ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN HỒNG ĐIỆP BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN MỚI VÀO NGHỀ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN Đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HỒNG ĐIỆP
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN MỚI VÀO NGHỀ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐOAN HÙNG, PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HỒNG ĐIỆP
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN MỚI VÀO NGHỀ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐOAN HÙNG, PHÚ THỌ
Trang 3Lời cảm ơn
@
Lời đầu tiên tác giả bản luận văn xin trân trọng cảm ơn Tr-ờng Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội và các thầy cô giáo của nhà tr-ờng
đã giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt khoá học
Đặc biệt, tác giả bản luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Anh Tuấn, ng-ời thầy đã trực tiếp h-ớng dẫn và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài
Nhân dịp này, cũng xin đ-ợc chân thành cám ơn Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ, Các phòng chức năng của Sở, Ban giám hiệu và các thầy cô giáo của các tr-ờng THPT trên địa bàn huyện Đoan Hùng; các bạn đồng nghiệp và những ng-ời thân đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng, song luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót
và hạn chế Kính mong nhận đ-ợc nhứng ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và những ng-ời quan tâm để luận văn
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHƢ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÍ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN THPT MỚI VÀO
1.1.1.2 Các chức năng quản lý trong quản lý giáo dục 8
1.1.2 Khái niệm “biện pháp” trong quản lý giáo dục 10
1.1.3 Quản lí nhà trường và vai trò của Hiệu trưởng 11
1.1.3.2 Vai trò của Hiệu trưởng nhà trường THPT 13 1.2 Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng trong quản lý phát triển đội ngũ giáo viên 14
1.2.1.2 Phát triển đội ngũ giáo viên
Trang 61.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhìn từ góc độ lý thuyết phát triển
1.2.2.1 Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực 16
1.2.2.2 Nội dung cơ bản của phát triển nguồn nhân lực và định hướng vận dụng
1.2.3 Quản lý Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 19
1.2.3.2 Bồi dưỡng chuyên môn và quản lý bồi dưỡng chuyên môn 20
1.2.3.3 Các điều kiện đảm bảo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 22 1.3 Hiệu trưởng THPT với nhiệm vụ quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn
1.3.1 Mục tiêu và các cấp độ quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn trong
1.3.1.2 Một số mục tiêu chủ yếu về phát triển đội ngũ giáo viên 23
1.3.2 Đặc điểm của giáo viên THPT mới vào nghề và yêu cầu đặt ra 25
1.3.2.1 Đặc điểm của giáo viên THPT mới vào nghề 25
1.3.2.2 Yêu cầu đối với giáo viên THPT mới vào nghề 25
1.3.3 Nội dung, quy trình quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với giáo
1.3.3.1 Nội dung quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với giáo viên
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế- xã hội của huyện Đoan Hùng 34
Trang 72.1.1.2 Khái quát về quy mô phát triển giáo 35
2.1.2 Về giáo dục THPT và đội ngũ giáo viên THPT huyện Đoan Hùng 37
2.2 Thực trạng quản lý công tác bồi dƣỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên
2.2.2 Khảo sát thực trạng quản lý trong công tác bồi dưỡng chuyên môn 44
2.2.2.1 Về việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ và kế hoạch quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên 45
2.2.2.2 Về tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của
2.2.2.3 Đánh giá thực trạng vai trò quản lý của tổ chuyên môn và các bộ phận
2.2.2.4 Vai trò của giáo viên mới trong công tác bồi dưỡng chuyên môn 49 2.3 Thực trạng biện pháp quản lý công tác bồi dƣỡng chuyên môn của Hiệu
2.3.1 Thực trạng biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với giáo
2.3.1.2 Về tổ chức bồi dưỡng việc lập kế hoạch cá nhân của giáo viên mới và quản lý kế hoạch bồi dưỡng giáo viên mới của các tổ chuyên môn 52
2.3.1.3 Nội dung chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn trong công tác bồi
dưỡng giáo viên mới về nghiên cứu chương trình dạy học và đổi mới PPDH 53
2.3.1.4 Về nội dung chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn trong việc bồi dưỡng
2.3.1.5 Về chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn trong việc thực hiện dạy học trên lớp và thực hiện nền nếp chuyên môn của GV mới 54
2.3.1.6 Về chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn trong việc hướng dẫn giáo viên
Trang 82.3.1.7 Về quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên mới 56
2.3.1.8 Về quản lí hồ sơ chuyên môn của giáo viên mới vào nghề 57 2.3.2 Thuận lợi, khó khăn trong việc quản lí công tác bồi dưỡng chuyên môn
2.3.2.3 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến việc Hiệu trưởng quản lí
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN
MÔN ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN MỚI VÀO NGHỀ Ở CÁC TRƯỜNG THPT
3.2 Các biện pháp quản lí công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với giáo viên
3.2.1 Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ
3.2.1.2 Nội dung và cách thức chỉ đạo thực hiện biện pháp 63
3.2.2 Xây dựng Chương trình và kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho GV
3.2.3 Tăng cường quản lí việc thực hiện nội dung chương trình, nền nếp dạy
3.2.3.2 Nội dung và cách thức chỉ đạo thực hiện biện pháp 69
Trang 93.2.4 Tăng cường quản lí việc đổi mới phương pháp và sử dụng phương tiện
3.2.4.2 Nội dung và cách thức chỉ đạo thực hiện biện pháp 72
3.2.5 Tổ chức kèm cặp, giúp đỡ GV mới vào nghề và giao lưu chuyên môn với
3.2.5.2 Nội dung và cách thức chỉ đạo thực hiện biện pháp 75
3.2.6 Tăng cường quản lí hoạt động tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên
3.2.6.2 Nội dung và cách thức chỉ đạo thực hiện biện pháp 77
3.2.7 Chú trọng các biện pháp tạo động lực phấn đấu bồi dưỡng chuyên môn
3.2.7.2 Nội dung và cách thức chỉ đạo thực hiện biện pháp 80
3.4 Khảo sát tính khả thi, cần thiết của các biện pháp quản lí đề xuất 83
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trước những yêu cầu mới về phát triển kinh tế - xã hội và của sự nghiệp đổi mới giáo dục, hơn bao giờ hết, vai trò đội ngũ giáo viên lại càng trở nên quan trọng trong sự nghiệp "trồng người" Nghị quyết TƯ 2 khoá VIII đã xác
định: “Xây dựng đội ngũ GV, tạo động lực cho người dạy, người học, tiếp tục
đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo, biến những mục tiêu giáo dục trở thành hiện thực” Luật giáo dục 2005, tại Điều 15, cũng đã ghi rõ: “Nhà
giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục…”
Mặt khác, trong các nhà trường nói chung, trong các trường THPT nói
riêng luôn có sự tiếp nối các thế hệ nhà giáo Vì vậy, việc phát triển đội ngũ
nhà giáo, đặc biệt là bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ, trong đó có các giáo viên mới vào nghề luôn là một công tác thường
xuyên, quan trọng và cấp thiết của quản lý nhà trường
Thực tế ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ cho thấy, quy mô trường lớp tăng nhanh, từ 01 trường THPT năm học 2000 - 2001 tăng lên 04 trường THPT năm học 2009- 2010 Đồng thời, để thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 27/11/2006 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về việc
phổ cập giáo dục bậc trung học giai đoạn 2006 – 2010, định hướng đến 2015
và các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo bậc trung học, riêng
các trường THPT công lập được giao thêm nhiệm vụ phổ cập giáo dục bậc
trung học phổ thông Bởi vậy, chỉ trong 2 năm học 2008 - 2009 và 2009 -
2010 Sở GD& ĐT Phú Thọ đã tiến hành tuyển mới một số lượng lớn giáo viên THPT làkhoảng 404 người trong đó riêng các trường THPT huyện Đoan
Hùng có62giáo viên mới (chiếm tỷ lệ 15,3%)
Số lượng giáo viên trẻ tăng nhanh, đó vừa là cơ hội để các trường THPT
có một lực lượng giáo viên kế cận cho sự nghiệp phát triển giáo dục THPT
Trang 11nói chung và các trường THPT huyện Đoan Hùng, Phú Thọ nói riêng Đó là một yêu cầu cấp thiết trong việc tạo nguồn nhân lực đủ và mạnh, đảm bảo thành công công tác phổ cập giáo dục THPT giai đoạn 2010 – 2015 của tỉnh Phú Thọ Tuy nhiên bên cạnh những mặt mạnh mà đội ngũ giáo viên trẻ mang lại, thì cũng tiềm ẩn những tồn tại Đa số giáo viên trẻ rất năng động và nhiệt huyết trong công việc, song kinh nghiệm thực tế giảng dạy và năng lực sư phạm còn nhiều hạn chế
Vậy phải làm gì để giúp những giáo viên mới vào nghề này trong thời gian ngắn có thể làm quen với công việc chuyên môn, đảm bảo chất lượng giảng dạy khi đứng trên bục giảng?
Trước thực tế đó, nhiều Hiệu trưởng trường THPT còn lúng túng, thậm chí còn chưa quan tâm đúng mức tới việc quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với giáo viên mới vào nghề
Tình hình mới và nhiệm vụ mới đang đòi hỏi công tác quản lý phát triển đội ngũ và bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mới vào nghề ở các trường THPT cần phải có những đổi mới nhất định Tìm được biện pháp quản lý
công tác bồi dưỡng chuyên môn phù hợp đối với bộ phận giáo viên mới này không những giúp họ tự tin, nhanh chóng cống hiến năng lực của mình, mà còn làm cho chất lượng giáo dục- dạy học của các nhà trường được nâng cao Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên cho nên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với giáo viên mới vào nghề ở các trường trung học phổ thông huyện Đoan Hùng, Phú Thọ giai đoạn 2010 – 2015 với mong muốn đóng góp một phần
nhỏ bé công sức của mình vào việc hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục THPT và phát triển đội ngũ giáo viên của tỉnh
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 12Đề xuất các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trong công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với đội ngũ giáo viên mới vào nghề ở các trường THPT trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2010- 2015
