Đề tài này góp phần làm rõ thêm thực trạng về quản lý giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội và các đoàn thể đối với sinh viên ngoại trú hiện nay.. Phương pháp phân tích và tổng kết k
Trang 1Tôi xin được bày tỏ sự kính trọng và lòng biết
ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo, đặc biệt là Tiến sỹ: Nguyễn Trọng Hậu - Người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài
Trang 2NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN:
GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
GD&TĐ: Giáo dục và Thời đại
Trang 3Chương 1 Cơ sở khoa học của công tác quản lý SV ngoại trú ở trường
1.2.4 Nội dung và biện pháp quản lý SV ngoại trú 30 1.2.4.1 Các văn bản chủ yếu quy định về quản lý SV ngoại trú 30 1.2.4.2 Các nội dung chủ yếu trong quản lý SV ngoại trú 30 1.2.4.3 Xây dựng kế hoặch công tác quản lý sinh viên ngoại
trú
32
1.2.4.4 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quản lý sinh viên
Chương 2 Thực trạng quản lý Sinh viên ngoại trú của trường ĐH
Hồng Đức trên địa bàn thành phố thanh hoá 35
Trang 42.1 Khái quát về quản lý công tác hoạt động chung của SV
ngoại trú trường ĐH Hồng Đức trên địa bàn T.P Thanh Hoá
2.2 Thực trạng các biện pháp quản lý SV ngoại trú của
trường ĐH Hồng Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá
Chương 3 Một số biện pháp quản lý SV ngoại trú ở trường ĐH Hồng
Đức trên địa bàn TP Thanh hoá
60
3.1 Cơ sở xuất phát của việc đề ra một số biện pháp quản lý
SV ngoại trú của trường ĐH Hồng Đức trên địa bàn TP
Trang 53.1.2 Xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo của trường
ĐH Hồng Đức
61
3.1.3 Xuất phát từ điều kiện địa lý, kinh tế, văn hoá, xã hội
củaTP Thanh Hoá, đặc biệt là vùng dân cư xung quanh
nơi trường đóng
62
3.1.4 Xuất phát từ những kinh nghiệm tổ chức quản lý SV
ngoại trú của trường ĐH Hồng Đứctừ khi thành lập đến
3.2.3 Nhóm biện pháp 3: Hoàn chỉnh tổ chức bộ máy và hoàn
thiện cơ chế phối hợp các lực lượng trong việc quản lý
SV ngoại trú của trường ĐH Hồng Đức trên địa bàn TP
Thanh Hoá
67
3.2.4 Nhóm biện pháp 4: Nâng cao chất lượng tổ chức thực
hiện các hoạt động quản lý SV ngoại trú của trường ĐH
Hồng Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá
69
3.2.5 Nhóm biện pháp 5 : Tăng cường giám sát, kiểm tra,
đánh giá công tác cộng quản lý SV ngoại trú của trường
ĐH Hồng Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá
Trang 63.5 Nhận thức và đánh giá của cán bộ khối phố (thôn),
về mức độ thực hiện các biện pháp quản lý SV ngoại
- MÉu sæ theo dâi SV néi, ngo¹i tró 94
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học -công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất phát triển mang tính bùng nổ, trong đó tri thức khoa học, công nghệ và thông tin ngày càng đóng vai trò quyết định đối với nền sản xuất vật chất trên quy mô toàn cầu Đặc biệt, ngày nay khi mà “chất xám” đã trở thành lực lượng sản xuất vật chất trực tiếp, thì sự phát triển kinh tế trong tương lai sẽ chủ yếu phụ thuộc vào nhân
tố tri thức – trí tuệ Điều đó đặt ra yêu cầu rất cao cho sự nghiệp GD&ĐT nước ta
Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX chỉ rõ: “Phát triển Giáo dục và Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững” Đại hội chủ trương: “Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp
và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện: Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá ” (Văn kiện Đại hội Đảng IX) Đổi mới công tác quản lý giáo dục
được xem như một giải pháp quan trọng, nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT
Trong những năm qua, các trường đại học nói chung, trường ĐH Hồng Đức nói riêng đã đạt được những thành tựu nhất định Song, nhìn chung chất lượng và hiệu quả giáo dục còn chưa đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới Nguyên nhân đầu tiên của sự yếu kém đó đã được chỉ ra từ Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam lần thứ II (khoá VIII) là: “Công tác quản lý giáo dục - đào tạo còn những mặt yếu kém, bất cập” Cho đến nay nguyên nhân này vẫn
chậm được khắc phục
Trang 8Trong hoạt động quản lý của các nhà trường ĐH, thì quản lý sinh viên (SV) là vô cùng quan trọng, trong đó vấn đề quản lý SV ngoại trú của các trường đang trở thành vấn đề bức xúc, lo lắng và quan tâm của nhà trường, gia đình và xã hội Tính trung bình của các trường ĐH chỉ có khoảng 20% HSSV được ở nội trú, 80% HSSV phải ở ngoại trú tại các gia đình, tại các nhà trọ Ở trường ĐH Hồng Đức tính đến tháng 4 – 2004 có số
SV được ở nội trú là 11,84% Như vậy 88,16% HSSV đang ở ngoại trú chủ yếu trên địa bàn TP Thanh Hoá Phải làm sao để quản lý số SV ngoại trú, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu GD&ĐT của nhà trường - đây là vấn đề
vô cùng hệ trọng
Đứng trước đòi hỏi và yêu cầu bức xúc của vấn đề quản lý SV ngoại trú, ngày 22/10/2002 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã có Quyết định số 43/2002/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành quy chế công tác SV ngoại trú trong các trường ĐH Đưa công tác quản lý SV ngoại trú vào nền nếp bằng những biện pháp có đầy đủ cơ sở khoa học, gắn với thực tế địa phương nơi trường đóng chính là góp phần thực hiện có hiệu quả quy chế nêu trên
Hiện tại, UBND TP Thanh Hoá chưa có một văn bản riêng, cụ thể nào đối với việc quản lý HSSV ngoại trú của các trường trên địa bàn TP Thanh Hoá, mặt khác sự phối hợp giữa các nhà trường nói chung, trường
ĐH Hồng Đức nói riêng với chính quyền và công an các phường, xã thuộc địa bàn TP Thanh Hoá chưa có sự thống nhất, cần thiết phải có sự khắc phục bất cập này
Đề tài này góp phần làm rõ thêm thực trạng về quản lý giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội và các đoàn thể đối với sinh viên ngoại trú hiện nay Từ đó, xác định cách quản lý sao cho phù hợp, nhằm đào tạo sinh viên góp phần đảm bảo cuộc sống lành mạnh cả về vật chất và tinh thần của sinh viên Nhằm phát huy tài năng, trí tuệ của SV trong sự nghiệp xây dựng Thành phố Thanh Hoá ngày càng văn minh và giầu đẹp
Trang 9Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tế trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu
là: “Những biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường ĐH Hồng
Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá” Với mong muốn đóng góp một phần
nhỏ bé công sức của mình vào việc xác định hệ thống các nhóm biện pháp quản lý SV, đặc biệt là các nhóm biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường ĐH Hồng Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý SV ngoại trú của trường ĐH Hồng Đức, từ đó đề xuất một số nhóm biện pháp quản lý SV ngoại trú, nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý SV nói riêng và chất lượng giáo dục toàn diện nói chung của nhà trường ĐH Hồng Đức-Thanh Hoá
