Đặc biệt, ở nước ta giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, nhằm mục tiêu “Dân giàu – nước mạnh – xã hội công bằng, dân chủ văn minh” Xã hội hoá công tác giáo dục XHHCTGD là quan điểm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ BẨY
CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HẢI PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ BẨY
CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HẢI PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH HỒNG THÁI
HÀ NỘI – 2008
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn khoa học này được hoàn thành với sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các Cô giáo, Thầy giáo cùng với sự nỗ lực học hỏi, nghiên cứu của bản thân trong thời gian học tập tại Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới Ban chủ nhiệm và tập thể giảng viên Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức,
kỹ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Phó Giáo sư – Tiến sỹ Đinh Hồng Thái, người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện các nhiệm vụ của đề tài
Tôi xin trân thành cảm ơn các cán bộ quản lý Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng, Ban giám hiệu các trường mầm non thành phố đã ủng hộ, cộng tác, giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập các dữ liệu liên quan đến đề tài
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm giúp đỡ, cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn này vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả kính mong nhận được những ý kiến góp
ý, chỉ bảo của các Cô, các Thầy, các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 2 năm 2008
Tác giả
Nguyễn Thị Bẩy
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Xã hội hoá
Xã hội hoá giáo dục
Xã hội hoá công tác giáo dục
Xã hội hoá công tác giáo dục mầm non
Uỷ ban nhân dân
Trang 5MỤC LỤC
Më ®Çu
Chương 1: C¬ së lý luËn cña x· héi ho¸ c«ng t¸c
gi¸o dôc MÇm non
5
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn xã hội hoá công tác giáo dục nói
chung và công tác giáo dục Mầm non nói riêng
5
1.1.1 Khái quát nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục 5 1.1.2 Khái quát nghiên cứu về xã hội hoá công tác giáo dục Mầm non 10
1.3 Sự tác động của xã hội hoá công tác giáo dục đến các lĩnh vực của
1.3.1 Xã hội hoá công tác giáo dục là nhân tố tạo ra “Xã hội học tập
góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho
1.4 Giáo dục Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân 28
1.4.2 Đặc trưng của giáo dục Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc
dân
30
1.4.3 Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục Mầm non 31
1.5.1 Mục tiêu xã hội hoá công tác giáo dục Mầm non 33 1.5.2 Các nguyên tắc xã hội hoá công tác giáo dục Mầm non 36 1.5.3 Nội dung xã hội hoá công tác giáo dục mầm non 41
Trang 6Kết luận chương 1
Chương 2: Thùc tr¹ng viÖc thùc hiÖn x· héi ho¸
c«ng t¸c gi¸o dôc mÇm non ë thµnh phè H¶i
Phßng trong thêi gian qua
giáo dục Mầm non Hải Phòng
71
Chương 3: c¸c biÖn ph¸p thùc hiÖn x· héi ho¸ c«ng
t¸c gi¸o dôc MÇm non ë c¸c tr-êng MÇm non H¶i
Phßng trong giai ®o¹n hiÖn nay
81
3.1 Mục tiêu và định hướng phát triển giáo dục Mầm non thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
81
3.1.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển của giáo dục Mầm non Hải
Phòng trong giai đoạn hiện nay
3.2.1 Trên cơ sở quán triệt đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước, tích cực tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức
về xã hội hoá công tác giáo dục Mầm non
86
3.2.2 Xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục Mầm non phù hợp với yêu
cầu phát triển sự nghiệp giáo dục, kinh tế – xã hội của địa phương
92
3.2.3 Huy động các lực lượng xã hội tham gia công tác xã hội hoá giáo
dục Mầm non và xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh
94
3.2.4 Xây dựng và đổi mới cơ chế điều hành nguồn ngân sách và thu
hút các tiềm năng xã hội cho phát triển giáo dục Mầm non
101
3.2.5 Xây dựng trường Mầm non thành đơn vị cung ứng dịch vụ chăm
sóc giáo dục Mầm no chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của thực tiễn giáo dục
106
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp thực hiện công tác xã hội hoá giáo
dục Mầm non thành phố Hải Phòng
111 3.4 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 112
Trang 73.4.2 Đối tượng 112
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ thông tin, kinh tế tri thức thì vấn đề giáo dục, văn hoá đang được coi trọng với mỗi quốc gia Nó thực sự trở thành trung tâm chiến lược phát triển đất nước Đặc biệt, ở nước ta giáo dục được coi là quốc
sách hàng đầu, nhằm mục tiêu “Dân giàu – nước mạnh – xã hội công
bằng, dân chủ văn minh”
Xã hội hoá công tác giáo dục (XHHCTGD) là quan điểm lớn của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp phát triển giáo dục Để phát triển sự nghiệp giáo dục Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết để chỉ đạo, triển khai XHHCTGD và chỉ rõ những vấn đề liên quan đến xã hội phải được giải quyết theo tinh thần xã hội hoá
Nghị quyết số 90/CP, ngày 21/8/1997 và Nghị định số
73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999; Nghị quyết số 05/2005/NQ-73/1999/NĐ-CP, ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế và thể dục thể thao Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT, phê
duyệt đề án: “Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005 –
2010”, Điều 12 của Luật giáo dục về “Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đã
chỉ rõ công tác quản lý chỉ đạo, phát triển giáo dục mầm non (GDMN) phải
gắn chặt với công tác vận động mọi lực lượng trong xã hội vào việc chăm sóc giáo dục trẻ, coi đó là mục tiêu, là sức mạnh để phát triển GDMN một cách căn bản và có chất lượng Những văn bản này là hành lang pháp lý, tạo
cơ hội để giáo dục mầm non phát triển trong xu thế hội nhập thế giới
Ngày nay, khi cơ chế quan liêu bao cấp được chuyển sang cơ chế kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều vấn đề mới đặt ra cho
Trang 9giáo dục và đào tạo Một trong các vấn đề đang là mối quan tâm của các nhà quản lý giáo dục là giải quyết mối quan hệ chức năng phúc lợi của giáo dục
và chức năng dịch vụ của nó trong cơ chế mới Chính việc giải quyết giữa vấn đề này làm nảy sinh quan hệ mới giữa giáo dục đào tạo với cộng đồng
xã hội Trong tình hình đó, nhiều tỉnh và thành phố trong cả nước đã có những hướng đi khá độc đáo, táo bạo, huy động sự ủng hộ lớn cả về vật chất
và tinh thần đế phát triển sự nghiệp giáo dục mầm non của địa phương Hải Phòng là thành phố lớn có truyền thống giáo dục, công tác xã hội hoá giáo dục đang là một trong những điểm mạnh của giáo dục Hải Phòng nói chung, giáo dục mầm non Hải Phòng nói riêng
Tuy nhiên, yêu cầu phát triển ngày càng cao về số lượng và chất lượng của GDMN Hải Phòng đòi hỏi sự tăng cường hơn nữa XHHCTGDMN Đặc biệt là cần có các biện pháp phù hợp hiệu quả để phát huy hơn nữa sức mạnh của XHHCTGDMN, nhằm phát triển giáo dục mầm non đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong tình hình mới Vì những lý do
trên, chúng tôi lựa chon thực hiện đề tài: “Các biện pháp thực hiện xã hội
hoá công tác giáo dục ở các trường mầm non Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài đề xuất một số biện pháp thực hiện XHHCTGDMN trong giai đoạn hiện nay, góp phần làm cho công tác giáo dục mầm non (GDMN) ở thành phố Hải Phòng có thêm điều kiện thuận lợi để phát triển
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động XHHCTGDMN ở thành phố Hải Phòng 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Những biện pháp thực hiện XHHCTGDMN ở
thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý luận về XHHCTGDMN
Trang 104.2 Khảo sát thực trạng việc thực hiện XHHCTGDMN ở thành phố Hải Phòng 4.3 Đề xuất một số biện pháp thực hiện XHHCTGD ở các trường MN thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
5 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp thực hiện XHHCTGDMN phù hợp sẽ góp phần tạo điều kiện phát triển sự nghiệp GDMN hiện nay của thành phố
6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Trong điều kiện về thời gian và khả năng, đề
tài tập trung nghiên cứu chủ yếu năm học 2007 – 2008 và xu hướng những năm học tiếp theo của ngành học trong thành phố
