ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIKHOA SƯ PHẠM LÊ QUỐC THÀNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO HỆ CAO ĐẲNG GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI LU
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
LÊ QUỐC THÀNH
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
HỆ CAO ĐẲNG GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN KHÁNH ĐỨC
HÀ NỘI - THÁNG 10 NĂM 2006
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
6 4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
6 5 Giả thuyết khoa học 6
6 ý nghĩa của luận văn 6
7 Phương pháp nghiên cứu 7
8 Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO 8 1.1 Một số khái niệm cơ bản 8
1.1.1 Quản lý 8
1.1.2 Đào tạo 9
1.1.3 Chương trình đào tạo 9
1.1.4 Chất lượng 10
1.1.5 Chất lượng đào tạo 12
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý và quản lý chương trình đào tạo 12 1.2.1 Quản lý giáo dục 12
1.2.2 Quản lý chương trình đào tạo 18
1.3 Các cơ sở pháp lý quản lý chương trình đào tạo hệ cao đẳng 24 1.3.1 Luật Giáo dục 2005 24
Trang 31.3.2 Điều lệ trường cao đẳng 25
1.3.3 Chương trình khung 27
1.3.4 Quy chế ban hành kèm theo quyết định số 04/1999/QĐ-BDG&ĐT 28 1.3.5 Quy chế ban hành kèm theo quyết định số 25/2006/QĐ-BDG&ĐT 31 Chương 2: Thực trạng đào tạo và quản lý chương trình đào tạo hệ cao đẳng tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội 34 2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
34 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 34
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
37 2.1.3 Cơ cấu tổ chức và quy mô của trường
40 2.1.4 Quy mô, chất lượng đào tạo 43
2.1.5 Hệ thống cơ sở vật chất sư phạm 44
2.2 Thực trạng quản lý chương trình đào tạo hệ cao đẳng tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội 47 2.2.1 Nhận thức của đội ngũ cán bộ công nhân viên nhà trường 47
2.2.2 Phân cấp tổ chức quản lý chương trình đào tạo 48
2.2.3 Tổ chức thiết kế chương trình 49
2.2.4 Chỉ đạo thực hiện chương trình (Lập kế hoạch, chỉ đạo) 52
2.2.5 Giám sát, đánh giá chương trình 57
Chương 3: Một số biện pháp quản lý chương trình đào tạo hệ cao đẳng tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội 61 3.1 Căn cứ để xây dựng biện pháp 61 3.1.1 Yêu cầu phát triển của ngành Du lịch trong giai đoạn mới 61
Trang 4
3.1.2 Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 63
3.1.3 Chiến lược phát triển của trường 64
3.1.4 Thực tiễn công tác quản lý hệ cao đẳng 65
3.2 Những biện pháp quản lý 65
3.2.1 Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ công nhân viên nhà trường 65 3.2.2 Chỉ đạo xây dựng chương trình chi tiết 68
3.2.3 Tập huấn đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy 70
3.2.4 Lập kế hoạch đào tạo và tổ chức thực hiện 72
3.2.5 Quản lý giáo án 73
3.2.6 Xây dựng giáo trình, tài liệu tham khảo 75
3.2.7 Đánh giá, hoàn thiện nội dung chương trình 77
3.3 Kết quả thăm dò về tính khả thi của các giải pháp 79
Kết luận và khuyến nghị 81
1 Kết luận 81
2 Khuyến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 85
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định "đưa ngành
du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước" Đến Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định “Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền thống như vận tải, thương mại, du lịch, ngân hàng, bưu chính viễn thông” và “Khuyến khích đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động du lịch, đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch” Trong điều kiện và hoàn cảnh thực tế của
đất nước ta hiện nay, vấn đề đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ du lịch đóng một vai trò hết sức quan trọng Các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch
và khách sạn đã tổng kết rằng ”việc xây dựng được khách sạn 5 sao không khó, nhưng nếu con người không đủ tầm và trình độ để phục vụ trong khách sạn 5 sao thì sau 1-2 năm khách sạn sẽ trở thành 1-2 sao” Trong lĩnh vực dịch vụ, con người phục vụ mang tính chất quyết định việc làm hài lòng hay không hài lòng khách, cho dù cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, nhưng thái độ phục vụ nhiệt tình, tận tình với khách, có nghiệp vụ chuyên môn cao chắc chắn khách sẽ hài lòng Để có người phục vụ như vậy đòi hỏi phải đào tạo và bồi dưỡng họ trên những tiêu chuẩn sau: trình độ chuyên môn (kỹ năng nghề nghiệp), năng lực giao tiếp, ý thức tổ chức kỷ luật và khả năng ngoại ngữ Đặc biệt đối với những người làm quản lý trực tiếp trong các bộ phận của quá trình phục vụ khách du lịch Những người này không chỉ cần có những tiêu chuẩn như những người phục vụ mà cần phải có những kiến thức về quản lý và điều hành cụ thể
Trang 6Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội được thành lập từ ngày 27/10/2003, trước đó Nhà trường đào tạo nghề du lịch ở trình độ trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Từ khi được nâng cấp lên thành trường Cao đẳng, Nhà trường được giao thêm chức năng đào tạo cử nhân thực hành nghề du lịch Để đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch và xứng đáng là trường đầu ngành của Du lịch Việt Nam, Nhà trường cần phải đổi mới, hoàn thiện ở rất nhiều lĩnh vực, một trong những lĩnh vực đó là chương trình đào tạo
Là một cán bộ làm công tác quản lý đào tạo của trường, bản thân tôi cảm thấy hứng thú, quan tâm đến việc quản lý chương trình đào tạo, đặc biệt là hệ cao đẳng, vì đây là chương trình đào tạo hoàn toàn mới đối với nhà trường nói
riêng và ngành du lịch nói chung Chính vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một
số biện pháp quản lý chương trình đào tạo hệ cao đẳng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm ra những biện pháp quản lý chương trình đào tạo góp phần nâng cao chất lượng dạy và học hệ cao đẳng tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỤ THỂ
3.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
3.2 Phân tích, đánh giá thực trạng chương trình đào tạo và quản lý chương trình đào tạo hệ cao đẳng tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
3.3 Đề xuất những biện pháp quản lý chương trình đào tạo hệ cao đẳng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Khách thể nghiên cứu: Quá trình đào tạo hệ cao đẳng tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý chương trình đào tạo hệ cao đẳng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Muốn nâng cao chất lượng, phát huy được hiệu quả của việc đào tạo hệ cao đẳng tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội cần sử dụng các biện pháp, quản
Trang 7lý khoa học đồng bộ chương trình đào tạo hệ cao đẳng tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Nếu có các biện pháp quản lý khoa học đồng bộ chương trình đào tạo hệ cao đẳng thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
6 Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về các biện pháp quản lý chương trình đào tạo hệ cao đẳng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Đề tài cung cấp một số các biện pháp quản lý để các cán
bộ quản lý đào tạo, quản lý học sinh - sinh viên cũng như giáo viên tại trường có thể vận dụng vào thực tế
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2 Phương pháp điều tra - khảo sát
7.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
7.4 Phương pháp chuyên gia
7.5 Phương pháp thống kê toán học
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được cấu trúc thành 3 phần
1 Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý chương trình đào tạo
Chương 2: Thực trạng đào tạo và quản lý chương trình đào tạo hệ cao
đẳng tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Chương 3: Một số biện pháp quản lý chương trình đào tạo hệ cao đẳng tại
Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
2 Kết luận và khuyến nghị
3 Phần phụ lục
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Quản lý
Từ trước đến nay, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó Các Mác viết: " Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" 1, tr 480 Như vậy quản lý xuất hiện khi có một hoạt động tập thể, hay nói cách khác với nghĩa rộng hơn, hoạt động mang tính xã hội hoá nhằm đạt tới các mục tiêu chung Ngay từ ngày đầu xuất hiện, xã hội loài người, cuộc sống thực tế đã buộc người ta phải cố kết với nhau để sống, phải lao động tập thể, dùng sức mạnh tập thể để chinh phục thiên nhiên, phục vụ con người và để đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển đã phải quản lý, song đây là một sự quản lý mang tính bản năng, hình thành dần qua kinh nghiệm của cuộc sống
Trong thuyết quản lý khoa học, Taylor đã đưa ra một định nghĩa khá chi tiết