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình quản lý SV trong các trường ĐH
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Những biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường ĐH Hồng Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá
4 Giả thuyết khoa học
Nếu tìm ra được những biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường
ĐH Hồng Đức phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác quản lý nhà trường, thì hiệu quả quản lý và quả trình đào tạo của trường sẽ được nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở và lý luận về quản lý SV ngoại trú trong công tác
Trang 105.4 Thử nghiệm tác động một vài nhóm biện pháp quản lý SV ngoại trú
đã đề xuất ở một vài khu phố, thôn thuộc địa bàn TP Thanh Hoá
Trang 116 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu tài liệu về lý luận quản lý, văn kiện Đại hội Đảng các cấp, Luật giáo dục, Chiến lược phát triển giáo dục, các văn bản pháp quy
về GD&ĐT, về quản lý hành chính, về phòng chống tội phạm, phòng chống tệ nạn xã hội, các tạp chí nghiên cứu giáo dục, thông tin khoa học giáo dục, thông tin QLGD, các tài liệu nghiên cứu, dự báo về SV và liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6.2.1 Phương pháp quan sát:
- Quan sát sinh hoạt, tổ chức cuộc sống của SV ngoại trú
- Đi thực tế, nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý SV ngoại trú của một số trường ĐH, CĐ khác, có điều kiện tương tự trường ĐH Hồng Đức
6.2.2 Phương pháp điều tra:
Bằng phiếu theo các biểu mẫu về thực trạng các biện pháp quản lýSV ngoại trú ở các địa bàn trong phạm vi đề tài nghiên cứu
6.2.3 Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến:
Các cán bộ liên quan đến công tác quản lý SV trong và ngoài trường; các SV ngoại trú; các gia đình cho SV thuê trọ; chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong QLGD nói chung và quản lý SV nói riêng
6.2.4 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm:
Đối với công tác quản lý SV ngoại trú thông qua các hoạt động quản
lý đã thực hiện của trường và địa phương trong thời gian qua
6.2.5 Phương pháp thực nghiệm:
Tiến hành thử nghiệm một số biện pháp quản lý SV ngoại trú đã đề xuất ở một vài khu phố, thôn thuộc địa bàn TP Thanh Hoá, trên cơ sở đó đánh giá so sánh hiệu quả sử dụng các biện pháp mới so với các biện pháp quản lý cũ
6.3 Phương pháp thống kê toán học:
Trang 12Sử dụng toán thống kê để tổng hợp kết qủa điều tra và xử lý dữ liệu, kết quả điều tra, khảo nghiệm
7 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài, tôi chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường ĐH Hồng Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá Việc điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng về các biện pháp quản lý
SV ngoại trú của trường ĐH Hồng Đức được tiến hành ở các phường: Đông Sơn, Trường Thi, Đông Vệ - TP Thanh Hoá (những phường có cơ sở của trường đóng và có đông SV trọ) và một số khoa của trường ĐH Hồng Đức
8 Đóng góp mới của đề tài
- Làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản và thực trạng các biện pháp quản
lý SV ngoại trú của trường ĐH Hồng Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá
- Đề xuất những biện pháp quản lý SV ngoại trú có khả năng thực thi của trường, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý SV của trường ĐH Hồng Đức Đồng thời góp phần vào việc phổ biến kinh nghiệm quản lý SV ngoại trú cho các nhà trường chuyên nghiệp trên địa bàn TP Thanh Hoá
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở khoa học của công tác quản lý SV ngoại trú ở
Trường ĐH Hồng Đức
Chương 2: Thực trạng quản lý SV ngoại trú của trường ĐH Hồng
Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá
Chương 3: Một số biện pháp quản lý SV ngoại trú ở trường ĐH
Hồng Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá
Trang 13Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN NGOẠI TRÚ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tất cả các quốc gia trên toàn thế giới đều nhận thức được rằng: Đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; vì vậy, không một quốc gia nào, một dân tộc nào lại không quan tâm đến phát triển giáo dục
Từ thời cổ đại, Khổng Tử (551 – 479 TCN) – một triết gia nổi tiếng, một nhà giáo dục lỗi lạc Trung Quốc cho rằng: Đất nước muốn yên bình, phồn vinh người quản lý đất nước cần chú trọng tới ba yếu tố: Thứ (dân đông); Phú (dân giàu); Giáo (dân được giáo dục) Như vậy, theo Khổng Tử thì giáo dục là một thành tố không thể thiếu được của mỗi quốc gia Mặt khác, Khổng Tử còn cho rằng: Việc giáo dục là cần thiết cho mọi người
“Hữu giáo vô loại” Trong phương pháp giáo dục, ông coi trọng việc: Tự
học, tự luyện, tu nhân; phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực nội sinh, dạy học sát đối tượng, cá biệt hoá đối tượng; kết hợp học với hành, lý thuyết với thực tiễn, phát triển động cơ, hứng thú, ý chí người học Nhìn chung, cho đến ngày nay phương pháp giáo dục theo lý luận của Khổng Tử vẫn là những bài học lớn, có giá trị cho các nhà trường, cho mỗi người làm công tác quản lý GD&ĐT
Ngày nay, có nhiều người cho rằng:“Nhật Bản trả thù phe đồng minh
chính bằng cải cách giáo dục Tiểu học” và từ đó cải cách sâu sắc, toàn diện
toàn bộ nền giáo dục quốc gia Họ đã thành công! Hàn Quốc giải thích: Sở
dĩ phải có binh lính đi đánh thuê cho Mỹ ở Việt Nam vì đổi lại họ có tiền
để phát triển giáo dục (?) Như vậy, họ chấp nhận phát triển giáo dục với cái giá phải trả cả bằng máu! để có Hàn Quốc ngày nay; từ một nước nghèo, không có tài nguyên, sau 25 năm trở thành một nước có nền kinh tế, công nghệ đứng thứ 11 thế giới – Sự thần kỳ này được thực hiện bởi sự học
Trang 14tập chăm chỉ, ý chí vươn lên quyết liệt của người dân Hàn Quốc Nhật Bản cuối thế kỷ XIX, Hàn Quốc, Đài Loan những thập niên cuối thế kỷ XX là những tấm gương về việc tập trung chăm lo cho giáo dục Mặc dù khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, nhưng họ lấy nguồn lực con người làm tài sản duy nhất thực hiện quá trình CNH Việc gia tăng sức mạnh nguồn lực con người được các cấp quốc gia của các nước này thực hiện bằng các cuộc cách mạng trong GD&ĐT
Hàng chục năm qua, Trung Quốc luôn là đất nước dẫn đầu thế giới
về tốc độ tăng trưởng GDP, có được sự tăng trưởng như vậy ở một đất nước xấp xỷ 1,3 tỷ dân quả là thần kỳ và sự thần kỳ ấy cũng bắt đầu bởi sự phát triển giáo dục Ông Giang Trạch Dân – Nguyên Tổng bí thư Đảng cộng sản, nguyên Chủ tịch nước, Chủ tịch quân uỷ quân đội nhân dân Trung Quốc đã từng khẳng định: “Muốn chấn hưng đất nước phải chấn hưng giáo dục, muốn chấn hưng giáo dục phải chấn hưng người thầy giáo” Như vậy, vai trò của giáo dục, của người thầy giáo được người đứng đầu đất nước Trung Quốc đặt đúng vị trí của nó
