1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội

134 451 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 5,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM Phạm Kim Ngân CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC PHỐI HỢP GIỮA BẢO TÀNG VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở NỘI THÀNH HÀ NỘI LU

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

Phạm Kim Ngân

CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC PHỐI HỢP GIỮA BẢO TÀNG VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO

ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

Ở NỘI THÀNH HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ SỐ: 601405

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS BÙI VĂN QUÂN

HÀ NỘI - 2007

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

Phạm Kim Ngân

CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC PHỐI HỢP GIỮA BẢO TÀNG VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

Trang 3

Phạm Kim Ngân

CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC PHỐI HỢP GIỮA BẢO TÀNG VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

Ở NỘI THÀNH HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

BẢN TÓM TẮT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS BÙI VĂN QUÂN

HÀ NỘI - 2007

Trang 4

Trcn Trước Công nguyên

Nxb Nhà xuất bản

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC PHỐI Hợp giữa

bảo tàng và nhà tr-ờng trong giáo dục đạo đức cho

học sinh trung học cơ sở

12

1.4 Tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường THCS trong giỏo

dục đạo đức cho học sinh

28

1.4.1 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của bảo tàng 28

1.4.2 Vị trớ, vai trũ của bảo tàng trong giỏo dục đạo đức cho học sinh 33 1.4.3 Nội dung, hỡnh thức và biện phỏp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng

và nhà trường trong giỏo dục đạo đức cho học sinh

36

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới việc tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và

trường THCS trong giỏo dục đạo đức cho học sinh

41

1.5.1 Nhận thức của thầy cụ giỏo, cỏn bộ nhõn viờn bảo tàng và học

sinh về tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và trường THCS trong

giỏo dục đạo đức cho học sinh

41

1.5.2 Điều kiện kinh tế xã hội văn hoá của địa ph-ơng có ảnh h-ởng đến việc

tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà tr-ờng trong việc giáo dục đạo

đức cho học sinh

42

1.5.3 Trình độ quản lý và tổ chức hoạt động giáo dục của cán bộ bảo tàng 44

Trang 6

Kết luận chương 1 45 Chương 2: THỰC TRẠNG CễNG TÁC TỔ CHỨC PHỐI HỢP GIỮA BẢO TÀNG

VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH

TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI NỘI THÀNH HÀ NỘI

46

2.1 Khỏi quỏt địa bàn nghiờn cứu

2.1.1 Khỏi quỏt cỏc trường trung học cơ sở được khảo sỏt

46

2.1.2 Khỏi quỏt về hai bảo tàng được khảo sỏt 50

2.2 Thực trạng giỏo dục đạo đức cho học sinh THCS nội thành Hà Nội 54

2.2.1 Vài nột về thực trạng đạo đức của học sinh THCS ở nội thành Hà Nội 54

2.2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà tr-ờng 57

2.3 Thực trạng tổ chức phối hợp giữa cỏc bảo tàng với cỏc trường THCS nội

thành Hà Nội trong giỏo dục đạo đức cho học sinh

62

2.3.1 Thực trạng nhận thức của cỏc đối tượng về vai trũ của việc phối hợp

giữa bảo tàng và trường THCS trong giỏo dục đạo đức cho học sinh

63

2.3.2 Nội dung tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và trường THCS trong

giỏo dục đạo đức cho học sinh

69

2.3.3 Hỡnh thức tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và trường THCS trong

giỏo dục đạo đức cho học sinh

71

2.3.4 Biện phỏp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và trường THCS trong

giỏo dục đạo đức cho học sinh

76

2.3.5 Đỏnh giỏ về hiệu quả của cỏc biện phỏp tổ chức phối hợp giữa

bảo tàng và trường THCS trong giỏo dục đạo đức cho học sinh

77

2.4 Đỏnh giỏ chung về thực trạng tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và

trường THCS trong giỏo dục đạo đức cho học sinh

79

2.4.1 Kết quả trưng cầu ý kiến cỏc đối tượng 79

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP GIỮA BẢO

TÀNG VÀ NHÀTRƯỜNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC

SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ NỘI THÀNH HÀ NỘI

82

3.2.1 Nõng cao nhận thức, xỏc định vai trũ nhiệm vụ, nội dung của việc tổ

chức phối hợp giữa bảo tàng và trường THCS trong giỏo dục đạo đức

cho học sinh

84

3.2.2 Thống nhất mục tiờu, nội dung phương phỏp và hỡnh tức tổ chức

giỏo dục đạo đức cho học sinh

88

Trang 7

3.2.3 Xõy dựng cơ chế tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường

trong giỏo dục đạo đức cho học sinh THCS

90

3.2.4 Nõng cao chất lượng hoạt động kiểm tra đỏnh giỏ việc tổ chức phối

hợp giữa bảo tàng và nhà tr-ờng trong giáo dục đạo đức cho học sinh

hệ thống cỏc giỏ trị, bao gồm cỏc giỏ trị truyền thống cần kế thừa và phỏt huy để giữ gỡn bản sắc dõn tộc, cỏc giỏ trị mới được hỡnh thành trong giai đoạn cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ và hội nhập quốc tế Nội dung chương trỡnh giỏo dục thoả món yờu cầu nờu trờn được thực hiện chủ yếu qua con đường dạy học với sự

hỗ trợ của những con đường giỏo dục, những nguồn học liệu khỏc nhau, trong đú phải kể đến sự hỗ trợ của cỏc nguồn học liệu quý giỏ từ cỏc viện bảo tàng

Do tớnh đặc thự của đạo đức và giỏo dục đạo đức, nờn hoạt động giỏo dục đạo đức cho học sinh đũi hỏi phải cú sự phối kết hợp của nhiều lực lượng giỏo

Trang 8

Trong những năm qua, thực tế các nhà trường mới chỉ chú trọng vào việc đào tạo kiến thức, còn việc giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường chưa được tốt, dẫn đến tình trạng một số học sinh có biểu hiện sa sút về đạo đức, lối sống như nói tục chửi bậy, đánh nhau, hỗn láo với thầy cô giáo, sống buông thả,

bỏ học, đua đòi nghiện hút

Gần đây, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục đã đưa ra một số liệu thống kê báo động về thực trạng chất lượng giáo dục đạo đức và chất lượng đạo đức của học sinh Theo nghiên cứu này, hạnh kiểm tốt của học sinh bậc Tiểu học

là 92,8%, ở bậc Trung học cơ sở là 52,63% và Trung học phổ thông là 20,28%

Có nhiều nguyên nhân của thực trạng trên Một trong những nguyên nhân đó là những hạn chế, bất cập trong sự phối hợp đồng bộ giữa gia đình, nhà trường và

xã hội để giáo dục học sinh

Trong xu thế xã hội hoá giáo dục hiện nay, việc phối hợp giữa nhà trường với các ngành có cùng chức năng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh là vô cùng cần thiết Nhấn mạnh vai trò của việc phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở cũng có nghĩa đề cao vai trò của công tác quản lí, tổ chức Vì rằng, hiệu quả hoạt động phối hợp giữa các lực lượng trong công tác giáo dục cho học sinh trung học cơ sở chỉ có thể được đảm bảo khi nó được quản lí và tổ chức một cách khoa học

1.2 Bảo tàng là một thiết chế văn hoá với hai chức năng xã hội cơ bản là

“Nghiên cứu khoa học và giáo dục khoa học”, trong đó chức năng giáo dục đã được công nhận là chức năng chính của bảo tàng từ khi xuất hiện bảo tàng cho công chúng Bảo tàng được coi là “trường học ngoài nhà trường”, giáo dục trong bảo tàng là “giáo dục không chính thức” với ưu thế về tính đa dạng trong hình thức và nội dung nên các em học sinh không bị gò ép, mà tự nguyện tham gia vào các hoạt động giáo dục do tính hấp dẫn của các hoạt động này Đây là điểm

Trang 9

cơ bản khác biệt giữa hoạt động giáo dục của nhà trường và công tác giáo dục của bảo tàng

Trong vai trò như một trường học, bảo tàng là nơi cung cấp không chỉ kiến thức lịch sử, mà cả kiến thức về nếp sống văn hoá, đạo đức, ứng xử cho học sinh Với ngôn ngữ giảng dạy đặc biệt là hiện vật gốc và tài liệu khoa học bổ trợ thông qua nghệ thuật trưng bầy, kết hợp với những hoạt động mang tính xã hội hoá cao, bảo tàng không những giúp học sinh tiếp nhận lượng thông tin cần có

mà còn góp phần khơi gợi ở các em các cảm xúc yêu, ghét, khâm phục Tạo được cảm xúc đó là con đường hiệu quả nhất đối với việc giáo dục niềm tin, lý tưởng, tình cảm một cách tự nhiên, không gò bó, gượng ép

Cũng như các nước trên thế giới, Việt Nam có một hệ thống bảo tàng rất phong phú về loại hình Thế nhưng, trong khi ở các nước, việc gắn kết giữa trường học với bảo tàng đã là một trong những chính sách giáo dục quốc gia từ lâu, thì ở Việt Nam, vấn đề này hoàn toàn chưa được lưu tâm