Địa bàn nghiên cứu: Các trường mầm non nội ngoại thành Hải
Phòng
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Các Nghị quyết, Chính sách của Đảng, Nhà nước; các văn bản, tài liệu của ngành Giáo dục và Đào tạo; các công trình khoa học đã có để xác định cơ sở lý luận của quản lý công tác XHHGDMN
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi các đối tượng: Lãnh đạo địa phương, cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên mầm non và cha mẹ học sinh để đánh giá thực trạng về quản lý công tác xã XHH giáo dục mầm non
Trò chuyện phỏng vấn, quan sát, tổng kết kinh nghiệm các hoạt động
xã hội hoá giáo dục ở các trường mầm non để thu thập số liệu và phát hiện những vấn đề mới
Tổng kết kinh nghiệm về công tác XHH giáo dục mầm non ở thành phố Hải Phòng
Phương pháp chuyên gia: khảo nghiệm, kiểm chứng về tính cấp thiết,
Trang 11tính khả thi của các biện pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục
mầm non đã đề xuất trong luận văn
7.3 Nhóm các phương pháp sử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của xã hội hoá công tác giáo dục mầm non
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục mầm
non ở thành phố Hải Phòng trong thời gian qua
Chương 3: Các biện pháp thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục ở các
trường mầm non Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
Trang 12Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC GIÁO DỤC MẦM NON
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hoá công tác giáo dục nói chung và công tác giáo dục mầm non nói riêng
1.1.1 Khái quát nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục
Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người Các nhà nghiên cứu lịch sử giáo dục, xã hội, văn hoá và các nền văn minh trước đây đều khẳng định: con người luôn sống trong trình độ xã hội nhất định Với ý nghĩa trên, giáo dục được xem như là một hiện tượng xã hội đặc biệt quan trọng, là nhân tố quan trọng tác động mạnh mẽ đến các hiện tượng xã hội khác quyết định sự tồn tại và chiều hướng phát triển xã hội loài người Điều này có nghĩa là không thể tách rời giáo dục ra khỏi đời sống xã hội, nói cách khác, không có giáo dục đứng ngoài xã hội, cũng có nghĩa là không có xã hội nào có thể phát triển mà không gắn liền với vai trò lịch sử của một nền giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là hoạt động đặc trưng của
xã hội loài người Chừng nào xã hội loài người còn tồn tại, chừng đó giáo dục tiếp tục tồn tại và phát triển, giáo dục chỉ mất đi khi xã hội loài người không còn tồn tại Mỗi giai đoạn lịch sử nhất định có một nền giáo dục tương ứng với trình độ, tốc độ phát triển của xã hội trong giai đoạn lịch sử đó Giáo dục là
sự phản ánh sinh động nhất về trình độ phát triển của nền KT-XH, chịu sự ảnh hưởng chi phối của truyền thống văn hoá, những điều kiện bối cảnh phát triển của một dân tộc, một đất nước, khái quát hơn là một thời đại, vì thế, cũng có
thể xem đó chính là bản chất xã hội của giáo dục
Tuy nhiên, trong nghiên cứu cũng như chỉ đạo giáo dục, cần phân biệt
rõ tính chất xã hội của giáo dục và XHHCTGD Đây là 2 vấn đề có ý nghĩa khác biệt, chúng không phải là một Tự thân hoạt động giáo dục vẫn có tính chất xã hội, nhưng nó chưa đạt tới trình độ xã hội hoá đích thực theo đúng nghĩa của xã hội hoá Để đạt được trình độ xã hội hoá đích thực cần phải có định hướng rõ ràng
Trang 13Ở nước ta, tư tưởng XHHCTGD đã được hình thành và nuôi dưỡng từ rất sớm trong suốt suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, qua mỗi giai đoạn ngày càng ngày nó càng được phát triển lên với một trình độ mới, cao hơn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn Từ xa xưa, người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã từng đúc kết sức mạnh đoàn kết của dân tộc bằng nhận định
rất nổi tiếng: “ Dâng thuyền lên cũng là dân, làm lật thuyền cũng là dân” Sau
này Bác Hồ càng thấy rõ sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc, Người nói:
“Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” Trong
cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và công cuộc kiến thiết đất nước, Đảng ta đã vận dụng rất sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, với khẩu hiệu: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” chúng ta đã
dành nhiều thắng lợi trên tất cả các mặt trận trong đó có mặt trận văn hoá giáo dục
Cách mạng tháng tám (1945) thành công, dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã chủ trương “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” Ngay sau ngày Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà một ngày (ngày 03/09/1945) trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu nhiệm vụ đầu tiên cần làm gấp của giáo dục là
chống giặc dốt, Người khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [26,
tr.36]
Người còn kêu gọi toàn dân tích cực học tập theo phương châm:
“Những người chưa biết chữ càng gắng sức mà học, vợ chưa biết thì chồng
bảo, em chưa biết thì anh bảo, người ăn, người làm chưa biết thì chủ bảo”
Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, cả nước dấy lên một phong trào học tập sôi nổi, toàn dân ra sức thi đua học tập, các lớp bình dân học vụ được mở ra khắp nơi Người dân ban ngày đi làm, tối tối lại đến lớp bình dân học vụ để học chữ Quốc ngữ Nước ta từ chỗ trên 90% người dân không biết chữ dần dần trở
Trang 14thành một dân tộc có học vấn Từ bài học của Bác chúng ta mới thấm nhuần sâu sắc sức mạnh của toàn dân tộc
Từ khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, nhất là trong thời đại công nghệ thông tin, kinh tế tri thức hiện nay, chúng ta ngày càng ngày có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển sự nghiệp giáo dục Để thực hiện công cuộc đổi
mới, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước với mục tiêu: “Dân giầu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” toàn Đảng và toàn dân ta
đang tích cực đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục của nước nhà Đây là chiến lược quốc gia có tầm quan trọng góp phần vào sự thành bại của việc thực hiện mục tiêu trên - Nó được xác định bằng chủ trương XHHCTGD, nhằm huy động nguồn lực của xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục, làm cho học vấn đến được toàn dân một cách phổ cập, ngày càng nhiều hơn và do đó toàn dân sẽ đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực làm cho giáo dục ngày càng phát triển hơn
Từ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), đường lối đổi mới toàn diện của Đảng đã mở đầu cho sự phát triển mới về kinh tế – xã hội (KT-XH) của đất nước, trong đó có giáo dục Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển nền giáo dục Việt Nam, Hội nghị đã thảo luận và ra Nghị quyết về sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo Từ sau Đại hội lần thứ VII, trên các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các tài liệu khoa học giáo dục, trên sách báo đài , chúng ta thường gặp thuật ngữ “xã hội hoá” đối với các lĩnh vực hoạt động chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, dân số – kế hoạch hoá gia đình, thể dục thể thao, giáo dục và đào tạo,… Như vậy, chuyển sang thời kỳ đổi mới, xã hội hoá việc thực hiện các chính sách xã hội là một chủ trương lớn của Đảng
và Nhà nước trong đó có chủ trương về XHHCTGD
Xác định vai trò của giáo dục trong giai đoạn cách mạng mới, Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam đã nêu rõ: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”
Trang 15Đây cũng là trọng trách, đồng thời cũng là vinh dự lớn lao mà Đảng và Nhà nước giao phó cho ngành giáo dục-đào tạo Vì vậy, hơn bao giờ hết, lúc này ngành giáo dục - đào tạo cần có các biện pháp hữu hiệu khắc phục những khó khăn bất cập trong thời gian qua, trong đó đẩy mạnh XHHCTGD được coi
là chủ trương quan trọng
Đại hội VIII của Đảng nêu rõ về chủ trương xã hội hoá:“…Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội” [20, tr.32] Một lần nữa XHHCTGD lại được đặt lên một tầm
cao mới, sâu rộng hơn Thể chế hoá các chủ trương trên, Chính phủ đã ra Nghị
quyết số 90/CP và Nghị định số 73/1999/NĐ-CP, ngày 19/8/1999 về “phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá” Tại