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Xác lập hệ thống khái niệm và các cơ sở lí luận khoa học quản lí liên
quan đến đề tài: quản lý nhà trường, phát triển đội ngũ, quản lý hoạt động
chuyên môn, biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn của Hiệu trưởng đối với giáo viên mới vào nghề…
3.2 Khảo sát thực trạng việc quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn của Hiệu
trưởng đối với giáo viên mới vào nghề ở các trường THPT huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trong công tác bồi
dưỡng chuyên môn nhằm nâng cao năng lực của giáo viên mới vào nghề ở các trường THPT huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ Khảo sát tính khả thi của các biện pháp quản lý đã đề xuất
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác phát triển đội ngũ trong hoạt động
quản lý nhà trường THPT
4.2 Đối tƣợng nghiên cứu: Hoạt động quản lý công tác bồi dưỡng chuyên
môn cho giáo viên mới vào nghề ở các trường THPT huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ phục vụ mục tiêu phổ cập giáo dục THPT (giai đoạn 2010- 2015)
5 Giả thuyết khoa học
Nếu các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng THPT trong công tác bồi
dưỡng chuyên môn đối với số giáo viên trẻ mới vào nghề được xác lập phù
hợp với các cơ sở lí luận quản lý nhà trường nói chung và lí luận quản lý phát triển đội ngũ nói riêng, phù hợp với các cơ sở thực tiễn và điều kiện thực tế của giáo dục THPT huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ sẽ giúp nhóm đối tượng
quản lý này nhanh chóng trưởng thành về năng lực chuyên môn, tự tin nghề
Trang 13nghiệp, góp phần giữ ổn định chất lượng dạy học của các trường THPT huyện Đoan Hùng phục vụ mục tiêu phổ cập giáo dục THPT (giai đoạn 2010- 2015)
và sự phát triển trong tương lai
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Đề tài tập trung nghiên cứu: Một số biện pháp quản lý của Hiệu trưởng
trong công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với giáo viên mới vào nghề ở các trường THPT trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Đề tài được triển khai nghiên cứu ở 3
trường THPT: THPT Đoan Hùng, THPT Quế Lâm, THPT Chân Mộng trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
6.3 Giới hạn về đối tượng khảo sát
- Số giáo viên mới vào nghề (thời gian công tác chưa quá 3 năm) ở các trường THPT trên địa bàn huyện Đoan Hùng
- Các Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trường THPT của huyện Đoan Hùng;
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết : Thu thập, phân tích, tổng
hợp các tài liệu lí luận quản lý giáo dục, các văn kiện Đảng các cấp, các văn bản pháp quy về giáo dục và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ đó rút ra cơ sở lý luận đề xuất các biện pháp quản lý
7.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến
đối với giáo viên mới vào nghề, cán bộ quản lý nhằm thu thập thông tin cần thiết về vấn đề được nghiên cứu
7.2.2 Phương pháp quan sát: Sử dụng các quan sát để thu thập thông tin về biện
pháp quản lí công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với giáo viên mới vào nghề
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Đọc, nghiên cứu hồ sơ chuyên
môn (giáo án, kế hoạch giảng dạy bộ môn,…) của giáo viên nói chung, của
Trang 14môn, đồng thời phát hiện thực trạng quản lí công tác bồi dưỡng chuyên môn của Hiệu trưởng các trường THPT trong địa bàn nghiên cứu
7.2.4 Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên
môn, giáo viên mới vào nghề về nhu cầu và về thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn làm căn cứ đề xuất những biện pháp quản lý hiệu quả
7.3 Phương pháp chuyên gia: Thông qua các Hiệu trưởng, các tổ trưởng
chuyên môn và một số giáo viên lâu năm để xác định các giải pháp tối ưu cho các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn
7.4 Phương pháp toán thống kê: Sử dụng các công thức toán để xử lý kết quả
khảo sát, định lượng kết quả nghiên cứu và các nhận xét, đánh giá khoa học
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương :
Chương 1 Cơ sở lí luận & Cơ sở pháp lí công tác bồi dưỡng chuyên
môn đối với giáo viên THPT mới vào nghề
Chương 2 Thực trạng quản lí công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với
giáo viên mới vào nghề ở các trường THPT huyện Đoan Hùng, Phú Thọ
Chương 3 Biện pháp quản lí công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với
giáo viên mới vào nghề ở các trường THPT huyện Đoan Hùng, Phú Thọ
Trang 15Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÍ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN THPT MỚI VÀO NGHỀ
1.1 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.1.1 Quản lí giáo dục và các chức năng quản lý
1.1.1.1 Quản lí giáo dục
Giáo dục là một hoạt động cơ bản của xã hội và "Quản lí giáo dục" là
một lĩnh vực chuyên biệt của hoạt động quản lý các quá trình xã hội
• Quản lý
Trong xu thế phát triển xã hội hiện nay, quản lý và khoa học quản lý đang trở thành nhu cầu tất yếu mọi lĩnh vực đời sống
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, “Hoạt
động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [21, tr.1]