Dưới góc độ quản lí, quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình phối hợp sự nỗ lực chung của các cá nhân và bộ phận tham gia vào hoạt động này Mặt khác, phối hợp còn là một nội dung quan trọng trong

lí luận về tổ chức, đặc biệt là lí luận về thiết kế các cơ cấu tổ chức lâm thời nhằm thực hiện những chương trình mục tiêu cụ thể

Những phân tích trên là lí do để tác giả chọn đề tài: “Các biện pháp tổ

chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực trạng tổ chức phối hợp giữa Bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở, đề xuất các biện pháp tăng cường tổ chức phối hợp giữa Bảo tàng và nhà trường để

Trang 10

giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội giai đoạn hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường để giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội

4 Giả thuyết nghiên cứu

Biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường để giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở là những biện pháp thiết lập bộ máy lâm thời giữa hai ngành (với những yếu tố chung và đặc thù trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh); xác định vị trí, vai trò của các cá nhân, bộ phận trong bộ máy và xác lập cơ chế vận hành cho bộ máy đó trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở

5 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài đặt ra và giải quyết vấn đề phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường theo tiếp cận của khoa học quản lí giáo dục (không nghiên cứu vấn đề với tư cách là một nội dung lí luận về quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường)

- Chủ thể thực hiện tổ chức phối hợp là các bảo tàng: Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

- Các trường trung học cơ sở được lựa chọn khảo sát là 03 trường trung học cơ sở nội thành Hà Nội: Trường THCS Nguyễn Du (Quận Hoàn Kiếm); Trường THCS Dịch Vọng và trường THCS Nghĩa Tân (Quận Cầu Giấy)

Trang 11

- Các số liệu được sử dụng trong nghiên cứu được giới hạn từ năm 2004 đến năm 2007 (số liệu của Bảo tàng và số liệu về hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của các trường trung học cơ sở)

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

6.1 Hệ thống hoá những vấn đề lí luận về:

+ Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS + Biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường để giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

6.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác tổ chức phối hợp giữa bảo tàng với nhà trường để giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS ở nội thành

Hà Nội

6.3 Đề xuất những biện pháp tăng cường tổ chức phối hợp giữa bảo tàng với nhà trường để giáo dục đạo đức cho học sinh THCS ở nội thành Hà Nội

7 Phương pháp nghiên cứu

7 1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Sử dụng các phương pháp như: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá lý thuyết

để xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết cho đề tài Nguồn tài liệu được tập trung nghiên cứu là:

+ Lý luận về giáo dục đạo đức cho học sinh

+ Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường THCS

+ Lý luận về công tác bảo tàng

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra

Trang 12

Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến đối với các đối tượng khảo sát để thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu

Đối tượng được điều tra bao gồm:

+ Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của các trường

+ Việc tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

- Phương pháp chuyên gia

Xin ý kiến chuyên gia các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

- Phương pháp thống kê

Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các số liệu thu nhận được từ các

phương pháp nghiên cứu khác

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh THCS tại Hà Nội

Chương 3: Một số biện pháp tổ chức tăng cường phối hợp giữa bảo tàng

và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh THCS nội thành Hà Nội

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC PHỐI HỢP

GIỮA BẢO TÀNG VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Đạo đức là một trong hai mặt của cấu trúc nhân cách “Đức và Tài” của người Việt Nam Vì thế, giáo dục đạo đức trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách con người đã được xã hội rất quan tâm Xôcrat (469-399 Trcn) - một triết gia Hy Lạp cổ đại cho rằng, giáo dục con người ta là chủ yếu phải giáo dục đạo đức để tìm tòi nhận thức một chân lý lâu bền, một hạnh phúc chân chính giữa cái thiện và cái ác Aritxtốt (384 – 322 Trcn) cũng khẳng định: phải giáo dục con người ta về đạo đức để phát triển ý chí, giảng dạy văn hoá để phát triển

lý trí, giảng dạy thể dục, thể thao để phát triển thể lực Con người được hợp thành bằng ba bộ phận: Xương thịt, ý chí và lý trí Tương ứng với ba bộ phận đó,

Trang 14

nhà trường phải thực hiện đức dục, trí dục và thể dục [25, 10] Nhà giáo dục lỗi lạc Rabơle (1490 – 1553) cũng khẳng định “ Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự phá hoại tâm hồn " [25, 38]

Mặc dù lịch sử xã hội ngày càng phát triển, nội dung giáo dục nhà trường ngày càng phong phú, song giáo dục đạo đức bất luận ở quốc gia nào, dưới chế

độ nào cũng đều được quan tâm Nhà trường Việt Nam trải qua hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến và phong kiến thực dân cho đến nay giáo dục đạo đức cho học sinh vẫn giữ nguyên vị trí vô cùng quan trọng của nó

Từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nền giáo dục Việt Nam với mục đích giáo dục đào tạo con người phát triển toàn diện, đặc biệt gắn 2 mặt đức, tài khi quan điểm lấy đức làm gốc của chủ tịch Hồ Chí Minh được quán triệt trong

sự nghiệp đào tạo, giáo dục người công dân chân chính nói chung, thế hệ trẻ nói riêng Song làm thế nào để phát huy được thế mạnh của các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh? Câu hỏi này đã được quan tâm nghiên cứu và hướng nghiên cứu chính là tìm kiếm các biện pháp để phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội cùng thực hiện được mục đích giáo dục đạo đức cho học sinh

Vấn đề phối hợp 3 lực lượng “Nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao

hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh ” đã trở thành một đề tài nghiên cứu

khoa học của các nhà giáo dục Những nhà giáo dục đã đi sâu vào đề tài này như:

Hà Thế Ngữ; Đức Minh; Đặng Vũ Hoạt đã đề cập đến vai trò, vị trí, ý nghĩa cực

kỳ quan trọng đối với sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh Vấn đề phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục đạo đức cho học sinh được đưa vào nội dung giáo trình giáo dục học của tác giả Phạm Cốc - Đức Minh vào những năm 70, sau đó là của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt [33] Vấn đề này cũng được đưa vào một số giáo trình khác như giáo dục gia đình của tác giả Phạm Khắc Chương [6; 8]

Trong những thập niên vừa qua cũng đã có những luận văn thạc sỹ liên quan đến vấn đề giáo dục đạo đức, quản lý vấn đề giáo dục đạo đức ở tiểu học,

Trang 15

trung học cơ sở, trung học phổ thông của một số tác giả như: Nguyễn Văn Toàn

với đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong hoạt

động ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học” [37]; tác giả Nguyễn Thị Hiển với đề

tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong nhà trường

phổ thông cơ sở” [22]

Mặc dù đã có những Hội thảo khoa học về vai trò của bảo tàng đối với công tác giáo dục giá trị truyền thống, giáo dục đạo đức cho học sinh, nhưng cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào có tính chất hệ thống về vấn đề tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường để giáo dục đạo đức cho học sinh Việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở vị trí, vai trò của bảo tàng trong giáo dục cộng đồng nói chung và giáo dục học sinh phổ thông nói riêng Trên thế giới, mặc dù việc gắn kết các bảo tàng với trường học đã được thực hiện từ rất lâu nhưng cũng không thấy có một tài liệu chính thống nào đưa ra những phương thức cụ thể để thực hiện, ngoài việc nêu lên tầm quan trọng của công tác giáo dục bảo tàng

Tháng 5/2006, Cục Di sản văn hoá phối hợp với bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức cuộc hội thảo khoa học-thực tiễn với chủ đề “Bảo tàng với công tác giáo dục học sinh” Hội thảo cũng mới chỉ dừng lại ở việc bàn về những cơ hội, khả năng liên kết giáo dục cộng đồng của bảo tàng và làm thế nào để thiết lập mối liên hệ giữa bảo tàng với các cơ quan giáo dục khác, mà trước hết là nhà trường Nói cách khác, vấn đề quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục nói chung, phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường nói riêng trong giáo dục đạo đức cho học sinh vẫn còn là một mảnh đất trống vắng, thiếu vắng những công trình nghiên cứu một cách đầy đủ dù là từng mặt của vấn đề Những phân tích trên một lần nữa khẳng định tính cấp thiết của vấn đề được tác giả luận văn lựa chọn làm đề tài nghiên cứu

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Tổ chức

Trang 16

Trong khoa học quản lý, thuật ngữ “tổ chức” thường được hiểu với hai nghĩa [17]:

i) Tập thể người liên kết với nhau theo những quy chế nhất định và cùng hoạt động vì mục đích chung, ví dụ như: tổ chức Đoàn thanh niên, tổ chức Hội Phụ nữ, tổ chức Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em,…

