[26, Tr.77] Trong tình hình đó, một trong những nhiệm vụ hàng đầu, cũng là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng đào tạo ở các trường đại học NCL là công tác quản lý sinh viên nội t
Trang 1§¹i häc quèc gia hµ néi
LuËn v¨n th¹c sÜ Qu¶n lý Gi¸o dôc
Chuyªn ngµnh : Qu¶n lý gi¸o dôc
M· sè : 60 14 05
Ng-êi h-íng dÉn khoa häc: TS TrÇn Anh TuÊn
Hµ Néi – 2006
Trang 2KÝ HIỆU VIẾT TẮT
(Xếp theo A,B,C )
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU Bảng 2.1.2.1 Số lượng HSSV nội trú năm học 2005 – 2006
Bảng 2.2.1.4.A.1 Các hoạt động ngoài giờ chính khoá của HSSV nội trú
Trường ĐHDL Phương Đông
Bảng 2.2.1.4.A.2 Bảng tổng kết kết quả học tập của HSSV nội trú tại KTX
Trường ĐHDL Phương Đông (năm học 2005-2006)
Bảng 2.2.1.4.B Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả học tập và ý thức tự
học của HSSV nội trú tại KTX trường ĐHDL Phương Đông
Bảng 2.2.1.4.C Điều kiện hiện nay tại KTX đảm bảo cho việc tự học của
HSSV nội trú trường ĐHDL Phương Đông
Bảng 2.2.1.4.D Mức độ đáp ứng của các hoạt động văn hoá thể thao tại KTX
trường ĐHDL Phương Đông
Bảng 2.2.1.4.E Đánh giá điều kiện cơ sở vật chất tại KTX trường ĐHDL
Phương Đông
Bảng 2.2.1.4.G Hiệu quả hoạt động quản lý của Ban quản lý KTX Trường
ĐHDL Phương Đông
Bảng 2.2.2.2.A Đánh giá điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho việc tự học
của HSSV nội trú tại KTX trường ĐHDL Hải Phòng và ĐH Công nghệ Sài Gòn
Bảng 2.2.2.2.B Hiệu quả hoạt động của Ban quản lý KTX ĐHDL Hải Phòng Bảng 2.2.2.2.C Hiệu quả hoạt động của Ban quản lý KTX ĐH Công nghệ
Sài Gòn
Bảng 2.2.2.2.D Mức độ các hoạt động văn hoá, thể thao tại KTX trường
ĐHDL Hải Phòng và ĐHDL Công nghệ Sài Gòn
Bảng 3.3.2.1 Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp quản lý HSSV nội trú Trường ĐH Phương Đông
Bảng 3.3.2.2.A Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp quản lý HSSV nội trú Trường ĐHDL Hải Phòng
Bảng 3.3.2.2.B Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp quản lý HSSV nội trú Trường ĐH Công nghệ Sài Gòn
Trang 4Chương 1 CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP Lí CỦA VẤN ĐỀ
NGHIấN CỨU
1.1.4 Ký tỳc xỏ và nhiệm vụ của cụng tỏc quản lý HSSV nội trỳ 20 1.1.5 Chất lượng đào tạo và cỏc mụ hỡnh quản lý chất lượng đào tạo 22
1.2 Cỏc đặc điểm của loại hỡnh giỏo dục đại học ngoài cụng lập 26 1.2.1 Sơ lược về hệ thống GDĐH của Thế giới và của Việt Nam 26
1.2.2 Đặc điểm của loại hỡnh giỏo dục đại học NCL ở Việt Nam 28
1.3 Vấn đề đổi mới giỏo dục đại học hiện nay 31
Chương 2 Thực trạng công tác quản lý học sinh sinh viên
nội trú tại các tr-ờng đại học ngoài công lập
2.1 Quỏ trỡnh phỏt triển và đặc điểm KTX cỏc trường đại học NCL 39 2.1.1 Vài nột về quỏ trỡnh hỡnh thành, phỏt triển của đại học NCL 39
Trang 52.2.1 Trường ĐHDL Phương Đụng 45
2.2.2 Một số trường đại học ngoài cụng lập khỏc 60
Chương 3 các biện pháp quản lý Học sinh sinh viên nội trú
Tại tr-ờng đại học Ngoài công lập
3.1 Cơ sở đề xuất và nguyờn tắc xõy dựng cỏc biện phỏp quản lý HSSV
3.1.1 Cơ sở đề xuất cỏc biện phỏp quản lý HSSV nội trỳ 70
3.1.2 Nguyờn tắc xõy dựng cỏc biện phỏp quản lý HSSV nội trỳ tại cỏc trường đại
3.2 Cỏc biện phỏp quản lý HSSV nội trỳ tại cỏc trường đại học NCL nhằm
nõng cao chất lượng đào tạo trong điều kiện đổi mới GDĐH hiện nay 77
3.2.1 Nõng cao nhận thức, ý thức trỏch nhiệm của cỏn bộ, sinh viờn về cụng tỏc
3.2.2 Tăng cường kế hoạch hoỏ và hiệu quả của hệ thống văn bản về cụng tỏc
quản lý HSSV nội trỳ phự hợp với quy trỡnh đào tạo mới 79 3.2.3 Tổ chức hệ thống thụng tin phối hợp đảm bảo cụng tỏc quản lý HSSV
3.2.4 Nõng cao năng lực đội ngũ cỏn bộ CNV, đặt trọng tõm cụng tỏc KTX vào
3.2.5 Phối hợp tốt với cỏc bộ phận quản lý đào tạo trong trường 84
3.2.6 Tăng cường phối hợp với Đoàn Thanh niờn, Hội Sinh viờn tổ chức cỏc sinh
3.2.7 Phối hợp tốt với cỏc bộ phận phục vụ đào tạo trong trường đảm bảo hoạt
3.2.8 Tăng cường cỏc điều kiện phục vụ và quản lý hiệu quả cơ sở vật chất 87
3.2.9 Tăng cường hiệu quả phối hợp với cỏc cơ quan chức năng, cỏc tổ chức
3.2.10 Tăng cường hiệu quả việc kiểm tra, đỏnh giỏ cụng tỏc quản lý KTX 90
3.3 Khảo sỏt tớnh cần thiết và khả thi của cỏc biện phỏp đề xuất 93
Trang 6đó, vai trò hàng đầu của đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chính là GDĐH Tinh thần đó đã được nêu rõ trong Nghị quyết số 14/2005/NQ- CP
của Chính phủ: “Trên cơ sở đổi mới tư duy và cơ chế quản lý giáo dục đại
học, kết hợp hợp lý và hiệu quả giữa việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước và việc bảo đảm quyền tự chủ, tăng cường trách nhiệm xã hội, tính minh bạch của các cơ sở giáo dục đại học Phát huy tính tích cực và chủ động của các cơ sở giáo dục đại học trong công cuộc đổi mới mà nòng cốt là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và sự hưởng ứng, tham gia tích cực của toàn xã hội; Chuyển cơ sở giáo dục đại học bán công và một số cơ sở giáo dục đại học công lập sang loại hình tư thục…”[11, Tr.1]
Thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới GDĐH nói riêng, trong những năm gần đây, GDĐH Việt Nam đã và đang có những bước phát triển rất quan trọng, đồng thời cũng đang phải đối mặt với những thách thức trong quá trình đổi mới
Báo cáo của Bộ GD & ĐT do Thứ trưởng Bành Tiến Long trình bày tại Hội nghị Hiệu trưởng các trường ĐH và CĐ (ngày 10 và 11/5/2006) bàn về vấn đề thực hiện chủ trương đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam
giai đoạn 2006 – 2010 đã khẳng định: “Thực tế đổi mới của giáo dục đại học
không theo kịp đổi mới kinh tế của đất nước kể cả trong tư duy, trong hành động, trong cơ chế chính sách và các giải pháp cụ thể Để nhanh chóng đáp
Trang 7ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới, giáo dục đại học nước ta phải đổi mới mạnh mẽ, cơ bản toàn diện theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ.” [23, Tr.A]
Hội nghị cũng đề cập đến các vấn đề giao quyền tự chủ nhiều hơn cho các trường, chuyển đổi các trường bán công, dân lập sang tư thục Những điều
đó đồng nghĩa với việc muốn tồn tại, các trường ĐH nói chung và đại học NCL nói riêng phải nâng cao chất lượng, phải đổi mới vấn đề quản lý người học cho phù hợp với điều kiện mới
1.2 Trong lý luận về quản lý giáo dục, vấn đề quản lý sinh viên nói chung, sinh viên nội trú nói riêng luôn được coi là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo chất lượng đào tạo Tuy nhiên, cho đến nay thực tế công tác quản lý sinh viên nói chung (bao gồm cả sinh viên ngoại trú và nội trú) còn rất lỏng lẻo, yếu kém Hiện tượng một số sinh viên sống tuỳ tiện, buông lỏng bản thân, không chịu sự quản lý của nhà trường và địa phương dẫn đến các tệ nạn xung quanh khu vực nội trú của sinh viên đang trở thành vấn đề nhức nhối của gia đình, nhà trường và toàn xã hội
Vì vậy, vấn đề quản lý sinh viên nội trú là một trong những vấn đề cấp thiết đối với nhiều trường đại học hiện nay Mặt khác, trong điều kiện kinh tế – xã hội phức tạp như hiện nay, công tác quản lý sinh viên nội trú cũng cần phải được đổi mới về quan điểm, nội dung và phương pháp công tác
1.3 Các trường đại học NCL ở Việt Nam mới chỉ ra đời hơn mười năm gần đây Thoạt đầu chỉ gồm vài trường bán công và một vài trường dân lập như là thử nghiệm cho mô hình XHH giáo dục đại học Tuy nhiên, đến nay loại hình giáo dục NCL đã nhanh chóng khẳng định vai trò và những ưu thế của mình
trong hệ thống GDĐH Việt Nam Trước hết là trong nhiệm vụ phấn đấu đạt
200 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2010 và 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm
2020 [11, Tr.3] Mặt khác, các trường đại học NCL có vai trò không nhỏ cho việc giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, làm tăng ngân sách cho
Trang 8các trường công, nhất là các trường lớn, để đưa giáo dục Việt Nam đuổi kịp các trường trong khu vực [26, Tr.77]
Trong tình hình đó, một trong những nhiệm vụ hàng đầu, cũng là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng đào tạo ở các trường đại học NCL là công tác quản lý sinh viên nội trú
