ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM HOÀNG HỒNG TRANG NHỮNG BIỆN PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC PHÒNG, BAN CHỨC NĂNG CỦA VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN GIÁ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
HOÀNG HỒNG TRANG
NHỮNG BIỆN PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC PHÒNG, BAN CHỨC NĂNG CỦA VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2006
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
HOÀNG HỒNG TRANG
NHỮNG BIỆN PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC PHÒNG, BAN CHỨC NĂNG CỦA VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ : 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học : TS PHẠM VIẾT NHỤ
HÀ NỘI, 2006
Trang 3Mục lục
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Khách thể và đối t-ợng nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học của đề tài 4
6 Ph-ơng pháp nghiên cứu 4
7 Phạm vi nghiên cứu 5
8 Cấu trúc luận văn: 5
Ch-ơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý và xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý 6
1.1 Vài nét tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Khái niệm về quản lý và quản lý giáo dục 7
1.2.1 Khái niệm về quản lý 7
1.2.2 Khái niệm về biện pháp 11
1.2.3 Khái niệm về quản lý giáo dục 12
1.2.4 Khái niệm về chức năng và phòng ban chức năng 14
1.3 Khái niệm và yêu cầu về đội ngũ cán bộ quản lý 15
1.3.1 Khái niệm về cán bộ quản lý 15
1.3.2 Khái niệm về đội ngũ 17
1.3.3 Những yêu cầu về xây dựng đội ngũ cán bộ trong giai đoạn hiện nay 18
1.3.4 Những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của cán bộ quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay 22
1.3.5 Những yêu cầu đối với đội ngũ CBQL các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 26
1.4 Những yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay 27
1.4.1 Những yêu cầu về phát triển giáo dục đại học 27
1.4.2 Những yêu cầu đổi mới giáo dục đại học 30
1.4.3 Xu h-ớng phát triển giáo dục mở 33
Trang 4Ch-ơng 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức
năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 36
2.1 Khái quát chung về Viện Đại học Mở Hà Nội 36
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Viện Đại học Mở Hà Nội 36
2.1.2 Cơ cấu, bộ máy quản lý của Viện Đại học Mở Hà Nội 39
2.1.3 Giáo dục đại học của Viện Đại học Mở Hà Nội 41
2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng ban, chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 46
2.2.1 Số l-ợng đội ngũ cán bộ quản lý tại các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 46
2.2.2 Chất l-ợng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 49
2.2.3 Cơ cấu của đội ngũ CBQL của Viện Đại học Mở Hà Nội 54
2.3 Nhận định, đánh giá chung về đội ngũ CBQL tại các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 57
2.3.1 Nhận định và đánh giá chung 57
2.3.2 Những yêu cầu đặt ra trong xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 64
2.4 Nhận xét tổng quan về đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 66
Ch-ơng 3: Những biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay 69
3.1 Những căn cứ và định h-ớng đề xuất các biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 69
3.1.1 Những căn cứ đề xuất các biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 69
3.1.2 Định h-ớng của các biện pháp 81
3.1.3 Quan điểm của việc đề xuất các biện pháp 81
Trang 53.1.4 Mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của
Viện Đại học Mở Hà Nội 82
3.2 Những biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội đến năm 2010 83
3.2.1 Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 83
3.2.2 Tăng c-ờng công tác đào tạo, bồi d-ỡng nâng cao trình độ và năng lực đội ngũ cán bộ quản lý tại các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 87
3.2.3 Đổi mới công tác tuyển dụng, sử dụng và đề bạt đối với cán bộ quản lý 91
3.2.4 Kiểm tra, đánh giá và thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý tại các phòng, ban chức năng ở Viện Đại học Mở Hà Nội 94
3.3 Khảo sát mức độ thiết thực và tính khả thi của các biện pháp 97
Kết luận và KHUYếN nghị 102
1 Kết luận 102
2 Khuyến nghị 103
2.1 Với Bộ Nội vụ 103
2.2 Với Bộ Giáo dục và Đào tạo 103
2.3 Đối với Viện Đại học Mở Hà Nội 104
Danh mục Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6HTVĐTQT : Hợp tác và Đào tạo quốc tế
NCPTĐTTX : Nghiên cứu phát triển đào tạo từ xa PTĐTTX : Phát triển đào tạo từ xa
TC-HC : Tổ chức – Hành chính
CTCT và SV : Công tác chính trị và sinh viên
NCKH và HTQT : Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý 10
Sơ đồ1 2: Quá trình quản lý 11
Sơ đồ 2.1 : Hệ thống tổ chức và quan hệ phối hợp về đào tạo từ xa của Viện Đại học Mở Hà Nội 38
Sơ đồ 2.2 : Các Phòng, Ban, Trung tâm của Viện Đại học Mở Hà Nội 40
Sơ đồ 2.3: Các khoa chuyên ngành của Viện Đại học Mở Hà Nội 41
Danh mục các bảng
Bảng 2.1: Thống kê số lượng sinh viên đại học hệ chính quy các năm từ 2004 đến 2006 42Bảng 2.2: Thống kê số lượng sinh viên đại học hệ từ xa các năm từ 2004 đến
2006 42Bảng 2 3: Số lượng CBQL và cán bộ chuyên môn các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 46Bảng 2 4: Thống kê số lượng cán bộ quản lý kiêm nhiệm của Viện Đại học
Mở Hà Nội 47Bảng 2.5: Khả năng sử dụng máy vi tính và khai thác internet của CBQL các phòng, ban chức năng tại Viện Đại học Mở Hà Nội 51Bảng 2 6: Cơ cấu về giới tính của đội ngũ cán bộ quản lý tại các phòng ban chức năng 54Bảng 2 7: Bảng thống kê về thâm niên công tác của cán bộ quản lý tại các
Trang 8Bảng 2 8: Bảng tổng hợp kết quả trưng cầu ý kiến đánh giá năng lực lãnh đạo và quản lý của đội ngũ CBQL các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 60Bảng 3.1: Kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ của Viện Đại học Mở Hà Nội năm 2006- 2010 72Bảng 3.2: Kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ sau đại học của Viện Đại học Mở Hà Nội từ năm 2006 đến năm 2010 74Bảng 3.3: Kế hoạch phát triển đội ngũ CBQL có trình độ sau đại học của Viện Đại học Mở Hà Nội từ 2006- 2010 76Bảng 3.4: Đánh giá về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp xây dựng đội ngũ CBQL tại các phòng, ban chức năngcủa Viện Đại học Mở Hà Nội (Dùng cho cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý) 98
Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Năng lực lãnh đạo và quản lý của đội ngũ CBQL các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội 61Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ cán bộ giảng dạy có trình độ sau đại học 74Biểu đồ 3.2: Kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý của Nhà trường 77Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ đánh giá tính rất cần thiết và rất khả thi của 4 biện pháp 99Biểu đồ3.4: Mức độ cần thiết của các biện pháp 101Biểu đồ3.5: Tính khả thi của các biện pháp 101
Trang 9"Tuy nhiên, những thành tựu nói trên của giáo dục đại học chưa vững chắc, chưa mang tính hệ thống và cơ bản, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước, nhu cầu học tập của nhân dân và yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới"
Trong mục tiêu phát triển giáo dục đại học có những chỉ tiêu cần đạt:
- "Mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỷ lệ 200 sinh viên/1 vạn dân vào năm
2010 và 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2020"
- "Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) đại học đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lí tiên tiến"
"Để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới, giáo dục đại học nước ta phải đổi mới một cách mạnh mẽ, cơ bản và toàn diện"
Và để phát triển giáo dục đại học một cách toàn diện, yếu tố cơ bản và
có tính quyết định là đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Vì vậy, Chỉ
Trang 10rõ: "Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và hiệu quả
sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước"
1.2 Lý do chủ quan
Từ khi bắt đầu công cuộc mới giáo dục trong sự nghiệp đổi mới chung của đất nước, vấn đề xã hội hoá giáo dục, đa dạng hoá loại hình và phương thức giáo dục - đào tạo được đặc biệt coi trọng và trở thành nét nổi bật trong
sự nghiệp giáo dục - đào tạo Trong bối cảnh đó, mô hình "Giáo dục mở"
chính thức được áp dụng ở nước ta với sự ra đời của Viện Đại học Mở Hà Nội được thành lập theo quyết định số 535/TTg ngày 3/11/1993 của Thủ tướng Chính phủ với sứ mạng: "Mở rộng cơ hội học tập cho nhiều người bằng cách
đa dạng hoá chương trình đào tạo, đa dạng hoá loại hình đào tạo (đặc biệt chú trọng loại hình đào tạo từ xa) trên cơ sở áp dụng tổng hợp các phương tiện kỹ thuật in ấn và truyền thông hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, tăng tiềm lực khoa học - công nghệ cho đất nước"
Quyết định số 164/2005/QĐ-TTg ngày 04/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Phát triển giáo dục từ xa giai đoạn 2005-2010" đã ghi :
"Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục từ xa, nhất là Viện Đại học Mở Hà Nội… để tập trung đầu tư, nâng cao năng lực đào tạo từ xa"
Hệ thống tổ chức đào tạo của Viện Đại học Mở Hà Nội hiện nay bao gồm:
- 8 Khoa đào tạo 16 ngành học
Trang 11- Các phòng ban chức năng phục vụ quản lý đào tạo: Có 9 phòng, ban, trung tâm chức năng với những chức năng và nhiệm vụ cụ thể
- Ngoài ra để phục vụ cho đào tạo từ xa, có trên 40 trạm trong hệ thống mạng lưới đào tạo của Viện đặt tại các tỉnh và thành phố trong cả nước
Với đặc điểm là một cơ sở giáo dục đại học nhưng phương thức đào tạo
"mở" là chủ yếu, vì vậy đội ngũ cán bộ của Viện cũng có những đặc điểm riêng
- Đội ngũ giảng viên được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, trong
đó giảng viên kiêm nhiệm (từ cán bộ quản lý) và thỉnh giảng là chủ yếu
- Đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban, trung tâm chức năng của Viện giữ vai trò rất quan trọng: sự tồn tại, phát triển của Viện (cũng là phương thức giáo dục mở) phụ thuộc vào (chất lượng, số lượng) của đội ngũ này Đội ngũ này vừa làm nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo Viện về qui hoạch, về chính sách phát triển, nhưng đồng thời lại có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các quy hoạch và chính sách đó
Do đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ quản lí các phòng, ban trung tâm của Viện Đại học Mở Hà Nội là việc làm vô cùng cần thiết
Từ những lý do khách quan và chủ quan nêu trên, chúng tôi chọn đề tài:
"Những biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay" để làm luận văn tốt nghiệp, đồng thời mong được
đóng góp một phần tâm huyết nhỏ bé của mình để Đảng ủy và Ban Giám hiệu Viện Đại học Mở Hà Nội xem xét trong công tác tổ chức và xây dựng cán bộ
của Viện
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất một số biện pháp
Trang 12Viện Đại học Mở Hà Nội phù hợp với sự phát triển của Viện nhằm đáp ứng
yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục đại học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu khái quát một số vấn đề lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường đại học, lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý 3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng ban chức năng và công tác cán bộ của Viện Đại học Mở Hà Nội
3.3 Đề xuất những biện pháp cơ bản nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các phòng ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng và công tác tổ chức
cán bộ của Viện Đại học Mở Hà Nội
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Những biện pháp cơ bản xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng
ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội
5 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu có các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý hữu hiệu thì sẽ nâng cao được chất lượng của công tác quản lý giáo dục, góp phần phát triển giáo dục đại học đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực có chất
lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu khoa học; các văn bản có liên quan đến công tác quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường đại học cũng như về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý
Trang 136.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Tổng hợp tình hình thực tiễn về quản lí giáo dục đại học, về xây dựng và phát triển đội ngũ của Viện Đại học Mở Hà Nội Sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp khảo sát
6.3 Nhóm các phương pháp bổ trợ:
Sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp mô hình hoá
