Ở Việt Nam, hoạt động giáo dục đã gắn bó máu thịt với các sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước và xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đã và đang có sức sống mãnh liệt tro
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÃ HỘI HOÁ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC 10
1.1 Một số quan điểm về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục 10
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục 10
1.1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục và xã hội hoá sự nghiệp giáo dục 12
.3 Theo quan điểm lịch sử phát triển giáo dục 16
1.1.4 Theo quan điểm tiếp cận hệ thống trong khoa học quản lý giáo dục 18
1.2 Một số khái niệm nghiên cứu về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục 20
.1 Khái niệm xã hội hoá 20
1.2.2 Khái niệm xã hội hoá sự nghiệp giáo dục 21
1.3 Tổng quan về một số quan điểm xã hội hoá sự nghiệp giáo dục 24
1.3.1 Một số nét về tình hình nghiên cứu xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở trong nước và Quốc tế 24
1.3.2 Mục tiêu của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục 31
.4 Điều kiện thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục 33
1.3.5 Ý nghĩa của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục 34
Chương 2 37
THỰC TRẠNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP XÃ HỘI HOÁ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC Ở HUYỆN AN DƯƠNG, HẢI PHÒNG 37
2.1 Vị trí vai trò của huyện An Dương trong công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục của Hải Phòng 37
Trang 32
2.1.1 Khái quát tình hình địa lý, kinh tế - xã hội của huyện An Dương 37 2.1.2 Tình hình thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà
nước của thành phố Hải Phòng 38
2.2 Thực trạng xã hội hoá sự nghiệp giáo dục hiện nay ở huyện An Dương 41
2.2.1 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non: toàn huyện có 16 trường mầm non, trong đó có 1 trường chính quy và 15 trường dân lập đang chuyển dần sang bán công 42
2.2.2 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục bậc tiểu học 43
2.2.3 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục bậc trung học cơ sở: 44
2.2.4 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục bậc trung học phổ thông: 45
2.2.5 Việc triển khai thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở huyện An Dương 48
2.3 Tình hình xã hội hoá sự nghiệp giáo dục của huyện An Dương 49
2.3.1 Nhận thức về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở huyện An Dương 49
2.3.2 Kết quả của công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở huyện An Dương trong những năm qua: 53
2.3.3 Một số vấn đề đặt ra đối với công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở huyện An Dương 68
Chương 3 XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP 73
TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC 73
3.1 Một số xu hướng biến đổi về giáo dục và xã hội hoá giáo dục 73
3.1.1 Mục tiêu phát triển các cấp bậc học, trình độ và loại hình giáo dục của cả nước: 73
3.1.2 Mục tiêu, định hướng phát triển giáo dục trung học phổ thông và chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông của thành phố Hải Phòng 75
Trang 43.1.3 Định hướng phát triển giáo dục trung học phổ thông và chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông của huyện
An Dương 77 3.2 Một số cơ sở và phương hướng tăng cường xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông 81 3.3 Các biện pháp tăng cường xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông nhằm mục tiêu phổ cập trung học phổ thông và nghề 84 3.3.1 Biện pháp “Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội và gia đình về vị trí, vai trò của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông ” 84 3.3.2 Biện pháp “hoàn thiện cơ chế phối hợp các lực lượng xã hội, các ban, ngành, đoàn thể cùng tham gia đóng góp và cùng làm xã hội hoá
sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông ” 90 3.3.3 Biện pháp “củng cố bộ máy tổ chức, quy chế làm việc của Hội đồng giáo dục các cấp và các trung tâm học tập cộng đồng” 97 3.3.4 Biện pháp "Nâng cao hiệu quả hoạt động của ba môi trường: nhà trường, gia đình và xã hội, lấy hoạt động giáo dục trong nhà trường làm trung tâm" 102 3.3.5 Biện pháp "Hoàn thiện cơ chế và tăng cường các biện pháp quản lý tài chính nhằm phát huy hiệu quả của nguồn lực tài chính huy động từ xã hội hoá giáo dục"
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 108
Trang 5“Lợi thế sẽ thuộc về quốc gia nào có nguồn nhân lực trí tuệ cao” Như vậy
cũng có nghĩa là, nếu dân tộc nào, quốc gia nào trình độ thấp thì sẽ rất thiệt thòi, chỉ đi làm đầy tớ, “nô lệ” kiểu mới cho các dân tộc, quốc gia có trình
độ cao
Đối với dân tộc ta, ngay từ xa xưa ông cha ta đã khẳng định: “Hiền tài
là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí mạnh thì thế nước lên và hưng thịnh, nguyên khí yếu thì thế nước suy” Ngày nay “Nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” là quan điểm lớn của Đảng ta Nghị
quyết Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực
to lớn của người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã
giao trách nhiệm cho ngành giáo dục và đào tạo là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” và xác định vị trí vai trò của Giáo dục - Đào tạo là “Quốc sách hàng đầu” đồng thời Đảng cũng chỉ rõ: Giáo dục - Đào tạo phải đi vào “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” để xứng đáng
Trang 6trở thành động lực quan trọng đẩy nhanh tiến trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá hội nhập với khu vực và quốc tế
Trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, trước sự
“bùng nổ thông tin”, kiến thức của một người tiếp thu được trong quá trình học ở trường phổ thông, kể cả đại học và sau đại học trong thời đại ngày nay trở nên quá ít ỏi và nhanh chóng lạc hậu Do đó, để có thể tồn tại và phát triển được trong xã hội hiện nay, mỗi người cần phải học thường xuyên, liên tục, suốt đời, ở mọi nơi, mọi lúc, dưới nhiều hình thức, phương thức khác nhau
Ở Việt Nam, hoạt động giáo dục đã gắn bó máu thịt với các sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước và xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đã và đang có sức sống mãnh liệt trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo của nhân dân ta
Để mở rộng và phát triển giáo dục, ngoài việc tăng cường đầu tư ngân sách Nhà nước, cần thiết phải đẩy mạnh XHHSNGD Đảng ta chủ trương: đẩy mạnh XHHSNGD, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục Nhà nước khuyến khích mọi đóng góp, sáng kiến của xã hội cho giáo dục thực hiện chương trình giáo dục cho mọi người XHHSNGD được coi là một tư tưởng chiến lược, coi sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của toàn xã hội tham gia vào công tác giáo dục, là điều kiện tiên quyết để phát triển toàn diện và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục
2.2 Về thực tiễn:
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo của huyện An Dương ngày càng mở rộng
về quy mô, nâng cao về chất lượng, trước yêu cầu ngày càng cao của sự
Trang 76
hội của huyện An Dương đòi hỏi: giáo dục - đào tạo phải đổi mới và phát triển nhanh hơn nữa Trong khi đó, ngân sách và đầu tư khác của Nhà nước cho giáo dục và đào tạo còn thiếu, chưa đủ đáp ứng nhu cầu của ngành Bởi vậy, cần có nhiều biện pháp có hiệu quả, toàn diện và đồng bộ để đẩy mạnh
XHHSNGD trung học phổ thông, góp phần thúc đẩy công tác phổ cập giáo dục bậc trung học và nghề ở huyện An Dương, thành phố Hải Phòng Chủ trương XHHSNGD của Đảng đã và đang được triển khai rộng khắp các địa phương trong cả nước Ở thành phố Hải Phòng nói chung và ở huyện An Dương nói riêng, XHHSNGD đã được thực hiện sớm và đem lại nhiều kết quả, góp phần cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo của huyện ngày một phát triển Song công tác XHHSNGD của huyện chưa phải đã được tất
cả các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội huyện An Dương nhận thức đầy
đủ và chỉ đạo tốt, các gia đình, cá nhân ở huyện An Dương chưa phải đều