Ngày nay, việc nghiên cứu xu thế giáo dục thế kỷ XXI ở Việt Nam chỉ rõ: “Sứ mệnh của giáo dục là phát triển toàn diện con người, đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ đáp ứng những yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH đất nước và của thời đại trí tuệ, của nền kinh tế tri thức Qua đó, giáo dục làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Và vì vậy, Đảng và Nhà nước coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”, toàn
xã hội đều có ý thức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, vì họ ngày càng hiểu rằng: Giáo dục ngày nay được coi là nền tảng cho sự phát triển khoa học,
kỹ thuật, đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân
Nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục trong sự phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Vì thế, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề quản lý nói chung và QLGD nói
riêng như: Nguyễn Minh Đạo, Cơ sở của khoa học quản lý, Nhà xuất bản
Trang 15Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997 Chủ yếu các công trình trên nghiên cứu
về mặt lý luận quản lý, song chúng đã được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả nhất định trong việc QLGD, quản lý trường học
Trong cuốn: “Những bài giảng về quản lý trường học”, tập 3, tác giả Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, việc quản
lý dạy và học (hiểu theo nghĩa rộng) là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường”, và nhấn mạnh: “Phải kết hợp một cách hữu cơ sự quản lý dạy và học các bộ môn và các hoạt động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy học nhằm làm cho tác động giáo dục được hoàn chỉnh, trọn vẹn”
Trước đây, do phần lớn SV học tại các trường ĐH đều có nơi ở trong
ký túc xá, nên những nghiên cứu toàn diện về quản lý SV ngoại trú hầu như không được đề cập; có chăng cũng chỉ là những nghiên cứu liên quan đến việc tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các bậc học khác nhau như:
Nguyễn Hữu Hợp (chủ biên), Nguyễn Dục Quang, Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học (giáo trình dành cho hệ đại học tại
chức đào tạo giáo viên tiểu học), Trường ĐHSP Hà Nội I, Hà Nội 1995; Hà
Thế Ngữ (chủ biên) và nhiều tác giả: Giáo dục đạo đức và giáo dục công dân qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, NXB Giáo dục 1996; Huỳnh Lâm Anh Chương, Nghiên cứu thực trạng một số hoạt động ngoài giờ lên lớp của sinh viên nội trú trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh, Luận văn
thạc sỹ Tâm lý học, Trường ĐHSP Hà Nội 1999
Gần đây, ở hầu hết các trường ĐH, CĐ, THCN và DN do cơ sở vật chất hạn hẹp, ký túc xá của trường chỉ đủ sức chứa khoảng 20% tổng số HSSV, còn 80% HSSV phải ở ngoại trú tại gia đình, tại các nhà trọ, công tác HSSV ngoại trú của các trường đang trở thành vấn đề bức xúc, lo lắng
và quan tâm của nhà trường, gia đình và xã hội Tuy vậy, cũng chưa có những nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về công tác quản lý SV ngoại trú Trên các mặt báo, mà chủ yếu là Báo GD&TĐ, chỉ có những bài viết ngắn đề cập đến một số thực trạng của công tác SV ngoại trú và SV ngoại trú như:
Trang 16Vài lời khuyên khi ở nhà trọ, Báo GD&TĐ số 110 (12.9.2002); Đoàn Minh Dưỡng, Long đong tìm nhà trọ, Báo GD&TĐ số 113 (19.9.2002); Lê Xuân Hoài, Sinh viên Huế tìm nhà trọ, Báo GD&TĐ số 122 (10.10 2002); Công tác quản lý SV nội, ngoại trú, phòng chống ma tuý trong học đường, Báo GD&TĐ số 137 (14.11.2002); Phương Ngọc, Quản lý HSSV ngoại trú: Từ thực trạng đến quy chế, Báo GD&TĐ số 150 (14.12.2002) Các bài viết
này cũng có đề cập đến một vài biện pháp quản lý SV ngoại trú, song lại tập trung ở các Thành phố lớn như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế trong khi công tác SV ngoại trú lại rất phụ thuộc đặc thù của từng nhà trường ở từng địa phương khác nhau Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu chính thức, có hệ thống nào về các biện pháp quản lý SV ngoại trú ở các trường
ĐH ở nước ta
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu
Người ta quan niệm, quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là
một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, dân tộc, trong mọi thời đại Quản lý là một thuộc tính lịch sử, vì nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, thường xuyên biến đổi, nó là nội tại của mọi quá trình lao động
Theo quan điểm điều khiển học thì: Quản lý là chức năng của những
hệ thống có tổ chức, với bản chất khác nhau (xã hội, kỹ thuật, sinh học, )
nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động Quản lý là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là: “Phương thức tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trồi hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt tới mục tiêu” [16 tr25]
Taylor (1856 - 1915) định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành
Trang 17công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” Đó cũng là tư tưởng cơ bản của
Taylor về quản lý theo khoa học, gồm 4 điểm chính:
- Phát triển khoa học để thay thế những thao tác cũ
- Lựa chọn công nhân một cách khoa học
- Gắn công nhân được chọn với tổ chức lao động khoa học
- Phân đều công việc giữa người quản lý và công nhân, phải có “cách mạng trí tuệ” cả phía người quản lý lẫn phía công nhân nhằm tạo ra những
sự gắn bó công việc cả hai phía
Tư tưởng quản lý cốt lõi của Taylor là đối với mỗi loại công việc dù nhỏ nhặt nhất đều có một “khoa học” để thực hiện nó, Ông đã liên kết các mặt kỹ thuật và con người trong tổ chức
Theo C Mác (C Mark 1818-1883): Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhất định đến sự quản lý Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hình thành những chức năng chung xuất hiện trong toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó
Như vậy, C Mác đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động tất yếu vô cùng quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người
Phrêdrick Ăngghen (Fredrick Engels 1820-1895) – Người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản, người bạn chiến đấu gần nhất của Mác đã phân tích tính tất yếu khách quan của quyền uy trong tự nhiên, trong kỹ thuật và
trong xã hội, Ông viết: “Như thế, chúng ta vừa thấy được rằng một mặt, một quyền uy nhất định, không kể quyền uy đó đã được tạo ra bằng cách nào, và mặt khác, một sự phục tùng nhất định, đều là những điều kiện mà trong bất cứ một tổ chức xã hội nào cũng đều do những điều kiện vật chất, trong đó tiến hành sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho trở thành tất yếu đối với chúng ta” tr18, tr 421) Phải chăng đó là một nguyên tắc cơ bản
của quản lý
Trang 18Ở nước ta, nhiều nghiên cứu về quản lý, về khoa học quản lý đã góp phần làm sáng tỏ những khái niệm này, như:
- GS Đặng Vũ Hoạt và GS Hà Thế Ngữ cho rằng: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
- Theo Nguyễn Minh Đạo thì: Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên khách thể về các mặt: Chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội, giáo dục, bằng một hệ thống các định luật, chính sách, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường
và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
- PGS, TS Đặng Quốc Bảo, Trường CBQL GD&ĐT cho rằng: “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh
lý, phải có người đứng đầu Đây là hoạt động để người thủ trưởng phối hợp nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra”
- Quản lý là khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hoá và
là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt Quản lý là khoa học phân loại kiến thức, giải thích các mối quan hệ - đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
- Quản lý còn là một nghệ thuật, bởi lẽ nó là hoạt động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và linh hoạt trong những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã đúc kết được, người quản lý qua đó để áp dụng những kỹ năng tổ chức con người và công việc Xôcrat – Nhà triết học cổ Hy Lạp đã nói: “Những người biết cách sử dụng con người sẽ điều khiển công việc hoặc cá nhân một cách sáng suốt Trong khi những người không biết cách làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong việc điều hành cả hai công việc này”
Trang 19Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu
đã đề ra
Ngày nay, trước sự phát triển phức tạp của khoa học kỹ thuật và những biến động không ngừng của nền kinh tế xã hội, công tác quản lý ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong sự thành bại của đơn vị, thậm chí ảnh hưởng đến cả vận mệnh quốc gia Vì thế, những người làm công tác quản lý hôm nay không những phải có trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt, mà còn phải là người được bồi dưỡng về khoa học quản lý, nghệ thuật quản lý, năng lực tổ chức và có lòng tận tâm với công việc
Thực chất của hoạt động quản lý là việc xử lý mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý Chủ thể quản lý luôn là con người và có
cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy mô, độ phức tạp của khách thể quản lý Khách thể quản lý là đối tượng chịu sự điều khiển, tác động của chủ thể quản lý, bao gồm con người, các nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất, Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt lịch sử, khoa học quản lý: Con người thực sự là yếu tố quan trọng nhất trong khách thể quản lý Bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy được nhân tố con người trong tổ chức
Hoạt động quản lý chỉ phát huy được nhân tố con người và đạt được hiệu quả cao khi nó tạo ra được cái toàn thể – chỉnh thể từ nhiều cá nhân và
tư liệu sản xuất của tổ chức, xã hội Yêu cầu về tính toàn thể của tổ chức mang tính khách quan, nó đòi hỏi các nhà quản lý phải xác lập được mục tiêu rõ ràng và biết điều hành hệ thống của mình tới đích Hoạt động quản
lý có những yêu cầu khách quan, phổ biến đối với những người làm quản
lý, đó là những chức năng chung và cơ bản của hoạt động quản lý
Chức năng quản lý:
Trang 20Các chức năng QL là biểu hiện cụ thể của các hoạt động QL, là một phạm trù chiếm vị trí then chốt trong các phạm trù cơ bản của khoa học
QL, là những hoạt động bộ phận tạo thành hoạt động QL
Trang 21
Trong đó:
+ Chức năng kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu, hệ thống
các hoạt động và quyết định các biện pháp tốt nhất để thực hiện được mục tiêu đó
+ Chức năng tổ chức là quá trình thu nhận, sắp xếp, phân bổ công
việc quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc đơn vị cũng khác nhau Nhờ tổ chức có hiệu quả mà người QL có thể phối hợp điều hành tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồn lực khác Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá
kế hoạch thành hiện thực
+ Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động, ảnh hưởng tới hành vi và
tháI độ của các thành viên của tổ chức nhằm hiện thực hoá với chất lương cao Chỉ đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức
+ Chức năng kiểm tra là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm giúp
cho các đối tượng hoàn thành nhiệm vụ và đạt tới mục tiêu đã đặt ra Chức năng kiểm tra là chức năng quan trọng trong quá trình quản lý Quản lý mà
Thông tin
Kế hoạch
Tổ chức Kiểm tra
Chỉ đạo
Hình 1.1 Mô hình của chu trình quản lý
Trang 22không kiểm tra thi coi như không quản lý Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người cán bộ quản lý đánh giá được kết quả công việc và uốn nắn, điều chỉnh một cách đúng hướng nhằm đạt mục tiêu đề ra
Thông tin là tin tức được chuyển giao, lưu trữ trong các bộ máy
quản lý, giúp nhà QL vận hành bộ máy, thiếu tin tức nhà QL không thể thực hiện được các hoạt động quản lý có hiệu quả Thông tin là nguyên liệu của nhà QL để đề ra các quyết định QL Thông tin là mạch máu của hoạt động QLvà nó có quan hệ hai chiều với các chức năng quản lý Quyết định
là sản phẩm lao động của các nhà quản lý
Các nguyên tắc quản lý:
Trong việc quản lý các tổ chức (kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục ) mà yếu tố chủ yếu là con người, các nhà lãnh đạo quản lý thường vận dụng những nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng:
Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, vì thế trong quản lý phải bám sát đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt động của bộ máy
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ của các cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý
Tập trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thống tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đường lối, chủ trương, phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơ bản để thực hiện Nguyên tắc tập trung được thể hiện thông qua chế độ một thủ trưởng
Dân chủ trong quản lý được hiểu là: Phát huy quyền làm chủ của mọi thành viên trong tổ chức, huy động trí lực của họ Dân chủ được thể hiện ở
Trang 23chỗ: Các chỉ tiêu, kế hoạch hành động đều được tập thể tham gia, bàn bạc, kiến nghị các biện pháp trước khi quyết định
Trong thực tiễn người quản lý phải biết kết hợp hài hoà giữa tập trung và dân chủ, tránh tập trung dẫn đến quan liêu, độc đoán Song, cũng phải biết sử dụng quyền lực tập trung một cách đúng lúc, đúng chỗ, phải dám quyết đoán và dám chịu trách nhiệm
mà kết quả cuối cùng là chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo
Khoa học QLGD ra đời sau khoa học quản lý kinh tế Do cách nhìn nhận giáo dục ở những mức độ khác nhau, nên những khái niệm QLGD có nội dung rộng, hẹp khác nhau Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số định nghĩa về QLGD như:
Ở Việt Nam theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục
là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng Thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam Mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [25
tr12]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [2 tr31]
Giáo sư Phạm Minh Hạc cho rằng: “Việc quản lý nhà trường phổ thông (có thể mở rộng ra là việc quản lý giáo dục nói chung) là quản lý
Trang 24hoạt động dạy – học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [15 tr71]
Theo tác giả M.I Kônđacốp thì: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [16 tr22]
Như vậy, các định nghĩa trên đều đề cập đến dạy và học Trong đó, các định nghĩa của Việt Nam đều đề cập đến đường lối giáo dục của Đảng,
do giáo dục chịu sự chi phối của Đảng, đây là nét đặc trưng của giáo dục XHCN Tập trung mục tiêu giáo dục là con người: Tạo điều kiện cho HSSV phát triển toàn diện và hoàn thiện nhân cách cho mọi công dân
Quản lý Giáo dục như sau:
+ QLGD là một hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý
+ QLGD là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động, tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục đích đã định
+ Trên cơ sở lý luận, chúng ta thấy rằng: Thực chất của nội dung QLGD là nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc hình thành nhân cách của người học
1.2.2 Quản lý trường học
Trường học là đơn vị cơ sở mà ở đó tiến hành quá trình GD&ĐT Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó Nhà trường tổ chức cho việc kiến tạo xã hội nói trên đạt được các mục tiêu
xã hội và đặt ra cho nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm xã hội
Trang 25Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước – xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ, nó là tế bào cơ sở, là chủ chốt của bất cứ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương Vì vậy, trường học nói chung vừa là khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý, lại vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội Do đó, quản lý trường học nhất thiết phải vừa có tính chất nhà nước, vừa có tính chất xã hội
Hoạt động đặc trưng của trường học là hoạt động dạy học Đó là hoạt động có tổ chức, có nội dung, có phương pháp, có mục đích, có sự lãnh đạo của nhà giáo dục Đồng thời có sự hoạt động tích cực, tự giác của người học trong tất cả các loại hình hoạt động học tập
Lịch sử phát triển của giáo dục và nhà trường cho thấy rằng: Dạy học tồn tại như một hoạt động xã hội, nó gắn liền với hoạt động của con người, hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, nhằm thực hiện mục đích
và nhiệm vụ GD&ĐT của nhà trường Thực tiễn GD&ĐT đã chứng tỏ: Dạy học là con đường cơ bản nhất, thuận lợi nhất giúp người học trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể chiếm lĩnh được một khối lượng tri thức, kỹ năng có chất lượng và hiệu quả cao nhất Bởi lẽ, dạy học được tiến hành một cách có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và phương pháp sư phạm của người dạy phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm nhận thức của người học Nhờ vậy, học sinh tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức
dễ dàng, nhanh chóng hơn “kho tàng trí tuệ nhân loại” Chính hệ thống những tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo được học sinh nắm vững trên cơ
sở họ tiến hành hàng loạt những thao tác trí tuệ, đặc biệt là thao tác tư duy độc lập, sáng tạo trong hoạt động nhận thức đối với tài liệu học tập Thông qua đó, nhân cách của thế hệ trẻ dần dần được hình thành, phát triển và hoàn thiện
Các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã đưa ra định nghĩa về quản lý nhà trường như:
Trang 26Theo GS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi, trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [15 tr71]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý nhà trường là quản
lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [25 tr34]
Trong cuốn “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục” tác giả M.I Kônđacốp đã viết:
“Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội – sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội – kinh tế, tổ chức – sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên”
“Bộ GD&ĐT thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với công tác HSSV trong phạm vi cả nước, phối hợp với các ngành, các cấp hữu quan xây dựng và ban hành các chủ trương, chính sách, các văn bản pháp quy, chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra các trường thực hiện”
Theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, các ngành có trường đào tạo có quyền và có trách nhiệm cụ thể hoá công tác HSSV cho phù hợp với đặc
Trang 27điểm đào tạo của ngành, của địa phương, tiến hành chỉ đạo, kiểm tra công tác HSSV tại các trường thuộc quyền quản lý của mình
Trong điều III – Quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạo nêu 7 nội dung của công tác HSSV của nhà trường bao gồm:
+ Tổ chức tiếp nhận HSSV trúng tuyển vào học
+ Tổ chức quản lý việc học tập của HSSV theo đúng chương trình,
kế hoạch đã định và thực hiện đúng các quy chế, quy định hiện hành
+ Tổ chức và quản lý đời sống vật chất của HSSV: ăn, ở, sinh hoạt của HSSV nội trú trong ký túc xá
+ Tổ chức và quản lý đời sống tinh thần của HSSV: Công tác chính trị tư tưởng, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động khác của HSSV
+ Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối với HSSV về học bổng, học phí, bảo hiểm xã hội và các chế độ xã hội khác có liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần của HSSV
+ Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương nơi trường đóng (phường, xã, quận, huyện, thị, tỉnh, thành phố tuỳ theo nội dung, quy mô của vấn đề) xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn nơi trường đóng; giải quyết kịp thời, đúng đắn các vụ việc, các vấn đề liên quan đến HSSV Hướng dẫn HSSV nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế
+ Biểu dương, khen thưởng những HSSV đạt thành tích cao trong học tập, rèn luyện, nghiên cứu khoa học, trong hoạt động xã hội, xử lý kỷ luật đối với HSSV vi phạm pháp luật và nội quy, quy chế Chỉ đạo thực hiện tốt công tác thanh tra
Như vậy, xét một cách chung nhất, quản lý nhà trường (trong đó có quản lý SV ngoại trú) là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và tiến tới mục tiêu giáo dục
Trang 281.2.3 Quản lý Học sinh-Sinh viên
1.2.3.1.Sinh viên:
Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ xin đề cập đến
SV trong các trường đào tạo Theo quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạo thì khái niệm SV được hiểu như sau:
“Người đang học trong đại học và cao đẳng gọi là sinh viên”
Ngày nay giáo dục, học tập là công việc suốt đời, các trường ĐH,