7 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu và khảo sát đội ngũ cán bộ tại các phòng ban chức năng
thuộc Viện Đại học Mở Hà Nội
8 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Danh mục, Tài liệu tham khảo, Phụ lục luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý và xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý Chương 2: Thực trạng về đội ngũ cán bộ quản lý và công tác xây dựng đội
ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội
Chương 3: Những biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các
phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
1.1 Vài nét tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xây dựng đội ngũ cán bộ là một vấn đề được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Nhiều luận văn thạc sỹ đã nghiên cứu vấn đề này:
- Một số giải pháp nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội - Đặng Văn Trường, 1999
- Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ nữ ở Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Vũ Thị Xuân Mai, 2000
- Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường Sỹ quan chỉ huy Kỹ thuật thông tin - Lê Đình Hùng, 2000
- Những giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường Văn hoá nghệ thuật Khánh Hoà - Nguyễn Thị Kiều Linh, 2000
- Các giải pháp chủ yếu phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học sư phạm Vinh trong giai đoạn mới - Phạm Công Lý, 2001
- Các giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên trường phổ thông vùng cao Việt Bắc trong giai đoạn mới - Nguyễn Trường Sơn, 2002
- Những biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng Kinh tế Vinh - La Ngọc Viện, 2002
- Những giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng sư phạm Hoà Bình trong giai đoạn 2006 -2010 - Nguyễn Thị Lệ Hường, 2006
Điều này cho thấy, để đáp ứng được nhu cầu phát triển chung của ngành giáo dục hiện nay thì vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ là một vấn đề vô cùng quan trọng Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu là
Trang 15xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý (phổ thông, đại học, chuyên nghiệp) và đội ngũ giảng viên còn đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng thì còn rất ít, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng tại Viện Đại học Mở Hà Nội thì chưa có đề tài nào nghiên cứu Chính vì vậy, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng quý báu về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ mà các đề tài đi trước đã đề cập đến chúng tôi chọn đề tài: “ Những biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu với mong mỏi tìm ra được những biện pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội ngày một tốt hơn
1.2 Khái niệm về quản lý và quản lý giáo dục
1.2.1 Khái niệm về quản lý
Có nhiều quan niệm về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau Quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã định
Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ có không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:
Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những
Trang 16mục tiêu chung
Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của một nhóm người, một tổ chức
Quản lý là một nghệ thuật, qua đó đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác…
Theo C Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn thể sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi
vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” [31]
Như vậy, đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức, điều khiển các hoạt động của con người theo những yêu cầu nhất định - được gọi là hoạt động quản lý Từ đó có thể nhận thấy lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau, quản lý là hoạt động điều khiển lao động chung Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất thì trình độ tổ chức, điều hành tất yếu cũng được nâng lên, phát triển theo những đòi hỏi ngày càng cao hơn Khi lao động xã hội đạt đến một trình độ và quy mô phát triển nhất định thì sự phân công công việc tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một dạng hoạt động đặc biệt, sẽ hình thành một bộ phận lao động trực tiếp và một bộ phận chuyên hoạt động quản lý, tạo thành một mối quan hệ trong quản lý Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, quản lý đã trở thành một khoa học và ngày càng phát triển toàn diện
Theo Harold Koontz (người Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích
Trang 17của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong
đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”[28]
Quản lý là cách thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung Vì vậy, nhiệm
vụ của quản lý là biến đổi mối quan hệ trên thành những yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu Ở khía cạnh này, quản lý là một nghệ thuật Đó là “bí quyết” làm việc với con người,
bí quyết sắp xếp các nguồn lực của tổ chức, là sự sáng tạo khi đối phó với những tình huống khác nhau trong hoạt động của tổ chức
Tuy nhiên, các bí quyết đó chỉ có thể được khám phá trên sự đúc kết kinh nghiệm thực tế Các nhà quản lý chỉ có thể thực hiện sứ mệnh của mình tốt hơn khi vận dụng những kinh nghiệm đã được đúc kết, khái quát hoá thành những nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản lý cần thiết Đó chính là khoa học, khoa học quản lý Vì thế, quản lý vừa là nghệ thuật nhưng lại vừa là khoa học
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế v.v bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự
phát triển của đối tượng”[ 25]
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”[6]
Theo Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ
Trang 18đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối
cùng, phục vụ lợi ích của con người”[6]
Hoạt động quản lý có thể được miêu tả qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý
Người quản lý phải thực hiện 4 nhóm chức năng: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
- Chức năng kế hoạch hoá: Đưa mọi hoạt động của nhà trường vào công tác kế hoạch với mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác định cụ thể các điều kiện để thực hiện mục tiêu
