1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định

136 593 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TÔ THỊ THƠM BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH LUẬN VĂN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TÔ THỊ THƠM

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN LÊ

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Trang

1.Lý do chọn đề tài ……… …… 1

2.Mục đích nghiên cứu ……… … …4

3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu……… … 4

4.Giả thuyết khoa học……… … …4

5.Nhiệm vụ nghiên cứu……… 4

6 Phạm vi và giới hạn đề tài nghiên cứu……… … 5

7 Phương pháp nghiên cứu……… 6

8 Cấu trúc của luận văn ……… …6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề………… ……… ….7

1.1.1 Trên thế giới……… …… ….7

1.1.2 Ở Việt Nam……… …… 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản……… …….11

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường……… ….11

1.2.2 Trường trung học phổ thông, trường trung học phổ thông ngoài công lập……… … …20

1.2.3 Giáo viên trường trung học phổ thông………… ……… ….25

1.3 Vai trò của trường trung học phổ thông ngoài công lập trong đời sống kinh tế xã hội hiện nay……… 25

1.3.1 Mục tiêu của trường trung học phổ thông ngoài công lập……….25

1.3.2 Trường trung học phổ thông ngoài công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân……….… 26

1.4 Đặc điểm lao động của đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông nói chung và trường trung học phổ thông ngoài công lập nói riêng………31

1.4.1 Đặc điểm chung……… …….….31

1.5 Nội dung quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông và giáo viên trung học phổ thông ngoài công lập……… ….36

1.5.1 Quản lý đội ngũ giáo viên trung học phổ thông……….… …….36 1.5.2 Quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông ngoài

Trang 3

công lập……… …….37

Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH………41

2.1 Hệ thống trường trung học phổ thông ngoài công lập ………….…….41

2.1.1 Số lượng các trường trung học phổ thông ngoài công lập ……… …… 41

2.1.2 Quy mô các trường THPT ngoài công lập … ……… …… …42

2.2 Kết quả khảo sát đội ngũ giáo viên của các trường THPT ngoài công lập……… … ….44

2.2.1 Đặc điểm đội ngũ giáo viên ………… ……….……….……44

2.2.2 Thực trạng về chất lượng đội ngũ giáo viên……….…50

2.3 Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên THPT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định……….….54

2.3.1 Thực trạng việc tuyển chọn và bồi dưỡng giáo viên………….….… 54

2.3.2 Thực trạng công tác quản lý việc thực hiện quy chế………….…… 59

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH……….… ….76

3.1 Những định hướng về công tác quản lý đội ngũ giáo viên trong các trường trung học phổ thông……… … 76

3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trong các trường trung học phổ thông………… ……… 77

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa……….….77

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với tình hình thực tiễn………77

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả……….…… …78

3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi……….…… … 78

3.3 Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định……… …78

3.3.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên ngoài công lập trong nhà trường phổ thông nói riêng……….……79 3.3.2 Quy hoạch sự phát triển của nhà trường và tạo ra sự cân đối giữa sự

Trang 4

quy hoạch phát triển đó và đội ngũ giáo viên……… 81

3.3.3 Tuyển chọn, sử dụng giáo viên đúng theo năng lực sở trường……….84

3.3.4 Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ngoài công lập……….……… 86

3.3.5 Tạo môi trường xã hội thuận lợi, động viên giáo viên cả về vật chất và tinh thần……….89

3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp………….93

3.4.1 Tính cấp thiết của các biện pháp ……… 94

3.4.2 Tính khả thi của các biện pháp ……….…101

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……….106

1 Kết luận ………106

2 Khuyến nghị……… 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 111 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

Trang 6

3 Bảng 2.3 Đánh giá, xếp loại giáo viên

4 Bảng 2.4 Kết quả khảo sát ý kiến học sinh về phẩm chất nhân cách và

năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên

5 Bảng 2.5 Kết quả khảo sát ý kiến giáo viên về phẩm chất nhân cách và

năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên

6 Bảng 2.6 Kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý về phẩm chất nhân cách

và năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên

7 Bảng 2.7 Kết quả khảo sát năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên

8 Bảng 2.8 Ý kiến đánh giá về các phương pháp tuyển chọn đội ngũ giáo

viên và cán bộ quản lý của hiệu trưởng

9 Bảng 2.9 Ý kiến đánh giá về công tác quản lý, sử dụng, bồi dưỡng đội ngũ

giáo viên ở trường THPT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định

10 Bảng 2.10 Kết quả khảo sát ý kiến học sinh về việc thực hiện quy chế,

nội quy, nề nếp của đội ngũ giáo viên

11 Bảng 2.11 Kết quả khảo sát ý kiến giáo viên và cán bộ quản lý về việc

thực hiện quy chế, nội quy, nề nếp của đội ngũ giáo viên

12 Bảng 2.12 Đánh giá các tiêu chí trong công tác quản lý đội ngũ giáo viên

13 Bảng 2.13 Đánh giá sự phù hợp của các hình thức quản lý

14 Bảng 2.14 Tổng hợp ý kiến đánh giá về các phương pháp hiệu trưởng sử

dụng nhằm quản lý theo kế hoạch giảng dạy

15 Bảng 2.15 Kết quả khảo sát về công tác quản lý thực hiện giờ lên lớp và

nề nếp dạy học của nhà trường

Trang 7

16 Bảng 2.16 Kết quả khảo sát về công tác quản lý việc dự giờ và đánh giá

giờ dạy của giáo viên

17 Bảng 2.17 Kết quả khảo sát về công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá

kết quả học tập của học sinh

18 Bảng 3.1 Tóm tắt những biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường

THPT NCL trên địa bàn thành phố Nam Định

19 Bảng 3.2 Tổng hợp chung về tính hợp lý của các biện pháp quản lý đội

ngũ giáo viên trường THPT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định

20 Bảng 3.3 Tổng hợp chung về tính khả thi của các biện pháp quản lý đội

ngũ giáo viên trường trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định

21 Biểu đồ 2.1: Thực trạng về trình độ đào tạo của GV năm học 2008-2009

22 Biểu đồ 2.2: Thực trạng thâm niên công tác của GV trường THPT DL

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Giáo dục là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế - xã hội, đồng thời tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm của một quốc gia Giáo dục phải đi trước một bước, giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Do vậy bất cứ quốc gia nào trên thế giới, dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù phát triển hay đang phát triển, bao giờ cũng phải quan tâm đến giáo dục”.[1]

Trên thế giới trong kế hoạch phát triển giáo dục của nhiều nước phát triển và đang phát triển như: Mỹ, Canađa, Nhật, Trung Quốc, Singapo, Thái Lan đều coi việc tạo ra một môi trường giáo dục năng động, phong phú là động lực phát triển của kinh tế xã hội

Ở Việt Nam, sau Đại hội Đảng VI (1986) sự phát triển KT – XH của đất nước ta bước vào một thời kỳ mới: xoá bỏ nền kinh tế bao cấp, từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đứng trước tình hình đó ngành Giáo dục - Đào tạo phải khẳng định được vị thế của mình, thể hiện vai trò đột phá cho cuộc cách mạng trí tuệ đang dần được hình thành và khởi sắc, dẫn đến nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ và rộng lớn ở phạm vi toàn cầu Để thực hiện được mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển KT – XH giai đoạn

2001 – 2010 được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ IX: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại ” thì ngành giáo dục - đào

tạo phải đi trước một bước, phải thực hiện tốt các mục tiêu chung mà chiến lược giáo dục đã đề ra, đó là: tạo bước chuyển cơ bản về chất lượng, ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nguồn lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao

Trang 9

Nền kinh tế thị trường cùng nhiều chính sách đổi mới của nhà nước đòi hỏi đa dạng về trình độ học vấn, làm cho đại đa số thanh niên nhận thức được rằng: ngày nay học là để tạo ra cho mình một vốn tri thức nhất định, cần thiết, thì mới có cơ hội tìm kiếm việc làm, học còn để biết sống hoà nhập, biết tự khẳng định mình và để thích ứng với thời đại Điều này tạo ra một nhu cầu ngày càng lớn của xã hội đối với giáo dục và cũng tạo ra một sức ép không nhỏ cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Các trường công lập không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu, vì vậy các trường ngoài công lập ra đời là một tất yếu phù hợp với quy luật phát triển, quy luật cung cầu của xã hội Nghị quyết TW 2 khoá VIII, với việc khẳng định sự cần thiết “đa dạng hoá các loại hình trường lớp”, đã tạo ra động lực để phát triển các cơ sở trường học nói chung và phát triển các trường ngoài công lập nói riêng [10]