phiên họp thường kỳ tháng 9 năm 2004, Chính phủ đã đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 90 và Nghị định số 73 và tiếp tục ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế và thể dục thể thao Ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật giáo dục (2005), trong chương 1, điều 12: Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục,
ghi rõ vai trò của các đối tượng tham gia XHHCTGD: “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển giáo dục ” [39, tr.10] Quyết
định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT, ngày 24/6/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005 – 2010” Các văn bản này đều xác định rất rõ vai trò chủ đạo,
mang tính toàn diện, thống nhất của Nhà nước nhằm thu hút mọi tiềm năng trong xã hội để phát triển giáo dục XHHCTGD có thể coi đây là một chiến lược của Đảng và nhà nước ta bởi nó mang giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục một cách lâu dài và căn bản nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
Trang 16Từ những khái quát trên có thể hiểu khái niệm XHHCTGD: Đó là việc lôi cuốn, thu hút khích lệ mọi tầng lớp nhân dân và toàn xã hội tham gia cùng làm giáo dục; Việc huy động và động viên đó mang tính chất là những phong trào quần chúng, đảm bảo cơ chế hoạt động là dưới sự quản lý, chỉ đạo của Nhà nước, xác định vai trò của mọi tổ chức xã hội, mọi người dân đều có trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi tham gia làm giáo dục
Hưởng ứng chủ trương của Đảng và Nhà nước về XHHCTGD, nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo
dục quan tâm, nghiên cứu, bàn luận về xã hội hoá giáo dục như: “Xã hội hoá công tác giáo dục” do Ban khoa giáo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Công đoàn Giáo dục Việt Nam và Viện Khoa học Giáo dục phối hợp xuất bản
năm 1997 “Báo cáo đánh giá 10 năm thực hiện xã hội hoá giáo dục thông qua Đại hội giáo dục các cấp” của Công đoàn Giáo dục Việt Nam; “ XHHCTGD
là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một con đường phát triển của Đảng ta” Tập thể viện Khoa học giáo dục do PGS Võ Tấn Quang làm chủ biên đã viết: “Xã hội hoá công tác giáo dục: Nhận thức và hành động” do tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình biên soạn Trong cuốn “Xã hội hoá công tác giáo dục”, GS Phạm Tất Dong coi xã hội
hoá là một khái niệm đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam qua mỗi giai đoạn Khái niệm xã hội hoá cũng được tác giả Nguyễn Quí
Thanh đề cập trong cuốn “Xã hội học” do GS.Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng
đồng chủ biên Xã hội hoá được các tác giả dùng với hai nội dung , trong nội dung thứ nhất: khái niệm này chỉ sự tăng cường chú ý quan tâm của xã hội về vật chất và tinh thần đến những vấn đề, sự kiện nào đó của xã hội mà trước đấy chỉ có một bộ phận của xã hội có trách nhiệm quan tâm…; Nội dung thứ hai: thuật ngữ
xã hội hoá được sử dụng trong xã hội học để chỉ quá trình chuyển từ chỉnh thể sinh vật có bản chất xã hội với các tiền đề tự nhiên đến một chỉnh thể đại diện của
xã hội loài người Đây chính là quá trình xã hội hoá cá nhân
Trang 17Bàn về XHHCTGD còn nhiều tài liệu, nhiều bài viết đề cập đến
XHHCTGD: "Xã hội hoá giáo dục- Một số vấn đề về lý luận thực tiễn" của PGS Nguyễn Sinh Huy; "Xã hội hoá và sự hình thành định hướng giá trị" của PGS Võ Tấn Quang " Xã hội hoá giáo dục - Một động lực nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" của PGS.TS Nguyễn Mậu Bành; "Một
số giải pháp xã hội hoá giáo dục ở bậc học mầm non" của TS Trần Thị Bích
Trà; "Mấy vấn đề xã hội hoá giáo dục" của PGS.TS Lê Khanh; "Xã hội hoá giáo dục – Một điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" của Nguyễn Văn Sơn; … Một số đề án nhằm triển khai thực hiện chủ trương XHHCTGD như: Đề án"Sự công bằng xã hội về giáo dục và giải pháp
xã hội hoá giáo dục -đào tạo" của công đoàn Việt Nam; "Xã hội hoá giáo đào tạo" của Bộ Giáo dục đào tạo; "Các giải pháp về tổ chức và cơ chế chính sách nhằm triển khai thực hiện xã hội hoá giáo dục trong lĩnh vực giáo dục đào tạo" của Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Giáo dục - Đào tạo
dục-Ngoài ra còn rất nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về đề tài
XHHCTGD: “Một số giải pháp tăng cường xã hội hoá sự nghiệp giáo dục tỉnh Vĩnh Long” của Nguyễn Thị Diệp; “Các giải pháp tăng cường xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trên địa bàn thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận” của Nguyễn Phan Hưng; “Một số giải pháp quản lý nhằm đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục ở Phú Yên” của Trần Văn Nhân, “Một số giải pháp thực hiện xã hội hoá giáo dục ở quận Thanh Xuân – Hà Nội” của Ngô Thị Doãn Thanh; …
Có thể nói, toàn bộ những công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung giải quyết các khái niệm, phạm trù, liên quan đến xã hội hoá giáo dục, tổng kết
thực tiễn công tác xã hội hoá giáo dục Tư tưởng “xã hội hoá công tác giáo dục” chính thức có mặt như một thành tố mới góp phần tích cực tạo nên sự
phát triển giáo dục hiện nay của đất nước
1.1.2 Khái quát nghiên cứu về xã hội hoá công tác giáo dục mầm non
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDMN là bậc học đầu tiên.Theo tinh thần của Luật giáo dục, công tác quản lý, chỉ đạo, phát triển công tác GDMN
Trang 18cần phải gắn bó với công tác vận động xã hội mới đem lại hiệu quả cao Tính phong trào vừa là đặc điểm riêng vừa là quy luật phát triển của GDMN, vì vậy phải phối hợp giữa các bộ, ban, ngành và toàn thể xã hội thì mới phát triển được bậc học này
GDMN cũng như sự nghiệp giáo dục cả nước đã và đang có những bước chuyển biến đáng kể Có được kết quả đó là nhờ thực hiện đổi mới toàn diện giáo dục mầm non trong đó phải kể đến một phần quan trọng trong vận dụng đúng đắn chủ trương XHHCTGDMN
Từ thực tiễn giáo dục mầm non có thể nói đây là bậc học được xã hội hoá cao hơn bất kỳ bậc học nào Giáo dục mầm non là sự thể hiện sinh động sự phối hợp hài hoà nguyên tắc nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm
Thực hiện chiến lược phát triển giáo dục mầm non đến năm 2020; nhằm phát triển giáo dục mầm non theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, ngày 25/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị bàn về công tác giáo dục mầm non Hội nghị đề ra những giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hoá giáo dục mầm non, đa dạng hoá các loại hình giáo dục mầm non Ngày15/11/2002 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non và
khẳng định rõ ở điều 1, nhiệm vụ phát triển giáo dục mầm non đến 2010: “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư phát triển giáo dục mầm non, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường, lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư,…” [16, tr.2] Quyết định 161/2002/QĐ-
TTg thực sự mở đường cho giáo dục mầm non phát triển từ nay đến năm 2010
Để việc thực hiện Quyết định 161/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có hiệu quả, Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ đã ra Thông tư liên tịch số 05/2003/TTLT/BGD&ĐT-BNV-BTC, ngày 24/2/2003 hướng dẫn một
số chính sách phát triển giáo dục mầm non, trong đó chỉ ra các bước của việc
Trang 19thực hiện quy hoạch mạng lưới trường lớp mầm non công lập, ngoài công lập, thực hiện xã hội hoá giáo dục đối với giáo dục mầm non
Ngày 23/6/2006, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số
149/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2006 – 2015”
xác định trách nhiệm của các đối tượng tham gia XHHCTGDMN, đề ra những định hướng và mục tiêu cơ bản của Giáo dục mầm non cả nước Quan điểm chỉ đạo về công tác XHH giáo dục mầm non được nhấn mạnh:
- Việc chăm lo phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, của mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước
- Nhà nước có trách nhiệm quản lý, đầu tư phát triển giáo dục mầm non; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách, đẩy mạnh công tác xã hội hoá
- Việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non phải được thực hiện với sự phối hợp, gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Những văn bản pháp qui trên đảm bảo cho một hành lang pháp lý cơ bản cho công tác XHHGDMN hoạt động đồng thời định hướng, chỉ đạo, tạo điều kiện cho các cấp, các ngành, các lực lượng trong xã hội có trách nhiệm quan tâm chăm lo phát triển giáo dục mầm non