đã thấm nhuần và thực hiện tốt
Vì vậy, cần thiết và cấp bách phải nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp XHHSNGD trung học phổ thông góp phần đạt mục tiêu giáo dục - đào tạo của An Dương
3 Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất một số biện pháp xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông nhằm góp phần đạt mục tiêu phổ cập trung học phổ thông và nghề ở huyện An Dương, thành phố Hải phòng đến năm 2008
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
Trang 8- Biện pháp tăng cường xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông ở huyện An Dương, thành phố Hải phòng
5 Giả thuyết khoa học:
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội địa phương, cần phải lựa chọn áp dụng đồng bộ các biện pháp xã hội
hoá sự nghiệp giáo dục (Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục; Hoàn thiện cơ chế phối hợp; Củng cố Hội đồng giáo dục các cấp; Nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường - gia đình - xã hội; Tăng cường quản lý nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính huy động từ xã hội hoá sự nghiệp giáo dục)
6 Nhiệm vụ nghiên cứu:
6.1 Phân tích và làm sáng tỏ cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học,
nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
6.2 Nghiên cứu, thu thập, xử lý, phân tích thông tin để đánh giá thực
trạng công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở huyện An Dương, phát hiện, xem xét các nguyên nhân và các yếu tố tác động đến thực trạng đó
6.3 Tìm hiểu xu hướng biến đổi của XHHSNGD ở huyện An Dương và
đề xuất một số biện pháp đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông ở huyện An Dương, thành phố Hải phòng
7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề, biện pháp xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông ở huyện An Dương trong thời gian từ năm 2002 đến năm 2008
8 Những luận điểm bảo vệ:
8.1 Ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo
dục trung học phổ thông ở huyện An Dương
Trang 98
8.2 Sự cần thiết phải nghiên cứu thực trạng và các biện pháp xã hội hoá
sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông ở địa phương
8.3 Luận chứng khoa học cho việc lựa chọn và sử dụng đồng bộ các biện
pháp (Các kết quả nghiên cứu về mặt lý thuyết, thực tế khách quan, khoa học)
9 Cái mới của luận văn:
Các công trình, đề tài, các bài báo và Hội thảo đã nghiên cứu, thảo luận vấn đề “Xã hội hoá giáo dục” dưới nhiều khía cạnh khác nhau, từ góc
độ khoa học quản lý về giáo dục Tuy nhiên, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu chuyên sâu về biện pháp tăng cường công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông ở huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Do đó cái mới của luận văn là việc áp dụng lý luận, phương pháp nghiên cứu đã học làm sáng tỏ xã hội hoá sự nghiệp giáo dục và đề xuất biện pháp tăng cường xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông ở huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
10 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
10.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng
10.2 Phương pháp phân tích tài liệu
10.3 Phương pháp điều tra xã hội học: (điều tra bằng phiếu, phỏng vấn,
tọa đàm )
10.4 Phương pháp thống kê toán học
10.5 Những tham kiến các ý kiến của các chuyên gia
11 Dàn ý nội dung công trình:
Trang 10Luận văn bao gồm mở đầu, kết quả nghiên cứu và kết luận, khuyến nghị Cuối luận văn có phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo Kết quả nghiên cứu được cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
Chương 2: Thực trạng và các biện pháp xã hội hoá sự nghiệp giáo
dục ở huyện An Dương, Hải Phòng
Chương 3: Xu hướng biến đổi và một số biện pháp xã hội hoá sự
nghiệp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông ở huyện An Dương, Hải Phòng
Kết luận và khuyến nghị
Trang 1110
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÃ HỘI HOÁ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC
1.1 Một số quan điểm về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục
Lý luận Mác-Lê nin coi giáo dục có vai trò quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Khi đề cập đến vấn đề tổng quát của lịch sử phát triển loài người Marx chỉ rõ ở mỗi giai đoạn phát triển đều đòi hỏi một sức
lao động xã hội nhất định Sức lao động đó là: "Toàn bộ các sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần ở trong cơ thể con người, ở trong nhân cách sinh động của con người, những sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần
mà con người phải cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích" [1] Sức
mạnh này do đâu mà có? Marx chỉ ra đó là do đào tạo Trên nền tảng tư tưởng giáo dục của Marx về phổ cập giáo dục phổ thông kỹ thuật tổng hợp
và việc kết hợp với lao động sản xuất, Lê-nin đã phát triển hoàn chỉnh lý luận về bản chất kinh tế của giáo dục Theo Lê-nin, giáo dục xã hội chủ nghĩa vừa là mục đích kinh tế, vừa là sức mạnh của kinh tế Giáo dục trong các nước XHCN biểu hiện cả hai mặt của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội
Trang 12Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công, đất nước ở trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn vì bị chiến tranh tàn phá, Lê-nin đã chỉ ra:
"Muốn thoát khỏi cảnh thiếu thốn, cảnh cùng khổ đen tối nhất thì phải có suy nghĩ, phải có văn hoá, phải giỏi" Người coi: "Điều kiện để nâng cao năng xuất lao động trước hết chính là trình độ tiến bộ của nền giáo dục và văn hoá của đông đảo quần chúng nhân dân" [1, tr.25] Lê-nin coi giáo dục
XHCN là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã hội phải chăm lo sự phát triển của giáo dục và của ngành giáo dục, ngoài kinh phí cấp phát của nhà nước, còn phải biết khai thác lực lượng vật chất của xã hội phục vụ cho công tác đào tạo Lê - nin là người đầu tiên nêu ra nguyên tắc quản lý này với hệ
thống giáo dục Trong "Dự án cương lĩnh của Đảng Cộng sản Nga" Tháng 2/1919, Lê-nin đã nêu: " Làm cho nhân dân lao động tích cực tham gia vào
sự nghiệp giáo dục quốc dân, phát triển những hội đồng giáo dục quốc dân, động viên những người có văn hoá tham gia vào quá trình giáo dục"
[1,tr.28]
Vấn đề lý luận này cũng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện sinh động và phát triển sáng tạo trong tiến trình cách mạng ở nước ta Tháng 9/1945, ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Hồ
Chủ tịch đã nêu ra mục tiêu của chế độ mới là làm cho mọi người "ai cũng
có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" Để đạt mục tiêu này, Người cho rằng: "Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này
là nâng cao dân trí"
Với hoàn cảnh đất nước còn nghèo nàn, trình độ học vấn của nhân dân còn thấp kém, chính quyền cách mạng vừa giành được đã bị kẻ thù uy
hiếp, phá hoại, Hồ Chủ tịch vạch ra nhiệm vụ chiến lược là: "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm" Trong những năm chiến đấu chống thực
dân Pháp xâm lược, mặc dù công tác lãnh đạo kháng chiến rất bận rộn và
Trang 1312
giáo dục mới, hướng hoạt động của giáo dục vào việc đào tạo cán bộ mới
và giúp đỡ cán bộ cũ theo tôn chỉ "kháng chiến và kiến quốc", góp phần
vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống mới
Nhằm giúp cho cán bộ giáo dục thấy rõ nhiệm vụ nặng nề, vẻ vang của ngành trước hoàn cảnh mới của cách mạng, trong lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè của ngành giáo dục tháng 4/1956, Hồ Chủ tịch nói rõ:
"Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hoá Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu Tuy không có gì đột xuất, nhưng rất vẻ vang" Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân: "Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người" Người yêu cầu toàn xã hội: Phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp
giáo dục lên những bước phát triển mới" Người chỉ thị cho ngành giáo dục: "Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt, học tốt" để
"thời gian không xa đạt những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật"[ 1, tr 62].