Loại hình các trường ngoài công lập ở cấp trung học phổ thông hiện nay đã được hình thành ở hầu hết các tỉnh, thành phố trên toàn quốc, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người học, đảm bảo thực hiện chủ trương xã hội

hoá giáo dục, tiến tới mục tiêu cơ bản là: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đồng thời cũng đáp ứng quyền được học của mọi người

dân, mọi học sinh muốn được học ở bất cứ hoàn cảnh nào

Các trường trung học phổ thông ngoài công lập ra đời có những thuận lợi do chủ trương sáng suốt của nhà nước, do nhu cầu thực tế của nhân dân Nhưng loại hình này cũng gặp nhiều khó khăn vì cơ sở vật chất thiếu, đội ngũ giáo viên thường yếu và không ổn định Thực tế hiện nay các trường THPT NCL đang gặp nhiều vướng mắc cần tháo gỡ về công tác quản lý giáo viên

Có thể thấy nguyên nhân chính của vấn đề này xuất phát từ nhiều góc độ: từ hình thức tổ chức và nguồn hình thành đội ngũ giáo viên, từ cơ chế hoạt động

và đặc thù của trường ngoài công lập Đội ngũ giáo viên các trường NCL có nguồn hình thành đa dạng dẫn đến sự không đồng đều về năng lực sư phạm,

Trang 10

do đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giảng dạy Mặt khác ở các trường THPT NCL hầu hết không có giáo viên trong biên chế (trừ một số nhỏ biên chế ở các trường bán công) giáo viên được tuyển dụng chủ yếu do hiệu trưởng nhà trường trực tiếp ký hợp đồng giảng dạy, họ có thể là giáo viên trong biên chế hoặc đang hợp đồng giảng dạy ở những cơ sở giáo dục khác, việc quản lý khó thực hiện theo quy chế như ở các trường công lập Vì vậy quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT NCL nhằm đáp ứng tốt các nhiệm vụ giáo dục theo mục tiêu phát triển nhà trường là việc làm rất quan trọng, đây là một trong những vấn đề cấp thiết không chỉ đối với cán bộ quản lý nhà trường THPT NCL mà còn đối với các tổ chức xã hội quan tâm đến loại hình này

Tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 6 khoá IX (tháng 11/ 04) Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo nhấn mạnh: “Khâu quan trọng nhất là người thầy Tất cả hoạt động của chúng ta sẽ triển khai sắp tới phải xoay quanh vấn đề xây dựng đội ngũ giáo viên; bởi thầy giáo giỏi, tâm huyết với sự nghiệp mới có trò giỏi;

có đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đảm bảo về cơ cấu hợp lý, có chất lượng

về chuyên môn, đạo đức thì mới có thể đưa giáo dục phát triển” Chỉ thị 40- CT/ TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng chỉ rõ: “Trước những yêu cầu mới đội ngũ nhà giáo có những hạn chế, bất cập Số lượng giáo viên còn thiếu nhiều cơ cấu giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học, bậc học Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

và phát triển KT – XH” Do đó nghiên cứu công tác quản lý đội ngũ giáo viên

ở các trường THPT NCL là việc làm xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, có ý nghĩa chung trong sự phát triển của cả một loại hình nhà trường, nhằm góp phần tìm ra các giải pháp thoả đáng tháo gỡ các vướng mắc đã nêu trên

Chính vì vậy chúng tôi đã chọn hướng nghiên cứu với tên đề tài: “Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định”

Trang 11

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý giáo viên nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giúp cho hệ thống các trường THPT NCL ngày càng phát triển đáp ứng nhu cầu học tập của toàn địa phương

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý đội ngũ giáo viên của các trường THPT ngoài công lập

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa công tác quản lý và chất lượng đội ngũ giáo viên trong các trường THPT NCL trên địa bàn thành phố Nam Định

4 Giả thuyết khoa học

Đội ngũ giáo viên trường THPT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây Nếu đề xuất được các biện pháp đồng bộ, khả thi và có cơ sở khoa học phù hợp với thực tế địa phương thì chất lượng đội ngũ giáo viên trường THPT NCL trên địa bàn thành phố Nam Định sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.Tổng quan những vấn đề lý luận vào quản lý đội ngũ giáo viên trường

THPT

5.2 Khảo sát thực trạng đội ngũ giáo viên và quản lý đội ngũ giáo viên trường

THPT NCL trên địa bàn thành phố Nam Định

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trong các trường THPT NCL trên địa bàn thành phố Nam Định

6 Phạm vi và giới hạn đề tài nghiên cứu

Trang 12

- THPT dân lập Trần Nhật Duật

- THPT dân lập Trần Quang Khải

6.2 Giới hạn của đề tài

Quản lý trong nhà trường là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu công tác quản lý đội ngũ giáo viên 3 trường THPT NCL đã chọn trên địa bàn thành phố Nam Định

7 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài chúng tôi lựa chọn các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập và đọc các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu: các văn bản, sách báo, tài liệu, báo cáo của nhà trường, các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài

Phân tích, tổng hợp và kết luận tài liệu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên ở 3 trường THPT NCL đã chọn trên địa bàn thành phố Nam Định để làm rõ thực trạng và các giải pháp quản lý đội ngũ giáo viên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường

Trang 13

7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê

Thống kê, phân tích và xử lý số liệu thu thập được để rút ra kết luận

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo

và phụ lục Nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên các trường

trung học phổ thông ngoài công lập

Chương 2: Đánh giá thực trạng việc quản lý đội ngũ giáo viên của

trường trường trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định

Chương 3: Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường trường trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Loài người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Đánh dấu

sự khác biệt giữa giai đoạn này với giai đoạn khác có rất nhiều yếu tố, một trong những yếu tố không thể thiếu được là sự khác biệt về hình thức quản lý Một hình thức quản lý mới tiên tiến hơn hình thức quản lý cũ đem đến cho xã hội một diện mạo mới trên tất cả các mặt của đời sống Nghiên cứu về hoạt động quản lý là một lĩnh vực quan trọng, là cơ sở để hình thành những phương thức quản lý mới

Ở phương Đông cổ đại, nhất là ở Trung Hoa và ấn Độ đã xuất hiện tư tưởng quản lý từ rất sớm Những tư tưởng về phép trị nước của Khổng Tử (551 –

479 TrCN), Mạnh Tử (372 – 289 TrCN), Hàn Phi Tử (280 – 233 TrCN) theo đánh giá của các nhà nghiên cứu hiện đại vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc và đậm nét trong phong cách quản lý và văn hóa của nhiều quốc gia Châu Á, nhất là các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên Trong các học thuyết về quản lý phương Đông cổ đại Khổng Tử, Mạnh Tử và một số người khác chủ trương dùng “Đức trị” để cai trị dân, Hàn Phi Tử, Thương Ưởng và một số người khác lại chủ trương dùng “Pháp trị” để cai trị dân

Ở phương Tây cổ đại (vào thế kỷ IV – III TrCN) nhà triết học nổi tiếng Xôcơrat trong tập nghị luận của mình viết rằng: những người nào biết cách sử dụng con người sẽ điều khiển được công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt Những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong công việc

Tư tưởng về quản lý con người và những yêu cầu về người đứng đầu – cai trị dân còn tìm thấy trong quan điểm của nhà triết học cổ đại Hy Lạp Platôn

Trang 15

(427- 347 TrCN) Theo ông, muốn trị nước thì phải biết đoàn kết dân lại, phải vì dân Người đứng đầu phải ham chuộng hiểu biết, thành thật, tự chủ, biết điều độ,

ít tham vọng về vật chất, đặc biệt là phải được đào tạo kỹ lưỡng

Vào thế kỷ thứ XVII, có những nhà nghiên cứu về quản lý tiêu biểu như: Rober Owen (1771- 1858), Charles Babbage (1792- 1871), F Taylor (1856- 1915) - người được coi là “cha đẻ” của “Thuyết quản lý theo khoa học”

Do những lợi ích lớn lao của quản lý mà sang thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý như: Tính khoa học và nghệ thuật quản lý, làm thế nào