Trên cơ sở định hướng chỉ đạo của Đảng và nhà nước, nhiều tài liệu, bài
viết đề cập đến XHHCTGDMN như:“Xã hội hoá công tác giáo dục trẻ em – một
tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh” của tiến sĩ Đào Thanh Âm; “Thực trạng
và một số biện pháp quản lý vấn đề xã hội hoá công tác giáo dục mầm non trên địa bàn quận Hoàn Kiếm – Hà Nội" của Dương Thị Thanh Huyền; “Các biện pháp tăng cường thực hiện XHHCTGDMN tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay” của Cù Thị Thuỷ; “Các biện pháp quản lý XHHGDMN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” của Tạ Thu Vân; “ Một số biện pháp của hiệu trưởng nhằm huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển trường mầm non trên địa bàn huyên Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh” của Nguyễn
Trang 20Thị Minh; “Các biện pháp tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục mầm non ở
thành phố Hải Phòng giai đoạn 2006 – 2010” của thạc sĩ Hoàng Phú Mạnh; “Giải pháp thực hiện XHHCTGD của ngành học mầm non trên địa bàn quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng” của Võ Ngọc Hoa; “Một số giải pháp xã hội hoá giáo dục ở bậc học mầm non” của tiến sĩ Trần Thị Bích Trà
Các đề tài trên cho thấy bức tranh sinh động về XHHCTGDMN ở các địa phương trong cả nước Tuy nhiên, tất cả đều chung nhận định cần thiết có
sự tham gia của xã hội vào phát triển giáo dục mầm non Đồng thời GDMN cần phải tạo ra một môi trường giáo dục lành manh, có sự tham gia đóng góp của các cấp các ngành, cha mẹ học sinh, và toàn xã hội vào sự phát triển giáo dục mầm non Mục tiêu của XHHGDMN, theo các đề tài là sự hưởng thụ cơ hội giáo dục của mọi người và sự tham gia dưới nhiều hình thức đóng góp vào sự phát triển của giáo dục, đó là các phương thức thực hiện XHHCTGDMN, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, tham gia đóng góp về tài chính, công sức cho giáo dục, cùng với nhà trường tham gia trực tiếp vào việc xây dựng kế hoạch giáo dục trẻ em và giải quyết các vấn đề phát triển giáo dục, và các lực lượng xã hội tham gia vào quản lý giáo dục Đặc biệt trong đó các đề tài đều nhấn mạnh đến việc lôi cuốn thu hút khích lệ mọi người dân và toàn xã hội tham gia cùng làm giáo dục, xác định được vai trò của xã hội, nhân dân, Nhà nước trong từng trách nhiệm Việc huy động đó mang tính chất là những phong trào quần chúng, là sự tập hợp lực lượng sức mạnh vật chất, tinh thần của toàn xã hội cho GDMN
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1 2.1 Khái niệm giáo dục
Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống đời sống của xã hội loài người Như trên đã nói giáo dục vốn là một hiện tượng xã hội, một phương thức để phát triển xã hội loài người với đặc trưng của nó là truyền thụ tri thức, trước hết là kinh nghiệm lao động sản xuất từ người này cho người khác, là quá trình chuyển giao kinh nghiệm lịch sử xã hội, từ thế hệ này sang thế hệ khác để xã
Trang 21hội tồn tại và phát triển Nhờ có giáo dục mà các thế hệ sau được chuẩn bị để
kế tiếp các thế hệ trước trong việc thực hiện các hoạt động cần thiết để duy trì cuộc sống xã hội
Thuật ngữ giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, giáo dục bao gồm cả việc dạy và học, cả các tác động giáo dục khác diễn
ra trong và ngoài lớp học, trong và ngoài nhà trường, trong gia đình và ngoài
xã hội Trong các tài liệu hiện nay, khái niệm giáo dục tuy có cách diễn giải không hoàn toàn giống nhau do quan niệm phạm vi giới hạn của vấn đề khác nhau, song nhìn chung đều có nghĩa là: “Sự hình thành có mục đích và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, phẩm chất đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ cho con người Với nghĩa rộng nhất, khái niệm giáo dục bao gồm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả các yếu tố tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng các nhu cầu của KT-XH” Như vậy, giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa con người Giáo dục và người được giáo dục nhằm chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người Việc tổ chức quá trình đó chủ yếu do người có kinh nghiệm, có chuyên môn được xã hội phân công chuyên trách gọi là những nhà giáo dục Nơi tổ chức quá trình đó có hệ thống,
có kế hoạch là “Nhà trường”
Cùng với sự phát triển và biến đổi của xã hội loài người, khái niệm giáo
dục được mở rộng hơn Ngày nay người ta coi giáo dục là “Cho mọi người”,
“Học thường xuyên”, “Học suốt đời” Tức là, giáo dục hướng tới tất cả những
ai có nhu cầu và có điều kiện học tập, được thực hiện ở bất cứ không gian, thời gian nào thích hợp, bằng các phương tiện dạy học khác nhau Ở đây giáo dục tuy thực chất cũng là một quá trình xã hội hoá con người nhưng có tính độc lập, riêng biệt tương đối của nó
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình hình thành cho con người cơ sở khoa học của thế giới quan, lý tưởng đạo đức, thái độ thẩm mỹ đối với hiện
Trang 22thực, phát triển và nâng cao thể lực con người Quá trình này được coi là bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể Giáo dục hiểu theo nghĩa này không bó hẹp trong môn đạo đức mà phải được hiểu là thực hiện trong tất cả các mặt trong cuộc sống, trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội
kỹ năng và phương pháp cần thiết để hội nhập với xã hội” [46, tr.331] Thuật
ngữ XHH hiện nay được dùng với hai nội dung
Nội dung thứ nhất: thuật ngữ ”Xã hội hoá xã hội” để chỉ quá trình biến
những hành vi, hoạt động có tính đơn lẻ, khu biệt của cá thể, tư nhân hay nhóm, tổ chức xã hội thành những hành vi, hoạt động có tính chất xã hội với sự tham gia rộng rãi của các thành phần xã hội khác nhau [35,Tr 296] Khái niệm này chỉ tăng cường sự chú ý quan tâm của xã hội đến những vấn đề, sự kiện cụ thể nào đó mà trước đây chỉ một bộ phận xã hội quan tâm Hay nói cách khác, do tầm quan trọng, ý nghĩa xã hội của những vấn đề, sự kiện cụ thể nào đó mà từ chỗ chỉ một nhóm hay một cộng đồng, một bộ phận của xã hội quan tâm, nay được đông đảo quần chúng quan tâm, đó là quá trình xã hội hoá các vấn đề, các sự kiện như: XHHGD, XHH ytế…
Nội dung thứ hai: Thuật ngữ “xã hội hoá” được sử dụng trong xã hội học để chỉ quá trình biến cá thể người thành cá nhân và thành nhân cách Đây chính là quá trình xã hội hoá cá nhân
Ở Việt Nam, từ sau khi đổi mới năm 1986 đến nay, khái niệm XHH đã được chính thức sử dụng trong các văn bản chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội Xã hội hoá trở thành một phương châm lãnh đạo quản lý Trong nhiều văn bản gần đây “Xã hội hoá” là thuật ngữ được quy ước
để chỉ cách làm, cách thực hiện một hoạt động xã hội nào đó bằng con đường
Trang 23giác ngộ, tổ chức huy động tổng lực sức mạnh của toàn dân, làm cho hoạt động này không chỉ được thực hiện ở một ngành, một đoàn thể hay một tổ chức xã hội nào đó, mà được tất cả các ngành, các giới, các lực lượng xã hội cũng như mỗi người dân đều nhận thấy đó là nhiệm vụ của chính mình, nên đều tự nguyện và tích cực phối hợp hành động thực hiện, đồng thời chính họ là người được hưởng thụ mọi thành quả do hoạt động đó đem lại
Về mặt thuật ngữ, phạm trù “Xã hội hoá” trở thành một trong những
quan điểm hoạch định hệ thống các chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh
thần xã hội hoá “Xuất phát từ nhận thức chăm lo cho con người, cho cộng
đồng xã hội là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi đơn vị, mỗi gia đình, chúng ta chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội theo tinh thần xã hội hoá, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt… đồng thời khai thác mọi tiềm năng của nhân dân, của địa phương, của các hội, đoàn, tranh thủ các nguồn viện
trợ từ nước ngoài và sử dụng có hiệu quả để chăm lo cho con người và xã hội”
[20, tr 32]
Như vậy là sau nhiều năm đổi mới, thuật ngữ “xã hội hoá” được dùng
chính thức trong văn kiện quan trọng của Đảng, nó bao hàm một tư tưởng chiến lược, một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới – giai đoạn đẩy mạnh nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa và tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Muốn thực hiện xã hội hoá trước hết và quan trọng là phải đổi mới cơ
chế quản lý theo phương châm dân chủ hoá: dân biết, dân làm ,dân bàn ,dân kiểm tra Vì vậy, xã hội hoá và đổi mới cơ chế quản lý trong lĩnh vực văn hoá,