- Chức năng tổ chức: Hình thành và phát triển tổ chức tương xứng với nhiệm vụ, mục tiêu dài hạn hoặc ngắn hạn
- Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, động viên, thúc đẩy, giám sát, điều chỉnh
và phối hợp các lực lượng trong Nhà trường tích cực hăng hái và chủ động làm việc theo sự phân công và kế hoạch đã định
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra, xem xét tình hình thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có sự đánh giá đúng Kiểm tra thực chất là quá trình
Công cụ quản lý
Chủ thể quản
lý
Khách thể quản lý
Phương pháp quản lý
Mục tiêu quản lý
Trang 19thiết lập mối liên hệ nghịch trong quản lý giúp chủ thể quản lý điều khiển tối
ưu hệ thống quản lý của mình
Ngoài 4 chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lý còn có một
chức năng quan trọng là: thông tin quản lý
Thông tin quản lý là nguồn lực của tổ chức, là căn cứ để ra các quyết định quản lý, là yếu tố quan trọng đảm bảo cho kết quả của quyết định quản lý… Thông tin là yếu tố cơ bản và đầu tiên để thực hiện các chức năng quản
lý Vì vậy, trong các chức năng quản lý, thông tin là chức năng trung tâm Các chức năng quản lý có quan hệ mật thiết với nhau và tạo thành chu trình quản
lý Chu trình quản lý có thể được mô tả như sơ đồ 2
Sơ đồ 1.2: Quá trình quản lý
1.2.2 Khái niệm về biện pháp
Theo từ điển tiếng Việt [14]: Biện pháp là cách hành động, lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích
Theo từ điển từ và ngữ tiếng Việt của tác giả Nguyễn Lân thì biện pháp là: Cách thức giải quyết một vấn đề hoặc thực hiện một chủ trương
Thông tin quản lý
Chỉ đạo
Tổ chức Kiểm tra
Lập kế hoạch
Trang 201.2.3 Khái niệm về quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm quản lý giáo dục như sau:
Theo M.I Kônzacôvi: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát
triển thể lực và tâm lý trẻ em”[29]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các chính sách của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [32]
Quản lý giáo dục là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn bộ hoạt của giáo dục, nhằm thúc đẩy giáo dục phát triển theo mục tiêu mà Đảng
và Nhà nước đã xác định
Quản lý giáo dục được biểu hiện thông qua quản lý mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ, dạy và học, quản lý đội ngũ cán bộ giảng dạy, quản lý người học và chất lượng giáo dục - đào tạo…
Theo C Mác và Ănghen: “Một quy luật của tiến bộ xã hội là thế hệ sau phải lĩnh hội cả những kinh nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích luỹ
và truyền lại, đồng thời phải làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó”
Trang 21Thực hiện quy luật này là chức năng của giáo dục nói chung và quản lý giáo dục nói riêng Quản lý giáo dục có hai chức năng là [31]:
- Ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế - xã hội
- Đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh tế-xã hội Chính vì vậy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành các nhà trường
để giáo dục, vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế
Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp, phương pháp nhằm đảm bảo cho sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng
Từ những khái niệm về quản lý giáo dục và đặc trưng của quản lý giáo dục nêu trên, có thể khái quát về quản lý giáo dục như sau:
- Quản lý giáo dục là tổ chức, điều hành phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm thúc đẩy công tác giáo dục thế hệ trẻ theo đúng nguyên lý giáo dục, đúng mục tiêu đào tạo và phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội
- Quản lý giáo dục với đặc trưng cơ bản là quản lý con người nên đòi hỏi tính khoa học và tính nghệ thuật cao trong quá trình quản lý Hiệu quả của quản lý giáo dục được đo bằng kết quả thực hiện các mục tiêu quản lý, trong
đó mục tiêu giáo dục là cơ bản Hệ thống mục tiêu quản lý giáo dục được xác định là [32]:
+ Đảm bảo quyền học sinh vào các lớp học, cấp học, các ngành học đúng tiêu chuẩn và chỉ tiêu
+ Đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo
+ Phát triển tập thể sư phạm: Đủ và đồng bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đời sống
Trang 22+ Xây dựng, sử dụng bảo quản tốt cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho dạy và học
+ Xây dựng và hoàn thiện các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, quần chúng nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo
+ Phát triển và hoàn thiện các mối quan hệ gia đình và xã hội để làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ, để thực hiện các mục tiêu đề ra đảm bảo sự ổn định và phát triển của hệ thống Giáo dục và Quản lý giáo dục
1.2.4 Khái niệm về chức năng và phòng ban chức năng
1.2.4.1 Khái niệm về chức năng : Theo từ điển Bách khoa thì chức năng là
"Kết quả đối với một hệ thống xã hội của một hiện tượng, sự kiện, yếu tố, thể chế xã hội có tác dụng góp phần vào sự vận hành , sự duy trì hệ thống xã hội đó" [15]
Theo từ điển tiếng Việt thì chức năng: “Toàn thể những việc thường xuyên mà một đoàn thể, một tổ chức, một cá nhân thực hiện vì nhiệm vụ của mình để giữ vai trò trong xã hội” [14]
2 Đứng đầu các phòng là Trưởng phòng do Hiệu trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm Giúp việc Trưởng phòng có các Phó trưởng phòng do Hiệu trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Trưởng phòng Tuổi khi bổ nhiệm
Trang 23Trưởng phòng và Phó trưởng phòng không quá 55 tuổi đối với nam và 50 đối với nữ Nhiệm kỳ của Trưởng phòng, Phó trưởng phòng theo nhiệm kỳ của Hiệu trưởng và có thể được bổ nhiệm lại Trong trường hợp cần thiết Hiệu trưởng có thế lấy phiếu tín nhiệm đối với Trưởng phòng
Ngoài phòng, ban chức năng trong luận văn, chúng tôi còn mở rộng thêm đến các Trung tâm vì các Trung tâm tại Viện Đại học Mở Hà Nội ngoài các chức năng quản lý còn có các hoạt động mang tính hành chính
1.3 Khái niệm và yêu cầu về đội ngũ cán bộ quản lý
1.3.1 Khái niệm về cán bộ quản lý
1.3.1.1 Khái niệm về cán bộ quản lý [5] :
Cán bộ quản lý (CBQL) là các cá nhân thực hiện những chức năng và nhiệm vụ quản lý nhất định của bộ máy quản lý
Mỗi CBQL nhận trách nhiệm trong bộ máy quản lý bằng một trong hai hình thức : tuyển cử và bổ nhiệm
1.3.3.2 Phân loại CBQL :