và rõ ràng khi ông cho rằng: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người
Trang 9khác làm và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" 9, tr 34 Henry Fayol đưa ra định nghĩa về quản lý hành chính: "Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra" 9,
tr 36 Qua định nghĩa này, Henry Fayol đã đưa ra năm chức năng cơ bản của quản
lý như chính định nghĩa đã nêu ra, đó là một cống hiến quan trọng về mặt khoa học
để xác định các chức năng quản lý sau này Năm chức năng quản lý bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất Có người cho rằng quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Có tác giả quan niệm một cách đơn giản hơn, coi quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc:" Hoạt động quản lý
là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức " 16, tr 1
Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra
Như vậy xét quản lý với tư cách là một hoạt động, có thể định nghĩa:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra
1.1.2 Đào tạo
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, khái niệm đào tạo được hiểu là: “Đào tạo là một quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận một
sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội”
Theo GS Nguyễn Minh Đường thì đào tạo được hiểu như sau: “Đào tạo là một quá trình có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống
Trang 10tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả”
Trong bối cảnh hiện nay, đào tạo bao gồm cả đào tạo lại, tức là cung cấp thêm một số kiến thức, một số kỹ năng chuyên môn cho những người đã tham gia vào hoạt động xã hội (đã và đang đi làm) để họ làm tốt hơn công việc của mình
1.1.3 Chương trình đào tạo
Theo Từ điển Giáo dục học - NXB Từ điển Bách khoa 2001, khái niệm chương trình đào tạo được hiểu là: “Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo”
Theo Wentling (1993): “Chương trình đào tạo (Program of Training) là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (khóa đào tạo) cho biết toàn
bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở người học sau khóa đào tạo, phác thảo ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái gì đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ”
Theo Tyler (1949) cho rằng: “Chương trình đào tạo về cấu trúc phải có 4 phần cơ bản”
1 Mục tiêu đào tạo
2 Nội dung đào tạo
3 Phương pháp hay quy trình đào tạo
4 Cách đánh giá kết quả đào tạo
Trên cơ sở chương trình giáo dục chung (chương trình khung) được quy định bởi các cơ quan quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục tổ chức xây dựng các chương trình chi tiết hay còn gọi là chương trình đào tạo Chương trình đào tạo là bản thiết kế chi tiết quá trình giảng dạy trong một khóa đào tạo phản ánh cụ thể mục tiêu, nội dung, cấu trúc, trình tự cách thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động giảng dạy cho toàn khóa đào tạo và cho từng môn học, phần
Trang 11học, chương, mục và bài giảng Chương trình đào tạo do các cơ sở đào tạo xây dựng trên cơ sở chương trình đào tạo đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt
1.1.4 Chất lượng
Theo Giáo sư Nguyễn Đức Chính trong cuốn “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học Việt Nam”, thì hiện nay đang tồn tại nhiều quan điểm về chất lượng Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các trường đại học và việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở đào tạo đại học nào Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường và cách hiểu của người này cũng khác với cách hiểu của người kia Hiện nay tồn tại 7 quan điểm về chất lượng trong giáo dục đại học
- Chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào”: Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng của một trường đại học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó”
- Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”: Một quan điểm khác về chất lượng giáo dục đại học cho rằng “đầu ra” của giáo dục đại học có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo “Đầu ra” chính là sản phẩm của giáo dục đại học được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó
- Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”: Quan điểm thứ 3 về chất lượng giáo dục đại học cho rằng một trường đại học có tác động tích cực tới sinh viên khi ra trường đó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ cá nhân của sinh viên “Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra” mà trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được: là “giá trị gia tăng” mà trường đại học đã đem lại cho sinh viên và được cho là chất lượng đào tạo của trường đại học
- Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”: Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường đại học phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định công nhận chất lượng đào tạo đại học Điều này có nghĩa là trường đại học nào có đội ngũ giáo sư, tiến sỹ lớn, có uy tín khoa học cao
- Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hóa tổ chức riêng”: Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường đại học phải tạo ra được “Văn hóa tổ chức
Trang 12riêng” hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Vì vậy một trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được “Văn hóa tổ chức riêng” với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức Quan điểm này được mượn từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực giáo dục đại học
- Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”: Quan điểm này về chất lượng giáo dục đại học xem trong quá trình bên trong trường đại học và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Nếu kiểm toán tài chính xem xét các
tổ chức có duy trì chế độ sổ sách tài chính hợp lý hay không, thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem các trường đại học có thu nhập đủ thông tin phù hợp và những người ra quyết định có đủ thông tin phù hợp và những người ra quyết định có đủ thông tin cần thiết hay không, quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng có hợp lý và hiệu quả không
- Định nghĩa của Tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế: Ngoài 6 quan điểm nêu trên, Tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAAHE) đã đưa ra 2 định nghĩa về chất lượng giáo dục đại học như sau:
Tuân theo các chuẩn quy định (1)
Đạt được mục tiêu đề ra (2)
Theo định nghĩa thứ nhất, cần có Bộ tiêu chí chuẩn cho giáo dục đại học
về tất cả các lĩnh vực và việc kiểm định chất lượng một trường đại học sẽ dựa vào Bộ tiêu tiêu chí chuẩn đó Khi không có Bộ tiêu chí chuẩn việc kiểm định chất lượng giáo dục đại học sẽ dựa trên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh giá Những mục tiêu này sẽ được xác lập trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và những điều kiện đặc thù của trường đó
1.1.5 Chất lượng đào tạo
Hiện nay đang tồn tại một số quan niệm khác nhau về chất lượng đào tạo, sau đây là một số quan niệm:
Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo
đã đề ra đối với một chương trình đào tạo (Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp - ĐHQGHN)
Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực
Trang 13hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương tình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể (Trần Khánh Đức - ĐHQGHN)
Chất lượng giáo dục là chất lượng thực hiện các mục tiêu giáo dục (Lê Đức Phúc - Viện KHGD)
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý và quản lý chương trình đào tạo
1.2.1 Quản lý giáo dục
1.2.1.1 Các chức năng cơ bản của quản lý
Quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau, từng chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất Quản lý có các chức năng sau:
- Kế hoạch hoá:
Kế hoạch hóa là một chức năng quản lý Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Chức năng kế hoạch hoá bao gồm ba nội dung:
+ Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức
+ Xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này
+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết, ưu tiên để đạt được các mục tiêu đó
- Lãnh đạo:
Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì cần có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Lãnh đạo
Trang 14bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức
- Kiểm tra:
Kiểm tra là việc thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sữa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hoạt động điều chỉnh, uốn nắn Như vậy kiểm tra trong hoạt động quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm xác định những chuẩn mực thành tựu khi đối chiếu với các mục tiêu đã được kế hoạch hoá, thiết kế một hệ thống thông tin phản hồi so sánh thành tựu hiện thực với các chuẩn mực đã định; xác định những lệch lạc nếu có và đo lường ý nghĩa/ mức độ của chúng; tiến hành những hành động cần thiết để đảm bảo rằng những nguồn lực của tổ chức được sử dụng một cách hiệu nghiệm và hiệu quả để đạt được mục tiêu của tổ chức 16, tr 4
BẢNG 1: PHÂN PHỐI THỜI GIAN VÀ CÔNG SỨC CHO CÁC CHỨC NĂNG
(Nguồn: Quản trị học - Đào Duy Hân - NXB Thống kê - 1996)
1.2.1.2 Vai trò của quản lý
Vai trò của quản lý giáo dục được thể hiện thông qua các chức năng cơ bản của quản lý, điều này được thể hiện thông qua quá trình từ việc thiết kế, lập
kế hoạch, triển khai và đánh giá chương trình đào tạo
- Thiết kế chương trình đào tạo: là khâu quan trọng, đây chính là yếu tố cơ bản, nền tảng của chương trình đào tạo về sau thực thi có hiệu quả hay không
Để thiết kế được chương trình đào tạo cần phải dựa trên cơ sở chương trình khung về khối ngành do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Dựa trên chương trình khung đó, các trường dựa vào các điều kiện hiện có của riêng mình để xây dựng nên chương trình đào tạo mang màu sắc riêng của mình Chương trình đào
Trang 15tạo là xương sống cơ bản của mỗi nhà trường do đó nó được tập thể cán bộ giáo viên nhà trường xây dựng nên Điều hành việc xây dựng chương trình thường do hội đồng xây dựng chương trình của nhà trường, chủ tịch hội đồng là hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo, các thành viên của hội đồng là các trưởng khoa/bộmôn trực thuộc, phòng đào tạo đóng vai trò là uỷ viên thường trực trong hội đồng Dựa trên điều kiện thực tế hiện tại, các thành viên hội đồng thông qua tên các môn học cùng với nội dung cơ bản của các môn học đó, phần chi tiết nội dung trong các môn học do các khoa/bộ môn xây dựng sau đó trình hội đồng thông qua
Sau khi chương trình đào tạo được thông qua, đây là yếu tố rất quan trọng
để các khoa/bộ môn tiến hành xây dựng đề cương chi tiết, tập bài giảng hay giáo trình phục vụ cho việc giảng dạy và học tập tại trường
- Lập kế hoạch tổ chức đào tạo theo chương trình, theo các khoá đào tạo: trên cơ sở chương trình đào tạo được thông qua, cùng với các điều kiện về cơ sở vật chất sư phạm, điều kiện con người và các điều kiện khác phục vụ cho việc dạy học Phòng đào tạo tiến hành lập kế hoạch giảng dạy và học tập của chương trình, trong đó thể hiện rõ sự phân bổ các môn học vào các năm học, kỳ họ cũng như yêu cầu về thực tập Đây là điều kiện quan trọng để các khoa/bộ môn có được kế hoạch công tác cho mình
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện chương trình đào tạo: đây là giai đoạn rất quan trọng quyết định đến việc thành công hay thất bại của một chương trình đào tạo Ngoài các yếu tố về tổ chức quy trình đào tạo, quản lý các hoạt động đào tạo thì yếu tố giáo viên được xem là yếu tố quan trọng nhất, nó có tác động rất lớn đến chất lượng đào tạo cũng như tác động đến việc thành bại của chương trình đào tạo
Việc triển khai chương trình đào tạo đòi hỏi phải có sự tham gia của tất cả các bộ phận có liên quan trong nhà trường Đặc biệt là sự tham gia điều hành công tác giảng dạy và học tập của phòng đào tạo, giáo viên giảng dạy của các khoa/bộ môn và sinh viên, những người trực tiếp tiếp nhận các yếu tố của chương trình đào tạo mang lại
- Đánh giá chương trình đào tạo: Đánh giá chương trình đào tạo nhằm phát hiện xem chương trình đào tạo được thiết kế, phát triển và thực hiện đó có tạo ra hay có thể tạo ra những sản phẩm mong muốn hay không? Đánh giá giúp xác định
Trang 16điểm mạnh, điểm yếu của chương trình đào tạo trước khi đem ra thực hiện hoặc để xác định hiệu quả của nó sau khi đã thực hiện qua một thời gian nhất định
Việc đánh giá chương trình đào tạo muốn thu được hiệu quả cao nhằm mục đích đổi mới, phát triển chương trình cần phải có hội đồng thẩm định và phải thu thập được các nguồn thông tin từ bộ phận quản lý, điều hành chương trình (phòng đào tạo), từ bộ phận trực tiếp thực hiện chương trình (khoa/bộ môn), từ phía người học (sinh viên) và từ phía xã hội (những người sử dụng lao động)
Để thấy được rõ hơn vai trò của quản lý giáo dục đối với chương trình đào tạo, chúng ta có thể sơ đồ hoá như sau:
HÌNH 1: MÔ HÌNH QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ, TỔ CHỨC ĐÀO TẠO THEO CHƯƠNG TRÌNH
Chỉnh sửa
Hoàn thiện Chương trình
1.2.1.3 Các phương pháp quản lý
- Phương pháp quản lý giáo dục là tổ hợp những cách thức tiến hành hoạt động quản lý giáo dục để thực hiện những nhiệm vụ quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý dự kiến
Thiết kế chương trình đào tạo (từ chương trình khung)
Thẩm định/phê duyệt chương trình
đào tạo
Lập kế hoạch/tổ chức đào tạo theo chương trình, theo các khoá đào tạo
Tổ chức chỉ đạo thực hiện chương trình
(Trường, khoa, bộ môn)
Đánh giá chương trình đào tạo (Nhà quản lý, giáo viên, học sinh, người sử dụng lao động)
Trang 17- Phương pháp quản lý giáo dục thực chất là một hệ thống logic các tác động một cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của người quản lý tới nhận thức, tình cảm và ý chí của đối tượng quản lý nhằm thúc đẩy họ có những hành động thực tiễn đáp ứng được những yêu cầu của nhiệm vụ được giao
- Phương pháp quản lý giáo dục là phạm trù cơ bản, có tính chất quyết định đối với chất lượng và hiệu quả hoạt động quản lý giáo dục vì mục tiêu, nhiệm vụ quản lý chỉ được thực hiện thông qua các phương pháp quản lý giáo dục
- Phương pháp quản lý giáo dục có tính mục đích và gắn liền với nội dung, có tính khách quan và chủ quan, có tính hệ thống, tính cấu trúc phức tạp và tính hiệu quả
- Phương pháp quản lý giáo dục được chủ thể lựa chọn và sử dụng phải phù hợp với mục đích, nội dung, nguyên tắc quản lý, đối tượng quản lý và những tình huống cụ thể trong quản lý
- Phương pháp quản lý giáo dục vận dụng vào việc quản lý trường học (gọi tắt là phương pháp quản lý trường học) Về thực chất là cách thức tác động của hiệu trưởng tới cá nhân và tập thể cán bộ giáo viên, học sinh nhằm thực hiện những mục tiêu quản lý dự kiến
+ Các nhóm phương pháp quản lý giáo dục: để tác động tới yếu tố con người trong giáo dục, người ta phải dùng các phương pháp tác động khác nhau Dưới đây là các phương pháp quản lý cơ bản:
* Phương pháp hành chính - pháp chế:
- Phương pháp quản lý hành chính - pháp chế được gọi tắt là phương pháp hành chính - pháp chế, là sự tác động trực tiếp của hệ quản lý đến hệ bị quản lý bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định quản lý
- Phương pháp hành chính - pháp chế có đặc trưng là tác động có tính pháp lệnh, hành chính, đơn phương Các văn bản, chỉ thị do cơ quan quản lý cấp trên, người lãnh đạo tổ chức, cơ quan ban hành mang tính chất bắt buộc phải thi hành Phương pháp hành chính - pháp chế thường được thực hiện có kết quả khi người lãnh đạo có đủ quyền uy, các chỉ thị mệnh lệnh đưa ra phải đảm bảo tính khách quan, khoa học, tính thuyết phục và tính cưỡng bức hợp lý
Muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả của phương pháp tổ chức - hành chính, chủ thể quản lý phải chuyên môn hoá các chức năng, nhiệm vụ, tạo điều kiện tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao hiệu quả công việc Hệ thống quyền lực của tổ
Trang 18chức phải được phân công, uỷ quyền rõ ràng, có hiệu lực, hiệu quả Mỗi người cán bộ quản lý phải chuyển hoá được quyền lực của tổ chức giao cho thành quyền uy thực sự, được mọi thành viên trong tổ chức phục tùng tự giác
* Phương pháp kinh tế :
- Phương pháp quản lý bằng kinh tế trong giáo dục (gọi tắt là phương pháp kinh tế) là sự tác động một cách gián tiếp lên đối tượng quản lý bằng cơ chế kích thích tạo ra sự quan tâm nhất định về lợi ích vật chất để con người tự mình điều chỉnh hành động nhằm hoàn thành nhiệm vụ nào đó hoặc tạo ra những điều kiện để lợi ích cá nhân, tập thể phù hợp với lợi ích chung của toàn ngành, toàn xã hội Do đó, thúc đẩy cá nhân chủ động hành động có hiệu quả cao mà không cần những tác động hành chính - pháp chế
- Phương pháp kinh tế trong quản lý giáo dục có đặc trưng: khuyến khích hoàn thành nhiệm vụ bằng lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế ( tiền lương, thưởng, phụ cấp ) dùng đòn bẩy kinh tế, vật chất kích thích tính sáng tạo của con người
- Phương pháp kinh tế cũng có những hạn chế vốn có của nó Nếu lạm dụng phương pháp kinh tế dễ dẫn người ta tới chỗ chỉ nghĩ tới lợi ích vật chất, thậm chí lệ thuộc vào vật chất, tiền của mà quên tinh thần, đạo lý, có thể dẫn đến những hành vi phạm pháp Động lực từ lợi ích cá nhân của mỗi người nếu không định hướng và kiểm soát, sẽ dẫn đến người ta đến chỗ làm ăn phi pháp, phi đạo