xã hội có mối quan hệ hữu cơ với nhau, vấn đề này cũng có thể hiểu : "Xã hội hoá gắn với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội những năm qua chỉ rõ, nơi nào thực hiện xã hội hoá mà không đổi mới cơ chế quản lý, vi phạm quyền dân chủ thì ở nơi đó nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp"[49.Tr.71]
Trang 24Khi chưa thực hiện xã hội hoá thì nguồn lực hoàn toàn do Nhà nước bao cấp Thực hiện xã hội hoá rồi thì sẽ có thêm nhiều nguồn lực trong xã hội Trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, nước ta đã có thời kỳ tuyệt đối hoá sự phân công lao động xã hội mà có quan niệm cho rằng : Nhà nước cần phải lo mọi việc cho dân, dẫn đến các mặt hoạt động văn hoá, xã hội vốn có bản chất
xã hội sâu sắc đã bị Nhà nước hoá; giáo dục khoán trắng cho nhà trường Hậu quả là các lĩnh vực này xuống cấp trầm trọng, giáo dục bị tan vỡ từng mảng… vào cuối thập kỷ 80 Thực tế đó đòi hỏi phải đổi mới cách làm, cách quản lý các lĩnh vực văn hoá xã hội song song với việc đổi mới quản lý kinh tế
Mục tiêu chủ yếu của xã hội hoá là: Huy động tổng lực sức mạnh của toàn xã hội, tạo ra nhiều nguồn lực to lớn thức đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực văn hoá- xã hội , làm cho lĩnh vực công tác này thực sự gắn bó với dân, của dân, do dân và vì dân Từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của
và tinh thần của nhân dân"
Điều tra xã hội học của các nhà khoa học nghiên cứu về xã hội gần đây cho thấy không ít cán bộ ở Trung ương đến xã, phường có nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng và bản chất xã hội hoá Có người cho rằng xã hội hoá nghĩa là Nhà nước và nhân dân cùng làm Hiểu theo cách này hạ thấp vai trò của Nhà nước, chưa thấy vai trò chủ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nước dẫn đến buông lỏng sự chỉ đạo làm cho xã hội hoá có nguy cơ chệch hướng Còn một số người cho rằng xã hội hoá có nội dung cốt lõi là huy động tiền của trong nhân dân giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Từ cách hiểu phiếu diện này,
Trang 25một số nơi đặt ra nhiều khoản thu kinh phí vượt quá sức chịu đựng của dân, cùng với sự buông lỏng quản lý làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực theo hướng thương mại hoá rất đáng lo ngại, làm cho người dân hiểu xã hội hoá đồng nhất với việc thu tiền, làm mất đi sự nhiệt tình thực hiện xã hội hoá
Một số địa phương chưa thấy hết tầm quan trọng của sự phối hợp liên ngành, cách quản lý mang tính quyết định dẫn đến nhiều địa phương tổ chức phối hợp rất yếu, không đồng bộ và hiệu quả không cao
Để thực hiện có hiệu quả xã hội hoá, năm 1997, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 90 Trong đó khẳng định 4 nội dung xã hội hoá như sau :
- Vận động, tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội
- Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp
- Đa dạng hoá các hình thức hoạt động trong các lĩnh vực văn hoá xã hội, mở rộng cơ hội cho các tầng lớp nhân dân được tham gia một cách chủ động và bình đẳng vào các hoạt động xã hội
- Đa dạng hoá các nguồn đầu tư, khai thác các nhân lực và vật lực đang tiềm ẩn trong xã hội
Theo Nghị quyết 90/CP của Chính phủ, thì xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân Xã hội hoá là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá Xã hội hoá
là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội
Như vậy, xã hội hoá là một chủ trương có nội dung phong phú Đó là quá trình vận động quần chúng, nâng cao tính tích cực, ý thức tự giác và sức
Trang 26mạnh của quần chúng; là sự đổi mới về cơ chế quản lý và xây dựng hành lang pháp lý để đa dạng hoá các hình thức hoạt động , là sự đổi mới lãnh đạo, quản
lý của Đảng và Nhà nước
Như vậy, sau nhiều năm đổi mới đất nước, thuật ngữ "xã hội hoá" được dùng chính thức trong các văn kiện của Đảng: "Đảng đã đề xuất và khẳng định nhiệm vụ xã hội hoá các hoạt động văn hoá, giáo dục và khoa học như một đòi hỏi khách quan, một nhu cầu, một điều kiện, một động lực cho sự phát triển
Xã hội hoá các hoạt động trên là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào quá trình phát triển các lĩnh vực đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, văn hoá, khoa học, nâng cao dân trí và sự phát triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức của nhân dân " [37,
Tr.164-165]
Điều nói trên khẳng định xã hội hoá chứa đựng một tư tưởng chiến lược, một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới
1.2.3 Xã hội hoá giáo dục
Khái niệm XHHGD được chính thức sử dụng và đưa vào thực tiễn ở nước ta sau khi công cuộc đổi mới kinh tế – xã hội được chính thức khới xướng năm 1986 Trong ngôn ngữ pháp luật “xã hội hoá giáo dục” được gọi là
“xã hội hoá sự nghiệp giáo dục” (XHHSNGD) Phân biệt 2 phạm trù này cần hiểu rõ: Tính chất xã hội của giáo dục và XHHSNGD không phải là một Nghĩa là bản thân hoạt động giáo dục vẫn có tính chất xã hội Nếu nói tắt "xã hội hoá giáo dục" ta chỉ hiểu đó là do thói quen, gọi nhiều nên có – thực chất nếu theo cách gọi như vậy có nghĩa là ta chỉ giới hạn ở tính chất xã hội của giáo dục, tính chất này thuộc bản chất của giáo dục mà hoạt động giáo dục bình thường nào cũng có Điều đó đồng nghĩa với việc ta thừa nhận thuộc tính vốn có, có tính truyền thống của giáo dục, không thể tạo ra động lực mạnh mẽ, mới mẻ của hoạt động giáo dục trong một xã hội năng động luôn luôn phát triển và cũng phải xác định rõ rằng : nội hàm XHHCTGD nói ở đây thuộc
Trang 27phạm trù phương thức, phương châm, cách làm giáo dục Nó thuộc phương
thức tổ chức và quản lý giáo dục Đúng với bản chất nội dung xã hội hoá đã nêu ở phần trên và đã được thể chế thành điều 11 của Luật Giáo dục năm 1998
và điều 12 của Luật Giáo dục năm 2005 Cụ thể như sau:
“ Điều 12 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước
và toàn dân
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, thực hiện
đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục
Mọi tổ chức gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh an toàn.” [36,Tr.12 ]
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là một quá trình dân chủ hoá theo phương
châm ”Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Các tổ chức, cá
nhân tham gia vào quá trình xã hội hoá sự nghiệp giáo dục cũng rất đa dạng, phong phú thông qua qua việc thực hiện các chính sách giáo dục một cách công khai và minh bạch, sự chia sẻ thông tin, sự bàn bạc, thảo luận và đóng góp ý kiến, cùng ra quyết định và triển khai thực hiện lập kế hoạch, qua kiểm tra, giám sát, điều chỉnh, sửa đổi và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện Hiện nay, khi nói đến XHHCTGD là nói đến sự tham gia của
xã hội vào lĩnh vực giáo dục
Như vậy, Luật giáo dục đã xác định rõ vai trò chủ đạo của Nhà nước, vai trò tham gia của xã hội và vai trò chủ động của giáo dục và nhà trường trong XHHCTGD Sự kết hợp giữa ba yếu tố này trong mọi hoạt động của sự nghiệp giáo dục đã được thể chế hoá trong Luật giáo dục, trở thành một quy định pháp lý mang tính động lực, chỉ đạo hành động, liên kết đồng bộ ba yêu tố
đó, tạo nên tác động tổng hợp cho sự nghiệp phát triển giáo dục bền vững
Trang 28XHHCTGD là một chủ trương lớn , một tư tưởng lớn của Đảng và Nhà nước
Tư tưởng đó là sự đúc kết truyền thống hiếu học, đề cao sự tự lực và chăm lo
sự học hành của nhân dân ta từ hàng nghìn năm lịch sử, là bài học kinh nghiệm lớn của lịch sử 50 năm nền giáo dục nước nhà, nhất là trong những năm gần đây Sự nghiệp giáo dục của nhân dân ta hơn 50 năm qua dưới chính quyền cách mạng luôn chứng tỏ là sự nghiệp của Đảng, toàn dân tham gia giáo dục,
toàn xã hội quan tâm đến giáo dục vì đó là sự nghiệp "trồng người" của gia
xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật…) thúc đẩy sự phát triển
và tiến bộ không ngừng của xã hội XHHCTGD đòi hỏi phải huy động mọi tài lực, tiềm năng của xã hội tham gia giải quyết mọi nhiệm vụ, mọi vấn đề của
GD Phải xem đó là con đường tiên quyết của thực hiện trọn vẹn, lâu dài các chức năng, nhiệm vụ của giáo dục theo đúng mục tiêu xác định
Có thể nói XHHCTGD bao gồm hai phương diện Thứ nhất: Quá trình giáo dục gia nhập và hoà nhập vào xã hội, vào cộng đồng Thứ hai: Xã hội tiếp nhận giáo dục là công việc của mình, do mình và vì mình Hai phương diện này là 2 mặt của một vấn đề có quan hệ biện chứng với nhau XHHCTGD có tác dụng tích cực đến quá trình xã hội hoá con người, xã hội hoá cá nhân Xã hội, cộng đồng vừa là chủ thể đồng thời cũng là khách thể của quá trình XHHCTGD Mối liên hệ này làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển xã hội, huy động được sự đóng góp của xã hội cho sự nghiệp giáo dục, thực hiện