Quản lý, cũng như các hoạt động khác đều có mục tiêu và các chức năng riêng của nó
• Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục (QLGD) được hiểu là hoạt động quản lý trong lĩnh vực
giáo dục và đào tạo, trong đó cơ bản là quản lý hoạt động dạy và học diễn ra
ở các cơ sở giáo dục- đào tạo Theo Trần Kiểm, QLGD có thể được hiểu ở
các cấp độ khác nhau, tuỳ theo việc xác định đối tượng quản lý
- Đối với cấp vĩ mô:
+ QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục (từ cấp cao nhất là hệ thống GD quốc dân, tới các cơ sở giáo dục là nhà
Trang 16trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đã đặt ra cho ngành giáo dục
+ Cũng có thể định nghĩa Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát … một
cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực,tài lực) phục vụ
cho mục tiêu phát triển giáo dục và yêu cầu phát triển KT-XH [25, tr.10]
- Đối với cấp vi mô:
QLGD ở cấp vi mô (cấp cơ sở) được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý một cơ sở giáo dục đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các nguồn lực xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường (của cơ sở), nhằm thực hiện các mục tiêu, kế hoạch, chương trình GD&ĐT đã các cấp trên đề ra
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang định nghĩa về QLGD: "Là sự tác động có
ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất" [31,
tr.56] Ông còn nói rõ hơn: Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có kế
hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý làm cho hệ vận hành theo đường lối
và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là qui trình dạy học - giáo dục thể hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất
Từ đó có thể hiểu: Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, Nhà nước, thực hiện được các tính chất của trường học xã hội chủ nghĩa của Việt Nam mà tiêu điểm là quá trình dạy học – giáo dục cho mọi người, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến đến trạng thái mới về chất
Trang 171.1.1.2 Các chức năng quản lý trong quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục chính là thực hiện các chức năng quản lý trong công
tác giáo dục, thông qua đó, bằng những biện pháp phù hợp với lý luận khoa học và các cơ sở thực tiễn, chủ thể quản lý tác động lên khách thể nhằm đạt những mục tiêu xác định
Trong các giáo trình kinh điển thường chỉ ra 4 chức năng cơ bản cơ bản
của hoạt động quản lý: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
- Chức năng lập kế hoạch:
Là vạch ra mục tiêu, các bước đi và phải tìm kiếm các biện pháp, cách thức phù hợp để thực hiện các bước đi
+ Bước chuẩn bị: Thu thập số liệu, dự báo tình hình phát triển kinh
tế-xã hội có liên quan Rà soát lại các thông tin môi trường, phác thảo mục tiêu, tính toán sơ bộ các nguồn lực, vật lực; Dự thảo kế hoạch, lấy ý kiến đóng góp nội bộ và tranh thủ ý kiến cấp trên, các chuyên gia …
+ Bước xây dựng kế hoạch chính thức:
Vạch ra chương trình hành động cụ thể của tổ chức theo thời gian cụ thể với mục đích, nội dung rõ ràng, phương pháp và phương tiện, hình thức hoạt động cụ thể và bộ phận thực hiện, kinh phí;
- Chức năng tổ chức:
Tập trung và tiếp nhận các nguồn lực; Thiết lập cấu trúc của bộ máy; Xác lập cơ chế phối hợp, giám sát Sắp đặt một cách khoa học và hợp lý các yếu tố, công việc, các bộ phận, ra quy định cho các thành viên trong một tổ
chức nhằm thực hiện tốt các kế hoạch và đạt mục tiêu tổng thể của tổ chức
- Chức năng chỉ đạo:
Là tác động chuyển hoá, biến tất cả những gì hoạch định, sắp xếp trở thành hiện thực Có phương thức động viên, khuyến khích con người dưới quyền làm việc có hiệu quả để đạt mục tiêu đã đề ra đồng thời phải có những
Trang 18Điều chỉnh, sửa đổi, thêm bớt… những tác nhân cần thiết, đảm bảo cho
hệ vận hành đúng hướng, duy trì và giữ vững mục tiêu của hệ thống
- Chức năng kiểm tra, đánh giá:
Thu thập thông tin ngược từ phía bộ máy để đạt hai mục đích: Nắm được trạng thái hoạt động, đánh giá thực trạng của bộ máy và nắm được mức độ khả thi, hiệu quả của các Quyết định quản lý để điều chỉnh cách quản lý, tạo
đà cho các chu kỳ hoạt động sau Nếu quản lý mà không kiểm tra thì coi như
là không quản lý
Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu còn đề nghị coi Thông tin quản lý cũng
có vai trò một chức năng cơ bản của quá trình quản lý
Sơ đồ 1.1 Quan hệ giữa các chức năng quản lý và thông tin
Năm chức năng cơ bản của quản lý: Kế hoạch hóa, Tổ chức, Chỉ đạo, Kiểm tra và Thông tin quản lý có quan hệ chặt chẽ, biện chứng, bổ sung cho
nhau và diễn ra có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian và không gian xác định, đưa hệ vận hành đến mục tiêu đã định trước gọi là chu trình quản lý
Trong chu trình đó, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với
Kiểm tra
Chỉ đạo Thông tin
Kế hoạch
Tổ chức
Trang 19vai trò vừa là điều kiện vừa là phương tiện để thực hiện các chức năng quản
lý Ví dụ, trong nhà trường thì thường là một năm học, hoặc một khoá học
1.1.2 Khái niệm “biện pháp” trong quản lý giáo dục
1.1.2.1 Khái niệm biện pháp quản lý