CĐ mở rộng cửa cho tất cả những ai có nguyện vọng và điều kiện đều có thể học lên, không phân biệt các lứa tuổi, giới tính, họ có thể học bằng nhiều con đường, nhiều hình thức khác nhau Do đó, nếu quan niệm sinh viên là tất cả những ai đang học ĐH, CĐ với bất kỳ hình thức nào ở lứa tuổi nào thì khái niệm sinh viên sẽ quá rộng Thuật ngữ: “sinh viên” có
nguồn gốc từ tiếng La tinh “Studens”, có nghĩa là: “Người làm việc, học
tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức” Theo PGS TS Mạc Văn
Trang, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục thì: “Với quan niệm truyền thống, khái niệm sinh viên có một số đặc điểm giới hạn xác định, gồm:
+ Đó là những người tốt nghiệp THPT có khả năng và điều kiện vào học trong các trường ĐH, CĐ
+ Họ thuộc nhóm thanh niên nam, nữ từ 17-18 đến 25-26 tuổi
+ Họ chưa có nghề nghiệp, việc làm xác định
+ Họ là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn để bước vào một nhóm xã hội mới là tầng lớp tri thức trẻ
+ Đối với xã hội nói chung và thanh thiếu niên nói riêng, sinh viên luôn là một nhóm xã hội hấp dẫn, được mến mộ Do đó những trào lưu văn hoá, lối sống mới thường do sinh viên khới xướng và là nòng cốt của các hoạt động truyền bá chúng trong xã hội” [32 tr11]
Trang 29Như vậy SV trong các trường đào tạo là những con người thuộc một lứa tuổi nhất định và là một nhân cách nên có thể được xác định về ba phương diện: sinh lý, tâm lý và xã hội Thông thường, ở các trường đào tạo, lứa tuổi SV là 17 đến 23 tuổi, thuộc giai đoạn thứ 2 của tuổi thanh niên
từ 18 đến 25 (giai đoạn thứ nhất của tuổi thanh niên từ 15 đến 18 tuổi)
“Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt, đang chuẩn bị cho hoạt động lao động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội Nhóm
xã hội đặc biệt này gồm hàng triệu sinh viên trên thế giới Nhóm này rất cơ động và mục đích của nó được tổ chức theo một chương trình nhất định của việc chuẩn bị thực hiện vai trò xã hội và nghề nghiệp cao trong lĩnh vực sản xuất vật chất và tinh thần Nhóm xã hội đặc biệt này là nguồn gốc
bổ sung cho đội ngũ trí thức Hoạt động học tập được đào tạo cho lao động trí óc với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vào hoạt động đa dạng, có ích cho xã hội” [30, tr44]
SV không có vị trí độc lập trong các tổ chức lao động sản xuất của
xã hội nên không phải là một giai cấp Vị trí thực của SV trong xã hội chưa
có mà nó còn phụ thuộc vào một giai cấp, một tầng lớp nào đó ở thành thị hay nông thôn, có sự khác biệt về điều kiện sống, về hoàn cảnh xã hội
Về đặc điểm cơ thể của SV:
Đây là thời kỳ cơ thể đã hoàn thiện và ổn định sau những biến đối sâu sắc của tuổi dậy thì Thời kỳ này các cơ quan trong cơ thể với các chức năng của nó đã tương đối hoàn thiện và hài hoà Đặc biệt là trọng lượng não của SV ở thời kỳ này đã đạt đến mức tối đa Sự hoạt động của các tế bào thần kinh trong bộ não ở thời kỳ này cũng trở nên hoàn hảo Điều này tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho hoạt động nhận thức của SV Người ta cho rằng 2/3 số kiến thức thu được trong một đời người nằm trong thời kỳ này
Về đặc điểm xã hội của SV:
Trang 30Đương nhiên SV vẫn là đối tượng đang còn được tiếp tục giáo dục nhưng xã hội đang nhìn nhận họ như một chủ thể có ý thức, có trách nhiệm của các hoạt động của mình và đánh giá các kết quả hoạt động của họ theo tiêu chuẩn “người lớn” Họ vừa là một công dân với đầy đủ tư cách pháp lý của nó, vừa là một học sinh hoặc một sinh viên
Nói chung, về mặt kinh tế sinh viên còn phụ thuộc gia đình, nhưng ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường SV đã năng động hơn và có ý thức tự lo của mình, một số SV đã kiếm việc làm thêm để có thu nhập, giảm bớt gánh nặng về kinh tế cho gia đình, đồng thời chủ động hơn trong chi tiêu và có điều kiện kinh tế để học thêm Tuy nhiên, vì SV chính thức chưa trực tiếp tham gia lao động sản xuất, chưa độc lập về mặt kinh tế, lại còn đang là đối tượng của sự giáo dục nên một mặt nào đó họ còn chưa được coi là người lớn hoàn toàn
Về đặc điểm tâm lý của SV:
+ Sự phát triển tự ý thức là một trong những đặc điểm tâm lý quan
trọng nhất ở SV: Tự ý thức là “Ý thức và sự đánh giá của con người về hành động và kết quả tác động của mình, đánh giá về tư tưởng, tình cảm, phong cách đạo đức và hứng thú, về tư tưởng và động cơ của hành vi, là sự đánh giá toàn diện về chính bản thân mình và vị trí của mình trong cuộc sống” [30 tr46]
Nội dung tự ý thức của SV bao gồm: Tự ý thức về hình dáng bên ngoài của mình, về vị trí xã hội và điều kiện sống của mình, về các dạng hoạt động và các mối quan hệ xã hội của mình, về xu hướng nghề nghiệp của mình, về những phẩm chất, khả năng của mình
+ Sự hình thành và phát triển thế giới quan, niềm tin và nắm vững các chuẩn giá trị, các yêu cầu của nghề nghiệp được thể hiện, bộc lộ rõ nét
+ Sự xuất hiện và phát triển tình yêu nam nữ là một nét đặc trưng về mặt tình cảm ở lứa tuổi này
Về đặc điểm nhân cách của SV:
Trang 31Đặc điểm nhân cách của SV được thể hiện rõ, gồm:
+ Nhu cầu phát triển của SV phong phú, đa dạng
+ Hứng thú của SV từ rộng đến chuyên sâu
+ Quan điểm sống của SV hình thành rõ nét
+ Đời sống nội tâm của SV phong phú và phức tạp
+ Ý chí và năng lực tự lập của SV phát triển
1.2.3.2 Sinh viên ngoại trú:
Khái niệm SV ngoại trú:
Khi phân tích điều kiện về chỗ ở của SV ta có: SV nội trú và SV ngoại trú SV nội trú là những người đang học tại các trường và được nhà trường bố trí nơi ở trong khu nội trú theo hợp đồng của SV đã ký với trưởng ban quản lý khu nội trú SV không ở trong các khu nội trú do nhà trường quản lý được gọi là SV ngoại trú (bao gồm: SV sống với cha mẹ và gia đình ở nhà riêng, SV sống với người thân hoặc gia đình người thân ở nhà riêng và SV sống tại các nhà trọ tư nhân)
Đặc điểm điều kiện sống và hoạt động của SV ngoại trú:
+ Sống và hoạt động trong các nhà riêng:
SV ngoại trú có thể được ở trong phòng riêng hoặc phòng chung (từ
2 đến nhiều SV) Trong mỗi phòng chung có thể là SV cùng lớp, cùng khoá, cùng khoa hoặc khác lớp, khác khoa, khác khoá; có thể cùng hoặc khác chuyên ngành được đào tạo; cùng tuổi hoặc không cùng tuổi Đương
Trang 32nhiên, nếu các SV còn độc thân thì bạn cùng phòng nói chung phải cùng giới tính Trong mỗi phòng chung các SV có thể khác nhau về quê hương,
về thành phần xuất thân, về trình độ nhận thức và quan niệm sống song,
họ có chung một mục đích là học tập để trở thành những người có nghề nghiệp theo chuyên ngành được đào tạo
+ Sống và hoạt động trong sự quản lý của cha mẹ, người thân hoặc chủ hộ cho thuê trọ, của chính quyền địa phương các cấp nơi ngoại trú, ít chịu sự quản lý của nhà trường hơn so với SV nội trú
+ Sống và hoạt động trong “Môi trường mang tính gia đình” (môi
trường vật chất và tinh thần), và vì vậy SV bắt buộc phải có mối quan hệ mang tính gia đình với những người xung quanh