Theo C.I Barnard: “Tổ chức là một hệ thống hợp tác những hoạt động hoặc

là những lực lượng hiệp đồng một cách có ý thức của từ hai người trở lên” Hai

nhà tâm lý quản lý khác T.D Mooney và A.C Reiley thì cho rằng: “Tổ chức là một hình thức tổ hợp của những người có mục đích chung Một quần thể tổ chức muốn đạt mục tiêu một cách có hiệu quả thì mỗi người, mỗi việc khác nhau, nhưng phải dựa trên nguyên tắc hiệp đồng hợp tác”

Theo Robbins và Barnwell năm 1994 thì ý nghĩa tổ chức là “Một thực thể

xã hội phối hợp có ý thức với biên giới tương đối xác định, thực hiện các chức năng trên cơ sở tương đối liên tục để đạt được mục tiêu hay hệ thống mục tiêu chung” Hoạt động của chủ thể sắp xếp các yếu tố thành một chỉnh thể, theo cơ cấu nhất định để hoạt động có hiệu quả Đó có thể là hoạt động của một thủ lĩnh, một lãnh tụ: “Bác Hồ là người tổ chức và rèn luyện Đảng ta ” Trong một tổ chức có thể là một hoạt động, một chức năng của nhà quản lý: Tổ chức lại bộ máy của đơn vị, tổ chức đào tạo giáo dục các đối tượng khác nhau theo yêu cầu, trình độ của từng nhóm

ii) Tổ chức được hiểu theo nghĩa là một quá trình phân công, phối hợp các nhiệm vụ và các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã được vạch ra Nhà quản

lý là người phân bổ và sắp xếp các nguồn lực Một phần quan trọng trong việc phối hợp các nguồn nhân lực là phân công các công việc và nhiệm vụ khác nhau cho các thành viên trong tổ chức Hoạt động của quản lý không thể thiếu vai trò của tổ chức

Trang 17

1.2.2 Phối hợp trong quản lí

- Quản lí

Trong các giáo trình và tài liệu về quản lí, khi trình bày khái niệm quản lí, ngoài việc trích dẫn những tư tưỏng của các tác giả kinh điển của lí luận chủ nghĩa Mác - Lênin, các tác giả thường dẫn ra quan điểm của một số tác giả nước ngoài như: Frederich Winslon Taylor (1855-1915); Henry Fayol (1841-1925); Mary Parkor Pollet (1868-1933); Harold Koontz và một số tác giả Việt Nam như: Nguyễn Hoàng Toàn, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ Văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Duy Quý, Bùi Trọng Tuân [34] Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau, song có thể khái quát nội dung cơ bản của quản

lí được đề cập đến trong các quan niệm trên là:

1/ Quản lý là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành phát triển; 2/ Quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội; 3/ Quản lý là những tác động có tính hướng đích, là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức; 4/ Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người bị quản lý giữ vai trò trung tâm trong chu trình, trong hoạt động quản lý

Từ những phân tích trên, tác giả luận văn lựa chọn định nghĩa khái niệm

quản lí dưới đây làm khái niệm công cụ để nghiên cứu đề tài: Quản lý là quá

trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động [34]

Quan niệm trên nhấn mạnh những khía cạnh sau của quản lí:

Trang 18

1/ Quản lí có hình thức thực thể là những hoạt động do chủ thể quản lí thực hiện Điều đó có nghĩa không có những hoạt động này, chưa có hoạt động quản lí trên thực tế, chưa có cơ sở để khẳng định hoạt động quản lí đã xảy ra Các hoạt động của chủ thể quản lí có hai nội dung chính

Thứ nhất, tác động đến đối tượng quản lí (con ngưòi và những đối tượng

khác)

Thứ hai, khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực Nguồn lực cũng

tồn tại như một trong những đối tượng quản lí nhưng không đồng nhất hoạt động tác động đến đối tượng quản lí với hoạt động khai thác, tổ chức nguồn lực Rất nhiều hoạt động tác động đến đối tượng quản lí cần đến điều kiện là nguồn lực Khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực, trong những trường hợp cụ thể là tạo điều kiện để hoạt động tác động của chủ thể đến đối tượng quản lí được thực hiện có hiệu quả

2/ Quản lí thể hiện tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể quản lí Điều này được thể hiện ở những tác động hướng đích có chủ định do chủ thể quản lí thực hiện và những mục tiêu mà chủ thể quản lí xác định Tuy nhiên, những tác động này của chủ thể chỉ có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở nhận thức của chủ thể về các qui luật khách quan trong lĩnh vực hoạt động của mình và ý thức của chủ thể trong việc tuân thủ các qui luật khách quan đó Mức độ thống nhất giữa những tác động hướng đích, có chủ định và hệ thống mục tiêu do chủ thể quản lí xác định với các qui luật khách quan khẳng định mức độ của tính khoa học, nghệ thuật của quản lí

3/ Quản lí đồng nghĩa với sự thay đổi có chủ định cho tổ chức trong và bằng những tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí cũng như trong việc khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực của tổ chức

Trang 19

4/ Quản lí luôn tồn tại với tư cách là hệ thống Hệ thống quản lí được tạo bởi nhiều thành tố, nhưng các thành tố cơ bản thường được đề cập khi phân tích

Đối tượng quản lí bao giờ cũng tồn tại trong một khách thể quản lí xác định Khách thể quản lí là cơ sở khách quan của đối tượng quản lí (cụ thể hơn là

cơ sở khách quan làm nảy sinh đối tượng quản lí) Ví dụ, hệ thống giáo dục quốc dân là khách thể của quản lí giáo dục, từ đó những yếu tố như tài chính, nhân lực có thể trở thành đối tượng của những chủ thể quản lí giáo dục xác định

+ Công cụ quản lí: là phương tiện, giải pháp của chủ thể quản lí nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hoà, phối hợp hoạt động của con người và các bộ phận trong tổ chức trong việc đạt đến các mục tiêu đã đề ra

Công cụ quản lí có vai trò quan trọng trong việc thiết lập phương thức hoạt động hợp với qui luật khách quan cho hoạt động quản lí Công cụ quản lí có tác động trực tiếp đến việc xác lập và vận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản lí

và đối tượng quản lí, đến việc định hướng tổ chức thực hiện và điều chỉnh các hoạt động trong tổ chức

Có thể mô tả mối quan hệ giữa các thành tố cơ bản của hệ thống quản lí

Trang 20

Theo cách hiểu thông thường, phối hợp là cùng chung góp, cùng hành động

ăn khớp để hỗ trợ cho nhau Như vậy, có thể hiểu phối hợp là sự cùng hành động, sự gắn bó chặt chẽ với nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau giữa các đơn vị để

tiến hành một công việc chung

- Phối hợp trong quản lý

Trong quản lý, phối hợp là một trong các nội dung của chức năng tổ chức Phối hợp là quá trình liên kết hoạt động của những con người, bộ phận, phân hệ

và hệ thống riêng rẽ nhằm thực hiện có kết quả và hiệu quả các mục tiêu chung Phối kết hợp có thể được thực hiện trong mỗi tổ chức hoặc giữa các tổ chức với

nhau nếu như giữa các tổ chức này xuất hiện những mục tiêu chung

Chủ thể quản lí

Công cụ quản lí

Đối tượng quản lí

Mục tiêu quản lí

Trang 21

Mục tiêu của sự phối kết hợp trong quản lý là đạt được sự thống nhất hoạt động của các bộ phận bên trong và cả với bên ngoài tổ chức Phạm vi cần thiết của phối hợp phụ thuộc vào tính chất của các nhiệm vụ và mức độ độc lập của con người và các bộ phận trong tổ chức khi thực hiện nhiệm vụ Khi các nhiệm

vụ đòi hỏi sự tương tác giữa các đơn vị thì cần sự phối hợp ở mức độ cao Khi sự trao đổi thông tin là ít quan trọng, công việc sẽ hoàn thành với hiệu quả cao hơn với mối liên hệ hạn chế giữa các đơn vị Mức độ phối hợp cao sẽ có lợi đối với những công việc không thường nhật và dễ gặp phải các tình huống khó dự đoán khi phải thực hiện trong môi trường luôn thay đổi và những công việc phụ thuộc lẫn nhau Thêm vào đó, một tổ chức đặt ra cho mình hệ thống mục tiêu càng lớn, càng đòi hỏi mức độ cao của sự phối hợp

1.2.3 Tổ chức phối hợp

Tổ chức phối hợp là quá trình phân công, liên kết hoạt động của các bộ phận, các đơn vị và các nguồn lực trong việc thực các nhiệm vụ để đạt được các mục tiêu chung

Về cơ cấu, tổ chức phối hợp là quá trình thiết lập và vận hành các yếu tố cấu trúc của nhiệm vụ chung và cung ứng các nguồn lực cần thiết cho hoạt động thực hiện nhiệm vụ chung đó

Nội dung của tổ chức phối hợp gồm:

- Căn cứ vào vào mục tiêu chung của các bộ phận, đơn vị để xác định mục tiêu, nhiệm vụ phối hợp

- Thiết kế nội dung và lựa chọn phương pháp, hình thức phối hợp

- Phân công các chủ thể, thiết lập mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể

- Huy động các nguồn lực khác đảm bảo và hỗ trợ cho hoạt động

1.2.4 Giáo dục đạo đức

- Đạo đức

Trang 22

Để tồn tại và phát triển con người phải hoạt động và tham gia các mối quan hệ

xã hội trong thế giới hiện thực Trong quá trình thực hiện mối quan hệ ấy, nếu con người có trách nhiệm giao tiếp, ứng xử phù hợp với lợi ích ích chung của mọi người, của cộng đồng xã hội, thì con người ấy được đánh giá là có đạo đức Ngược lại, cá nhân nào có thái độ, hành vi làm tổn hại tới lợi ích của người khác và của cộng đồng

bị xã hội chê trách, lên án, cá nhân đó bị coi là người thiếu đạo đức Thông thường trong cuộc sống mỗi người phải ý thức được ý nghĩa, mục đích hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và tương lai Những hoạt động đó chịu sự chi phối của các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội trong giới hạn cho phép của cộng đồng, của dân tộc nhằm đảm bảo quyền lợi cho tất cả thành viên vươn lên tích cực tự giác tạo thành động lực phát triển xã hội Đó chính là những quy tắc chuẩn mực hoàn toàn tự giác điều khiển hành động của mỗi cá nhân trong các mối quan hệ xã hội

Những phân tích trên cho thấy, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt biểu hiện dưới dạng các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên với xã hội, con người với nhau

và với bản thân mình Tất nhiên đạo đức là một hình thái ý thức luôn luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc gắn với tiến trình phát triển của nhân loại

và dân tộc, đạo đức cũng chịu sự quy định của điều kiện kinh tế, vật chất xã hội đồng thời cũng chịu sự tác động qua lại chế uớc lẫn nhau của các hình thái ý thức xã hội khác như pháp luật, văn hoá, giáo dục, tập quán

Tóm lại, đạo đức là hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử con người trong quan hệ với nhau và với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh dư luận xã hội Xét đến cùng, đạo đức thuộc về ý thức con người, nó được biểu hiện ở nhận thức, động cơ hành động và sự tự đánh giá,

Trang 23

nhờ đó mỗi cá nhân tự kiểm soát, tự quyết định động cơ hành động và cách ứng

xử trong cuộc sống [8]

- Giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức là quá trình hình thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen đạo đức cho học sinh dưới những tác động có mục đích được tổ chức một cách có kế hoạch được chọn lọc về nội dung, phương pháp, phương tiện phù hợp với đối tượng giáo dục trong môi trường kinh tế xã hội nhất định Giáo dục đạo đức trong trường phổ thông là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình bộ phận khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và giáo dục hướng nghiệp giúp cho học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện Quá trình giáo dục đạo đức cũng như các quá trình giáo dục khác đều có các thành tố có quan hệ với nhau trong hệ thống cấu trúc nhất định và vận động Các thành tố cơ bản của giáo dục là người được giáo dục, mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp và phương tiện giáo dục, kết quả giáo dục Nhà giáo dục là chủ đạo và thiết kế tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường phổ thông nhằm thực hiện những nhiệm vụ sau [7]:

+ Đưa học sinh vào hệ thống các hoạt động và quan hệ thực tiễn, xã hội + Chọn lựa và định hướng các ảnh hưởng tích cực, ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực trong quá trình lĩnh hội các giá trị đạo đức của học sinh

+ Tổ chức các hoạt động giao lưu cho học sinh nhằm chuyển hoá những yêu cầu của xã hội thành phẩm chất đạo đức của học sinh

Tóm lại: Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh phải tuân theo quy luật phát triển chung về hình thành và phát triển nhân cách Hơn ai hết những người làm công tác giáo dục phải nắm và vận dụng quy luật này cho thật hợp lí

1.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường THCS

Trang 24

1.3.1 Những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS

Các nhà nghiên cứu cho rằng giữa giáo dục và phát triển nhân cách tác động qua lại với nhau rất mật thiết, chính vì vậy để có thể tác động có hiệu quả đến sự phát triển nhân cách, giáo dục phải dựa vào những đặc điểm nhân cách của từng lứa tuổi nhất định thậm chí của từng cá nhân

Người ta xác định ứng với từng lứa tuổi là một giai đoạn phát triển nhân cách Như vậy đối với thế hệ trẻ, chúng ta nhận thấy có nhiều giai đoạn phát triển nhân cách nối tiếp nhau theo thời gian mang tính quy luật, mang tính chu

kỳ nhất định Giai đoạn trước tạo ra tiền đề và điều kiện cho giai đoạn sau, và giai đoạn sau không ngừng tạo tiền đề và điều kiện cho giai đoạn trước mà còn tạo ra những chất mới về tâm lý, về trí tuệ, về đạo đức, về thẩm mỹ

Học sinh THCS có độ tuổi từ 11-15 là tuổi thiếu niên Bước vào lứa tuổi này, sự phát triển của các em đã bắt đầu xáo động dữ dội về thể chất cũng như

tâm hồn, đó là giai đoạn quá độ từ trẻ em lên người lớn – Thiếu niên không còn

là trẻ con nhưng chưa phải là người lớn Đó là tính chất đặc trưng nhất của giai

đoạn phát triển đầy mâu thuẫn và thất thường này Nhà tâm lý học Hungari

Gôiôxơ Êlêna đã có nhận xét bóng bẩy vừa lứa tuổi này như sau: “Cái xứ sở kỳ

lạ” đó là xứ sở của tuổi thiếu niên Nhiều khi các cư dân của nó cũng không biết

mình vượt qua biên giới lúc nào và ở đâu Họ lại càng ít nhận thấy mình rời bỏ

nó vào lúc nào và rời bỏ như thế nào cái xứ sở hỗn độn này, mà trong đó đôi khi

có những cái đầu lộn ngược xuống chân Khí hậu của cái xứ sở này rất thất thường và kỳ quặc, khi thì nóng nực như ở vùng nhiệt đới, khi thì bỗng nhiên trở lạnh như băng mà chẳng có sự chuyển tiếp nào, có cả mùa xuân hoa nở tưng bừng, có cả mùa thu lá rụng tơi tả Nhưng hai mùa này không bao giờ tuần tự nối tiếp nhau, vả lại mùa đông lắm khi lại đột nhập vào mùa xuân Nhưng ngay dân

cư của cái xứ sở kỳ lạ này cũng chẳng nhất quán gì hơn Trong cách cư xử của

Trang 25

mình, họ tỏ ra rất cực đoan Khi thì vui vẻ ồn ào, khi thì bỗng nhiên lại trầm ngâm, lặng lẽ Khi thì họ là những anh hùng quả cảm, khi lại bỗng trở thành sợ sệt, và yếu đuối Có khi họ ngờ vực và không tin ở mình, khi thì lại quá ư tự tin

và kiêu ngạo Đôi khi họ khiêm tốn và kín đáo, lúc lại buông tuồng và trâng tráo”[9,58]

Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Các nhà tâm lí học trên thế giới đều chung

một quan niệm cho rằng tuổi thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn và bao gồm một khoảng đời từ 11, 12 tuổi đến 23, 24 hoặc 25 tuổi Giai đoạn này có thể chia làm hai thời kỳ: thời kỳ chuyển tiếp trước từ 11, 12 tuổi và kết thúc vào 16, 17 tuổi và thời kỳ chuyển tiếp sau từ 17, 18 tuổi và kết thúc vào lúc thành người lớn thật sự 24, 25 tuổi” Như vậy học sinh THCS nằm

trong giai đoạn bắt đầu thời kì chuyển tiếp trước (11,12) và kết thúc vào lúc bắt đầu thời kì chuyển tiếp sau (16,17 tuổi ) [28, 88]

Căn cứ vào nghiên cứu khoa học trên, có thể nêu một số đặc trưng nổi bật của lứa tuổi học sinh THCS:

- Xác định rõ “cái tôi” Ở lứa tuổi này, các em thường muốn tự khẳng

định mình, thích bộc lộ nguyện vọng riêng, hứng thú riêng trong lối sống

- Nhanh chóng tiếp nhận cái mới Lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi thích

khám phá, tìm tòi, chính vì vậy, các em rất nhanh chóng tiếp thu những cái mới, hiện đại

- Nhạy cảm với việc đánh giá Trong giao tiếp, các em thường để ý đến

người mà mình trò chuyện, xem hình thức bên ngoài và xét đoán tình hình rồi đánh giá họ là người như thế nào Các em rất nhạy cảm với thái độ đánh giá của người khác đối với mình Một thái độ yêu thương hay ghét bỏ, một sự tôn trọng hay khinh rẻ đối với mình đều được các em cảm nhận rất nhanh, nhờ đó các em

dễ nhìn lại bản thân, nhận ra cái tốt, cái xấu để kịp thời sửa mình Tuy nhiên,

Trang 26

nhiều khi các em còn cường điệu lên những lời đánh giá, khiến thiếu niên thường

dễ bị kích động và phản ứng lại đôi khi thái quá, gây nên sự căng thẳng đối với

người xung quanh

- Thích lựa chọn và làm theo thần tượng Lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi

có nhiều mơ ước Các em khao khát khẳng định mình và luôn mong muốn được mọi người chú ý Chính vì vậy, hình ảnh của những con người nổi tiếng luôn hấp dẫn các em và trở thành mục tiêu để các em phấn đấu vươn tới