để việc ra quyết định quản lý đạt hiệu lực cao, những động cơ để thúc đẩy một

tổ chức phát triển Thành công trong quản lý đã tạo ra một số hiện tượng nhảy vọt thần kỳ trong phát triển kinh tế – xã hội, như sự xuất hiện các con rồng Châu Á: Nhật Bản, Singapo, Trung Quốc ở thế kỷ XX

1.1.2 Ở Việt Nam

Khoa học quản lý ở Việt Nam tuy được nghiên cứu muộn, nhưng tư tưởng về quản lý cũng như “Phép trị nước an dân” đã có từ lâu đời Trong

“Bình ngô đại cáo” Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” qua

đó chúng ta cũng thấy rằng các ông vua hiền tài đất Việt từ xa xưa đã biết lấy dân làm gốc trong việc quản lý đất nước

Nhiều công trình nghiên cứu gần đây về khoa học quản lý của các nhà nghiên cứu và các giáo sư giảng dạy các trường đại học viết dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm đã được công bố Đó là các tác giả: Phạm Thành Nghị, Trần Quốc Thành, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Gia Quý, Bùi Trọng Tuân Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã giải quyết được vấn đề lý luận rất cơ bản về khoa học quản lý như: khái niệm quản lý, bản chất của hoạt động quản lý, thành phần cấu trúc, chức năng quản lý, chỉ

ra các phương pháp và nghệ thuật quản lý

Trang 16

Cũng như đối với các ngành quản lý khác, quản lý giáo dục luôn là vấn

đề được các nhà nghiên cứu hết sức quan tâm Đặc biệt là trong sự nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục đối với tương lai phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc thì điều này càng có ý nghĩa Các công trình nghiên cứu giáo dục như

“Cơ sở khoa học quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Minh Đạo, “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang,

“Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả Đặng Quốc Bảo, “Những giá trị về tổ chức và quản lý” của tác giả Vũ Văn Tảo, thực sự là những công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, mang lại hiệu quả nhất định cho công tác quản lý giáo dục nói chung và công tác quản lý trong nhà trường nói riêng

Bên cạnh những công trình mang tính phổ quát đó, công tác quản lý trong nhà trường phổ thông cũng là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu Đặc biệt trong những năm gần đây nhiều luận văn tiến sỹ, thạc sỹ đã

đề cập đến được nhiều vấn đề cụ thể trong công tác quản lý trường học Nhưng đó là những vấn đề có tính chuyên sâu, gắn với công tác quản lý nảy sinh ở địa phương, nên việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề này vẫn có ý nghĩa thực tiễn

Hệ thống các trường ngoài công lập đã được hình thành và phát triển từ rất sớm ở nước ta cũng như trên thế giới Các trường này đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển nền giáo dục ở mỗi quốc gia

Ở nước ta, từ sau Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và VII, chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước Sự biến đổi nền kinh tế kéo theo sự biến đổi nhiều mặt của đời sống xã hội, trong

đó có sự biến đổi của giáo dục - đào tạo: nhu cầu học tập của nhân dân tăng nhanh, mục đích học tập đa dạng, học để tìm kiếm việc làm, học để phát triển, học để có cơ hội làm giàu Trong khi kinh phí cho giáo dục của nhà nước

Trang 17

hạn hẹp, không thể bao cấp nổi thì việc phát triển các loại hình nhà trường ngoài công lập là một tất yếu khách quan

Để duy trì sự phát triển của các trường ngoài công lập một cách vững chắc cần phải không ngừng nâng cao chất lượng chuyên môn và xây dựng đội ngũ giáo viên có tay nghề giỏi Đã có một số hội thảo, một số bài viết, và một

số công trình nghiên cứu về các trường ngoài công lập như: Hội thảo khoa học về Quy chế các loại hình trường trung học phổ thông ngoài công lập (THPT- NCL) - Đề tài B97- 37- 40- tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 11/ 1997; Đề tài về Quy chế các loại hình trường ngoài công lập (B97- 47- 40) tại Nha Trang tháng 5/ 1998; luận văn “Các giải pháp cải tiến cơ chế quản lý trường trung học phổ thông dân lập thành phố Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Thị Mai năm 2000; luận văn “Một số biện pháp quản lý chuyên môn của hiệu trưởng trường trung học phổ thông bán công thành phố Hà Nội” của tác giả

Đỗ Thị Dung năm 2004

Kết luận của các hội thảo, các giải pháp, biện pháp mà các luận văn đưa

ra thực sự rất có giá trị, nhưng đó không phải đã là những giải pháp, biện pháp tối ưu, phù hợp với mọi địa phương, mọi hoàn cảnh quản lý Chẳng hạn như vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên của các trường trung học phổ thông ngoài công lập, vấn đề xây dựng kế hoạch chuyên môn, vấn đề kiểm tra đánh giá, tuy đã được các tác giả đề cập đến, nhưng không hoàn toàn phù hợp với các trường trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định

Nghiên cứu công tác quản lý đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định

là bước tiếp tục làm phong phú thêm lý luận về quản lý giáo dục, đồng thời cũng góp phần đề ra được những biện pháp có hiệu quả, thiết thực, đáp ứng được đòi hỏi của giáo dục thành phố Bởi vì: Thành phố Nam Định từ lâu đã nổi tiéng với những nhà máy dệt tơ - sợi, đã có thời kỳ thành phố được coi là

Trang 18

thành phố trẻ phát triển Nơi đây còn có di tích nổi tiếng đền Trần thờ Hưng Đạo Đại Vương và các vị vua nhà Trần, hàng năm thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước Nhưng những năm gần đây sự phát triển của Thành phố có phần chậm lại chính vì vậy lãnh đạo tỉnh và thành phố đã đưa ra những chính sách, chiến lược phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội để bắt kịp với sự với sự phát triển của đất nước Thành phố đang phấn đấu trở thành đô thị loại I giai đoạn 2010- 2015 Và vấn đề con người được các nhà lãnh đạo chú trọng, trong đó “ giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu” Nói tới Nam Định là nói tới đất học, hàng năm tỉnh luôn đứng trong tốp đầu của

cả nước về chất lượng giáo dục Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ Nam Định nêu rõ: Trong 5 năm qua, nền kinh tế của tỉnh có bước phát triển mới về quy mô, hiệu quả Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 10,2% Các lĩnh vực văn hoá – xã hội được quan tâm chăm lo và có nhiều chuyển biến tích cực Chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao, năm học 2008-2009 và năm học 2009-2010 dẵn đầu cả nước về tỷ lệ học sinh tốt nghiệp, tỷ lệ học sinh giỏi quốc gia và tỷ lệ học sinh thi đỗ Đại học, Cao đẳng Tuy nhiên hiện nay

số lượng các trường công lập trên địa bàn thành phố Nam Định lại không đủ đáp ứng nhu cầu của người học Cũng có nhiều trường ngoài công lập được thành lập nhưng còn nhiều bất cập trong đó vấn đề đáng quan tâm nhất là đội ngũ giáo viên giảng dạy còn thiếu và yếu Chính vì vậy tôi đã chọn hướng

nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định”

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.1.1 Quản lý

Sử gia Danien A.Wren đã có nhận xét rằng: Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy, nhưng bên cạnh đó ông cũng ghi nhận rằng, chỉ gần đây

Trang 19

thôi người ta mới chú ý đến chất khoa học trong quản lý, và từ đó dần hình thành nên các lý thuyết quản lý

Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, thì quản lý là phương thức tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt đến mục tiêu

Theo quan điểm của điều khiển học, thì quản lý là chức năng của những

hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau, nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế

độ hoạt động Quản lý là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động vận hành và phát triển

Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau cũng đã đưa ra những khái niệm quản lý

Theo giáo sư Hà Thế Ngữ thì “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [24, tr.24]

Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận quản lý ở Việt Nam trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí (NXB thống kê, Hà Nội 1999, tr 176) cho rằng: hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới Quản lý về bản chất bao gồm quá trình “Quản” và quá trình “Lý”

Quản: là coi sóc, giữ gìn, là duy trì - ổn định

Lý: là sửa sang, sắp xếp, là đổi mới – Phát triển

Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu dẫn đến suy thoái

Hệ phát triển mà thiếu ổn định tất yếu dẫn đến rối ren

Như vậy: Quản lý = ổn định + phát triển

Trong quản phải có lý; trong lý phải có quản; ổn định đi tới sự phát triển, phát triển trong thế ổn định [1, tr176]