Tóm lại: đời sống của SV ngoại trú ít mang tính tập thể, được định hướng theo mục đích cá nhân và không thể có nội quy cụ thể như SV nội trú được Nhân cách của SV ngoại trú được hình thành, chịu tác động, ảnh hưởng một phần của các “yếu tố ngoại trú”
1.2.4 Nội dung và biện pháp quản lý Sinh viên ngoại trú
1.2.4.1 Văn bản quy định về quản lý Sinh viên ngoại trú
Tại điều 4, Quy chế công tác HSSV ngoại trú do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, công tác quản lý SV ngoại trú của nhà trường gồm các nội dung sau:
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý SV ngoại trú đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu của công tác SV ngoại trú Các yêu cầu của công tác SV ngoại trú trong các trường ĐH, gồm:
- Phải bảo đảm phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các đơn vị trong nội bộ nhà trường, trước hết giữa phòng (ban) Quản lý SV với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội SV nhà trường
- Phải đảm bảo phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương
Trang 33- Phải bảo đảm giám sát, kịp thời trong việc nắm bắt thực trạng SV ngoại trú
1.2.4.2 Các nội dung chủ yếu trong quản lý quản lý Sinh viên ngoại trú
Tại điều 5 – Quy chế công tác SV ngoại trú (ban hành kèm theo
Quyết định số 43/2002-QĐ-BGD&ĐT, ngày 22.10.2002 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) nêu rõ trách nhiệm của nhà trường trong công tác HSSV ngoại trú, bao gồm:
- Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm chính, trực tiếp chỉ đạo công tác SV ngoại trú của trường
- Phòng (ban) quản lý SV có trách nhiệm giúp Hiệu trưởng chỉ đạo
và tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá công tác SV ngoại trú của trường
- Các đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường, trước hết là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội SV nhà trường có trách nhiệm góp phần thực hiện công tác SV ngoại trú theo quy định của Quy chế này
Như vậy, mỗi nhà trường cần thành lập một tổ công tác có chức năng quản lý SV ngoại trú hoạt động mang tính độc lập tương đối, giúp Hiệu trưởng trong công tác SV ngoại trú Tổ công tác này có các nhân sự từ các đơn vị, đoàn thể cơ sở của trường: Phòng (Ban) quản lý SV (chủ trì), phòng Đào tạo, Đoàn TN, Hội sinh viên trường, cán bộ quản lý SV khoa, bộ môn
Riêng đối với Phòng (ban) công tác SV, trong khi Bộ GD&ĐT chưa
có hướng dẫn về định biên cán bộ làm công tác SV ngoại trú thì mỗi nhà trường cần căn cứ vào đặc thù của mình và của địa phương nơi trường đóng, địa bàn SV ngoại trú để có định biên cán bộ chuyên trách công tác
SV ngoại trú, biên chế thuộc Phòng (Ban) công tác SV
Tổ công tác SV ngoại trú của trường chịu sự quản lý hành chính (theo kế hoạch công tác SV ngoại trú của trường) của Phòng (Ban) công tác HSSV - đơn vị cơ sở được Hiệu trưởng uỷ quyền chỉ đạo và tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá công tác SV ngoại trú của trường Các
Trang 34thành viên tổ công tác SV ngoại trú không thuộc Phòng (Ban) công tác HSSV có thể làm công tác SV ngoại trú như một công tác kiêm nhiệm, tiện cho việc thực hiện nhiệm vụ trong công tác chuyên môn chính của họ
Tổ công tác SV ngoại trú thực hiện kế hoạch công tác SV ngoại trú được xây dựng dựa trên các nội dung quản lý SV ngoại trú của trường, nhằm thực hiện các yêu cầu, mục tiêu của công tác SV ngoại trú do Bộ GD&ĐT quy định
Rõ ràng bộ máy quản lý SV ngoại trú phải được tổ chức như một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng, quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được bố trí thành từng cấp, từng khâu, thực hiện các chức năng quản lý nhất định nhằm đạt mục tiêu định trước của công tác SV ngoại trú
Thông thường, trong nhà trường ĐH, CĐ: Bộ máy quản lý được chia thành 3 cấp: Trường – Khoa - Lớp Có thể khẳng định rằng: Bộ máy quản
lý SV ngoại trú càng hoàn thiện thì công tác SV ngoại trú càng có cơ sở vững chắc mang tính quyết định cho sự thành công và đạt hiệu quả cao trong quản lý SV ngoại trú Chính đối tượng SV ngoại trú quyết định cơ cấu tổ chức quản lý SV ngoại trú Việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý
SV ngoại trú không mang mục đích tự thân mà là phương tiện để nâng cao hiệu quả quản lý SV ngoại trú
Tổ chức bộ máy quản lý SV ngoại trú còn có một nét riêng biệt là bộ máy này bao gồm cả những người trong và ngoài nhà trường (địa phương) Chính nét riêng biệt này đòi hỏi một nỗ lực ngoại giao, một nỗ lực trong việc phối hợp của nhà trường với địa phương nơi trường đóng và gia đình
SV ngoại trú
1.2.4.3 Xây dựng kế hoạch công tác công tác quản lý sinh viên ngoại trú
Kế hoạch quản lý SV ngoại trú phải được lập tổng thể ở cấp trường trong từng học kỳ và cả năm học Để có một kế hoạch quản lý SV ngoại trú sát thực, khả thi cần có sự phối hợp tốt với chính quyền địa phương nơi SV
Trang 35ngoại trú, bên cạnh việc làm tốt công tác dự báo trước khi dự thảo kế hoạch, các điều kiện về nhân lực, vật lực, tài lực phải được đề cập cụ thể trong kế hoạch Có như vậy mới có thể tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý
SV ngoại trú theo mục tiêu, yêu cầu đề ra được
+ Ban hành các quy định cụ thể của nhà trường về công tác SV ngoại trú phù hợp với các Quy định của quy chế công tác HSSV ngoại trú do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành:
Trong các quy định cụ thể của nhà trường về công tác SV ngoại trú trước hết phải ban hành được quy định đối với bộ máy làm công tác quản
lý SV ngoại trú của trường (về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quyền lợi ) Sau đó là quy định đối với SV ngoại trú Làm việc với chính quyền địa phương để ban hành được quy chế phối hợp giữa nhà trường - địa phương, tổ chức quán triệt các quy định đó cho tất cả các thành viên của
bộ máy quản lý (chủ thể quản lý) và các SV ngoại trú (đối tượng quản lý)
1.2.4.4 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác QL SV ngoại trú
Kiểm tra, đánh giá là chức năng cuối cùng của quản lý Về nhận thức
cơ bản, theo tác giả Hồ Văn Vĩnh thì: “Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với các mục tiêu và kế hoạch đã định Kế hoạch hướng dẫn việc sử dụng các nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu, còn kiểm tra xác định xem chúng hoạt động có phù hợp với mục tiêu và kế hoạch hay không
Mục đích của kiểm tra nhằm đảm bảo cho kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp sửa chữa kịp thời những sai sót đó
Quá trình kiểm tra phổ biến cho mọi hệ thống gồm 4 bước:
Bước 1: Xây dựng các chuẩn mực, tiêu chỉ;
Bước 2: Đo lường việc thực hiện nhiệm vụ theo các chỉ tiêu;
Bước 3: Đánh giá các chỉ tiêu so với kế hoạch;
Trang 36Bước 4: Ra các quyết định điểu chỉnh