Phân loại CBQL nhằm mục đích bố trí, sử dụng hợp lí và có biện pháp nâng cao trình độ cho cán bộ Tuỳ theo tiêu thức và mục đích có thể phân loại một cách tương đối như sau [5] :
- Cán bộ lãnh đạo là người đứng đầu một tổ chức, có quyền ra quyết định, tổ chức thực hiện các quyết định quản lý và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Hoạt động của cán bộ lãnh đạo là giải quyết những vấn đề chung đảm bảo cho sự phát triển của cả hệ thống
- Cán bộ chuyên môn – chuyên gia là những người có trình độ chuyên sâu về một lĩnh vực chuyên môn nào đó, tham gia hoạt động trong bộ máy quản lý Họ có nhiệm vụ soạn thảo các quyết định quản lý và chịu trách nhiệm về mặt chuyên môn
Trang 24- Nhân viên nghiệp vụ là bộ phận cấu thành của đội ngũ cán bộ quản lý
ở mọi cấp, mọi khâu khác nhau Họ là những người tinh thông nghiệp vụ với nhiệm vụ chủ yếu là hoạt động tác nghiệp chuẩn bị các thông tin đầy đủ, chính xác cho các chuyên gia và cán bộ lãnh đạo trong việc ra các quyết định quản lý
Ngoài ra, người ta cũng có thể chia làm ba loại : cán bộ cấp cao (cấp chiến lược), cán bộ cấp trung gian (cấp chiến thuật) và cán bộ cấp cơ sở (cấp tác nghiệp)
Nội hàm khái niệm cán bộ quản lý và cán bộ lãnh đạo có những điểm giống nhau: cả cán bộ quản lý và cán bộ lãnh đạo đều là chủ thể ra quyết định, điều khiển hoạt động của tổ chức; người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện chức năng quản lý và cán bộ quản lý cũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo nên khó có thể phân biệt rạch ròi đâu là người lãnh đạo, đâu là người quản lý Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và quản lý không hoàn toàn đồng nhất với nhau Trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hướng cho
khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách, “làm
thức tỉnh” hành vi của đối tượng, định hướng hoạt động của đối tượng và xã
hội Còn hoạt động quản lý mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế có tính pháp lệnh được quy định từ trước
Cán bộ quản lý còn được hiểu với nghĩa tương đương như thuật ngữ Manager tiếng Anh, đó là người điều hành, nhà quản lý Họ là những người
có chức trách và nhiệm vụ điều khiển, tổ chức và phối hợp thực hiện hoạt động chuyên môn trong một khâu, một công đoạn, một chương trình, dự án… Cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) "người làm công việc lãnh đạo, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục từ bộ, cục, vụ, viện ở trung ương đến các sở, phòng, ban, cơ sở giáo dục thuộc ngành giáo dục và đào tạo" [24]
Trang 25Trong đó, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong bộ máy vận hành của hệ thống Giáo dục
Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là một trong những điều kiện
cơ bản để đổi mới sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo Do đặc trưng của ngành Giáo dục và Đào tạo nên đội ngũ cán bộ quản lý có thể được phân thành:
- Cán bộ quản lý trường học, cơ sở giáo dục - đào tạo là đội ngũ cán bộ điều hành, thực hiện quá trình giáo dục trong các trường học, cơ sở giáo dục - đào tạo
- Cán bộ quản lý của các cấp quản lý giáo dục từ cơ quan Bộ đến Sở và Phòng giáo dục (quận – huyện) là đội ngũ cán bộ quản lý tham gia hoạch định chính sách vĩ mô về giáo dục đào tạo của ngành cụ thể hoá thực thi chính sách giáo dục - đào tạo
1.3.2 Khái niệm về đội ngũ
Theo Từ điển Tiếng Việt từ : “đội ngũ” có nghĩa là : “Tập hợp một số
lượng người được sắp xếp theo thứ tự” [14] Hay theo Từ điển Tiếng Việt phổ
thông thì “đội ngũ” được hiểu là: “Tập hợp gồm một số đông người cùng
chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng” (NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2005)
Ngày nay khái niệm về đội ngũ được sử dụng một cách rộng rãi để chỉ một tập hợp người có cùng chức năng như “đội ngũ cán bộ”, “đội ngũ trí thức”, “đội ngũ giáo viên”, v.v là những người cùng chức năng, thực hiện những nhiệm vụ giống nhau nhưng lại làm thành “một lực lượng”, nghĩa là có
tổ chức, tạo thành một hệ thống Bởi vậy, đội ngũ là một hệ thống được cấu thành bởi các thành tố :
- Một tập thể người
- Cùng chung một chức năng
Trang 26- Làm việc theo kế hoạch
- Gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất hoặc tinh thần
Xem xét chất lượng một đội ngũ nói chung và đội CBQL, thông thường người ta xem xét ở 3 yếu tố tạo thành :
Xét trên tổng thể, hoạt động quản lý là sự tiếp nối của hoạt động lãnh đạo,
là khâu tất yếu để thực hiện sự lãnh đạo Sự phân biệt này chỉ là tương đối nhưng lại rất cần thiết cho công tác tổ chức cán bộ, làm cơ sở cho việc xác định tiêu chuẩn, chức năng của người cán bộ lãnh đạo, bộ máy quản lý; tránh sự trùng lặp, chồng chéo lên nhau giữa cơ quan quản lý và và cơ quan lãnh đạo
1.3.3 Những yêu cầu về xây dựng đội ngũ cán bộ trong giai đoạn hiện nay
Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương khoá VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của Đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dày công đào tạo, huấn luyện, xây dựng được một đội ngũ cán bộ tận tuỵ, kiên cường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ qua các giai đoạn cách mạng”
Nghị quyết đã chỉ rõ: “Mọi cán bộ công chức phải có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn và năng lực hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng đạo đức cách mạng”
Trang 27Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức, coi trọng cả năng lực và đạo đức; đảm bảo tính nghiêm túc, trung thực trong thi tuyển cán
bộ công chức Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, về đường lối, chính sách, về kiến thức và kỹ năng quản
lý hành chính nhà nước Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức yếu kém và thoái hoá Tăng cường cán bộ cho cơ sở Như vậy, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ là rất rõ ràng, đó là: “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực”
Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hành Trung ương khoá VIII cũng đã nêu rõ nhiệm vụ của công tác cán bộ là: “Tiếp tục đổi mới cán
bộ và công tác cán bộ, rà soát, sắp xếp, sử dụng tốt đội ngũ cán bộ hiện có; khẩn trương đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, sớm hình thành đội ngũ cán bộ kế cận có phẩm chất và năng lực …”