Trang 20

Như vậy, mặc dù có những kiến giải khác nhau nhưng đi sâu tìm hiểu bản chất khoa học của các khái niệm đã nêu về quản lý, có thể dễ dàng nhận thấy giữa chúng luôn có sự thống nhất

Quản lý là khoa học vì nó là những tri thức được hệ thống hoá và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt Quản lý là khoa học nghiên cứu,

lý giải các mối quan hệ, đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý

Quản lý là nghệ thuật bởi nó là hoạt động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và linh hoạt trong việc sử dụng những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã được đúc kết nhằm tác động một cách có hiệu quả nhất tới khách thể quản lý

Nói đến quản lý thì đồng thời cũng phải hiểu quản lý bao giờ cũng có định hướng, có mục tiêu, có tổ chức, có tác động tương ứng, phù hợp, nhằm hướng dẫn, điều khiển những đối tượng quản lý để đạt tới mục tiêu định sẵn

Cuối cùng, tồn tại với tư cách là một hệ thống, quản lý bao gồm các thành phần: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, cơ chế quản lý và mục tiêu chung Chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý, còn khách thể quản lý tạo ra các sản phẩm có giá trị sử dụng, hiện thực hoá mục tiêu đã định và làm thoả mãn mục đích của nhà quản lý Chủ thể quản lý luôn là con người

và có cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy mô, độ phức tạp của khách thể quản

lý Khách thể quản lý là đối tượng chịu sự điều khiển, tác động của chủ thể quản lý, khách thể quản lý bao gồm con người, các nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất

Cơ chế quản lý chính là những phương thức mà nhờ đó hoạt động quản

lý được thực hiện và quan hệ tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý được vận hành điều chỉnh

Tuy nhiên, vì hoạt động quản lý chỉ phát huy được hiệu quả cao khi nó tạo ra được cái toàn thể – chỉnh thể từ nhiều cá nhân và tư liệu sản xuất của tổ

Trang 21

chức xã hội Do đó yêu cầu về tính toàn thể của tổ chức mang tính khách quan Nó đòi hỏi các nhà quản lý phải xác lập được mục tiêu rõ ràng và biết điều hành hệ thống của mình tới đích Song những yêu cầu mang tính khách quan này để đạt được lại không hoàn toàn phụ thuộc vào chủ quan của nhà quản lý Hoạt động quản lý có những yêu cầu khách quan, phổ biến đối với những người làm công tác quản lý Đó là những chức năng chung và cơ bản của hoạt động quản lý

Chức năng quản lý: Bàn về hoạt động quản lý và người quản lý, hiểu rõ người quản lý phải làm gì để đạt hiệu quả quản lý cao cũng chính là tìm hiểu chức năng và vai trò của quản lý

Chức năng đầu tiên của quản lý là chức năng kế hoạch hoá Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích

đó Chức năng kế hoạch hoá được thể hiện qua 3 nội dung chính sau:

 1 Xác định hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức

 2 Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt các mục tiêu này

 3 Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó

Khi người quản lý lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực Chức năng tổ chức của quản lý sẽ có

ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hoá như thế Xét về mặt chức năng quản

lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng

Trang 22

lực sử dụng các nguồn lực này của người quản lý, phải xử lý sao cho có hiệu quả nhất

Quá trình tổ chức bao giờ cũng kéo theo việc hình thành, xây dựng các

bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng, và sau đó là vấn đề lựa chọn, bổ nhiệm, tổ chức nhân sự, cán bộ

Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có ai đó lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Một số học giả và các nhà nghiên cứu gọi đó là quá trình chỉ đạo hay tác động Nhưng dù gọi tên khác nhau, lãnh đạo sẽ là người tạo ra sự liên kết, liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức, động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được những mục tiêu của tổ chức Tuy nhiên, việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, nó thấm vào và ảnh hưởng đến hai chức năng kia

Cuối cùng là chức năng kiểm tra đánh giá Kiểm tra đánh giá là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành các hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết một kết quả hoạt động đạt yêu cầu khi phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không thì cần phải tiến hành những hoạt động điều chỉnh Đó cũng chính là quá trình tự điều chỉnhdiễn ra có tính chu kỳ theo các bước sau:

- Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động

- Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã dặt ra

- Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch

- Người quản lý có thể hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần

Thực hiện đầy đủ những chức năng của mình hoạt động quản lý sẽ đem lại hiệu quả, đạt được mong muốn Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc nhà quản lý không cần quan tâm đến những yếu tố khác nữa Hoạt động quản

Trang 23

lý không phải là một hoạt động khép kín, nó luôn chịu sự tác động qua lại của nhiều yếu tố bên ngoài Vì vậy muốn hiểu rõ về quản lý không thể không tìm hiểu những yếu tố liên quan đến quản lý như:

- Yếu tố môi trường

- Yếu tố chính trị xã hội

- Yếu tố tổ chức

- Yếu tố quyền uy

- Yếu tố thông tin

- Yếu tố mô hình tổng quát

Từ những khái niệm chung, chức năng chung cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý sẽ dẫn đến sự hình thành khái niệm về quản

lý trong những chuyên ngành, và cùng với các khái niệm đó là hàng loạt các quy định về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của người quản lý cho từng chuyên ngành riêng biệt Vậy quản lý giáo dục, quản lý trường trung học phổ thông, quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông là gì? Chức năng, nhiệm vụ của người hiệu trưởng trường trung học phổ thông trong việc quản lý đội ngũ giáo viên, nhất là việc quản lý đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông ngoài công lập Đó cũng là những vấn đề thuộc phạm vi

đề tài cần phải được làm sáng tỏ

1.2.1.2 Quản lý giáo dục

Cũng như các lĩnh vực khoa học xã hội khác, giáo dục cũng có một quá trình phát triển và không ngừng hoàn thiện hệ thống lý luận của mình Tìm hiểu lịch sử phát triển của giáo dục là tìm hiểu quá trình hình thành, hoàn thiện các quan điểm giáo dục, làm cho giáo dục ngày càng gắn kết với cuộc sống, phục vụ thiết thực cho những nhu cầu phát triển của xã hội Đồng thời cũng là tìm hiểu các quan niệm về quản lý giáo dục, với tư cách là một bộ phận của khoa học quản lý nói chung

Trang 24

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc thì “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy và học Có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước” [16, tr 34]

Theo giáo sư Đặng Quốc Bảo quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội [11]

Còn theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong cuốn “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” thì: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của các chủ thể quản lý nhằm làm cho

hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ

là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu

dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.” [27, tr 35]

Như vậy, cũng như quản lý nói chung, QLGD cũng là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra Nhưng nó không đơn thuần là những tác động theo một hướng Quản lý giáo dục là quản

lý hoạt động dạy và học, do đó những tác động của nó lên hệ thống phải là những tác động kép Tác động lên hoạt động dạy, nó đồng thời chuyển hoá hoạt động đó thành hoạt động học để đạt tới mục tiêu giáo dục, và chính trong quá trình thực hiện sự chuyển hoá đó, nó sẽ phải điều hành, phối hợp tác động của các lực lượng khác, nhằm tạo ra một sức mạnh tổng hợp tác động đến hoạt động dạy và học

Bên cạnh những đặc điểm cơ bản của quản lý nói chung, quản lý giáo dục vẫn có những nét đặc thù riêng, đó là một hoạt động đặc biệt Để thực hiện tốt các chức năng của mình nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục, quản lý giáo

Trang 25

dục chịu sự tác động rất lớn của các yếu tố khách quan Hiểu rõ đặc điểm này

sẽ là cơ sở lý luận cần thiết để đề ra những biện pháp cụ thể trong quản lý giáo dục

1.2.1.3 Quản lý trường trung học phổ thông

Theo điều 87 luật giáo dục Việt Nam, các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục bao gồm: Chính Phủ, Bộ Giáo Dục, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ,

cơ quan trực thuộc Chính Phủ chịu trách nhiệm quản lý Nhà Nước về giáo dục theo quy định của Chính Phủ Tiếp đến là Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về giáo dục ở địa phương theo quy định của Chính phủ [7]

Như vậy, trường học chính là tổ chức giáo dục cơ sở, là cơ quan quản

lý Nhà nước cấp cơ sở Trường học phải chịu sự quản lý của các hệ thống quản lý Nhà nước về giáo dục từ trung ương đến địa phương Nhà trường được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục Nhưng đồng thời cũng là nơi tiến hành các hoạt động quản

lý giáo dục nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục Nhà trường trong hệ thống giáo dục là khách thể quản lý, nhưng cũng là chủ thể quản lý Nhà trường vừa

là nơi chịu sự tác động của các cấp giáo dục từ trung ương đến địa phương, vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện các mục tiêu giáo dục Nhà trường chịu

sự quản lý của các cấp từ trung ương đến địa phương; đồng thời cũng là nơi tổ chức kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cho từng địa phương, cho một nhóm dân cư [2]

Xuất phát từ những đặc điểm đó đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa về quản lý nhà trường Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ và với từng học sinh.”

