông đã vượt qua ngưỡng cửa “Làm thầy
giáo giỏi của một đời để đạt tới làm thầy giáo của muôn đời” như Phan Huy
Chú đã ca ngợi ông “Học nghiệp thuần tuý, tiết tháo cao thượng, làng nho
nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được”
+ Nguyễn Trãi (1380 – 1442), anh hùng dân tộc, nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà
văn hóa lớn của nước ta, đánh giá về quản lý đã khẳng định phải “Lo trước điều thiên
hạ phải lo, vui sau cái vui của thiên hạ”; đã khuyên vua là phải “chăn nuôi” nhân
dân thì mới giữ được nước và xây dựng được đất nước Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn thời Nhà Trần cho rằng trong xây dựng đất nước
phải “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”
- Đặc biệt Chủ Tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969), bằng việc kế thừa tinh hoa của các tư tưởng giáo dục tiên tiến và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã để lại cho chúng ta những nền tảng lý luận hết sức có ý nghĩa về vai trò của giáo dục; định hướng phát triển giáo dục;
Trang 14vai trò quản lý và cán bộ QLGD, phương pháp lãnh đạo và quản lý … Hệ thống các tư tưởng của Bác về giáo dục có giá trị to lớn trong quá trình phát triển lý luận dạy học, lý luận giáo dục của nền giáo dục cách mạng Việt Nam
- Gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý của các nhà khoa học, giảng viên đại học, các cán bộ viện nghiên cứu được công
bố trong các giáo trình, sách tham khảo, tài liệu phổ biến kinh nghiệm quản
lý Như các công trình nghiên cứu, giáo trình bài giảng của các tác giả như Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Đức Chính, Đặng Xuân Hải, Đặng Quốc Bảo,
Hà Thế Ngữ, Đặng Bá Lãm, Phạm Thành Nghị, Trần Quốc Thành, Đặng Hữu Đạo, Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Gia Quý, Nguyễn Văn
Lê, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Cảnh Toàn… Các chương trình nghiên cứu đã nêu lên một số vấn đề lý luận về QLGD, kinh nghiệm QLGD từ thực tiễn của giáo dục Việt Nam như các khái niệm quản lý, bản chất của hoạt động quản
lý, các thành phần cấu trúc, chức năng quản lý, nguyên tắc, phương pháp quản
lý, nghệ thuật quản lý nói chung và QLGD, QLNT nói riêng
Trong khi đó, hoạt động dạy học là hoạt động trọng tâm của quá trình giáo dục, nó quyết định sự thành công của hoạt động giáo dục Trong nhà trường, việc quản lý giảng dạy của giáo viên và quản lý học tập của học sinh luôn được ưu tiên hàng đầu Mỗi môn học có những nét đặc thù riêng của môn học đó, người quản lý cần có những hiểu biết rõ về môn học đó mới có các biện pháp quản lý dạy học môn đó tốt Việc quản lý hoạt động giảng dạy và học tập ở một số trường chuyên nghiệp ở địa phương như thành phố Nam Định còn một số hạn chế, chưa theo kịp các trường chuyên nghiệp ở thành phố lớn
do vậy kết quả học tập của học sinh chưa cao Để nâng cao kết quả học tập cần nghiên cứu tìm kiếm những biện pháp tăng cường quản lý tốt hoạt động giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo nghề các trường chuyên nghiệp ở địa phương để theo kịp các trường chuyên nghiệp các thành phố lớn đáp ứng nhu cầu hội trong giai đoạn hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước hiện nay
Trang 151.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Lao động muốn đạt hiệu quả, năng xuất cao hơn thì đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp,
điều hành, kiểm tra, điều chỉnh … Người Trung Quốc có câu “Tam nhân đồng
hành, tất hữu ngã sư” Nghĩa là có ba người cùng đi thì trong đó có một người
là thầy của mình Trong trường hợp trên nghĩa là tồn tại sự quản lý
Khái niệm quản lý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, hoạt động quản lý được hình thành từ sự phân công hợp tác lao động, từ sự xuất hiện của tổ chức cộng đồng với nhu cầu hướng tới đạt hiệu quả tốt hơn Do vậy xuất hiện người quản lý và sự quản lý
Thuật ngữ “quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích hợp nhau: Quá trình
“quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sửa
sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển” Vì vậy nếu người chỉ huy chỉ biết
lo việc “quản” thì tổ chức sẽ trì trệ, nếu chỉ quan tâm đến “lý” thì phát triển không bền vững Do đó trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản” nhằm làm cho hệ
ở thế phát triển cân bằng, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) và các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)
Hoạt động quản lý không thể nhắc tới tư tưởng sâu sắc của Các Mác “Một
nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”
[51, tr 23] Như vậy quản lý là điều khiển, là chỉ huy, là tổ chức, là hướng dẫn, là
phối hợp quá trình hoạt động của con người trong các tổ chức xã hội
Do vậy có thể nói hoạt động quản lý là tất yếu nảy sinh khi con người lao động tập thể và tồn tại ở mọi loại hình tổ chức, ở mọi triều đại xã hội từ đó khái niệm quản lý được nhiều tác giả đưa ra theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Đó là:
+ Quản lý là Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu
nhất định [47, tr 396]
Trang 16+ Quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức [53, tr 31]
+ Quản lý là một hệ thống xã hội chủ nghĩa là một khoa học và là một
nghệ thuật tác động vào một hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con người nhằm đạt được những mục tiêu xác định Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định bao gồm nhiều thành phần có tác động qua lại lẫn nhau [52, tr.75]
+ Quản lý là một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học [55,tr.19]
Ở nước ta có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý:
+ Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [38, tr 62]
+ Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối
tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của
hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến chuyển của môi trường [43, tr 43]
+ Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập thể những người lao động
nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước [32, tr 19;20]
+ Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý
đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến [42, tr 24]
+ Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý
một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định [41, tr 24]
Như vậy có thể thấy:
Một là, quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân
làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã
định; Hai là, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ
thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) trên khách thể quản lý (đối
Trang 17tượng) quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của các đối tượng Như vậy, các định nghĩa về quản lý đều tập trung vào hiệu quả công tác quản lý Hiệu quả đó phụ thuộc vào các yếu tố như chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục đích công tác quản lý nhờ công cụ và phương pháp quản lý Mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý có thể do chủ thể quản lý
áp đặt, do yêu cầu khách quan của xã hội hay do sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tác động quản lý tương hỗ với nhau giữa chủ thể và khách thể quản lý
Từ những khái niệm nêu trên, “Quản lý” có thể khái quát như sau:
Quản lý là sự tác động một cách liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu, các cấp sao cho phù hợp với quy luật để đạt đến mục tiêu đã xác định 1.2.1.2 Nội dung quản lý
Qua khái niệm quản lý ta thấy: quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc
+ Chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đề ra mục tiêu dẫn dắt, điều khiển các đối tượng quản lý để đạt mục tiêu định sẵn
+ Khách thể quản lý (đối tượng quản lý) Con người (được tổ chức thành một tập thể, một xã hội …) thế giới vô sinh (các trang thiết bị) hữu sinh (vật nuôi, cây trồng )
Cơ chế quản lý những phương thức mà nhờ đó hoạt động quản lý được thực hiện và quan hệ tương tác qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý được vận hành điều chỉnh
Trang 18Mục tiêu chung cho cả đối tượng quản lý và chủ thể quản lý là căn cứ chủ thể quản lý để tạo ra hoạt động quản lý
Công cụ quản lý là các phương tiện (khách quan và chủ quan) mỗi chủ thể quản lý dùng nó để tác động vào quá trình quản lý thông qua chức năng quản lý bao gồm:
+ Chế định luật là chính sách qui định về mục tiêu về nội dung về phương pháp, tổ chức thực hiện, các chính sách, chế độ qui định đối với các hoạt động trong hoạt động quản lý
+ Các chế định được xây dựng từ đường lối chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước từ các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển xã hội Song thực tiễn luôn luôn biến đổi khi đó chủ trương đường lối cũng thay đổi, các chế định cũ không còn phù hợp, không phát huy được tác động tích cực trong quản lý và sự phát triển xã hội thì phải sửa đổi Điều này đòi hỏi người quản lý phải luôn nắm vững các chế định để vận dụng một cách thích hợp Hay nói cách khác: Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan
+ Thiết chế bộ máy để thực hiện thì công cụ tổ chức là rất cần thiết đối với người quản lý Nó giúp xây dựng một cơ cấu, bộ máy thích hợp cho công việc, cải tiến bộ máy hoạt động có hiệu quả hơn, giúp giảm thiểu những việc làm không hiệu quả
Các nguồn lực bao gồm nhân lực, tài lực, vật lực
+ Nhân lực con người là lực lượng quan trọng nhất Bởi vì Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người
+ Vật lực bao gồm tất cả vật tư, trang thiết bị tài sản cố định phục vụ cho việc thực hiện một nhiệm vụ công tác
+ Tài lực là vốn đầu tư tài chính bao gồm ngân sách nhà nước, tư nhân và có thể là nguồn tài trợ từ nước ngoài
Trang 19Từ những dấu hiệu chúng ta có thể khái quát cấu trúc hệ thống quản lý theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc hệ thống quản lý
1.2.1.3 Chức năng quản lý
Theo PGS TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí quản lý
là hệ thống gồm bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá (planning); tổ chức (organizing); lãnh đạo / chỉ đạo (Leading) và kiểm tra (controlling)
- Chức năng lập kế hoạch: Là nền tảng của quản lý Bởi vì đó là việc xây dựng các định hướng và đưa ra quyết định tổ chức thực hiện trong thời gian nhất định của tổ chức Chức năng kế hoạch bao gồm việc xác định sứ mệnh, dự báo tương lai của tổ chức trên cơ sở thu thập thông tin về thực trạng của tổ chức từ
đó xác định mục tiêu dựa trên việc tính toán các nguồn lực, các giải pháp Mục đích của việc lập kế hoạch là lựa chọn một đường lối hành động mà một tổ chức nào đó và mọi bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của
tổ chức đã đề ra Đây là quá trình xác định mục tiêu, xác định các bước đi để đạt được mục tiêu Như vậy thực chất của lập kế hoạch là đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác kế hoạch hóa với mục đích, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể
và ấn định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu
- Chức năng tổ chức: Là quá trình tổ chức sắp xếp, liên kết giữa các yếu tố công việc – con người – bộ máy sao cho phù hợp ăn khớp với nhau cả trong nội bộ từng yếu tố, nhằm lựa chọn phương án cụ thể, hợp lý các phương tiện vật chất (vật
Mục tiêu quản lý
MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ
Trang 20tư, vốn, lao động, ) Yếu tố trung tâm của tổ chức là con người Bố trí con người phải phù hợp với công việc Tổ chức bộ máy phải lệ thuộc quy mô, tính chất của các mối quan hệ giữa người và việc Toàn bộ hoạt động của bộ máy cuối cùng phải đạt hiệu quả cao, vì lợi ích của con người Lênin đã từng nói về công tác tổ chức:
"Hãy cho tôi những người Bôn-Sê-Vích chân chính có kỷ luật tôi sẽ làm đảo tung đất nước Nga bảo thủ, man dợ" Như vậy tổ chức là một công cụ của quản lý
- Chức năng lãnh đạo (chỉ huy): Là hoạt động dẫn dắt, điều khiển của người quản lý đối với các hoạt động của các thành viên của tổ chức để đạt được mục tiêu quản lý Hoạt động lãnh đạo là làm việc với con người, cá nhân và tập thể, là xây dựng mối quan hệ trong tổ chức, là khích lệ, động viên, tạo dựng bầu không khí tâm lý tích cực trong đơn vị Điều hành là hoạt động thường xuyên mang tính kế thừa và phát triển
- Chức năng kiểm tra: Quản lý mà không có kiểm tra không gọi là quản