lý
* Phương pháp tâm lý - xã hội
- Phương pháp quản lý bằng tâm lý - xã hội gọi tắt là phương pháp tâm lý
- xã hội là cách thức tạo ra những tác động vào đối tượng quản lý bằng các biện pháp logic và tâm lý nhằm biến những yêu cầu do người lãnh đạo đề ra thành nghĩa vụ tự giác bên trong, thành nhu cầu của người bị quản lý
- Phương pháp tâm lý - xã hội về thực chất là khơi gợi tinh thần tự giác, tích cực và chủ động của người bị quản lý, phát huy hết tiềm năng của mỗi người trong công việc, đồng thời tạo ra bầu không khí cởi mở, đoàn kết, giúp
đỡ, tin cậy lẫn nhau trong tổ chức Trong quản lý trường học yếu tố tâm lý xã hội chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, nó điều chỉnh mối quan hệ quản lý trường học, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến kết quả hoạt động trong nhà trường
Trang 19- Phương pháp tâm lý - xã hội có đặc trưng là tác động liên nhân cách đến nhận thức, tình cảm, lòng tự tin và tinh thần trách nhiệm của mỗi người dựa trên cơ
sở kích thích mang tính chất đạo đức, động viên tinh thần, tôn trọng, yêu cầu cao đối với con người; vừa tác động theo cách thức nhất định, vừa tạo ra (hoạch định) tình huống mới nhằm hướng đối tượng quản lý vào việc động viên một cách tối đa những khả năng tiềm tàng của họ và đảm bảo hiệu quả công việc lớn nhất
- Thực hiện phương pháp tâm lý - xã hội đòi hỏi người quản lý phải có uy tín, gương mẫu về đạo đức và lối sống, biết cách chọn các dạng về: thuyết phục và cưỡng bức phù hợp với mục đích cần đạt, với đối tượng và tình huống cụ thể, người lãnh đạo cần nghiên cứu sâu sắc các hiện tượng tâm lý lành mạnh trong tập thể của tổ chức, hiểu đặc điểm tâm lý từng người và có cách ứng xử thích hợp
- Phương pháp tâm lý - xã hội không thể thiếu trong quản lý mọi tổ chức, nhất là các tổ chức xã hội Để khắc phục mặt hạn chế của phương pháp tâm lý -
xã hội, người quản lý cần biết kết hợp với các phương pháp tổ chức - hành chính
sự phân luồng, liên thông, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo
và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân
- Yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa ở giáo dục phổ thông, giáo trình và tài liệu giảng dạy ở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và giáo dục
Trang 20thường xuyên Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục
- Chương trình giáo dục được tổ chức thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; theo năm học hoặc theo hình thức tích lũy tín chỉ đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học
Kết quả học tập môn học hoặc tín chỉ mà người học tích lũy được khi theo học một chương trình giáo dục được công nhận để xem xét về giá trị chuyển đổi cho môn học hoặc tín chỉ tương ứng trong chương trình giáo dục khác khi người học chuyển ngành nghề đào tạo, chuyển hình thức học tập hoặc học lên ở cấp học, trình độ đào tạo cao hơn
Chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng, trình độ đại học bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời lượng đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian giữa các môn học, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập Căn
cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng, đại học xác định chương trình đào tạo của trường mình (Điều 41 - Luật Giáo dục 2005)
1.2.2.2 Thiết kế chương trình chi tiết, phê duyệt
Sau khi có được chương trình khung do cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt, các cơ sở đào tạo tổ chức xây dựng chương trình chi tiết cho riêng mình Việc thiết kế chương trình đào tạo cần tuân theo các bước sau:
- Phân tích bối cảnh và nhu cầu đào tạo: Chương trình đào tạo cần được xây dựng phù hợp với đặc điểm về thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế
xã hội, khoa học công nghệ, truyền thống văn hóa, của mỗi quốc gia, những yêu cầu và xu hướng phát triển của thời đại đồng thời phải thể hiện sự tiếp tục,
kế thừa và phát triển các chương trình giáo dục đã có (giáo dục là một quá trình
có sự tiếp nối trong lịch sử trong từng giai đoạn phát triển) Do đó cần phân tích bối cảnh và nhu cầu đào tạo (theo bậc học hoặc ngành đào tạo) làm cơ sở để xây dựng mục tiêu và thiết kế cấu trúc, nội dung chương trình Trong giáo dục nghề nghiệp cần khảo sát xây dựng đặc điểm chuyên môn nghề, phân tích công việc và nhu cầu nhân lực của thị trường lao động để làm cơ sở thiết kế chương trình đào tạo cụ thể
- Thiết kế chương trình đào tạo
+ Xác định mục tiêu đào tạo
Trang 21Theo Từ điển Giáo dục học - NXB Từ điển Bách khoa 2001, khái niệm mục tiêu đào tạo được định nghĩa là “Mô hình nhân cách có tính định chuẩn của
cả hệ thống giáo dục quốc dân hay từng phân hệ giáo dục được xác định trên cơ
sở những yêu cầu của xã hội về người công dân, về nguồn nhân lực”
Theo cách hiểu thông thường mục tiêu đào tạo là “cái đích hướng tới” của quá trình đào tạo nhằm hình thành và phát triển nhân cách nghề nghiệp tương ứng với một loại hình lao động nghề nghiệp cụ thể Mục tiêu đào tạo không chỉ dừng ở việc trang bị hệ thống kiến thức đơn thuần, hình thành kỹ năng hành nghề mà còn cần phát triển các phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy của người học cũng như sự hình thành và phát triển thái độ, phẩm chất, ý thức nghề nghiệp của người học trong quá trình đào tạo
Theo điều 2 Luật Giáo dục 2005, mục tiêu giáo dục được xác định là:
“Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Trên cơ
sở mục tiêu giáo dục chung, Luật Giáo dục cũng đã xác định rõ mục tiêu giáo dục của từng bậc học, từng loại hình giáo dục Điều 39 của Luật Giáo dục 2005
đã quy định mục tiêu của giáo dục đại học như sau “Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đào tạo trình độ cao đẳng giúp cho sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo”
+ Lập kế hoạch dạy học:
Chương trình đào tạo được thực hiện theo các môn học, phần học hoặc các môđun với quỹ thời gian và quy trình xác định toàn khóa nên cần lập kế hoạch dạy học trong đó xác định rõ các môn học, phần học hoặc các hoạt động trong khuôn khổ của chương trình, trình tự môn học và phân phối thời gian chi tiết cho từng giai đoạn
+ Xác định nội dung đào tạo
Trang 22Theo Từ điển Giáo dục - NXB Từ điển Bách khoa 2001, khái niệm nội dung là: “Tập hợp những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, những quy phạm về thái độ, cảm xúc, giá trị, ”
Đối với giáo dục nghề nghiệp, nội dung đào tạo là tập hợp có hệ thống tri thức văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ, các kỹ năng lao động nghề nghiệp chung và chuyên biệt cùng những yêu cầu, chuẩn mực về ý thức, thái độ nghề nghiệp nhằm hình thành và phát triển nhân cách nghề nghiệp Nội dung đào tạo cần được xác định, lựa chọn theo hệ tốnh các chuẩn kiến thức, kỹ năng phù hợp với đối tượng và mục tiêu giáo dục
Nội dung đào tạo được thể hiện cụ thể trong chương trình đào tạo theo các bậc học, ngành/nghề đào tạo cụ thể Chương trình giáo dục đại học được thể hiện trong điều 41, Luật Giáo dục 2005: “Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học; đảm bảo yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác”
Nội dung chương trình đào tạo, bài giảng cần ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu (cả về hệ thống tri thức lý thuyết cũng như kỹ năng thực hành) đảm bảo mối liên
hệ và tính logic của các nội dung đào tạo, bồi dưỡng sát với thực tiễn sản xuất - dịch vụ Đa dạng hóa các nguồn thông tin về nội dung đào tạo được mô tả bằng
sơ đồ sau:
HÌNH 2: ĐA DẠNG HÓA NGUỒN THÔNG TIN VỀ NỘI DUNG ĐÀO TẠO
+ Hướng dẫn thực hiện chương trình
SÁCH GIÁO KHOA/ TÀI LIỆU THAM KHẢO
HIỆN TƢỢNG/ VẤN ĐỀ THỰC TẾ NGHỀ NGHIỆP
ĐA DẠNG HÓA CÁC NGUỒN THÔNG TIN
Trang 23Nêu các yêu cầu về đối tượng, phạm vi thực hiện, các điều kiện về tổ chức triển khai thực hiện, phương pháp dạy học và các nguồn lực bảo đảm về cơ sở vật chất, tài liệu dạy - học, phương tiện, đội ngũ giáo viên, Đặc biệt hướng dẫn thực hiện chương trình cần nêu rõ các yêu cầu về tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học trong toàn bộ quá trình dạy - học và kết thúc quá trình dạy học (thi hoặc đồ án tốt nghiệp)
- Thử nghiệm và đánh giá chương trình
Bản thiết kế chương trình nhìn chung cần được tổ chức thử nghiệm và đánh giá tính hợp lý và khả thi của chương trình (tổ chức thực hiện trong phạm
vi hẹp ở một số trường lớp hoặc một số khóa đào tạo - chọn mẫu) Việc đánh giá chương trình cần được thực hiện trên cơ sở kết quả thử nghiệm và lấy ý kiến rộng rãi các nhà khoa học, chuyên gia giáo dục, đội ngũ giáo viên và học sinh - sinh viên, người sử dụng lao động (đối với các chương trình đào tạo nhân lực)