Trang 26

Điều lệ trường trung học ban hành theo quyết định số 23/ 2000/ QĐ -

Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 11 tháng 7 năm 2000 cũng đã chỉ rõ: “Trường trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông Trường trung học phổ thông do Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý, chỉ đạo trực tiếp Trường trung học có nhiệm vụ tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục trung học do Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành Trường trung học tiếp nhận học sinh, vận động học sinh bỏ học đến trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong phạm vi cộng đồng theo quy định của nhà nước, quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh, quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật Trường trung học có trách hiệm phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt động giáo dục, tổ chức giáo viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong phạm vi cộng đồng” [2]

Như vậy, quản lý trường học dù được định nghĩa như thế nào vẫn phải hiểu là luôn bao gồm các hoạt động quản lý giáo dục diễn ra trong nhà trường

và các quan hệ giữa trường học với xã hội

Quản lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường chính là quản

lý nội dung, phương pháp giáo dục nhằm thực hiện bằng được mục tiêu giáo dục, và thực chất đó là quản lý các hoạt động của giáo viên, học sinh, quản lý

cơ sở vật chất và các phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy và học tập Tuy nhiên, cũng không nên hiểu một cách đơn thuần: quản lý trường học là quản lý việc dạy và học Mục tiêu của giáo dục nước ta là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Thực hiện mục tiêu này, hoạt động quản lý trong nhà trường tác động đến giáo viên, học sinh, các yếu

tố vật chất phục vụ cho việc dạy và học Những tác động này trong thực tế đã chuyển hoá thành những hoạt động chuyên biệt

Trang 27

Mặt khác, bên cạnh các hoạt động QLGD diễn ra trong nhà trường, quản lý trường học còn bao gồm cả việc quản lý các mối quan hệ giữa nhà trường và xã hội, vì vậy hoạt động quản lý trong nhà trường là các hoạt động sau:

- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

- Quản lý hoạt động dạy, hoạt động học

- Quản lý hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề

- Quản lý hoạt động giáo dục thể chất

- Quản lý hoạt động giữ gìn và xây dựng cơ sở vật chất

- Quản lý hoạt động của các tổ chức xã hội

Tìm các biện pháp để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý trong trường trung học phổ thông chính là tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả của từng hoạt động quản lý nói trên

1.2.2 Trường trung học phổ thông, trường trung học phổ thông ngoài công lập

1.2.2.1 Trường trung học phổ thông

Nhà trường là cơ sở đào tạo của ngành giáo dục- đào tạo, nơi trực tiếp giáo dục và đào tạo học sinh, sinh viên, nơi thực thi mọi chủ trương đường lối, chính sách, chế độ, nội dung, phương pháp tổ chức giáo dục của Đảng và Nhà nước Đó cũng là nơi diễn ra quá trình lao động giảng dạy của thầy, lao động học tập của trò, hoạt động của bộ máy quản lý nhà trường

Mục tiêu giáo dục của nhà trường là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp Trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Vị trí trường trung học phổ thông được thể hiện trong điều lệ trường trung học như đã nêu ở trên, trường trung học phổ thông là một bậc học trong

hệ thống giáo dục quốc dân “Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện

Trang 28

trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp THCS, có độ tuổi là mười lăm tuổi”

THPT là bậc học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là cầu nối giữa giáo dục phổ thông với giáo dục đại học, sau đại học và giáo dục nghề nghiệp Như vậy trường trung học phổ thông có vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Số học sinh tốt nghiệp THPT sẽ bước vào cuộc sống lao động hoặc tiếp tục vào học các trường nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học

Trường trung học phổ thông là nơi tạo học vấn cơ bản cho học sinh và góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Ngày nay, các xu hướng sau đây của trường THPT càng thể hiện rõ:

- Giáo dục THPT không chỉ dành cho các học sinh giỏi, xuất sắc mà là một nền giáo dục có tính đại chúng, phổ cập

- Giáo dục THPT không chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồn cho giáo dục đại học, mà chủ yếu là chuẩn bị cho học sinh – con người đang trưởng thành – bước vào đời

- Giáo dục THPT cần trở thành một nguồn rộng lớn để lựa chọn những luồng nhân lực có kỹ năng tốt cho sự phát triển quốc gia

- Giáo dục THPT phải là giai đoạn đáp ứng yêu cầu chín muồi của người học được vận dụng các nguyên lý và lý thuyết đã học

- Giáo dục THPT là giai đoạn người học khẳng định được, định hướng được cái họ cần, mẫu hình họ phải vươn tới

1.2.2.2 Trường trung học phổ thông ngoài công lập

Trong nhiều năm qua, ở nước ta đã hình thành một hệ thống trường trung học phổ thông đa dạng, gồm các loại hình: công lập, bán công, dân lập,

tư thục Về cơ chế tổ chức hoạt động của các loại trường này có những điểm chung giống nhau và có những điểm khác biệt

Trang 29

Trong đề tài cấp Bộ mã số B97- 49- 40 “Những cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng quy chế trường phổ thông ngoài công lập” của TS Nguyễn Văn Đản, dựa trên sự khái quát về lý luận và thực tế nhà trường Việt Nam đã nêu lên các đặc trưng giống nhau và khác nhau của các loại trường

“Các trường phổ thông công lập, bán công, dân lập, tư thục đều nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, dưới sự quản lý của Nhà nước, nên chúng đều mang tính chất và nguyên lý giáo dục chung của nền giáo dục Việt Nam

là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” [7]

Đó là nền giáo dục mang tính phổ thông, tính toàn diện, tính lao động hướng nghiệp, dạy nghề Vì nhà trường luôn là công cụ phục vụ cho một chế

độ xã hội nên chúng mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa, tính thống nhất nhưng đa dạng linh hoạt và mềm dẻo

Như vậy, dù là trường công lập, bán công, dân lập, tư thục đều phải thực hiện đầy đủ mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục dạy học, thực hiện nghiêm túc các văn bản, chỉ thị, quy chế do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Để thấy rõ hơn điều này, hãy điểm lại sự phát triển mô hình trường ngoài công lập ở nước ta

Từ thời phong kiến, ở các làng xã có các trường chùa, hoặc trường do dân tự mở ở bậc tiểu học Đến thời Pháp thuộc bên cạnh hệ thống trường công lập, có trường tư thục do dân mở ra, và tương đối phổ biến ở các nơi (ở vùng nông thôn, làng xã có những lớp học chỉ có 5 – 10 học sinh do một thầy giáo dạy; còn ở một số thành phố có những trường tư thục với quy mô khá lớn: như trường Đông kinh Nghĩa Thục có từ 20 – 30 lớp, và khoảng 2000 học sinh) trong kháng chiến chống Pháp, xuất hiện các trường lớp tiểu học của tư nhân, đoàn thể và tôn giáo Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất (năm 1950) Nhà nước chủ trương mở cấp I ở cấp xã, cấp II ở cấp huyện, các trường

tự lựa chọn giáo viên để cấp trên duyệt, kinh phí hoạt động và cơ sở vật chất

Trang 30

dân tự lo, vì thế đến năm 1954 ở nước ta có ba loại hình nhà trường: trường công, trường tư và trường dân lập Sau năm 1954 Nhà nước quyết định giải thể trường tư và thống nhất chuyển thành hệ thống trường công học 9 năm Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (năm 1956) nhu cầu phát triển giáo dục tăng lên, Nhà nước không đủ ngân sách đáp ứng, nên đến tháng 6 năm