Những đặc điểm trên thường được biểu hiện trong tính cách, hành vi đạo đức của các em học sinh THCS có thể tốt, có thể không tốt Nhưng không phải ở tất cả các em đều như nhau Có em thiên về mặt tốt, có em nặng về mặt xấu, có

em biểu hiện thật rõ nét, có em còn mờ nhạt Điều đó phụ thuộc vào hoàn cảnh sống, môi trường giáo dục và tự rèn luyện của các em Tuy nhiên, nắm bắt đúng tâm lý, hiểu rõ được những nét tính cách đang trong quá trình hoàn thiện của các

em sẽ giúp các nhà giáo dục có được những biện pháp hữu hiệu để điều chỉnh, giúp các em hoàn thiện nhân cách một cách hữu hiệu nhất

1.3.2 Mục tiêu giáo dục đạo đức ở trường THCS

Giáo dục đạo đức là một bộ phận của quá trình giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng Mục tiêu của giáo dục đạo đức nằm trong mục tiêu của nhà trường Giáo dục đạo đức cần đạt được các mục tiêu sau đây [16]:

- Về kiến thức

+ Hiểu được những chuẩn mực đạo đức và pháp luật cơ bản, phổ thông, thiết thực phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS trong các quan hệ với bản thân, với mọi người, với công việc và môi trường sống

Trang 27

+ Hiểu ý nghĩa của các chuẩn mực đạo đức sự phát triển cá nhân và xã hội, sự cần thiết phải rèn luyện và cách thức rèn luyện để đạt được những chuẩn mực đó

- Về thái độ tình cảm

+ Có thái độ đúng đắn, rõ ràng trước các hiện tượng, sự kiện đạo đức, pháp luật, văn hoá trong đời sống hằng ngày, có tình cảm trong sáng, lành mạnh với mọi người, đối với gia đình, nhà trường, quê hương đất nước

+ Có niềm tin vào tính đúng đắn của các chuẩn mực đã học và hướng tới những giá trị xã hội tốt đẹp

+ Có trách nhiệm đối với hành động của bản thân, có nhu cầu tự điều chỉnh, tự hoàn thiện để trở thành một chủ thể xã hội tích cực, năng động

- Về kỹ năng

+ Biết đánh giá hành vi của bản thân và mọi người xung quanh, biết lựa chọn và thực hiện cách ứng xử phù hợp với các chuẩn mực trong giao tiếp và hoạt động (học tập, lao động, tập thể, vui chơi, giải trí )

+ Biết tự tổ chức việc học tập thích hợp và rèn luyện bản thân theo các yêu cầu của các chuẩn mực đã học

1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức ở trường trung học cơ sở

Giáo dục cho học sinh các chuẩn mực đạo đức theo 5 nhóm sau [16]:

- Nhóm chuẩn mực thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị : yêu quê hương đất nước, tin tưởng vào đường lối của Đảng và Nhà nước

Trang 28

- Nhóm chuẩn mực đạo đức, lối sống tự hoàn thiện bản thân: lòng tự trọng, tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thực, siêng năng, hướng thiện, biết hối hận

- Nhóm chuẩn mực đạo đức, lối sống thể hiện quan hệ với mọi người: lòng nhân nghĩa, lòng biết ơn (tổ tiên, cha mẹ, thầy cô, người có công với đất nước), kính trọng người sinh thành, nuôi dưỡng bản thân, lòng yêu thương, khoan dung, vị tha, chung thủy, giữ chữ tín

- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ công việc : trách nhiệm, lương tâm, tôn trọng pháp luật, tôn trọng lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết

- Nhóm chuẩn mực đạo đức liên quan đến môi trường sống : hạnh phúc gia đình, giữ gìn, bảo vệ tài nguyên môi trường tự nhiên, bảo vệ hoà bình, bảo vệ phát huy truyền thống di sản văn hoá dân tộc

1.3.4 Con đường giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

- Giáo dục đạo đức thông qua con đường dạy các bộ môn văn hoá, đặc

biệt là các môn có nhiều thuận lợi như môn văn , sử , giáo dục công dân

Với nội dung và tính chất của các môn học, dạy học luôn được xem là con đường hợp lí, thuận lợi nhất giúp cho người học với tư cách là chủ thể nhận thức,

có thể lãnh hội được một hệ thống tri thức và kỹ năng hành động giúp cho học sinh có được những phẩm chất và năng lực trí tuệ của bản thân Từ việc tiếp thu tri thức ở các môn học, học sinh có được những quan điểm đúng về tự nhiên, về

xã hội, về bản thân, mà hình thành cho mình một nhân sinh quan, một thế giới quan khoa học Từ đó các em có những hành vi đạo đức đúng đắn theo yêu cầu

xã hội

- Giáo dục đạo đức thông qua con đường lao động , ngoại khoá

Trang 29

Thông qua con đường này giáo dục cho học sinh có nhận thức đúng đắn

về mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao động trí óc và lao động chân tay Từ đó có thái độ lao động đúng đắn, yêu lao động, yêu người lao động và bảo vệ thành quả lao động

-Giáo dục đạo đức thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên

lớp

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động ngoài giờ học các môn học ở trên lớp Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp nối các hoạt động dạy - học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của học sinh Qua hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm củng cố và khắc sâu những kiến thức của môn học, mở rộng và nâng cao hiểu biết cho học sinh về các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm phong phú thêm vốn tri thức, kinh nghiệm hoạt động tập thể của học sinh Nội dung của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có liên quan đến nội dung của các môn học, các lĩnh vực giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục lao động, giáo dục thể chất, giáo dục pháp luật, giáo dục trật tự an toàn giao thông, giáo dục dân số, giáo dục môi trường

- Giáo dục đạo đức bằng hình thức tu dưỡng, tự rèn luyện, tự hoàn thiện

đạo đức nhân cách

Đây là yếu tố quyết định trực tiếp đến trình độ đạo đức của mỗi học sinh

Sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân là một quá trình lâu dài, phức tạp Trong quá trình đó, các tác động bên ngoài và những động lực bên trong thường xuyên tác động lẫn nhau và vai trò của mỗi yêu tố đó thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của mỗi người

- Giáo dục đạo đức thông qua sự gương mẫu của người thầy

Trang 30

Cha ông ta xưa rất coi trọng “ thầy giáo” tức là lấy sự gương mẫu của bản thân người thầy mà giáo dục học trò: người thầy phải hoàn thiện đầy đủ phẩm chất và tận tâm với việc giáo dục học sinh, nhạy bén với việc đổi mới phương pháp dạy học và khai thác nội dung giáo dục đạo đức trong các bài giảng, trong quá trình giảng dạy nhằm phát triển bản lĩnh chính trị, tính năng động sáng tạo, khả năng thích ứng ở thế hệ trẻ Mỗi người thầy phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo

Như vậy, sự hình thành đạo đức của học sinh do ảnh hưởng tác động bên ngoài mà trước hết là do tác động của giáo dục nhà trường, của tập thể, của gia đình dần dần chuyển thành tự giáo dục của chủ thể học sinh, mà trong đó tự tu dưỡng, tự rèn luyện, tự hoàn thiện đạo đức và nhân cách là yếu tố cơ bản

1.4 Tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường THCS trong giáo dục đạo đức cho học sinh

1.4.1 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của bảo tàng

Bảo tàng là một tổ chức không lợi nhuận, tồn tại lâu dài để phục vụ cho sự phát triển của xã hội, mở rộng đón công chúng Bảo tàng thu nhận, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày và tuyên truyền nhằm mục đích giáo dục, học tập và thưởng thức Bảo tàng là một bằng chứng vật chất xác thực về con người và môi trường xung quanh con người [41]

Bảo tàng là thiết chế văn hóa đặc thù làm nhiệm vụ trao truyền kinh nghiệm, tri thức cho thế hệ sau Thiết chế này có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, giới thiệu di sản văn hóa của dân tộc và nhân loại cho công chúng, để

họ nâng cao trình độ nhận thức

Bảo tàng là những tấm gương phản ánh quá trình phát triển của xã hội, quá khứ và hiện tại; là nơi lưu giữ những ký ức Bằng cách này hay cách khác, các

Trang 31

gìn giữ một phần bản sắc của cộng đồng, là phương tiện truyền tải các thông tin trung thực thông qua các di sản văn hóa vật chất và tinh thần của xã hội Con người được truyền tải thông tin, được truyền tải những cảm thụ văn hóa một cách trực tiếp, chân chính từ những nhân chứng lịch sử và các hiện vật bảo tàng Bảo tàng có tính ổn định lâu dài với những sưu tập hiện vật mang đầy đủ các yếu

tố khoa học và khách quan Bảo tàng tồn tại cùng với quá trình phát triển của mỗi quốc gia và mỗi dân tộc