Theo từ điển Tiếng Việt: Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn
đề cụ thể [29]
Biện pháp quản lí là sự tác động, chỉ huy điều khiển các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển hợp với quy luật, đạt được mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lí
Biện pháp quản lí là những cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp quản lí Vì đối tượng quản lí phức tạp nên đòi hỏi các biện pháp quản lí phải
đa dạng, linh hoạt, phù hợp với đối tượng quản lí
Từ đó, trong phạm vi của đề tài, chúng tôi xác định: Biện pháp quản lí
là cách làm, cách giải quyết hợp lý trong từng hoàn cảnh, điều kiện, tình huống cụ thể, do chủ thể quản lý lựa chọn và ra quyết định nhằm thực thi các công việc cần thiết, hoặc xử lí các vấn đề đặt ra, từ đó giúp hệ thống/ đơn vị đạt được mục tiêu quản lí
1.1.2.2 Các biện pháp quản lí trong giáo dục
Các biện pháp quản lí được vận dụng thực thi trong lĩnh vực giáo dục-
đào tạo cũng được gọi là các biện pháp quản lý giáo dục
Trong các giáo trình kinh điển về quản lý học thường đưa ra 3 loại
phương pháp cơ bản trong quản lý: Các phương pháp hành chính - tổ chức,
Các phương pháp xã hội- tâm lý (phương pháp tâm lý- giáo dục) và Các
phương pháp kinh tế Biện pháp là các cách thức cụ thể, là bộ phận cấu
thành của một phương pháp, do đó có thể dựa trên các loại phương pháp cơ
bản này mà xác định các nhóm biện pháp trong quản lý giáo dục
Các biện pháp hành chính tổ chức: là cách tác động trực tiếp của chủ
Trang 20hành chính bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định đảm bảo mục tiêu giáo dục
và hiệu quả các hoạt động giáo dục
Các biện pháp xã hội- tâm lý (còn được gọi là biện pháp tuyên truyền,
giáo dục và thuyết phục) là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý ứng dụng thành tựu các khoa học như Tâm lý học, Khoa học giáo dục nhằm khai thác tiềm năng con người, kích thích ý thức tự giác, lòng say mê, sự sáng tạo của con người trong mọi hoạt động của tổ chức
Mặt khác, cũng là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản
lý là con người, dựa trên cơ sở dùng lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và
tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với yêu cầu quản lý
Các biện pháp kinh tế: là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý dựa trên cơ sở thuyết động lực kinh tế, với luận điểm: lợi ích kinh tế sẽ tạo nên động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động mà không cần sự can thiệp trực tiếp về mặt hành chính của cấp trên
Các biện pháp quản lí nói chung, các biện pháp quản lý giáo dục nói riêng thường có liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống các biện pháp trong hệ thống quản lí, sẽ giúp cho nhà quản lí thực hiện tốt các phương pháp quản lí của mình mang lại hiệu quả hoạt động tối ưu của bộ máy
1.1.3 Quản lí nhà trường và vai trò của Hiệu trưởng
1.1.3.1 Quản lí nhà trường
Nhà trường (cơ sở giáo dục- đào tạo, trường học) là các thiết chế chuyên biệt của xã hội, nơi tổ chức, quản lí và trực tiếp thực hiện các hoạt động giáo dục- dạy học Trong các hoạt động giáo dục- dạy học, có nhiều mối quan hệ chức năng và
và các quan hệ xã hội đa dạng: giữa người học và người dạy (theo nghĩa rộng), giữa người học với nhau, giữa những người làm công tác giáo dục với nhau, giữa nhà quản lý và các đối tượng quản lý chi phối lẫn nhau để thực hiện mục tiêu,
Trang 21yêu cầu của xã hội Quá trình (hoạt động) giáo dục- dạy học chủ yếu được thực hiện bởi hai chủ thể: người được giáo dục và người giáo dục luôn luôn tương tác với nhau
Quản lý nhà trường chính là hoạt động QLGD cấp cơ sở (của một cơ
cấu/ tổ chức giáo dục) Đó là sự thực thi trực tiếp các chức năng quản lý đến
các hoạt động giáo dục- học tập trong phạm vi nhà trường Hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phức tạp nên việc quản lý nhà trường cũng là hoạt động phức tạp
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lí nhà trường thực chất và cơ
bản là quản lí các hoạt động giáo dục- dạy học, tức là làm sao đưa các hoạt
động đó từ trạng thái vốn có sang một trạng thái khác cao hơn, để dần tiến tới mục tiêu giáo dục
Quản lí nhà trường bao gồm 2 loại: (1) tác động của những chủ thể quản
lí cấp trên và bên ngoài trường học; (2) tác động của những chủ thể quản lí bên trong trường học
Quản lí nhà trường do chủ thể quản lí cấp trên và bên ngoài trường học tác động bao gồm những hoạt động quản lí của các cơ quan quản lí giáo dục
cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của trường học Đó là những chỉ dẫn, quyết định từ Bộ, Sở, Phòng GD&ĐT và của các cấp chính quyền đoàn thể từ bên ngoài trường học nhưng
có liên quan trực tiếp đến trường học
Quản lí nhà trường do chủ thể quản lí bên trong nhà trường tác động bao
gồm: Quản lí GV, quản lí HS, quản lí quá trình dạy học – giáo dục, quản lí cơ sở vật chất trang thiết bị trường học, quản lí tài chính trường học, quản lí lớp học, quản lí mối quan hệ giữa trường học và cộng đồng
Sự phân chia quản lí theo hai loại như trên chỉ là tương đối Thực tế, trong quá trình quản lí thì quản lí từ cấp trên xuống các cấp trung gian và cấp