Hiểu một cách chung nhất quá trình thiết kế chương trình đào tạo (xây dựng mục tiêu, nội dung, kế hoạch đào tạo, các yêu cầu và điều kiện đảm bảo, )
là quá trình thiết kế một quy trình đào tạo nghiêm ngặt trong một thời gian nhất định để cho ra một sản phẩm nhất định (nhân cách được đào tạo) Trong quy trình này có các giai đoạn liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình đào tạo Đến lượt các giai đoạn này lại được phân ra nhiều giai đoạn nhỏ hơn đảm bảo cho người học đạt được theo trình tự vạch sẵn những mục tiêu trung gian tương ứng với các nội dung, phương pháp, phương tiện giảng dạy và các hình thức tổ chức, kiểm tra đánh giá thích hợp với từng giai đoạn nhỏ trong quá trình đào tạo
1.2.2.3 Tổ chức triển khai thực hiện chương trình
Thực thi, triển khai chương trình đào tạo là giai đoạn quyết định thành bại của nột chương trình đào tạo Để tổ chức triển khai được chương trình đào tạo cần tiến hành các công việc sau:
- Lập kế hoạch đào tạo tổng thể cho từng khóa, từng chuyên ngành với số lượng dự kiến Kế hoạch đào tạo tổng thể sẽ cho phép chúng ta xác định được một số nội dung chính như: thời gian phân bổ cho từng kỳ học, năm học, các
Trang 24hoạt động chính diễn ra trong khóa học như thời gian học chính thức, thời gian dành cho thi học kỳ, thời gian thực tập, nghỉ hè, nghỉ lễ,
- Trên cơ sở kế hoạch đào tạo tổng thể, phòng đào tạo/khoa lập lên thời khóa biểu chi tiết cho các môn học diễn ra trong kỳ và việc phân bổ các môn học phân bổ vào các kỳ học dựa trên chương trình đào tạo đã được phê duyệt
- Trên cơ sở kế hoạch đào tạo tổng thể và thời khóa biểu, khoa chuyên môn phân bổ giáo viên tham gia giảng dạy từng môn đã được nhà trường phân công
- Kế hoạch về hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc giảng dạy như phòng học lý thuyết, phòng học thực hành, các dụng cụ hỗ trợ cho công tác giảng dạy,
1.2.2.4 Giám sát và đánh giá thực hiện chương trình
- Theo tác giả A.C Orstein, F.D Hunkins năm 1998 đã đưa ra một cách tiếp cận về đánh giá chương trình đào tạo như sau: “Đánh giá chương trình đào tạo là một quá trình thu thập các dữ liệu để có thể quyết định, chấp thuận, sửa đổi hay loại bỏ một chương trình nào đó”
- Để đánh giá được chương trình đào tạo cần phải dựa trên mục tiêu của chương trình đào tạo và phải trả lời được 2 câu hỏi sau:
+ Chương trình đào tạo có đạt được mục tiêu đã xác định của nó hay không? (kiến thức, kỹ năng, thái độ)
+ Làm thế nào để cải tiến chương trình đào tạo?
- Theo GS Nguyễn Đức Chính thì hiện nay có 6 tiêu chí đánh giá chương trình đào tạo, bao gồm: tính trình tự, tính gắn kết, tính thích hợp (phù hợp), tính cân đối, tính cập nhật và tính hiệu quả
+ Tính trình tự: tính trình tự được hiểu như thứ tự logic của việc trình bày nội dung của chương trình đào tạo Trên cơ sở mục tiêu đào tạo đã được xác định một cách tường minh, nội dung đào tạo cần được lựa chọn để đáp ứng mục tiêu đào tạo Tính trình tự là nguyên tắc đầu tiên cần tuân thủ khi sắp xếp nội dung đào tạo (từ đơn giản đến phức tạp, từ cái chung đến cái riêng, ) Việc đánh giá chương trình đào tạo dựa theo tiêu chí này nhằm phát hiện những sai sót, phi logic trong quá trình sắp xếp nội dung đào tạo
Trang 25+ Tính gắn kết: Sự gắn kết cũng liên quan đến tính trình tự, đồng thời có
sự tiếp nối, kế thừa của các khối kiến thức, các môn học liền kề Trong quá trình này có một số môn học mang tính tiên quyết được xem xét kỹ càng bởi lẽ các môn học này tạo tiền đề và nền tảng cho việc tiếp thu các môn học sau đó
+ Tính thích hợp: tính phù hợp của chương trình đào tạo được xem xét trên cơ sở mục tiêu đào tạo Những khối kiến thức, những môn học tỏ ra không phù hợp với mục tiêu đào tạo ở giai đoạn đánh giá chương trình đào tạo - tức là không còn hữu ích trong việc tạo ra những kỹ năng, kiến thức cần cho việc đáp ứng mục tiêu đào tạo cần được thay thế, bổ sung ở giai đoạn sau
+ Tính cân đối: tính cân đối được xem là một tiêu chí quan trọng để xác định tỷ lệ các khối kiến thức tự nhiên và xã hội nhân văn, giữa lý thuyết và thực hành, giữa các khối kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, Nếu mục tiêu đào tạo trong giai đoạn đánh giá đã có thay đổi thì sự cân đối giữa các khối kiến thức này cũng cần thay đổi cho phù hợp
+ Tính cập nhật: Tính cập nhật là một trong tiêu chí quan trọng trong đánh giá chương trình đào tạo Do lượng thông tin trong kho tàng kiến thức nhân loại tăng nhanh (gấp đôi sau 7 năm) nên trong giai đoạn đánh giá chương trình đào tạo cần xác định khối kiến thức, môn học đã tỏ ra lạc hậu hoặc không cần thiết, cần loại bỏ khỏi chương trình đào tạo và thay thế bằng các môn học mới
+ Tính hiệu quả: Tính hiệu quả được xem là tiêu chí quan trọng nhất, bao gồm cả 5 tiêu chí đứng trước nó Tính hiệu quả của chương trình đào tạo đạt được khi sinh viên học được cái mà chúng ta muốn họ học được dựa trên những cơ sở: truyền thống của môn học, kỳ vọng của xã hội, phù hợp với mong muốn của người học, phù hợp với mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1.3 Các cơ sở pháp lý quản lý chương trình đào tạo hệ cao đẳng
1.3.1 Luật giáo dục 2005
Theo chương II - mục 4 của Luật Giáo dục 2005 quy định như sau:
- Thời gian đào tạo: Đào tạo cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người học có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành
Trang 26- Mục tiêu của giáo dục đại học: Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức
và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo
- Nội dung, phương pháp giáo dục đại học
+ Nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm
cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn và các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc; tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới Đào tạo trình độ cao đẳng phải đảm bảo cho sinh viên những kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn cần thiết, chú trọng rèn luyện kỹ năng cơ bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn
+ Phương pháp đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng
- Chương trình, giáo trình giáo dục đại học
+ Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác
Trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định ngành về chương trình giáo dục đại học, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng, trình độ đại học bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, thực tập Căn cứ vào chương trình khung, các trường đại học, cao đẳng xác định chương trình giáo dục của trường mình
Trang 27+ Giáo trình giáo dục đại học cụ thể hóa yêu cầu về nội dung, kiến thức, kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục đối với mỗi môn học, ngành học, trình
độ đào tạo
Hiệu trưởng các trường cao đẳng, đại học có trách nhiệm tổ chức biên soạn và duyệt giáo trình của các môn học để sử dụng chính thức trong trường trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo trình do Hiệu trưởng thành lập; bảo đảm có đủ giáo trình phục vụ giảng dạy, học tập
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tổ chức biên soạn và duyệt các giáo trình sử dụng chung cho các trường đại học, cao đẳng
1.3.2 Điều lệ trường cao đẳng
Theo điều 10 chương I của điều lệ Trường Cao đẳng được ban hành kèm theo quyết định số 56/2003/QĐ - BGD&ĐT ngày 10 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về quyền hạn và trách nhiệm của trường cao đẳng như sau:
Trường cao đẳng được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và điều lệ này về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức và nhân sự
Cụ thể là:
1 Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục và quy hoạch mạng lưới các trường cao đẳng của Nhà nước;
2 Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề nhà trường được phép đào tạo trên cơ sở chương trình khung do
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; tổ chức tuyển sinh theo chỉ tiêu của Nhà nước, tổ chức các hoạt động đào tạo, công nhận tốt nghiệp, in ấn và cấp văn bằng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
3 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục; hợp tác liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, gắn đào tạo với việc làm, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội;
Trang 284 Quyết định thành lập các tổ chức trực thuộc trường theo cơ cấu tổ chức
đã được phê duyệt trong Quy chế tổ chức và hoạt động của trường; quyết định
bổ nhiệm các chức vụ từ cấp khoa, phòng và tương đương trở xuống; quản lý và phân phối chỉ tiêu biên chế cho các đơn vị trong trường theo chỉ tiêu được cơ quan chủ quản giao hàng năm; quyết định các vấn đề liên quan đến công tác cán