Là một cán bộ Phòng công tác SVHS tại Trường ĐHDL Phương Đông, nhiều năm chúng tôi trăn trở làm thế nào để KTX không chỉ là nơi “ở trọ” của sinh viên mà còn là một bộ phận quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường Chính vì vậy, khi tiếp thu những lý luận về quản lý GD,
chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “ Các biện pháp quản lý sinh viên
nội trú các trường đại học ngoài công lập nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong điều kiện đổi mới giáo dục đại học hiện nay.” Với mong muốn
rằng kết quả của đề tài sẽ đem lại giá trị thiết thực trong công tác quản lý sinh viên nội trú không những đối với trường ĐHDL Phương Đông mà từ đó có thể áp dụng cho những trường Đại học có điều kiện tương tự trong điều kiện đổi mới GDĐH hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ nhân lực có trình độ cao cho đất nước
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại các trường đại học NCL nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong điều kiện đổi mới GDĐH hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tổng quan cơ sở lý luận về Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường về công tác quản lý sinh viên nội trú và các định hướng đổi mới GDĐH hiện nay
3.2 Khảo sát thực trạng công tác quản lý sinh viên nội trú tại các trường đại học NCL
3.3 Đề xuất các biện pháp quản lý SV nội trú tại các trường đại học NCL nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong điều kiện đổi mới GDĐH hiện nay
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Trang 9+ Khách thể nghiên cứu: Quá trình hoạt động quản lý sinh viên ở KTX
+ Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại các trường đại học NCL
Trang 105 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống các biện pháp quản lý sinh viên nội trú phù hợp với điều kiện đổi mới GDĐH hiện nay và phù hợp với đặc điểm loại hình đại học NCL thì sẽ nâng cao hiệu quả công tác quản lý sinh viên, từ đó góp phần nâng cao chất lượng GDĐH tại các trường đại học NCL
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần tổng quan làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cơ
sở pháp lý và các định hướng đổi mới GDĐH hiện nay, về quản lý giáo dục
và công tác quản lý sinh viên nội trú loại hình đại học NCL, đồng thời cũng làm sáng tỏ những yêu cầu đối với công tác quản lý sinh viên ở các trường đại học NCL trong điều kiện đổi mới GDĐH
- Về mặt thực tiễn: Đề tài góp phần đề xuất các biện pháp quản lý sinh
viên nội trú nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học NCL trong điều kiện đổi mới GDĐH hiện nay
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Gồm tổng quan, phân tích, khái quát hệ thống hoá các cơ sở lý luận liên quan đến các vấn đề :
- Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý sinh viên nội trú
- Quản lý đào tạo ở loại hình các trường đại học NCL
- Đổi mới GDĐH hiện nay ở Thế giới và Việt Nam
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp khảo sát
- Tìm hiểu, thu thập những thông tin về công tác quản lý sinh viên nội trú tại các trường đại học NCL (gồm Trường ĐHDL Phương Đông, ĐHDL Hải Phòng và Trường ĐHDL Công nghệ Sài Gòn) với các khoá sinh viên từ năm 2003 đến nay
Trang 11- Điều tra bằng phiếu (cán bộ quản lý, giáo viên, sinh viên) về những biện pháp quản lý sinh viên nói chung, biện pháp quản lý sinh viên nội trú nói riêng và hiệu quả thực tế
7.2.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Tổng kết kinh nghiệm trong công tác quản lý sinh viên nội trú từ năm
2003 đến nay tại trường ĐHDL Phương Đông
- Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp tại 3 trường (Trường ĐHDL Phương Đông, ĐHDL Hải Phòng và Trường ĐHDL Công nghệ Sài Gòn)
7.2.3 Phương pháp thống kê
Xử lý những số liệu thu thập được từ khảo sát thực trạng công tác quản
lý sinh viên nội trú tại trường đại học NCL (15 bảng số liệu và các phụ lục)
8 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng việc quản lý sinh viên nội trú tại một số trường đại học NCL: Trường ĐHDL Phương Đông (Hà Nội), ĐHDL Hải Phòng (Hải Phòng) và Trường ĐHDL Công nghệ Sài Gòn
(TP.HCM)
- Thời gian: Thu thập số liệu từ năm 2003 đến nay
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận – Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung nghiên cứu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Thực trạng công tác quản lý học sinh sinh viên nội trú tại
các trường đại học ngoài công lập
Chương 3 Các biện pháp quản lý học sinh sinh viên nội trú tại các
trường đại học ngoài công lập
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.1.1 Khái niệm quản lý và các chức năng quản lý
1.1.1.1 Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn
Nói đến hoạt động quản lý, K.Marx đã viết : “Tất cả mọi lao động xã hội
trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần có một sự chỉ đạo, điều hoà những hoạt động cá nhân nhằm thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng.” [33,
Tr 480]
Có nhiều phương diện khác nhau trong khi xem xét khái niệm quản lý, tuy nhiên chúng tôi cho rằng ý kiến của Henri Fayol và Harold Koontz là có nội dung rõ hơn cả:
- Henri Fayol (1841 – 1925) đã nhấn mạnh đến mục tiêu và các chức
năng của quản lý, khi cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ
chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.” [16, Tr.15]
- Trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz lại nhấn mạnh “môi trường và hiệu quả kinh tế – xã hội” phải là mục tiêu của
hoạt động quản lý, ông cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm
bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.” [30, Tr.33]
Trang 13Ở nước ta, khoa học quản lý còn khá mới mẻ, chỉ mới phát triển mạnh trong vài mươi năm gần đây Tuy nhiên đến nay, khoa học quản lý nói chung, khoa học quản lý giáo dục nói riêng đã khẳng định vai trò và hiệu quả kinh tế
- xã hội của nó Về khái niệm quản lý, cũng đã có không ít tác giả đề cập đến, chỉ xin dẫn một số ý kiến tiêu biểu, có nhấn mạnh đến khách thể quản lý:
Trong cuốn “Những khái niệm cơ bản về Quản lý giáo dục” Cố giáo sư
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể những người quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.”[36, Tr.32]
Hai tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc lại nhấn mạnh
Quản lý là chức năng đặc biệt của mọi tổ chức: “Hoạt động quản lý là tác
động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.” [15, Tr.1]
Như vậy, tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản lý nhưng các tác giả đều thống nhất quan điểm về hoạt động quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động chuyên biệt, có hướng đích của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu kinh tế – xã hội đã đặt ra của một tổ chức/ một hệ thống với hiệu quả cao nhất
1.1.1.2 Các chức năng của quản lý:
Hoạt động quản lý có những chức năng đặc biệt, Henri Fayol là người đầu tiên đã phân biệt được các chức năng của quản lý Xuất phát từ các loại hình “hoạt động quản lý”, ông đã phân biệt chúng thành năm chức năng cơ bản: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra mà sau này chúng
được kết hợp thành bốn chức năng cơ bản là: Kế hoạch hoá (Planning), tổ
chức (Organizing), lãnh đạo - chỉ đạo (Leading) và kiểm tra (Controlling)
Sự phân định các chức năng quản lý theo cách của Fayol dựa trên nguyên tắc phân công lao động/ xác định phần việc có tính tương đối và hữu
Trang 14ích trong ứng dụng thực tiễn để làm tường minh các hoạt động của người quản lý trên căn bản của tư duy phân tích [15, Tr.52]
Bốn chức năng cơ bản của quản lý đã được lý luận khái quát hoá gồm:
* Kế hoạch hoá:
Kế hoạch hoá trong hoạt động quản lý có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và xác định rõ các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó
* Tổ chức:
Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức có hiệu quả người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả
* Lãnh đạo (Chỉ đạo):