lý Kiểm tra là chức năng quan trọng của quản lý, kiểm tra chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý Kiểm tra bao gồm các yếu tố cơ bản: Xem xét, thu thập thông tin ngược, đo lường và điều chỉnh các hoạt động của các
bộ phận trong tổ chức Kiểm tra là đánh giá kết quả của việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo Để công tác kiểm tra đánh giá chính xác, sử dụng kết quả đánh giá sao cho có lợi cần xây dựng các tiêu chí (chuẩn) để thực hiện kiểm tra đánh giá, sử dụng các phương pháp phù hợp, thu thập thông tin đầy đủ, sau đó phân tích thông tin để đánh giá
Trong một chu trình quản lý cả bốn chức năng trên có liên quan mật thiết với nhau, phối hợp, bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa các chu trình theo hướng phát triển Trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định trong quản lý Có thể sơ đồ hoá chu trình quản lý như sau:
Sơ đồ 1-2: Quan hệ của các chức năng quản lý
Lập kế hoạch
Tổ chức
Kiểm tra đánh giá
Thông tin
Trang 21Bốn chức năng này giúp cho nhà quản lý thực hiện nhiệm vụ của mình Muốn vậy người quản lý phải luôn nắm bắt thông tin, xử lý thông tin và tiến hành việc quản lý theo 4 chức năng trên để dẫn dắt tổ chức, cơ sở đến mục tiêu cần đạt được trên cơ sở thông tin là mạch máu của quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đều có sự tham gia của hoạt động quản lý như: Quản lý nhà nước, quản lý giáo dục, quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà trường … mỗi lĩnh vực quản lý có đặc thù riêng song nó đều
có những nét cơ bản, đặc trưng chung của cả hoạt động quản lý và chính hoạt động quản lý luôn góp phần quyết định vào việc nâng cao chất lượng hiệu quả của từng tổ chức, của từng con người trong một hệ thống nhất định
Với cách hiểu trên dễ dàng nhận thấy quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống và có liên quan đến nhiều yếu tố Vì vậy quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật và hoạt động quản lý vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi … chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất
1.2.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt
và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người có sự kế thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo, tinh hoa nhân loại và văn hoá dân tộc Nói cách khác Giáo dục là quá trình truyền đạt, tiếp thu và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử -
Trang 22xã hội của các thế hệ loài người, là quá trình tác động của xã hội và của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách
Giáo dục và quản lý giáo dục (QLGD) là tồn tại song hành Để đạt được mục đích của giáo dục, quản lý được coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế, mục đích cũng như vấn đề giáo dục
QLGD đã được nghiên cứu và khái niệm dưới nhiều góc độ khác nhau,
có thể điểm đến các khái niệm:
+ Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán
bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính ) nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng [54, tr 93-94]
+ Quản lý giáo dục theo định nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội [19, tr.31]
+ Quản lý nhà trường (quản lý giáo dục nói chung) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến hành mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh [28, tr 61]
+ Quản lý giáo dục (quản lý trường học nói riêng) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [42, tr 35]
+ Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội hiện nay [27]
Trang 23+ Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu
vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội [45, tr 206]
+ QLGD là cách thức điều hành hệ thống giáo dục, nhất là các quy
trình, thủ tục, quy định, quy chế … và cách thức vận hành của hệ thống giáo dục, tất cả các cấu phần hoạt động của hệ thống (UNESCO)
Nội dung QLGD gồm ba lĩnh vực: Quản lý chính sách (hoạch định
chính sách, lập kế hoạch, thực hiện chính sách và phân bổ nguồn lực); quản
lý hành chính (Sử dụng nguồn lực tài chính, con người và vật chất); quản lý sư phạm (Sử dụng giáo viên, tổ chức quá trình dạy học, quá trình giáo dục,
thành tích và quá trình học tập)
Từ những quan niệm khác nhau về QLGD, có thể khái quát: QLGD là những
tác động có hệ thống, có kế hoạch hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức điều khiển hoạt động của khách thể quản lý thực hiện các mục tiêu giáo dục đề ra
1.2.3 Bản chất, đặc điểm và nhiệm vụ của quản lý giáo dục
1.2.3.1 Bản chất của quản lý giáo dục
Từ những phân tích và khái niệm đã trình bày có thể thấy bản chất của QLGD là quá trình tác động có tính định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động, nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục Các thành tố là: Mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, lực lượng giáo dục (thầy giáo), đối tượng giáo dục (học sinh, học viên), phương tiện giáo dục (cơ sở vật chất)
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định về mục đích của QLGD là
“Quản lý thế nào để thầy dạy tốt, trò học tốt, tất cả để phục vụ cho hai tốt đó”
1.2.3.2 Đặc điểm của quản lý giáo dục
- QLGD gắn liền với việc quản lý con người, đặc biệt là lao động sư phạm của người giáo viên Đặc thù lao động của người giáo viên mà đối tượng lao động
sư phạm là người học với những đặc điểm về tâm sinh lý lứa tuổi hết sức phức tạp
Trang 24Người học vừa là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục, do đó kết quả giáo dục không chỉ phụ thuộc vào bản thân nhà giáo mà còn phụ thuộc vào thái độ của người học Đây chính là điểm khác biệt của lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung Mặt khác phương tiện lao động của giáo viên chủ yếu là phương tiện tinh thần bằng lời nói, bằng tấm gương, thái độ, bằng
“điểm tựa”, bằng cảm hoá Thời gian lao động của người giáo viên cũng khác, nó
không được tách bạch, rạch ròi với thời gian lao động khác Với bất kỳ lúc nào, ngay cả khi nghỉ ngơi, giải trí hay làm việc gia đình người giáo viên có thể vẫn phải tư duy về công việc của mình Sản phẩm của giáo dục có tính đặc thù nên QLGD phải chú ý ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong công việc tạo ra sản phẩm, cũng như không được phép tạo ra phế phẩm QLGD đòi hỏi cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính linh hoạt và tính phát triển
- Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng QLGD phải quán triệt quan điểm quần chúng Trong QLGD, các hoạt động hành chính nhà nước và quản lý sự nghiệp, chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không thể tách rời, tạo thành hoạt động QLGD thống nhất Nên cần phải phối hợp chặt chẽ và đồng bộ các lực lượng trong nhà trường, gia đình và xã hội QLGD là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, nó thu hút sự tham gia của rất đông các thành viên xã hội và có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội
- QLGD là hoạt động mang tính sáng tạo vì đối tượng của hoạt động quản
lý giáo giáo dục là con người với các mối quan hệ phức tạp của nó QLGD phải
là hoạt động mang tính sáng tạo mới phát huy được sự sáng tạo của con người
- QLGD thể hiện tính bao hàm giữa học thuật và nghệ thuật, vì đây là dạng quản lý phức tạp, do quan hệ đa chiều với môi trường xã hội ở nhiều phạm vi, mức độ, tầng bậc khác nhau
1.2.3.3 Nhiệm vụ của quản lý giáo dục
Hệ thống giáo dục là một hệ thống mở luôn luôn vận động và phát triển theo quy luật chung của sự phát triển kinh tế - xã hội và chịu sự quy định của kinh tế - xã
Trang 25hội QLGD cũng luôn luôn phải đổi mới, đảm bảo tính năng động, khả năng tự điều chỉnh và thích ứng của giáo dục đối với sự vận động và phát triển chung QLGD là nhằm bảo đảm cho quá trình sư phạm diễn ra một cách bình thường, nội dung QLGD tập trung vào quản lý các thành tố cấu thành hệ thống giáo dục
Nhiệm vụ của QLGD về cơ bản là quản lý quá trình sư phạm, quá trình này diễn ra ở các cơ sở giáo dục Từ góc độ tổ chức và quản lý, quá trình sư phạm là quá trình tạo ra các cơ hội cho người học tiếp thu, chiếm lĩnh, lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội để phát triển nhân cách một cách tốt nhất Quản lý quá trình sư phạm có hiệu quả nhất là nhà trường, trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo nhân cách bằng việc truyền thụ những tri thức đạo đức mà nhân loại đã sàng lọc chiết suất được cho thế hệ trẻ
Ngày nay, công tác giáo dục cũng đã được định hướng rõ ràng, có nhiều chủ trương chính sách và biện pháp lớn, giúp công tác quản lý có nhiều thuận lợi trong đó tập trung vào nhiệm vụ sau đây:
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, mở rộng quy mô giáo dục hợp lý
- Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hiện đại hóa, dân chủ hóa, đa dạng hóa, xã hội hóa với các trọng tâm, trọng điểm và có bước phát triển thích hợp trong từng giai đoạn phát triển KT - XH
- Đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước đối với giáo dục và đào tạo: Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý, chú trọng quản lý chất lượng giáo dục Tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất lượng và giám sát các hoạt động giáo dục
- Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng
- Tiếp tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương
pháp giáo dục
1.2.4 Quản lý nhà trường
Trang 26Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống Giáo dục quốc gia, ở đó vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp tiến hành quá trình giáo dục
và đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục Nhà trường là cơ sở chuyên trách hoạt động giáo dục, có nội dung chương trình, có phương tiện và phương pháp hiện đại, do đội ngũ các nhà sư phạm thực hiện; là nơi có môi trường giáo dục thuận lợi, với tập thể học sinh cùng nhau học tập, rèn luyện Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội bằng các con đường giáo dục cơ bản Chất lượng của giáo dục và đào tạo chủ yếu do nhà trường đảm nhiệm
Mục đích giáo dục của nhà trường phù hợp với xu thế phát triển và thời đại Giáo dục nhà trường, bằng kiến thức và phương pháp khoa học, bằng tổ chức các hoạt động giao lưu trong thực tiễn làm cho nhân cách học sinh, sinh viên được hình thành, tạo nên bộ mặt tâm lý cá nhân phù hợp với tiêu chuẩn, giá trị xã hội và thời đại
Do vậy QLNT là vấn đề cơ bản của QLGD; và trường học là khách thể cơ bản
của các cấp QLGD Đánh giá về vấn đề này, có nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể là:
Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh [28]
Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và
tổ chức các lao động của giáo viên và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo trong nhà trường (Phạm Viết Vượng)
Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp ) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng
xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh
Trang 27mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới (Nguyễn Ngọc Quang)
Như vậy, QLNT chính là QLGD trong một phạm vi xác định đó là đơn
vị giáo dục là nhà trường; là vận dụng tất cả các nguyên lý chung của QLGD
để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo
Bản chất QLNT là quản lý hoạt động dạy và học, làm sao đưa hoạt động
đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tới mục tiêu giáo dục
QLNT là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục
QLNT khác với quản lý xã hội khác, nó được quy định bởi bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học và quá trình giáo dục, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể sáng tạo chủ động vừa là đối tượng quản lý Sản phẩm của các hoạt động trong nhà trường là nhân cách người học sinh được hình thành trong quá trình học tập,
tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội
QLNT là toàn diện với mục đích là để hình thành nhân cách học sinh
Do đó, thực chất QLGD, suy cho cùng là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu Trường học là một thành tố của hệ thống giáo dục nên quản lý trường học cũng được hiểu như một bộ phận của QLGD Thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối đó thành
hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân của đất nước
Theo PGS Tiến sỹ Đặng Quốc Bảo, QLNT cần quản lý 10 nhân tố cơ bản và mối liên hệ tương tác của chúng [18, tr134]
Trang 28+ Mục tiêu đào tạo (M)
+ Nội dung đào tạo (tri thức) (N)