được phương châm : "mọi người phải làm giáo dục để giáo dục cho mọi người" Hai phương diện này thực hiện hai yêu cầu của XHHCTGD là phải xã
hội hoá quyền lợi về giáo dục, phải xã hội hoá trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi
Trang 29người đối với giáo dục Cần hiểu đúng tinh thần của XHHCTGD để xác định mục tiêu chính, có tính chất xương sống của XHHCTGD Trong hai yêu cầu
đó, yêu cầu về xã hội hoá quyền lợi về giáo dục là mục tiêu hướng tới của XHHCTGD Nếu chỉ nghiêng về xã hội hoá trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người với giáo dục là cách hiểu phiến diện, là đi chệch hướng bản chất của một
xã hội của dân, do dân, vì dân
Nghị quyết Trung ương II khoá VIII (1997), một Nghị quyết về chuyên đề
giáo dục đầu tiên của Đảng khẳng định : "Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân; kết hợp tốt giáo dục học đường với giáo dục gia đình giáo dục xã hội”; “GD-ĐT
là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Các tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực, góp phần phát triển
sự nghiệp đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho GD-ĐT"
XHHCTGD không phải là một giải pháp tình thế Nó là một tư tưởng chiến lược có giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục một cách lâu dài
Chúng ta khẳng định đây là hướng đi đầy hứa hẹn để xây dựng hệ thống giáo dục lành mạnh, có chất lượng theo định hướng XHCN, tạo nên động lực xây
dựng thành công một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Ngày nay, giáo dục có vai trò ngày càng quan trọng trong sự nghiệp
phát triển kinh tế – xã hội (KTXH) ở tất cả các nước trên thế giới, các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển , giáo dục thực sự trở thành trung tâm của mọi sự phát triển (phát triển kinh tế, văn minh, trí tuệ, kinh tế tri thức) Với tốc độ phát triển nhanh và mạnh của thông tin, khoa học công nghệ như hiện nay, đòi hỏi nâng cao mặt bằng dân trí ngang tầm thời đại Hiện đại hoá nền học vấn để làm chủ nền văn minh hậu công nghiệp, Với vai trò của mình, giáo dục không phải là đi theo sự phát triển mà phải là kéo theo sự phát triển,
vì vậy, giáo dục cần phải đi trước một bước, đón trước sự phát triển, chuẩn bị cho sự phát triển về mọi mặt của khoa học,đời sống xã hội … Vấn đề tăng cường nguồn nhân lực, làm phong phú tài nguyên trí tuệ vì những mục tiêu
Trang 30kinh tế, xử lý sự mất cân bằng giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội… tất
cả đòi hỏi phải làm tốt giáo dục, nhất là những nước đang muốn đi tắt, đón đầu trong quá trình công nghiệp hoá , hiện đại hoá Vì thế các nước đều tập trung sức đầu tư cho giáo dục bằng mọi nguồn lực (vật lực, tài lực, trí lực), Việt Nam không phải là một ngoại lệ
1.3 Sự tác động của xã hội hoá công tác giáo dục đến các lĩnh vực của đời sống xã hội
1.3.1 Xã hội hoá công tác giáo dục là nhân tố tạo ra "xã hội học tập góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho cộng đồng, cho đất nước”
XHHCTGD là tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội, vận động toàn dân, trước hết là thế hệ trẻ và những người trong độ tuổi lao động, thực hiện học tập thường xuyên và học tập liên tục, học tập suốt đời làm cho
xã hội ta là"xã hội học tập" để nâng cao mặt bằng dân trí, làm phong phú thêm tài nguyên trí tuệ góp phần đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước và cơ chế thị
trường; nâng cao chất lượng đời sống của người dân, làm cho “nước giàu - dân mạnh - xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Giáo dục cho mọi người, mọi người làm giáo dục tạo ra một xã hội học tập là trực tiếp nâng cao dân trí cộng đồng Ngay từ ngày đầu cách mạng Hồ Chủ Tịch đã sớm nhận rõ giá trị của việc nâng cao dân trí, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển lâu dài của cả một dân tộc, Câu nói nổi tiếng của người
đã trở thành một thông điệp của thời đại: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu"
và kêu gọi "Toàn dân tham gia diệt giặc dốt" Tư tưởng về dân trí của Hồ Chủ
Tịch là một tư tưởng lớn về giáo dục, nó là kim chỉ nam cho mọi hành động, cho sự chấn hưng của Nhà nước non trẻ lúc bấy giờ và còn nguyên giá trị cho đến tận ngày nay
Dân trí trước hết là thể hiện trình độ học vấn Người ta lấy việc biết chữ, lấy số năm học mà mỗi người đã được học để đo trình độ dân trí Nhưng xã hội ngày càng phát triển nhất là trong thời đại của cách mạng khoa học kỹ thuật,
Trang 31thời đại kinh tế tri thức thì khái niệm “mù chữ” cũng được hiểu theo nghĩa
rộng hơn – Nó không còn trong phạm vi là không được đi học, không biết chữ
mà nó còn bao hàm cả việc thiếu thông tin, không thông hiểu ngoại ngữ, tin học, không có trình độ tay nghề… Xã hội ngày nay mà thiếu những điều đó thì không thể theo kịp sự phát triển chứ chưa nói đến phát triển Cho nên, nói đến dân trí là phải nói đến trình độ văn hoá ngang tầm thời đại, văn hoá của nhiều lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, tức là những lĩnh vực hạt nhân của đời sống Dân trí đi liền với văn minh; xã hội văn minh đòi hỏi dân trí ở mức độ tương ứng với nó Hơn thế nữa dân trí còn thể hiện toàn bộ lối sống, lối ứng xử phù hợp với tự nhiên và xã hội, tuân thủ pháp luật, các qui tắc chuẩn mực do xã hội qui định
Trên nền tảng dân trí đó, phải đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của đất nước và địa phương một cách trực tiếp vào đào tạo nhân lực thuộc mọi lĩnh vực sản xuất vật chất và tinh thần, mọi hoạt động của đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu của công cuộc CNH - HĐH, yêu cầu của thị trường sức lao động trong cơ chế mới, yêu cầu trong nước và quốc tế, hoà nhịp vào biến đổi kinh tế theo xu thế toàn cầu hoá Đối với chúng ta, nguồn nhân lực con người là quý giá nhất bên cạnh sự hạn hẹp của các nguồn lực khác Cho nên, XHHCTGD tạo ra xã hội học tập để góp phần đào tạo nguồn nhân lực là một công việc có ý nghĩa to lớn, giải quyết căn bản sự thiếu, yếu của chúng ta hiện nay Trên cơ sở giải quyết nguồn lực con người, các vấn đề khác nằm trong phạm vi đó như đào tạo
nhân tài cho đất nước và cộng đồng cũng được giải quyết “Nhân tài là nguyên khí của quốc gia”, Nhân tài không tự nhiên có được mà phải qua thực tiễn hoạt động cá nhân."xã hội học tập" được coi như chiếc nôi phát hiện, bồi dưỡng nhân tài mà “xã hội học tập” là thành quả của XHHCTGD
1.3.2 Xã hội hoá công tác giáo dục góp phần làm cho giáo dục phục vụ đắc lực phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
Giáo dục và kinh tế là cặp song trùng, luôn luôn đồng hành cùng nhau, ảnh hưởng đến nhau, có mối liên hệ hữu cơ với nhau, mối quan hệ có tính nhân
Trang 32quả Kinh tế, xã hội hay toàn bộ các yếu tố xã hội (hiểu theo nghĩa rộng) chi phối, qui định qui mô, tốc độ, số lượng, chất lượng và trình độ sự phát triển giáo dục, ngược lại giáo dục với tư cách là bộ phận của xã hội có quan hệ chặt chẽ với từng bộ phận khác như: kinh tế, chính trị, xã hội, phục vụ cho sự phát triển toàn bộ của xã hội Giáo dục là chất keo gắn kết các bộ phận xã hội Tính quy luật đó tác động ở tầm vĩ mô cả nước và cả tầm vĩ mô của từng địa phương Trong phạm vi địa phương giáo dục phục vụ cho mục tiêu, sự phát triển kinh tế địa phương Đó là cái lẽ tồn tại và phát triển của nhà trường và xã hội
Đã có lúc giáo dục và nhà trường không quán triệt nguyên tắc nói trên, giáo dục của chúng ta chưa thực sự quan tâm nhiều đến kĩ năng thực hành, chưa bám sát yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội nên rơi vào thế đơn độc, dẫn đến giảm sút chất lượng, giáo dục không phù hợp với yêu cầu phát triển KT-
XH Giáo dục phục vụ cho sự phát triển KT-XH địa phương Trước hết phương hướng và mục tiêu giáo dục phải nhằm vào phương hướng và mục tiêu phát triển KT-XH của địa phương CNH - HĐH là phương hướng phát triển của đất nước và từng địa phương Mỗi địa phương với những đặc thù riêng của mình giáo dục, về mặt phát triển cũng như đào tạo, cũng theo phương hướng