Theo định nghĩa của Tổ chức Bảo tàng thế giới - ICOM, chức năng xã hội

của bảo tàng được thể hiện trên ba mục tiêu: nghiên cứu, giáo dục và thưởng

thức Chức năng xã hội của bảo tàng chính là vai trò và ý nghĩa xã hội của bảo

tàng, là kết quả hoạt động của bảo tàng đối với xã hội, được xác định thông qua kết quả tác động vào xã hội của bảo tàng

* Chức năng nghiên cứu khoa học: là chức năng đặc biệt quan trọng của

bảo tàng.Trước hết, nghiên cứu khoa học là tiền đề bắt buộc để có bảo tàng, đồng thời là cơ sở cho hoạt động bảo tàng Nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ xuyên suốt ở tất cả các khâu công tác nghiệp vụ của bảo tàng như: sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, tổ chức trình diễn, biểu diễn, xây dựng các chương trình giáo dục Nghiên cứu khoa học của bảo tàng có những đặc điểm sau:

- Công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng phải luôn gắn bó với bộ môn khoa học phù hợp với loại hình bảo tàng Ví dụ: Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam nghiên cứu khoa học về giới và phụ nữ; Bảo tàng Dân tộc học nghiên cứu dân tộc học là quan trọng nhất; Bảo tàng lịch sử Quân sự nghiên cứu khoa học quân sự

- Mọi hoạt động nghiên cứu khoa học của bảo tàng đều xoay quanh hiện vật bảo tàng Có thể nói, công tác nghiên cứu khoa học, trước hết là nghiên cứu hiện vật bảo tàng là nền tảng của mọi khâu công tác Nghiên cứu khoa học của

Trang 32

bảo tàng là khai thác triệt để những thông tin đúng, những thông tin gốc và các mối quan hệ của nó từ những hiện vật bảo tàng, nhằm hệ thống và đưa nó đến cho mọi người những tri thức, những cảm xúc từ những hiện vật đó để hiểu biết được thế giới tự nhiên, xã hội và con người

- Nghiên cứu khoa học của bảo tàng trước hết và cơ bản là phải tập trung

và đưa ra được hệ thống trưng bày bảo tàng Trưng bày bảo tàng là một hình thức công bố thành quả nghiên cứu khoa học từ nhiều khâu khác nhau, từ nghiên cứu xác định đề tài, sưu tầm tài liệu hiện vật, xác minh, đối chiếu, so sánh, phân loại, lựa chọn, công bố tư liệu để hình thành một hệ thống trưng bày Mặt khác, nghiên cứu khoa học của bảo tàng sẽ quyết định chất lượng và giá trị trưng bày của bảo tàng, sự tồn tại lâu dài hay tạm thời của bảo tàng đó và đặc biệt là những đóng góp xã hội của một trưng bày bảo tàng

Trong thời đại ngày nay, công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng chẳng những đòi hỏi sâu hơn, chi tiết hơn và cung cấp được nhiều thông tin hơn nữa ở những nội dung vốn có, mà còn phải giải đáp được nhiều vấn đề khác nữa tưởng chừng như xa lạ với công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng như: bảo tàng có thể làm gì với thế giới hiện đại? Bảo tàng đáp ứng như thế nào đối với những đòi mới của xã hội? Năng lực và sự độc lập của bảo tàng trong xã hội tri thức như thế nào.v.v Tất cả những yêu cầu đó khiến chức năng nghiên cứu khoa học của bảo tàng không ngừng đổi mới và bổ sung trong sự tác động và hỗ trợ của các ngành khoa học tương ứng và liên quan khác

* Chức năng giáo dục: Chức năng giáo dục của bảo tàng không phải có

ngay từ đầu khi hình thành bảo tàng (Bảo tàng có sớm nhất vào thế kỷ thứ III tại Alexandria, Ai Cập), mà nó được hình thành dần dần; mỗi ngày nhận thức này một rõ ràng hơn và việc thực hiện chức năng đó cũng ngày càng hoàn thiện hơn

Trang 33

“Giáo dục đã được công nhận như một chức năng chính của bảo tàng từ khi xuất hiện các bảo tàng cho công chúng” [27,3] Bảo tàng cho công chúng là sản phẩm của thế kỷ XVIII Chức năng giáo dục của bảo tàng ngày càng được coi trọng kể từ đầu thế kỷ XIX, khi làn sóng của tư tưởng dân chủ lan rộng khắp châu Âu Giáo dục xã hội được chú trọng và bảo tàng trở thành một trong những thiết chế được nhìn nhận là có khả năng làm tốt công tác giáo dục công chúng Bảo tàng được đánh giá là cơ quan có khả năng giúp con người tự tu dưỡng làm cho mình hoàn thiện hơn và cảm nhận được giá trị của xã hội hiện tại “Trong suốt thế kỷ XX, việc giáo dục đã trở thành chức năng đầu tiên của bảo tàng Một bảo tàng lý tưởng phải được hiểu “là một trường học tiên tiến và là nơi các giáo viên phải “đến để nhờ sự hỗ trợ một cách tự nhiên” Mặc dù nhiều bảo tàng và phòng trưng bày đã không đạt đến mức lý tưởng, đây vẫn là một quan điểm vững chắc [45] Giáo dục là chức năng cơ bản và tất yếu của mọi bảo tàng Tính chất giáo dục của bảo tàng ngày càng cao Chức năng giáo dục chi phối hoạt động bảo tàng Công tác giáo dục của bảo tàng là thông qua các hình thức tiếp cận để chuyển giao có mục đích những thông tin, những tri thức về khoa học, đạo đức

và thẩm mỹ Công tác giáo dục của bảo tàng dựa trên những kết quả hoạt động của công tác nghiên cứu khoa học, công tác tư liệu hóa và công tác trưng bày Không giống như các cơ quan truyền thông khác như truyền thanh, truyền hình, báo chí, thông tin cổ động; giáo dục trong bảo tàng là giáo dục thông qua các phương tiện tổng hợp: hiện vật, tài liệu gốc, hiện vật tái tạo để trải nghiệm, các bài viết, băng ghi hình, phim, qua sự giai tiếp với con người - chủ thể văn hóa Giáo dục bảo tàng được thể hiện ở những đặc điểm sau đây:

- Giáo dục trong bảo tàng không chỉ đơn thuần là tích lũy các yếu tố thông tin Thực tế quá trình học tập trong bảo tàng có đặc thù thông qua cảm giác và ấn tượng mà đem lại giá trị, nhận thức Khi xem hiện vật bảo tàng, người ta có cảm

Trang 34

giác về một cái gì đó có thực và mong muốn được hiểu biết nhiều hơn Các bảo tàng rất thành công bằng phương pháp học một cách sinh động, thu hút mọi người khám phá và phát hiện những cảm xúc mới Vai trò giáo dục của bảo tàng

có thể đạt được bằng nhiều cách nhưng có hai cách cơ bản và phổ biến nhất là các cuộc trưng bày và các chương trình giáo dục Mỗi phương pháp có thể có quy trình và kiểu thông tin riêng Trưng bày bảo tàng có thể giới thiệu thông tin một cách đại chúng, trong khi đó các chương trình giáo dục lại có thể thông tin đến từng cá nhân Giáo dục của bảo tàng là một hoạt động khoa học Mọi hoạt động giáo dục đều phải bắt đầu và dựa vào kết quả trưng bày, mỗi một trưng bày đều là một hay nhiều công trình nghiên cứu khoa học, được phản ánh qua việc lựa chọn bố cục và trình bày các hiện vật, các sưu tập hiện vật gốc và các tài liệu trưng bày Giáo dục của bảo tàng là một quá trình cung cấp cho người xem những thông tin, những tri thức mới một cách có hệ thống để bổ sung cho nhận thức hoặc mang đến cho họ những nhận thức mới về sự vật, hiện tượng hay những vấn đề về tự nhiên xã hội và con người, công việc ấy phải được thỏa mãn

cả trong hai trường hợp là có người hướng dẫn giới thiệu và không có người hướng dẫn giới thiệu Nói một cách khác là giáo dục của bảo tàng là một quy trình khoa học từ nghiên cứu, lựa chọn, tìm giải pháp, phương pháp thẩm mỹ, con đường tạo ra cảm thụ và ấn tượng đều phải dựa trên những căn cứ khoa học, phương pháp khoa học Do vậy có thể nói giáo dục của bảo tàng là một hoạt động khoa học có yếu tố đặc thù của bảo tàng, đó chính là phương pháp giáo dục

tự cảm nhận chủ động về nhận thức, định hướng cho tư duy khoa học, đời sống

xã hội, tự nhiên và con người

- Công tác giáo dục của bảo tàng có một đặc điểm rất cơ bản, khác lĩnh vực khác đó là trực quan sinh động Yếu tố trực quan sinh động trong giáo dục của bảo tàng là một yếu tố đủ và giàu tính sáng tạo Bảo tàng học phát huy yếu tố