Là quá trình tác động của chủ thể quản lý, sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu bộ máy được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng Chỉ đạo là quá trình liên kết, tập hợp giữa các thành viên trong tổ chức, động viên
họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức
Bốn chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, luôn đan xen, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành một chu trình của quản lý
Trang 15Để vận dụng khái niệm Quản lý và các chức năng của quản lý vào trong công tác quản lý cơ sở đào tạo của một trường đại học, chúng ta còn cần khảo sát các khái niệm cụ thể hơn là Quản lý giáo dục và Quản lý nhà trường
1.1.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.1.2.1 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục với tư cách là một bộ phận của quản lý xã hội đã xuất hiện và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số định nghĩa về Quản lý giáo dục như sau:
Theo tác giả M.I Kônđacốp thì: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện
pháp tổ chức cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính … nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [31,
Tr.22]
Ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục là
hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [36, Tr.12]
Diễn đạt ngắn gọn hơn, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Việc quản
lý nhà trường phổ thông (có thể mở rộng ra là việc quản lý giáo dục nói chung) là quản lý hoạt động dạy – học, tức là làm sao đưa hoạt động từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [24,
Tr.71]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo [12, Tr.31] thì quản lý giáo dục không chỉ
ở hoạt động dạy – học mà còn rộng hơn nhiều: “ Quản lý giáo dục theo nghĩa
tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội”
Trang 16Từ các ý kiến trên, chúng tôi có thể khái quát được nội hàm cơ bản của Quản lý giáo dục:
Quản lý giáo dục là một hoạt động chuyên biệt của chủ thể quản lý, bao gồm một tập hợp các tác động có chủ đích thực hiện tốt các chức năng
kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đảm bảo sự vận hành tối
ưu của một hệ thống/ tổ chức/ cơ quan giáo dục - đào tạo, nhờ đó mà đạt được các mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo với chất lượng, hiệu quả cao hơn
Quản lý giáo dục gồm nhiều cấp độ: Quản lý hệ thống giáo dục quốc dân, quản lý nhà trường, quản lý các hoạt động chuyên biệt
Quản lý giáo dục không chỉ quản lý hoạt động dạy – học (hoạt động cơ bản của giáo dục, nhà trường) mà còn quản lý lực lượng xã hội khác, các yếu
tố, điều kiện khác nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục – dạy học
1.1.2.2 Quản lý nhà trường
Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục
quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân.” [10,
chương 3]
Nhà trường là một tổ chức thiết chế chính trị – xã hội trong đó có một cấu trúc hoàn chỉnh, toàn vẹn bao gồm các thành tố: mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, lực lượng đào tạo (người thầy), chủ thể đào tạo (người trò) đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ của tổ chức đào tạo, điều kiện đào tạo, cơ chế đào tạo và bộ máy đào tạo nhằm truyền đạt kiến thức thông qua hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh
Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước – xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ, là tế bào cơ sở, chủ chốt của bất cứ hệ thống giáo dục nào từ Trung ương đến địa phương Vì vậy, nhà trường nói
Trang 17chung vừa là khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý, vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội Do đó, quản lý nhà trường nhất thiết phải vừa có tính chất nhà nước, vừa có tính chất xã hội
Hoạt động đặc trưng của trường học là hoạt động dạy học Đó là hoạt động có tổ chức, có nội dung, có phương pháp, có mục đích, có sự lãnh đạo của nhà giáo dục đồng thời có sự hoạt động tích cực, tự giác của người học trong tất cả các loại hình hoạt động học tập
Trong nhà trường, lực lượng quyết định của nhà trường là người dạy, nhân tố trung tâm nhất là người học Do vậy, để làm tốt chức năng nhiệm vụ của mình, mọi hoạt động trong nhà trường đều phải xoay quanh đối tượng là người học Hướng trung tâm vào hoạt động người học là quan điểm giáo dục
- đại học hiện đại Hoạt động của người học – nhất là người học với tư cách là sinh viên không chỉ là hoạt động học tập – nghiên cứu mà còn bao gồm những hoạt động khác như hoạt động giao tiếp, hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động văn hoá thể thao… trong đó có hoạt động của họ ở ký túc xá
Để thấy đầy đủ nội dung của quản lý nhà trường, chúng tôi chỉ dẫn ra
quan điểm tiêu biểu về quản lý nhà trường của M.I Kônđacốp: “Không đòi
hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh chúng ta hiểu quản lý nhà trường là một hệ thống xã hội- sư phạm chuyên bịêt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội – kinh tế, tổ chức - sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ đang lớn lên.” [31, Tr.216]
Xét một cách chung nhất, Quản lý nhà trường chính là tác động có
định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và phù hợp với yêu cầu của mục tiêu đào tạo
Trang 18Theo đó, công tác quản lý HSSV chính là một tác nhân quan trọng của quản lý nhà trường và HSSV chính là một trong các “nguồn lực”của một cơ sở GD -ĐH
Như vậy, từ nội hàm của các khái niệm, trong các trường đại học, một trong những nội dung quan trọng trong quản lý nhà trường là quản lý sinh viên (bao gồm cả sinh viên nội trú và sinh viên ngoại trú) Đây là một trong những điều kiện quan trọng như là một nguồn lực đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường
1.1.3 Cơ sở pháp lý của công tác quản lý HSSV nội trú
1.1.3.1 Quản lý sinh viên
Theo Luật Giáo dục và Quy chế công tác học sinh sinh viên trong các trường đào tạo [1, Tr.6] khái niệm “sinh viên” được xác định:
“Người đang học trong hệ đại học và cao đẳng gọi là sinh viên.”
Ngày nay, các trường đại học, cao đẳng mở rộng cửa cho tất cả những
ai có nguyện vọng và điều kiện đều có thể học lên, không phân biệt lứa tuổi, giới tính, họ có thể học bằng nhiều con đường, nhiều hình thức khác nhau Do
đó, hiện nay quan niệm sinh viên “Studens” là những ai đang học đại học, cao đẳng với bất kỳ hình thức đào tạo nào Dựa theo tác giả Mạc Văn Trang [38,
Tr.11], chúng tôi xác định khái niệm sinh viên có một số đặc điểm như sau:
- Đó là những người tốt nghiệp THPT có đủ khả năng và điều kiện đang theo học một trong các trường đại học, cao đẳng
- Thuộc nhóm thanh niên nam, nữ từ 17 – 18 đến 25 -26 tuổi
- Chưa có nghề nghiệp, việc làm xác định
- Họ là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn để bước vào nhóm xã hội mới là tầng lớp tri thức trẻ
- Đối với xã hội nói chung và thanh thiếu niên nói riêng, sinh viên luôn
là một nhóm xã hội hấp dẫn, được mến mộ”
Một số đặc điểm tâm lý sinh viên:
Trang 19Để làm tốt công tác quản lý sinh viên, các nhà giáo dục cần phải tìm hiểu đặc điểm tâm lý sinh viên Đã có không ít những nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của sinh viên như tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đặng Xuân Hải [27,
Tr 199] chúng tôi xin tổng quát lại như sau:
Sinh viên trong các trường đào tạo là những con người thuộc lứa tuổi nhất định và là một nhân cách nên có thể được xác định về ba phương diện: sinh lý, tâm lý và xã hội Các nhà tâm lý học trên thế giới đều có chung một quan niệm cho rằng tuổi thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em đến người lớn và bao gồm một khoảng đời từ 11, 12 tuổi đến 23, 24 hoặc 25 tuổi Giai đoạn này có thể chia làm hai thời kỳ (cũng có tác giả chia làm ba, tuỳ quan niệm): thời kỳ chuyển tiếp trước (early adolescence) bắt đầu từ 11, 12 tuổi và kết thúc vào 16, 17 tuổi và thời kỳ chuyển tiếp sau (late adolescence) bắt đầu từ 17, 18 tuổi và kết thúc lúc thành người lớn thực sự (24, 25 tuổi) Như vậy, sinh viên đại học là những thanh niên ở vào thời kỳ chuyển tiếp sau,