Chất lượng cán bộ phản ánh toàn bộ chất lượng cao hay thấp, tốt hay kém của công tác cán bộ Nếu như tất cả các khâu: phát hiện, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, cân nhắc, đề bạt, bố trí công việc, kiểm tra, theo dõi, giúp đỡ đều làm tốt thì nhất định ta sẽ có đội ngũ cán bộ chất lượng tốt Chỉ cần một trong những khâu đó bị xem nhẹ, làm không đến nơi đến chốn sẽ khiến cho chất lượng đội ngũ cán bộ kém đi rất nhiều Mặt khác, cho dù sự quyết tâm của tổ chức, của tập thể có tốt, có chu đáo đến đâu cũng không thể thay thế cho sự sự phấn đấu nỗ lực của từng cá nhân người cán bộ
Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức [10], công tác xây dựng cán bộ gồm
11 nhiệm vụ , luận văn này chủ yếu đề cập đến 7 nhiệm vụ sau:
1 Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ công chức, viên chức
2 Quy định tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức
3 Ban hành quy chế tuyển dụng, nâng ngạch; chế độ thử việc
Trang 285 Đánh giá công chức, viên chức
6 Thanh tra, kiểm tra việc thi hành các quy định của pháp luật về công chức, viên chức
7 Chỉ đạo, tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức, viên chức
Về công tác lập quy hoạch, kế hoạch và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ, viên chức tại Điều 34 của Pháp lệnh cán bộ, công chức cũng quy định rõ như sau [10] :
a Cơ quan có thẩm quyền quản lý viên chức có trách nhiệm xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao trình độ, năng lực của viên chức
b Đơn vị sử dụng viên chức phải tạo điều kiện để viên chức được tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực theo tiêu chuẩn chức danh chuyên môn nghiệp vụ của ngạch viên chức và theo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng Trong Pháp lệnh cán bộ công chức Chương II, Mục 3 Đào tạo, bồi dưỡng:
Điều 25 Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức có
trách nhiệm xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng
để tạo nguồn và nâng cao trình độ, năng lực của cán bộ, công chức
Điều 26 Việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức phải được căn cứ
vào quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn đối với từng chức vụ, tiêu chuẩn nghiệp
Trang 291 Đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, cập nhật đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước…
2 Đào tạo bồi dưỡng kiến thức về hành chính Nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ vững mạnh, tăng cường khả năng thích ứng trước yêu cầu của nhiệm vụ mới
3 Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về kinh tế thị trường và vai trò của Nhà nước trong cơ chế mới
4 Đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức quản lý các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp…
5 Đào tạo bồi dưỡng về ngoại ngữ
6 Trang bị những kiến thức cơ bản về tin học, sử dụng công nghệ thông tin
Để làm tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải có những chủ trương, chính sách đúng đắn
Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải có cơ chế và chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài Thực hiện đúng đắn nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ nữ và cán bộ dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên
cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu; có phương pháp khoa học, khách quan, công tâm, theo quy trình chặt chẽ, phát huy dân chủ, dựa vào tập thể và nhân dân để tuyển
Trang 30chọn cán bộ Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ và quản lý, kết hợp các độ tuổi, đảm bảo tính liên tục, kế thừa và phát triển
Như vậy, đội ngũ cán bộ là lực lượng trực tiếp tham gia hoạt động và thực hiện những nhiệm vụ trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… họ là những người trực tiếp tham gia sản xuất và sáng tạo những giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, trực tiếp duy trì luật lệ và kỷ cương, tạo ra chất lượng mới cho cuộc sống, bảo đảm cho sự phát triển và hưng thịnh của đất nước, của nhân dân Đây là bộ phận có vai trò to lớn, quan trọng, cần được chăm lo xây dựng Chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức (đội ngũ cán bộ) là cơ sở trong việc nâng cao chất lượng toàn bộ đội ngũ cán
- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức tổ chức kỉ luật Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm
- Có trình độ hiểu biết về lí luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hoá, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
Các tiêu chuẩn đó có quan hệ mật thiết với nhau Coi trọng cả đức và tài, đức là gốc
Trang 31Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã đề ra nhiệm vụ cụ thể đối với công tác cán bộ là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức, có năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân”
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X lại mục tiêu : "Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí có tư duy đổi mới, sáng tạo,
có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH; có tinh thần đoàn kết hợp tác, ý thức tổ chức, kỉ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính
kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý"
Các yêu cầu cụ thể đối với CBQL là [26] :
1.3.4.1 Yêu cầu về phẩm chất chính trị: Có quan điểm, lập trường và bản lĩnh
chính trị vững vàng, kiên định; nắm được đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn; có khả năng tự hoàn thiện, biết biến nhận thức chính trị của mình thành nhận thức của mọi người; tạo được lòng tin và lôi cuốn mọi người tham gia
1.3.4.2 Yêu cầu về kiến thức pháp luật: Hiểu và nắm được luật pháp, nhất là
những ngành luật có liên quan đến chuyên môn ngành nghề của mình
1.3.4.3 Yêu cầu về chuyên môn : CBQL phải là người am hiểu chuyên môn,
đủ tri thức quản lý ngành nghề chuyên môn đó
1.3.4.4 Yêu cầu về năng lực tổ chức quản lý : Biết thực hiện một cách khoa
học các chức năng quản lý
Trang 321.3.4.5 Yêu cầu về phẩm chất đạo đức và tác phong: Đạo đức là chuẩn mực
về phẩm chất của con người, được xã hội công nhận Tiêu chuẩn đạo đức đòi hỏi CBQL phải tuân thủ theo các chuẩn mực nhất định
Tác phong thể hiện thông qua các phương pháp và nghệ thuật ứng xử để thực hiện nhiệm vụ
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đã nêu: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng.”