+ Phương pháp đào tạo (P)
+ Lực lượng đào tạo (thầy) (Th)
+ Đối tượng đào tạo (trò) (Tr)
+ Hình thức tổ chức đào tạo (H) + Điều kiện đào tạo (Đ)
+ Môi trường đào tạo (Mô)
+ Quy chế đào tạo (Qi) + Bộ máy đào tạo (Bô)
Mười nhân tố trên liên hệ tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau tạo nên sự thống nhất biện chứng giữa chúng Các nhân tố đó đều hướng vào trung tâm đó là sự phát triển của nhà trường Mô hình dưới đây có thể khái quát mối quan hệ của 10 nhân tố trên:
Sơ đồ 1.3: Các nhân tố cơ bản trong quản lý nhà trường
Do đó, công tác công tác quản lý hoạt động dạy học và các hoạt động liên quan của nhà trường là quá trình chỉ huy, điều khiển các yếu tố và mối liên hệ đó nhằm đưa các hoạt động giáo dục của nhà trường vận hành theo đúng quy luật
Quản lý nhà trường là một hệ thống hoạt động có mục đích có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho nhà trường vận hành theo
Trang 29đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thể hiện tính chất nhà trường XHCN, mà điểm hội tụ là hoạt động dạy học, giáo dục thế hệ trẻ nói riêng và người học nói chung
Như vậy quản lý xã hội lấy tiêu điểm là QLGD (giáo dục là quốc sách hàng đầu) thì QLGD phải coi nhà trường là nút bấm (quản lý lấy nhà trường làm nền tảng) và QLNT phải lấy quản lý hoạt động dạy học là khâu cơ bản Quản lý hoạt động dạy học là tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý dạy học bằng các quy định pháp lý về giáo dục - đào tạo, bộ máy tổ chức, nhân lực, nguồn lực, tài lực dạy học và thông tin, môi trường dạy học nhằm đạt được mục tiêu quản lý dạy học
1.2.5 Hoạt động dạy học
1.2.5.1 Khái niệm dạy học
Hoạt động đặc trưng của nhà trường là hoạt động dạy học; là hoạt động có
tổ chức, có mục đích, có sự lãnh đạo của nhà giáo dục và có hoạt động tích cực,
tự giác của người học trong tất cả các loại hình hoạt động học tập
Dạy học là con đường giáo dục tích cực, chủ động ngắn nhất và có hiệu quả nhất giúp thế hệ trẻ tránh được những mò mẫm, vấp váp trong cuộc đời…;
là con đường quan trọng nhất trong tất cả các con đường giáo dục; là khái niệm chỉ hoạt động chung của người dạy và người học, hai hoạt động này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất Hoạt động dạy học là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổng thể, là một quá trình xã hội gắn liền với hoạt động của con người trong đó có hai hoạt động trung tâm là hoạt động dạy và hoạt động học Hai hoạt động này luôn gắn bó mật thiết với nhau,
có quan hệ tương tác cùng tồn tại, cùng phát triển, trong đó nhà sư phạm có vai trò và tác dụng chủ đạo; là định hướng tổ chức, thực hiện việc truyền thụ kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo đến người học một cách hợp lý, khoa học
Hiện nay theo xu hướng lấy người học làm trung tâm, giáo viên cần tạo cho học sinh không khí học tập mang tính chủ động và sáng tạo tránh áp đặt
Trang 30Một số nội dung học tập có thể chỉ mang tính gợi mở, định hướng hoạt động cho người học và không nhất thiết giáo viên phải thuyết trình Học viên làm việc theo nhóm một cách linh hoạt Công việc dạy của người thầy chủ yếu là hướng dẫn chỉ đạo người học tìm kiếm và sáng tạo tri thức, bồi dưỡng người học năng lực tìm kiếm và sáng tạo đó
Vai trò chủ đạo của giáo viên được thể hiện qua việc định hướng, tổ chức, điều khiển các hoạt động dạy và học có ý nghĩa quan trọng đảm bảo chất lượng học tập của học sinh Điều cốt yếu là giáo viên dạy học sinh cách học, cách tư duy Tác động của thầy là tác động bên ngoài, hướng dẫn, thúc đẩy, tạo điệu kiện cho học sinh tự học
Năng lực tự học của học sinh chính là nội lực, quyết định sự phát triển bản thân người học, học sinh vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của quá trình dạy học, tự biến những tri thức bên ngoài thành tri thức của chính mình bằng cách học, cách tư duy của mình
Vì vậy, giảng dạy và học tập là hai mặt của một quá trình thống nhất bổ sung cho nhau, tác động qua lại lẫn nhau Chất lượng dạy học đạt đỉnh cao khi tác động của thầy kết hợp chặt chẽ với sự tự học của trò
1.2.5.2 Hoạt động dạy
Giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau, con đường
quan trọng nhất là tổ chức dạy học Theo Babusky “Chỉ có tác động qua lại
giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học Nếu không có
sự tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi quá trình toàn vẹn đó”
Dạy là truyền thụ tri thức, tổ chức, điều khiển hoạt động chiếm lĩnh tri thức của học sinh, giúp học sinh nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái
độ Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển nội dung học theo chương trình quy định Có thể hiểu hoạt động dạy là quá trình hoạt động
sư phạm của thầy, làm nhiệm vụ truyền thụ tri thức, tổ chức, điều khiển hoạt
động nhận thức nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức (khái niệm khoa học)
Trang 31qua đó hình thành và phát triển nhân cách
Dạy về bản chất là sự tổ chức nhận thức cho học sinh và giúp họ học tốt; Mục đích của dạy là điều khiển sự học tập của học sinh; Dạy có chức năng kép
là truyền đạt thông tin - dạy và điều khiển hoạt động học; Nội dung của dạy theo chương trình quy định; Phương pháp dạy theo phương pháp nhà trường
Có thể hiểu, hoạt động dạy là một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh, nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất, nhân cách người học
1.2.5.3 Hoạt động học
Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, dưới sự điều khiển sư phạm của thầy; là hoạt động có đối tượng, trong đó người học là chủ thể, khái niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh;Về bản chất là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao tác trí tuệ dựa vào vốn sinh học
và vốn đạt được của cá nhân, từ đó có được tri thức, kỹ năng thái độ mới
Học là quá trình tự điều khiển chiếm lĩnh khái niệm khoa học; học sinh
tự giác, tích cực dưới sự điều khiển của thầy nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học Hoạt động học cũng có chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học một cách tự giác, tích cực nhằm biến tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân Có thể hiểu hoạt động học của học sinh là quá trình lĩnh hội, tiếp thu tri thức, hình thành hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và hoàn thiện nhân cách của bản thân một cách tự giác, chủ động, tích cực