từ 17 đến 25 tuổi, đã và đang hình thành nhân cách ở một trình độ tương đối
ổn định
+ Sinh viên có độ tuổi từ 17 – 23, là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi
về thể lực sang trưởng thành về phương diện xã hội Nghiên cứu của Ananhev cho thấy rằng lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm, đạo đức và thẩm mỹ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách, đặc biệt là
họ có vai trò xã hội của người lớn (quyền công dân, quyền xây dựng gia đình…) Người sinh viên có kế hoạch riêng cho hoạt động của mình và độc lập trong phán đoán và hành vi Đây là thời kỳ có nhiều biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về thang giá trị xã hội Họ xác định con đường sống tương lai, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể hiện mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống [27, Tr.205]
+ Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng của lứa tuổi thanh niên – sinh viên là sự phát triển tự ý thức Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý thức trong đời sống cá nhân có chức năng điều chỉnh nhận thức và thái độ đối
Trang 20với bản thân Đó là quá trình tự quan sát, tự phân tích, tự kiểm tra, tự đánh giá
về hành động, tư tưởng, tình cảm… là sự đánh giá toàn diện về chính bản thân
và vị trí của mình trong cuộc sống Tự ý thức là điều kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng nhân cách theo các yêu cầu của xã hội [27, Tr.204]
Nắm bắt được đặc điểm tâm lý sinh viên giúp các nhà giáo dục có được cách giảng dạy, cách xử lý các tình huống trong GD nhằm đạt được hiệu quả cao trong công tác quản lý sinh viên Do đó, các nhà GD cũng giống như các nhà tâm lý xã hội cần phải tìm hiểu thế giới nội tâm của sinh viên để từ đó hiểu được các đặc tính và nhu cầu của người học, là nhân tố đưa đến thành công trong dạy học đại học
+ Đối với sinh viên đại học NCL, ngoài những đặc điểm tâm lý chung nói trên, họ còn bị ảnh hưởng bởi quan niệm của xã hội đối với các trường NCL Do đó, họ cũng phần nào mang ít mặc cảm của bản thân khi giao tiếp với bạn bè hoặc người quen Điều này cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đối với không ít sinh viên các trường đại học NCL
Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên NCL có ảnh hưởng không nhỏ đến các biện pháp tổ chức, quản lý sinh viên nội trú nói riêng và công tác đào tạo ở các trường đại học NCL nói chung
Quản lý sinh viên:
Quản lý sinh viên là một chức năng quan trọng đối với các trường đại
học - cao đẳng Quản lý sinh viên theo chúng tôi, đó là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (là tập thể giảng viên, cán
bộ, công nhân viên) đến khách thể quản lý (tập thể sinh viên) về các mặt học tập, sinh hoạt nhằm đảm bảo quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ thực hiện tốt sứ mạng của nhà trường và giúp các em không những có thể tìm được việc làm mà còn biết tự tạo ra việc làm để phục vụ đất nước Quản lý sinh
viên có nhiều phạm vi, song trước hết là nhiệm vụ của các nhà trường ĐH, cơ
sở đào tạo
Trang 21 Nội dung quản lý sinh viên trong nhà trường:
Công tác quản lý sinh viên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các trường đại học – cao đẳng nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo Công tác quản lý sinh viên không chỉ được thực hiện ở lĩnh vực học tập trên giảng đường mà còn ở nhiều lĩnh vực khác
Điều III – Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo với 7 nội dung công tác HSSV của trường đại học – cao đẳng, bao gồm:
- Tổ chức tiếp nhận HS – SV trúng tuyển vào học
- Tổ chức quản lý việc học tập của HS – SV theo đúng chương trình,
kế hoạch đã định và thực hiện đúng các quy chế, quy định hiện hành
- Tổ chức và quản lý đời sống vật chất của HS – SV: ăn, ở, sinh hoạt của HS – SV nội trú trong ký túc xá
- Tổ chức và quản lý đời sống của HS – SV: công tác chính trị tư tưởng, hoạt động khác của HS – SV
- Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối với HS – SV về học bổng, học phí, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác có liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần của HS – SV
- Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương nơi trường đóng (phường, xã, quận, huyện, thị, tỉnh, thành phố tuỳ theo nội dung, quy mô của vấn đề) xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn nơi trường đóng; giải quyết kịp thời, đúng đắn các vụ việc, các vấn đề liên quan đến HS – SV Hướng dẫn HS – SV nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế
- Biểu dương khen thưởng những HS – SV đạt thành tích cao trong học tập, rèn luyện, nghiên cứu khoa học, trong các hoạt động xã hội, xử lý kỷ luật đối với HS – SV vi phạm pháp luật và nội quy, quy chế Chỉ đạo thực hiện tốt công tác thanh tra
Quản lý sinh viên là công việc phụ thuộc rất nhiều vào quy trình đào tạo Chính vì vậy, trong điều kiện đổi mới GDĐH hiện nay các nội dung công
Trang 22tác quản lý sinh viên trước đây càng có nhiều thay đổi trong nội hàm và cả phạm vi của nó
1.1.3.2 Quản lý học sinh, sinh viên nội trú
Theo Quy chế công tác HSSV nội trú thì: “HSSV nội trú là những
người đang học tại các trường đào tạo và được nhà trường bố trí nơi ở trong khu nội trú theo hợp đồng của học sinh, sinh viên đã ký với Trưởng ban quản
lý khu nội trú trường ” [2, Tr.11]
Hiện nay, đa số các trường ĐH, CĐ đều có KTX cho sinh viên nội trú, một số trường đại học NCL cũng đã có KTX cho sinh viên, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác quản lý sinh viên
Đặc điểm điều kiện sống và hoạt động của sinh viên nội trú:
- Sống và hoạt động trong sự quản lý của Ban quản lý khu nội trú, của nhà trường, của chính quyền địa phương các cấp nơi có khu nội trú
- Sinh viên nội trú được sắp xếp ở phòng chung (thường từ 4 đến 8 sinh viên một phòng) Mỗi phòng có thể là những sinh viên cùng lớp, cùng khóa hoặc khác lớp, khác khoá; cùng tuổi hoặc không cùng tuổi và phải là những sinh viên cùng giới tính Các sinh viên nội trú có thể khác nhau về quê hương, về thành phần xuất thân, về trình độ nhận thức, về quan niệm sống nhưng họ có chung một mục đích là học tập để trở thành những người có nghề nghiệp theo chuyên ngành được đào tạo
- Sống và hoạt động trong môi trường mang tính tập thể, chấp hành nội quy, quy định của khu nội trú sinh viên (ký túc xá)
Quản lý sinh viên nội trú
Là quá trình tác động có định hướng của tập thể cán bộ, công nhân viên làm việc trong các KTX đến toàn bộ những sinh viên ở nội trú (gồm HSSV, nghiên cứu sinh và lưu học sinh) nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, đảm bảo hoạt động học tập và rèn luyện phù hợp với yêu cầu của mục tiêu đào tạo
Theo quy chế công tác HSSV nội trú thì: “Công tác HSSV nội trú đặt
dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Giám đốc Đại học hoặc Hiệu
Trang 23trưởng nhà trường (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng) Hiệu trưởng có trách nhiệm chỉ đạo công tác HSSV nội trú theo đúng pháp luật hiện hành và theo đúng quy chế công tác HSSV.” [2, Tr.13]
Khoản 6 điều 5 của quy chế công tác HSSV nội trú đã chỉ rõ nội dung
công tác quản lý HSSV nội trú: “Chỉ đạo và kiểm tra việc tổ chức ăn, ở, tự
học, sinh hoạt cho HSSV nội trú Phối hợp với các đoàn thể trong trường tổ chức các hoạt động phục vụ đời sống văn hoá, tinh thần cho HSSV nội trú
Phối hợp với chính quyền địa phương sở tại tổ chức các hoạt động bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn trong khu nội trú và các bịên pháp xử lý các vụ việc liên quan.” [2, Tr.14]
Như đã nói ở trên, công tác quản lý sinh viên nói chung, quản lý sinh viên nội trú nói riêng cần phải được xem xét trong những điều kiện của đổi mới quy trình đào tạo hiện nay Có như vậy, mới góp phần đạt được mục tiêu đào tạo và hiệu quả công tác cao
1.1.3.3 Quy chế quản lý sinh viên (ở Việt Nam)