Chỉ thị đã nêu: "Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp GD để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước"
Tại Việt Nam hiện nay đang tiến hành công cuộc đổi mới giáo dục, nhiều vấn đề đã đổi thay và đang yêu cầu thay đổi cả về lý luận và thực tiễn, Nhưng bên cạnh đó cũng đòi hỏi phải thay đổi cả nội dung và phương thức đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD và tăng cường tổ chức đào tạo, bồi dưỡng CBQL để họ đáp ứng được những yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
Vai trò của người làm công tác quản lý ở một cơ sở giáo dục, cao hơn nữa là một cơ quan quản lý giáo dục là vô cùng quan trọng Bài học thực tế đã cho thấy điều đó Một hiệu trưởng giỏi có thể làm thay đổi căn bản bộ mặt, chất lượng giáo dục của một nhà trường Ở cấp cao hơn, những người lãnh
Trang 33đạo giỏi sẽ biết đưa ra những quyết định, những chủ trương đúng có tác dụng làm thay đổi chất lượng và sự nghiệp giáo dục Trung Quốc có câu khẩu hiệu:
“Có một hiệu trưởng tốt thì sẽ có nhà trường tốt” Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng
để họ phát huy được đúng vai trò của mình là vấn đề không thể xem nhẹ
Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức được một cách rõ ràng rằng quản lý giáo dục được coi là một nghề Đã làm một nghề thì tất yếu phải được học, phải được đào tạo Người được bổ nhiệm vào bất kỳ vị trí quản lý nào trong ngành đều cần phải được đào tạo bồi dưỡng để đủ trình độ và năng lực làm công tác quản lý Trong thực tế, hầu hết các cán bộ quản lý được đề bạt và bổ nhiệm khi vẫn chưa từng tham gia đào tạo bồi dưỡng, chủ yếu làm việc bằng kinh nghiệm tự đúc kết Gần đây đã có nhiều nơi thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý, song vẫn trong tình trạng đề bạt, bổ nhiệm rồi mới đào tạo bồi dưỡng
Để vận hành hệ thống giáo dục, vận hành quá trình đào tạo trong các nhà trường cần có đội ngũ cán bộ chỉ đạo, cán bộ tham mưu, cán bộ điều
hành, cán bộ phục vụ đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, cân đối về cơ cấu
Nghĩa là phải xây dựng một đội ngũ cán bộ đảm bảo được ba yếu tố trên, trong đó yếu tố chất lượng phải thông qua đào tạo và bồi dưỡng
Trên thực tế, trong công tác cán bộ chúng ta chưa coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng tiền bổ nhiệm Cán bộ quản lý giáo dục thường được bổ nhiệm
từ những người tiên tiến trong đội ngũ cán bộ Nhiều cán bộ quản lý giáo dục được bổ nhiệm chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về khoa học quản lý, thậm chí có người suốt cả nhiệm kỳ không được bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý
Để đáp ứng được yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục và góp phần khắc phục những yếu kém của đội ngũ cán bộ quản lý, Hội nghị TW6 đã nhấn mạnh: “Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho
Trang 34đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trong các cơ sở giáo dục theo hướng chuyên nghiệp hoá”
Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án: “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005- 2010” Trong Quyết định đã nêu: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá,… chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng ngày càng cao của
bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH; có tinh thần đoàn kết hợp tác, ý thức tổ chức, kỉ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển,
có số lượng và cơ cấu hợp lý"
Tuy nhiên với đặc điểm nổi bật củaViện Đại học Mở Hà Nội là phát triển phương thức đào tạo từ xa với số lượng sinh viên tương đối lớn, đội ngũ cán bộ giảng dạy chủ yếu là thỉnh giảng, các trạm đào tạo lại đặt ở nhiều tỉnh, thành khác nhau thì đội ngũ CBQL các phòng, ban chức năng của Viện ngoài những yêu cầu về phẩm chất và năng lực được xây dựng trên cơ sở những yêu
Trang 35cầu đối với CBQLGD thì cần phải bổ sung những tiêu chí riêng và nhấn mạnh hơn nữa những tiêu chí chung cần thiết để có thể đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của công tác quản lý trong xu thế phát triển của giáo dục đại học hiện nay, cụ thể là:
Về năng lực
- Am hiểu kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn
Tại các phòng, ban và trung tâm khác nhau thì đòi hỏi cán bộ quản lý phải tinh thông và có kiến thức sâu rộng vể nghiệp vụ đặc trưng của phòng ban đó
- Có nghiệp vụ quản lý hành chính nhà nước như : xây dựng các văn bản, các thể thức văn bản
- Biết lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá kế hoạch của đơn
vị mình
- Sử dụng thành thạo máy vi tính và khai thác internet có hiệu quả
- Sử dụng được 01 ngoại ngữ (ưu tiên tiếng Anh)
- Am hiểu về pháp luật, nhất là những ngành luật có liên quan đến chuyên môn của mình
Về phẩm chất
- Vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống
- Trung thực, không cơ hội
- Có ý thức làm chủ tập thể, đoàn kết với đồng nghiệp
1.4 Những yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay
1.4.1 Những yêu cầu về phát triển giáo dục đại học
Cũng như tất cả các nước khác khi tham gia vào quá trình hội nhập quốc
tế, giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước những thời cơ nhưng cũng có những thách thức rất lớn và cần có những thay đổi cơ bản để phát triển Chính
Trang 36bước đi theo phương châm đa dạng hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, xây dựng một nền giáo dục có tính thực tiễn và hiệu quả, tạo bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng, đưa nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp các nước phát triển trong khu vực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội
Đối với giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã nêu : "Đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trình độ cao phù hợp với cơ cấu kinh tế – xã hội của thời kì CNH, HĐH, nâng cao năng lực cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế…"
Trong Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ
về đổi mới cơ bản GD đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã ghi "Để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới, giáo dục đại học nước ta phải đổi mới một cách mạnh mẽ, cơ bản và toàn diện"
Về mục tiêu đổi mới, trong Nghị quyết đã nêu :
- Tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô… Đến năm 2020, GD đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến thế giới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với
Trang 37- Xây dựng đội ngũ giảng viên và CBQLGD đại học đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến…