1.1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục và xã hội hoá
sự nghiệp giáo dục
Xuất phát từ đường lối đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI, ngày 10/10/1990 Bộ Giáo dục - Đào tạo và Công đoàn giáo dục Việt Nam ra thông tư liên tịch số 35/TT – LT về việc động viên toàn ngành tham mưu với các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương mở Đại hội giáo dục cấp cơ sở, thực hiện XHHSNGD [32]
Đặc biệt từ khi có Nghị quyết 04/NQ-TW về việc tiếp tục đổi mới sự
nghiệp giáo dục và đào tạo với quan điểm: “Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước” Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân
dân, các tổ chức xã hội, mọi gia đình và mọi người cùng với ngành GD -
ĐT chăm lo xây dựng sự nghiệp giáo dục theo phương châm “Nhà nước và
Trang 14nhân dân cùng làm”, “xây dựng môi trường giáo dục nhà trường, gia đình
và xã hội” [33] Việc mở ĐHGD các cấp, thực hiện XHHSNGD được Ban
khoa giáo Trung ương phối hợp chỉ đạo đã triển khai sâu rộng trong phạm
vi toàn quốc Các tỉnh, thành phố, UBND quận huyện, xã phường có nghị quyết, chỉ thị về XHHSNGD
NQTW 2, khoá VIII (1997) đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình
và mỗi công dân Kết hợp tốt giáo dục học đường với giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh Người lớn làm gương cho trẻ noi theo Phát động vai trò rộng khắp toàn dân học tập, người người đi học, học ở trường, lớp và tự học suốt đời Người biết dạy người chưa biết, người biết nhiều dạy người biết ít, mỗi người phải không ngừng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ Phát triển các hình thức giáo dục từ xa Tiếp tục đa dạng hoá các hình thức giáo dục và các loại hình trường phù hợp với đòi hỏi của tình hình mới, với nhu cầu học tập của tuổi trẻ và của toàn xã hội ” [35]
Nghị quyết 90/CP của Chính phủ tháng 8 năm 1997 đã nêu nội dung
cơ bản về XHHSNGD, [23]
XHHSNGD là cuộc vận động lớn, hình thành các tổ chức nhân dân của toàn xã hội tham gia, đóng góp, thúc đẩy sự phát triển sự nghiệp giáo dục
XHHSNGD là việc tạo ra môi trường rộng khắp, lành mạnh cho giáo dục mà trách nhiệm thuộc về cộng đồng xã hội từ các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp chăm lo, hỗ trợ cho sự phát triển giáo dục
Đa dạng hoá các loại hình giáo dục, theo điều kiện kinh tế - xã hội địa phương, dưới sự quản lý của Nhà nước, trong khuôn khổ chính sách của
Trang 15Đại hội IX tiếp tục khẳng định vị trí vai trò và nhiệm vụ của công tác
XHHSNGD: Thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” Phát huy
tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính
quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập” [34]
Đại hội IX cũng nhấn mạnh “thực hiện chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục”
Trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010” cũng đã xác định: Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên, học suốt đời Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục Đẩy mạnh xã hội hoá; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khoá IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ từ nay đến năm 2010 đã chỉ rõ:
Trang 16"Đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục Nhà nước khuyến khích mọi đóng góp, mọi sáng kiến của xã hội cho giáo dục Mặt khác Nhà nước tập trung đầu tư cho giáo dục ở vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số, những đối tượng gặp khó khăn
Thực hiện chương trình giáo dục cho mọi người Tiếp tục đa dạng hoá các loại hình trường lớp, tạo cơ hội học tập cho mọi tầng lớp nhân dân có nhu cầu Nghiên cứu các chính sách Nhà nước hỗ trợ trường ngoài công lập
Hoàn thiện quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp, của Hội khuyến học, của các loại hình trường ngoài công lập; Chính sách về học phí, học bổng, quy định các khoản thu và sử dụng các khoản đóng góp của người học, các khoản hỗ trợ cho học sinh vùng dân
tộc, vùng khó khăn, gia đình chính sách ”[26]
Ngày 15/11/2004, trong kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá IX, thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Minh Hiển trình bầy báo cáo về tình hình giáo dục trước Quốc hội Bộ trưởng đã thẳng thắn nhìn nhận một cách tổng quát về cả ưu điểm cũng như khuyết
điểm của nền giáo dục nước ta hiện nay: "Trong những năm qua, nền giáo
dục nước ta đã có bước phát triển mới về quy mô và các điều kiện đảm bảo chất lượng, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Bên cạnh đó, trong giáo dục cũng bộc lộ những bất cập, yếu
kém, khuyết điểm gây lo lắng, bức xúc trong nhân dân" Thay mặt Chính
phủ, Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển đã trình bày một số nhiệm vụ trọng tâm
và giải pháp phát triển từ nay đến năm 2010 Theo đó một trong những nội dung quan trọng về giải pháp khắc phục tình trạng giáo dục hiện nay là tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy giáo dục mà công tác xã hội hoá giáo dục
Trang 1716
Quốc hội đã dành toàn bộ thời gian còn lại trong ngày để các đại biểu thảo luận về tình hình giáo dục Tổng số đã có 15 ý kiến phát biểu, 3 ý kiến chất vấn và 22 đại biểu đăng ký nhưng chưa được phát biểu Điều đó chứng
tỏ lĩnh vực giáo dục nhận được sự quan tâm đặc biệt của Quốc hội [27] Chủ trương xã hội hoá đã có tác động tích cực đến sự nghiệp giáo dục,
đã thu được những kết quả quan trọng: Mở ra quy mô, đa dạng hoá loại hình, nâng cao dân trí, tăng thêm cơ hội được học tập cho nhân dân, góp phần thực hiện công bằng xã hội, tạo công ăn việc làm ổn định đời sống cho hàng vạn người Huy động được nhiều nguồn tài nguyên đa dạng đầu
tư cho giáo dục
Nguyên nhân của những thành công là: Quá trình XHHSNGD đã được chỉ đạo thực hiện theo đúng đường lối của Đảng thể hiện trong các Đại hội VIII và IX XHHSNGD là một quá trình hợp quy luật, dúng với bản chất xã hội vốn có của giáo dục Mặt khác, nguyên nhân của những hạn chế cũng xuất phát từ nhận thức, cơ sở lý luận chưa đầy đủ, tâm lý ỷ lại trông chờ ở Nhà nước và công tác quản lý hay nói rộng ra hơn là cách làm
xã hội hoá chưa đáp ứng nhu cầu phát triển” [36]
Đổi mới cách vận hành nền giáo dục trước hết cần đổi mới cơ chế chính sách và quản lý theo hai nhóm giải pháp chính: Kích thích xã hội đầu
tư cho giáo dục và tạo điều kiện xã hội tham gia vào quá trình giáo dục
.3 Theo quan điểm lịch sử phát triển giáo dục
Lịch sử phát triển của xã hội loài người có thể phân thành các giai đoạn theo sự phát triển của hình thái xã hội Tuy nhiên cũng có thể nhìn nhận sự phát triển đó dưới một góc nhìn khác Ta có thể coi từ khi có xã hội loài người đến nay đã trải qua 4 nền văn minh : Văn minh hái lượm ; Văn minh nông nghiệp ; Văn minh công nghiệp ; Văn minh trí tuệ Trong nền văn minh hái lượm con người tồn tại theo bầy đoàn và sau đó là bộ lạc ; phương tiện sản xuất thô sơ và cuộc sống tồn tại nhờ hái lượm, săn bắn
Trang 18Tương ứng với giai đoạn phát triển này của xã hội loài người giáo dục xuất hiện dưới dạng tự phát, ở đây có thể coi giáo dục là sự truyền thụ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm hái lượm, săn bắn để tồn tại Sau hàng vạn năm tồn tại cùng với sự xuất hiện các hình thái xã hội loài người đã chuyển dần sang nền văn minh nông nghiệp với sức sản xuất, và quan hệ sản xuất lấy tài nguyên đất đai làm điểm tựa Tương ứng với giai đoạn này bên cạnh giáo dục ở gia đình, giáo dục nhà trường phát triển mạnh biến giáo dục thành một quá trình tự giác, có tổ chức, nội dung có chọn lọc và tính mục đích rõ ràng, cụ thể Tuy nhiên nội dung giáo dục về cơ bản là giáo điều, phương pháp giáo dục áp đặt nhưng phù hợp với giai đoạn phát triển của xã hội loài người ở giai đoạn đó Xã hội tiếp tục phát triển và rồi loài người dần dần chuyển sang một nền văn minh khác mà người ta đặt tên cho nó là nền văn minh công nghiệp Lúc này nền giáo dục cổ truyền của nền văn minh nông nghiệp tỏ ra không còn đáp ứng được những đòi hỏi mới của nền kinh tế-xã hội và một nền giáo dục mới đã ra đời với cái tên nền giáo dục hiện đại Để đáp ứng được những yêu cầu mới của xã hội cũng như tận dụng được những điều kiện mới mà xã hôị mới mang đến, nội dung giáo dục đa dạng hơn, phong phú hơn, mang tính hướng nghiệp hơn Phương pháp giáo dục mềm dẻo, đa dạng, gắn với lao động sản xuất