Quy chế quản lý sinh viên được ra đời khoảng những năm 1980 do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành, trực tiếp là Vụ Công tác HS – SV biên soạn, ban hành và hướng dẫn thực hiện Trên cơ sơ đó, các trường đại học, cao đẳng ban hành nội quy và các chế độ quản lý sinh viên của cơ sở đào tạo
Các quy chế về công tác HSSV, xét theo lịch sử chủ yếu bao gồm:
- Quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạo (QĐ số
1584/GD-ĐT ngày 27/7/1993)
- Quy chế Công tác HSSV nội trú trong các trường ĐH, CĐ, THCN (QĐ số 2137/GD-ĐT ngày 28/6/1997)
- Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của HSSV trong các trường ĐH,
CĐ, THCN hệ chính quy (QĐ số 42/2002/QĐ - BGD&ĐT ngày 21/10/2002)
- Quy chế Công tác HSSV ngoại trú trong các trường ĐH, CĐ, THCN (QĐ số 43/2002/QĐ-BGD&ĐT) ngày 22/10/2002)
Trang 24- Thông tư liên tịch số 10/2002/TTLT/GD&ĐT-CA ngày 22/3/2002
về công tác bảo vệ an ninh – trật tự trong trường học và cơ sở giáo dục
Nội dung chủ yếu của các quy chế HSSV là ban hành những quy định liên quan đến công tác HSSV, làm rõ yêu cầu nội dung công tác HSSV, trách nhiệm của các cơ quan quản lý, làm rõ quyền và nghĩa vụ của người công dân
- HSSV, đảm bảo công khai, dân chủ và công bằng xã hội ở tất cả các khâu có liên quan đến HSSV trong học tập, rèn luyện, tổ chức đời sống và hoạt động
xã hội Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các trường trong việc quản lý khu nội trú sinh viên và công tác quản lý sinh viên ngoại trú nhằm đưa công tác quản lý HSSV trong các trường đào tạo vào nề nếp, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
Đây là những văn bản quan trọng, quy định khá rõ ràng các quy định liên quan đến công tác HSSV, đảm bảo tính công khai, dân chủ, là cơ sở để từ
đó các trường ban hành những nội quy, chế độ quản lý HSSV Tuy nhiên các quy chế này vẫn còn có một số mặt hạn chế, chưa cụ thể, chưa đầy đủ do đó cần phải được hoàn thiện hơn nữa để làm công cụ quản lý hữu hiệu, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay ở các trường ĐH nhằm góp phần nâng cao chất lượng của các cơ sở đào tạo
1.1.4 Ký túc xá và nhiệm vụ của công tác quản lý HSSV nội trú
1.1.4.1 Khái niệm ký túc xá (khu nội trú sinh viên)
Theo Quy chế công tác học sinh, sinh viên nội trú trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề do Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành thì : “Ký túc xá hay còn gọi là khu nội trú học sinh, sinh
viên là những cơ sở thuộc quyền quản lý của nhà trường bao gồm: nhà ở, nhà
ăn, sân chơi, bãi tập, câu lạc bộ và những phương tiện khác để phục vụ học sinh, sinh viên nội trú ăn, ở, sinh hoạt, học tập và rèn luyện nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo của trường.” [2, Tr.11]
Trang 25Ký túc xá cũng chính là nơi diễn ra các hoạt động ngoài giờ lên lớp của sinh viên nội trú Các hoạt động này bao gồm: hoạt động tự học, giao lưu, thể thao, văn hoá… Các hoạt động này góp phần hình thành và phát triển nhân cách, phẩm chất cho học sinh, sinh viên, nâng cao chất lượng và hiệu quả nhằm phục vụ mục tiêu đào tạo của nhà trường
1.1.4.2 Nhiệm vụ quản lý HSSV nội trú của KTX
Dựa theo quy chế công tác HSSV và quy chế KTX, có thể xác định nhiệm vụ của công tác quản lý sinh viên nội trú như sau:
- Quản lý, sắp xếp chỗ ở cho học sinh, sinh viên các khoá vào đầu năm học
- Quản lý giờ giấc của HSSV nội trú: HSSV nội trú trong giờ học ở trường chịu sự quản lý về giờ giấc của ban cán sự lớp, các thầy cô giáo và giáo vụ khoa Ngoài giờ học chịu sự quản lý của ban quản lý KTX về giờ giấc học tập, nghỉ ngơi, sinh hoạt cũng như giờ đóng mở cửa, đón tiếp khách tại phòng ở theo nội quy, quy định của KTX
- Quản lý hoạt động tự học của HSSV nội trú: Quy định giờ tự học của sinh viên nội trú, thường xuyên đôn đốc kiểm tra và nghiêm cấm những hành
vi làm ảnh hưởng đến học tập và sinh hoạt của tập thể
- Quản lý các mối quan hệ trong và ngoài KTX của sinh viên nội trú nhằm xây dựng cho HSSV các mối quan hệ lành mạnh, trong sáng (gồm mối quan hệ giao tiếp xã hội nói chung, tình bạn, tình yêu và mối quan hệ giữa học sinh, sinh viên với người quản lý), đồng thời cũng nhằm ngăn chặn các tệ nạn xã hội
- Quản lý các hoạt động văn hoá thể thao: Các hoạt động văn hoá, thể thao đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống sinh viên, các hoạt động này giúp giải toả những căng thẳng, mệt mỏi sau giờ học tập của sinh viên Vì vậy, cần tổ chức và quản lý những hoạt động văn hoá thể thao trong KTX phong phú đa dạng thu hút được học sinh, sinh viên tham gia để nâng cao thể chất, tinh thần đảm bảo cuộc sống lành mạnh cho sinh viên
Trang 26- Quản lý quan hệ phối hợp với các phòng, ban, chính quyền, địa phương, thực hiện tốt đời sống vật chất, tinh thần (ăn, ở, sinh hoạt, văn hoá, văn nghệ, thể thao cho sinh viên nội trú)
- Phối hợp chặt chẽ với lực lượng bảo vệ, Đoàn Thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh, Hội sinh viên trường tổ chức tốt các hoạt động quần chúng nhằm đảm bảo trật tự an toàn, xây dựng và duy trì phong cách, nếp sống lành mạnh, trong sạch trong khu KTX, tích cực tham gia bài trừ tệ nạn xã hội
- Phối hợp với các đơn vị liên quan trong và ngoài trường thường xuyên kiểm tra chặt chẽ nhằm duy trì nếp sống sinh hoạt, vệ sinh môi trường, trật tự trị an và an ninh chính trị trong khu KTX
- Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất, điện, nước trong khu KTX nhằm bảo đảm việc ăn, ở ổn định cho sinh viên, tạo điều kiện sinh hoạt an toàn trong khu nội trú
Nhìn chung, công tác quản lý sinh viên bao gồm nhiều nhiệm vụ, song tựu chung lại, công tác quản lý sinh viên phải phục vụ mục tiêu đào tạo, đảm bảo tốt nhất cho quy trình đào tạo đạt hiệu quả cao, góp phần hình thành và phát triển nhân cách người sinh viên trong nhà trường ĐH
Hiện nay, công tác quản lý sinh viên nội trú tại các trường đại học thường chỉ chú trọng đến các công tác như quản lý giờ giấc, quản lý cơ sở vật chất, quản lý hoạt động sinh hoạt của sinh viên chứ chưa chú trọng đến quản lý hoạt động tự học của sinh viên Do đó, để đảm bảo công tác quản lý sinh viên nội trú có hiệu quả cần nhấn mạnh đến quản lý việc tự học của sinh viên Đây là một yếu tố rất quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐH hiện nay
1.1.5 Chất lượng đào tạo và các mô hình quản lý chất lượng đào tạo
1.1.5.1 Khái niệm chất lượng giáo dục đào tạo
Chất lượng giáo dục (GD - ĐT) là một khái niệm rất phức tạp, song cho đến nay trong lý luận, trong thực tiễn người ta thường hiểu chất lượng giáo
Trang 27dục là sự phù hợp (mức độ đạt được) với mục tiêu giáo dục và được đo bằng các chuẩn mực xác định
Theo tiếp cận tổng thể, chất lượng giáo dục được quy định bởi tất cả các nhân tố cấu thành hệ thống giáo dục/ một quá trình giáo dục và bởi các điều kiện bên ngoài của hệ thống/ quá trình đó
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính [19, Tr.28] Chất lượng là sự phù hợp
với các chuẩn quy định, là sự phù hợp với mục đích, là hiệu quả của việc đạt mục đích và là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Theo tác giả Phạm Minh Hạc [24, Tr.9], Chất lượng GD - ĐT là sự
thoả mãn tối đa các mục tiêu đã được đặt ra với các sản phẩm giáo dục, là sự hoàn thiện trình độ kiến thức kỹ năng, thái độ theo mức độ đã xác định và khả năng được nhu cầu xã hội hoá cá nhân, đồng thời thoả mãn yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội
Dựa theo các tác giả, chúng tôi có thể khái quát về chất lượng GD - ĐT như sau:
Chất lượng giáo dục - đào tạo là sự phù hợp tối đa các thuộc tính của sản phẩm GD - ĐT với các tiêu chí của mục tiêu giáo dục và thoả mãn được các yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội đặt ra cho hệ thống giáo dục/quá trình
GD - ĐT
Chất lượng đào tạo được tạo bởi chất lượng của nhiều yếu tố của quá trình đào tạo, song tập trung ở chất lượng giáo dục ở người học (với tổng thể các giá trị về đạo đức, về giá trị học thuật, kỹ năng nghề nghiệp, sức khoẻ, thể chất và tính tích cực xã hội ) Từ đó, có thể xác định những yếu tố quan trọng chi phối chất lượng đào tạo, mục đích đào tạo, đội ngũ giáo viên, nội dung chương trình, phương pháp – phương tiện dạy học, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và các điều kiện phục vụ đào tạo khác