1959 toàn bộ giáo viên cấp I và một phần giáo viên cấp II, cấp III được chuyển sang dân lập; từ năm 1960 đến 1965 tỉ lệ giáo viên dân lập chiếm 66,4%, số học sinh dân lập chiếm 66,8%, số lớp dân lập chiếm 63,2%, số trường chiếm 13,2% trong tổng số giáo viên, học sinh, lớp, trường của miền Bắc (nguồn tư liệu: Niên giám thống kê, Bộ giáo dục 1972) Ngày 9 tháng 3 năm 1968, Hội đồng Chính phủ có quyết định 36/CP, tuyển toàn bộ giáo viên dân lập vào biên chế Nhà nước, trong hệ thống giáo dục phổ thông chỉ còn một loại hình phổ thông công lập ở miền Nam, dưới chế độ

Mỹ – Nguỵ vẫn còn tồn tại cả trường công, trường tư, và trường bán công trong hệ thống giáo dục

Sau Đại hội VI, Đảng chủ trương xoá bỏ bao cấp, phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, ở một số cơ sở sản xuất có nhu cầu đào tạo đã thành lập trường phổ thông trong

cơ sở của mình (như nhà máy toa xe, đoạn đầu máy ) Các trường phổ thông kiểu dân lập đã xuất hiện trở lại từ năm 1987 – 1988 Để quản lý thống nhất, đồng thời khuyến khích phát triển loại trường này, ngày 20 tháng 8 năm 1991,

Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ban hành quy chế các trường phổ thông dân lập tại quyết định 1931/QĐ Quyết định này yêu cầu phải có một tổ chức xã hội hoặc

tổ chức Chính trị – Xã hội đứng ra đỡ đầu hay bảo trợ như một điều kiện thành lập trường dân lập Hơn một thập kỷ qua, nền kinh tế thị trường phát triển, những nơi đời sống nhân dân được cải thiện có khả năng chi trả phí tổn

đi học của con em, thì ở đó số lượng trường dân lập phát triển mạnh Từ năm

1989 đến năm 1998, các trường THPT – DL đã phát triển ở 30 tỉnh, thành chủ

Trang 31

yếu là ở các thành phố, thị xã, thị trấn: năm học 1989 – 1990 cả nước có 10 trường ở 8 tỉnh, thành; năm học 1994 – 1995 có 105 trường và 197 lớp PTDL; năm học 1997 – 1998 có 188 trường dân lập với số học sinh là 96 317 và 2 trường phổ thông tư thục ở thành phố Đà Nẵng vói 1663 em học sinh Nhìn chung các trường THPT –DL được khôi phục và xây dựng là nhằm thực hiện các quan điểm giáo dục của Đảng, phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế, góp phần đáp ứng các mục tiêu giáo dục của đất nước và nhu cầu nguyện vọng của một bộ phận không nhỏ nhân dân, giáo viên Một số trường trường THPT – DL đã đáp ứng được yêu cầu khá cao về chất lượng (giáo viên, giảng dạy), chủ động về kinh phí nên đã quan tâm đúng mức đến việc tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện cho học sinh, thực hiện các chế độ ưu đãi cho con em diện hưởng chính sách xã hội Tuy nhiên, phần lớn các trường chưa

có cơ sở trường lớp ổn định, tập trung, thiếu phòng thí nghiệm, sân chơi, thiết

bị thực hành, ở đó mới chỉ tập trung vào dạy một số môn chính, đáp ứng nhu cầu thi vào đại học của học sinh, việc dạy đủ môn, toàn diện, việc giáo dục đạo đức lối sống, tổ chức các hoạt động ngoại khoá cho học sinh còn bị coi nhẹ, việc quản lý nhà nước đối với các trường THPT –DL còn bị buông lỏng, các tổ chức đứng ra bảo trợ xin mở trường thực chất chỉ là cho “mượn” danh nghĩa, không hề tham gia quản lý và do đó không chịu trách nhiệm về các hoạt động của nhà trường Hội đồng quản trị chỉ là hình thức, chủ đầu tư kinh phí mở trường thực sự quyết định mọi vấn đề của nhà trường như vậy, về thực chất trường dân lập đã biến thành trường tư thục, việc thu học phí của học sinh do không được quy định khung thống nhất, nên khá tuỳ tiện, chênh lệch học phí của các trường ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thị xã, thị trấn hơn kém nhau đến 10 – 20 lần Việc kiểm tra thanh tra chuyên môn, tài chính ở các trường THPT –DL chưa nghiêm túc, dẫn đến tình trạng dạy học tuỳ tiện theo hướng kinh doanh giáo dục khá phổ biến, chạy theo thu nhập, gia đình trị trong thu chi tài chính, không công khai, dân chủ Việc xét

Trang 32

duyệt, cho phép mở trường ở một số địa phương còn thiếu thận trọng, dẫn đến tình trạng trường có quyết định không mở được, hoặc có rất ít học sinh theo học Có thể thấy nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là do việc thực hiện quy chế các trường THPT – DL không nghiêm ở cấp cơ sở (cấp trường) và các cấp quản lý; mặt khác nhiều điểm quy định trong quy chế đã không còn phù hợp với thực tế nhưng chậm được ngành giáo dục xem xét sửa đổi cho phù hợp

1.2.3 Giáo viên trường trung học phổ thông

Khái niệm đội ngũ có thể hiểu:

Đội ngũ là khối đông người được tập hợp và tổ chức thành lực lượng Theo Luật giáo dục, chương IV nói về “Nhà giáo” : “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác.” “Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên.” Từ đó có thể hiểu đội ngũ giáo viên trung học phổ thông chính là đội ngũ các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong trường trung học phổ thông

Như vậy, giáo viên là lực lượng chủ yếu tham gia vào hoạt động giảng dạy - giáo dục học sinh, là người có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường Thông qua các hoạt động giảng dạy, giáo dục, ngoại khóa đội ngũ giáo viên đã, đang và sẽ là người thực hiện mục tiêu giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước

1.3 Vai trò của trường trung học phổ thông ngoài công lập trong đời sống kinh tế xã hội hiện nay

1.3.1 Mục tiêu của trường THPT ngoài công lập

Cùng với chính sách đổi mới nền kinh tế trong xu thế mở cửa thông thương với bên ngoài, nền giáo dục Việt nam cũng đang từng bước tiếp cận

Trang 33

và hội nhập với xu thế giáo dục và tiềm lực giáo dục trên thế giới Ngày nay giáo dục đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, giúp con người chinh phục, khám phá toàn diện thế giới tự nhiên và thế giới con người thông qua sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế

Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo cơ sở kinh tế – xã hội thuận lợi cho xu hướng phát triển và đa dạng hoá các loại hình trường ở các cấp học

Hà Nội là một trong những địa phương đi đầu trong cả nước thí điểm mô hình các trường trung học phổ thông ngoài công lập, và các mô hình xã hội hoá giáo dục Sau gần 20 năm phát triển, các trường trung học phổ thông ngoài công lập đã khẳng định vị trí như một tất yếu trong sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà Mô hình trường trung học phổ thông ngoài công lập huy động được các khả năng trong xã hội góp phần cùng Nhà nước phát triển sự nghiệp giáo dục Như vậy trường phổ thông trung học ngoài công lập đã giữ vai trò là nhân tố chủ đạo thực hiện quá trình xã hội hoá giáo dục

Những năm gần đây, thực tế tại nhiều địa phương, điển hình như Hà Nội, Hải phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều trường NCL đã hoạt động rất hiệu quả, điều đó càng chứng tỏ chủ trương đa dạng hoá các loại hình trường lớp của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn cuộc sống

1.3.2 Trường trung học phổ thông ngoài công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân

Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”

Các trường THPT NCL ra đời đã góp phần không nhỏ vào đời sống kinh tế, phát triển hệ thống giáo dục quốc dân Điều này thể hiện trên các mặt sau:

Trang 34

- Sự xuất hiện của các trường ngoài công lập đã góp phần thúc đẩy đa dạng hoá phát triển giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho đại bộ phận nhân dân có nhu cầu học tập đều được đến trường, trong đó người dân có quyền lựa chọn loại trường phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, khả năng của bản thân

- Sự ra đời của các trường NCL còn tạo điều kiện cho việc huy động nguồn vốn nhằm xã hội hóa phát triển nền giáo dục nước nhà Với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, các trường NCL đã thực hiện một cách

có hiệu quả việc huy động nguồn vốn từ nhân dân, các tổ chức xã hội để xây dựng và phát triển nhà trường Điều này đã giúp cho các trường NCL tự chủ được nguồn vốn, do đó cũng chủ động hơn trong việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu sách giáo khoa phục vụ cho hoạt động giáo dục của nhà trường, vì vậy hoạt động của các trường ngoài công lập cũng có những điểm khá thuận lợi