Người ta dự báo bước sang thế kỉ 21 loài người sẽ chuyển dần sang nền kinh tế trí thức và một nền văn minh mới của xã hội loài người sẽ được hình thành đó là nền văn minh trí tuệ Tương ứng với nền văn minh này của
xã hội loài người nền giáo dục cũ cần phải có sự canh tân để thích ứng với
sự thay đổi của xã hội và phải tận dụng nhiều hơn những thành tựu của công nghệ thông tin và thông lưu để đổi mới phương thức giáo dục-đào tạo của mình và người ta gọi nền giáo dục đó là nền giáo dục tương lai Ở đây nhà trường truyền thống sẽ có những thay đổi lớn về cách thức chuyển tải
Trang 1918
Siêu thị kiến thức”! Chỉ có như vậy giáo dục mới đáp ứng được những đặc điểm mới của kinh tế xã hội Từ những kiến giải trên chúng ta thấy rõ : mối quan hệ giữa giáo dục và đào tạo với xã hội xét trong suốt tiến trình phát triển của chúng ta tạo nên một hình xoắn ốc, ứng với mỗi giai đoạn phát triển mối quan hệ hai chiều giáo dục-xã hội thúc đẩy nhau cùng phát triển
Sự cân bằng động đó tồn tại vì con người, do con người hay nói một cách khác lấy con người làm điểm tựa Ở đây giáo dục phải là công cụ, phương tiện để cải biến xã hội và nhờ có giáo dục làm động lực xã hội không ngừng phát triển Khi xã hội phát triển lên một mức nào đó xã hội sẽ “ Đặt hàng mới” cho giáo dục và cũng tạo điều kiện mới cho giáo dục buộc giáo dục phải tự nâng mình lên để đáp ứng bối cảnh mới Mối quan hệ cân bằng động này tồn tại cùng với lịch sử phát triển của xã hội loài người
Theo TS.Đặng Xuân Hải thì : “Cân bằng động” trong đào tạo yêu cầu các nhà giáo dục phải ý thức được tính đi trước một bước của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội “Cân bằng động” này chỉ có thể duy trì trên cơ sở hệ thống giáo dục phải có chiến lược nghiên cứu các bước đi của kinh tế - xã hội, nghiên cứu sự thay đổi của thị trường lao động, đồng thời có chiến lược nâng cao vai trò của giáo dục - đào tạo và nhà trường nên tương xứng với yêu cầu kinh tế – xã hội luôn thay đổi Con người là lực lượng tạo ra và duy trì thế cân bằng động, nên phải thực hiện chiến lược con người thông qua đầu tư thích đáng cho giáo dục - đào tạo,
chú trọng đặc biệt và trước hết đến chất lượng đào tạo của nhà trường [12]
1.1.4 Theo quan điểm tiếp cận hệ thống trong khoa học quản lý
giáo dục
Dưới góc nhìn của tiếp cận hệ thống, hệ thống giáo dục là một hệ con của hệ thống xã hội Giáo dục chi phối nhiều yếu tố của hệ thống xã hội và cũng chịu sự tác động của nhiều yếu tố của hệ thống xã hội Ví dụ như : giáo dục cũng phụ thuộc vào Nhà nước và chính trị, phụ thuộc truyền thống
Trang 20văn hoá, giáo dục quốc gia Phụ thuộc sự phát triển kinh tế - xã hội, phụ thuộc vào trình độ khoa học, công nghệ Có thể tóm tắt một số nét chính các mối quan hệ như sau: mối quan hệ giáo dục - Nhà nước được xác lập trên cơ sở Nhà nước là tổ chức công quyền lớn nhất quản lý giáo dục, giáo dục là công cụ của Nhà nước, giáo dục phục vụ chính trị Bất cứ Nhà nước nào cũng phải tổ chức giáo dục cho công dân của mình Mối quan hệ giáo dục - kinh tế được xác lập trên quan điểm giáo dục là nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Ứng với một trình độ phát triển khoa học công nghệ, nội dung, phương pháp giáo dục cũng bị chi phối và mối quan hệ giáo dục - khoa học và công nghệ cũng là mối quan hệ 2 chiều, bởi vì giáo dục góp phần sáng tạo ra khoa học - công nghệ và khoa học - công nghệ cũng thúc đẩy giáo dục phát triển
Tóm lại, khi đề cập đến bản chất của mối quan hệ giữa giáo dục nói chung và nhà trường nói riêng với cộng đồng xã hội người ta thường nhấn mạnh một số vấn đề sau :
- Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người Sự tồn tại
và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển kinh
tế - xã hội và ngược lại với chức năng của mình giáo dục lại có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội Ta có thể xem đó là bản chất của tính xã hội của giáo dục
- Dưới góc nhìn của tiếp cận hệ thống, giáo dục muốn tồn tại và phát triển phải luôn giữ được cân bằng động với các yếu tố khác của xã hội và ở đây hệ thống giáo dục phải là hệ tự điều khiển Ở đây hệ thống giáo dục không giữ vai trò đi trước một bước sẽ không phát huy hết vai trò của mình trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Tất nhiên đến lượt mình nếu các yếu tố khác của xã hội không tạo điều kiện cho giáo dục phát triển thì cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình cải biến xã hội Như vậy dưới góc
Trang 211.2 Một số khái niệm nghiên cứu về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
.1 Khái niệm xã hội hoá
Trong xã hội học, XHH được sử dụng với nghĩa là quá trình con người tiếp thu nền văn hoá của xã hội trong đó con người được sinh ra, quá trình nhờ nó con người đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ, ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội hay là quá trình chuyển biến cá nhân còn mang tính sinh vật sang cá nhân có tính cách xã hội Đây chính là quá trình XHH cá nhân, quá trình hình thành và phát triển nhân cách
Còn khái niệm XHH trong luận văn này thuộc phạm trù cách làm XHH
là một khái niệm chỉ quá trình làm cho một cái gì đó mang tính xã hội hay trở thành cái chung của xã hội, mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội
có trách nhiệm quan tâm Đó là quá trình XHH các vấn đề, hoạt động xã hội như XHH hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao Hiện
có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất rằng bản chất của XHH là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi người dân, mọi lực lượng xã hội, tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có
kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội thực sự của dân, do dân và vì dân
Trang 221.2.2 Khái niệm xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục nó thuộc phạm trù cách làm giáo dục Giáo dục về bản chất mang tính xã hội Giáo dục và xã hội luôn gắn
bó, hoà quyện với nhau, hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển Xã hội muốn tồn tại và phát triển thì phải làm giáo dục Ngược lại, giáo dục muốn phát triển thì không thể tách ra khỏi đời sống xã hội, không thể không dựa vào cộng đồng Vì vậy, XHHSNGD là tìm cách hoàn nguyên bản chất xã hội của giáo dục, gắn giáo dục với xã hội, với cộng đồng
XHHSNGD được hiểu với nghĩa phổ biến nhất là làm cho toàn xã hội làm giáo dục, tất cả cho giáo dục và giáo dục cho mọi người XHHSNGD,
vì vậy bao hàm cả XHH trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người đối với giáo dục và cả XHH quyền lợi của mọi người về giáo dục Trong đó, XHH quyền lợi giáo dục là mục tiêu chủ yếu, là cốt lõi của XHHSNGD “ Mọi người cho giáo dục” và “ giáo dục cho mọi người” là hai vấn đề có liên quan chặt chẽ và tác động qua lại với nhau, là hai đặc trưng của “xã hội học tập” Muốn giáo dục đến được với mọi người thì mọi người phải làm giáo dục Muốn mọi người có trách nhiệm đối với giáo dục thì giáo dục phải phục vụ cho tất cả mọi người Vì vậy, XHHSNGD cần phải đạt được hai mục tiêu sau đây :
- Tạo cơ hội cho mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học suốt đời
- Khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều người còn có quan niệm hẹp, thậm chí sai lầm về XHHSNGD (bảng 1.1) Vì vậy, để có quan niệm đúng về XHHSNGD cần quán triệt một số vấn đề sau:
- “XHHSNGD hoàn toàn không phải là một ý đồ chiến thuật, được vận
Trang 2322
XHHSNGD như một phương châm hành động khi đất nước còn nghèo, điều kiện đầu tư cho giáo dục còn quá eo hẹp XHHSNGD là một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển giáo dục nhằm làm cho hoạt động giáo dục thực sự là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân Nói cách khác không phải vì nghèo mà chúng ta tiến hành XHHSNGD Tuy nhiên trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội như hiện nay thì lại cần phải nhấn mạnh phát triển giáo dục theo tinh thần XHH” [14]
- “XHHSNGD không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm và vai trò của Nhà nước.Trái lại, XHHSNGD chỉ có thể thực hiện thành công khi có sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và vai trò, chủ động, nòng cốt của ngành giáo dục”
- XHHSNGD không chỉ nhằm huy động “mọi người cho giáo dục”, mà còn chủ yếu nhằm tạo cơ hội “giáo dục cho mọi người”
- XHHSNGD không phải chỉ là huy động các lực lượng xã hội hỗ trợ cho giáo dục, mà còn huy động xã hội cùng làm giáo dục
- XHHSNGD không phải chỉ là huy động tiền của trong nhân dân, không phải là giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Huy động tiền của của nhân dân chỉ là một nội dung của XHHSNGD Ngoài huy động tài lực, việc huy động nhân lực, vật lực, trí lực là nội dung quan trọng của XHHSNGD nhằm đa dạng hoá các nguồn lực cho giáo dục
- XHHSNGD không phải là dân chủ hoá giáo dục Đây là hai khái niệm
có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau Dân chủ hoá giáo dục là một nội dung lớn của thời đại, là nội dung rất cơ bản của sự nghiệp đổi mới giáo dục, biến hệ thống giáo dục và trường học như một “thiết chế hành chính” thành một “thiết chế giáo dục hoàn toàn của dân, do dân và vì dân” XHHSNGD chỉ là một con đường thực hiện dân chủ hoá giáo dục, tạo điều kiện cho mọi người trong xã hội tham gia xây dựng và quản lý nhà trường, giúp cho quá trình dân chủ hoá giáo dục được thuận lợi Ngược lại, dân chủ
Trang 24hoá giáo dục là giải pháp, đồng thời là động lực không thể thiếu được đối với XHHSNGD Nhờ có dân chủ hoá giáo dục mà các thành phần tham gia XHHSNGD sẽ trở nên đông đảo
- XHHSNGD cũng không phải là đa dạng hoá giáo dục Thực ra, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, các loại hình trường lớp chỉ là giải pháp, đồng thời là động lực không thể thiếu được đối với XHHSNGD và là một nội dung của XHHSNGD
- XHHSNGD cũng không phải là tổ chức cho được ĐHGD các cấp ĐHGD các cấp chỉ là một trong các giải pháp đẩy mạnh XHHSNGD
Tóm lại: Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là khoa học về mối quan hệ giữa giáo dục với các yếu tố xã hội Nó chịu sự quy định của các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, của các quá trình xã hội khác nhau: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá Tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất, bản chất của quan hệ sản xuất, hệ tư tưởng, nền khoa học, văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia trong một giai đoạn lịch sử nhất định đã quy định tính chất, nhiệm
vụ, nội dung của nền giáo dục đất nước đó
Bảng 1.1 Một số quan niệm hiện nay về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
XHHSNGD chỉ là một giải pháp tình thế
khi ngân sách Nhà nước còn khó khăn
XHHSNGD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối phát triển, một con đường phát triển giáo dục
XHHSNGD là giảm vai trò, là giảm gánh
nặng cho ngân sách Nhà nước, là chuyển
giáo dục cho xã hội tự lo liệu
XHHSNGD đòi hỏi tăng cường vai trò, trách nhiệm và quản lý của Nhà nước Đồng thời với viêc huy động nguồn lực phải tăng và sử dụng có hiệu quả NSNN chi cho giáo dục
Trang 2524
nhằm tạo cơ hội “ giáo dục cho mọi người” XHHSNGD là huy động xã hội hỗ trợ cho
giáo dục
XHHSNGD là huy động xã hội không chỉ
hỗ trợ cho giáo dục, mà còn cùng làm giáo dục
XHHSNGD chủ yếu huy động tiền của của
nhân dân
Huy động tiền của của nhân dân chỉ là một nội dung của XHHSNGD Ngoài huy động tài lực, coi trọng huy động nhân lực, vật lực, trí lực cho giáo dục
XHHSNGD là đa dạng hoá các loại hình
giáo dục, là dân chủ hoá giáo dục, là tổ
chức ĐHGD các cấp
Đa dạng hoá giáo dục, dân chủ hoá giáo dục và tổ chức ĐHGD chỉ là giải pháp, là một trong những nội dung, là động lực của XHHSNGD
1.3 Tổng quan về một số quan điểm xã hội hoá sự nghiệp giáo dục 1.3.1 Một số nét về tình hình nghiên cứu xã hội hoá sự nghiệp giáo
dục ở trong nước và Quốc tế
XHHSNGD là cuộc vận động lớn mang tính chất toàn xã hội; XHHSNGD thực hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân đối với sự nghiệp giáo dục; XHHSNGD là cách thức làm giáo dục và dân chủ hoá nhà trường; XHHSNGD là chiến lược của đường lối giáo dục
Quan điểm thứ nhất: XHHSNGD là cuộc vận động lớn mang tính
chất toàn xã hội Đây là một cuộc vận động quần chúng mang tính nghề nghiệp sâu sắc của Công đoàn giáo dục Việt Nam Công đoàn giáo dục Việt Nam đã nghiên cứu làm thí điểm, mở rộng mô hình "Đại hội giáo dục cấp xã" dưới tên gọi XHHSNGD [8]
Trong bài “mấy vấn đề XHHSNGD” của PGS.TS Lê Khanh: XHHSNGD lại được quan niệm như một phương thức làm giáo dục, quan điểm đó được phát biểu như sau: chúng ta huy động mọi lực lượng cùng làm giáo dục dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước Cá nhân, đoàn thể,
tổ chức xã hội phối hợp chặt chẽ với nhau và với nhà trường cùng thực hiện
Trang 26các mục tiêu giáo dục (hình thành nhân cách học sinh), cùng chịu trách nhiệm trước đất nước về sản phẩm do giáo dục tạo ra Trong sự phối hợp này, nổi bật là mối quan hệ 2 chiều giữa nhà trường và các lực lượng xã hội khác Các lực lượng xã hội tích cực tham gia xây dựng giáo dục vì quyền lợi của con em, của đất nước (trong đó có lợi ích của bản thân họ), đồng thời xã hội đòi hỏi nhà trường phải phấn đấu vươn lên về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Trong xã hội hiện đại giáo dục không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội của mỗi gia đình và từng cá nhân Sự biến đổi nhanh chóng của xã hội cũng như bản thân giáo dục, việc học tập trở thành một nhu cầu thường xuyên suốt đời của mỗi người, đòi hỏi toàn xã hội phải quan tâm và nỗ lực cùng hợp tác thì mới giải quyết tốt được các vấn đề của giáo dục
XHHSNGD đòi hỏi phải thu hút được đông đảo các lực lượng xã hội khác nhau tham gia vào các hoạt động đa dạng của giáo dục, tạo ra các môi trường thuận lợi cho sự phát triển giáo dục
Cuộc vận động này tạo ra một xã hội mỗi người cần phải đi học, mọi người đều được học, học thường xuyên, suốt đời chính là khơi dậy truyền thống hiếu học, tiềm năng học tập nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế – xã hội Khắc phục từng bước sự chậm phát triển tiến dần vào xã hội văn minh
Quan điểm thứ hai: XHHSNGD là hệ mở rộng tính xã hội của sản
phẩm giáo dục
Theo PGS.TS Hà Nhật Thăng: XHHSNGD được quan niệm là tận dụng mọi tiềm năng của điều kiện chế độ xã hội sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, vật lực trong và ngoài nước vào sự nghiệp giáo dục nhằm đào tạo thế hệ lao động mới, hoà nhập với cuộc sống và phát triển kinh tế - xã
Trang 2726
có nghĩa là trả lại cho mọi người quyền được tham gia vào toàn bộ quá trình giáo dục và được giáo dục, giáo dục suốt đời hay chính là sự cân bằng động của quá trình giáo dục Điểm hội tụ của XHHSNGD là đạt đến một nhân cách hay nói cách khác là tính xã hội của sản phẩm giáo dục Quá trình giáo dục là quá trình dạy và học của nhà trường phải gắn liền với các yêu cầu xã hội, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, dưới sự quản
lý vĩ mô của Nhà nước Để thế hệ trẻ hoà nhập được với nhịp sống và sản xuất xã hội, sự nghiệp giáo dục phải biến đổi thường xuyên theo nguyên tắc
đa dạng hoá từ mục tiêu đến chương trình, nội dung, hình thức giáo dục và đào tạo Để công tác giáo dục thực sự đi vào cuộc sống thực tiễn, các nhà khoa học giáo dục, kinh tế giáo dục, các nhà nghiên cứu xã hội học, hướng nghiệp, dạy nghề cần có những đề án gắn với thực tiễn kinh tế - xã hội Càng địa phương hoá, càng cụ thể hoá chương trình, nội dung giáo dục đào tạo càng tạo ra những giá trị thiết thực cho xã hội Dựa trên nguyên tắc: xác định chiến lược giáo dục đúng đắn đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam thông minh, sáng tạo, có bản lĩnh tự trọng, có khả năng lao động tự sống và đóng góp xây dựng quê hương, đất nước, bảo vệ tổ quốc
XHHSNGD còn là sự chuẩn bị cho thế hệ trẻ, định hướng cho họ có những hiểu biết về quy luật sự biến đổi không ngừng của cuộc sống xã hội trong và ngoài nước, có khả năng thích ứng với những biến đổi đó của thời đại để họ luôn là chủ thể trong mọi hoàn cảnh
Quan điểm thứ ba: XHHSNGD là thực hiện quyền làm chủ thực sự
của nhân dân đối với sự nghiệp giáo dục Nhà nghiên cứu giáo dục Mai Đức Lượng đưa ra quan điểm XHHSNGD như sau:
Nhân dân phải thực sự làm chủ sự nghiệp giáo dục trên tất cả các mặt Mục tiêu giáo dục phải gắn chặt với môi trường kinh tế-xã hội địa phương, của cả xã hội hiện tại và tương lai, nhằm đáp ứng lợi ích của người
đi học, của cha mẹ học sinh và cộng đồng xã hội Người học có quyền lựa
Trang 28chọn nội dung học thích hợp Nhân dân thường xuyên tham gia điều hành
sự nghiệp giáo dục thông qua tổ chức của mình là hội đồng giáo dục dưới
sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước Nhân dân còn gián tiếp và cả trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục như tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh, lực lượng giáo dục quan trọng bên trong nhà trường, bổ sung kiến thức xã hội cần thiết cho nhà trường giúp cho người học khi ra đời hội nhập được vơí xã hội Trong hoàn cảnh đất nước còn khó khăn một biện pháp chủ yếu trước mắt là huy động nhân dân giúp đỡ xây dựng cơ sở vật chất, chăm lo đời sống cho đội ngũ giáo viên nhà trường Khi nào mọi người hiểu được sự nghiệp giáo dục đích thực là của dân, do dân, vì dân thì những vấn đề khó khăn của giáo dục hiện nay mới dần được tháo gỡ
XHHSNGD là chiến lược quan trọng của đường lối giáo dục ngày nay vừa là yêu cầu của nền giáo dục vừa đáp ứng với nguyện vọng của nhân dân, vừa phù hợp điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước ngày nay Do
đó, XHHSNGD trước hết phải cụ thể hoá và xác định đúng mục tiêu giáo dục theo yêu cầu mà xã hội đòi hỏi; đi đôi với nó là đa dạng hoá loại hình trường học và chương trình học tạo cơ hội học tập cho mọi người XHHSNGD phải gắn với dân chủ hoá nhà trường tức là tạo môi trường xã hội để đẩy mạnh công tác quản lý giáo dục
Quan điểm thứ tư: XHHSNGD là cách thức làm giáo dục và dân chủ
hoá nhà trường Theo GS.TS Đào Trọng Thi, XHHSNGD dựa trên các nguyên tắc:
- Người học phải đóng học phí, người sử dụng sản phẩm của giáo dục - đào tạo phải đóng góp chi phí theo hướng huy động đóng góp thoả đáng, trợ cấp chính sách cho các đối tượng người học có hoàn cảnh khó khăn để
có điều kiện học tập
- Trả công xứng đáng cho lao động trí tuệ
Trang 29PTS Nguyễn Văn Đản đã nêu: XHHSNGD là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi người, mọi lực lượng xã hội trả lại nhiệm vụ giáo dục của xã hội cho chính nó Nội dung công tác XHHSNGD ở đây là nâng cao dân trí bằng XHH cá nhân, đa dạng hoá các mô hình, loại hình giáo dục tạo cơ hội cho các lực lượng xã hội tham gia giáo dục và được giáo dục
Quan điểm thứ năm: Theo GS.TS Phạm Minh Hạc trong đường lối
phát triển giáo dục XHHSNGD là một tư tưởng chiến lược một con đường phát triển giáo dục ở nước ta, XHHSNGD với ý nghĩa phổ biến là làm cho toàn xã hội làm giáo dục
Khái niệm XHHSNGD đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu với mục đích làm cho yếu tố giáo dục trở thành yếu tố nhân bản của xã hội thể hiện ở chỗ XHHSNGD là công tác: làm cho xã hội nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của giáo dục, thực trạng của giáo dục, nhận thức được trách nhiệm của xã hội với giáo dục; làm cho giáo dục gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội; đa dạng hoá các nguồn làm giáo dục: tạo môi trường thuận lợi cho việc xây dựng thúc đẩy các mục tiêu giáo dục XHHSNGD gắn chặt hữu cơ với dân chủ hoá giáo dục tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho sự phát triển giáo dục
Bảng1.2 Tóm tắt các quan điểm về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
XHHSNGD là cuộc vận - Mở Hội đồng giáo dục các cấp
Trang 30Quan điểm 1 động lớn mang tính
- Các nhà khoa học giáo dục, kinh tế giáo dục, các nhà nghiên cứu xã hội học, cần có những
đề án gắn với thực tiễn kinh tế - xã hội
- Định hướng cho thế hệ trẻ có những hiểu biết
về quy luật biến đổi không ngừng của cuộc sống xã hội trong và ngoài nước
Quan điểm 3
XHHSNGD là thực hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân đối với sự nghiệp giáo dục
- Nhân dân tham gia điều hành sự nghiệp giáo dục
- Nhân dân tham gia vào quá trình giáo dục
- Huy động nhân dân giúp đỡ xây dựng cơ sở vật chất, chăm lo đời sống cho đội ngũ giáo viên nhà trường
Quan điểm 4
XHHSNGD là cách thức làm giáo dục và dân chủ hoá nhà trường
- Người học phải đóng học phí, người sử dụng sản phẩm của giáo dục - đào tạo phải đóng góp chi phí
- Trả công xứng đáng cho lao động trí tuệ
Quan điểm 5
XHHSNGD là một tư tưởng chiến lược, một con đường phát triển giáo dục ở nước ta
Làm cho xã hội nhận thức đúng dắn vị trí, vai trò, thực trạng của giáo dục, nhận thức được trách nhiệm của xã hội với giáo dục; làm cho giáo dục gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội; tạo môi trường thuận lợi cho việc xây dựng thúc đẩy các mục tiêu giáo dục Hình thành ý thức xã hội mọi người làm giáo dục và được hưởng giáo dục
Ngày nay, giáo dục có vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội ở tất cả các nước trên thế giới, các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển Giáo dục thực sự trở thành nhân tố phát triển kinh tế Văn minh trí tụê, kinh tế tri thức, sự phát triển vũ bão của thông tin, khoa học, công nghệ đòi hỏi nâng cao mặt bằng dân trí ngang tầm thời đại Vấn đề huy động nguồn nhân lực, làm phong phú nguồn trí tuệ vì những mục tiêu kinh tế và phát triển xã hội Vì thế ở các nước đều tập trung đầu tư cho giáo dục bằng mọi nguồn lực (của cải và sức người)
Trang 3130
Mặt khác, những vấn đề xã hội cũng vẫn được giải quết theo xu hướng thúc đẩy phát triển kinh tế là nâng cao chất lượng cuộc sống bằng những hưởng thụ vật chất và tinh thần cho con người theo từng cấp độ, mức độ thực tế, thiết thực Từ đó vấn đề dân chủ hoá đặt ra, mở đường cho
sự tham gia của mọi người vào các quá trình quản lý xã hội Giáo dục cũng được giải quyết theo tinh thần dân chủ hoá, phi tập trung hoá, trong đó vấn
đề mở rộng và vận động sự tham gia của xã hội, của mọi tầng lớp nhân dân vào việc giáo dục cũng được đặt ra theo chiều hướng bức xúc hơn
Cách giải quyết của mỗi nước tuy khác nhau do phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội, chính sách của từng nước, nhưng các nước đều tiếp tục hoàn thiện hơn hoặc hướng tới mục tiêu: làm cho toàn dân quan tâm, chăm lo đến giáo dục trong điều kiện và tình cảm của mình với ý thức đầy đủ của một người công dân đã hiểu về giáo dục và đặc tính chuyên biệt của nó, thông qua các hoạt động ở tầm vĩ mô như các luật, các chế độ chính sách, các văn bản định hướng của Nhà nước hay của ngành giáo dục , hay thông qua các hoạt động ở tầm vi mô như các hoạt động của các cá nhân, của các gia đình, của các tổ chức xã hội
Nói tóm lại, xu thế chung của mọi nước khi tiến hành XHHSNGD là tăng cường cộng đồng trách nhiệm, đa dạng hoá các loại hình truờng, lớp
và đa dạng hoá nguồn đầu tư, gắn môi trường giáo dục, đào tạo với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt coi trọng thể chế các nội dung XHHSNGD
Bảng1.3 Tóm tắt xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở một số nước trên
thế giới Các nước Mục tiêu Nội dung Biện pháp
Liên xô
Thực hiện sự kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Trang 32nước Đông
Âu
hội vào việc xây dựng và phát triển giáo dục
cho giáo dục
Trung quốc
Huy động xã hội tham gia vào giáo dục
Cộng đồng hoá trách nhiệm
Tăng nhịp độ đầu tư tài chính của Nhà nước cho các địa phương, quyên thu các khoản đóng góp cho giáo dục, góp vốn cho phát triển giáo dục
từ các xí nghiệp, hầm mỏ, xây dựng các loại quỹ giáo dục, đa dạng hoá các loại hình giáo dục, liên kết giáo dục với doanh nghiệp, liên kết giữa các loại trường, các liên ngành đào tạo
Ấn Độ
Huy động xã hội tham gia làm giáo dục, tập trung cho việc phổ cập giáo dục tiểu học thông qua liên kết đào tạo nghề, tìm việc làm với nâng cao trình độ văn hoá phổ thông
Đa dạng hoá các loại hình học tập và loại hình trường lớp
Huy động cộng đồng phát triển giáo dục phi chính quy, mở các lớp học, khoá học cho học sinh bỏ học, lưu ban và trẻ không có điều kiện đến trường
Philippin
Nâng cao trình độ học vấn và việc làm
- Giáo dục hoá xã hội
- Đa dạng hoá các loại hình học tập
Lôi cuốn cộng đồng vào việc chuyển giao công nghệ - kỹ thuật sản xuất, đi đôi với việc giáo dục thanh thiếu niên Ở Philippin còn có trường học
ở xã chăm lo dạy văn hoá, dạy nghề cho thanh niên và cả người lớn, do địa phương xây dựng, thể hiện rất rõ tinh thần XHHSNGD
để cộng đồng có thể hỗ trợ công tác quản lý và công tác giáo dục
1.3.2 Mục tiêu của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
Mục tiêu cơ bản, lâu dài của ngành giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, xây dựng xã hội có phong trào giáo dục mạnh, ổn định; có mặt bằng dân trí cao, người lao động được bồi dưỡng kiến thức về mọi mặt, làm nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội Mở rộng các loại hình học tập để thu hút đông đảo người dân đến học
Nâng cao chất lượng dạy và học, tạo mọi điều kiện để cho mọi người
có thể được học tập Thực hiện đa dạng hoá các trường học như: Tiếp tục
Trang 3332
phát triển các trường bán công, dân lập, tư thục… củng cố và hoàn thiện hệ thống mạng lưới trường lớp ở các ngành học Tập trung và quản lý tốt các nguồn vốn chương trình mục tiêu, vốn xây dựng cơ bản để xây dựng cơ sở vật chất trường học Thực hiện tốt chính sách của Đảng đối với phát triển giáo dục ở những nơi còn gặp nhiều khó khăn
1.3.3 Nội dung chủ yếu của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
Từ những năm 1990 Bộ giáo dục đã cùng với Công đoàn ngành giáo dục mở cuộc vận động XHHSNGD và từ đó đến nay nội dung XHHSNGD ngày càng phong phú Để giáo dục bước vào thế kỉ 21 một cách vững chắc Nhà nước cũng đã thể chế hoá cuộc vận động này và nêu rõ các nội dung chủ yếu của XHHSNGD:
Xây dựng phong trào học tập trong toàn xã hội, làm cho nền giáo
dục của chúng ta trở thành một nền giáo dục dành cho mọi người ở mọi lứa tuổi đều có điều kiện học tập thường xuyên, học tập suốt đời, tạo một xã hội học tập
Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, vận động toàn dân chăm
sóc thế hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và giáo dục ngoài xã hội; tăng cường trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể, tổ chức kinh tế -
xã hội, của gia đình, của từng người dân đối với giáo dục
Đa dạng hoá các loại hình đào tạo, các hình thức học tập; trên cơ sở
củng cố các loại hình công lập, lấy đó làm nòng cốt của hệ thống giáo dục quốc dân, tích cực phát triển các loại hình ngoài công lập để tạo thêm cơ hội học tập, nâng cao trình độ cho mọi người, trước hết là thế hệ trẻ
Tăng cường đầu tư ngân sách Nhà nước và mở rộng các nguồn đầu
tư khác Khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục
Trang 34Tiếp tục cụ thể hoá, thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng và
của Nhà nước về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục và huy động cộng đồng
Để ngắn gọn người ta thường gắn 5 nội dung XHHGD nêu trên với 5 chữ hoá như sau:
- Giáo dục hoá xã hội tức là tạo cơ hội học tập cho mọi người, tạo nên một xã hội học tập
- Cộng đồng hoá trách nhiệm đối với giáo dục
- Đa dạng hoá loại hình, hình thức giáo dục
- Đa phương hoá nguồn lực
- Thể chế hoá chủ trương XHHSNGD để chủ trương này nhanh chóng
đi vào cuộc sống [13]
.4 Điều kiện thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
Đảng, Nhà nước bằng quyền hạn và trách nhiệm của mình (ở cả vĩ
mô và vi mô) phải tạo ra các cơ chế, chính sách để triển khai XHHSNGD
và thể chế hoá các chủ trương XHHSNGD, đồng thời chỉ đạo, quản lý các hoạt động XHHSNGD
Tăng cường dân chủ hoá giáo dục, dân chủ hoá trường học, tạo môi
trường để nhân dân tích cực trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể đặt
ra cho giáo dục Nâng cao mặt bằng dân trí, trau dồi hành vi đạo đức cho thế hệ trẻ, xây dựng cảnh quan nhà trường, môi trường giáo dục ngày càng tốt và thuận lợi cho việc giáo dục thế hệ trẻ theo đúng yêu cầu và mục tiêu của địa phương và đất nước
Ngành giáo dục phải chủ động triển khai XHHSNGD thông qua đội ngũ quản lý, qua đội ngũ tham gia trực tiếp giáo dục và giảng dạy, đặc biệt là qua việc nâng cao chất lượng đào tạo và giáo dục những “sản phẩm giáo dục” sao cho phù hợp với những đòi hỏi của kinh tế - xã hội ở địa phương, của Nhà nước và thời đại Ngành giáo dục, đặc biệt là các cấp quản lý giáo
Trang 3534
hiện vai trò nòng cốt của mình trong việc tham mưu với lãnh đạo địa phương, với các tổ chức, các lực lượng xã hội khác trong việc triển khai các chủ trương để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng cho giáo dục theo định hướng của Đảng, Nhà nước và pháp luật
Xã hội hoá giáo dục là việc huy động toàn xã hội làm giáo dục
dưới sự quản lý của Nhà nước Muốn thực hiện quản lý Nhà nước thì nó phải thể chế hoá Tức là làm cho sự tham gia của xã hội vào công tác giáo dục được thể hiện theo những quy định, luật lệ, ổn định, mang tính pháp
lý, có chính sách, chế độ rõ ràng, dân chủ và công bằng
Đại hội giáo dục các cấp là một hình thức thể chế hoá Thể chế về tổ chức là một Đại hội toàn dân; nó đại diện cho nguyện vọng, nhu cầu của mọi tầng lớp xã hội, mọi cơ quan và tổ chức xã hội, tập trung ý chí và trí tuệ của cả cộng đồng, tập hợp sức mạnh của quần chúng thành tổ chức Hội đồng giáo dục cơ sở là một hình thức thể chế hoá về mặt tổ chức do Đại hội giáo dục bầu ra
Thể chế hoá về mặt luật pháp, văn bản là hệ thống các nghị quyết của Đại hội Những nghị quyết đó sẽ biến thành chủ trương, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp Như là ý nguyện của toàn dân được đảm bảo bằng những văn bản pháp lý, tạo cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động XHHGD Ngoài ra, những cam kết, thoả thuận, hợp đồng cũng là sự thể chế hoá các mối quan hệ
Nói chung Đại hội giáo dục tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động tham gia giáo dục, đảm bảo tính bền vững của phong trào
1.3.5 Ý nghĩa của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
- Nâng cao tính nhân dân, bản sắc dân tộc của nền giáo dục nước ta, tiếp tục khẳng định chân lý: Giáo dục là sự nhgiệp của quần chúng, đề cao một nền giáo dục của nhân dân, do dân và vì dân XHHSNGD cũng là cơ hội giáo dục quần chúng qua thực tiễn nhằm nâng cao trình độ và năng lực giáo
Trang 36dục và tự giáo dục của mỗi người, của mỗi tổ chức và lực lượng tham gia vào sự nghiệp này
- XHHSNGD sẽ là tạo ra một “xã hội học tập” vừa phát huy truyền thống của dân tộc ta - một dân tộc hiếu học - thực hiện “ai cũng được học hành” và phù hợp với xu hướng của thời đại “học tập thường xuyên”, “học suốt đời”, giáo dục cho mọi người Nó sẽ góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
- XHHSNGD góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát huy hiệu quả xã hội của giáo dục Sự tham gia của xã hội góp phần thể chế hoá mục tiêu giáo dục thích hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương, góp phần mở rộng nội dung giáo dục cho sát với cuộc sống, xây dựng nên những môi trường thuận lợi cho giáo dục và đào tạo con người, tăng cường lực lượng của người dạy và người học, phát triển yếu tố nội sinh là chính con người trong giáo dục, tạo nhanh điều kiện vật chất và tinh thần để nâng cao chất lượng giáo dục
- XHHSNGD góp phần làm cho giáo dục phục vụ những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Giáo dục và kinh tế - xã hội vốn có những mối quan hệ mang tính quy luật Sự tham gia của xã hội ở tầm vĩ mô cũng như vi mô vào sự nghiệp giáo dục sẽ làm cho giáo dục gắn bó với mọi mặt của đất nước và từng địa phương, nhà trường sẽ gắn với xã hội, giáo dục gắn với cộng đồng, phát triển bằng sức mạnh của cộng đồng và vì những mục tiêu của cộng đồng Nếu như XHHSNGD thực sự thấm nhuần quan điểm về vùng, địa phương thì sẽ là một công cụ đắc lực của địa phương và bản thân giáo dục sẽ thu hút được sức mạnh, tiềm năng của địa phương
- XHHSNGD là một con đường để thực hiện dân chủ hoá giáo dục Hai phạm trù này có mối quan hệ với nhau rất biện chứng Nhờ dân chủ hoá mà
Trang 37thống trong khoa học quản lý giáo dục Nghiên cứu kinh nghiệm của các
nước trên thế giới cho thấy việc vận dụng các kinh nghiệm khoa học quản
lý giáo dục vào công tác XHHSNGD phải tính đến các điều kiện cụ thể ở địa phương
XHHSNGD vừa là nghệ thuật, vừa là khoa học quản lý giáo dục, đòi hỏi phải xác định rõ mục tiêu, nội dung, điều kiện, biện pháp và ý nghĩa của XHHSNGD trong sự nghiệp xây dựng và phát triển xã hội
Các biện pháp XHHSNGD có cơ sở khoa học quản lý vững chắc cần được các cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, các ngành vận dụng một cách nghệ thuật, khéo léo, linh hoạt để thu hút được sự ủng hộ về vật chất cũng như tinh thần của toàn xã hội Có như vậy XHHSNGD mới đạt được mục tiêu đã định
Trang 38Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP XÃ HỘI HOÁ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC Ở HUYỆN AN DƯƠNG, HẢI PHÒNG
2.1 Vị trí vai trò của huyện An Dương trong công tác xã hội hoá sự
nghiệp giáo dục của Hải Phòng 2.1.1 Khái quát tình hình địa lý, kinh tế - xã hội của huyện An
Dương
Huyện An Dương có diện tích 9.756.91 ha; nằm ở vị trí phía Tây thành phố Hải Phòng Phía Đông của huyện giáp quận Hồng Bàng, quận Lê Chân và huyện Thuỷ Nguyên; phía Nam giáp huyện An Lão và quận Kiến An; phía Bắc và phía Tây giáp tỉnh Hải Dương Xung quanh huyện được bao bọc bởi hai con sông lớn là sông Lạch Tray và sông Cấm Có hai tuyến quốc lộ lớn chạy qua huyện đó là quốc lộ 10 và quốc lộ 5, ngoài ra còn có tỉnh lộ 208 và 351 Trên địa bàn huyện có khu công nghiệp NOMURA , nhiều công ty, xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh Tổng dân số toàn
huyện tại thời điểm năm 2003 là 113.351 người
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tạo cho An Dương nhiều lợi thế quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Đó là ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp NOMURA, công ty thép Việt - Hàn; đó là ngành nông nghiệp
Nông nghiệp liên tục nhiều năm được mùa với năng suất đạt trên
10 tấn/ha, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5,5% Hệ thống
hạ tầng cơ sở liên tục được đầu tư, phát huy hiệu quả thiết thực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Hiệu quả kinh tế - xã hội của nền kinh tế từng bước được nâng
Trang 3938
Văn hoá - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực
Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, nhất là trong vấn
đề giải quyết việc làm, tiền lương và các quyền lợi về y tế, văn hoá, giáo dục Các tệ nạn xã hội từng bước được ngăn chặn
Tuy nhiên, kinh tế - xã hội An Dương vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém, đặc biệt là chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế của huyện Chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu Trình độ công nghiệp hoá- hiện đại hoá lực lượng sản xuất còn thấp; thiết bị, công nghệ còn lạc hậu, nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn và dịch vụ Quy hoạch đô thị vừa chậm vừa thiếu đồng bộ Các tệ nạ n xã hội, nhất là tệ nạn ma tuý, tham nhũng, tiêu cực chưa được ngăn chặn
có hiệu quả, còn diễn biến phức tạp
Tình hình phát triển kinh tế - xã hội nói trên đã tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển giáo dục - đào tạo của huyện
2.1.2 Tình hình thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng và
Nhà nước của thành phố Hải Phòng
XHHSNGD là một quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta để phát triển giáo dục Quan điểm đó là sự đúc kết truyền thống hiếu học, đề cao sự học và chăm lo việc học hành của nhân dân ta suốt hàng nghìn năm lịch sử phát triển của dân tộc XHHSNGD rất phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho giáo dục phục vụ mục tiêu kinh tế - xã hội địa phương, góp phần vào sự tiến bộ xã hội và công bằng xã hội
Thực hiện Thông tư liên tịch số 35/TT-LT ngày 10 tháng 10 năm
1990 của Bộ Giáo dục - Đào tạo và Công đoàn Giáo dục Việt Nam, Hải Phòng đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh phong trào XHHGD và bước
Trang 40đầu triển khai thí điểm mở Đại hội giáo dục ở xã Mỹ Đồng - huyện Thuỷ Nguyên và trường trung học phổ thông Nguyễn Trãi huyện An Dương Đến đầu năm 1996, chỉ đạo huyện Thuỷ Nguyên và quận Hồng Bàng tổ chức Đại hội giáo dục cấp huyện
Từ bài học chỉ đạo điểm và trên cơ sở thực tiễn của phong trào, ngành Giáo dục - Đào tạo đã tham mưu với thành phố chỉ đạo toàn thành phố tổ chức Đại hội giáo dục lần thứ nhất Đến tháng 10 năm
1998, 12/12 quận, huyện, thị xã đã tiến hành mở đại hội giáo dục lần thứ nhất
Ngày 2/4/1999, thành phố mở Đại hội giáo dục lần thứ nhất, đã thành lập được Hội đồng giáo dục với 49 thành viên tham gia Ban chấp hành; đã xây dựng được quy chế hoạt động của Ban chấp hành cùng với các chương trình hoạt động hàng năm
Năm 2001, Uỷ ban nhân dân thành phố có Chỉ thị 06/CT-UB ngày
26 tháng 2 năm 2001 chỉ đạo các cấp xã phường và quận huyện tổ chức Đại hội giáo dục lần hai, chuẩn bị cho Đại hội giáo dục thành phố vào tháng 4 năm 2004
100% xã phường, thị trấn và các quận huyện, thị xã trên địa bàn thành phố đã thành lập Hội đồng giáo dục, có quy chế và chương trình hoạt động cụ thể Nhiều Hội đồng giáo dục đã thực sự phát huy tốt vai trò tham mưu với cấp uỷ, chính quyền và tổ chức nhiều hoạt động có kết quả, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ của phong trào XHHSNGD Nhiều nhân tố điển hình phát huy tác dụng tốt như Hội đồng giáo dục
huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, xã Hoà Bình, Cổ Am (huyện Vĩnh Bảo), xã Quang Phục, Vinh Quang, Hùng Thắng (huyện Tiên Lãng), xã Mỹ Đồng (huyện Thuỷ Nguyên), xã Tân Dân (huyện An Lão), phường Niệm Nghĩa (quận Lê Chân)…