Muốn cho công việc kiểm tra có kết quả, cần có những kế hoạch rõ ràng, làm căn cứ cung cấp những chỉ tiêu xác đáng cho việc kiểm tra; sắp xếp tổ chức khoa học, hợp lý nhằm xác định chính xác nhiệm vụ của từng
bộ phận, cá nhân trong việc thực hiện kế hoạch
“Kiểm tra là tai, mắt của quản lý Vì vậy, cần tiến hành thường xuyên và kết hợp linh hoạt nhiều hình thức trong quá trình kiểm tra việc thực hiện công tác SV ngoại trú như: kiểm tra lường trước, kiểm tra những trọng điểm yếu; kiểm tra trực tiếp; kiểm tra gián tiếp; kiểm tra định kỳ; kiểm tra bất thường”[40 tr61]
Đánh giá việc thực hiện công tác SV ngoại trú nhằm cung cấp cho nhà trường và địa phương các thông tin cần thiết để đánh giá đúng tình hình của SV ngoại trú và kết quả hoạt động của bộ máy quản lý SV ngoại trú, đồng thời dự kiến quyết định bước phát triển mới cho công tác SV ngoại trú
Việc đánh giá công tác SV ngoại trú cũng cần có quan điểm toàn diện, nghĩa là phải xem xét trên tất cả các mặt của kết quả quản lý Mỗi biện pháp quản lý thường đưa đến kết quả trên nhiều mặt và biểu hiện qua những khoảng thời gian nhất định Do đó, phải tìm ra quan hệ bản chất của các kết quả quản lý SV ngoại trú đang thực hiện với các biện pháp trước
đó
Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác SV ngoại trú phải có sự phối hợp của nhiều lực lượng trong và ngoài nhà trường Đây là việc làm không dễ gì thực hiện như một nền nếp, nếu không có kế hoạch cụ thể và quyết tâm cao trong vai trò chủ đạo của các nhà trường
Trang 38Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SV NGOẠI TRÚ
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
THANH HOÁ
2.1 Khái quát về quản lý công tác hoạt động chung của SV ngoại trú trường Đại học Hồng Đức trên địa bàn Thành phố Thanh Hoá
2.1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội của tỉnh Thanh Hoá
Thanh Hoá là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung bộ Phía Bắc giáp tỉnh Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình, Phía nam giáp Nghệ An, phía Đông giáp biển đông, phía Tây giáp Lào Địa hình tương đối phức tạp, đa dạng Trong 64 tỉnh thành trong cả nước thì Thanh Hoá là tỉnh đất rộng, người đông Diện tích tự nhiên 11.138 km2 (chiếm gần 3,37% diện tích cả nước).Về dân số: Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở tại thời điểm 0h00, ngày 01.4.1999, Thanh Hoá có 3.512.754 người – là địa phương đông dân xếp thứ 2 toàn quốc Tại thời điểm ấy, mật độ dân số Thanh Hoá
là 315 người/km2, cao hơn mật độ dân số trung bình của cả nước (233 người/km2) Tính đến tháng 10.2002, Thanh Hoá có 3.620.000 người Đến nay, theo ước tính dân số Thanh Hoá gần 3,7 triệu người
Toàn tỉnh Thanh Hoá có 27 huyện, thị, thành phố: 1 TP (TP Thanh Hoá), 2 thị xã (Bỉm Sơn và Sầm Sơn) và 24 huyện Riêng khu vực miền núi Thanh Hoá có 11 huyện với 220 xã, 1878 làng bản, chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh
Thanh Hoá là tỉnh có cả miền núi, trung du, đồng bằng, vùng ven biển (102km bờ biển), địa hình thấp dần từ Tây sang Đông Riêng địa hình miền núi Thanh Hoá khá phức tạp, độ dốc lớn, độ cao trung bình 600 đến
700 m, đỉnh cao nhất 2000 m so với mực nước biển Nhiều sông, suối, núi non trùng điệp, hiểm trở tạo nên nhiều vùng biệt lập, ảnh hưởng lớn đến điều kiện sinh sống, đầu tư cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế - xã hội
Trang 39“Thanh Hoá là quê hương của người anh hùng áo vải Lê Lợi vào thế
kỷ 15, đất Lam Sơn lừng danh với sự nghiệp lớn nhà Hậu Lê kéo dài mấy trăm năm”
“Người Thanh Hoá xưa cũng là những người tiên phong khai mở Châu Ô, Chấu Rí lập nên Thuận Hoá tức là Huế - Thừa Thiên bây giờ Nhiều chi họ ở Huế ngày nay như Trần, Lê, Huỳnh, Đoàn, Phạm, Phan, Võ,
Hồ đều có tổ tiên sinh trưởng ở Thanh Hoá từ trước thế kỷ 14 ”
Đất Thanh Hoá còn là quê quán hay nơi dụng võ của nhiều bậc trí thức trổi trang như Sử gia đầu tiên của nước ta Lê Văn Hưu, nhà sử học - nhà thơ Nhữ Bá Sỹ, nhà thơ Đào Duy Từ, vị thượng thư bộ lại rất mực liêm khiết Lê Tuấn Kiệt, “Lưỡng Quốc trạng nguyên” được vua Đường phong chức Tể tướng Khương Công Phụ (Triều Đường Đức Tông, năm 784), Trạng nguyên Lê Quát và cả một nhân vật văn học dân gian nổi tiếng - Trạng Quỳnh (tên thật là Nguyễn Quỳnh, quê ở làng Hoàng Bột, nay là xã Hoằng Lộc - Huyện Hoằng Hoá - Thanh Hoá)
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hoá là địa phương đóng góp người và của nhiều nhất trong cuộc kháng chiến
Đất Thanh được sử sách coi là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, con người xứ Thanh vốn có truyền thống hiếu học, vượt lên gian khó để học hành Cho đến nay, nhiều học trò giỏi quê Thanh Hoá đã góp phần cùng học trò cả nước làm rạng danh Việt Nam trong các kỳ thi học sinh giỏi Quốc tế Mỗi năm học, hàng chục học sinh Thanh Hoá đạt giải học sinh giỏi quốc gia
Trong xu thế chung của cả nước, những năm gần đây tình hình kinh
tế - xã hội của tỉnh Thanh Hoá đã và đang có những chuyển biến tích cực Song, trong những tồn tại thì vấn đề tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma tuý - một tệ nạn rất nhiều cơ hội tác động vào SV nói chung và SV ngoại trú nói riêng đang diễn biến hết sức phức tạp
Trang 40Về người nghiện ma tuý:
* Một trong những tệ nạn xã hội dễ tác động, ảnh hưởng và liên quan đến SV là các tệ nạn xã hội Theo đánh giá gần đây nhất của Ban chỉ đạo phòng chống AIDS, ma tuý, mại dâm tỉnh Thanh Hoá (tháng 5/2004) thì:
“Tuy công tác phòng chống các tệ nạn xã hội trong những năm qua
đã được một số kết quả nhất định, song tình hình tệ nạn xã hội ở Thanh Hoá vẫn còn phức tạp, nhất là trọng dịp hè, lễ hội ở các khu du lịch, thị xã Sầm Sơn, Bỉm Sơn, TP Thanh Hoá ”
Trong những năm gần đây nền kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội trong tỉnh có bước tăng trưởng, đời sống nhân dân được cải thiện và ngày một nâng cao, nhưng mặt khác tệ nạn xã hội đang có nguy cơ phát triển trở lại
* Về tình hình an ninh trật tự:
Thanh Hoá là tỉnh được Ban chỉ đạo 138 trung ương chỉ đạo điểm thực hiện Nghị quyết 09/CP của Chính phủ và Quyết định 138/T.T.g của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm với
đề án “Phát động toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm; cảm hoá, giáo dục, cải tạo người phạm tội tại gia đình và cộng đồng dân cư” Vì vậy, có thể nói: Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn toàn tỉnh
được giữ vững, số vụ phạm pháp hình sự giảm dần trong những năm qua Hàng nghìn đối tượng phạm tội được cảm hoá, giáo dục, nhiều đối tượng,
kể cả đối tượng bị truy nã đặc biệt đã ra đầu thú
* Về an ninh chính trị:
Được giữ ổn định Tuy nhiên, có một số hiện tượng và diễn biến rất đáng quan tâm như: việc tán phát các tài liệu của các thế lực thù địch trên địa bàn tỉnh đã có (trước đây hầu như không có), việc truyền đạo trái phép, lôi kéo SV sinh hoạt tôn giáo, lôi kéo di dân tự do và truyền đạo Tin Lành