Mục đích của học là chiếm lĩnh khái niệm khoa học có nghĩa là phải nắm vững nghĩa, đào sâu ý chứa trong khái niệm; tái tạo khái niệm cho bản thân, thao tác với nó, sử dụng nó như một công cụ phương pháp để chiếm lĩnh khái niệm khác hoặc đào sâu mở rộng thêm chính khái niệm đó ở trình độ lý
Trang 32thuyết cao hơn (tư duy lý thuyết) biến nó từ kho tàng văn hoá xã hội thành học vấn của riêng bản thân Nếu chiếm lĩnh khái niệm thành công thì sẽ dẫn tới đồng thời ba mục đích bộ phận là trí dục (nắm vững khái niệm); phát triển (tư duy khái niệm) và giáo dục (thái độ đạo đức)
Học có hai chức năng thống nhất với nhau là lĩnh hội (tiếp thu thông tin dạy của thầy) và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học của mình (tự giác, tích cực, tự lực)
Nội dung của học là toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, cấu trúc lôgic của môn học, các phương pháp đặc trưng của khoa học, ngôn ngữ của khoa học
và biết vận dụng những hiểu biết đó vào việc tiếp tục học tập và lao động
Phương pháp học là nhận thức, chiếm lĩnh tri thức khoa học phản ánh đối tượng của nhận thức, biến các tri thức của nhân loại thành hiểu biết của mình; là mô tả, giải thích và vận dụng khái niệm khoa học
Hoạt động dạy và hoạt động học luôn gắn bó không tách rời nhau, thống nhất biện chứng với nhau tạo thành hoạt động chung Dạy điều khiển học, học tuân thủ dạy; Dạy tốt dẫn đến học tốt, để học tốt thì phải dạy tốt Học tốt là sự thống nhất cả ba vấn đề mục đích, nội dung, phương pháp;
Đó là điều khiển tối ưu quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học trên cơ sở của sự bị điều khiển
1.2.5.4 Mối quan hệ giữa dạy và học
Hoạt động dạy học là một hoạt động xã hội, một hoạt động sư phạm đặc thù bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học Hai hoạt động này tạo thành một thể thống nhất bổ sung cho nhau, tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác trong đó dạy giữ vai trò chủ đạo Kết quả hoạt động học của học sinh không thể tách rời kết quả hoạt động dạy của thầy và kết quả hoạt động dạy của thầy không thể tách rời kết quả học tập của học sinh
Trang 33Hoạt động dạy học là một hoạt động xã hội; một hoạt động tương tác giữa người với người với xã hội, bao gồm tổ, nhóm, lớp, tập thể sư phạm thông qua các hoạt động dạy và học chính khóa, ngoại khóa trong và ngoài nhà trường Mục đích của dạy học là do xã hội đặt ra và giáo viên chính là người đại diện cho xã hội, được xã hội phân công nhiệm vụ giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ thông qua việc tổ chức, điều khiển, chỉ đạo quá trình dạy học trong nhà trường Nội dung dạy học trong nhà trường chính là hệ thống các kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy được qua nhiều thế kỷ
Hoạt động dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và học, là hoạt động tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp cho người học lĩnh hội được những tri thức khoa học, kỹ năng hoạt động nhận thức và thực tiễn, phát triển các năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và các phẩm chất nhân cách của người học theo mục đích giáo dục
Hoạt động dạy học là hoạt động mà trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của người dạy làm cho người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức,
tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học đặt ra Trong quá trình dạy, nhà giáo đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học để giúp họ tự khám phá tri thức, tích luỹ tri thức biến thành khả năng thực tiễn của mình Ngoài ra nhà giáo cũng có chức năng truyền thụ tri thức rút ngắn thời gian, người học tránh phải mò mẫm… Nhà giáo phải suy nghĩ để giúp người học sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có của mình, những tri thức mà họ thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng qua cuộc sống để tạo nên sự hiểu biết của mình
Phối hợp với hoạt động đó của nhà giáo, người học tự giác, tích cực chủ động, tự tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm nắm vững tri thức và từng bước hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt tư duy sáng tạo, hình thành cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất tốt đẹp của con người mới
Trang 341.2.6 Quản lý hoạt động dạy học
Để hoạt động dạy học đạt được mục tiêu đặt ra, một trong những nội dung quan trọng không thể thiếu đó là quản lý hoạt động dạy học Quản lý hoạt động dạy học được hiểu là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm làm cho quá trình dạy học vận hành theo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; Thực hiện được những yêu cầu của nền giáo dục xã hội trong việc đào tạo con người theo mẫu người của thời đại, tập trung vào hoạt động dạy học
và giáo dục đưa hệ vận động từ trạng thái ban đầu đến mục tiêu xác định
Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường là quản lý hoạt động dạy của thầy và và quản lý hoạt động học của trò, cụ thể:
+ Quản lý hoạt động dạy của thầy là quản lý toàn bộ việc giảng dạy, giáo dục của nhà giáo; quản lý việc thực hiện chương trình, quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của giáo viên; quản lý việc thực hiện qui chế giảng dạy; quản lý việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của giáo viên…
+ Quản lý hoạt động học của trò là quản lý học tập và rèn luyện của trò theo nội dung giáo dục toàn diện nhằm thực hiện mục tiêu và đường lối giáo dục của Đảng; quản lý việc giáo dục phương pháp học tập cho trò, quản lý nền nếp, thái độ học tập của trò; quản lý việc học tập, vui chơi giải trí; phối hợp với các lực lượng trong học sinh, sinh viên
* Đối tượng của quản lý hoạt động dạy học có thể được coi như một hệ
thống xã hội bao gồm bốn thành tố là tư tưởng (quan điểm, chủ trương, chính sách, chế độ …); Con người (nhà giáo và người học); Quá trình hay công việc (việc dạy, việc học); Vật chất (phòng học, trang thiết bị, nguyên vật liệu )