Hiện nay trong khu vực đào tạo ở nước ta có 4 trình độ: Trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học Cần cụ thể hoá tính đa dạng, xác định cơ chế liên thông mềm dẻo của các dạng trong toàn bộ không gian GD đại học và với thị trường lao động trong và ngoài nước nhằm mở rộng khả năng lựa chọn con đường học đại học cho mọi người, bao gồm các hình thức đào tạo chính quy và không chính quy, các cơ sở đào tạo công lập và ngoài công lập Cần thiết phải duy trì những trường dạy nghề, trường chuyên nghiệp ở trình độ trung cấp để đào tạo nhân lực cho những vùng còn chậm phát triển ở trong nước Vấn đề đào tạo và bồi dưỡng nhân lực có trình độ giáo dục đại học ở khắp mọi nơi bằng hình thức đào tạo từ xa, đào tạo mở dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, sau nhiều năm thử nghiệm thành công ở Viện Đại học Mở Hà Nội và nhiều Trung tâm giáo dục từ xa trên cả nước, nay đã đến lúc cần có chủ trương phát triển mạnh mẽ, tận dụng những ưu điểm và những kinh nghiệm hay của loại hình này đang giữ vai trò ngày càng to lớn trong việc xây dựng xã hội học tập như đã thấy ở những nước phát triển
Giáo dục đại học Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Trong thời đại hiện nay, GD đại học Việt Nam đang đứng trước những thách thức và vận hội mới Để đại học Việt Nam hội nhập với quốc tế và khu vực, chúng ta phải không ngừng phát triển, tăng cường quyền tự chủ và nâng cao trách nhiệm xã hội của các trường đại học, mở rộng và sử dụng hợp lý nguồn lực cho GD đại học, đổi mới cơ chế quản lý và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với các trường đại học tại các nước bạn Nhiệm vụ trọng tâm của quá trình đổi mới là
Trang 38người năng động, sáng tạo, tự chủ, có óc phê phán, có năng lực giải quyết các vấn đề mới nảy sinh, có năng lực tự học, tự nghiên cứu suốt đời, có năng lực lập nghiệp, tiến thân
Giáo dục là một hệ thống lớn, liên quan đến tất cả các lĩnh vực đời sống,
xã hội Đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững thì GD phải luôn được coi là ưu tiên hàng đầu Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Điều đó nói lên quyết tâm lớn của cả một dân tộc, đó vừa là một vận hội vừa là một thách thức lớn đối với nền GD nước nhà
Tại Hội nghị Đào tạo Đại học, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định rõ mục tiêu đổi mới giáo dục đại học nước ta đó là: “… Làm cho hệ thống đại học nước ta thích ứng và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đáp ứng nhu cầu tăng nhanh số lượng, bảo đảm chất lượng đào tạo nhằm thoả mãn thị trường sức lao động, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp, thực hiện từng bước yêu cầu về công bằng xã hội; tạo thêm cơ hội học đại học cho người nghèo, các đối tượng chính sách và ở vùng khó khăn ” (trích Báo cáo của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị Đào tạo Đại học từ ngày 9/4 - 11/4/1998 tại Hà Nội)
1.4.2 Những yêu cầu đổi mới giáo dục đại học
Nghị quyết 14/2005/NQ-CP đã nhận định [9] :
"Chất lượng giáo dục đại học ở một số ngành, lĩnh vực, cơ sở giáo dục đại học có những chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Đội ngũ cán bộ có trình độ đại học và trên đại học mà tuyệt đại đa số được đào tạo tại các cơ sở giáo dục trong nước đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước
Tuy nhiên, những thành tựu nói trên của GD đại học chưa vững chắc,
Trang 39chưa mang tính hệ thống và cơ bản, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, nhu cầu học tập của nhân dân và yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới Những yếu kém, bất cập về cơ chế quản lý,
cơ cấu hệ thống, cơ cấu ngành nghề, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, quy trình đào tạo, phương pháp dạy và học, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục, hiệu quả sử dụng nguồn lực và những tiêu cực trong thi cử, cấp bằng và một số hoạt động giáo dục khác cần sớm được khắc phục"
Nghị quyết 14/2005/NQ-CP đã nêu các nhiệm vụ và giải pháp đổi mới :
1.4.2.1 Đổi mới cơ cấu đào tạo và hoàn thiện mạng lưới cơ sở GD đại học:
- Đổi mới công tác quy hoạch phát triển mạng lưới
- Ưu tiên mở rộng quy mô các chương trình định hướng nghề nghiệp - ứng dụng;… tăng cơ hội học tập
- Thực hiện tốt việc chuyển đổi cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học
- Tập trung đầu tư, xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế
1.4.2.2 Đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo:
- Cơ cấu lại khung chương trình; Đổi mới nội dung đào tạo
- Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo
- Chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ
- Đổi mới cơ chế giao chỉ tiêu tuyển sinh
- Cải tiến tuyển sinh
- Chấn chỉnh công tác tổ chức đào tạo, đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ
1.4.2.3.Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng giảng viên và cán bộ quản lý:
Trang 40- Xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ giảng viên và CBQLGD đại học, bảo đảm đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới
GD đại học
- Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và CBQLGD đại học Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của giảng viên, tầm nhìn chiến lược, năng lực sáng tạo và tính chuyên nghiệp của cán bộ lãnh đạo, quản lý
- Đổi mới phương thức tuyển dụng
- Xây dựng và ban hành chính sách mới đối với giảng viên
- Đổi mới quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh GS, PGS… Cải cách thủ tục hành chính xét công nhận giảng viên, giảng viên chính
1.4.2.4 Đổi mới tổ chức triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ
1.4.2.5.Đổi mới việc huy động nguồn lực và cơ chế tài chín
1.4.2.6.Đổi mới cơ chế quản lý
1.4.2.7 Về hội nhập quốc tế
Việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy, học tập
và phương pháp kiểm tra đánh giá ở bậc Đại học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới trong điều kiện hội nhập quốc tế là vô cùng cần thiết Nội dung chương trình giáo dục cần được gọt dũa theo hướng giảm nhẹ thời lượng, chuẩn hoá
về mặt nội dung kiến thức Phương pháp giảng dạy, học tập cần được đổi mới theo hướng tăng cường tính chủ động từ phía người học Phương pháp kiểm tra đánh giá nên đề cao tính sáng tạo của người học, biến quá trình đánh giá thành quá trình tự đánh giá
Đổi mới cơ cấu trong hệ thống GD đại học; cơ cấu trình độ; cơ cấu loại hình; cơ cấu vùng miền; cơ cấu ngành nghề; cơ cấu xã hội; cơ chế quản lý…
để phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của xã hội phát triển Đảm bảo tính công