Trang 22đồng bộ và kết hợp hài hòa, xuyên suốt theo bốn chức năng quản lí: kế hoạch
- tổ chức - chỉ đạo - kiểm tra, đánh giá
Như vậy, xét một cách chung nhất: Quản lí nhà trường thực chất là
những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí lên tất cả các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực )và các điều kiện bằng nhiều hình thức, nhằm đẩy mạnh hoạt động giáo dục-dạy học của nhà trường tiến tới các mục tiêu giáo dục với chất lượng và hiệu quả cao hơn, đồng thời đưa nhà trường phát triển lên một tầm cao mới
1.1.3.2 Vai trò của Hiệu trưởng nhà trường THPT
Trường học nói chung, trường THPT nói riêng là cơ sở GD&ĐT thuộc
hệ thống GD quốc dân, là cơ quan hành chính- sự nghiệp của nhà nước Hiệu trưởng là thủ trưởng cơ quan đó, là người chịu trách nhiệm quản lí, tổ chức, điều hành các hoạt động giáo dục của nhà trường, và chịu trách nhiệm với cấp trên về toàn bộ các hoạt động giáo dục theo quy định của nhà nước Hiệu trưởng có quyền xử lý và ra quyết định theo đúng quyền hạn và chức trách của mình
Hiệu trưởng có thẩm quyền cao nhất về mặt hành chính và chuyên môn Hiệu trưởng quản lí nhà trường thông qua các chức năng quản lí ( Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và thông tin quản lý) nhằm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ giáo dục-đào tạo
- Xây dựng kế hoạch, tổ chức bộ máy nhà trường và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học như: tiếp nhận HS; quản lí cán bộ GV, nhân viên, HS;
- Quản lí chuyên môn; quản lí và tổ chức giáo dục HS;
- Quản lí hành chính, tài chính, tài sản nhà trường; thực hiện các chế độ chính sách đối với GV, nhân viên, HS; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan;
Trang 23- Phối hợp với gia đình HS, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt động giáo dục; tổ chức cho GV, nhân viên và HS tham gia các hoạt động xã hội trong phạm vi cộng đồng, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật…
- Hiệu trưởng tự tổ chức, kiểm tra, đánh giá nhà trường để tự điều chỉnh nhà trường hướng đến mục tiêu đào tạo hiệu quả nhất
-
Để làm tốt chức trách quản lý của mình, người hiệu trưởng trước hết phải
là người có phẩm chất chính trị tốt, chuyên môn vững vàng, hiểu biết rộng, có trình độ lí luận về khoa học quản lí, là người biết vận động, thu hút quần chúng thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường, biết vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong nhà trường, phát huy tốt tinh thần dân chủ, sáng tạo, đoàn kết trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lí chuyên môn của mình nhằm đạt được kết quả mong muốn
1.2 Vấn đề đào tạo, bồi dƣỡng trong quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
1.2.1 Khái niệm phát triển đội ngũ giáo viên
1.2.1.1 Đội ngũ và phát triển đội ngũ
Khái niệm đội ngũ được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực: đội
ngũ giáo viên (đội ngũ nhà giáo), đội ngũ y bác sỹ, hoặc đội ngũ công nhân trong nhà máy, xí nghiệp
Trong Từ điển tiếng Việt, “đội ngũ” thường được dùng để chỉ một tập hợp đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng [30]
Đội ngũ, theo tác giả Đặng Quốc Bảo, là một tập thể người gắn kết với
nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, rằng buộc nhau về vật chất, tinh thần
và hoạt động theo một nguyên tắc”; thường dùng rộng rãi để chỉ: đội ngũ cán
bộ công chức, viên chức, đội ngũ văn nghệ sĩ, đội ngũ nhà giáo, đội ngũ trí
Trang 24Trong Triết học biện chứng duy vật, “Phát triển” là khái niệm dùng để
"khái quát quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn" Trong quá trình phát triển, "Sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mơi, cao hơn, phức tạp hơn; làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức vận động và chức năng của sự vật ngày càng hoàn thiện hơn" Do đó, phát triển được hiểu là "Sự thay đổi, chuyển biến tạo ra cái mới theo hướng tích cực, tốt hơn" [32, tr.323]
Phát triển đội ngũ chính là sử dụng các biện pháp quản lý tác động về
mặt nhân sự của một tổ chức, nhằm xây dựng một đội ngũ người lao động cùng chung một mục đích, lý tưởng mà trong đó các thành viên là một nhân
tố quan trọng với đầy đủ trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức với những tri thức mới, tập hợp thành một khối đoàn kết thống nhất đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức đó Như vậy, phát triển đội ngũ cũng thuộc phạm trù
“Phát triển nguồn nhân lực” trong các lý thuyết quản lý
1.2.1.2 Phát triển đội ngũ giáo viên
Phát triển đội ngũ giáo viên (phát triển ĐNGV) là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong lý luận quản lý giáo dục nói chung và lý luận
về quản lý nhà trường nói riêng
“Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ
sở giáo dục khác Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên" [điều 70, Luật giáo dục, 2005]
Từ trên ta có thể quan niệm: Đội ngũ giáo viên” (ĐNGV) là tập hợp
những nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp có chung nhiệm vụ, vai trò và trách nhiệm nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục được quy định tại Luật giáo dục, Điều lệ và Quy chế trường học