* Mục tiêu của quản lý hoạt động dạy học là chất lượng dạy học toàn diện
cho người học với các tiêu chuẩn về chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, khoa học kỹ thuật, thể chất theo định hướng cụ thể Hiểu theo cách chung nhất, mục tiêu quản lý hoạt động dạy học nhằm bảo đảm thực hiện các mục tiêu, kế hoạch
Trang 35đào tạo, nội dung chương trình giảng dạy theo đúng tiến độ, thời gian quy định
và bảo đảm hoạt động dạy học đạt chất lượng, hiệu quả cao
* Nội dung quản lý hoạt động dạy học bao gồm các vần đề, đó là quản lý
mục tiêu, nội dung và chương trình đào tạo; Quản lý hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của HS-SV; Quản lý chất lượng dạy học; Quản lý kiểm tra, đánh giá; Quản lý các hoạt động giáo dục ngoài lớp, ngoài nhà trường
* Quản lý mục tiêu, kế hoạch và chương trình giảng dạy (Thường nói
ngắn gọn là Quản lý mục tiêu, nội dung đào tạo) là quản lý hoạt động dạy của người thầy sao cho kế hoạch và chương trình giảng dạy được thực hiện đúng nội dung, thời gian và quán triệt được yêu cầu của mục tiêu đào tạo
* Quản lý hoạt động dạy của nhà giáo thực chất là quản lý việc thực hiện
các nhiệm vụ giảng dạy - giáo dục của đội ngũ nhà giáo và của từng giáo viên Hoạt động này có các nhiệm vụ và nội dung chủ yếu là theo dõi đôn đốc thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy - giáo dục của toàn thể nhà giáo và của từng giáo viên; theo dõi, chỉ đạo thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện việc tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và sư phạm của đội ngũ nhà giáo và của từng giáo viên; nắm được các mặt mạnh, mặt yếu, ưu, khuyết điểm … đánh giá được sự tiến bộ về các mặt chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức của từng giáo viên
* Quản lý hoạt động học của người học là quản lý việc thực hiện các
nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của người học trong quá trình đào tạo Hoạt động này có các nhiệm vụ và nội dung sau là theo dõi, tìm hiểu để nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập rèn luyện cũng như những biến đổi nhân cách của người học nói chung và của từng cá nhân người học nói riêng; theo dõi, thúc đẩy, khuyến khích người học phát huy những yếu tố tích cực, khắc phục các yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập, rèn luyện ngày càng cao …
Trang 36* Quản lý nền nếp dạy học là quản lý việc chấp hành các quy định (Quy
chế, nội quy, quy định, điều lệ …) về hoạt động giảng dạy của nhà giáo và hoạt động học tập của người học đảm bảo cho các hoạt động đó được tiến hành có nền nếp, ổn định, có kỷ cương, nghiêm chỉnh, tự giác, có hiệu suất và chất lượng cao; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch, chương trình dạy học theo thời khoá biểu và các quy định hiện hành về dạy học; theo dõi, chỉ đạo việc hoàn thiện các quy định về hồ sơ, sổ sách, giấy tờ chuyên môn nghiệp vụ; tổ chức, chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn và công tác khác
* Quản lý việc kiểm tra đánh giá là một khâu cơ bản, là nhiệm vụ thường
xuyên, là yếu tố thúc đẩy sự rèn luyện phấn đấu của người dạy và người học
Nó giữ vai trò quyết định tới chất lượng đào tạo Mục đích quản lý khâu kiểm tra, đánh giá là xác định mức độ hoạt động dạy của nhà giáo và hoạt động học của người học, là cơ sở pháp lý cho công tác thi đua khen thưởng, cho việc cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp để người học có đủ tư cách xin việc, hành nghề hoặc học tiếp lên một trình độ cao hơn
* Quản lý chất lượng dạy học là phát hiện kịp thời các nguyên nhân dẫn
đến tình trạng yếu kém, đề ra và tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục những yếu kém nhằm đảm bảo được chất lượng theo mục tiêu đề ra
* Ngoài ra cần phải quan tâm đến công tác quản lý các hoạt động ngoài lớp, ngoài nhà trường và quản lý điều phối các hoạt động của các tổ chức sư phạm trong nhà trường
* Như vậy, trong nhà trường việc quản lý hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò đóng vai trò quan trọng trong giáo dục Đó là hoạt động quản lý nội dung chương trình theo mục tiêu của nhà trường, quản lý quá trình truyền thụ kiến thức của giáo viên, quản lý việc thực hiện chương trình dạy học và quản lý việc lĩnh hội kiến thức của học sinh
Trang 371.3 Hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật của trường trung cấp chuyên nghiệp
Trường Văn hoá Nghệ thuật chính là nơi ươm mầm và nuôi trồng những tài năng nghệ thuật, nơi phát hiện bồi dưỡng những tài năng trẻ (với một số
lượng không lớn) để trở thành những nhân tài trong lĩnh vực nghệ thuật (nhạc
sỹ, ca sỹ, nhạc công, hoạ sỹ, diễn viên sân khấu, nhà quản lý văn hoá cơ sở…)
Do vậy, trường văn hoá nghệ thuật có những nét riêng mang tính đặc thù mà ở các loại hình trường phổ thông, trường chuyên nghiệp khác không có Đó là tổ chức đào tạo gồm ba loại hình năng khiếu, chính quy, tại chức Khác biệt nhất
là đào tạo học sinh năng khiếu gồm các chuyên ngành Âm nhạc, Mỹ thuật, Diễn viên sân khấu; dự tuyển từ độ tuổi 14 (Tốt nghiệp THCS) với thời gian học là 4 năm hoặc dự tuyển từ độ tuổi 18 (Tốt nghiệp THPT) với thời gian học là 2 năm Học sinh, độ tuổi tuyển sinh tốt nghiệp THCS, học văn hoá phổ thông song song với học nghệ thuật ở trường
Đó là sự lựa chọn năng khiếu đầu vào hết sức nghiêm ngặt Năng khiếu
là yếu tố số 1 trong tuyển sinh (phải có tố chất chuyên biệt); số lượng đào tạo không thể quá đông, nếu không muốn nói rằng số lượng học sinh tham gia học tập mỗi khoá mỗi năm rất hạn chế; sự đầu tư về trang thiết bị rất lớn và phải đến từng học sinh
Đó là hình thức giảng dạy, học tập hoàn toàn khác với các hình thức giảng dạy, học tập thông thường khác Có khi có bộ môn mỗi giáo viên chỉ dạy 1- 2 học sinh; phương pháp giảng dạy mang tính chuyên biệt, số giờ thực hành lớn hơn rất nhiều so với số giờ lý thuyết
Đó là việc tổ chức thi tốt nghiệp cũng khá khác biệt, một số bộ môn học sinh phải báo cáo tốt nghiệp bằng những tác phẩm nghệ thuật, những vai diễn, những nhạc phẩm của mình; Chất lượng và kiểm tra chất lượng trong từng lớp, từng cấp luôn có hiện tượng chênh lệch với khoảng cách rộng, việc xác định chuẩn là rất khó