bộ từ ngạch giảng viên, chuyên viên trở xuống;
5 Nghiên cứu các đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ, thực hiện các dự
án, sản xuất thử nghiệm, chuyển giao công nghệ theo kế hoạch do cấp trên giao hoặc chủ động hợp tác với các viện, các trường đại học, cao đẳng, học viện, các
tổ chức quốc tế, các cơ sở sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; tổ chức đánh giá, nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học, dự
án sản xuất thử nghiệm cấp trường và cấp Bộ; sản xuất tập san, các ấn phẩm khoa học, tài liệu, giáo trình phục vụ cho công tác đào tạo; nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ của trường theo Luật xuất bản và quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
6 Hợp tác, liên doanh, nhận tài trợ của các tổ chức, cá nhân; góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền sở hữu trí tuệ để tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất kinh doanh; sử dụng ngồn thu từ hoạt động kinh tế
để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường, chi cho các hoạt động giáo dục và bổ sung nguồn tài chính cho nhà trường;
7 Được Nhà nước giao đất; được thuê đất, vay vốn; được miễn, giảm thuế theo quy định của Nhà nước;
8 Thực hiện dân chủ, bình đẳng, công khai trong việc bố trí và thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, khoa học và công nghệ và hoạt động tài chính;
9 Thực hiện chế độ báo cáo cơ quan chủ quản và các cơ quan cấp trên về các hoạt động của trường theo quy định hiện hành
1.3.3 Chương trình khung
Theo quyết định số 23/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 29 tháng 07 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Bộ chương trình khung giáo dục đại học khối ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh trình độ đại học, cao đẳng đã ban hành chương trình khung đào tạo để từ đó Hiệu trưởng nhà trường
Trang 29ra quyết định thành lập hội đồng xây dựng chương trình giáo dục cụ thể của trường, tổ chức biên soạn và duyệt các giáo trình sử dụng chung theo quy định
Chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành bao gồm các phần cơ bản sau:
1 Mục tiêu đào tạo:
- Đào tạo các tác nghiệp viên kinh doanh có phẩm chất chính trị, đạo đức kinh doanh và sức khỏe tốt; nắm vững các kiến thức về chức năng, quá trình kinh doanh và quản trị ở các doanh nghiệp; có kỹ năng cơ bản để vận dụng trong kinh doanh nói chung và thực hành tốt trong một số công việc chuyên môn thuộc lĩnh vực đào tạo; có khả năng tự học tập để thích ứng với môi trường kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế
- Sinh viên tốt nghiệp làm việc chủ yếu ở các loại hình doanh nghiệp vừa
và nhỏ thuộc tất cả các thành phần kinh tế
2 Khung chương trình đào tạo
2.1 Khối lượng kiến thức tối thiểu và thời gian đào tạo theo thiết kế: 140 đơn vị học trình (viết tắt là đvht), chưa kể phần nội dung Giáo dục thể chất (3 đvht) và Giáo dục quốc phòng (135 tiết)
Thời gian đào tạo: 3 năm
2.2 Cấu trúc kiến thức của chương trình đào tạo
2.2.1 Kiến thức giáo dục đại cương tối thiểu (chưa kể các phần nội dung Giáo dục thể chất và Giáo dục quốc phòng); 43 đvht
2.2.2 Kiến thức giáo dục chuyên nghiệp tối thiểu: 97 đvht
Trong đó tối thiểu:
- Kiến thức cơ sở của khối ngành và ngành: 18 đvht
- Kiến thức ngành (kể cả kiến thức chuyên ngành): 45 đvht
- Kiến thức bổ trợ
- Thực tập nghề nghiệp và thi tốt nghiệp: 13 đvht
3 Hướng dẫn sử dụng chương tình khung trình độ cao đẳng ngành quản trị kinh doanh để thiết kế các chương trình đào tạo cụ thể
Trang 30- Chương trình khung giáo dục là những quy định nhà nước về cấu trúc, khối lượng và nội dung kiến thức tối thiểu cho từng ngành đào tạo và ứng với từng trình độ đào tạo, do đó là cơ sở giúp Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý chất lượng đào tạo tại tất cả các cơ sở giáo dục đại học trên phạm vi cả nước
- Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng ngành quản trị kinh doanh cần được phát triển theo hướng nhấn mạnh thực hành Việc tổ chức các giờ thực hành để rèn luyện phương pháp, kỹ năng và gắn việc học tập với thực tiễn ngành
được bố trí dưới các hình thức khác nhau
1.3.4 Quy chế ban hành kèm theo quyết định số 04/1999/QĐ-BGD&ĐT
Theo điều 1, 2, 3 của chương I trong quyết định ban hành kèm theo quy chế số 04/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày 11 tháng 2 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại học và cao đẳng hệ chính quy như sau:
- Về chương trình đào tạo
1 Giáo dục đại học đào tạo trình độ cao đẳng và trình độ đại học
Nội dung đào tạo trong toàn khóa học ở mỗi trình độ của từng ngành đào tạo chưa được thể hiện thành chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo của mỗi ngành đào tạo do các trường đại học và cao đẳng xây dựng trên cơ sở chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Chương trình khung gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ
lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học cơ bản và chuyên ngành, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập
2 Chương trình đào tạo gồm hai khối kiến thức:
- Khối kiến thức giáo dục đại cương
- Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp
Mỗi khối kiến thức có hai nhóm học phần:
- Nhóm học phần bắt buộc gồm những học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của ngành đào tạo và bắt buộc sinh viên phải tích lũy
Trang 31- Nhóm học phần tự chọn gồm những học phần chứa đựng những nội dung cần thiết nhưng sinh viên được lựa chọn theo hướng dẫn của trường để tích lũy đủ số học phần quy định
Căn cứ vào quy định về cấu trúc và khối lượng kiến thức tối thiểu cho các trình độ đào tạo, Giám đốc đại học, Giám đốc học viện, Hiệu trưởng trường đại học, cao đẳng (dưới đây gọi chung là Hiệu trưởng các trường) quy định các học phần này cho các ngành đào tạo của trường
3 Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho người học tích lũy trong quá trình học tập Mỗi học phần có khối lượng từ 2 đến
5 đơn vị học trình, được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học
kỳ Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ và được kết cấu riêng cho từng môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã riêng do trường quy định
Căn cứ vào đặc điểm các ngành đào tạo của trường, Hiệu trưởng quy định việc bố trí giảng dạy các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương và các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp cho phù hợp, đảm bảo tính khoa học, hiệu quả và thuận tiện cho sinh viên
4 Đơn vị để tính khối lượng học tập của sinh viên là đơn vị học trình Một đơn vị học trình được quy định bằng khoảng 15 tiết học lý thuyết, bằng khoảng
30 hoặc 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, bằng khoảng 45-90 tiết thực tập tại cơ sở hoặc bằng khoảng 45-60 tiết làm tiểu luận hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp
Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một đơn vị học trình sinh viên phải dành ít nhất 15 tiết chuẩn bị
Hiệu trưởng quy định những con số đối với từng học phần cho phù hợp với đặc điểm của trường
Một tiết học được tính bằng 45 phút
- Về thời gian đào tạo
1 Các trường đại học và cao đẳng tổ chức đào tạo theo khóa học và năm học
Trang 32Khóa học là thời gian được thiết kế để sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo của một ngành chuyên môn cụ thể Một khóa học đại học, tùy theo ngành đào tạo, từ 4 đến 6 năm học và một khóa học cao đẳng là 3 năm học
Một năm học có 2 học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thực học và 3 tuần thi Ngoài 2 học kỳ chính, các trường có thể tổ chức thêm một học
kỳ hè để cho những sinh viên thi không đạt ở các học kỳ chính được học lại và những sinh viên học giỏi có điều kiện học vượt để kết thúc sớm chương trình học tập Mỗi học kỳ hè có 7 đến 8 tuần thực học và một tuần thi
2 Căn cứ vào khối lượng kiến thức tối thiểu cho các trình độ đào tạo, Hiệu trưởng phân bổ số đơn vị học trình cho các năm học, cho các học kỳ
Đầu khóa học, trường phải thông báo cho sinh viên về kế hoạch học tập, lịch trình, chương trình đào tạo toàn khóa của các ngành đào tạo, về quy chế học tập, kiểm tra, thi, đánh giá, xếp loại học tập và công nhận tốt nghiệp, về nghĩa vụ
và quyền lợi của sinh viên
Đầu mỗi năm học, trường phải thông báo lịch học trong từng học kỳ, đề cương chi tiết của từng học phần, điều kiện để được học tiếp, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi các học phần Đầu mỗi năm học sinh viên phải đăng ký học các học phần tự chọn với Phòng Đào tạo của trường
- Về phân ngành đào tạo