Như vậy, để nói đến chất lượng đào tạo ở đại học không thể không xem xét đến các yếu tố có liên quan đến người học, tác động biến đổi đến phẩm chất, năng lực ở người học mà trong đó phải kể đến các điều kiện sinh hoạt,
Trang 28học tập của họ và các biện pháp quản lý các điều kiện đó trong thực tế đào tạo
ở mỗi trường đại học, cao đẳng
1.1.5.2 Các mô hình quản lý chất lượng đào tạo
Có nhiều mô hình quản lý chất lượng khác nhau được áp dụng cho việc
bảo đảm và đánh giá chất lượng được xây dựng ngoài môi trường GDĐH và
sau đó được phát triển và áp dụng cho GDĐH
Theo tác giả Trần Khánh Đức [22, Tr.44], có 3 mô hình quản lý chất lượng được các nhà quản lý giáo dục thế giới nghiên cứu và sử dụng rộng rãi
là: Mô hình kiểm tra chất lượng – sự phù hợp (QC); Mô hình kiểm tra chất
lượng toàn diện (TQC) và Mô hình quản lý chất lượng đồng bộ (TQM - hay còn gọi là Mô hình quản lý chất lượng tổng thể TQM- theo tác giả Nguyễn Đức Chính [19, Tr.49]
+ Mô hình kiểm tra chất lượng-sự phù hợp
Kiểm tra chất lượng – kiểm tra sự phù hợp được hình thành từ lâu trong các dây truyền sản xuất Căn cứ vào các yêu cầu kỹ thuật, các tiêu chuẩn đã được tính toán, xây dựng các khâu thiết kế, hoặc theo quy ước của hợp đồng
mà tiến hành kiểm tra chất lượng sản phẩm sau khi sản xuất nhằm ngăn chặn các sản phẩm hư hỏng và phân loại theo mức chất lượng khác nhau Bằng mô hình này, muốn nâng cao chất lượng sản phẩm, người ta cho rằng: cần nâng cao các chỉ tiêu kỹ thuật bằng cách kiểm tra gắt gao là đạt mong muốn
Trong đào tạo, mô hình này thể hiện ở cách thức quản lý, đánh giá chất lượng đào tạo trên cơ sở các kết quả kiểm tra, thi cử cuối khoá đào tạo mà chưa quan tâm đến chất lượng tuyển sinh và quá trình đào tạo
+ Mô hình kiểm tra chất lượng toàn diện
Mô hình kiểm tra chất lượng toàn diện là mô hình kiểm tra hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp từ hành chính – tổ chức – nhân sự … đến các quá trình sản xuất: thiết kế – cung ứng – sản xuất – tiêu dùng Mô hình TQC đã có thay đổi cách tiếp cận về quản lý chất lượng Đây là việc kiểm tra, kiểm soát một hệ thống, nhằm đạt được mức chất lượng dự định
Trang 29So với mô hình kiểm tra chất lượng QC, mô hình TQC có ưu điểm là việc kiểm tra chất lượng sản phẩm được tiến hành từ khâu đầu đến khâu cuối, nên có những nhận xét tình hình của cả hệ thống sản xuất – dịch vụ hoặc đào tạo Đáng chú ý, khi vận dụng mô hình này vào quản lý đào tạo, thì việc quản
lý người học, các điều kiện học tập được xem xét như là một yếu tố trong hệ thống đào tạo Tuy nhiên, vai trò của các yếu tố này chỉ được xem xét như là yếu tố ảnh hưởng, là điều kiện mà chưa xem như là một nguồn lực của hệ thống
+ Mô hình quản lý chất lượng đồng bộ TQM
Xuất phát từ nhận định chất lượng không chỉ là công việc của một số ít người quản lý, mà còn là nhiệm vụ, vinh dự của mọi thành viên trong một đơn
vị Chất lượng sản phẩm muốn được nâng cao, phải luôn luôn quan hệ mật thiết với việc sử dụng tối ưu yếu tố con người và mọi nguồn lực của doanh nghiệp Vì vậy, cần phải có những biện pháp, những tác động hữu hiệu trong quản lý chất lượng sản phẩm, quản trị doanh nghiệp, nhằm huy động năng lực, nhiệt tình của mọi thành viên cùng giải quyết các vấn đề chất lượng của doanh nghiệp
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính [19, Tr.49], triết lý của Quản lý chất lượng tổng thể (Quản lý chất lượng đồng bộ) là tất cả mọi người bất kỳ ở cương vị nào, vào bất kỳ thời điểm nào cũng đều là người quản lý chất lượng của phần việc mình được giao và hoàn thành nó một cách tốt nhất, với mục đích tối cao là thoả mãn nhu cầu của “khách hàng” Thực chất của quản lý chất lượng tổng thể là: cải tiến liên tục, cải tiến từng bước và luôn phải hướng tới “ khách hàng”
Mô hình TQM là mô hình được nhiều nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục, đặc biệt là trong hệ thống đào tạo cho rằng có thể ứng dụng tốt trong quản lý tổng thể về chất lượng đào tạo, trong đó bao gồm cả yếu tố quản lý con người, quản lý hoạt động học tập và các hoạt động sống của người học Việc vận dụng xem xét một hệ thống đào tạo theo mô hình TQM đòi hỏi phải
Trang 30xem xét đầy đủ các yếu tố bao gồm cả người học, các cơ sở vật chất đảm bảo hoạt động học (ký túc xá )
Đáng chú ý, nếu xem xét quản lý nhà trường (hệ thống giáo dục) theo
mô hình này thì người học được coi như một yếu tố tác động/ nguồn lực quan trọng trong hệ thống
Trong mô hình này, không những coi con người là một yếu tố mà còn nhấn mạnh yếu tố công việc là yếu tố có vai trò hàng đầu Vận dụng trong một cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng thì đó chính là đề cao vai trò quản lý nhân sự nói chung, quản lý sinh viên nói riêng Bao gồm cả việc quản lý sinh viên trong quá trình học tập, sinh hoạt ở KTX
Nếu vận dụng mô hình quản lý chất lượng TQM trong công tác quản lý
KTX thì có thể xem công tác quản lý KTX là một hệ thống con trong hệ thống
đào tạo gồm nhiều yếu tố hình thành nên chất lượng quản lý sinh viên nội trú như yếu tố sinh viên, yêú tố cán bộ quản lý , thông tin, cơ sở vật chất Để đảm bảo chất lượng của công tác quản lý sinh viên nội trú có hiệu quả phải đảm bảo được các yếu tố hình thành nên chất lượng quản lý sinh viên nội trú
Tóm lại, trong các mô hình quản lý chất lượng GDĐH nêu trên, nếu coi
“Chất lượng GDĐH là sự trùng khớp với mục tiêu” thì mô hình quản lý chất lượng tổng thể TQM là phù hợp hơn cả Mô hình này cho phép nghiên cứu đề
ra các mục tiêu chiến lược của GDĐH trong từng thời kỳ trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và chính sách lớn của Chính phủ đối với GDĐH Từ đó tuỳ thuộc vào nguồn lực hiện có, các nhà quản lý chất lượng GDĐH có thể chủ động tác động tới những khâu, những lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và từ đó nâng dần chất lượng GDĐH theo kế hoạch đã đề ra [19, Tr.59]
1.2 Đặc điểm của loại hình giáo dục đại học NCL
1.2.1 Sơ lược về hệ thống GDĐH của Thế giới và của Việt Nam
1.2.1.1 Trên thế giới
Trang 31Hệ thống GDĐH của các nước trên thế giới có một lịch sử phát triển khá lâu đời và không ngừng phát triển Nước Mỹ có trên 3000 trường ĐH; Nhật Bản (tính đến 1994) có 1.208 với tổng số sinh viên là 3.266.275 Hàn Quốc có 314 trường ĐH và CĐ, với 2196.940 sinh viên và 54.135 giáo chức Thái Lan có 53 trường ĐH với 872.630 sinh viên và có 23.121 giáo chức (năm 1995) [27, Tr.184]
Hệ thống GDĐH của các nước trên thế giới rất đa dạng, trong đó có
ĐH công và ĐH tư Phần lớn, trước đây Châu Âu không có hoặc ít có đại học
tư, người dân đi học hầu như không mất tiền mà còn có chính sách học bổng cho sinh viên nghèo và sinh viên giỏi Chính sách này phần nào giải quyết được công bằng trong xã hội Tuy nhiên, theo xu thế chung hiện nay, tỷ lệ các trường đại học, cao đẳng NCL đang có xu hướng tăng nhanh
Ở các nước phát triển không có sự phân biệt đáng kể về chất lượng đào tạo giữa trường ĐH công lập và trường đại học NCL Thậm trí có nhiều trường ĐH danh tiếng hàng đầu trên thế giới là những trường tư thục như đại học Harvard, Standford, Yale ở Mỹ; đại học Keio, Waseda ở Nhật Bản, nơi có rất nhiều nhà chính trị gia nổi tiếng đã từng theo học [26, Tr.48] Như vậy, trên thế giới một số trường đại học NCL lại được coi trọng thậm trí hơn cả một số trường đại học công lập
1.2.1.2 Ở Việt Nam
Hệ thống các trường ĐH hiện tại bao gồm các trường ĐH công lập và các trường đại học NCL Trong đó, các trường đại học NCL gồm các trường dân lập, tư thục và bán công Các trường ĐH công lập được coi trọng hơn và đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống GDĐH nước ta
Năm 2005, cả nước có 1.393.669 sinh viên (chiếm 88,49%), tính bình quân đạt 167,5 sinh viên/1 vạn dân Đến năm 2006, cả nước có 37 trường ĐH,
CĐ dân lập, tư thục và bán công (trong tổng số 311 trường ĐH, CĐ) và hiện đang đào tạo 160.420 sinh viên, mới chiếm 11,51% tổng số sinh viên ĐH, CĐ