- Mặt khác việc đa dạng hoá các loại hình giáo dục, trong đó có việc

mở rộng hệ thống các trường ngoài công lập góp phần thực hiện dân chủ hoá đối với giáo dục Khi mọi người dân, mọi tổ chức xã hội đóng góp vốn và tham gia vào giáo dục họ dược quyền bàn bạc và tham gia ý kiến vào các kế hoạch phát triển nhà trường và việc đào tạo sử dụng con người với tư cách là sản phẩm của giáo dục

Như vậy, hệ thống trường trung học phổ thông ngoài công lập ra đời đã

có những đóng góp hữu ích và thiết thực đối với sự phát triển kinh tế, giáo dục của nước ta trong gần 15 năm qua Trước hết, trường trung học phổ thông ngoài công lập giúp nhà nước giải quyết một số lượng không nhỏ nhu cầu học tập của người dân góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Hai là, hệ thống các trường ngoài công lập ra đời đã huy động được nguồn vốn đóng góp của một bộ phận dân cư vào sự nghiệp phát triển giáo dục của đất nước Đó là nguồn vốn dóng góp có sự quản lý, giám sát chặt chẽ của nhân dân lao động cho nên nguồn vốn ấy được sử dụng

Trang 35

triệt để, tránh gây lãng phí và thất thoát Hơn nữa, hệ thống trường ngoài công lập còn tạo ra và mở rộng không gian, kích thích nhu cầu học tập và nhu cầu đầu tư cho giáo dục, qua đó kích thích nhu cầu sử dụng lao động, làm tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân Có thể nói sự phát triển của hệ thống các trường ngoài công lập đã trở thành yêu cầu tất yếu góp phần thúc đẩy quá trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Kinh tế phát triển, con người càng có nhu cầu học tập cao hơn, nhiều hơn và ngược lại khi người lao động có trình độ văn hoá và trình độ tay nghề cao thì xã hội ngày càng phát triển, kinh tế ngày càng tăng trưởng, cuộc sống dần đi vào ổn định và phát triển bền vững

Ở thành phố Nam Định, trong những năm qua số lượng học sinh gia tăng mạnh, việc mở rộng mạng lưới hệ thống các trường trung học phổ thông ngoài công lập đã có tác động thúc đẩy rất lớn phong trào học tập, giải quyết

và cải thiện môi trường học tập cho học sinh, góp phần đẩy mạnh phát triển giáo dục, phát triển kinh tế xã hội ở địa phương

Ngày nay, xu hướng xã hội hoá giáo dục kết hợp giáo dục với nghiên cứu khoa học và ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật đang diễn ra mạnh

mẽ, vì thế vai trò của trường trung học phổ thông ngoài công lập càng trở nên quan trọng hơn Nhà trường trung học phổ thông đào tạo ra thế hệ học sinh có khả năng kích thích tính sáng tạo, ham học hỏi để chiếm lĩnh tri thức mới Đó cũng là yếu tố hạt nhân cốt lõi giúp đất nước phát triển nhanh chóng, tiến tới theo kịp và hoà nhịp với trình độ phát triển của nền kinh tế thế giới hiện nay

Giáo dục trung học phổ thông là một bộ phận của bậc giáo dục trung học Đây là cấp học rất quan trọng cho việc hoàn thiện kiến thức phổ thông và chuẩn bị cho học sinh học tiếp lên cao đẳng, đại học hoặc đi vào các trường trung học chuyên nghiệp dạy nghề Đây cũng là cấp học cung cấp kiến thức phổ thông cơ bản và hoàn chỉnh, làm nền tảng cho học sinh Chính vì thế giáo dục trong trường phổ thông có vai trò quan trọng và có ý nghĩa rất lớn đối với

Trang 36

cuộc đời và cả sự nghiệp sau này của người học sinh Thực hiện tốt vai trò của mình, các trường trung học phổ thông ngoài công lập phải đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ theo quy định chung của Bộ giáo dục và Đào tạo

Cùng với chính sách đổi mới nền kinh tế trong xu thế mở cửa thông thương hội nhập với bên ngoài, nền giáo dục Việt nam cũng đang từng bước tiếp cận và hòa cùng nhịp với xu thế giáo dục và tiềm lực giáo dục trên thế giới Vấn đề đa dạng hóa các loại hình trường lớp trong đó loại hình trường trung học phổ thông ngoài công lập ra đời đang ngày càng mở rộng Sự phát triển của các trường trung học phổ thông ngoài công lập góp phần tạo nên sự chuyển biến về chất lượng đào tạo và sự năng động mới cho công cuộc đổi mới nền giáo dục nước nhà Sự phát triển này dựa trên những bối cảnh sau đây:

Hoàn cảnh kinh tế: cùng với sự vận động và tiến triển không ngừng của

xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã xác định giáo dục là nhân tố quan trọng để thúc đẩy kinh tế phát triển Bác Hồ cũng từng nói: diệt giặc đói, giặc dốt, rồi mới đến giặc ngoại xâm Sự nghiệp giáo dục luôn được Nhà nước quản lý chặt chẽ và từng có giai đoạn bao cấp hoàn toàn Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu học tập của con người ngày càng nâng cao, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc giúp cho con người biết đọc, biết viết, biết tính toán đơn giản, mà con người ngày càng có đòi hỏi cao hơn, có nhu cầu cao hơn ở một nền giáo dục phát triển Giáo dục phải thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, giúp cho con người chinh phục, khám phá toàn bộ thế giới tự nhiên

và thế giới con người thông qua sự phát triển vượt bậc của kinh tế Khi này nhà nước không thể bao cấp toàn bộ nhu cầu học tập nhằm nâng cao hiểu biết của tất cả mọi người dân Hệ thống các trường NCL ra đời giúp Nhà nước và

xã hội tăng cường nguồn lực kinh tế, đáp ứng được nhu cầu học tập của một

bộ phận dân cư

Trang 37

Hoàn cảnh giáo dục: chúng ta đang thừa kế và phát huy thế mạnh của một nền giáo dục tiên tiến có chọn lọc Một nền giáo dục trong đó Nhà nước thống nhất quản lý về cơ cấu khung, nội dung, chương trình, song cũng luôn tạo điều kiện thuận lợi cho sự chọn lọc sáng tạo, vận dụng những kiến thức, nội dung mới tiên tiến vào bài giảng của mỗi người thầy Nền giáo dục trên thế giới ngày nay đang ngày càng tiệm cận với những phát minh sáng chế và

sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, giáo dục không thể chỉ nằm trong phạm vi của một quốc gia dân tộc mà đang có xu hướng hội nhập với giáo dục toàn cầu: nền giáo dục không biên giới, đó là một nền giáo dục chung có tính thống nhất trên phạm vi toàn cầu Do đó yêu cầu phát triển giáo dục là yêu cầu mang tính xã hội, tính thời đại và không chỉ là nhiệm vụ đặt ra đối với nhà nước mà còn là mục đích chung của toàn xã hội, việc mở rộng quy mô mạng lưới giáo dục, trong đó có loại hình trường trung học phổ thông ngoài công lập là một trong những cách thức huy động các nguồn lực trong xã hội tham gia vào xây dựng và phát triển giáo dục, đặc biệt là nhiệm vụ phổ biến đại trà giáo dục phổ thông, giáo dục tạo nền tảng cho sự phát triển nhân cách toàn diện của cá nhân đến từng người học

Xuất phát từ những bối cảnh như trên mà sự ra đời và phát triển của loại hình trường trung học phổ thông ngoài công lập trở thành yêu cầu tất yếu khách quan Giáo dục đã vượt ra ngoài khuôn khổ của yếu tố phúc lợi xã hội, trở thành phạm trù dịch vụ xã hội – loại hàng hoá đặc thù đòi hỏi sự cạnh tranh rất cao, rất tinh tế về chất lượng sản phẩm – và do đó, các thành phần tham gia vào giáo dục phải luôn luôn tìm tòi phấn đấu không ngừng để đáp ứng cho xã hội những sản phẩm giáo dục có chất lượng tốt nhất, có hiệu quả nhất, có khả năng thích nghi và hội nhập nhanh chóng với đời sống xã hội