Trang 25Phát triển đội ngũ giáo viên có nghĩa là tác động quản lý làm cho đội
ngũ giáo viên có sự thay đổi số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ giáo viên; thực chất là có sự thay đổi đội ngũ giáo viên về cả "lượng" và "chất" đáp ứng nhu cầu, vừa tăng qui mô và nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục trong giai đoạn mới
Phát triển ĐNGV thực chất là quá trình chuẩn bị lực lượng để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển của nhà trường Trong quá trình chuẩn bị lực lượng
đó phải chú ý toàn diện về số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thái độ trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, tinh thần tâm huyết với nghề trong mỗi một giáo viên đối với nhà trường
Để đạt được điều đó, phát triển ĐNGV phải gắn liền với việc tuyển chọn,
đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng, tạo môi trường sư phạm và một điều
không thể không quan tâm, việc phát triển ĐNGV trong giai đoạn hiện nay
còn là chế độ chính sách trọng dụng và thu hút nhân tài
1.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhìn từ góc độ lý thuyết phát triển nguồn nhân lực
1.2.2.1 Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực
Mối quan hệ giữa quản lý phát triển đội ngũ giáo viên với quản lý phát triển nguồn nhân lực cả về lý luận và thực tiễn là rất mật thiết và rõ ràng
Phát triển nguồn nhân lực
Là quá trình biến đổi nguồn nhân lực dựa trên sự phát triển tiềm năng của con người cả về năng lực vật chất và năng lực tinh thần, hoàn thiện con người cả về đạo đức và tay nghề, cả tâm hồn và hành vi, từ mức độ chất lượng thấp đến mức độ ngày càng cao, càng toàn diện hơn Trong đó bao gồm cả 3 yếu tố: đào tạo nhân lực, sử dụng nhân lực, tạo môi trường lao động nuôi dưỡng nhân lực phù hợp và thuận lợi để mỗi con người lao động có hiệu quả Theo nghĩa hẹp hơn, phát triển nguồn nhân lực cũng được hiểu như là
Trang 26dụng và quản lý môi trường lao động (sơ đồ 1.2) Trong đó, đào tạo nguồn nhân lực - một trong 3 thành tố cơ bản của phát triển nguồn nhân lực, đồng thời cũng là hạt nhân của quản lý nguồn nhân lực
Đào tạo nguồn nhân lực
Đào tạo nguồn nhân lực là một yếu tố cơ bản và là một bước khâu quan trọng của phát triển nguồn nhân lực, bao gồm quá trình giáo dục, đào tạo và tái đào tạo, làm phát triển tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh
tế xã hội nâng cao chất lượng cuộc sống (theo UNDP, World Bank) Đào tạo nguồn nhân lực gồm có nhiều loại hình khác nhau:
- Đào tạo cơ bản: dài hạn, chính qui chuẩn bị cho sự tham gia lao động Được đào tạo trong các cơ sở đào tạo chính quy, hoặc không chính quy với một chương trình được quy định trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất (bao gồm cả giáo dục phổ thông)
- Đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng, tái đào tạo: được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các hệ, bậc đào tạo là minh chứng đã có những kiến thức, kỹ năng
và thái độ cần thiết để có thể hành nghề lao động (Ví dụ, các lớp bồi dưỡng Nghiệp vụ sư phạm, bồi dưỡng về đổi mới PPDH )
- Đào tạo tạo nguồn: chủ yếu là thông qua hệ thống giáo dục phổ thông giáo dôc ĐH, CĐ nhằm chuẩn bị nền tảng nhân cách cho các loại hình, bậc đào tạo tiếp theo
Sử dụng nhân lực và tạo môi trường nuôi dưỡng nguồn nhân lực
Quản lý nhân lực còn bao gồm cả khâu bố trí hợp lý và sử dụng hiệu quả nhân lực: vừa đảm bảo phù hợp chức năng, yêu cầu của hệ thống, của công việc ; vừa đảm bảo phù hợp năng lực từng người, tạo cơ hội phát triển từng
cá nhân trong việc lựa chọn, bố trí công tác thích hợp
Trang 27Sơ đồ 1.2 Phát triển nguồn nhân lực
Mặt khác, Quản lý nhân lực cũng bao gồm tạo môi trường nuôi dưỡng nguồn nhân lực Trọng tâm của vấn đề này là xây dựng và phát triển môi trường văn hoá quản lý - cũng gọi là „„văn hoá tổ chức‟‟, tạo lập các giá trị sống và tinh thần làm việc hiệu quả
Riêng về vấn đề xây dựng „‟văn hoá tổ chức‟‟ trong nhà trường, hay
„„Văn hóa nhà trường” cần được chú ý đặc biệt trong quản lý ĐNGV
Như vậy, quản lý phát triển đội ngũ nói chung và quản lý ĐNGV nói riêng cũng thuộc phạm vi nội dung phát triển nguồn nhân lực Vì vậy, hoàn toàn có thể xem xét vấn đề quản lý phát triển ĐNGV dựa trên các cơ sở lý luận phát triển nguồn nhân lực
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 của Thủ tướng Chính phủ
đã nêu rõ: Tạo bước chuyển cơ bản về chất lượng, ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao… Phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy -
- Giáo dục đào tạo, bồi
dưỡng huấn luyện
- Tự học, tự nghiên cứu
- Mở rộng chủng loại việc làm
- Mở rộng quy mô việc làm
- Phát triển tổ chức
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Trang 28học, đổi mới quản lý giáo dục, tạo cơ sở pháp lý và phát huy nội lực để phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực
Để thực hiện được những mục tiêu nêu trên, trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 cũng nêu bảy nhóm giải pháp chung về giáo dục Trong các giải pháp đó, giải pháp đổi mới chương trình giáo dục và phát triển đội ngũ nhà giáo là các giải pháp trọng tâm và đổi mới quản lý giáo dục là khâu đột phá