Trang 35

này để giúp người xem trải nghiệm Bảo tàng là địa điểm mà khách tham quan

có những trải nghiệm diệu kỳ mà người ta không thể ngờ tới Sự trải nghiệm ấy mang tính giáo dục, mặc dù không phải mọi trải nghiệm đều xác thực và có cùng mức độ

- Công tác giáo dục của bảo tàng còn có đặc điểm khá riêng biệt nữa là yếu tố gợi mở Yếu tố gợi mở nhằm hai mục đích, một là khắc phục tính thụ động trong việc tiếp thu những thông tin hay những tri thức Điều này càng ngày càng trở nên rất quen thuộc trong thế giới hiện đại, khi trình độ dân trí đã cao, khi lượng thông tin ngày càng nhiều, đa dạng thì nhận thức của con người càng cao và không dễ gì chấp nhận khi những thông tin tri thức ấy chưa đầy đủ hoặc còn thiếu thuyết phục Công chúng đến bảo tàng để nghiên cứu, để bổ sung những vấn đề, những tri thức cần thiết hoặc thậm chí đến bảo tàng để tranh luận khoa học Mục đích thứ hai của công tác giáo dục là khuyến nghị mọi người cùng tham gia vào quá trình khai thác, khám phá các thông tin, các tri thức từ hiện vật bảo tàng

* Chức năng giải trí, thưởng thức: Từ trước tới nay quan niệm phổ biến

cho rằng “bảo tàng” là một cơ quan khoa học và giáo dục khoa học Ngày nay các bảo tàng “là nơi giải trí tích cực, chơi mà học, học mà lại chơi Vừa chơi vừa dung dưỡng tinh thần” [27, 24]

Trưng bày bảo tàng là một sản phẩm văn hóa đặc biệt Một sản phẩm văn hóa ngoài chức năng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội thông qua nghiên cứu và giáo dục thì sản phẩm văn hóa đó còn có nhiệm vụ càng ngày càng trở nên cần thiết là phục vụ nhu cầu giải trí và thưởng thức của con người

Để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ trên, cơ cấu tổ chức cơ bản của các bảo tàng bao giờ cũng có:

Trang 36

- Một Hội đồng khoa học chịu trách nhiệm giám sát và chỉ đạo mọi hoạt động nghiên cứu khoa học của Bảo tàng

- Các phòng chuyên môn nghiệp vụ: Nghiên cứu sưu tầm; Kiểm kê bảo quản; Trưng bày và Giáo dục bảo tàng

1.4.2 Vị trí, vai trò của bảo tàng trong giáo dục đạo đức cho học sinh

Giáo dục con người là nhiệm vụ chung của toàn xã hội Ở đây, vấn đề giáo dục nhìn một cách tổng thể tức là truyền đạt văn hóa mà các bảo tàng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, bởi vì bảo tàng có nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, xúc cảm thẩm mỹ cho công chúng nói chung và thế hệ trẻ nói riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “ Trưng bày khéo, giải thích rõ ràng thì mỗi bảo tàng sẽ trở thành một pho sử sống có giá trị giáo dục tư tưởng rất to lớn” Là một thiết chế văn hóa-giáo dục, bảo tàng có khả năng đóng góp một phần tích cực trong sự nghiệp giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục các giá trị truyền thống, đạo đức cho thế hệ trẻ tuổi học đường

Xét về góc độ quản lý và hoạt động, bảo tàng vừa là một thiết chế văn hóa

có tính đặc thù, lại là một cơ quan khoa học dưới góc độ tích lũy và hệ thống hóa tri thức Bảo tàng vừa có tính chuyên ngành sâu sắc lại vừa có tính xã hội rộng khắp Bảo tàng bao gồm tất cả các hoạt động có tính phổ quát trong ứng xử của con người đối với tự nhiên, xã hội và con người, nhưng bảo tàng lại có những chức năng xã hội riêng biệt, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đạo đức Với quan niệm trên, có thể nêu vai trò của bảo tàng đối với việc giáo dục tư tưởng, đạo đức cho thế hệ trẻ ở mấy điểm sau đây:

- Bảo tàng là kho báu lưu giữ và phát huy những di sản là giá trị truyền thống của quốc gia, dân tộc Lịch sử đã chứng minh sự tồn vong của mỗi quốc gia, dân tộc tùy thuộc rất lớn vào khả năng gìn giữ và phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống của mình Bởi vì, truyền thống là tất cả những giá trị tinh

Trang 37

thần được đúc rút lại trong suốt quá trình sống, lao động, sáng tạo của con người

từ thế hệ này sang thế hệ khác Bảo tàng đang lưu giữ trong tay mình những giá trị gốc về lịch sử và quá trình hình thành, phát triển của dân tộc Những giá trị gốc ấy là những chứng nhân lịch sử đảm bảo yếu tố chân thực và khách quan Khi tiếp cận đến bảo tàng, các em học sinh như tiếp cận cái đã qua, cái lịch sử Chính hiện vật bảo tàng đã nhắc nhở các em hướng về với cội nguồn, với lịch sử

Từ giáo dục truyền thống, các hiện vật bảo tàng nâng nhận thức về trách nhiệm phát huy giá trị văn hóa truyền thống - ví dụ một hiện vật văn hóa như nhạc cụ dân tộc chắc chắn sẽ nhắc nhở các em rằng một nền âm nhạc dân tộc đã trường tồn bằng chính những nhạc cụ này Hay đến với Bảo tàng Dân tộc học, các em được hiểu thêm nhiều điều mới mẻ mà ở trường các em không có điều kiện để tiếp cận Từ những công cụ lao động sản xuất, trang phục, tiếng nói, cách dựng nhà ở đến các phong tục tập quán và đời sống tâm linh đã gợi mở cho các

em những hiểu biết mới mẻ, lý thú, bổ ích và khiến các em gần gũi hơn với truyền thống văn hóa của dân tộc, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, thêm yêu quê hương đất nước, biết bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống trong sự hội nhập và giao lưu văn hóa thế giới Có như vậy, các em mới đủ vững vàng và bản lĩnh để trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước

- Các bảo tàng với tính chất tiêu biểu của nó là cơ quan giáo dục phổ thông có sức truyền cảm và tin cậy Bảo tàng giao tiếp với con người vượt qua những rào cản về ngôn ngữ, văn hóa, thời gian, và đưa ra sự so sánh nhằm khai sáng tri thức của bản thân mỗi con người Bằng ngôn ngữ của mình, bảo tàng khơi dậy ở con người tri thức về niềm tin và bản sắc, sự tôn trọng giữa người này với người khác Sự lưu giữ các hiện vật trong bảo tàng đã nói lên trước hết ý thức bảo tồn các giá trị lịch sử-văn hóa Tính nhân văn cao cả thể hiện qua chức năng bảo quản hiện vật thôi thúc chúng ta ý thức giữ gìn và chăm sóc các giá trị

Trang 38

“ra đi” từ trong lịch sử phát triển của xã hội Khi tiếp cận với bảo tàng, các em học sinh như muốn hòa đồng vào chúng, thảng hoặc như muốn chính mình là

“một nhân chứng” Các giá trị luân lý như nảy sinh từ đó Giáo dục các em bằng hiện vật bảo tàng trực quan chắc chắn sẽ hiệu quả hơn so với lời nói hoặc một câu chuyện kể

- Một vị thế giáo dục nữa của bảo tàng đối với các em thể hiện qua sự tác động đến ham thích khám phá của các em Ở đây chúng tôi muốn nói đến sự hình thành cảm nhận của các em về việc muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về truyền thống lịch sử - văn hóa - khoa học - nghệ thuật Hiện vật bảo tàng không chỉ tập trung sự quan tâm của các em đến một vấn đề gì đó mà chắc chắn qua chúng các

em lại muốn được tìm hiểu về vấn đề đó rộng hơn và sâu sắc hơn, vì một hiện vật lịch sử chẳng hạn thì không thể là lịch sử tất cả Một hiện vật lịch sử phản ánh một thời khắc hoặc một “dấu chấm” của lịch sử mà thôi Như vậy, nó không thể đáp ứng ngay được các thông tin đầy đủ về lịch sử Kết quả là, từ một hiện vật lịch sử, các em như muốn khám phá rộng hơn, muốn hiểu biết sâu hơn

Với nhiều hình thức tổ chức hoạt động đa dạng như: thuyết trình, chiếu phim, trình diễn, trưng bầy lưu đồng, nói chuyện chuyên đề, gặp gỡ nhân chứng, xây dựng các câu lạc bộ, phòng khám phá , công tác giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng ở Bảo tàng không tạo cho các em cảm giác nhàm chán, bị nhồi nhét, ép buộc Phong cách giáo dục của Bảo tàng là khuyến khích sự chủ động, tính năng động của các em để học hỏi, đối thoại và trải nghiệm, từ đó tự rút ra cho mình những kinh nghiệm và kiến thức mới Với phương cách giáo dục này, các em không tiếp thu các giá trị đạo đức một cách thụ động, bắt buộc mà các em có thể tự phát hiện ra, tự đánh giá và soi vào chính bản thân để rèn luyện