Nghị quyết 90/CP của Chính phủ đã chỉ rõ: “Xã hội hoá là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều

Trang 38

kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, không phải là biện pháp tạm thời chỉ có tình thế trước mắt, do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này” Bộ Giáo dục - Đào tạo cũng đã nhấn mạnh: “Phát triển các trường ngoài công lập là chủ trương lâu dài có tính chiến lược chứ không phải là một giải pháp tình thế” [6]

Luật Giáo dục sửa đổi bổ sung – quốc hội thông qua trong kỳ họp lần thứ 6 khoá IX (năm 2004) - đã quy định ở điều 44 chương III mục I: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và được tổ chức theo các loại hình công lập, dân lập, tư thục trong đó trường công lập giữ vai trò nòng cốt

Nhà trường thuộc các loại hình công lập, dân lập, tư thục đều bình đẳng

về địa vị pháp lý và chịu sự quản lý nhà nước của cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ

Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân mở trường dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội” [7]

1.4 Đặc điểm lao động của đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông nói chung và trường trung học phổ thông ngoài công lập nói riêng

Trang 39

hành vi, thái độ tương ứng của học sinh Giáo viên phải là người luôn có trong mình nhu cầu và tiềm năng không ngừng tự hoàn thiện bản thân mình

về các mặt đạo đức, nhân cách, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và những phẩm chất ý chí, tình cảm tốt đẹp khác Do đó xây dựng và quản lý đội ngũ giáo viên luôn là yêu cầu cấp thiết và vô cùng quan trọng để nâng cao, hoàn thiện dần chất lượng đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng tối đa những yêu cầu và đòi hỏi của xã hội

Đặc điểm lao động của người thầy giáo thể hiện rõ nét thông qua con đường “thân giáo” Thầy giáo phải như tấm gương sáng tác động trực tiếp đến học sinh, vì vậy nhân cách của người thầy là một trong những nhân tố đảm bảo và quyết định chất lượng giáo dục: “trong việc giáo dục, tất cả đều phải dựa vào nhân cách của người giáo viên, vì sức mạnh của giáo dục chỉ bắt nguồn từ nhân cách của con người” (Usinxki) Trong nhà trường, người thầy giáo giữ vai trò rất quan trọng bởi vì họ là người được xã hội tin tưởng giao cho trách nhiệm giáo dục thế hệ trẻ – nguồn nhân lực tương lai của đất nước Lao động của người thầy giáo không phải là lao động sản xuất trực tiếp mà là lao động tái tạo ra sức lao động cho toàn xã hội Lao động sư phạm không cho phép tạo ra phế phẩm dù ở tỷ lệ rất nhỏ bé Chính vì thế, hơn ai hết đội ngũ giáo viên phải đảm đương trách nhiệm vinh quang và nặng nề mà xã hội tin tưởng giao phó cho mình Đội ngũ giáo viên phải có sự hợp nhất, đồng tâm, cùng làm, cùng chung vai gánh vác trách nhiệm, cùng chia sẻ và trao đổi những thành quả lao động của bản thân Mặc dù để có được kết quả ấy, giáo viên phải chờ đợi không chỉ năm năm, mười năm, hai mươi năm mà có khi là

cả cuộc đời mình Chất lượng đội ngũ giáo viên thể hiện ở hệ thống các phẩm chất và năng lực của bản thân đội ngũ ấy Chất lượng giáo viên gắn với những yêu cầu, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể

Đặc điểm lao động sư phạm đòi hỏi phải coi trọng chất lượng của từng giáo viên nhưng đồng thời cũng phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng của

Trang 40

toàn thể đội ngũ Đó cũng là một trong những yêu cầu cơ bản của sự phân công lao động đối với hoạt động sư phạm Mỗi giáo viên vừa chịu trách nhiệm giáo dục toàn diện nhân cách học sinh và đồng thời cũng chịu trách nhiệm về mỗi công đoạn cụ thể trong quá trình hình thành nhân cách người học Chính vì vậy càng cần thiết phải có sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng trong hoạt động của đội ngũ giáo viên Chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên vững mạnh là điều kiện cơ bản để nâng cao và phát huy chất lượng của mỗi giáo viên, ngược lại chất lượng của từng giáo viên sẽ làm nên sự vững mạnh

về chất lượng của cả đội ngũ Xem xét yếu tố chất lượng đội ngũ giáo viên là chúng ta tập trung xem xét những yếu tố về năng lực và phẩm chất của đội ngũ Về mặt phẩm chất: yếu tố thế giới quan là thành tố nền tảng, định hướng thái độ, hành vi ứng xử của giáo viên trước các vấn đề của thế giới tự nhiên, thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp Trong đó niềm tin chính trị vào chế độ XHCN và tư tưởng nhân văn xã hội chủ nghĩa là những yếu tố cơ bản của con người mới nói chung và của mỗi giáo viên, mỗi học sinh nói riêng

Đối với nghề dạy học thì lòng yêu trẻ là một phẩm chất đạo đức cao quý đặc trưng nhất Tình yêu trẻ là định hướng cho con người lựa chọn nghề dạy học Nghệ thuật dạy học và bí quyết thành công của mỗi giáo viên bắt nguồn từ tình cảm đầy nhân tính ấy Đặc biệt, giáo viên cần phải tôn trọng và đề cao nhân cách học sinh, biết tổ chức hoạt động và hợp tác với học sinh trong lớp học Trên cơ sở khai thác tối đa những tiềm năng sáng tạo còn ẩn chứa tiềm tàng trong tâm hồn mỗi học sinh, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục với hiệu quả cao nhất Lòng yêu thương con người là động lực mạnh mẽ giúp cho giáo viên vượt qua mọi khó khăn thử thách để trở thành người “kỹ sư tâm hồn” như sự đánh giá trân trọng mà xã hội dành cho chức danh người thầy giáo

Khi nói đến năng lực người thầy giáo là nói đến khả năng thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục Năng lực bộc lộ và thể hiện thông qua lao

Ngày đăng: 16/03/2015, 22:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Năm học 2009 – 2010 - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.2 Năm học 2009 – 2010 (Trang 49)
Bảng 2.1:  Năm học 2008 – 2009 - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.1 Năm học 2008 – 2009 (Trang 49)
Bảng 2.3: Đánh giá, xếp loại giáo viên - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.3 Đánh giá, xếp loại giáo viên (Trang 56)
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát ý kiến học sinh về phẩm chất nhân cách - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát ý kiến học sinh về phẩm chất nhân cách (Trang 58)
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý về phẩm chất nhân cách - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý về phẩm chất nhân cách (Trang 59)
Bảng 2.7: Kết quả khảo sát năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên (Trang 60)
Bảng 2.8: Ý kiến đánh giá về các phương pháp tuyển chọn - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.8 Ý kiến đánh giá về các phương pháp tuyển chọn (Trang 62)
Bảng 2.9: Ý kiến đánh giá về công tác quản lý, sử dụng, bồi dưỡng đội ngũ  giáo viên ở trường THPT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.9 Ý kiến đánh giá về công tác quản lý, sử dụng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ở trường THPT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định (Trang 64)
Bảng 2.10: Kết quả khảo sát ý kiến học sinh về việc thực hiện - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát ý kiến học sinh về việc thực hiện (Trang 66)
Bảng 2.11: Kết quả khảo sát ý kiến giáo viên và cán bộ quản lý về - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.11 Kết quả khảo sát ý kiến giáo viên và cán bộ quản lý về (Trang 67)
Bảng 2.13: Đánh giá sự phù hợp của các hình thức quản lý - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.13 Đánh giá sự phù hợp của các hình thức quản lý (Trang 69)
Bảng 2.14: Tổng hợp ý kiến đánh giá về các phương pháp hiệu trưởng sử - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.14 Tổng hợp ý kiến đánh giá về các phương pháp hiệu trưởng sử (Trang 71)
Bảng 2.17: Kết quả khảo sát về công tác  quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 2.17 Kết quả khảo sát về công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh (Trang 77)
Bảng 3.2 : Tổng hợp chung về tính cấp thiết của các biện pháp quản lý đội  ngũ giáo viên trường THPT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 3.2 Tổng hợp chung về tính cấp thiết của các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định (Trang 105)
Bảng 3.3: Tổng hợp chung về tính khả thi của các biện pháp - Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Nam Định
Bảng 3.3 Tổng hợp chung về tính khả thi của các biện pháp (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w