6 3.2 Hệ thống các biện pháp xây dựng trường Tiểu học thị xã Phúc Yên - 3.2.1 Tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc xây 3.2.2 Phối, kết hợp chặt chẽ giữa ngàn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: TS TỪ ĐỨC VĂN
HÀ NỘI – 2009
Trang 31.2.1 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý
1.2.4 Khái niệm chuẩn, khái niệm chất lượng và mối quan hệ giữa chúng 17
1.4.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia 24
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới xây dựng và quản lý việc xây dựng trường
Trang 45
2.2 Tình hình phát triển giáo dục và giáo dục Tiểu học của thị xã Phúc
2.2.1 Hệ thống mạng lưới và quy mô trường, lớp của giáo dục thị xã Phúc Yên 38
2.2.3 Tình hình đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục thị xã Phúc Yên 40
2.3 Quá trình xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia tại thị xã
2.4.2 Định hướng của thị xã về việc xây dựng trường Tiểu học thị xã Phúc
2.4.2 Mức độ đạt chuẩn Quốc gia của các trường Tiểu học thị xã Phúc Yên -
2.5 Đánh giá chung về thực trạng xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn
Trang 56
3.2 Hệ thống các biện pháp xây dựng trường Tiểu học thị xã Phúc Yên -
3.2.1 Tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc xây
3.2.2 Phối, kết hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục và các ngành hữu quan ở tỉnh
3.2.3 Quy hoạch phát triển trường Tiểu học thị xã Phúc Yên theo các tiêu chí của
3.2.4 Tổ chức triển khai xây dựng tổ chức nhà trường, cơ sở vật chất - thiết bị dạy
3.2.5 Tăng cường chỉ đạo, cải tiến phương pháp dạy học nâng cao chất lượng
3.2.6 Thường xuyên thực hiện xã hội hóa giáo dục góp phần xây dựng trường
3.2.7 Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện xây dựng trường
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nhiều thập kỷ qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp
“trồng người” với quan điểm coi con người “vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển” Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã ghi
“giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” và “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho
sự phát triển” Chính vì vậy mục tiêu của giáo dục nước ta là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [16]
Nghị quyết Hội Nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả đào tạo đáp ứng yêu cầu của đất nước thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước phải nâng cao chất lượng và bảo đảm số lượng giáo viên cho hệ thống giáo dục, tiêu chuẩn hoá và hiện đại hoá các điều kiện dạy và học” [16]
Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ thuở mới được thành lập đã chủ trương xây dựng một nền giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh của sự nghiệp cách mạng Trong hơn 70 năm qua Đảng đã hoàn thành xuất sắc vẻ vang sứ mệnh lịch sử: giành độc lập, thực hiện thống nhất giang sơn, xây dựng một đất nước Việt Nam mới trong đó có nền giáo dục toàn dân Trong thời kỳ hiện nay, xuất phát từ quan điểm chiến lược con người, quan điểm về giáo dục của Đảng ta đã thể hiện
rõ ràng trong Nghị quyết lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã nêu:
“Thực sự coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục
và đào tạo cùng khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế
và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển” [16]
Ngày nay xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng, đòi hỏi giáo dục cũng phải biến đổi theo để đáp ứng yêu cầu của xã hội Nó đặt ra cho giáo dục
Trang 7Về mục tiêu cụ thể ở cấp Tiểu học, Điều 27 khoản 2 Luật giáo dục 2005 nói rõ: “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng
cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở” Trong Luật giáo dục cũng nêu:
“Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng” Để đáp ứng những yêu cầu đó đòi hỏi phải có người giáo viên đạt chuẩn Đối với giáo viên Tiểu học đó là chuẩn bao gồm: “Phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, kiến thức và kỹ năng sư phạm” Luật phổ cập giáo dục Tiểu học điều 15 đã quy định “Giáo viên Tiểu học là phải được tuyển chọn, đào tạo theo tiêu chuẩn đạo đức tác phong chuyên môn nghiệp vụ”
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới và tầm quan trọng của giáo dục với Quốc gia, giáo dục Tiểu học là cấp học nền tảng, cơ bản trong việc hoàn thiện nhân cách của con người trong xã hội, là giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân góp phần nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của đất nước nói chung Muốn thực hiện được sứ mệnh cao cả đó nhất thiết phải nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học Xây dựng trường chuẩn Quốc gia ở Tiểu học là yêu cầu cấp thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học hiện nay về mọi mặt
Giáo dục - đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm qua đã có những chuyển biến rõ nét cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đã được bồi dưỡng nâng cao trình độ theo hướng: chuẩn hoá, trên chuẩn, bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ… Tuy nhiên, trình độ, năng lực và phẩm chất của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều… cùng với những khó khăn hạn chế về cơ sở
Trang 83
vật chất kỹ thuật thiếu thốn, chưa đồng bộ, diện tích còn hẹp… Đây là một trong những nguyên nhân khiến thị xã Phúc Yên xây dựng trường chuẩn Quốc gia ở Tiểu học chưa được nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội và của ngành đề ra
Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tế, là một giáo viên đang tham gia công tác tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc Nắm được thực trạng của giáo dục thị xã, tôi xin mạnh dạn nghiên cứu về: “Biện pháp xây dựng các Trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” nhằm góp thêm công sức nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục ở địa phương trong giai đoạn đổi mới hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, chúng tôi đề xuất các biện pháp xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình xây dựng các trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp xây dựng các trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
4 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu tìm ra hệ thống biện pháp trên cơ sở lý luận và thực tiễn thì có thể xây dựng có kết quả chất lượng các trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia
5.2 Tìm hiểu thực trạng việc xây dựng các trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia
tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm gần đây
Trang 94
5.3 Đề xuất các biện pháp xây dựng các trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia tại thị
xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
6 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp xây dựng các trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu để giải quyết được nhiệm vụ của đề tài chúng tôi
sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các Nghị quyết, văn bản, tài liệu, các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý đội ngũ, quản lý chất lượng, quản lý
cơ sở vật chất, xã hội hoá… các vấn đề có liên quan đến đề tài Kèm theo phân tích tổng hợp, hệ thống và khái quát tư liệu thu thập
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát công tác quản lý hoạt động của nhà trường
- Điều tra thông qua hồ sơ, sổ sách, trao đổi và trò chuyện trực tiếp với các nhà quản lý, giáo viên và học sinh Điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn …
- Xin ý kiến chuyên gia
- Khảo sát thực tế, tổng kết và rút kinh nghiệm
7.3 Nhóm phương pháp bổ trợ
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh, xử lý số liệu, thông tin thu được
8 Cấu trúc luận văn
Cấu trúc luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung cơ bản của luận văn được trình bày qua 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia Chương 2: Thực trạng việc xây dựng các trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc
gia tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Một số biện pháp xây dựng các trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc
gia tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 105
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XÂY DỰNG TRƯỜNG TIỂU HỌC
ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
“Chiến lược phát triển Giáo dục 2001 - 2010 xác định mục tiêu, giải pháp và các bước đi theo phương châm đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, xây dựng một nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp các nước trong khu vực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển KT - XH 2001 - 2010”
Xây dựng trường chuẩn Quốc gia ở Tiểu học có tầm quan trọng to lớn Chính
vì vậy, có nhiều công trình khoa học, nhiều đề tài luận văn Thạc sĩ đã nghiên cứu về từng mảng trong việc xây dựng trường chuẩn Quốc gia như: về đội ngũ quản lý ở trường Tiểu học, phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học, xây dựng cơ sở vật chất ở trường phổ thông, nâng cao chất lượng dạy học ở Tiểu học, thực hiện công tác xã hội hoá một số luận văn Thạc sĩ như:
Về chất lượng giáo viên có: “Một số biện pháp quản lý nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên Tiểu học quận Ngô Quyền - Hải Phòng” Luận văn Thạc
sĩ của Vũ Nguyên Nhung - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Hay: “Biện pháp quản lý bồi dưỡng, đào tạo giáo viên Tiểu học ở huyện Yên Dũng - tỉnh Bắc Giang nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay” Luận văn Thạc
sĩ của Dương Văn Đức - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ “Những biện pháp quản lý nhằm xây dựng trường Mầm non thành thị Hải Phòng đạt chuẩn Quốc gia trong giai đoạn hiện nay” của Phạm Thị Loan - Đại học Quốc gia Hà Nội Trong luận văn này chỉ đề cập đến xây dựng trường chuẩn Quốc gia ở Mầm non
Mảng cơ sở vật chất luận văn Thạc sĩ của Phạm Ngọc Đào - trường Đại học Quốc gia Hà Nội “Quy chuẩn và quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật Một yếu tố đảm bảo chất lượng giáo dục phổ thông Hải Phòng giai đoạn 2005 - 2010”
Xã hội hóa cũng là một tiêu chuẩn trong việc xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia Có luận văn Thạc sĩ của Thân Văn Dàn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 11Sự nghiệp giáo dục thị xã Phúc Yên nói riêng và tỉnh Vĩnh Phúc nói chung trong những năm gần đây có bước phát triển đột phá Song các trường Tiểu học ở thị xã Phúc Yên đạt chuẩn chưa nhiều, chưa đạt với mục tiêu đề ra của ngành, một
số trường chỉ đạt chuẩn Quốc gia ở mức độ 1, chưa có trường nào đạt chuẩn Quốc gia ở mức độ 2
Nhận thức được trường chuẩn Quốc gia ở Tiểu học có vai trò quan trọng nên tỉnh Vĩnh Phúc, Sở, Phòng Giáo dục đang quyết tâm xây dựng, nâng cao chất lượng
về mọi mặt để 100% các trường Tiểu học thị xã Phúc Yên đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 1 và nâng dần lên mức độ 2
Toàn thị xã chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề xây dựng trường Tiểu học thị xã Phúc Yên đạt chuẩn Quốc gia
Hiện tại thực trạng về CSVC, tài chính đầu tư cho GD, chất lượng GD, xã hội hóa của thị xã Phúc Yên chưa cao, còn hạn chế Vì vậy để đưa giáo dục Tiểu học thị xã phát triển mạnh, chúng tôi nhận thấy rằng cần phải xây dựng các trường Tiểu học nhằm đạt chuẩn Quốc gia trong giai đoạn hiện nay và những giai đoạn tiếp theo Đây là việc làm cần thiết và có ý nghĩa quyết định đến sự nghiệp phát triển giáo dục góp phần nâng cao, phát triển KT - XH của thị xã Phúc Yên
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý trường Tiểu học
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
* Quan niệm về quản lý của các tác giả nước ngoài :
Khái niệm quản lý được xuất hiện từ khi có sự phân công lao động xã hội C.Mác đã từng nói về quản lý rằng “Một dàn nhạc phải có một nhạc trưởng” và
Trang 12Theo W.Taylor người Mỹ cho rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất Với quan điểm đó, W.Taylor đã chủ trương áp dụng: Chỉ người lãnh đạo mới nêu ra phương pháp hoạt động và quyết định chọn phương pháp tổ chức tiến hành hoạt động áp đặt phương pháp chung cho mọi người trong tổ chức coi nhân tố kinh tế cao hơn con người, coi thù lao vật chất là nhân tố, nguồn kích thích duy nhất
Theo Harold Koontz - Cyrit ở Donnell - Heinz Weihrich định nghĩa:
“Quản lý là hoạt động thiết yếu nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được cái đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự thỏa mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn hình thức có tổ chức thì quản lý là một khoa học”
Theo phân tích của C.Mác: Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp, nó xác định sự tương hợp giữa công việc có thể và hình thành chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ
cơ chế sản xuất khác với từng bộ phận riêng của nó C.Mác đã lột tả quản lý là hoạt động lao động để điều khiển lao động Hoạt động quản lý bắt nguồn, nảy sinh và phát triển từ lao động của con người có ý nghĩa lịch sử vĩnh hằng, với tư cách là một hoạt động điều khiển mọi hoạt động xã hội
Chức năng cơ bản của quản lý là liên hợp tất cả các hoạt động của tổ chức và của những người tham gia tổ chức của quản lý với tính cách là một hiện tượng lịch
sử xã hội đồng bộ, đó là nội dung chủ yếu của các vấn đề lý luận quản lý
Các nhà nghiên cứu trình bày khái niệm theo các cách diễn đạt khác nhau, tuy nhiên đều có điểm chung về khái niệm quản lý như sau:
Trang 138
- Tác động quản lý, nghĩa là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
- Quan hệ quản lý giữa những người trong một hệ thống quản lý
- Phương pháp quản lý là bộ phận năng động nhất của quản lý, mang tính quyết định đến hiệu quả của quản lý
- Chức năng của quản lý và nguyên tắc quản lý
- Thông tin quản lý (thu nhập, xử lý, lưu trữ để ra quyết định quản lý)
Trong giáo trình khoa học quản lý đã nêu: [ 11 ]
- Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm mục tiêu đề ra
- Quản lý công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác
- Quản lý là hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm
- Quá trình quản lý là thực hiện các chức năng quản lý, các chức năng này tạo thành một chu trình quản lý và giữa chúng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau [40] Chu trình quản lý được mô tả như sau:
Sơ đồ 1.1- Các chức năng và chu trình quản lý
- Lập kế hoạch: Bao gồm việc lựa chọn một đường lối hoạt động mà cơ sở, đơn vị, bộ phận đó sẽ tuân theo Kế hoạch là văn bản trong đó xác định những mục tiêu và những quyết định thể thức để đạt được mục tiêu đó
Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu Kế hoạch là nền tảng của quản lý
- Tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bố công việc, quyền hành và các nguồn lực khác nhau cho các thành viên để có thể đạt được các mục tiêu của tổ
Thông tin
Tổ chức
Chỉ đạo Kiểm tra
Lập kế hoạch
Trang 149
chức một cách hiệu quả Với các mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức khác nhau Nguồn quản lý cần lựa chọn các cấu trúc tổ chức phù hợp với mục tiêu và nguồn lực hiện có
- Chỉ đạo: Là điều hành, chỉ dẫn, đôn đốc, giám sát, khuyến khích động viên, điều khiển và điều chỉnh đối tượng hoạt động; giúp đỡ các cán bộ dưới quyền thực hiện nhiệm vụ được phân công
- Kiểm tra: Là hoạt động của người quản lý để kiểm tra các hoạt động của đơn vị về thực hiện mục tiêu đặt ra Các yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra là:
+ Xây dựng chuẩn thực hiện
+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn
+ Điều chỉnh hoạt động khi có sự chênh lệch
Trường hợp cần thiết có thể phải điều chỉnh mục tiêu
* Quan niệm về quản lý của các tác giả Việt Nam:
Ở nước ta, phát huy kinh nghiệm sẵn có, tiếp thu kinh nghiệm của các nước, các nhà khoa học Việt Nam xây dựng cho mình hệ thống lý luận có luận cứ khoa học và thực tiễn Chúng ta đã mạnh dạn tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lý luận về quản lý của nhiều nước khác nhau trong khu vực và trên thế giới để vận dụng vào Việt Nam
P.T.S Nguyễn Thị Diệp Liên nêu: “Quản trị là một phương thức làm cho những hoạt động hình thành với một hiệu suất cao bằng và thông qua những người khác Phương thức này bao gồm những chức năng hay hoạt động cơ bản mà nhà quản trị có thể sử dụng Đó là hoạch định, tổ chức và kiểm soát” [42]
Quản lý là hoạt động cần thiết khi con người liên kết với nhau trong các tổ chức, nhằm đạt được những mục tiêu chung Với khái niệm như vậy, hoạt động quản
lý là hoạt động chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành một tập thể
Nguyễn Tấn Phước cho rằng: “Quản trị là tiến trình hoạch định tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người, đồng thời vận dụng một cách hiệu quả mọi tài nguyên (con người, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tiền bạc, bí quyết, công nghệ) để hình thành các mục tiêu đã định”.[42]
Trang 1510
GS.TS khoa học Lê Du Phong đã nêu định nghĩa khái quát: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hoạt động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [26]
Vậy ta có thể định nghĩa một cách chung nhất về quản lý như sau: Quản lý là
sự tác động có ý thức của chủ thể QL để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà QL, phù hợp với quy luật khách quan
Trong quan hệ QL, giữa chủ thể và khách thể thường xuyên tồn tại các mối quan hệ qua lại, với những tác động có tính tương hỗ lẫn nhau Chủ thể QL tạo ra các tác động QL, còn khách thể QL thì tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục tiêu của QL Chủ thể
QL nhạy bén, sắc sảo sẽ là người biết ra các quyết định QL đúng đắn, phù hợp với khách thể QL của mình Ngày nay, QL được coi là một trong năm nhân tố cho phát triển KT - XH, bao gồm: Vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và QL; trong đó QL đóng vai trò quan trọng, có tính quyết định cho sự thành công
1.2.1.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Giáo dục là một bộ phận của xã hội, nên quản lý giáo dục là một loại hình thành quản lý xã hội Quản lý xã hội là tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật khách quan của đối tượng nhằm đảm bảo cho nó vận động và phát triển hợp lý để đạt được mục tiêu đã định
Về quản lý giáo dục có nhiều cách định nghĩa:
- Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hóa nhằm đảm bảo vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và
mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng
- Quản lý giáo dục chính là một quá trình tác động có tính định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có khoa học [18]
Trang 1611
P.V Khuđôminxky cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có
kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống” nhằm đảm bảo “Giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế
hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung của xã hội cũng như quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm trí của trẻ em”
Ở Việt Nam, các nhà khoa học giáo dục định nghĩa quản lý giáo dục như sau:
- “Quản lý giáo dục theo định nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [19]
- “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành tiến tới mục tiêu đào tạo theo nguyên lý giáo dục” (Phạm Minh Hạc) [50]
- “Quản lý giáo dục (và nói riêng, quản lý trường học) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được những tổ chức nhà trường XHCNVN, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế
hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục đích dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [38]
Từ những khái niệm về quản lý giáo dục, ta có thể hiểu là: Quản lý giáo dục
là những tác động có hệ thống, có khoa học, có ý thức và hướng tới đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục
ở các trường học
Quản lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng có 3 đối tượng quản lý cơ bản đó là: Quản lý con người và các mối quan hệ liên nhân cách (mà ở nhà trường là đội ngũ giáo viên và học sinh) Quản lý toàn bộ quá trình giáo dục và dạy học diễn ra trong nhà trường cùng các mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình học sinh và cộng đồng xã hội nơi trường đóng; quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện nguồn nhân lực cho dạy và học Để giải các bài toán nảy sinh trong quá trình quản lý giáo dục có 3 cách tiếp cận cơ bản:
- Quản lý giáo dục (quản lý nhà trường) trong tiếp cận của quản lý hành chính nhà nước đối với giáo dục: Đây là cách tiếp cận quan trọng xác định vai trò chủ đạo
Trang 1712
của quản lý nhà nước đối với giáo dục, để đảm bảo mục tiêu giáo dục của nhà nước được thực hiện và bảo đảm chế độ chính sách đối với các đối tượng tham gia giáo dục Nội dung cơ bản của cách tiếp cận này là tổ chức thực hiện những quy định của nhà nước về giáo dục, về nhà trường với tiêu chí về tính hiệu lực được đặt lên hàng đầu
- Quản lý giáo dục (quản lý nhà trường) theo tiếp cận trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường luôn tác động đến sự phát triển của giáo dục, nhà trường và nói gọn hơn là cộng đồng xã hội: Trong tiếp cận này xác lập vai trò quan trọng của cộng đồng xã hội trong việc xây dựng và phát triển giáo dục nói chung, phát triển nhà trường nói riêng Ở đây, tư tưởng xã hội hóa giáo dục và huy động cộng đồng hay dân chủ hóa nhà trường được coi là phương tiện cơ bản để giải các bài toán quản lý có liên quan Nội dung chủ yếu của tiếp cận này duy trì “Cân bằng động, mối quan hệ giáo dục, mối quan hệ nhà trường với cộng đồng xã hội” Tiêu chí được coi trọng ở đây là tính thích ứng, mềm dẻo
- Quản lý giáo dục (quản lý nhà trường) dưới góc độ kinh tế học giáo dục: Trong thực tế các bài toán “Lợi ích - chi phí ” trong giáo dục hay đối với những đối tác tham gia quá trình giáo dục cần phải có hình thức và tư duy kinh tế học giáo dục mới tìm ra được lời giải tối ưu Nội dung cơ bản của tiếp cận này là “Hạch toán trong giáo dục thế nào để đảm bảo chức năng phát triển và tiêu chí ưu tiên trong tiếp cận này là tính hiệu quả của các hoạt động giáo dục” [24]
1.2.1.3 Khái niệm quản lý nhà trường
Bản chất của việc QL nhà trường là QL hoạt động dạy - học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục Như vậy, “Quản lý nhà trường” chính là một bộ phận của “Quản lý giáo dục” Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QL nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [50] Tác giả Phạm Viết Vượng quan niệm: “QL nhà trường là của các cơ quan QL nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối
đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà
trường” Một cách tổng quát: QL nhà trường là qúa trình nắm vững các văn bản
pháp quy, nắm vững thực trạng nhà trường về CB, GV và các điều kiện vật chất,
Trang 1813
nắm được các thông tin về môi trường, từ đó lựa chọn, sắp xếp, hướng dẫn thực hiện các quyết định QL theo một phương án tối ưu, nhằm làm cho các đối tượng vận động hướng tới việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của nhà trường
Có thể thấy, công tác QL trường học bao gồm QL các tác động qua lại giữa trường học và xã hội, đồng thời QL chính nhà trường Có thể phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống bao gồm các thành tố:
- Thành tố tinh thần: mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục
- Thành tố con người: thầy giáo, học sinh
- Thành tố vật chất: CSVC - trang thiết bị phục vụ giáo dục
QL nhà trường là QL hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng của chủ thể QL trên tất
cả các mặt của đời sống của nhà trường Như vậy, QL nhà trường thực chất là QL lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học; là QL tập thể giáo viên và học sinh để chính họ lại QL (đối với giáo viên) và tự QL (đối với học sinh) quá trình dạy - học Đồng thời QL nhà trường còn bao gồm QL các công việc khác có tính chất điều kiện như: đội ngũ, tổ chức hoạt động của các đoàn thể trong trường, QL CSVC, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, công chức và học sinh
PGS.TS Đặng Quốc Bảo trên cơ sở thống kê thực tiễn và nghiên cứu vấn đề quản lý đã nghiên cứu và đúc kết việc vận dụng vấn đề quản lý vào quản lý nhà trường như sau:
- “Nhà trường là thiết chế đưa giáo dục vĩ mô và vi mô, dẫn dắt thế hệ trẻ vào đời đỡ hụt hẫng” [22]
Sơ đồ 1.2: Sứ mệnh của nhà trường
Nhà trường
Thế giới công việc
Thế giới tình cảm
Xã hội Gia đình
Trang 1914
Sơ đồ 1.3: Những nhân tố đặc trưng cho nhà trường
Mười nhân tố đặc trưng cho nhà trường:
Mười phương châm hành động của nhà trường hiệu quả:
- Người học khi đến nhập học là có thiện chí với nhà trường Trong quá trình đào tạo, huấn luyện nhà trường không ban phát cho họ ân huệ gì mà họ ban ân huệ cho nhà trường vì ta có họ, đạo học mới được truyền tải
- Công việc của nhà trường chỉ thành công khi người học không đứng ngoài mục đích huấn luyện
Trang 20- Người học phải được đối xử ân cần, lịch sự nhất mà nhà trường dành cho họ
- Người học được sự hỗ trợ cao nhất để “Học đi đôi với hành”, “Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”, “Lý luận ứng dụng vào đời sống thực tiễn” [22]
Hai mươi vấn đề phát triển trường học:
- Xác định mục tiêu, kế hoạch phát triển nhà trường theo nhiệm vụ năm học
mà ngành và địa phương giao cho
- Lựa chọn giáo viên, công nhân viên chức Bố trí công việc, chức trách phù hợp với năng lực, hoàn cảnh từng người
- Quản lý giáo viên, công nhân viên làm cho họ gắn kết thành một tập thể sư phạm và làm việc có kỷ cương, tình thương, trách nhiệm
- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ quá trình đào tạo
- Thực hiện đúng tiến độ chương trình giáo dục, giảng dạy theo kế hoạch năm học mà ngành đã ban hành
- Thực hiện việc kiểm tra nội bộ với các hoạt động giáo dục giảng dạy, tiếp nhận sự thanh tra của cấp trên Luôn rà soát công việc và tổ chức của nhà trường, cải tiến, sắp xếp chúng cho hợp lý
- Đánh giá việc thực hiện các tiêu chuẩn, định mức trong giáo dục và giảng dạy Thực hiện thi đua 2 tốt trong nhà trường
- Phát triển đội ngũ giáo viên, công nhân viên Đảm bảo mọi người đều được góp
ý kiến giúp đỡ, được phát triển năng lực Những người đang tập sự đều được hỗ trợ
- Tổ chức công tác thông tin quản lý giáo dục, thống kê tình hình nhà trường chính xác, kịp thời
- Theo dõi hệ thống kết quả học tập của học sinh, lưu giữ kết quả về quá trình học tập của họ và sự tiến bộ sau khi ra trường
Trang 2116
- Thực hiện việc chăm sóc đặc biệt đối với học sinh có các hoàn cảnh khó khăn
về thể lực, trí lực Giúp đỡ học sinh nghèo học giỏi và các học sinh có năng khiếu
- Định rõ được kỷ luật của nhà trường đối với các trường hợp vi phạm nội quy
- Tổ chức tốt các mối quan hệ đối với cha mẹ học sinh và hội cha mẹ học sinh
- Tổ chức tốt mối quan hệ với các đoàn thể trong nhà trường
- Nghiêm túc chấp nhận quản lý nhà nước của cấp trên đối với nhà trường
- Tổ chức mối quan hệ tương hỗ với các đoàn thể giáo dục khác trong cộng đồng
- Quản lý người chịu trách nhiệm về các nguồn tài chính và vật chất của nhà trường
- Sắp xếp trường sở: Đảm bảo mỹ quan, sự trong lành môi trường trường học Bảo vệ được trường giới, đất đai của trường, giữ nguồn nước sạch cho trường
- Dân chủ hoá quản lý nhà trường Bố trí trong bộ máy quản lý có người làm nhiệm vụ cấp phó được thừa uỷ quyền giải quyết công việc khi Hiệu trưởng vắng mặt Chú ý bồi dưỡng người kế cận
- Tự bồi dưỡng năng lực giảng dạy và tổ chức hoạt động quản lý một cách khoa học Tham gia dạy học theo sở trường năng lực của mình, có thể dạy khi giáo viên vắng mặt [22]
1.2.1.4 Khái niệm quản lý trường Tiểu học
Trường học nằm trong hệ thống giáo dục và hệ thống xã hội, đặc điểm của thể chế là có sự kết hợp chặt chẽ hữu cơ giữa đặc điểm nhà nước và đặc điểm xã hội Vì thế trường học luôn có mối quan hệ và tác động qua lại với môi trường xã hội
“Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố thầy - trò”, “Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” [23]
Căn cứ nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường được quy định trong Điều 58 chương III của Luật giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 thì quản lý trường học trước hết và chủ yếu là quản lý dạy và học, quản lý các hoạt động bên trong của nhà trường, đồng thời bao gồm quản lý các quan hệ giữa nhà trường và xã hội bên ngoài
Trang 2217
Theo GS.Viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [30]
Quản lý trường Tiểu học về bản chất là quản lý con người Trong nhà trường hệ bị quản lý là tập thể giáo viên, học sinh, hệ quản lý là lãnh đạo nhà trường Có thể nói rằng: Quản lý nhà trường chủ yếu là tác động đến tập thể giáo viên để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình giáo dục học sinh theo mục tiêu đào tạo
1.2.2 Biện pháp quản lý
Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể [56]
Các biện pháp quản lý là các cách quản lý, các cách giải quyết một vấn đề cụ thể của công tác quản lý
1.2.3 Khái niệm xây dựng
Xây dựng là “Làm nên hoặc gây dựng nên” một cái gì đó hoặc một nội dung nào đó, với mục đích là nhằm tạo ra cái mới có giá trị hơn
Vậy khi nói đến xây dựng thì bao hàm cả về số lượng và chất lượng Xây dựng luôn gắn với phát triển và phát triển dựa trên cơ sở của thế ổn định
Theo từ điển Tiếng Việt: “Xây dựng là tạo hoàn cảnh sống vật chất hay tinh thần, cho một cộng đồng trên cơ sở một đường lối, chủ trương nhất định, một hệ tư tưởng hoặc cho cá nhân theo một ý định có suy nghĩ, cân nhắc” [56]
1.2.4 Khái niệm chuẩn, khái niệm chất lượng và mối quan hệ giữa chúng
1.2.4.1 Khái niệm chuẩn
Chuẩn là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng
Hoặc cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc theo thói quen trong
xã hội [56]
Trong giáo dục có rất nhiều khái niệm liên quan đến chuẩn, như: chuẩn về trình độ đào tạo, chuẩn về chương trình giáo dục đào tạo
Trang 2318
Trong sản xuất kinh doanh, người ta dùng nhiều đến khái niệm chuẩn, như sản xuất theo tiêu chuẩn ISO 9000 hay ISO 9002 và sản phẩm tạo ra sẽ đạt tiêu chuẩn chất lượng tương ứng
Chuẩn còn mang tính cân bằng động tuỳ theo những yêu cầu phát triển giáo dục, mục tiêu giáo dục, cũng như sự phát triển của KT - XH
Như vậy chuẩn không chỉ là cái mốc, là căn cứ dùng để so sánh đối chiếu mà chuẩn còn là cái đích để đạt tới Chuẩn được cụ thể hoá bằng những tiêu chí và khi đạt được những tiêu chí “đạt chuẩn” là đạt được những mục tiêu đề ra
1.2.4.2 Khái niệm chất lượng
Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị một con người, sự vật, sự việc [57]
Theo GS Nguyễn Đức Chính, có các cách tiếp cận truyền thống về chất lượng như sau:
* Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn (thông số kĩ thuật):
- Xuất phát từ ý niệm kiểm soát trong các ngành sản xuất và dịch vụ
- Chất lượng sản phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay các tiêu chuẩn được quy định
- Trong giáo dục cách tiếp cận này tạo cơ hội cho các trường muốn nâng cao chất lượng đào tạo có thể đề ra các tiêu chuẩn nhất định về các lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học và phấn đấu theo các tiêu chuẩn đó
- Xây dựng các tiêu chuẩn để đánh giá và dựa trên cơ sở nào
* Chất lượng là sự phù hợp với mục đích:
- Phù hợp với mục đích hay đạt được các mục đích đề ra trước đó
- Cách tiếp cận này được đa số các nhà hoạch định chính sách và quản lý giáo dục, kể cả tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo quốc tế (INQAAHE) chấp nhận sử dụng
- Chẳng hạn, mục đích của giáo dục là cung cấp nguồn lao động được đào tạo cho xã hội thì chất lượng ở đây sẽ được xem như là mức độ đáp ứng của sinh viên tốt nghiệp đối với thị trường lao động cả về số lượng và loại hình
Trang 2419
* Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường:
- Đây là một phiên bản của cách tiếp cận trên Theo cách hiểu này, một cơ sở
đào tạo có chất lượng cao trường tuyên bố rõ ràng sứ mạng (mục đích) của mình và đạt được mục đích đó một cách hiệu quả và hiệu suất nhất định
- Cách tiếp cận này cho phép các trường tự quyết định các tiêu chuẩn chất lượng và mục tiêu đào tạo của trường mình
* Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (sử dụng lao động được đào tạo):
- Thiết kế một sản phẩm hay dịch vụ, yếu tố quyết định là xác định nhu cầu của khách hàng, để sản phẩm có những đặc tính mà khách hàng mong muốn với giá
cả mà họ sẽ hài lòng trả
- Khái niệm khách hàng trong giáo dục? Đó là sinh viên hay Chính phủ, các doanh nghiệp (người trả tiền trong các dịch vụ đó) hay đó là cán bộ giảng dạy, cha
mẹ sinh viên
* Quan niệm về chất lượng trong giáo dục:
- Cơ sở các cách tiếp cận chất lượng trong giáo dục xem chất lượng là khái niệm mang tính tương đối, động và đa chiều
Ví dụ:
Đối với giáo viên và học sinh thì chất lượng phải ở quá trình đào tạo, là cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ trong quá trình giảng dạy và học tập
Đối với những người sử dụng lao động thì chất lượng lại được tính đến ở đầu
ra (trình độ, năng lực và kiến thức khi ra trường)
- Để đánh giá kiểm định chất lượng cần xây dựng một hệ thống các tiêu chí
rõ ràng với những chỉ số được lượng hoá [33]
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì khái niệm chất lượng với các cách tiếp cận sau:
* Chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó, hay đơn giản chất lượng là cái tốt nhất Điều này chỉ có thể hiểu được, cảm nhận được nếu so sánh những vật chất
có cùng những đặc tính với sự vật đang được xem xét Đây là cách tiếp cận tiên nghiệm về chất lượng
Trang 2520
* Chất lượng được xem xét trên cơ sở những thuộc tính đo được Điều đó có nghĩa là chất lượng có thể đo lường khách quan và chính xác Một sự vật có thuộc tính nào đó “cao hơn” cũng có nghĩa là “tốt hơn” và do đó cũng “đắt hơn” Cách tiếp cận này gọi là cách tiếp cận dựa trên sản phẩm khi xem xét chất lượng
* Chất lượng được xem xét như sự phù hợp với nhu cầu Các sản phẩm và dịch vụ được “sản xuất” một cách chính xác những “đặc tính kỹ thuật” đã định; mọi
sự lệch lạc đều dẫn đến giảm thấp chất lượng Đây là cách tiếp cận dựa trên sản xuất
về chất lượng (mặc dù vẫn đề cập đến dịch vụ)
* Chất lượng được xác định bằng tỉ số thành tựu / giá cả: thành tựu ở một giá
cả được chấp nhận / hoặc sự ở một chi phí chấp nhận được Đây là cách tiếp cận dựa trên giá trị về chất lượng
* Chất lượng là sự phù hợp với mục đích Chất lượng được xem xét đơn giản chỉ trong con mắt của người chiêm ngưỡng sự vật hoặc sử dụng chúng và được coi như mức độ của sự thoả mãn, hài lòng của khách hàng Đó là cách tiếp cận dựa trên người sử dụng, khách hàng đối với chất lượng [41]
Theo GS Nguyễn Minh Đường:
* “Chất lượng là khái niệm có tính tương đối Có nghĩa là khi đánh giá chất lượng phải đối chiếu so sánh với một thước đo nào đó thường được gọi là chuẩn Không thể nói có chất lượng hay kém chất lượng một cách chung chung như mọi người đánh giá hiện nay Theo cách hiểu thông thường chất lượng giáo dục và đào tạo là mức độ kiến thức, kỹ năng và thái độ mà học sinh đạt được sau khi tốt nghiệp một cấp học, bậc học đó so với các chuẩn đã được đề ra trong mục tiêu giáo dục Mặt khác, chuẩn cũng chỉ là những quyết định có tính giai đoạn, trong những điều kiện nhất định nào đó, nó sẽ thay đổi khi yêu cầu phải nâng cao chất lượng hoặc các điều kiện để thực hiện giáo dục được nâng cấp hơn Chuẩn là thước đo chung để đánh giá chất lượng giáo dục nhưng chuẩn của các hệ giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và Đại học xuất phát từ những cơ sở khoa học và yêu cầu thực tiễn rất khác nhau Do vậy chúng cũng có những đặc thù riêng” [37]
1.2.4.3 Mối quan hệ giữa chuẩn với chất lượng giáo dục
Theo GS Nguyễn Đức Chính “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” như
đã phân tích ở trên, chuẩn còn là cái đích để đạt tới (tức là mục tiêu) Như vậy có
Trang 2621
thể xem chất lượng là sự tuân theo chuẩn (đạt chuẩn) và do đó đạt chuẩn tức là đạt chất lượng Một yêu cầu đặt ra là “các chuẩn phải rất cụ thể vì những thang nhất định về kiến thức, kỹ năng, thái độ để có thể đánh giá được” [33] Với ý nghĩa được việc xây dựng chuẩn là rất quan trọng, bởi vì “không có chuẩn thì không thể đánh giá cũng như quản lý tốt được chất lượng giáo dục đào tạo” [33]
1.3 Vai trò của giáo dục Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1 Tầm quan trọng của giáo dục Tiểu học
Giáo dục là nền tảng của văn hoá dân tộc, đồng thời là mục tiêu và động lực của kinh tế, mà giáo dục Tiểu học lại là cấp học nền tảng của HTGDQD Sự phát triển của cấp học này là cơ sở để phát triển các cấp học tiếp Nếu ví HTGDQD như một toà nhà đồ sộ thì giáo dục Tiểu học chính là nền móng của ngôi nhà đó Sự tồn tại vững chắc của ngôi nhà đó phụ thuộc vào sự vững chắc của nền và móng Nói khác đi “chất lượng giáo dục phổ thông nói chung cũng như chất luợng giáo dục Đại học và chuyên nghiệp đều bắt đầu từ chất lượng giáo dục Tiểu học” [4]
Nguyên tắc “giáo dục thường xuyên, đào tạo liên tục, học tập suốt đời” phải được áp dụng cho mỗi người và do đó cấp Tiểu học phải được quan tâm thật đúng mức trong cơ cấu của HTGDQD, tạo ra một nền móng vững chắc để mỗi người có thể học tập suốt đời Đó cũng là tiền đề để xây dựng một xã hội học tập
Có thể nói, Tiểu học là cấp học đầu tiên của giáo dục Phổ thông, là cơ sở, là nền tảng của HTGDQD Một cấp học có ý nghĩa rất lớn đối với HTGDQD và đời sống nhân dân, đời sống cộng đồng
Trẻ em là những thành viên quan trọng, được quan tâm chăm sóc nhất trong đời sống gia đình và xã hội Một trong những nhu cầu thiết yếu nhất đối với trẻ em (chỉ sau nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi) là nhu cầu đi học Nếu ngày xưa Bác Hồ của chúng ta mong muốn tột độ: Dân ta ai cũng được học hành, thì có lẽ những người được Bác ưu tiên trước hết phải là trẻ em Giáo dục Tiểu học - nhà trường Tiểu học
là một bộ phận không thể thiếu được của xã hội, của cộng đồng Vì đây là cấp học đem đến cho trẻ em hạnh phúc được đi học, cũng là nơi thể hiện rõ nhất tính ưu việt của chế độ xã hội
Nói như vậy, vì giáo dục nói chung - nhất là giáo dục Tiểu học nói riêng có tác động rất lớn đối với “phát triển cá nhân” Nhiều nghiên cứu đã thống nhất: Sự
Trang 2722
phát triển của trẻ em là một quá trình chịu ảnh hưởng của 4 yếu tố: di truyền, giáo dục, môi trường và hoạt động cá nhân Cũng như môi trường, giáo dục là hình thức tác động bên ngoài đến con người đang phát triển, nhưng tác động của giáo dục bao giờ cũng là tác động có mục đích đến sự phát triển của con người Trong đó giáo dục Tiểu học “nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở” Do đó đội ngũ giáo viên Tiểu học phải quán triệt ở phương pháp dạy học và giáo dục, phải lấy học sinh làm trung tâm, tôn trọng nhân cách học sinh, coi trọng nội lực thúc đẩy hoạt động của học sinh Ở cấp học này mọi hoạt động vui chơi, hoạt động chân tay, các kỹ năng vận động phải được các thầy cô giáo chú ý và để nó có vị trí xứng đáng trong học đường
Có ý kiến cho rằng: Nói tới giáo dục Tiểu học là nói tới “một cấp học nhạy cảm nhất của giáo dục và toàn xã hội” vì đây là nền tảng của HTGDQD và liên quan tới mọi nhà [4]
Nhà trường Tiểu học đã “dẫn dắt con người từ gia đình đến xã hội” từ đó con người có những bước đầu tiên từ “thế giới tự nhiên đến thế giới công việc” (Theo Heghen) Trong tâm hồn trong trắng của mình, đứa trẻ được tiếp thu những kiến thức (sự kiện, thông tin) mới mẻ mà trước đó nó chưa hề được biết
Ở đó, sự “cọ xát tư duy” (chữ của Anhxtanh) đã giúp đứa trẻ “lớn” lên, chính điều đó làm cho nó cảm nhận được niềm vui, hạnh phúc được đi học
Mọi sự quan tâm, tác động của nền KT - XH, của toàn xã hội, của toàn dân, đặc biệt của chính quyền địa phương, cha mẹ các em đều có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả giáo dục của nhà trường Tiểu học Nếu như “Nhà trường là vầng trán của cộng đồng - Cộng đồng là trái tim của nhà trường” đúng với mọi cấp học, bậc học thì với nhà trường Tiểu học điều đó càng được sáng tỏ trong hoàn cảnh hiện nay
1.3.2 Mục tiêu và vị trí của giáo dục Tiểu học
* Mục tiêu:
Mục tiêu giáo dục Tiểu học bao gồm những phẩm chất và năng lực chủ yếu cần hình thành cho HS Tiểu học để góp phần vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho giai đoạn CNH - HĐH, hội nhập khu vực và quốc tế
Trang 2823
Mục tiêu giáo dục Tiểu học theo Điều 27 của Luật giáo dục 2005: “Nhằm giúp
HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để HS tiếp tục học THCS” [5]
Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục Tiểu học cần đạt được những mục tiêu cụ thể: nâng cao chất lượng PCGD và PCGDTH đúng độ tuổi, nâng cao chất lượng
GD toàn diện ở cấp học
Với mục tiêu trên, nội dung giáo dục Tiểu học “phải đảm bảo cho học sinh có những hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người, có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán, có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát múa, âm nhạc, mỹ thuật” [5]
Vị trí của trường Tiểu học được xác định trong Điều 2 của Điều lệ trường Tiểu học “Trường Tiểu học là cơ sở giáo dục của bậc Tiểu học, là bậc học nền tảng của HTGDQD Trường Tiểu học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng” [6]
Điều 26 của Luật giáo dục ghi rõ: “Giáo dục Tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào lớp một là sáu tuổi” [5]
Tiểu học là cấp học đầu tiên của một HTGDPT của mỗi Quốc gia Là cấp học dành cho 100% trẻ em có độ tuổi từ 6 đến 11, 12 tuổi (một bộ phận nhỏ có thể đến 14 tuổi) cũng có nghĩa Tiểu học là cấp học của 100% dân cư và từ thế hệ trẻ em ngày nay thì toàn dân đều qua ghế nhà trường Tiểu học
Cấp Tiểu học có bản sắc riêng và tính độc lập tương đối, có tính sư phạm đặc thù, giáo dục Tiểu học tạo ra những cơ sở ban đầu của nhân cách Đặc điểm này đòi hỏi sự chuẩn xác với tính khoa học, tính nhân văn cao ở một nền GD, ở một nhà trường, ở mỗi GV và CBQL giáo dục
Trường Tiểu học có vị trí, chức năng và nhiệm vụ đặc biệt trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ Trường Tiểu học tác động đến trẻ em bằng tổ chức một cách tự giác hoạt động học với tư cách là hoạt động chủ đạo cho trẻ em và tổ chức một cách
tự giác các hoạt động khác cho học sinh
Trang 2924
Giáo dục Tiểu học có vị trí hết sức quan trọng trong GD cũng như trong đời sống xã hội đòi hỏi các nhà quản lý phải quan tâm và có chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với cấp Tiểu học Với tư cách là cấp học đặt nền tảng cho HTGDQD, giáo dục Tiểu học có vững chắc thì mới đảm bảo được nhiệm vụ xây dựng toàn bộ nền móng không chỉ cho giáo dục phổ thông mà còn cho sự hình thành và phát triển nhân cách cho con người trong suốt cuộc đời
1.4 Xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia
1.4.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia
Nghị quyết Hội nghị lần VI BCH TW khoá IX của Đảng khẳng định “Tiếp tục quán triệt các quan điểm chỉ đạo giáo dục của Nghị quyết TƯ 2 khoá VIII, nỗ lực phấn đấu toàn diện làm cho giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, tập trung phát triển giáo dục mạnh hơn, khẩn trương và hiệu quả hơn theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hóa, xã hội hoá, đưa nền giáo dục nước nhà vào thế ổn định với chất lượng giáo dục toàn diện nhằm đào tạo có chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”
Tháng 10/2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành tiêu chuẩn Quốc gia về trường Tiểu học thay cho tiêu chuẩn cũ tháng 4/1997 Đây là mô hình tổng thể của trường Tiểu học mới để nhà trường có đủ điều kiện thực hiện giáo dục toàn diện và đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện Tiêu chuẩn trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia là căn cứ để chính quyền các cấp xây dựng kế hoạch đầu tư cho giáo dục Tiểu học, để đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, các lực lượng xã hội phát huy vai trò của mình trong việc xây dựng nhà trường theo hướng hiện đại
Chất lượng giáo dục là một tiêu chí quyết định giá trị xã hội của một nhà trường, nó làm cho nhà trường có uy tín, có vị thế và được mọi cấp tin tưởng giao phó Để nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ có một giải pháp mà có nhiều giải pháp tác động đồng bộ, không phải chỉ thực hiện trong một thời gian ngắn mà phải
có một quá trình, cần phải có nhiều lực lượng cùng phấn đấu
Trang 30Trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia đảm bảo mọi trẻ em đều được học tốt chương trình tiểu học do Bộ GD&ĐT quy định, khắc phục được tình trạng học sinh yếu kém, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để học sinh khá giỏi phấn đấu trở thành học sinh giỏi, đảm bảo mọi trẻ em đều được đi học đúng độ tuổi
Tóm lại, trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia có một tầm quan trọng to lớn, không chỉ với các cấp quản lý giáo dục mà với bất cứ ai quan tâm đến chất lượng giáo dục Cha mẹ học sinh nào cũng mong muốn con mình được học tập ở một môi trường có điều kiện vật chất khang trang, có đội ngũ giáo viên giỏi, có môi trường giáo dục lành mạnh Tất cả những yêu cầu đó sẽ được đáp ứng ở một ngôi trường đạt chuẩn Quốc gia
1.4.2 Tiêu chuẩn xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc Gia
1.4.2.1 Các cơ sở của việc xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc Gia
Từ khi đổi mới đất nước đến nay, kinh tế ổn định và đang phát triển đã tạo điều kiện cho các lĩnh vực văn hoá - xã hội phát triển và đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các mặt: thể dục thể thao, xoá đói giảm nghèo, y tế, giáo dục… Giáo dục đã thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Sự nghiệp giáo dục đã phát triển về số lượng và chất lượng Nhiều trường học
đã thực hiện tốt Điều lệ nhà trường do Bộ GD&ĐT quy định Yêu cầu của công cuộc CNH - HĐH đất nước đặt ra các nhà trường nói chung và trường Tiểu học nói riêng phải phát triển thành trường đạt chuẩn Quốc gia Việc phát triển các nhà trường nằm trong khuôn khổ kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các phương tiện GD của giai đoạn trước, đồng thời bổ sung các điều kiện và phương tiện GD hiện đại Khi hội đủ các điều kiện và phương tiện đúng với quy chế của Bộ quy định về trường
Trang 3126
Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia và được tỉnh kiểm tra, công nhận, thì trường sẽ đạt chuẩn Quốc gia
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992 đã được sửa đổi,
bổ sung), Luật giáo dục (2005) và chiến lược phát triển GD 2001 - 2010 đã chỉ rõ các quan điểm phát triển GD nước ta là: GD là quốc sách hàng đầu Phát triển GD
là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Xây dựng nền GD có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại hoá theo hướng XHCN, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Thực hiện công bằng xã hội trong GD, tạo cơ hội
để ai cũng được học hành Nhà nước và xã hội có cơ chế, chính sách giúp đỡ người nghèo học tập, khuyến khích những người học giỏi phát triển tài năng Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ và thẩm mỹ, phát triển năng lực cá nhân, đào tạo những người lao động có kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, có ý thức công dân, góp phân làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chiến lược phát triển GD (2001 - 2010) đã khẳng định rõ các yêu cầu tiêu chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá trên các mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học, ĐNGV, CBQL giáo dục các cấp, phương tiện dạy học, CSVC, PCGD, chất lượng, hiệu quả nhằm cụ thể hóa Nghị quyết lần thứ 6 BCHTW Đảng khoá IX: Phấn đấu đến năm 2010 tất cả các trường Tiểu học đều đạt chuẩn Quốc gia
1.4.2.2 Tiêu chuẩn xây dựng Trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc Gia
Ngày 24/10/2005 Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số: 32/2005/QĐ - BGD&ĐT (thay cho Quyết định số 1366/GD - ĐT ngày 26/4/1997) về việc ban hành quy chế công nhận trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia Quy chế này có 4 chương và 19 điều (xem phụ lục)
Trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia được chia làm hai mức độ Mức độ 1 quy định các tiêu chuẩn cần thiết của trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia để đảm bảo các hoạt động giáo dục có chất lượng toàn diện Mức độ 2 quy định các tiêu chuẩn cần thiết của trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia để đảm bảo các hoạt động
Trang 3227
giáo dục có chất lượng toàn diện ở mức độ cao hơn, tạo tiền đề nhằm tiếp cận với trình độ phát triển của trường Tiểu học ở các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Như vậy ta thấy ở hai mức độ có một số điểm khác biệt
* Tiêu chuẩn của trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia ở mức độ 1:
- Chuẩn về tổ chức và quản lý: Trong công tác quản lý, nhà trường xây dựng
kế hoạch năm học, học kỳ; có biện pháp tổ chức thực hiện kế hoạch đúng tiến độ Hiệu trưởng, các Phó Hiệu Trưởng, các tổ trưởng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý công tác của giáo viên, nhân viên và công tác hành chính theo quy định trong Điều
lệ trường Tiểu học và pháp lệnh cán bộ, công chức Quản lý và sử dụng có hiệu quả CSVC để phục vụ cho hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục khác Lưu trữ đầy đủ và khoa học các loại hồ sơ, sổ sách phục vụ cho công tác quản lý của nhà trường Thực hiện công tác quản lý tài chính đúng quy định Không có giáo viên, cán bộ, nhân viên nào bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên
Hiệu trưởng phải là người có trình độ đào tạo từ Trung học sư phạm trở lên,
có ít nhất 5 năm dạy học Đã được tập huấn về chính trị, nghiệp vụ quản lý trường học, có phẩm chất đạo đức tốt, có lập trường, tư tưởng vững vàng; có năng lực chuyên môn, có năng lực quản lý trường học, có sức khoẻ; thực hiện tốt các nhiệm
vụ của Hiệu trưởng trường Tiểu học
Phó Hiệu trưởng phải là người có trình độ đào tạo từ Trung học sư phạm trở lên Có ít nhất 3 năm dạy học; đã được tập huấn về chính trị, nghiệp vụ quản lý trường học, có phẩm chất đạo đức tốt; có lập trường, tư tưởng vững vàng, có năng lực chuyên môn, có năng lực quản lý trường học, có sức khoẻ, thực hiện tốt các nhiệm vụ của Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học
Các tổ chức đoàn thể và hội đồng trong nhà trường được tổ chức và hoạt động có hiệu quả, thực hiện tốt quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường Nhà trường thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng có liên quan đến giáo dục Tiểu học, chấp hành sự quản lý hành chính của chính quyền địa phương Đồng thời, chủ động tham mưu cho cấp bộ Đảng và chính quyền địa phương về kế hoạch và các biện pháp cụ thể lãnh đạo hoạt động của nhà trường theo những mục tiêu và kế hoạch giáo dục Tiểu học Nhà trường chấp hành sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên
Trang 33cụ thể đối với mỗi hoạt động này Có quy hoạch xây dựng đội ngũ, có kế hoạch bồi dưỡng để tất cả GV đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo, thực hiện nghiêm túc chương trình bồi dưỡng thường xuyên và bồi dưỡng trong hè theo sự chỉ đạo của Bộ Từng giáo viên có kế hoạch và thực hiện tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
- Chuẩn về cơ sở vật chất - trang thiết bị trường học:
Diện tích khuôn viên nhà trường đảm bảo theo quy định về vệ sinh trường học của Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số: 1221/QĐ - BYT ngày 18/4/2000 của
ở thành phố, thị xã và thị trấn đã được xây dựng từ năm 1997 trở về trước, do điều kiện khó khăn đặc thù, có thể vận dụng để tính diện tích khuôn viên nhà trường là diện tích mặt bằng sử dụng và đảm bảo theo quy định nói trên; phải có nhà tập đa năng đảm bảo yêu cầu cho học sinh luyện tập thường xuyên và có hiệu quả, phải tổ chức ít nhất 1 buổi/ tháng cho học sinh học tập thực tế ở ngoài lớp học
Diện tích sân chơi, sân tập thể dục thể thao được bố trí xây dựng theo quy định Sân trường có trồng cây bóng mát và có thảm cỏ Trường có tối đa không quá
30 lớp, mỗi lớp có tối đa không quá 35 học sinh, có đủ phòng học cho mỗi lớp
Trang 3429
theo quy định tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông ban hành kèm theo Quyết đinh số: 01/2004/QĐ - Bộ GD&ĐT ngày 29/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Có đầy đủ các phòng chức năng: phòng Hiệu trưởng, phòng Phó Hiệu trưởng, phòng giáo viên, phòng hoạt động Đội, phòng giáo dục nghệ thuật, phòng Y tế học đường, phòng thiết bị giáo dục, phòng thường trực Trong phòng học có đủ bàn ghế cho giáo viên và học sinh; có trang bị hệ thống quạt, bàn ghế, bục giảng, hệ thống chiếu sáng, trang trí phòng học đúng quy cách Được trang bị đầy đủ thiết bị giáo dục theo danh mục tối thiểu do Bộ quy định Đảm bảo các yêu cầu xanh, sạch, đẹp, yên tĩnh, thoáng mát, thuận tiện cho học sinh đi học Đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh: trường có nguồn nước sạch, có khu vệ sinh riêng cho cán bộ giáo viên và học sinh, riêng cho nam và nữ, có khu để xe, có hệ thống cống rãnh thoát nước, có tường hoặc hàng rào cây xanh bao quanh trường, không có hàng quán, nhà ở trong khu vực trường, môi trường xung quanh khu vực trường sạch đẹp
- Chuẩn thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục: nhà trường phối hợp với cộng đồng tổ chức Đại hội giáo dục cấp cơ sở theo định kỳ với nội dung thiết thực Nhà trường đóng vai trò nòng cốt trong Hội đồng giáo dục cấp cơ sở, chủ động đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm thực hiện chủ trương và kế hoạch do Đại hội giáo dục đề ra Ban đại diện cha mẹ học sinh hoạt động đều, có hiệu quả trong việc kết hợp với nhà trường để giáo dục HS
Có hoạt động tuyên truyền dưới nhiều hình thức để tăng thêm sự hiểu biết trong cộng đồng về mục tiêu giáo dục Tiểu học, về nội dung, phương pháp và cách đánh giá học sinh Tiểu học, tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia thực hiện mục tiêu
và kế hoạch giáo dục Tiểu học Nhà trường phối hợp với các bậc cha mẹ theo cơ chế phân công - hợp tác, cùng gia đình giáo dục con em và tạo điều kiện cho con em học tập, đảm bảo mối liên hệ thường xuyên giữa nhà trường, giáo viên và gia đình; tổ chức các hoạt động giáo dục cụ thể như: giáo dục đạo đức, lối sống, pháp luật, văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao Huy động được sự đóng góp về công sức và tiền của của các tổ chức, cá nhân và gia đình để xây dựng CSVC; tăng thêm phương tiện, thiết bị dạy và học; khen thưởng GV dạy giỏi, HS học giỏi và hỗ trợ học sinh nghèo
Trang 3530
- Chuẩn hoạt động và chất lượng giáo dục: dạy đủ các môn học, dạy đúng chương trình, kế hoạch theo quy định; có ít nhất 20% tổng số học sinh học 2 buổi/ ngày Có kế hoạch hàng năm để tăng số lượng học sinh học 2 buổi/ ngày; tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh; thực hiện có hiệu quả công tác bồi dưỡng Có biện pháp thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo chỉ đạo của cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền; sử dụng thường xuyên có hiệu quả các phòng chức năng, thư viện, các thiết bị dạy học; thực hiện nghiêm túc việc đánh giá sắp xếp học sinh theo quy định Tham gia thực hiện nhiệm vụ PCGDTH - XMC ở địa phương; có kế hoạch PCGDTH đúng độ tuổi; không để xảy ra hiện tượng tái mù chữ Tổ chức tốt “ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”, huy động được ít nhất 97% số trẻ em trong độ tuổi đi học, duy trì sĩ số, tỉ lệ học sinh bỏ học dưới 1% Tỉ lệ học sinh lên lớp, hoàn thành chương trình Tiểu học đạt ít nhất 95% Tỉ lệ học sinh được nhận xét thực hiện đầy đủ bốn nhiệm vụ của học sinh Tiểu học (hoặc được xếp loại hạnh kiểm tốt và khá) đạt ít nhất 10% Học sinh tiên tiến đạt ít nhất 40% Tỉ lệ học sinh xếp loại học lực môn loại yếu (đối với những môn đánh giá bằng điểm số) và loại chưa hoàn thành (đối với những môn đánh giá bằng nhận xét) không quá 5% Hiệu quả đào tạo (tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học sau năm năm học) đạt ít nhất 90%
* Tiêu chuẩn trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia ở mức độ 2:
Ngoài quy định của các chuẩn ở tiêu chuẩn trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 thì tiêu chuẩn trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2 đã điều chỉnh và bổ sung một số tiêu chí sau:
- Chuẩn tổ chức và quản lý: nhà trường có kế hoạch hoạt động chuyên môn chi tiết cho từng năm học, học kỳ, tháng, tuần Thực hiện công bằng, dân chủ, công khai trong quá trình quản lý Sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà trường Thực hiện công tác quản lý một cách sáng tạo, phát huy được khả năng của giáo viên, nhân viên trong việc xây dựng
và phát triển nhà trường Tổ chức cho ĐNGV được học tập bồi dưỡng để nâng cao nhận thức, nghiệp vụ chuyên môn ít nhất 50 tiết/ năm học Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng có trình độ đào tạo từ Cao đẳng sư phạm Tiểu học trở lên và được tập huấn nâng cao về chính trị, nghiệp vụ quản lý trường học
Trang 3631
- Chuẩn đội ngũ giáo viên: có 100% giáo viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo;
có giáo viên chuyên môn dạy Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật, Ngoại ngữ và Tin học;
có giáo viên tổng phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh chuyên trách
GV có sáng tạo, sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp trong dạy học và giáo dục học sinh Mỗi giáo viên có ít nhất 1 báo cáo cải tiến đổi mới phương pháp giảng dạy trong một năm học Giáo viên có kế hoạch dạy riêng cho học sinh giỏi, học sinh yếu của lớp Có ít nhất 30% số giáo viên đạt danh hiệu dạy giỏi cấp huyện trở lên, giáo viên có sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy GV hết lòng thương yêu học sinh và tận tụy với nghề, tham gia đầy đủ các hoạt động chuyên môn, chuyên đề và hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức hoặc phối hợp tổ chức, phải có kế hoạch phấn đấu sau khi được đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp do Bộ GD&ĐT hướng dẫn
- Chuẩn cơ sở vật chất - thiết bị trường học: Bàn HS là loại bàn có 2 chỗ ngồi, mỗi chỗ ngồi rộng không dưới 0,5 m Ghế học sinh phải rời với bàn và có thành tựa Kích thước của bàn và ghế phải tương ứng với nhau đồng thời phải phù hợp với tầm vóc của học sinh Các kích thước bàn ghế học sinh đảm bảo những quy định về vệ sinh trường học của Bộ Y tế được ban hành theo Quyết định số: 1221/2000/QĐ - BYT ngày 18/4/2000 của Bộ Y tế Kích thước, màu sắc, cách treo bảng học đảm bảo theo những quy định về vệ sinh trường học của Bộ Y tế Bảng học là loại bảng chống lóa Có các phòng riêng biệt để dạy các môn Âm nhạc, Mỹ thuật và Tin học Các phòng chức năng và thư viện phải có nhật ký hoạt động hàng ngày Có phòng để dạy riêng cho học sinh có khó khăn đặc biệt Phòng học
có trang bị tủ đựng hồ sơ, đồ dùng dạy học cho giáo viên và học sinh Nhà trường
có trang bị một số loại máy văn phòng hiện đại (như máy tính, máy photocopy…)
để phục vụ cho công tác giảng dạy Đồ dùng và thiết bị dạy học phải được tăng cường bổ sung hàng năm và có hiệu quả sử dụng cao Nhà trường có phòng lưu trữ hồ sơ, tài liệu chung
- Chuẩn thực hiện chủ trương xã hội giáo dục: Công khai các nguồn thu của nhà trường Có sổ theo dõi và ký biên bản hàng năm giữa nhà trường và UBND xã, phường
về tỉ lệ huy động học sinh đi học đầu năm học (đặc biệt đối với trẻ khuyết tật)
Trang 371.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới xây dựng và quản lý việc xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia trong giai đoạn hiện nay
1.5.1 Các yếu tố khách quan
1.5.1.1 Số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên trường Tiểu học:
Số lượng và chất lượng ĐNGV tác động trực tiếp đến quản lý toàn diện trong việc xây dựng trường chuẩn Quốc gia Nếu nhà trường được bố trí đủ số GV dạy
Trang 3833
các môn theo quy định thì chất lượng sẽ nâng lên Ngược lại, nếu không có đủ số
GV được dạy đủ ở các môn thì chất lượng khó đạt chuẩn
Chất lượng GD của nhà trường không thể vượt quá tầm ĐNGV của trường
đó Phẩm chất và năng lực ĐNGV là yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng nhà trường đạt chuẩn Quốc gia Nếu ĐNGV đạt chuẩn về trình độ thì quản lý hoạt động dạy - học và giáo dục theo chuẩn sẽ đạt hiệu quả cao, chất lượng giáo dục của nhà trường có thể đáp ứng được yêu cầu trường chuẩn Quốc gia
1.5.1.2 Quy hoạch về đất đai các trường Tiểu học:
CSVC các trường Tiểu học trong đó có diện tích đất là một trong các tiêu chuẩn của trường chuẩn Quốc gia và cũng là yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng, quản lý trong quá trình xây dựng để đạt được các tiêu chuẩn khác Nếu nhà trường được giao đủ diện tích đất theo quy định trường chuẩn thì có thể quy hoạch tổng thể nhà trường theo chuẩn Quốc gia Hằng năm hiệu trưởng các trường chủ động xây dựng kế hoạch cải tạo CSVC hiện có và xây dựng mới các hạng mục công trình theo chuẩn Quốc gia Như vậy, kết hợp với các yếu tố khác chủ động hoàn thiện được lộ trình xây dựng nhà trường đạt chuẩn Quốc gia
1.5.1.3 Điều kiện về kinh tế, văn hóa - xã hội ở địa phương
Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội của từng địa phương sẽ tác động sâu sắc đến tình hình giáo dục, trong đó có vấn đề xây dựng nhà trường đạt chuẩn Quốc gia Kinh
tế địa phương phát triển tạo điều kiện ban đầu đẩy nhanh tốc độ xây dựng nhà trường đạt chuẩn Quốc gia Song điều kiện kinh tế không phải là điều kiện quyết định thành công việc xây dựng trường chuẩn Quốc gia, chỉ cần người dân hiểu rõ về xã hội hóa giáo dục, sẵn sàng cùng nhà trường, ủng hộ mọi hoạt động của nhà trường thì quản lý việc xây dựng trường chuẩn Quốc gia sớm thành công
1.5.2 Các yếu tố chủ quan
1.5.2.1 Trình độ quản lý của Hiệu trưởng các trường Tiểu học
Hiệu trưởng là người tổ chức mọi hoạt động của nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục Quản lý việc xây dựng trường chuẩn Quốc gia là duy trì các hoạt động của nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục chung và nâng cao hiệu quả các biện pháp quản lý để nhà trường đạt được các tiêu chuẩn của nhà trường chuẩn Quốc gia Đây là một việc đòi hỏi trình độ quản lý, công việc này phức tạp yêu
Trang 3934
cầu người hiệu trưởng phải có trình độ quản lý tối thiểu theo quy định trường chuẩn Quốc gia
1.5.2.2 Trình độ chuyên môn của cán bộ và giáo viên trường Tiểu học:
Trường chuẩn Quốc gia yêu cầu CBQL và giáo viên đều đạt chuẩn về trình độ chuyên môn Nếu CBQL đạt chuẩn hoặc trên chuẩn thì dễ dàng tạo ra uy tín thực chất, chỉ có uy tín thực chất về chuyên môn thì BGH mới quản lý được hoạt động dạy học và giáo dục - một hoạt động cốt lõi của nhà trường Nếu trình
độ chuyên môn của CBQL chưa đạt chuẩn mà ĐNGV có nhiều người đạt chuẩn hoặc trên chuẩn thì việc lãnh đạo, quản lý ĐNGV xây dựng trường chuẩn Quốc
gia sẽ gặp khó khăn
Tiểu kết chương 1:
- Trong chương 1 chúng tôi đã hệ thống hoá các quan điểm của các tác giả trong nước và ngoài nước về các khái niệm: QL, QLGD, QL nhà trường, QL trường Tiểu học và các biện pháp QL, khái niệm xây dựng, khái niệm chuẩn, khái niệm chất lượng và mối quan hệ giữa chúng trong GD
- Xác định mục tiêu, vị trí và vai trò của GD Tiểu học trong HTGDQD
- Nêu được ý nghĩa của việc xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia đáp ứng yêu cầu đổi mới GD phổ thông hiện nay trong đó có đổi mới GD Tiểu học
- Xác định các tiêu chuẩn xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia theo các văn bản Bộ GD&ĐT ban hành đó là:
Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý
Tiêu chuẩn 2: Đội ngũ giáo viên
Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất - trang thiết bị dạy học
Tiêu chuẩn 4: Thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục
Tiêu chuẩn 5: Hoạt động và chất lượng giáo dục
Các tiêu chuẩn này có hai mức độ: mức độ 1 và mức độ 2; ở từng giai đoạn các trường Tiểu học phấn đấu xây dựng theo các mức khác nhau
- Xác định và phân tích các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng tới việc xây dựng các trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia
Trang 4035
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC XÂY DỰNG TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẠT CHUẨN
QUỐC GIA TẠI THỊ XÃ PHÚC YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
Thị xã Phúc Yên được thành lập theo Nghị định số 153/ NĐ - CP ngày 09/12/2003 của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh địa giới từ huyện Mê Linh và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/ 01/ 2004
2.1.1 Đặc điểm về địa lý và điều kiện tự nhiên
Thị xã Phúc Yên nằm ở cửa ngõ phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội với diện
và có vị trí hết sức thuận lợi để phát triển KT - XH, phía Đông giáp thành phố Hà Nội, phía Tây giáp huyện Bình Xuyên, phía Nam giáp huyện Mê Linh, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên
Thị xã Phúc Yên nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa do vậy cũng
có những đặc điểm chung như nhiều huyện, thị, trung du khác của tỉnh Vĩnh Phúc Với địa hình đa dạng, có vùng rừng núi, vùng bán sơn địa, vùng đồng bằng, sông ngòi và nhiều hồ, đầm để phát triển các loại hình đa dạng về du lịch, vui chơi giải trí
Mặt khác Phúc Yên còn gần sân bay quốc tế Nội Bài và xa lộ Bắc Thăng Long- Nội Bài; có đường quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy qua, chính những điều kiện đó đã tạo cho Phúc Yên một thị trường rộng lớn để phát triển và giao lưu hàng hóa, là nơi thu hút nhiều nhà đầu tư, đồng thời có điều kiện để tiếp cận nhanh với thông tin và các tiến bộ khoa học kỹ thuật
2.1.2 Khái quát tình hình KT - XH thị xã Phúc Yên
* Xã hội:
Thị xã Phúc Yên vốn nổi tiếng là vùng đất cổ và giàu truyền thống, nơi đây
có truyền thống hiếu học từ ngàn đời nay với những tấm gương còn lưu truyền trong nhân dân như Tiến sĩ Ngô Miễn, Trần Công Tước, Đỗ Nhân Tăng, Ngô Kính Thần từ thế kỷ XIV cho đến nay những truyền thống ấy vẫn được kế tục và phát huy hết sức mạnh mẽ