Trang 32(số liệu “Báo cáo tóm tắt của Lãnh đạo Bộ Giáo dục & Đào tạo tại Hội nghị các trường ĐH, CĐ tháng 5/2006”) [23, Tr.A]
- Về trình độ đào tạo: 100% học viên cao học và nghiên cứu sinh đều được đào tạo ở các trường ĐH công lập, cho đến nay chưa trường đại học NCL nào đào tạo trình độ sau ĐH
- Về cơ cấu ngành nghề đào tạo: các trường đại học NCL chủ yếu đào tạo một số ngành nghề đòi hỏi đầu tư ít nhưng thu hút nhiều người học như Tin học, Ngoại ngữ, Quản trị kinh doanh, Tài chính tín dụng, Kỹ thuật điện, Xây dựng… Trong khi đó, các trường ĐH công lập đào tạo rất nhiều ngành nghề thuộc các lĩnh vực kinh tế – xã hội như Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội và nhân văn, Sư phạm, Kỹ thuật, Nông lâm nghiệp, Thuỷ sản …
- Về chất lượng đào tạo: các trường đại học NCL hiện nay có chất lượng đào tạo thấp hơn so với các trường ĐH công lập bởi các lý do:
+ Thứ nhất, đầu vào (tuyển sinh) của các trường đại học NCL thấp hơn
các trường ĐH công lập
+ Thứ hai, cơ sở vật chất của các trường đại học NCL chưa thể bằng
các trường ĐH công lập do các trường ĐH công lập được Nhà nước cấp đất
và đầu tư xây dựng trong khi đó các trường đại học NCL phải tự lo kinh phí đầu tư và lo tất cả mọi khoản chi phí
+ Thứ ba, đội ngũ cán bộ giảng dạy cơ hữu của các trường đại học
NCL thấp hơn các trường ĐH công lập về trình độ, số lượng và chất lượng Bởi các trường đại học NCL là những trường mới thành lập nên đội ngũ cơ hữu của họ còn rất mỏng và yếu về chất lượng, do đó họ phải mời các giảng viên thỉnh giảng của các trường ĐH công lập hoặc các cơ quan khác để đảm bảo thực hiện chương trình đào tạo
+ Thứ tư, hoạt động NCKH – công nghệ của các trường đại học NCL
chưa phát triển mạnh bằng các trường ĐH công lập Ở các trường đại học NCL, hoạt động này còn rất yếu thậm trí còn chưa được triển khai
Trang 33Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện đổi mới GDĐH, trong
đó đặc biệt quan tâm phát triển loại hình giáo dục đại học, cao đẳng NCL Trong vài năm gần đây, số trường đại học, cao đẳng NCL đã tăng lên đáng kể
từ 23 trường năm 2004 lên đến 37 trường năm 2006 và sẽ còn tiếp tục tăng trong vài năm tới
Sự ra đời của các trường đại học, cao đẳng NCL đã góp phần thúc đẩy
sự nghiệp XHH giáo dục Đến nay, loại hình giáo dục NCL cũng đã nhanh chóng khẳng định được vai trò và những ưu thế của mình trong hệ thống GDĐH Việt Nam trước hết là trong nhiệm vụ phấn đấu đạt 200 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2010 và 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2020 Mặt khác, góp phần không nhỏ trong việc giảm bớt ngân sách nhà nước, làm tăng ngân sách cho các trường công, thúc đẩy giáo dục Việt Nam hoà nhập với giáo dục Thế giới
1.2.2 Đặc điểm của loại hình giáo dục đại học NCL ở Việt Nam
1.2.2.1 Về tổ chức
Các trường ĐH công lập ở Việt Nam do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên Các trường đại học NCL bao gồm trường ĐH dân lập và ĐH tư thục Các trường ĐH dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động Trường ĐH tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn
ngoài ngân sách Nhà nước (Điều 48 Luật Giáo dục 2005)
Theo quy định hiện hành, các trường đại học NCL có quyền tự chủ cao
hơn về tài chính theo nguyên tắc tự cân đối thu chi, duy trì các hoạt động và phát triển nhà trường Hội đồng quản trị của trường đại học NCL là tổ chức đại diện duy nhất quyền sở hữu tập thể nhà trường, có trách nhiệm và quyền
tự chủ quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức, nhân sự và tài chính, tài sản của trường Cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng
Trang 34quản trị được quy định trong Quy chế về tổ chức và hoạt động của từng loại hình trường NCL
Nguồn thu chủ yếu của các trường đại học NCL là học phí, lệ phí của sinh viên Chỉ với nguồn thu này, các trường đại học NCL phải tự trang trải tất cả: lương giáo viên và công nhân viên, các trang thiết bị máy móc, thư viện và trường đại học NCL còn phải thuê đất đai, xây dựng trường sở Do
đó, có thể thấy hiện nay kinh phí của trường đại học NCL quá ít ỏi so với kinh phí Nhà nước cấp cho các trường đại học công lập trong đó có đất đai và xây dựng cơ sở vật chất
Trong các trường đại học NCL chỉ một số ít trường có quan hệ hợp tác quốc tế dưới hình thức liên kết đào tạo Ví như trường ĐHDL Phương Đông
đã liên kết đào tạo với một số trường nước ngoài như Trường Quản trị Kinh doanh Thames (Thames Business School) của Singapore, Trường ĐH Nông nghiệp Trung Quốc (Bắc Kinh – Trung Quốc), Trường ĐH Y Dược Thiên Tân (Thiên Tân – Trung Quốc), Tổ chức phát triển Giáo dục Ấn Độ (Spice Org), Trung tâm đào tạo lập trình viên Quốc tế Hanoi – Aptech Số trường đại học NCL có hợp tác quốc tế không nhiều nhưng đây cũng là một bước phát triển giúp các trường đại học NCL cập nhật chương trình đào tạo của mình và nâng cao chất lượng đào tạo cũng như uy tín của mình
1.2.2.2 Về giáo chức
Đội ngũ giảng viên của các trường đại học NCL bao gồm: GV thỉnh giảng và giảng viên cơ hữu GV thỉnh giảng chủ yếu là những GV giỏi, các chuyên gia đầu ngành của các trường ĐH, các viện nghiên cứu, có chất lượng giảng dạy cao, đây là một lợi thế của các trường đại học NCL trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của trường Tuy nhiên, các giảng viên thỉnh giảng này chỉ đến dạy, không làm việc theo dõi sinh viên Việc theo dõi và quản lý sinh viên chủ yếu do các cán bộ, giảng viên cơ hữu của trường đảm trách, trong khi đó đội ngũ cán bộ, giảng viên cơ hữu của các trường đại học NCL còn rất mỏng, chiếm tỉ lệ rất thấp so với đội ngũ giảng viên thỉnh giảng Theo số liệu
Trang 35“Giáo dục đại học Việt Nam” năm 2004 [26, Tr.77], các trường đại học NCL
ở nước ta đào tạo 119.464 sinh viên và có 3182 giảng viên cơ hữu, bình quân
có 37 sinh viên cho 1 giáo viên.Tỉ lệ này là rất cao, nhưng so với các trường
ĐH công hiện nay cũng không có sự khác biệt lớn vì các trường ĐH ở Việt Nam hiện giờ đang đứng trước một sự hẫng hụt rất lớn về giáo chức
Mặt khác, các giảng viên cơ hữu của các trường đại học NCL hầu như không thực hiện chức năng NCKH vì phần lớn họ là giảng viên kiêm chức hoặc là sinh viên mới tốt nghiệp được tuyển vào Một số sinh viên mới tốt nghiệp được tuyển vào và được nhà trường đào tạo bằng cách cho đi học cao học và tiến sĩ ở trong nước hoặc đôi khi ở nước ngoài Các trường đại học NCL đều là những trường vừa mới thành lập (trên, dưới 10 năm) do đó chưa
đủ thời gian để đào tạo sinh viên mới tốt nghiệp ĐH trở thành tiến sĩ và làm nghiên cứu Đa số trường đại học NCL cũng có mời các giáo sư tham gia đào tạo, song số giáo sư cơ hữu đó hầu hết là những giáo sư trường công đã về hưu, tuổi đã cao Đây cũng là một điểm yếu của các trường đại học NCL so với các trường ĐH công lập
1.2.2.3 Về sinh viên
Sinh viên các trường đại học NCL nhìn chung đầu vào (tuyển sinh)
thấp hơn nhiều so với các trường ĐH công lập: điểm chuẩn thay đổi theo trường từ 9 đến 18 điểm (cho 3 môn thi) Ở các trường ĐH công, không ít sinh viên đạt được điểm cao nhất là 27, 28 điểm, trong khi ở các trường đại học NCL chỉ nhận được điểm cao nhất là 21, 22 điểm Do đó, về trình độ nhận thức, ý thức nghề nghiệp có ảnh hưởng không nhỏ đến quy trình đào tạo, chất lượng đào tạo và cả về công tác quản lý sinh viên Mặt khác, trong xã hội vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng trong sự đối xử với sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học NCL, do đó cũng tạo ra sự mặc cảm, tự ti cho không ít sinh viên NCL
Sinh viên đại học NCL cũng xuất thân từ nhiều hoàn cảnh khác nhau như từ gia đình nông thôn, gia đình trung lưu và gia đình khá giả Đa số
Trang 36những sinh viên NCL nếu xuất thân từ gia đình nông thôn thường thực sự cố gắng học tập vì tương lai của họ, có rất nhiều sinh viên nghèo vượt khó vươn lên trong học tập đã được Nhà trường khen thưởng Bên cạnh đó, ở đại học NCL có tỉ lệ khá cao sinh viên xuất thân từ gia đình khá giả Số sinh viên này vào học chủ yếu để lấy tấm bằng chứ không phải lo công việc khi ra trường,