đó Trong XHHCTGD, chúng ta phải rất coi trọng tính địa phương Gắn giáo dục với xã hội là gắn ngay với từng địa phương, với những đặc điểm riêng của địa phương Khi nói làm giáo dục bằng sức mạnh của địa phương, của cộng đồng thì sức mạnh đó không phải chỉ có các lực lượng xã hội địa phương như Đảng, chính quyền, các ban ngành, các tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân trong cộng đồng địa phương Sức mạnh đó còn là kinh tế, chính trị, xã hội nhất
là văn hoá địa phương, có tác động trực tiếp đến nhân cách văn hoá của con người địa phương Tính chất vùng, miền, địa phương sẽ được phản ánh trong đào tạo con người XHHCTGD khai thác sức mạnh của địa phương sẽ tạo nên chất lượng con người phục vụ cho sự phát triển KT-XH của địa phương, góp phần phát triển đất nước
Trang 331.3.3 Xã hội hoá giáo dục mầm non tạo ra sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng giáo dục mầm non
Luật giáo dục (2005) và Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ yêu cầu phải thực hiện cho được công bằng trong giáo dục Nhà nước tập trung ngân sách hỗ trợ cho vùng sâu, vùng xa, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật để thực hiện quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục , được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, xoá dần khoảng cách giáo dục mầm non giữa thành thị và nông thôn, giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với thành phố, thị xã XHHCTGD sẽ tạo ra một "xã hội học tập" tức là thực hiện bình đẳng và cơ hội học tập, cơ hội được hưởng thụ sự giáo dục Trước mắt giúp cho con em gia đình nghèo khó, các gia đình chính sách được đi học, khắc phục hiện tượng bỏ học vì lý do tài chính, đảm bảo cho ai muốn đi học đều có cơ hội đến trường,
có nơi học tập, mọi người đều được học Một "xã hội học tập" gắn với đa dạng hoá các hình thức học tập và các loại hình trường lớp Bên cạnh việc củng cố loại hình công lập, lấy đó làm nòng cốt,giữ vai trò chủ đạo, sẽ mở ra các loại hình khác như bán công, dân lập, tư thục; các trung tâm giáo dục thường xuyên, các trung tâm dạy nghề, tin học, ngoại ngữ; các nhóm hoặc lớp trẻ gia đình, các hình thức đào tạo ngắn ngày và đào tạo theo công việc hoặc công đoạn trong các ngành sản xuất; các lớp tập huấn kỹ thuật quản lý…
Sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập với thế giới… sẽ tạo ra nhu cầu học tập Đa dạng hoá các hình thức học tập sẽ giúp mọi người tuỳ theo hứng thú, nhu cầu, lợi ích, điều kiện hoàn cảnh cá nhân mà lựa chọn có được hình thức học tập phù hợp: học tập trung, học tại chức, học thường xuyên, học từ xa, học theo tín chỉ… nó tạo điều kiện, cơ hội cho mọi người nâng cao trình độ, tiếp cận với vấn đề mới áp dụng được tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đời sống hàng ngày
Xã hội hoá các hoạt động giáo dục đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực của
xã hội tham gia giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề của giáo dục Phải xem đây là con đường, là biện pháp tiên quyết để thực hiện trọn vẹn, lâu dài các chức năng,
Trang 34nhiệm vụ của giáo dục theo đúng mục tiêu xác định Xã hội hoá giáo dục được xem
là giải pháp chiến lược vì nó mang giá trị chỉ đạo lâu dài đối với quá trình xây dựng
và phát triển giáo dục Ở nước ta, đây là con đường, là biện pháp tổng quát để xây dựng một hệ thống giáo dục lành mạnh, có chất lượng, tạo nên động lực để xây
dựng thành công “Một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội” [27, tr 8]
Như vậy, sau nhiều năm đổi mới, thuật ngữ xã hội hoá được dùng chính thức trong văn kiện quan trọng của Đảng, nó chứa đựng một tư tưởng chiến lược, một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới
Mục tiêu chủ yếu của xã hội hoá là huy động tổng lực sức mạnh của toàn xã hội, thực hiện chủ trương của Đảng bằng con đường giác ngộ, vận động và tổ chức sự tham gia tích cực, tự nguyện của mọi lực lượng xã hội, của toàn dân vào sự nghiệp chung đồng thời cũng quản lý trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với mọi mặt của đời sống nhân dân
Huy động mọi lực lượng xã hội tham gia giải quyết những vấn đề về giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng là điều kiện không thể thiếu
để thực hiện mục tiêu giáo dục Trong giai đoạn hiện nay, chủ trương XHH giáo dục hoàn toàn không phải là giải pháp tình thế nhất thời, mà là một chủ
trương mang tính chiến lược trong công cuộc đổi mới của đất nước
XHHCTGD và dân chủ hoá giáo dục có mối liên hệ mật thiết biện chứng Bởi vì XHH mà không dân chủ hoá thì không tạo nên được sự đồng thuận và như vậy không thể thực hiện được XHH Nhờ dân chủ hoá giáo dục
mà các thành phần tham gia XHHCTGD trở lên đông đảo, tự nguyện, rộng khắp ở các địa phương, trường học Ngược lại, XHHCTGD là con đường để thực hiện dân chủ hoá giáo dục Cũng có nghĩa là nói đến XHHCTGD là phải nói đến dân chủ hoá giáo dục XHHCTGD đưa giáo dục trở thành sự nghiệp của toàn xã hội, tạo điều kiện để nhiều thành phần dân cư trong xã hội được đóng góp về nhiều mặt cho sự nghiệp giáo dục, không khép kín trong hệ thống
Trang 35giáo dục và nhà trường mà mở rộng phạm vi tới các tổ chức quốc tế, các gia đình, gia tộc và cộng đồng không chỉ đầu tư một mặt mà là nhiều mặt để xây dựng, hỗ trợ giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục XHHCTGDMN sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy truyền thống giáo dục của dân tộc, tạo ra sự chỉ đạo hành động thống nhất toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đồng thời qua đó phát huy quyền dân chủ của nhân dân trong kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý giáo dục, quá trình giáo dục của nhà trường Như vậy, XHHCTGDMN chính là con đường để thực hiện nguyên tắc tập trung, dân chủ trong sự nghiệp phát triển GDMN
1.3.4 Xã hội hoá công tác giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
XHHCTGD sẽ hỗ trợ tạo nên điều kiện thuận lợi để mọi thành phần trong xã hội đóng góp nhiều mặt cho sự nghiệp giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục
- Cụ thể hoá mục tiêu giáo dục : Cộng đồng địa phương và các bậc cha
mẹ hoàn toàn có khả năng góp phần cụ thể hoá mục tiêu giáo dục vừa phù hợp với địa phương, vừa đáp ứng nguyện vọng của các gia đình
- Tham gia vào việc cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy : Các tổ chức xã hội đoàn thể đều có thể tham gia vào việc giáo dục dưới các hình thức báo cáo chuyên đề, nói chuyện nhân các ngày kỷ niệm, ngày lễ của dân tộc hoặc địa phương Các phương tiện thông tin đại chúng đem lại những nội dung giáo dục thế hệ trẻ sinh động phong phú Sự tham gia của xã hội để tổ chức các hoạt động ngoại khoá, các chương trình giáo dục ngoài nhà trường, đặc biệt là việc tổ chức cho học sinh học tập, tham quan, tham gia lao động sản xuất… không chỉ là tham gia vào nội dung mà còn tham gia cải tiến phương thức, phương pháp giáo dục
- Tăng cường lực lượng của người dạy và người học : Tăng cường lực lượng ở đây bao gồm tăng cường số lượng người dạy và người học, nhưng quan trọng hơn là tăng cường chất lượng, phát huy tiềm năng giáo dục ở người dạy và người học Đội ngũ giáo viên hiện nay của ta còn thiếu việc phát huy
Trang 36tiềm năng xã hội để bổ sung và tham gia vào việc giảng dạy là vô cùng cần thiết Bên cạnh các thầy cô giáo, giáo dục của gia đình của các bậc cha mẹ cũng có vai trò rất quan trọng Một sự liên kết toàn xã hội được thực hiện qua XHHCTGD sẽ phát huy được số lượng và tiềm năng của lực lượng người dạy
1.4 Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.4.1 Vị trí, vai trò của giáo dục mầm non
Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống GDMN đã được đồng chí Nguyễn
ái Quốc xác định từ năm 1924, khi Người viết trên báo Người cùng khổ:"Thiết lập một hệ thống trường mẫu giáo và vỡ lòng , nhà giữ trẻ, vườn trẻ nhằm mục đích cải thiện việc giáo dục xã hội, giải phóng người phụ nữ." Người còn dạy: “Mẫu giáo tốt là mở đầu một nền giáo dục tốt”
Bước vào thời kì đổi mới, giáo dục mầm non tiếp tục được xác định là bậc học đầu tiên, quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Theo tinh thần Nghị định 90/CP và Luật giáo dục thì GDMN là bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam GDMN có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là chuẩn bị tiền đề về thể chất, về tình cảm trí tuệ và về tâm lý, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến GDMN và đã cho ra đời những chủ trương chính sách hợp lý kịp thời nhằm phát triển GDMN trong thời kỳ mới , thời kỳ CNH - HĐH đất nước