Trang 39

1.4.3 Nội dung, hình thức và biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh

- Nội dung tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh

a) Hình thành tổ chức lâm thời giữa bảo tàng và nhà trường tương ứng với mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh

Bảo tàng và trường THCS là hai đơn vị độc lập nhưng cùng hướng đến mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh Do vậy, khi cần thực hiện những nội dung giáo dục theo mục tiêu giáo dục xác định, cần thiết phải có bộ máy lâm thời để thực hiện sự phối hợp Tổ chức lâm thời được thành lập bằng 2 phương pháp sau:

Phương pháp tương tự

Phương pháp tương tự là một phương pháp thiết kế tổ chức mới bằng cách dựa vào một tổ chức đã có để mô phỏng những thành phần, bộ phận và mối liên

hệ cơ bản của tổ chức đó

Phương pháp này được thực hiện khi thỏa mãn các điều kiện:

- Tồn tại một tổ chức với cơ cấu và hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn

- Tổ chức mới hình thành và tổ chức hiện có phải đồng nhất về chức năng, nhiệm vụ

- Môi trường của tổ chức mới và tổ chức hiện có phải có nét tương đồng

Sử dụng phương pháp tương tự để hình thành tổ chức mới dựa trên tổ chức hiện có không có nghĩa là sự sao chép một cách máy móc tất cả các đặc điểm của

tổ chức hiện có từ cơ cấu lẫn các mối quan hệ và thứ bậc quyền lực của tổ chức

đó

Điều này có nghĩa, cần có sự phân tích để lựa chọn những đặc điểm cơ bản, chính yếu nhất của tổ chức hiện có mà nhờ nó, chức năng và nhiệm vụ của tổ chức

Trang 40

này được thực hiện Trên cơ sở đó, thay đổi, cải tiến hoặc sáng tạo những yếu tố khác để tổ chức mới có những sắc thái riêng và phù hợp với môi trường vận động của mình

Phương pháp tương tự là phương pháp hình thành tổ chức mới thuận tiện, nhanh và tiết kiệm về kinh phí

Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế ở sức sáng tạo nếu như các chủ thể quản lý không huy động và phát huy được trí tuệ của đội ngũ chuyên gia

Phương pháp phân tích yếu tố

Phương pháp phân tích yếu tố là một phương pháp hình thành tổ chức bằng cách lựa chọn và triển khai một cơ cấu phù hợp với chiến lược những điều

kiện môi trường tổ chức

Hình thành tổ chức theo phương pháp này là một quá trình đòi hỏi thời

gian và sự đầu tư trí tuệ cao Đó là một quá trình liên tục bởi vì chiến lược có thể

thay đổi, môi trường có thể thay đổi, và các hoạt động của tổ chức không phải bao giờ cũng đem lại kết quả và hiệu quả mong muốn

Lôgic của quá trình này được thể hiện qua hình 1.2

Nghiên cứu và dự báo các yếu tố ảnh hưởng lên cơ cấu tổ chức nhằm xác định

mô hình cơ cấu tổng quát

Chuyên môn hoá công việc

Xây dựng các bộ phận

Ngày đăng: 17/03/2015, 07:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo. Một số khái niệm về QLGD. Trường Cán bộ QLGD-Đào tạo TW1, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về QLGD
2. Đặng Quốc Bảo. Quản lý nhà trường: Từ một số góc nhìn tổ chức- sư phạm và kinh tế- xã hội. Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà trường: Từ một số góc nhìn tổ chức- sư phạm và kinh tế- xã hội
3. Nguyễn Ngọc Bảo-Hà Thị Đức. Hoạt động dạy học ở trường THCS. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động dạy học ở trường THCS
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
4. Các văn bản pháp luật hiện hành về giáo dục và đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật hiện hành về giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
5. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010. Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội , Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội
6. Phạm Khắc Chương , Giáo dục gia đình, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục gia đình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Phạm Khắc Chương, Thực trạng và một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THPT hiện nay, Tạp chí NCGD, Số 2/97,Trang 7,18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THPT hiện nay
8. Phạm Khắc Chương , Đạo đức học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Daniel Goleman; Trí tuệ xúc cảm; Nxb. Khoa học xã hội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ xúc cảm
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
10. Dự báo thế kỷ 21 , Nxb Thống kê, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo thế kỷ 21
Nhà XB: Nxb Thống kê
11. Đào Ngọc Dung, Hướng dẫn tổ chức vui chơi cho thiếu nhi tại cộng đồng, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức vui chơi cho thiếu nhi tại cộng đồng
Nhà XB: Nxb Thanh niên
12. Vũ Cao Đàm, Phương pháp nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
13. Phạm Văn Đồng , Giáo dục quốc sách hàng đầu tương lai của dân tộc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục quốc sách hàng đầu tương lai của dân tộc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14. Điều lệ trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường phổ thông
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15. Lê Văn Giang, Những vấn đề lý luận của Khoa học giáo dục, Nxb Quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận của Khoa học giáo dục
Nhà XB: Nxb Quốc gia
16. Giải pháp phối hợp các lực lượng xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh THCS hiện nay, Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phối hợp các lực lượng xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh THCS hiện nay
17. Giáo trình khoa học quản lý, tập I, Trường đại học Kinh tế quốc dõn. Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình khoa học quản lý
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật
18. Phạm Minh Hạc, Giáo dục nhân cách, đào tạo nhân lực, Nxb Giáo dục quốc gia Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục nhân cách, đào tạo nhân lực
Nhà XB: Nxb Giáo dục quốc gia Hà Nội
19. Hà Sĩ Hồ. Những bài giảng về quản lý trường học. Nhà xuất bản Giỏo dục, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về quản lý trường học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giỏo dục
20. Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê, Giáo dục đại cương, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại cương
Nhà XB: Nxb Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Những hành vi vi phạm đạo đức của học sinh trung học cơ sở - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
Bảng 2.1 Những hành vi vi phạm đạo đức của học sinh trung học cơ sở (Trang 58)
Bảng 2.2: Nội dung các phẩm chất đạo đức đƣợc quan tâm giáo dục - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
Bảng 2.2 Nội dung các phẩm chất đạo đức đƣợc quan tâm giáo dục (Trang 61)
Bảng 2.4: Các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THCS - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
Bảng 2.4 Các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THCS (Trang 65)
Bảng 2.5: Mẫu khảo sát thực trạng tổ chức phối hợp giữa các bảo tàng với  các trường THCS nội thành Hà Nội trong  giáo dục đạo đức cho học sinh - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
Bảng 2.5 Mẫu khảo sát thực trạng tổ chức phối hợp giữa các bảo tàng với các trường THCS nội thành Hà Nội trong giáo dục đạo đức cho học sinh (Trang 66)
Bảng 2.6: Nhận thức của các đối tƣợng về ý nghĩa của sự phối hợp - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
Bảng 2.6 Nhận thức của các đối tƣợng về ý nghĩa của sự phối hợp (Trang 67)
Hình 2.2: Biểu đồ thể hiện nhận thức của các đối tƣợng về vai trò trách nhiệm  của nhà trường gia đình và bảo tàng trong giáo dục đạo đức cho học sinh - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện nhận thức của các đối tƣợng về vai trò trách nhiệm của nhà trường gia đình và bảo tàng trong giáo dục đạo đức cho học sinh (Trang 69)
Bảng 2.8: Lý do của sự phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
Bảng 2.8 Lý do của sự phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường (Trang 70)
Hình  thành  tổ  chức  lâm  thời  giữa  bảo  tàng  và  nhà  tr-ờng - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
nh thành tổ chức lâm thời giữa bảo tàng và nhà tr-ờng (Trang 74)
Bảng 2.12: Đánh giá hiệu quả của các biện pháp tổ chức phối hợp  giữa bảo tàng và trường THCS trong giáo dục đạo đức cho học sinh - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
Bảng 2.12 Đánh giá hiệu quả của các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và trường THCS trong giáo dục đạo đức cho học sinh (Trang 82)
Hình 3.1: Mô hình phối hợp giữa bào tàng và trường THCS - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
Hình 3.1 Mô hình phối hợp giữa bào tàng và trường THCS (Trang 98)
Bảng 3.1: Đối tƣợng khảo nghiệm - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
Bảng 3.1 Đối tƣợng khảo nghiệm (Trang 102)
Hình 3.2: Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
Hình 3.2 Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết (Trang 103)
1  Hình  thành  tổ  chức  lâm  thời  giữa  bảo  tàng  và  nhà  tr-ờng - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
1 Hình thành tổ chức lâm thời giữa bảo tàng và nhà tr-ờng (Trang 130)
Hình thức: Học bổng hỗ trợ, phần thưởng thi đua... - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
Hình th ức: Học bổng hỗ trợ, phần thưởng thi đua (Trang 131)
3  Hình thức tổ chức phối hơp giữa bảo tàng và - Các biện pháp tổ chức phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở nội thành Hà Nội
3 Hình thức tổ chức phối hơp giữa bảo tàng và (Trang 132)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w