Trang 38Trong một trường Văn hoá Nghệ thuật tổng hợp nhiều loại hình nghệ thuật thì lao động nghệ thuật của mỗi ngành lại có những đặc điểm riêng Xuất phát từ những vấn đề cơ bản mang tính đặc thù nghệ thuật trên, đòi hỏi người quản lý phải am hiểu về chuyên môn, nắm vững khoa học giáo dục và trong thực tế cần có một sự vận dụng khéo léo, tinh tế để nâng cao chất lượng đào tạo của trường Văn hoá Nghệ thuật
1.4 Đặc trưng công tác quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật trong trường trung cấp chuyên nghiệp
Đối với nước ta, trường TCCN là loại hình trường ra đời muộn hơn so với thế giới vào những năm cuối của thập kỷ 90 - thế kỷ XX; ra đời nhằm đáp ứng theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá
- hiện đại hoá, đào tạo nguồn nhân lực đa dạng phù hợp với nhu cầu địa phương
và của đất nước Với đặc thù đó, công tác quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật trong trường trung cấp chuyên nghiệp có các đặc trưng là:
Thứ nhất về chức năng đào tạo; các trường TCCN có chức năng đào tạo đa
cấp, đa ngành, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề Ngoài ra trường TCCN còn đáp ứng nhu cầu cơ bản về đào tạo và bồi dưỡng nhân lực của cộng đồng tương ứng với các trình độ học vấn và kĩ năng lao động khác nhau; ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống cho người lao động Phương thức đào tạo trong trường TCCN rất năng động và linh hoạt đáp ứng với từng mục tiêu cụ thể của người học, của xã hội, của từng địa phương
Thứ hai về mục tiêu đào tạo; trường TCCN đào tạo người lao động có
phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có sức khỏe, có ý thức phục vụ cộng đồng, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ TCCN và các trình độ thấp hơn; nhằm tạo điều kiện cho người lao động nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng tìm việc hoặc tạo được việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng của địa phương
Trang 39Thứ ba về nội dung chương trình đào tạo; rất đa dạng do đặc thù về trình
độ đào tạo, về ngành học nên chương trình cũng thể hiện tính đa dạng Về cơ bản chương trình được xây dựng trên cơ sở chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Bộ chủ quản, nhưng trong quá trình xây dựng chương trình chi tiết cần vận dụng phù hợp với mục tiêu đào tạo của từng địa phương Hầu hết các chương trình đều chú trọng về kỹ năng tay nghề (miệng nói tay làm), vì vậy giờ thực hành thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng khối lượng kiến thức của toàn khoá Ngoài ra hiện nay xây dựng chương trình liên thông giữa các trình độ đào tạo cũng được các trường quan tâm và triển khai thực hiện
Thứ tư về phương pháp dạy học; các trường TCCN phát huy tính tự giác,
tính tích cực, độc lập, sáng tạo và năng lực tự học của người học Đặc biệt nhấn mạnh phương pháp rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, trình độ tay nghề cho người học
Thứ năm về nhà giáo; đòi hỏi phải hội tụ ba yếu tố là đạo đức, kỷ luật nghề
nghiệp, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm Điều đó có nghĩa là người dạy phải có lòng yêu nghề, đạo đức chuẩn mực, có uy tín với người học và có tác phong kỷ luật công nghiệp Người dạy phải giỏi chuyên môn, nghề nghiệp, có kỹ năng, kỹ xảo nghề một cách thuần thục; vừa giỏi lý thuyết vừa giỏi thực hành
Thứ sáu về người học; ngoài việc nắm vững những khái niệm khoa học
cơ bản hiện đại cần có sức khoẻ, có ý thức và kỷ luật nghề nghiệp cao và đặc biệt phải giỏi thực hành nghề
Vì vậy quản lý hoạt động dạy học trong trường TCCN - đó là sự kết hợp hài hoà giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học; giữa người dạy và người học
và các điều kiện cơ sở vật chất … thành một thể thống nhất; đó là một hoạt động thống nhất ngoài hai nhân tố trung tâm là người dạy và người học còn có nhiều nhân tố khác tham gia Các nhân tố đó bao gồm mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung và các hình thức tổ chức dạy học, phương pháp và phương tiện dạy học cùng với môi trường văn hoá - chính trị - xã hội, môi trường kinh tế -khoa học - kỹ thuật của đất nước trong trào lưu phát triển chung của thời đại
Trang 401.5 Các yêu cầu công tác quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật trong trường trung cấp chuyên nghiệp
Thứ nhất đặt ra yêu cầu có tính mục đích (mục tiêu): Dạy học nhóm
ngành nghệ thuật trong trường TCCN khác với đào tạo các trình độ khác, mục đích được xác định đúng và mọi người đều được thấm nhuần, đều ý thức được thì hoạt động dạy học mới mang lại chất lượng cao Mục đích dạy học bao gồm mục đích dạy và mục đích học, mục đích môn học, bài học … Mục đích chi phối toàn bộ hoạt động dạy học
Do tính chất đào tạo đa trình độ, đa đối tượng, đa ngành, nên mục đích (mục tiêu) đào tạo cũng có tính đa dạng Tương ứng với mỗi ngành học, trình độ có mục tiêu riêng; mục tiêu đào tạo được xây dựng trên cơ sở nhu cầu sử dụng lao động của địa phương và của xã hội Hơn nữa để đáp ứng mục tiêu đào tạo trên đòi hỏi phương pháp dạy học phải khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy, sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến
và phương tiện hiện đại trong quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và định hướng
tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên, học sinh nhất là sinh viên
Để xây dựng mục đích của công tác quản lý hoạt động dạy học nói chung
và công tác quản lý hoạt động dạy học trong các trường TCCN nói riêng cần làm rõ những vấn đề như đối tượng quản lý (quản lý ai? quản lý cái gì? quản
lý hoạt động nào?); mục tiêu và yêu cầu quản lý (nhằm đạt được kết qủa gì, chất lượng như thế nào?); nội dung quản lý là quản lý những yếu tố nào của đối tượng?; hệ thống tổ chức quản lý (quản lý dựa trên những tổ chức nào, cá nhân nào, chức danh nào để tiến hành quản lý?)
Thứ hai là yêu cầu tính kế hoạch: Kế hoạch hoạt động dạy học nhóm
ngành nghệ thuật của nhà trường là tập hợp các mục tiêu phân nhánh có quan
hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau bởi mục tiêu chung và hệ thống các biện pháp được xây dựng trước cho một giai đoạn nhất định, nhằm đảm bảo các nguồn lực để thực hiện được các mục tiêu đề ra