Hội nghị TW 2 của Ban chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII định hướng cho chiến lược giáo dục và đào tạo sự nghiệp CNH – HĐH đất
nước đã ghi rõ: “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển giáo dục mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi, phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình” Hội nghị lần thứ VI của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã
cụ thể hoá thành các chỉ tiêu cho GDMN đến năm 2010: “Mở rộng hệ thống trường lớp GDMN trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở miền núi, dân tộc thiểu
số, nông thôn Tăng tỉ lệ trẻ trước 3 tuổi đi nhà trẻ 12% năm 2000 lên 15% vào năm 2005 và 18% vào năm 2010; trẻ từ 3-5 tuổi đi học mẫu giáo từ 50%
Trang 37năm 2000 lên 58% vào năm 2005 và 95% năm 2010 (trong đó trẻ 5 tuổi đi học mẫu giáo đạt 85% vào năm 2005 và 95% vào năm 2010) Giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non xuống 20% vào năm 2005, dưới 15% vào năm 2010” GDMN càng ngày càng khẳng định vị trí không thể
thiếu trong hệ thống giáo dục quốc dân cũng như tầm quan trọng trong trong toàn bộ sự nghiệp GD-ĐT con người Giáo dục mầm non hình thành những nét nhân cách đầu tiên của con người, là nền tảng cho các bậc học tiếp theo Phát triển GDMN là nền tảng chiến lược phổ cập tiểu học của đất nước Nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam và trên thế giới đã chỉ ra rằng: Can thiệp sớm vào lứa tuổi mầm non sẽ giúp đứa trẻ có nhiều thuận lợi hơn để phát triển, hạn chế những khó khăn do các yếu tố xã hội, bẩm sinh mang lại Sở dĩ như vậy là vì trí tuệ, tính cách và hành vi đứa trẻ đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ nhất vào chính những năm đầu cuộc đời con người
Khoa học đã chứng minh rằng:" Trẻ em lứa tuổi mầm non ( từ 0 đến 6 tuổi) có sự tăng trưởng rất lớn lao về cơ thể , trí tuệ và tình cảm Chẳng hạn
có tới 50% sự phát triển trí tuệ của con người được diễn ra trong lứa tuổi từ bào thai đến 4 tuổi, từ 4 tuổi đến 8 tuổi đạt được 30% nữa và tiếp tục hoàn thiện đến tuổi trưởng thành nhưng tốc độ chậm dần sau 18 tuổi" [9.Tr.17]
Nhà giáo dục nga vĩ đại Xô Viết A.X.Makarenkô đã từng nhận xét:
"Những điều căn bản của giáo dục trẻ đã được hình thành từ trước 5 tuổi Những điều dạy cho trẻ trong thời kỳ đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ.Về sau việc giáo dục đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó bắt đầu nếm quả, còn nụ hoa được vun trồng trong 5 năm đầu tiên" [18.Tr.36]
Giáo dục mầm non bậc học đầu tiên trong hệ thống Giáo dục Quốc dân,
là bậc học thấp nhất nhưng lại là quan trọng nhất như đã nói trên GDMN là giai đoạn khởi đầu, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em, tạo đà cho trẻ em lên các bậc học tiếp theo Giai đoạn này trẻ em được giáo dục tốt thì sẽ là cơ sở tốt, nền móng tốt cho những giai đoạn tiếp theo Trong báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục cho mọi người năm 2005,
Trang 38UNESCO đã nhận định: “Bằng chứng cho thấy rằng, việc chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi trước tuổi học có liên quan đến việc phát triển nhận thức và xã
hội tốt hơn” [53, tr 56-57]
Tầm quan trọng của giáo dục mầm non là ở chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục lâu dài nhằm hình thành và phát triển nhân cách trẻ em Giáo dục mầm non chính là chuẩn bị cho tương lai của đất nước
1.4.2 Đặc trưng của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
Từ năm 1985, khi nước ta có những cuộc cải cách giáo dục trong dó
có giáo dục mầm non Với chiến lược phát triển dài hạn, giáo dục nhà trẻ, mẫu giáo lúc đó đã có những dự báo và quy hoạch về mặt qui, chất lượng và
cơ chế hoạt động Đảng và Nhà nước ta đã sáng suốt đưa ra chủ trương sát nhập nhà trẻ và mẫu giáo thành một gọi là GDMN
Luật giáo dục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 18,
19 có ghi : "GDMN là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tháng tuổi" Với chức năng của mình GDMN giúp trẻ phát triển 5 lĩnh vực: về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội, ngôn ngữ, thẩm mỹ; hình thành những yêu tố đầu tiên của nhân cách có tính ổn định bền vững ban đầu, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp
1
Trong bối cảnh hiện nay, bậc học mầm non là một bậc học khó khăn mọi mặt: trình độ đội ngũ cán bộ giáo viên thấp, đời sống khó khăn, thời gian làm việc nhiều, cường độ, áp lực công việc lớn đòi hỏi tính tỉ mỉ, chu đáo, cơ sở vật chất khó khăn (nhất là khu vực ngoại thành, vùng sâu, vùng xa), Sự thiếu hụt trong chất lượng đội ngũ, cơ sở vật chất tạo nên một nghịch lý trong việc đáp ứng với yêu cầu cao của ngành học, của xã hội, do vậy, trước mắt và tương lai đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ, giáo viên mầm non có đủ trình độ, năng lực, có lòng yêu nghề mến trẻ để đảm đương trách nhiệm
Trang 39GDMN có đặc trưng riêng "Phương pháp chủ yếu trong GDMN là thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ" [36.Tr.15]
Mặc dù được xác định là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân nhưng nó lại là bậc học không bắt buộc đối với mọi trẻ em Vì lẽ đó mà nhiều gia đình chưa nhận thấy tầm quan trọng của bậc học này, chưa quan tâm đưa trẻ em trong độ tuổi đến trường Nhiều loại hình chăm sóc giáo dục trẻ em tồn tại, điều này gây nên sự chênh lệch về chất lượng chăm sóc giáo dục, khó khăn trong quản lý của các cấp các ngành Vừa qua một số sự việc xảy ra tại các cơ sở GDMN tư thục là một ví dụ cho việc kiểm tra, giám sát, yêu cầu của các cấp, các ngành đối với những cơ sở giáo dục này Sự tồn tại và phát triển của ngành chủ yếu dựa vào các hỗ trợ đóng góp của cộng đồng - Điều này dẫn đến tình trạng mất chủ động mà đòi hỏi bản thân ngành GDMN phải làm sao
mọi người hiểu và cùng tham gia công tác chăm sóc giáo dục trẻ
1.4 3 Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục mầm non
Điều 21,22, Luật giáo dục (2005) đã xác định nhiệm vụ và mục tiêu giáo
dục mầm non “Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến sáu tuổi”, "Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu
tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một” [48, tr.12]
* Mục tiêu của giáo dục mầm non :
“Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một” [3, tr.7]
* Nhiệm vụ của GDMN:
GDMN có nhiệm vụ thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
em từ 3 tháng đến 6 tuổi nhằm mục tiêu giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ nhằm hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách,
Trang 40chuẩn bị tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào lớp một cũng như đặt nền móng cho sự phát triển về sau
Có thể nói rằng, so với tất cả các bậc học, ngành học, các loại hình giáo dục thì GDMN mang tính xã hội cao hơn cả vì nó đòi hỏi chăm lo cả về thể chất lẫn tinh thần cho trẻ của gia đình, trường lớp mầm non, mọi ngành, mọi cấp, mọi tầng lớp xã hội Mặt khác, đây là độ tuổi sự phát triển các tố chất trở nên hết sức quan trọng để làm nền móng tốt cho sự phát triển của trẻ sau này
Để thực hiện được nhiệm vụ trên GDMN cần phải:
Có kế hoạch mang tính chiến lược về phát triển bậc học mầm non của từng địa phương làm cơ sở cho việc hoạch định cho GDMN toàn quốc
Mở rộng mạng lưới các trường mầm non theo các loại hình, đảm bảo dịch vụ chăm sóc GDMN theo định hướng của Nhà nước, khắc phục tình trạng mất cân bằng trong GDMN giữa các tỉnh thành, các khu vực, thu hẹp khoảng cách về chất lượng CSGD trẻ ở tất cả các khu vực, vùng, miền
GDMN phải đổi mới về nội dung, phương pháp CSGD trẻ, giữ gìn truyền thống dân tộc đồng thời không bị tụt hậu so với chất lượng GDMN của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, phù hợp với điều kiện địa phương, với nhu cầu của xã hội
Đội ngũ cán bộ giáo viên mầm non (CBGVMN) không ngừng học tập nâng cao trình độ, trau dồi phẩm chất đạo đức và điều không thể thiếu là có lòng yêu nghề, mến trẻ
Các điều kiện về cơ sở vật chất phải đảm bảo các yêu cầu về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non, hiện đại hoá đối với các cơ sở mầm non nội thành
Những nơi khó khăn trẻ mầm non không có điều kiện đến trường thì cần phải trang bị kiến thức cho các bà mẹ, người bảo hộ cho trẻ những kiến thức khoa học về CSGD trẻ giúp họ có thể chăm sóc trẻ tại gia đình được tốt