do đó họ chưa thực sự chú tâm đến việc học tập
Một số sinh viên khác, nhất là sinh viên năm thứ nhất còn chưa yên tâm học tập vì họ còn dự định thi tiếp vào một trường ĐH công lập khác Điều này cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo cũng như công tác quản lý HSSV của các trường đại học NCL
Có thể nói rằng, tuy chất lượng các trường đại học NCL nhiều điểm yếu kém nhưng đến nay với con số 160.420 sinh viên của 37 trường đại học, cao đẳng NCL là không nhỏ, chiếm 11,51% sinh viên của cả nước và tạo việc làm cho hơn 3182 giáo viên cơ hữu cùng với số công nhân viên chức xấp xỉ Cho nên, các trường đại học NCL có vai trò không nhỏ cho việc giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, làm tăng ngân sách cho các trường công, nhất là các trường lớn, đồng thời góp phần thực hiện chủ trương XHH sự nghiệp giáo dục để đưa giáo dục Việt Nam đuổi kịp các trường trong khu vực [26, Tr 77]
1.3 Vấn đề đổi mới giáo dục đại học hiện nay
1.3.1 Xu thế Thế giới
1.3.1.1 Bối cảnh quốc tế và xu thế tất yếu của đổi mới GDĐH
Nét nổi bật của xã hội hiện đại là quá trình toàn cầu hoá với tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là CNTT và truyền thông (ICT) và gắn chặt với nó là nền kinh tế tri thức Bối cảnh đó đặt mọi quốc gia trước những thách thức gay gắt, đồng thời cũng tạo nên nhiều cơ hội chưa từng có Tuy mỗi quốc gia vận dụng các giải pháp khác nhau để thích ứng với xu thế toàn cầu hoá và phát triển nền kinh tế tri thức, nhưng công cuộc cải cách GDĐH đều được triển khai theo cùng những phương
Trang 37hướng có tính phổ biến mà các đại biểu UNESCO đã lưu ý Đó là: đại chúng hoá, thị trường hoá, đa dạng hoá và quốc tế hoá giáo dục đại học [26, Tr.9]
Khác với trước đây, công cuộc cải cách giáo dục được tiến hành trong điều kiện mới, đó là:
- Sự phát triển kinh tế tri thức
- Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin (ICT) tiếp tục tăng tốc
- Quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc tế, chuyển dịch cơ cấu lao động trong mỗi nước cũng như trên bình diện quốc tế
- Đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, thay đổi theo yêu cầu phát triển
- Nảy sinh mâu thuẫn giữa tốc độ phát triển cao của kinh tế, KH – CN
và tốc độ hạn chế của việc tạo ra các sản phẩm giáo dục
Đây là những cơ hội và thách thức đang đặt ra cho GD nói chung và GDĐH nói riêng và đòi hỏi GD phải đổi mới mạnh mẽ từ triết lý GD đến nội dung, phương pháp, chương trình và cơ chế quản lý
Đổi mới GD đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Bối cảnh trên đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong GD, từ quan niệm về chất lượng GD, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống GD Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với NCKH – công nghệ và ứng dụng; nhà giáo thay vì truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp Đầu tư cho GD
từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển [4, Tr.17]
Chính vì vậy, các quốc gia, từ những nước đang phát triển đến những nước phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của GD, đều
Trang 38phải đổi mới GD để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước
1.3.1.2 Về người học trong điều kiện GD hiện đại
Một trong các xu thế quan trọng nhất của đổi mới GD là đổi mới vai trò người học trong điều kiện xã hội học tập
Đây là xu thế tất yếu của sự phát triển xã hội hiện đại nhằm phát triển tối đa năng lực trí tuệ, ý chí của con người, của cộng đồng và của toàn xã hội trong điều kiện nền kinh tế tri thức
Triết lý của một nền GD cần thiết cho thế kỷ XXI là GD phải dựa trên bốn trụ cột: “học để biết, học để làm, học để cùng chung sống với nhau và học
để làm người” Bốn trụ cột này phải đặt trên nền tảng học tập suốt đời và xây
dựng một XHHT [25, Tr.43]
Phát huy vai trò tích cực, chủ động của người học
Một XHHT tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội học tập ở mọi nơi, mọi lúc; học ở mọi người, mọi việc, trong lao động, giao tiếp, giải trí…; học bằng nhiều cách: lên lớp truyền thống, học từ xa, học trên máy tính, trên mạng Internet, học bằng cách tự rút kinh nghiệm, tổng kết thường xuyên… Mọi người học tập lẫn nhau và giúp đỡ nhau học tập
Trang 39Điều cơ bản nhất của việc học trong XHHT là học cách học, biết cách
tự học, tranh thủ sử dụng CNTT vào việc học, tạo điều kiện cho người học phát huy tính năng động, sáng tạo, tính tích cực, chủ động trong học tập Một XHHT là một xã hội ở đó con người cần có kỹ năng thu thập, xử lý, quản lý thông tin, biến thông tin thành kiến thức để ứng dụng, bằng nhiều phương tiện, đặc biệt là bằng CNTT
Trong các trường ĐH, CĐ, hoạt động học tập có tính chất NCKH là hoạt động chủ đạo của sinh viên Để phát huy vai trò chủ động, sáng tạo trong học tập của sinh viên thì quy trình đào tạo và phương pháp giảng dạy (gọi chung là phương thức đào tạo) có ý nghĩa quyết định Khi nói đến phương thức đào tạo theo tín chỉ, chúng ta hiểu đó là phương thức tạo điều kiện để sinh viên tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc học của mình, có ý thức tự học,
tự nghiên cứu, tự tổ chức (có sự hướng dẫn) quá trình tích luỹ kiến thức để tiến tới một văn bằng
1.3.2 Một số định hướng đổi mới GDĐH ở Việt Nam
1.3.2.1 Chủ trương đổi mới GDĐH hiện nay
Trong những năm qua, nền GDĐH nước ta đang trong quá trình tự đổi mới Mặc dù đã có nhiều cố gắng và chuyển biến mạnh mẽ nhưng GDĐH nước ta vẫn còn nhiều yếu kém và bất cập Chất lượng và hiệu quả đào tạo còn thấp, học chưa gắn với hành, chương trình đào tạo thiếu linh hoạt, kém liên thông, đội ngũ yếu và thiếu, quản lý cấp Bộ và cấp trường chưa thực sự đổi mới, tính tự chủ chưa cao
Trong giai đoạn 2006 – 2020, trước yêu cầu cấp bách của công cuộc CNH, HĐH đất nước, trước nhu cầu hội nhập, GDĐH Việt Nam phải có những đổi mới mạnh mẽ mới có khả năng hoàn thành sứ mạng của mình Nghị quyết số 14/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006- 2020 đã thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước
ta về đổi mới GDĐH: “ Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo
được sự chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu
Trang 40cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân.” [11, Tr.2]
Trên tinh thần đó, Nghị quyết số 14/2005/NQ- CP cũng nêu rõ mục tiêu
cụ thể là:
“ … Phát triển các chương trình GDĐH theo định hướng nghiên cứu
và định hướng nghề nghiệp – ứng dụng Bảo đảm sự liên thông giữa các chương trình trong toàn hệ thống Xây dựng và hoàn thiện các giải pháp bảo đảm chất lượng và hệ thống kiểm định GDĐH Xây dựng một vài trường ĐH đẳng cấp quốc tế
Mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỉ lệ 200 sinh viên/1 vạn dân vào năm
2010 và 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2020, trong đó khoảng 70 – 80% tổng số sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp ứng dụng và khoảng 40% tổng số sinh viên thuộc các cơ sở giáo dục đại học NCL…” [11, Tr.2]
Để đạt được các mục tiêu đó, một loạt các giải pháp và nhiệm vụ cụ thể đã được đặt ra cho các trường ĐH Việt Nam Một trong những nhiệm vụ trọng tâm đổi mới GDĐH Việt Nam đó là đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo bậc ĐH với các định hướng cụ thể là:
- Cơ cấu lại khung chương trình, đảm bảo sự liên thông của các cấp học… Đổi mới nội dung đào tạo, gắn kết chặt chẽ với thực tiễn NCKH, phát triển công nghệ và nghề nghiệp trong xã hội, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của từng ngành, từng lĩnh vực, tiếp cận trình độ của thế giới Phát triển tiềm năng nghiên cứu sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực hoạt động trong cộng đồng và khả năng lập nghiệp của người học
- Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học, phát huy tính chủ động của người học; sử dụng CNTT và truyền thông trong hoạt động dạy và học Khai thác các nguồn tư liệu GD mở và nguồn tư liệu trên mạng internet Lựa chọn, sử dụng các chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước