1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam

116 658 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục được tiếp cận và nghiên cứu một cách rất đa dạng Quản lý giáo dục là những tác động tự giác có ý thức, có mục đích, có kế hoạch,

Trang 1

Mã số: 601405

Người hướng dẫn khoa học: GS TS KH Vũ Ngọc Hải

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là kết quả của quá trình học tập tại trường Đại học Giáo dục

- Đại học Quốc Gia Hà Nội và quá trình công tác tại trường Cao đẳng Múa Việt Nam

Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến

GS TSKH Vũ Ngọc Hải đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ tác giả thực hiện đề tài này

Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến các thầy, cô giáo, các khoa, phòng trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tham gia giảng dạy, quản lý và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các phòng, khoa chuyên môn trường Cao đẳng Múa Việt Nam đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tác giả được tham gia học tập và nghiên cứu

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng do khả năng có hạn và kinh nghiệm thực tế còn ít nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Ngày tháng 12 năm 2010

Tác giả luận văn

Trần Thị Bích Lan

Trang 3

3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

4

MỤC LỤC

Trang MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3 3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3

5 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu: 3

6 Giả thuyết nghiên cứu 4

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

8 Phương pháp nghiên cứu 4 9 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CAO ĐẲNG NGHỆ THUẬT 6

1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu quản lý đào tạo 6 1.2 Một số khái niệm cơ bản 8

1.2.1 Quản lý……… 8

1.2.2 Quản lý giáo dục……… 10

1.2.3 Quản lý nhà trường……… 12

1.2.4 Quản lý đào tạo……… 13

1.2.5 Đổi mới quản lý đào tạo……… 14

1.3 Đặc thù của công tác quản lý đào tạo trong trường cao đẳng nghệ thuật……… 14

1.3.1 Quản lý công tác tuyển sinh……… 15

1.3.2 Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo……… 18

1.3.3 Quản lý Giảng viên và hoạt động dạy học của giảng viên……… 21

1.3.4 Quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên……… 23

1.3.5 Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học……… 25

1.3.6 Kiểm tra, đánh giá……… 27

1.4 Những yêu cầu mới về quản lý đào tạo trong trường cao đẳng nghệ thuật 29

1.5 Mối quan hệ giữa nhà trường và nơi sử dụng 33

Tiểu kết chương 1 34 Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM 35 2.1 Sơ lược về Trường Cao đẳng Múa Việt Nam 35

2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trường 36

2.3 Cơ cấu ngành nghề đào tạo 38

2.4 Thực trạng đào tạo của nhà trường 38

2.4.1 Quy mô đào tạo 39

Trang 5

5

2.4.2 Trình độ đào tạo 40

2.4.3 Mục tiêu, nội dung chương trình 40

2.4.4 Phương pháp đào tạo 42

2.4.5 Đánh giá kết quả học tập 44

2.5 Thực trạng công tác quản lý đào tạo của trường Cao đẳng Múa Việt Nam 47

2.5.1 Quản lý công tác tuyển sinh 47

2.5.2 Tổ chức thực hiện đào tạo trong trường 48

2.5.3 Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo 50

2.5.4 Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên 53

2.5.5 Quản lý hoạt động học tập của học sinh 59

2.5.6 Quản lý cơ sở vật chất và phương tiện dạy và học 63

2.6 Đánh giá chung 66 2.6.1 Mặt mạnh 66

2.6.2 Nhược điểm và bất cập 67

2.6.3 Phân tích nguyên nhân của mặt mạnh 68

2.6.4 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 68

Tiểu kết chương 2 69 Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM 70 3.1 Định hướng quản lý đào tạo của trường Cao đẳng Múa VN 70

3.1.1 Nhu cầu xã hội 70

3.1.2 Sơ lược dự báo phát triển của trường 71 3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 73

3.3 Một số biện pháp đổi mới quản lý đào tạo tại trường Cao đẳng Múa Việt Nam 74 3.3.1 Biện pháp 1: Cải tiến công tác tuyển sinh 75

3.3.2 Biện pháp 2: Tăng cường quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo 77

3.3.3 Biện pháp 3: Tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên 79

3.3.4 Biện pháp 4: Tăng cường quản lý hoạt động học tập của Học sinh 85

3.3.5 Biện pháp 5: Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học 91

3.3.6 Biện pháp 6: Đổi mới chính sách đãi ngộ trong trường 94

3.3.7 Biện pháp 7: Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá 99

3.4 Khảo sát mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 102

Tiểu kết chương 3 104 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105 1 Kết luận 105

2 Khuyến nghi 105

PHỤ LỤC

Trang 6

6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức đòi hỏi

có một nguồn nhân lực dồi dào và chất lượng đảm bảo cho sự phát triển bền vững

và lâu dài của đất nước Đảng ta luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực, chăm lo cho sự nghiệp giáo dục coi giáo dục – đào tạo “là quốc sách hàng đầu”, coi con người là nguồn vốn quý giá nhất, đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định “Phát triển giáo dục – đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh

và bền vững”

Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH – HĐH thì việc đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục – đào tạo đã và đang đặt ra những yêu cầu cấp bách Những năm gần đây, song hành với nhiều chính sách phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phát triển giáo dục nhằm tạo ra những chuyển biến về chất lượng đào tạo như Nghị quyết số 14/2005/NQ/CP của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 Quyết định số 201/ 2001/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược giáo dục giai đoạn 2001- 2010” trong đó đổi mới quản lý giáo dục được coi là một trong 7 giải pháp quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp đổi mới đất nước Hơn nữa để thực hiện mục tiêu ”Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ ” 3 thì công tác quản

lý đào tạo phải được tổ chức một cách khoa học, có chất lượng, hiệu quả để đáp ứng mục tiêu trên Như vậy đổi mới quản lý đào tạo vừa là yêu cầu, vừa là điệu kiện để nâng cao chất lượng đào tạo

Trang 7

7

Hệ thống các trường Văn hoá - nghệ thuật là một bộ phận của hệ thống giáo dục Việt Nam đang phải đối mặt với những đòi hỏi nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực trong giao lưu văn hoá và hội nhập quốc tế Để hội nhập mà không bị hoà tan, giao lưu văn hoá không trở thành bản sao với dân tộc khác đòi hỏi những người làm công tác quản lý đào tạo nghệ thuật và đặc biệt là trường đầu ngành - trường Cao đẳng Múa Việt Nam luôn trăn trở làm thế nào để xây dựng và phát triển nền nghệ thuật múa Việt Nam mang bản sắc dân tộc đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Muốn giữ gìn và phát huy nền văn hoá dân tộc nói chung và nền nghệ thuật nói riêng trước hết chúng ta phải quan tâm đến việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về văn hoá nghệ thuật bởi vì con người là trung tâm của sự phát triển, con người không chỉ là chủ thể sáng tạo văn hoá mà còn

là sản phẩm của văn hoá Do đó để nâng cao chất lượng đào tạo trong nghệ thuật thì chúng ta phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong đó đổi mới quản lý giáo dục

là khâu đột phá Muốn đổi mới công tác quản lý thì cần phải đổi mới, nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ, lãnh đạo Chính vì thế công tác quản lý đào tạo luôn

là sự quan tâm hàng đầu của các nhà trường trong giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chất lượng đào tạo nghệ thuật múa của nước ta còn chưa cao, chưa có nhiều tài năng đỉnh cao, đạt trình độ quốc tế Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên như: nội dung chương trình còn nhiều bất cập, chưa thay đổi kịp, phương pháp dạy học chưa phù hợp, phương tiện dạy học sơ sài, nghèo nàn không gây được hứng thú học tập cho học sinh, sinh viên và một trong những nguyên nhân cơ bản là nhiều nhà trường của chúng ta vẫn còn lúng túng trong việc tìm ra các biện pháp quản lý đào tạo có hiệu qủa Trong khi đó, yêu cầu của nền giáo dục nước ta là đẩy mạnh việc đổi mới theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá một cách toàn diện, đồng bộ trên tất cả các khâu của quá trình đào tạo đặc biệt là công tác quản lý đào tạo

Có thể nói vấn đề quản lý giáo dục – đào tạo đã có nhiều tác giả ở cả trong

và ngoài nước đề cập và nghiên cứu dưới nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau

Trang 8

giả đi đến thực hiện đề tài “Biện pháp quản lý đào tạo tại trường Cao đẳng Múa

Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, thực tiễn quản lý đào tạo, đề tài nhằm góp phần đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý đào tạo

- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam

- Đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa VN

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Do điều kiện thời gian và trình độ có hạn trong đề tài chỉ tiến hành khảo sát

nghiên cứu ở một số khoá đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp diễn viên múa giai đoạn từ 2005 – 2009

- Trong đề tài chỉ nghiên cứu các biện pháp quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam

5 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam

5.2 Đối tượng nghiên cứu

Trang 9

9

Công tác quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam

6 Giả thuyết nghiên cứu

Xây dựng các biện pháp quản lý đào tạo một cách có cơ sở khoa học và phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường thì chất lượng đào tạo được nâng cao và học sinh – sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ dễ dàng thích nghi với công việc, đáp ứng yêu cầu của xã hội

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

- Tổng kết công tác quản lý đào tạo Trường Cao đẳng Múa Việt Nam, nêu ra

những mặt mạnh và những hạn chế, bất cập trong quản lý đào tạo của trường

- Cung cấp cơ sở khoa học về các biện pháp đổi mới quản lí đào tạo trong nhà trường

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu bước đầu có thể áp dụng đối với Trường Cao đẳng Múa Việt Nam nói riêng và các trường đào tạo nghệ thuật nói chung Nó còn có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý các trường đào tạo nghệ thuật

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Phương pháp này chủ yếu nhằm tập hợp và phân tích các quan điểm lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra, khảo sát

Phương pháp này được thực hiện thông qua hệ thống phiếu hỏi và phỏng vấn

để thu thập thông tin, phân tích các cứ liệu thực tiễn về đào tạo tại trường Cao đẳng Múa Việt Nam

- Phương pháp quan sát và tổng kết thực tiễn

- Phương pháp thống kê toán học

9 Cấu trúc của luận văn

Trang 10

10

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo cao đẳng nghệ thuật

Chương 2 Thực trạng công tác quản lý đào tạo của trường Cao đẳng Múa Việt Nam

Chương 3 Một số biện pháp đổi mới quản lý đào tạo tại trường Cao đẳng Múa Việt Nam

Trang 11

11

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CAO ĐẲNG NGHỆ THUẬT

Sơ lược về lịch sử nghiên cứu quản lý đào tạo

- Nghiên cứu ngoài nước

Thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa (thế kỷ XV - XVIII) lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục thế giới, nhà giáo dục Tiệp Khắc J.A.Cômenxky (1592 - 1670) đã đặt nền móng cho lý luận dạy học ở nhà trường và xây dựng thành một hệ thống tri thức khoa học trong tác phẩm "Lý luận dạy học vĩ đại" (1632) Ông là người đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường, tạo cơ sở ra đời của “tổ chức hệ thống giáo dục” trên quy mô toàn xã hội - vấn đề quan trọng hàng đầu trong quản lý giáo dục Cômenxki đã đề xuất một hệ thống các trường học dành cho các lứa tuổi khác nhau Ông cho rằng: "Nhà trường phải là nơi vui tươi cho các em Bao nhiêu kiến thức dạy các em phải kết hợp thành một hệ thống cân đối, hài hoà" Ông là người đầu tiên trong lịch sử giáo dục học đã nhấn mạnh đến sứ mệnh cao cả của người giáo viên đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao đối với họ như là một tấm gương trong việc giáo dục giảng dạy học sinh Nhắc đến nhà giáo dục - thực dụng chủ nghĩa nổi tiếng của phương tây, John Dewey (Mỹ, 1859 - 1952) là nhắc đến những đóng góp để hình thành nên quan niệm về mối liên hệ giữa nhà trường và xã hội cũng như nhận định của ông về một nền giáo dục hướng tới một kết quả cụ thể - dẫu rằng có dấu ấn của chủ nghĩa thực dụng Tuy vậy, cho đến đầu thế kỷ XX, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu độc lập về quản lý giáo dục

Đầu những năm 50 của thế kỷ XX trong hàng loạt những công trình nghiên cứu có tính hàn lâm của các nhà khoa học Liên Xô cũ, đã xuất hiện các luận văn tiến sĩ, phó tiến sĩ về những khía cạnh khác nhau của quản lý giáo dục Trong số những công trình đó, có những công trình nghiên cứu sâu sắc về “thanh tra giáo dục”, “kế hoạch hoá giáo dục” Năm 1956, cuốn “Quản lý trường học” (Skolovedenie) của A Pôpốp, một nhà hoạt động sư phạm và quản lý giáo dục của Liên Xô cũ lần đầu xuất hiện được coi như một tài liệu hoàn chỉnh đầu tiên về quản

lý giáo dục Tiếp những năm sau đó, nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đã cho ra đời những tài liệu vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn về quản lý hai

Trang 12

12

quá trình sư phạm chủ yếu diễn ra trong nhà trường: quản lý quá trình dạy học và quản lý giáo dục Các tác giả đã dày công nghiên cứu, tổng kết những thành tựu nghiên cứu những vấn đề quản lý giáo dục, quản lý nhà trường như: Những cơ sở lý luận của quản lý nhà trường (1983), Những cơ sở của quản lý nội bộ trường học (1987), Kế hoạch hoá và quản lý giáo dục vi mô (1990), Quản lý giáo dục – lý thuyết nghiên cứu và thực tiễn (1996)

- Nghiên cứu trong nước

Kế thừa và phát huy các giá trị lý luận và thực tiễn những thành tựu nghiên cứu về quản lý giáo dục của một số nước trên thế giới, trong vòng hơn một thập

kỷ qua, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu mới và nhiều bài viết bàn

về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường của các tác giả tiêu biểu được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, nhiều cuộc hội thảo quốc gia bàn về đổi mới quản

lý giáo dục được tổ chức

Tác giả Vũ Ngọc Hải với cách tiếp cận mới về quản lý giáo dục như: Các

mô hình về quản lí giáo dục (số 6 (54) năm 2003), Cơ sở lí luận và thực tiễn của tư duy phát triển giáo dục ở nước ta (số 2 (74) và 3 (75) năm 2005) đăng trên tạp chí

Phát triển Giáo dục hay như Cách nhìn mới về nghiên cứu phát triển giáo dục đại

học Việt Nam (tạp chí khoa học giáo dục số 3 tháng 12 năm 2005) ,Các tác giả

Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Vũ Ngọc Hải đi sâu vào nghiên cứu một

cách có hệ thống những cơ sở lý luận chung của vấn đề quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trong nhà trường Đây là những công trình nghiên cứu rất cần thiết cho sự phát triển khoa học quản lý giáo dục và thực tiễn nhà trường

Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX trước yêu cầu đổi mới giáo dục, đòi hỏi nghiên cứu sâu hơn, có tính hệ thống hơn dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn quản lý giáo dục, một số cơ sở đầu ngành về giáo dục như Đại học Sư phạm, Đại học Giáo dục, Học viện Quản lý Giáo dục… mở hệ đào tạo cử nhân, thạc

sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục Từ đó có nhiều luận văn thạc sỹ, tiến sỹ về biện pháp quản lý giáo dục ra đời Các đề tài đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của quản lý giáo dục Tuy nhiên những nghiên cứu về biện pháp quản lý ở một nhà

Trang 13

13

trường nghệ thuật còn chưa nhiều Vì vậy tác giả chọn đề tài “Biện pháp quản lý

đào tạo tại trường Cao đẳng Múa Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình 1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

1.2.1.1.Khái niệm

Quản lý ra đời từ xa xưa khi bắt đầu có xã hội loài người, có lao động tập thể, có phân công và hợp tác Tuy nhiên mãi đến năm 1911 khi FW Taylor cho ra đời cuốn sách “những nguyên tắc quản lý khoa học” thì khoa học quản lý mới thực sự phát triển

Ngày nay khái niệm quản lý được phổ biến ngày càng rộng rãi Vai trò của quản lý được đề cao Quản lý trở thành nhân tố quyết định sự thành bại của mọi tổ chức dù tổ chức đó thuộc loại nào và có quy mô ra sao Mọi thành viên của mỗi tổ chức cả người quản lý và người bị quản lý đều chỉ có thể đạt được mục tiêu của mình thông qua sự vận dụng các yếu tố quản lý

Quản lý là một lĩnh vực tổng hợp của nhiều ngành khoa học (kinh tế, xã hội, chính trị, tâm lý ) Cùng sự phát triển của phương thức sản xuất và sự nâng cao trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý trở nên rõ rệt Do đó rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích khác nhau về quản lý như:

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo Dục, 1998) thuật ngữ quản

lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”

F W Taylor cho rằng: “Quản lí là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”

H Koontz thì lại khẳng định: “Quản lí là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt các mục đích của tổ chức”

C Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung

nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo

để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì chỉ cần phải có nhạc trưởng”[2, tr 480]

Trang 14

Dựa vào những quan niệm trên, khái niệm quản lý có thể được xác định như sau: Quản lý là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm nâng cao năng suất công việc và đạt được mục đích của tổ chức đề ra trong điều kiện biến động của môi trường

1.2.1.2 Các chức năng quản lý

Chức năng quản lý là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến khách thể

quản lý trong quá trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý

Chức năng quản lý bao gồm 4 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch, Tổ chức, Lãnh đạo và Kiểm tra

- Chức năng lập kế hoạch

Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên của một quá trình quản lý và được coi

là nền tảng khi bàn đến hoạt động quản lý Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu, mục đích phát triển trong tương lai của một tổ chức và đưa ra những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó Việc lập kế hoạch rất quan trọng để đảm bảo cho nhà quản lý có thể đưa ra những kế hoạch hợp lý và hướng toàn bộ thành viên làm việc theo mục tiêu của kế hoạch đã định Một kế hoạch sai lầm rất

có thể sẽ đưa đến những hậu quả khó lường

Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: hình thành mục tiêu đối với

tổ chức; đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức

để đạt được các mục tiêu này và; quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết

để đạt được các mục tiêu đó

- Chức năng tổ chức

Trang 15

15

Tổ chức là quá trình xác định những công việc cần phải làm, sắp xếp các công việc được giao và phân công cho các đơn vị, cá nhân đảm nhận các công việc đó, tạo ra mối quan hệ ngang dọc trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Thành công của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý trong việc

sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả Như vậy tổ chức được xem là một công cụ quản lý

- Chức năng lãnh đạo

Để tổ chức hoạt động có hiệu quả thì người quản lý cần thực hiện chức năng lãnh đạo Lãnh đạo là quá trình tập hợp mọi thành viên trong một tổ chức hướng dẫn họ, chỉ đạo họ, động viên họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể để đạt được mục tiêu của tổ chức

- Chức năng kiểm tra

Là chức năng cuối cùng của quản lý Chức năng kiểm tra đảm bảo rằng việc

lập kế hoạch, tổ chức phân công và lãnh đạo được thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả, phù hợp với mục tiêu đề ra Kiểm tra nhằm phát hiện kịp thời các sai sót

và có sự điều chỉnh, uốn nắn nếu cần thiết “Quản lý mà không có kiểm tra thì xem như không có quản lý” Vì thế người quản lý phải xem kiểm tra là một khâu cơ bản,

là nhiệm vụ thường xuyên của tổ chức, kiểm tra là yếu tố kích thích, thúc đẩy việc quản lý đạt hiệu quả

Bốn chức năng trên có mối liên quan mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau tạo thành một chu trình hoàn chỉnh Thông tin đóng vai trò quan trọng cho người quản lý, nó vừa là điều kiện, vừa là công cụ để thực hiện tổng hợp các chức năng quản lý

1.2.2 Quản lý giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người Giáo dục hướng con người vào các hoạt động truyền tri thức và kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ đi trước cho thế hệ sau làm cho xã hội và con người vận động, phát triển không ngừng Ngày nay giáo dục đã trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội của mỗi nước Tuy nhiên hoạt động giáo dục chỉ có thể thực hiện tốt

Trang 16

16

chức năng, nhiệm vụ của mình thì cần phải có công tác tổ chức và quản lý Cũng như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục được tiếp cận và nghiên cứu một cách rất đa dạng

Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đã đặt

ra ngành giáo dục [21, tr 36]

Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng

xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội [26, tr 6]

Còn theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc “ Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó” 8

Nói một cách tổng quát nhất “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em 13, tr 341

Đối tượng của quản lý giáo dục bao gồm: hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống quản lý giáo dục, các quan hệ quản lý, các chủ thể quản lý cấp dưới, tập thể

và cá nhân giáo viên và học sinh, các nguồn lực giáo dục 22, tr 20

Quản lý giáo dục là loại hình quản lý nhà nước Các hoạt động quản lý ở đây được tiến hành dựa trên quyền lực nhà nước thông qua một hệ thống các quy phạm pháp luật

1.2.3 Quản lý nhà trường

Trang 17

17

Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục ở cấp vi mô các mặt hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi một nhà trường Có nhiều cách định nghĩa về quản lý nhà trường:

“Quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường bao gồm hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến các hoạt động giáo dục, đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh) đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin…), đến các ảnh hưởng ngoài nhà trường một cách hợp quy luật giáo dục, quy luật tâm lí, quy luật kinh tế, quy luật xã hội…) nhằm đạt mục tiêu giáo dục” 22, tr 11

Trường học là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp, là một bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân Hoạt động của nhà trường vừa mang tính xã hội vừa mang tính sư phạm Nhà trường trực tiếp tổ chức quá trình giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo:

“Quản lý nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý lên tất

cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội – kinh tế và

tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” 22, tr 12

Như vậy quản lý nhà trường thực chất là quản lý đào tạo trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến quá trình đào tạo trong phạm vi nhà trường

Hiệu trưởng là người đứng đầu nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận Hiệu trưởng cùng các thành viên khác trong nhà trường chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường

1.2.4 Quản lý đào tạo

1.2.4.1 Đào tạo

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “Đào tạo là một quá trình tác động đến

một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục nhân cách” 32, tr 289]

Trang 18

18

Tác giả Nguyễn Minh Đường trong đề tài KX07 – 14 đã xác định: “Đào

tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào hành nghề một cách năng suất và hiệu quả” [14, tr 45]

Theo tác giả Mạc Văn Trang thì: “Đào tạo là hình thành kiến thức, thái độ, kỹ năng nghề nghiệp bằng một quá trình giảng dạy, huấn luyện có hệ thống theo chương trình quy định với những chuẩn mực nhất định (chuẩn quốc gia hay quốc tế) [26]

Như vậy có thể hiểu: Đào tạo là quá trình truyền tải có mục đích, có hệ

thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp…đồng thời hình thành

và phát triển nhân cách cho mỗi cá nhân giúp họ trở thành người lao động có kĩ thuật, phát huy tính sáng tạo hiệu quả trong nghề nghiệp

1.2.4.2 Quản lý đào tạo

Từ những định nghĩa đã nêu về khái niệm “quản lý”, khái niệm về “đào tạo”

có thể định nghĩa về quản lý đào tạo như sau:

Quản lý đào tạo là sự tác động có mục đích, có hệ thống của chủ thể quản lý

nhằm thực hiện được mục tiêu của nền giáo dục trong việc đào tạo con người có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cùng với quá trình hình thành và phát triển nhân cách với nhiệm vụ trung tâm là quá trình dạy học

Đối tượng của quản lý đào tạo trong nhà trường cao đẳng là sự hoạt động của giảng viên, sinh viên, các đơn vị tổ chức thuộc trường trong việc thực hiện mọi kế hoạch, nội dung chương trình đào tạo nhằm thực hiện được các mục tiêu đã đề ra Quản lý đào tạo ở đây bao gồm quản lý quá trình đào tạo từ đầu vào đến “sản phẩm” ra trường trong mối quan hệ tương tác, liên thông không những với các đơn

vị trong trường mà với cả các tổ chức khoa học, kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật, doanh nghiệp có liên quan ở ngoài trường Các tổ chức ở ngoài trường giữ một vị trí quan trọng trong việc giúp trường quản lý nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay

1.2.5 Đổi mới quản lý đào tạo

Trang 19

19

Theo đại từ điển tiếng Việt (NXB Đại học quốc gia TPHCM 2008) Đổi

mới: “thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước”

Từ điển tiếng Việt thông dụng (NXB giáo dục 1998), Đổi mới: “Biến đổi và tiến bộ nhiều hơn”

Đổi mới quản lý đào tạo là quá trình biến đổi có mục đích, có hệ thống của

chủ thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu của nền giáo dục trong việc đào tạo con người có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cùng với quá trình hình thành và phát triển nhân cách với nhiệm vụ trung tâm là quá trình dạy học, đưa hệ vận động từ trạng thái hiện tại đến mục tiêu đã định

1.3 Đặc thù của công tác quản lý đào tạo trong trường cao đẳng nghệ thuật

Nội dung quản lý đào tạo trong trường cao đẳng chuyên nghiệp nói chung và cao đẳng nghệ thuật nói riêng được thể hiện ở quản lý đầu vào, quản lý quá trình và quản lý đầu ra

Quản lý đầu vào: Nội dung quản lý đầu vào là quản lý công tác tuyển sinh; quản lý sinh viên, cán bộ quản lý, nhân viên Quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo, quản lý thiết bị, vật tư; quản lý cơ sở vật chất dạy và học

Quản lý quá trình là quản lý quá trình dạy học lý thuyết, thực hành

Quản lý đầu ra: Đảm bảo sinh viên ra trường có kiến thức, kỹ năng, thái độ, và kinh nghiệm có thể đáp ứng và thích nghi với thị trường lao động và nhu cầu xã hội Như vậy thực chất quản lý đào tạo có thể bao gồm quản lý các nội dung chính sau:

- Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo

- Quản lý hoạt động dạy của giảng viên

- Quản lý hoạt động học của sinh viên

- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị và các phương tiện khác để dạy và học

- Kiểm tra, đánh giá và đúc rút kinh nghiệm

Từ những nội dung trên các cơ sở đào tạo phải có kế hoạch rà soát và xác định lại mục tiêu đào tạo của chương trình giáo dục theo chuẩn đầu ra, làm căn cứ đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học, thi kiểm tra đánh giá và chuẩn bị các điều kiện đảm bảo chất lượng khác Khắc phục vấn đề tồn tại trong

Trang 20

20

giáo dục đào tạo vốn chỉ coi trọng những gì mình có, nhà trường cung cấp dịch vụ giáo dục đến đâu thì làm đến đó không chú trọng kết quả đầu ra

1.3.1 Quản lý công tác tuyển sinh

1.3.1.1 Đặc thù công tác tuyển sinh

Công tác tuyển sinh là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo Công tác tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng diễn ra mỗi năm một lần nhằm tuyển chọn học sinh cho các trường ĐH, CĐ Tuyển sinh liên quan đến nhiều đối tượng, các đơn vị Yêu cầu của tuyển sinh là được tổ chức chặt chẽ, chính xác, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, các sở giáo dục, hội đồng tuyển sinh các trường ĐH, CĐ cùng các ban, ngành liên quan

Tuyển sinh liên quan đến chất lượng đầu vào Do đó công tác tuyển sinh phải

thực hiện đúng quy chế của BGD& ĐT, đảm bảo an toàn, công bằng đánh giá đúng

trình độ người học, phản ánh đúng chất lượng dạy và học của các cấp học

Thi tuyển sinh được hiểu là kỳ thi nhằm tuyển chọn, đánh giá trình độ kiến thức và kỹ năng của từng thí sinh so với yêu cầu cần phải đạt được của mỗi cấp, mỗi trường, mỗi khoá, để lựa chọn đủ chỉ tiêu học sinh vào khoá học mỗi năm tính

từ thí sinh có điểm cao nhất đến hết chỉ tiêu

Đối với các trường nghệ thuật để có được nhiều tài năng trong lĩnh vực nghệ thuật thì công tác tuyển chọn năng khiếu là khâu quan trọng mang tính quyết định đến chất lượng đào tạo và việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường Làm tốt được khâu này nhà trường sẽ tuyển chọn được nhiều nhân tài đóng góp cho sự lớn mạnh của ngành nghệ thuật nước nhà Nếu không sẽ gây lãng phí về thời gian, sức lực và tiền bạc của nhà nước, nhân dân Thí sinh phải có đủ điều kiện theo quy chế tuyển sinh do BGD & ĐT và Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thống nhất ban hành như độ tuổi, trình độ văn hoá, sức khoẻ Đặc biệt đối với các chuyên ngành nghệ thuật đòi hỏi thí sinh phải có thêm năng khiếu nghệ thuật và các điều kiện khác thích ứng với từng lĩnh vực

Trang 21

21

Đối với các trường tuyển sinh ngành nghệ thuật, môn thi là Văn và năng khiếu Môn văn thi theo đề thi chung của BGD & ĐT; các môn năng khiếu thi theo

đề thi riêng của trường

Môn thi của các trường nghệ thuật:

- Khối N thi các môn : Văn, Kiến thức âm nhạc, Năng khiếu âm nhạc;

- Khối H thi các môn : Văn, Hội hoạ, Bố cục;

- Khối M thi các môn: Văn, Toán, Đọc, kể diễn cảm và hát;

- Khối S thi các môn : Văn, 2 môn Năng khiếu điện ảnh;

Ngoài ra các khâu trong tổ chức tuyển sinh ở khối nghệ thuật có khá nhiều điểm khác biệt Đối với công tác tuyển sinh ở các trường ĐH, CĐ khác, các khâu ra

đề thi, coi thi và chấm thi là 3 công đoạn độc lập thì ở các trường tuyển sinh ngành năng khiếu khâu coi thi và chấm thi gắn liền với nhau Ở khâu chấm thi, với các môn tự luận phải tiến hành rọc phách… còn với các môn năng khiếu thì Hội đồng chấm thi phải chấm điểm trực tiếp

Công tác tổ chức tuyển sinh được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ , khoa học bao gồm các công việc như sau:

- Tổ chức tuyên truyền hướng nghiệp cho người có nguyện vọng thi vào trường (mở các lớp bồi dưỡng, đào tạo những kiến thức cơ bản về nghệ thuật, tạo nguồn cho tuyển sinh)

- Tuyển sinh theo diện rộng (tuyển sinh trực tiếp tại trường hoặc cử các Giáo viên trực tiếp đi tuyển sinh tại các địa phương)

- Qua nhiều bước sàng lọc (quy trình tuyển chọn từ sơ đến chung tuyển )

- Xác định các tiêu chí năng khiếu, phương pháp đánh giá nhằm phục vụ việc tuyển chọn học sinh đối với từng ngành nghệ thuật đồng thời góp phần nâng cao kiến thức, năng lực của cán bộ tuyển sinh và chất lượng đào tạo nghệ thuật ở các cơ

sở đào tạo chuyên nghiệp

- Lựa chọn những công cụ thích hợp để đo đạc từng tiêu chí cụ thể

Có thể nói chất lượng công tác tuyển chọn học sinh có năng khiếu phụ thuộc nhiều vào các tiêu chí nhận dạng năng khiếu cụ thể

Trang 22

22

Ví dụ: Tiêu chí xác định năng khiếu trong âm nhạc: thính giác âm nhạc; tiết tấu nhịp điệu âm nhạc; trí nhớ âm nhạc; cảm xúc âm nhạc; Tiêu chí tuyển chọn năng khiếu múa gồm khả năng nhận thức trực quan, khả năng mô phỏng, nhạc cảm

Công tác tuyển sinh được chuẩn bị tốt nhằm đảm bảo cho kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế, giúp học sinh hoàn thành tốt kỳ thi của mình và nhà trường

sẽ tuyển đủ số lượng sinh viên có chất lượng vào học theo đúng chỉ tiêu đã đăng ký b) Quản lý kế hoạch tuyển sinh gồm:

- Phân tích nhu cầu, xác định mục đích và mục tiêu tuyển sinh, nội dung tuyển sinh, phương thức tuyển sinh

- Xác định các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo và khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội của cơ sở đào tạo

- Xác định chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo

c) Quản lý tổ chức thực hiện tuyển sinh:

- Sau khi đăng ký chỉ tiêu tuyển sinh, căn cứ chỉ tiêu tuyển sinh của Bộ giao trên cơ sở đảm bảo chất lượng đào tạo và các điều kiện tuyển sinh các cơ sở đào tạo thực hiện triển khai tuyển sinh

- Thành lập hội đồng tuyển sinh để thực hiện việc tổ chức và đánh giá kết quả của thí sinh trong kỳ thi tuyển sinh theo quy chế của BGD & ĐT gồm: hội

Trang 23

23

đồng ra đề thi; hội đồng coi thi; hội đồng chấm thi; hội đồng phúc khảo; xét tuyển

và triệu tập thí sinh trúng tuyển

d) Chỉ đạo công tác tuyển sinh

e) Thanh tra, kiểm tra giám sát các khâu tuyển sinh

Kiểm tra và rà soát lại toàn bộ các khâu của công tác chuẩn bị, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kể cả các phương án dự phòng

1.3.2 Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo

1.3.2.1 Quản lý mục tiêu đào tạo

Mục tiêu đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được hình dung trước dưới dạng mô hình con người cần đào tạo, những thuộc tính cơ bản của người đó Mô hình đó là sự phản ánh vào trong ý thức con người nhu cầu về một kiểu người nhất định, một mô hình về nhân cách nhất định [15, tr11]

Mục tiêu đào tạo của từng cấp học, từng trường, từng ngành phải dựa vào mục tiêu phát triển giáo dục đồng thời phải căn cứ vào những định hướng giá trị của nhà nước Mục tiêu đào tạo là hệ thống những kiến thức, kỹ năng, thái độ và các yêu cầu giáo dục toàn diện mà sinh viên phải đạt được sau khi tốt nghiệp Ngoài mục tiêu chung, mỗi ngành cần xác định mục tiêu cụ thể và coi mục tiêu này là cơ

sở để xây dựng nội dung chương trình, thời gian đào tạo lý thuyết, thực hành và quy trình quản lý để mục tiêu được thực hiện

Theo Luật Giáo dục 2009 tại điều 39, khoản 2: “Đào tạo trình độ cao đẳng giúp cho sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo”; đồng thời việc xác định mục tiêu đào tạo của ngành phải căn cứ vào tiêu chuẩn ngành tương ứng với trình độ đào tạo và nhu cầu của xã hội Yếu tố cốt lõi của mục tiêu đào tạo là phải nêu

rõ được năng lực hành nghề của sinh viên sau khi hoàn thành chương trình đào tạo

Đặc trưng của các trường nghệ thuật là trường dạy nghề lấy thực hành làm chính, lý thuyết nhằm để nâng cao hiểu biết về nghề nghiệp, hỗ trợ cho sáng tạo Mục tiêu đào tạo trong hệ thống các trường nghệ thuật là đào tạo ra các nghệ sĩ chuyên nghiệp như: diễn viên, biên đạo, đạo diễn, huấn luyện, hoạ sỹ trong các chuyên ngành nghệ thuật điện ảnh, âm nhạc, múa, xiếc, sân khấu, mỹ thuật v.v

Trang 24

24

Mục tiêu đào tạo trong hệ thống các trường nghệ thuật là: giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng và nhân cách, phẩm chất và năng lực nhằm đào tạo người nghệ sĩ có kỹ năng thực hành giỏi, có khả năng tư duy sáng tạo, có kiến thức văn hoá nhất định đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hoá nghệ thuật của công chúng góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

1.3.2.2 Quản lý chương trình đào tạo

Theo Từ điển Giáo dục học, NXB Từ điển Bách khoa – 2001, khái niệm chương trình đào tạo được hiểu là: “Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết

và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo"

Chương trình đào tạo là văn bản pháp quy thể hiện mục tiêu đào tạo; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung đào tạo, phương pháp

và hình thức tổ chức hoạt động đào tạo, lịch trình đào tạo cũng như cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với các môn học

Theo Tim Wentling (1993): “Chương trình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (khoá đào tạo) Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì ta có thể trông đợi ở người học sau khoá học, phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo các phương pháp đào tạo và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo và tất cả những cái

đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ” 13, tr 218

Theo luật Giáo dục 2009 tại điều 6 quy định “Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo”

Tại điều 41 trong Luật Giáo dục quy định chương trình giáo dục đại học cụ thể như sau: “Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học,

Trang 25

25

phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác”

Như vậy chương trình đào tạo dù được hiểu theo những quan niệm khác nhau đều bao gồm các bộ phận sau đây cấu thành: mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, hình thức tổ chức đào tạo, hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo Chúng gắn kết chặt chẽ với nhau như một chỉnh thể, đảm bảo thực hiện được tốt mục tiêu

Nội dung đào tạo là một bộ phận được chọn lọc trong nền văn hoá khoa học kỹ thuật của dân tộc và của cả loài người mà người giảng viên cần tổ chức cho người học lĩnh hội để bảo đảm hình thành nhân cách theo mục tiêu đào tạo đã định ra [5, tr 71]

1.3.2.3 Quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo có ý nghĩa quan trọng vì nó là căn cứ để cơ quan quản

lý nhà nước tiến hành chỉ đạo và giám sát công tác đào tạo của nhà trường, đảm bảo thống nhất nội dung các ngành, nhóm ngành trong cả nước; đồng thời làm căn cứ để nhà trường và giảng viên tiến hành công tác giảng dạy theo yêu cầu của nhà nước,

để nhà trường kiểm tra hoạt động giảng dạy của GV, để GV tự kiểm tra đánh giá

hoạt động giảng dạy của chính mình

Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo bao gồm quản lý việc xây dựng và thực hiện mục tiêu, nội dung đào tạo, chương trình đào tạo, quản lý quá trình đào tạo của GV và HS, SV đảm bảo nội dung chương trình đào tạo thực hiện đúng tiến độ đạt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo

Quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo được thực hiện theo qui trình: Chuẩn bị Lập kế hoạch Tổ chức thực hiện Chỉ đạo Kiểm tra, đánh giá

- Chuẩn bị

+ Thu thập thông tin về ngành nghề, phân tích ngành nghề, phân tích nhu cầu xã hội + Chuẩn bị đội ngũ Giảng viên, chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học

- Lập kế hoạch

Trang 26

26

+ Kế hoạch về nhân lực tham gia xây dựng mục tiêu, nội dung, chương trình

+ Lịch trình, tiến độ

+ Kế hoạch dự giờ, kiểm tra, thi…

+ Kế hoạch tài chính, vật tư, trang thiết bị dạy học

+ Đôn đốc, giám sát, phối hợp các đơn vị liên quan

+ Phối hợp giữa nhà trường và các đơn vị sử dụng nhân lực

- Kiểm tra

Kiểm tra kết quả, chất lượng, hiệu quả việc triển khai thực hiện chương trình

đào tạo Định kỳ bổ sung, điều chỉnh, rà soát chương trình đào tạo dựa trên các tiêu

chí đánh giá khoa học, các ý kiến tham khảo từ các nhà tuyển dụng, sinh viên tốt

nghiệp và các tổ chức xã hội khác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

1.3.3 Quản lý giảng viên và hoạt động dạy học của giảng viên

1.3.3.1 Giảng viên

Giảng viên được hiểu là chức danh nghề nghiệp của nhà giáo trong các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học Giảng viên là những nhà giáo tham gia giảng dạy ở bậc đại học và cao đẳng Họ là những người có trình độ đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ về ngành nghề mà họ sẽ giảng dạy

Điều 79 Luật Giáo dục năm 2009 ghi rõ: “Nhà giáo của trường cao đẳng, trường đại học được tuyển dụng theo phương thức ưu tiên đối với sinh viên tốt nghiệp loại khá, loại giỏi, có phẩm chất tốt và người có trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành nhà giáo Trước khi được giao nhiệm vụ giảng dạy, giảng viên cao đẳng, đại học phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm”

Có thể nói GV là nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục Theo Jacques Delors: Giáo viên giữ vai trò cốt tử trong việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ không những

Trang 27

27

đối mặt với tương lai, với một niềm tin mà còn xây dựng tương lai với quyết tâm và trách nhiệm Do vậy GV phải có đầy đủ những tiêu chuẩn như: Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; lý lịch rõ ràng

Người GV luôn tự học tập, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuẩn đã được đào tạo, phù hợp với ngành đào tạo và trình độ đào tạo được phân công đảm nhiệm Thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy

và nâng cao hiểu biết

1.3.3.2 Hoạt động dạy của giảng viên

Hoạt động dạy và hoạt động học là hai hoạt động chủ đạo của nhà trường

Hoạt động dạy: là sự tổ chức và điều khiển tối ưu quá trình sinh viên chiếm lĩnh tri thức (khái niệm khoa học), trong và bằng cách đó hình thành và phát triển nhân cách 23, tr 65

Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điểu khiển sự học tập của người học giúp họ nắm kiến thức hình thành kỹ năng, thái

độ GV với hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điều khiển hoạt động học của sinh viên đảm bảo cho sinh viên tiếp cận với đối tượng học và lĩnh hội đầy đủ và có chất lượng những nội dung học tập theo mục tiêu đề ra Ngoài việc truyền đạt kiến thức người GV còn là người hướng dẫn, gợi mở phát huy tính tích cực, chủ động học tập, nghiên cứu tìm tòi sáng tạo của người học

Giảng dạy trong trường nghệ thuật không thể hướng dẫn học sinh theo kiểu đại trà như dạy kiến thức tự nhiên, khoa học xã hội - nhân văn Vì vậy số lượng người học trong một lớp phải được tính toán khoa học để GV có điều kiện hoàn thành bài dạy đạt kết qủa cao Thường trong một lớp học nghệ thuật có từ 10 – 15 học sinh/ lớp Đối với một số chuyên ngành đào tạo nghệ thuật âm nhạc có khi: 1- 2 thầy/ 1 người học

1.3.3.3 Quản lý Giảng viên và hoạt động dạy của Giảng viên

Quản lý GV bao gồm việc quản lý tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, đề bạt, thuyên chuyển, sa thải đối với GV Quản lý GV bao gồm

cả việc quản lý thực hiện công việc giảng dạy của GV, tham gia nghiên cứu khoa

Trang 28

28

học, xây dựng chương đào tạo, đề cương chi tiết các bộ môn khoa học Đối với các trường nghệ thuật, GV còn tham gia hoạt động biểu diễn trong và ngoài nước để có điều kiện cọ xát thực tế nghề nghiệp nhằm học hỏi, nâng cao trình độ

Quản lý GV là quản lý việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của GV bao gồm nội dung:

- Tổ chức chỉ đạo GV xây dựng các bước chuẩn bị lên lớp như: giáo án, hồ sơ môn học

- Thực hiện giảng dạy trên lớp

- Tổ chức và hoạt động hướng dẫn thực hành, thực tập nghề nghiệp

- Đánh giá kết quả học tập của học sinh

- Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện quy chế nề nếp chuyên môn, nề nếp dạy

- Theo dõi, chỉ đạo thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện việc học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và sư phạm của đội ngũ giáo viện

- Kiểm tra, đánh giá GV được tiến hành theo định kỳ và đột xuất nhằm đưa lại những kết quả đánh giá chính xác và khách quan

1.3.4 Quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên

1.3.4.1 Hoạt động học

Hoạt động học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của thầy 23, tr 65

Hoạt động học có hai chức năng thống nhất với nhau là lĩnh hội thông tin và

tự chiếm lĩnh các khái niệm Trong hoạt động học, người học vừa là khách thể của hoạt động dạy, vừa là chủ thể hoạt động nhận thức tích cực, tự giác nhằm chiếm lĩnh những tri thức trong kho tàng trí tuệ của nhân loại Vì vậy sinh viên và hoạt động học phải thực hiện chức năng nhận thức do nội dung dạy học của đại học quy định Khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao cho một ngành nghề nhất định có chuyên môn năng lực cao Để hoạt động học

có hiệu quả, người học phải tích cực tham gia các phương thức hoạt động (như hoạt động nhận thức, lao động sản xuất, tổ chức – xã hội, văn hoá thẩm mỹ), tiếp cận đối tượng học (nội dung tài liệu học) và chuyển hoá chúng cái khách quan thành các giá trị chủ quan trong bản thân người học

Trang 29

29

Hoạt động học trong trường nghệ thuật gắn liền với thực hành Chúng được tiến hành xen kẽ giữa những giờ học lý thuyết với mục đích rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng tri thức đã học dưới các hình thức: thực hành luyện tập, tập diễn xuất, tập lời thoại Muốn luyện tập mang lại hiệu quả, người học phải nắm vững lý thuyết rồi mới luyện tập, phải luyện tập một cách thường xuyên, có hệ thống và kiên trì Hoạt động học trong trường nghệ thuật: xiếc, múa, điện ảnh, thanh nhạc là những hoạt động có nhiều tai nạn, rủi ro trong quá trình học tập Người học vừa phải phát huy cao độ năng khiếu, trí tuệ, tài năng sáng tạo, vừa phải phát huy cao độ hoạt động thể lực khi tập luyện, biểu diễn, đóng vai trong những điều kiện căng thẳng, có nhiều nguy cơ gây nên tai nạn, giảm sút sức khoẻ Do vậy trong hoạt động học, người học phải tuân theo quy trình tập luyện khoa học, hợp lý đảm bảo tính vừa sức GV hướng dẫn cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, có thái độ nghiêm túc trong việc tổ chức hướng dẫn tập luyện đạt kết quả cao hạn chế những rủi ro trong quá trình tập luyện

Như đã biết lao động nghệ thuật của người học là một loại hình lao động đặc thù của loại hình lao động trí óc và lao động thể lực đòi hỏi người học phải có năng khiếu bẩm sinh cùng với quá trình học tập, trau dồi công phu, lao động nghệ thuật một cách nghiêm túc nên việc tự học của người học mang tính tự giác cao

Có thể đúc rút công thức đào tạo nghệ thuật như sau:

Tài năng nghệ thuật = Năng khiếu nghệ thuật + say mê nghệ thuật + sự khổ công rèn luyện lao động theo một phương pháp đúng, phù hợp

Như vậy để có được tài năng nghệ thuật cần có năng khiếu và hội tụ các điều kiện thiết yếu, đầy đủ cho một quá trình đào tạo lâu dài nhằm lĩnh hội kỹ năng, kỹ xảo động tác của các môn nghệ thuật, hơn nữa người học phải có lòng yêu nghề tha thiết, có nghị lực, có quyết tâm, kiên trì khổ luyện mới có thể thành tài

1.3.4.2 Quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên

Quản lý hoạt động học tập của sinh viên là một trong những nội dung của công tác quản lý giáo dục trong nhà trường Quản lý hoạt động học tập của HS, SV là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện của HS, SV Hoạt động học tập của người học chính là trung tâm của toàn bộ công tác tổ

Trang 30

30

chức quản lý giáo dục trong nhà trường Quản lý tốt hoạt động học tập của sinh viên

sẽ nâng cao hiệu quả học tập ở sinh viên Chất lượng học tập của sinh viên phản ánh chất lượng quản lý của nhà trường bởi chất lượng học tập phản ánh chất lượng giảng dạy, phương pháp giảng dạy cũng như chất lượng nội dung, chương trình đào tạo

Nội dung chủ yếu của quản lý hoạt động học tập của HS, SV bao gồm:

- Quản lý mục tiêu học tập, nội dung học tập, phương pháp học tập, chất lượng học tập, điều kiện- phương tiện học tập

- Quản lý hoạt động học tập của HS, SV ở lớp, phòng tập

- Quản lý việc thực hiện quy chế học tập, rèn luyện của HS – SV

- Quản lý rèn luyện trong tham quan thực tế

- Quản lý hoạt động ngoài giờ học

- Quản lý nề nếp học

1.3.5 Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học

“Cơ sở vật chất trường học là tất cả các phương tiện vật chất được giáo viên

và học sinh sử dụng nhằm thực hiện có hiệu quả các chương trình giáo dục giảng dạy” 19, tr 285

Cơ sở vật chất bao gồm giảng đường, lớp học, phòng thí nghiệm, khu thực hành thực tập, diện tích sàn và trang thiết bị cho các hoạt động thực hành thực nghiệm, nghiên cứu và văn hoá, thể thao của cán bộ và sinh viên

Các thiết bị dạy học gồm:

+ Thiết bị cho phòng thí nghiệm, cho các xưởng thực hành, thực tập

+ Thiết bị nghe nhìn, thiết bị trình chiếu, đầu video, TV, máy casset bộ âm thanh thiết bị phụ trợ

+ Thiết bị dạy học ngoại ngữ

+ Thiết bị xử lý thông tin, máy tính điện tử

+ Tài liệu dạy học: sách, báo và các thiết bị cần thiết: máy photocopy, máy in Một nhà trường hiện đại chính quy là một nhà trường vừa có nội dung, phương pháp đào tạo hiện đại, vừa có cơ sở vật chất hiện đại “Không có sự tương hợp nhau về nội dung, phương pháp đào tạo với thiết bị dạy học thì sớm hay muộn sự hiện thực mục tiêu đào tạo sẽ bị kìm hãm, chương trình đào tạo bị phá vỡ sự cân đối,

Trang 31

31

toàn vẹn Khi có nội dung và phương pháp đào tạo tiên tiến mà thiết bị dạy học lạc hậu hoặc khi tạo ra được thiết bị dạy học hiện đại mà nội dung phương pháp đào tạo còn lạc hậu, giáo viên chưa có hứng thú với việc sử dụng thiết bị dạy học trong công tác giảng dạy thì dẫn đến sự suy thoái chất lượng và hiệu quả đào tạo” [19, tr 288] Đối với các trường nghệ thuật, do đặc điểm dạy và học nghệ thuật lấy thực hành là chính nên phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học nên chúng có vị trí đặc biệt quan trọng

- Phòng học được bố trí và trang bị đặc biệt phù hợp với từng chuyên ngành

Ví dụ: phòng học âm nhạc thường là nhỏ, có cách âm Trang bị dạy học cho âm nhạc là các loại nhạc cụ: nhạc cụ phương Tây: piano, violon, organ ,nhạc cụ cổ truyền và các thiết bị phụ trợ: máy ghi âm; Phòng học múa thường là cao, rộng, sàn

gỗ, có gương lớn, có gióng để bám, phòng học được trang bị: đàn, máy casset, video, camera

- Sân khấu cho tập luyện và thực hành bao gồm cả trang bị âm thanh, ánh sáng, phông màn, đạo cụ, hậu trường, khán đài

- Xưởng chuyên sản xuất phục trang, bảo dưỡng đạo cụ phục vụ cho học tập

và thực hành theo tính chất đặc thù của từng chuyên ngành

Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ để nâng cao chất lượng đào tạo nhìn chung các trường đã đổi mới và hiện đại hoá cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập như: Thiết bị nghe nhìn, phần mềm vi tính cho nghệ thuật

Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học bao gồm:

- Xây dựng kế hoạch trang bị, bổ sung cơ sở vật chất - kỹ thuật

- Xây dựng các quy chế quản lý sử dụng, bảo trì nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và đạt hiệu quả sử dụng

- Kiểm tra tình hình sử dụng, bảo dưỡng thiết bị dạy học

1.3.6 Kiểm tra, đánh giá

1.3.6.1 Kiểm tra:

Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì kiểm tra được định nghĩa như sau: "Kiểm tra là quá trình sử dụng các công cụ để xem xét sự phù hợp giữa sản

Trang 32

Kết quả của kiểm tra không cho ta giá trị về mặt giải pháp nhưng nó lại có ý nghĩa đối với đánh giá bởi vì kết quả của kiểm tra là cơ sở để đánh giá Quá trình đánh giá hàm chứa trong đó cả quy trình kiểm tra [24]

Trong lĩnh vực giáo dục, kiểm tra là “một thuật ngữ chỉ sự đo lường, thu thập thông tin để có được những phán đoán, xác định xem mỗi người học sau khi học đã nắm được gì (kiến thức), làm được gì (kỹ năng) và bộc lộ thái độ ứng xử ra sao, qua

đó có được những thông tin phản hồi để hoàn thiện quá trình dạy - học” 15, tr 291

Trong lĩnh vực nghệ thuật, kiểm tra kết quả học tập của học sinh, sinh viên chủ yếu dựa trên kiểm tra thực hành, sử dụng kỹ thuật quan sát trực tiếp là chính nên đôi khi còn mang tính chủ quan của người thầy

1.3.6.2 Đánh giá

Về vấn đề đánh giá có rất nhiều tài liệu nghiên cứu, đưa ra nhiều định nghĩa

và quan niệm khác nhau

Iean-Marie phát biểu rằng: "Đánh giá là thu thập một tập hợp thông tin đủ, thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy để xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này với các mục tiêu định ra ban đầu hay điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin, nhằm đưa ra một quyết định"

Theo Ralph Tyler, nhà giáo dục và tâm lí học nổi tiếng của Mỹ đã định nghĩa

"Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu trong quá trình dạy học"

Theo tác giả Trần Bá Hoành “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào việc phân tích những

Trang 33

33

thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” 15, tr 295

Ngoài ra còn rất nhiều các định nghĩa khác nữa, nhưng các định nghĩa này đều thống nhất rằng: Đánh giá là một quá trình được tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được của học sinh về mục tiêu đào tạo Nó bao gồm sự mô tả, liệt

kê về mặt định tính hay định lượng những hành vi (kiến thức, kĩ năng, thái độ) của người học ở thời điểm hiện tại đối chiếu với những tiêu chí của mục đích dự kiến mong muốn, nhằm có quyết định thích hợp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học

Theo Từ điển Giáo dục học, Nxb Từ điển Bách khoa- 2001, thuật ngữ đánh giá kết quả học tập được định nghĩa như sau: ”Xác định mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS so với yêu cầu của chương trình đề ra” 13, tr 296 Đánh giá trong giáo dục là một quá trình hoạt động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng giáo dục về mục tiêu đã định;

nó bao gồm sự mô tả định tính và định lượng kết quả đạt được thông qua những nhận xét, so sánh với những mục tiêu [24]

Kiểm tra và đánh giá là hai quá trình có mối liên hệ với nhau Kiểm tra là để đánh giá, đánh giá dựa trên cơ sở của kiểm tra Như vậy, kiểm tra và đánh giá là hai công việc có thứ tự và hỗ trợ nhau nhằm mô tả và tập hợp những bằng chứng về kết quả của quá trình giáo dục để đối chiếu với mục tiêu Trong thực tế, có thể tiến hành thu thập các thông tin nhưng không đánh giá Nhưng để đánh giá được phải tiến hành kiểm tra, thông qua kiểm tra mới có thể đánh giá và đánh giá chính là kết quả của kiểm tra Kiểm tra luôn gắn liền với đánh giá, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong kiểm tra, đánh giá nhà trường cần:

- Tập trung chỉ đạo đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá tạo động lực để đổi mới phương pháp dạy học, và ngược lại đổi mới phương pháp dạy học là điều kiện để đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá

- Kết quả kiểm tra, đánh giá được xem xét xử lý số liệu đồng thời với việc kiểm tra, đánh giá nội dung chương trình đào tạo để đưa ra những kết luận chính

Trang 34

đề cấp bách hàng đầu là phải đổi mới quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH – HĐH Phải khẳng định rằng đổi mới quản lý giáo dục được coi là nhân tố quan trọng nhất đảm bảo sự thành công của đổi mới giáo dục Trước yêu cầu mới trên đòi hỏi các trường cao đẳng nghệ thuật phải từng bước

có những thay đổi căn bản trong quản lý đào tạo để khẳng định vị thế của các trường cao đẳng nghệ thuật trong hệ thống các trường cao đẳng chuyên nghiệp cũng như làm đòn bẩy phát triển nền nghệ thuật nước nhà Sự đổi thay này phải bắt đầu từ khâu tuyển sinh, xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo đến quản lý việc giảng dạy, học tập của giảng viên, HS- SV cũng như phương thức kiểm tra, đánh giá

- Đối với công tác quản lý tuyển sinh

+ Hoàn chỉnh các tiêu chí tuyển chọn làm căn cứ cho công tác tuyển sinh Xác định các tiêu chí năng khiếu đảm bảo tính khoa học và phù hợp với những đặc điểm tâm lý của học sinh

+ Huy động, sử dụng các công nghệ thông tin, thiết bị hiện đại để phục vụ cho công tác tuyển sinh tăng độ chính xác

+ Xây dựng quy trình tuyển sinh khoa học đảm bảo công bằng, dân chủ và công khai

- Đối với quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo

Trước những bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội đòi hỏi mọi ngành nghề luôn vận động, phát triển Mọi ngành nghề bắt buộc phải tìm tòi, không ngừng đổi mới để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống cũng như trình độ dân trí trong từng giai đoạn

Trang 35

35

Từ những thay đổi trên đòi hỏi mục tiêu đào tạo trong nền giáo dục phải luôn bám sát với thực tiễn Yêu cầu này đặt ra cho mọi nền giáo dục phải thường xuyên đổi mới nội dung đào tạo cho thích ứng với thời cuộc Thiết kế chương trình đào tạo phải gắn chặt yêu cầu phát triển đất nước phù hợp với văn hoá truyền thống dân tộc Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính hiện đại, tính ổn định, tính thống nhất Chương trình đào tạo phải phù hợp mục tiêu đào tạo của ngành học, yêu cầu của người học, phù hợp với sự phát triển của xã hội

Nội dung chương trình đào tạo phải đảm bảo các yêu cầu: cơ bản, hiện đại đảm bảo cân đối giữa hai mảng kiến thức giáo dục đại cương và giáo dục nghề nghiệp để tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên phát triển toàn diện đồng thời phát huy hết tiềm năng mỗi cá nhân

- Đối với giảng viên và hoạt động giảng dạy của giảng viên

Lao động của giảng viên là loại hình lao động đặc biệt bởi họ có nhiệm vụ đào tạo ra những con người làm nghệ thuật - những nghệ sỹ tương lai cho xã hội nên yêu cầu đặt ra cho mỗi người thầy làm nghệ thuật cũng như hoạt động giảng dạy của họ càng cao Ngoài trình độ chuyên môn giỏi, phương pháp sư phạm tốt, giàu lòng tình thương, kiên trì nhẫn nại, say mê nghề nghiệp họ còn phải có một số

tố chất sau:

Tính sáng tạo là đòi hỏi sống còn của nghệ thuật cũng như của cá nhân mỗi người làm nghệ thuật Mỗi người thầy phải có cá tính sáng tạo riêng, phong cách nghệ thuật riêng Trong hoạt động giảng dạy nghệ thuật đòi hỏi sự kết nối liên tục của lý trí - tình cảm - cảm hứng sáng tạo

Yếu tố lý trí đòi hỏi người thầy có thế giới quan, nhân sinh quan đúng đắn giúp họ nắm bắt đúng bản chất cuộc sống, thâm nhập cuộc sống để chính cuộc sống

sẽ gợi mở cho họ những đề tài, ý tưởng nghệ thuật

Yếu tố tình cảm khiến cho những ý tưởng nghệ thuật trở thành niềm say mê nhờ đó mà cảm hứng sáng tạo sẽ xuất hiện khiến cho năng lực sáng tạo được khơi dậy mang lại hiệu quả cao trong nghệ thuật

Là một người nghệ sỹ giàu cảm xúc thẩm mỹ, nhạy bén với cái đẹp Đây là yếu tố cần thiết cho sự cảm thụ, thẩm định đánh giá, sáng tạo các giá trị nghệ thuật

Trang 36

36

Phương pháp dạy học của người GV “không phải đổ đầy tri thức mà thắp sáng trí tuệ cho học sinh”, ở đây người thầy không chỉ truyền thụ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn phải biết khám phá những mặt mạnh, mặt yếu về tri thức, tâm sinh lý của người học để từ đó sử dụng những phương pháp sư phạm thích hợp dìu dắt từng em đi vào thế giới sáng tạo Người thầy không chỉ giỏi chuyên môn nghề nghiệp mà cần rèn luyện nhân cách nâng cao trình độ hiểu biết về kiến thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội sự hiểu biết của người thầy càng sâu rộng thì sức sáng tạo nghệ thuật của họ càng cao Người thầy có bản lĩnh phải biết khai thác trí tưởng tượng phong phú của học sinh điều quan trọng là phải nắm bắt và phát huy đầy đủ cá tính và sáng tạo của người học Trong lĩnh vực đào tạo nghệ thuật người

GV không chỉ có hoạt động giảng dạy đơn thuần trên các xưởng thực hành, sàn tập mà họ còn phải luôn trau dồi vốn sống, tích luỹ kinh nghiệm sân khấu Do vậy việc học tập, bồi dưỡng của GV không chỉ qua các lớp chuyên môn nghiệp vụ mà còn đòi hỏi thực tế sân khấu Người GV cần trực tiếp tham gia các hoạt động biểu diễn, sáng tác, dàn dựng các chương trình nghệ thuật vừa có điều kiện nâng cao tay nghề, vừa có điều kiện truyền bản lĩnh sân khấu đối với trò

- Đối với quản lý học tập của học sinh, sinh viên

Cũng như các lĩnh vực khoa học khác, lĩnh vực nghệ thuật cùng hướng tới sự khám phá bản chất, sự vật hiện tượng, các quy luật của đời sống nên nó đòi hỏi rất cao năng lực sáng tạo của con người Do vậy hoạt động học tập là hoàn toàn tự giác,

tích cực, tự lực và sáng tạo cao

Nghệ thuật cần có đỉnh cao, việc tạo điều kiện cho HS, SV những cơ hội tiếp nhận những tinh hoa nghệ thuật thế giới là việc làm cần thiết nhằm làm giàu vốn văn hoá dân tộc Thực hành biểu diễn trước công chúng đối với HS, SV là vô cùng quan trọng và cần thiết trong việc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo của người nghệ sỹ tương lai Các trường nghệ thuật cần phải thường xuyên tổ chức thực hành biểu diễn, công diễn những sáng tác, công trình do GV và HS, SV dàn dựng hoặc phối kết hợp cùng với các đơn vị nghệ thuật đi biểu diễn trong và ngoài nước nhằm giúp HS, SV có tâm lý vững vàng trong biểu diễn, tăng cường bản lĩnh sân khấu, cũng như nâng cao trình độ học tập Đây cũng là cơ hội để HS, SV được tiếp xúc, học hỏi, trao đổi với những

Trang 37

37

người làm nghề Làm tốt điều trên chính là thực hiện nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của xã hội

- Đối với cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học

Cách mạng khoa học và công nghệ đã mang lại những đổi thay kỳ diệu cho cuộc sống con người, những trang thiết bị hiện đại ngày càng nhiều, hiện đại hơn,

đã và đang tạo điều kiện cho con người vươn tới chân trời mới của sự sáng tạo Do vậy cơ sở vật chất, trang thiết bị:

+ Phải được cung cấp đầy đủ, kịp thời và hiện đại, phải phù hợp với yêu cầu

về đổi mới nội dung và đổi mới phương pháp giáo dục

+ Phải phù hợp với đối tượng, an toàn cho người sử dụng, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi, khả năng và đặc điểm tư duy của HS, SV

+ Phải đảm bảo các mức độ chuẩn xác trong việc phản ánh hiện thực

- Đối với kiểm tra, đánh giá

+ Đổi mới kiểm tra, đánh giá Xây dựng các tiêu chí đánh giá

+ Việc đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên là việc làm thường xuyên ở các trường

+ Việc kiểm tra, đánh giá được tiến hành nghiêm túc, khoa học đảm bảo chính xác, công bằng, công khai và dân chủ

+ Kết quả kiểm tra sẽ cung cấp đầy đủ, chính xác cho việc đánh giá cũng như điều khiển, điều chỉnh quá trình dạy học Bên cạnh đó việc đánh giá khách quan, công bằng của GV đối với kết quả học tập của học sinh sẽ góp phần kích thích hoạt động học tập của học sinh cũng như sự tin tưởng của học sinh đối với thầy cô

1.5 Mối quan hệ giữa nhà trường và nơi sử dụng

Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã chỉ rõ “ Phát triển đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những bước tiến bộ khoa học với công nghệ và quốc phòng, an ninh Thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội” Nhu cầu đào tạo của trường cao đẳng múa luôn bắt nguồn từ thực tế Tăng cường quản lý mối quan hệ giữa công tác đào tạo của trường với sử dụng nhân lực sau khi ra trường của các cơ sở nghệ thuật và địa phương là một trong những nội

Trang 38

38

dung quan trọng không thể thiếu được của nhà trường Nhà trường thông qua các đơn vị sử dụng để kiểm chứng kết quả đào tạo của trường và điều chỉnh mục tiêu, nội dung chương trình sao cho luôn tương thích với đòi hỏi thực tế của xã hội Tổ chức hội nghị khách hàng để nâng cao chất lượng đào tạo và tăng nguồn lực về mọi mặt giúp trường phát triển theo kịp với thị hiếu và những đòi hỏi khác của công chúng và các cơ sở sử dụng “sản phẩm đào tạo” của trường

Tiểu kết chương 1

Bản chất của quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá; nó vừa là khoa học vừa là nghệ thuật sử dụng các thành tố tổng hợp tác động đến hệ thống bằng các phương pháp thích hợp để thực hiện mục tiêu đề ra Quản lý đào tạo trường cao đẳng thực chất là quản lý quá trình đào tạo; vận dụng,

tổ hợp các hoạt động trong và ngoài trường liên quan đến quá trình đào tạo thông qua việc dạy của giảng viên, việc học của sinh viên và cơ sở vật chất, thiết bị dạy và học , sự hợp tác phối hợp của các cơ quan, tổ chức ngoài trường nhằm thực hiện tốt mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo của trường đặt ra và các mục tiêu khác

Trang 39

39

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỦA

TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM

2.1 Sơ lược về Trường Cao đẳng Múa Việt Nam

Trường Cao đẳng Múa Việt Nam - cái nôi nuôi dưỡng và chắp cánh cho nhiều nhân tài ngành múa Việt Nam Với bề dày truyền thống 50 năm đào tạo và với vị thế của một truờng đầu ngành, nhà trường đang trở thành địa chỉ đáng tin cậy

về đào tạo đội ngũ cán bộ, diễn viên múa có chất lượng Trải qua 50 năm xây dựng

và phát triển nhà trường đã đào tạo hàng nghìn diễn viên múa cho các đoàn nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương phần đông trong số họ nay đều là lực lượng nòng cốt của các đoàn nghệ thuật trong cả nước, một số đã trở thành cán bộ cốt cán của ngành nghệ thuật Trong số hàng ngàn nghệ sỹ múa do trường đào tạo đến nay

đã có nhiều người được tặng danh hiệu NGND, NGƯT, NSND, NSƯT Họ là những người gieo mầm, nuôi dưỡng phát triển nghệ thuật múa Việt Nam

Lịch sử hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành của nhà trường trải qua những chặng đường đáng nhớ sau:

- Trường Cao đẳng Múa Việt Nam tiền thân là trường Múa Việt Nam được thành lập ngày 21 tháng 09 năm 1959 theo quyết định số 153 - VH/ QĐ của Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch) với nhiệm vụ: “Đào tạo

và bổ túc nâng cao trình độ cho cán bộ, diễn viên múa để cung cấp cho các ngành, các địa phương” Những ngày đầu xây dựng nhà trường gặp không ít khó khăn Đội ngũ quản lý, giáo viên vừa thiếu vừa chưa có nhiều kinh nghiệm, cơ sở vật chất còn nghèo nàn nhưng được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cũng như nhờ có sự giúp đỡ nhiệt tình của các chuyên gia Liên xô (cũ), Trung Quốc, Triều Tiên nhà trường đã bước đầu đi vào ổn định Tuy nhiên khi đất nước bước vào giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhà trường đã rút ngắn thời gian và chương trình đào tạo, mở thêm các lớp ngắn hạn, các lớp bổ túc để kịp thời

bổ sung cán bộ, diễn viên múa sẵn sàng phục vụ đời sống tinh thần cho tiền tuyến Sau ngày đất nước thống nhất nhà trường nhanh chóng bắt tay vào việc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục trường học từng bước mở rộng quy mô đào tạo nâng

Trang 40

định nâng cấp thành trường Cao đẳng Múa Việt Nam” Chức năng chính của trường

theo Quyết định 26/ 2001/ QĐ – BVHTT “ là đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, diễn viên có trình độ cao đẳng và trung cấp về nghệ thuật Múa, nghiên cứu, giữ gìn, phát triển nghệ thuật múa truyền thống của các dân tộc Việt Nam và tiếp thu những tinh hoa nghệ thuật múa của các nước trên thế giới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường” Từ một cơ sở đào tạo múa đầu tiên đến nay nhà trường đã trở thành một trung tâm đào tạo nghệ thuật múa lớn nhất của cả nước, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành nhà trường đã có được cơ sở vật chất tương đối khang trang, quy mô và chất lượng đào tạo được nâng cao, quan hệ hợp tác về đào tạo và biểu diễn giao lưu được tăng cường mở rộng: như nhà trường có quan hệ hợp tác với trường Múa Kiep (Ucraina), trường Múa Victoria (Ốtxtralia), đoàn Múa phương Bắc (Ốtxtralia), Học viện Múa Bắc Kinh, Quảng Tây (Trung Quốc), trường Múa lion (Pháp) tham gia hợp tác đào tạo diễn viên Múa cho các nước trong khu vực: Thái Lan, Lào Ngoài ra trường cũng mở các lớp đào tạo theo địa chỉ, đào tạo liên kết tại Huế, Lào Cai, Thanh Hoá, Nghệ An

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó, cán bộ, GV nhà trường đang tiếp tục phấn đấu, đổi mới theo hướng “chính quy, khoa học, dân tộc, hiện đại”, đổi mới công tác quản lý đào tạo, nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo phù hợp với xu thế, phát triển, hội nhập từng bước nâng cấp trường lên Học viện Múa Quốc gia xứng đáng là trung tâm đào tạo nghệ thuật múa chuyên nghiệp của cả nước

2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trường

- Ban Giám hiệu:

+ 01 Hiệu trưởng

+ 01 Hiệu phó phụ trách đào tạo

+ 01 Hiệu phó phụ trách hành chính - tổ chức

Ngày đăng: 16/03/2015, 22:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức đánh giá và mức độ khó của bài thi cho phù hợp với từng trình độ của HS. - Biện pháp quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
Hình th ức đánh giá và mức độ khó của bài thi cho phù hợp với từng trình độ của HS (Trang 49)
Bảng 2.3. Tổng số học sinh đăng ký dự thi THCN vào trường, số học sinh trúng - Biện pháp quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
Bảng 2.3. Tổng số học sinh đăng ký dự thi THCN vào trường, số học sinh trúng (Trang 52)
Bảng 2.6: Ý kiến của GV về việc quản lý bồi dƣỡng, nâng cao trình độ 5 năm - Biện pháp quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
Bảng 2.6 Ý kiến của GV về việc quản lý bồi dƣỡng, nâng cao trình độ 5 năm (Trang 60)
Bảng 2.7: Kết quả khảo sát về quản lý hoạt động học tập của học sinh. - Biện pháp quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát về quản lý hoạt động học tập của học sinh (Trang 64)
Bảng 2.8: Kết quả khảo sát công tác quản lý CSVC, phương tiện dạy học - Biện pháp quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
Bảng 2.8 Kết quả khảo sát công tác quản lý CSVC, phương tiện dạy học (Trang 68)
Bảng 3.1:  Kết quả đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp - Biện pháp quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
Bảng 3.1 Kết quả đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w