1 Đối với những trường đã định điểm xét tuyển theo ngành đào tạo trong
kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng: sinh viên đạt điểm xét tuyển quy định đối với ngành mà mình đã đăng ký dự thi thì được trường sắp xếp vào học theo đúng nguyện vọng
Sau khi kết thúc phần giáo dục đại cương, trường quy định điểm trung bình chung học tập (cách tính điểm trung bình chung học tập được quy định tại khoản 2 Điều 11 của Quy chế này) cần thiết để xét tuyển phần lớn sinh viên vào học tiếp phần giáo dục chuyên nghiệp Những sinh viên không đạt điểm trung bình chung học tập theo quy định phải dự thi tuyển cùng những sinh viên khác cùng khối ngành trong trường có nhu cầu chuyển ngành
Điều kiện dự thi, hình thức dự thi, nội dung thi, điểm xét tuyển do Hiệu trưởng quy định Sinh viên thi không đạt phải chuyển sang học ngành khác theo quy định của trường
Trang 332 Đối những trường trong kỳ thi tuyển sinh không định điểm xét tuyển theo ngành đào tạo: Đầu khóa học trường công bố công khai chỉ tiêu đào tạo cho từng ngành Sau khi kết thúc phần giáo dục đại cương, trường căn cứ vào đăng ký chọn ngành của sinh viên và điểm trung bình chung học tập của họ để phân ngành
Nếu số lượng sinh viên đăng ký vào học ngành nào đó lớn hơn chỉ tiêu đã công
bố thì trường lấy những người có điểm trung bình chung học tập từ cao trở xuống cho đến đủ chỉ tiêu Những sinh viên không đủ điểm quy định phải chuyển sang học ngành khác theo quy định của trường
1.3.5 Quy chế ban hành kèm theo quyết định số 25/2006/QĐ-BGD&ĐT
Ngày 26/06/2006 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quyết đinh ban hành kèm theo quy chế số 25/2006/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy thay thế cho quyết định số 04/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/02/1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế về tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại học và cao đẳng hệ chính quy
Theo điều 1, 2, 3, 4, 5 của quy chế này, chương trình đào tạo được quy định như sau:
- Về chương trình đào tạo
1 Chương trình giáo dục đại học (sau đây gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học
2 Chương trình được các trường xây dựng trên cơ sở chương trình khung do
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Mỗi chương trình khung tương ứng với mỗi một ngành đào tạo ở một trình độ cụ thể Mỗi chương trình có thể gắn với một ngành hoặc một vài ngành đào tạo
3 Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc các khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp
4 Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho người học tích lũy trong quá trình học tập Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 5 đơn vị học trình, được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm
Trang 34học thiết kế và được kết cấu riêng như một học phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã riêng do trường quy định
5 Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn
- Học phần bắt buộc là các học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích luỹ
- Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết nhưng sinh viên được lựa chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần theo quy định cho nỗi chương trình
6 Đơn vị để tính khối lượng học tập của sinh viên là đơn vị học trình Một đơn vị học trình được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết, bằng 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hay thảo luận, bằng 45-90 tiết thực tập tại cơ sở; hoặc bằng 45-
60 tiết làm tiểu luận hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp
Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một đơn vị học trình sinh viên phải dành ít nhất 15 giờ chuẩn bị cá nhân
Hiệu trưởng quy định những con số đối với từng học phần cho phù hợp với đặc điểm của trường mình
7 Một tiết học được tính bằng 45 phút
- Về thời gian và kế hoạch đào tạo
1 Các trường đại học và cao đẳng tổ chức đào tạo theo khóa học và năm học
Khóa học là thời gian được thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể Tuỳ thuộc chương trình, khoá học đối với đào tạo trình độ cao đẳng được quy định như sau: Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tuỳ theo ngành nghề đào tạo đối với người tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo
Một năm học có 2 học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thực học và 3 tuần thi, kiểm tra Ngoài 2 học kỳ chính, các trường có thể tổ chức thêm một học kỳ hè để cho những sinh viên thi không đạt ở các học kỳ chính được
Trang 35học lại và những sinh viên học giỏi có điều kiện học vượt để kết thúc sớm chương trình học tập Mỗi học kỳ hè có ít nhất 5 tuần thực học và một tuần thi, kiểm tra
2 Căn cứ vào khối lượng kiến thức quy định cho các chương trình, Hiệu trưởng phân bổ số đơn vị học trình cho từng năm học, cho từng học kỳ
Đầu khóa học, trường phải thông báo công khai về nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình; quy chế đào tạo; nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên
Đầu mỗi năm học, trường phải thông báo lịch học trong từng chương trình trong từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn, đề cương chi tiết của từng học phần, điều kiện để được học tiếp, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi các học phần
Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, sinh viên phải đăng ký học các học phần tự chọn, các học phần sẽ học thêm hoặc các học phần chưa định học nằm trong lịch trình học của học kỳ đó với phòng đào tạo của trường, sau khi đã tham khảo ý kiến của cán bộ phụ trách đào tạo Nếu không đăng ký, sinh viên phải chấp nhận lịch học
do nhà trường quy định
- Về phân ngành đào tạo
1 Đối với những trường đã định điểm xét tuyển theo chương trình (hoặc ngành đào tạo) trong kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng: sinh viên đạt điểm xét tuyển quy định đối với ngành mà mình đã đăng ký dự thi thì được trường sắp xếp vào các chương trình (hoặc ngành đào tạo) đã đăng ký
2 Đối những trường xác định điểm xét tuyển vào trường theo nhóm chương trình (hoặc ngành đào tạo) trong kỳ thi tuyển sinh thì đầu khoá học, trường công bố công khai chỉ tiêu đào tạo cho từng chương trình (hoặc ngành đào tạo) Sau khi sinh viên kết thúc học phần học chung bắt buộc trước khi đăng
ký học phần nội dung chuyên môn, trường căn cứ vào đăng ký chọn chương trình (hoặc ngành đào tạo) và điểm trung bình chung học tập của sinh viên để sắp xếp sinh viên vào các chương trình (hoặc ngành đào tạo)
Xét về chương trình đào tạo: khi so sánh giữa quyết định ban hành kèm theo quy chế số 04/1999/QĐ-BGD&ĐT và quyết định ban hành kèm theo quy chế số 25/2006/QĐ-BGD&ĐT ta thấy rằng cả hai quyết định trên về cơ bản là giống nhau Tuy nhiên, quyết định ban hành kèm theo quy chế số 25/2006/QĐ-
Trang 36đinh 04/1999, đơn vị học trình được quy đổi cụ thể hơn Bên cạnh đó, quyết định số 25/2006 tạo điều kiện cho hiệu trưởng các trường phát huy được tính chủ động cao hơn
Trong khuôn khổ luận văn này các biện pháp quản lý chương trình đào tạo hệ cao đẳng của Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội được triển khai thực hiện theo quyết định số 25/2006/QĐ-BDG&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo và có tính đến xu hướng chuyển đổi từng bước chương trình học phần (niên chế) sang
mô hình học tín chỉ và liên thông giữa các bậc đào tạo trung cấp chuyên nghiệp - cao đẳng - đại học
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO HỆ CAO ĐẲNG TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI 2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Lịch sử hình thành và phát triển của Nhà trường từ trước đến nay có thể chia thành 3 giai đoạn chính, đó là giai đoạn từ 1972 - 1995, 1995 - 2003 và từ 2003 cho đến nay
* Giai đoạn 1972-1995
- Tiền thân là Trường Công nhân khách sạn Du lịch được thành lập theo Quyết định số 1151/CA/QĐ ngày 24/7/1972, do Bộ trưởng Bộ Công An ký Đây là trường đầu tiên của ngành du lịch Việt Nam đào tạo nghiệp vụ khách sạn - du lịch
- Tháng 6/1984, Tổng cục Du lịch có Quyết định số 146/TCDL đổi tên Trường Công nhân khách sạn Du lịch thành Trường Du lịch Việt Nam
Trong hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành, Nhà trường đã vượt qua biết bao khó khăn với quyết tâm cao, cán bộ và giáo viên Nhà trường đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Tổng cục Du lịch giao cho Trong giai đoạn này, Nhà trường đã đào tạo được trên 8.660 học sinh tốt nghiệp, với số lượng không ngừng tăng lên Những năm đầu thành lập mới có 93 học sinh tốt nghiệp sau đó tăng lên
200, và 300 vào cuối những năm 70 và đến năm 1995 tăng lên hơn 400 học sinh tốt nghiệp mỗi năm Ngoài đào tạo mới, Nhà trường còn tập trung bồi dưỡng nghiệp
vụ cho cán bộ trong ngành về kiến thức quản lý kinh tế, ngoại ngữ Tổng số học viên bồi dưỡng trong giai đoạn này lên tới 931 người
* Giai đoạn từ năm 1995 - 2003
Trang 37- Thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng, Chỉ thị 46/BCH-TƯ ngày 14/10/1994 của Ban Bí thư về lãnh đạo đổi mới phát triển du lịch trong tình hình mới; Nghị quyết 45/CP ngày 22/6/1993 của Chính phủ về đổi mới quản lý và phát triển du lịch đã đi vào cuộc sống Đối với nhà trường đây là bước chuyển mình cơ bản về nội dung nhiệm vụ đào tạo cho ngành du lịch trong giai đoạn mới
- Ngày 21/8/1995, Tổng cục Du lịch đã ban hành Quyết định số TCDL về thành lập trường Du lịch Hà nội trên cơ sở sáp nhập khách sạn Hoàng Long vào trường Du lịch Việt Nam để tổ chức mô hình trường - khách sạn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nhân viên, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành
228/QĐ Ngày 24/7/1997, Tổng cục Du lịch ban hành quyết định số 239/QĐ228/QĐ TCDL về việc nâng cấp trường Du lịch Hà Nội thành Trường Trung học Nghiệp
239/QĐ-vụ Du lịch Hà Nội
- Từ năm 1997 - 2000, Trường được thụ hưởng dự án VIE/002 do Chính phủ Luxembourg tài trợ về nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, đào tạo giáo viên nguồn, và phát triển chương trình đào tạo nghiệp vụ khách sạn
Được sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo Tổng cục Du lịch, Bộ Giáo dục
& Đào tạo, sự hướng dẫn và giúp đỡ của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà nội, trong thời gian qua Trường Trung học Nghiệp vụ Du lịch Hà nội đã đạt được những kết quả đáng khích lệ
- Từ năm 1995 trở lại đây, do nhu cầu đào tạo tăng mạnh, nhà trường không ngừng mở rộng quy mô đào tạo; số lượng học sinh đăng ký vào học tại trường ngày nhiều Căn cứ vào chỉ tiêu tuyển sinh của Nhà nước, số lượng chiêu sinh hàng năm cho thấy sự trưởng thành vượt bậc của nhà trường về khả năng đào tạo
- Không những quy mô đào đào tạo không ngừng mở rộng mà với chất lượng đào tạo đáp ứng đúng yêu cầu của thực tế nên số học sinh tốt nghiệp ra trường có việc làm ngày đạt từ 80-85% Điều đó khẳng định sự vươn lên cả về chất
và lượng của nhà trường
- Thực hiện nhiệm vụ của Tổng cục Du lịch giao, trong giai đoạn này nhà trường đã tích cực tổ chức các khoá bồi dưỡng cho các đối tượng là cán bộ, công chức, giáo viên, viên chức trong ngành về các lĩnh vực liên quan như: quản lý
Trang 38khách sạn, nhà hàng, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cấp I và cấp II cho giáo viên v.v đặc biệt là bồi dưỡng kiến thức quản lý du lịch cho cán bộ du lịch của Lào
và Campuchia Tổng số người được nhà trường bồi dưỡng và đào tạo lại đến nay gần 5.000 người
- Được sự chấp thuận và chỉ đạo của Tổng cục Du lịch, nhà trường đã mở rộng hợp tác quốc tế về lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng về du lịch ; đã ký kết hợp tác với các trường du lịch và khách sạn của các nước trong khu vực, tham gia vào các tổ chức đào tạo quốc tế: Trường khách sạn SHATEC (Singapore), Trường du lịch và khách sạn HTTI (Thái lan), Học viện du lịch Quế lâm (Trung quốc), Trường khách sạn du lịch Liege (Bỉ); Tham gia vào mạng lưới các trường đào tạo du lịch và khách sạn vùng châu Á-Thái Bình Dương (APETIT); Hiệp hội các trường đào tạo du lịch khách sạn châu Âu (AEHT); Quan hệ với các tổ chức quốc tế như GAP (Anh quốc) để tiếp nhận các giáo viên tình nguyện
- Trong thời gian qua, được thụ hưởng dự án VIE/002 do Chính phủ Luxembourg tài trợ nhằm vào 3 mục tiêu: nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy
và học cho nhà trường; đào tạo giáo viên nguồn và tăng cường năng lực cho cán bộ quản lý và giáo viên và xây dựng chương trình đào tạo liên thông Điều kiện vật chất, con người và chương trình đào tạo của nhà trường đã được chuẩn bị kỹ lưỡng
* Giai đoạn 2003 cho đến nay
- Ngày 27 tháng 10 năm 2003 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký quyết định số 5907/QĐ-BGD&ĐT-TCCB về việc thành lập Trường Cao đẳng Du lịch
Hà Nội Theo quyết định này trường có các nhiệm vụ sau: đào tạo và bồi dưỡng cán bộ có trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn trong các lĩnh vực có liên quan đến du lịch; Nghiên cứu khoa học phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội;
- Trên cơ sở quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thành lập Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2003 Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch đã ban hành quyết định số 493/QĐ-TCDL về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Trường cao đẳng Du lịch Hà Nội Quy chế này đã quy định chức năng của nhà trường là: đào tạo cử nhân thực hành về chuyên ngành du lịch, khách sạn và liên quan; bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý các bộ phận, giám sát viên, nhân viên, công nhân kỹ thuật phục vụ trong
du lịch, khách sạn có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, trình độ, kỹ năng nghiệp
Trang 39vụ, ngoại ngữ ở trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn, đáp ứng yêu cầu
phát triển của ngành trong sự nghiệp phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi
nhọn
- Từ khi Việt Nam tham gia vào cuộc thi tay nghề ASEAN, Nhà trường
đều có học sinh tham gia và các học tham gia đều đạt giải Năm 2006, khi Hội
thi tay nghề ASEAN lần thứ VI được tổ chức tại Brunei, Nhà trường có 03 học
sinh tham gia vào 2 nội dung là Dịch vụ Nhà hàng và Nấu ăn với kết quả đạt
được là 2 huy chương bạc và 1 chứng chỉ nghề xuất sắc
Địa điểm của nhà trường:
- Địa điểm chính: Đường Hoàng Quốc Việt, Quận Cầu giấy - Hà nội
Điện thoại : 04.8364.390 Fax : 04.7543.050
E mail : dungtrthnvdl@hn.vnn.vn
Webside: http://www.htc.edu.vn
- Khách sạn Trường : Đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài
Xã Xuân Đỉnh, Huyện - Từ Liêm - Hà nội
Điện thoại : 04.8389.390 Fax : 04.8389.961
E mail : ttthnks@hn.vnn.vn
- Khu trường cũ: Tổ 18 - Phường Nghĩa Đô - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 04.8364.396
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Theo quyết định số 493/QĐ-TCDL ngày 25/12/2003 của Tổng cục trưởng
Tổng cục du lịch về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Cao
đẳng Du lịch Hà Nội
- Chức năng:
Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội là cơ sở đào tạo công lập trực thuộc
Tổng cục Du lịch, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ 3 cấp: cao đẳng, trung cấp và
dạy nghề về các chuyên ngành du lịch, khách sạn và liên quan, đồng thời chịu sự
quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động Thương binh - Xã
hội về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển giáo dục, đào
Trang 40tạo: tiêu chuẩn giảng viên, nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo; về tuyển sinh, tổ chức đào tạo, thi kiểm tra, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng, chứng chỉ và về thanh tra giáo dục
Tên giao dịch : HANOI TOURISM COLLEGE
Tên viết tắt: HTC
Trường là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu; được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước và ngân hàng bằng tiền Việt nam và ngoại tệ
- Trường Cao đẳng Du lịch Hà nội có 3 chức năng cơ bản sau:
+ Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có trình độ cao đẳng và trình độ thấp hơn trong lĩnh vực du lịch, khách sạn và liên quan;
+ Bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ quản lý và người lao động trong ngành;
+ Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
- Nhiệm vụ:
1 Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển của nhà trường phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục và quy hoạch mạng lưới Trường cao đẳng của Nhà nước trình Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, tổ chức thực hiện sau khi được Tổng cục trưởng phê duyệt;
2 Đào tạo nhân lực theo danh mục các chuyên ngành được phép đào tạo
và hệ thống văn bằng, chứng chỉ theo quy định chung của Nhà nước thuộc các loại hình đào tạo tại các cấp học: cao đẳng, trung học, dạy nghề;
3 Xây dựng chương trình, giáo trình, nội dung và kế hoạch đào tạo đối với các chuyên ngành nhà trường được phép đào tạo, tiến tới liên thông các chương trình đào tạo nghề- trung học- cao đẳng trên cơ sở chương trình khung
do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Xây dựng chương trình, nội dung đào tạo cho những chuyên ngành, nghề mới trình Tổng cục Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động Thương binh - Xã hội phê duyệt; Tổ chức nghiên cứu, biên soạn, thẩm định giáo trình các môn học;