1.2.2.2 Nội dung cơ bản của phát triển nguồn nhân lực và định hướng vận dụng trong quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
Nội dung cơ bản của việc phát triển nguồn nhân lực chủ yếu tập trung vào việc xây dựng, thực thi chính sách chủ động thông thoáng cho sự vận hành của cơ chế quản lý và phát triển nguồn nhân lực ở cấp vi mô, với các nội dung sau:
- Kế hoạch hoá phát triển đội ngũ
- Tuyển dụng
- Giúp giáo viên mới hoà nhập với tổ chức
- Bồi dưỡng, tái đào tạo mở rộng
- Sử dụng hiệu quả
- Đánh giá
- Đề bạt bổ nhiệm, điều động thuyên chuyển, kỷ luật và sa thải
1.2.3 Quản lý Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
1.2.3.1 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
Đào tạo và bồi dưỡng là các phương thức cơ bản để phát triển đội ngũ
nói chung và phát triển đội ngũ giáo viên nói riêng
Đào tạo đội ngũ giáo viên, được hiểu là hoạt động học tập trong các cơ
sở đào tạo chính quy, nhằm trang bị một trình độ chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ viên chức hoạt động chuyên nghiệp trong
Trang 29lĩnh vực giáo dục Việc đào tạo đội ngũ giáo viên thường được thực hiện ở tại các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng của nhà nước, hoặc nước ngoài, hoặc thực hiện bằng phương thức liên kết đào tạo tại các cơ sở GD&ĐT
Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là việc hướng đội ngũ giáo viên vào việc
duy trì và hoàn thiện kết quả thực hiện công việc chuyên môn (bao gồm cả tri thức, kĩ năng nghiệp vụ sư phạm) hiện có, đang diễn ra, hướng vào việc hình thành một trình độ tri thức, kỹ năng cao hơn, đáp ứng tốt hơn cho các công việc đó Trong đó, bồi dưỡng chuyên môn là nội dung cơ bản và xuyên suốt Bên cạnh đó còn có các nội dung khác (tư tưởng chính trị, lý tưởng nghề nghiệp, các phẩm chất nhà giáo )
Có nhiều hình thức/phương pháp bồi dưỡng khác nhau, đó là bồi dưỡng tại chỗ (tự bồi dưỡng qua công việc, báo cáo chuyên đề, giải đề thi tốt nghiệp, đề thi học sinh giỏi ) và bồi dưỡng từ bên ngoài cơ sở (thông qua các lớp tập huấn, các hội nghị chuyên đề )
Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ở các trường THPT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của các nhà trường, từ đó quyết định đến chất lượng của "sản phẩm" đầu ra của các nhà trường phổ thông trong giai đoạn mới
1.2.3.2 Bồi dưỡng chuyên môn và quản lý bồi dưỡng chuyên môn
Bồi dưỡng chuyên môn là mục tiêu và cũng là nội dung cơ bản, xuyên
suốt của “Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên”, bên cạnh các nội dung bồi dưỡng khác, như về tư tưởng- chính trị, về đạo đức nhà giáo, về ý thức và lý tưởng
nghề nghiệp
Bồi dưỡng chuyên môn thuộc phạm trù phát triển đội ngũ và phát triển
nguồn nhân lực Đó là việc hướng đội ngũ giáo viên vào việc hoàn thiện kết quả đào tạo cơ bản, nâng cao trình độ chuyên môn (bao gồm cả tri thức, kĩ năng nghiệp vụ sư phạm) nhằm thực hiện tốt công việc chuyên môn hiện có,
Trang 30đang diễn ra, đồng thời giúp họ hình thành một trình độ tri thức, kỹ năng cao hơn, đáp ứng tốt hơn cho các công việc được giao
Nội dung bồi dưỡng chuyên môn, xét từ góc độ quản lý chuyên môn
(quản lý giáo dục- dạy học) và góc độ hoạt động, chính là một hệ thống tác động nhằm tăng cường năng lực thực hiện các hoạt động chuyên môn của người giáo viên, bao gồm tổng thể kiến thức, kĩ năng thuộc chuyên môn giảng dạy; kiến thức, kĩ năng nghiệp vụ sư phạm và động cơ, thái độ nghề nghiệp trực tiếp phục vụ cho hoạt động dạy học từng môn học nói riêng, phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nói chung
Các loại hình bồi dưỡng chuyên môn: bồi dưỡng chuyên môn thường
xuyên và bồi dưỡng chuyên môn cho đối tượng mới vào nghề
Các chủ thể hoạt động bồi dưỡng chuyên môn: Lãnh đạo trường, Tổ
trưởng chuyên môn, nhóm chuyên môn (môn học, khối lớp) Hiệu trưởng nhà trường vừa là Chủ thể quản lý các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn trong nhà trường, đồng thời cũng có thể tham gia với tư cách là một chủ thể
hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
Quản lí công tác bồi dưỡng chuyên môn là một nội dung quan trọng
của công tác quản lý nhà trường nói chung và của công tác quản lý phát triển đội ngũ nói riêng nhằm đảm bảo cho các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn đạt được các mục tiêu, kế hoạch đề ra, đảm bảo chất lượng và hiệu quả của chương trình, nội dung bồi dưỡng, của kết quả bồi dưỡng góp phần phát triển đội ngũ
Quản lí công tác bồi dưỡng chuyên môn trong một nhà trường là sự
tác động có chủ đích của người lãnh đạo (hiệu trưởng) đến đội ngũ giáo viên thuộc quyền, thông qua các biện pháp, công cụ mang tính đặc thù trong việc thực hiện các chức năng quản lý, nhằm giúp họ hoàn thiện kết quả đào tạo cơ bản, nâng cao trình độ chuyên môn (bao gồm cả tri thức, kĩ năng nghiệp vụ
sư phạm), đảm bảo năng lực thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn được
Trang 31giao phó, đồng thời đáp ứng tốt hơn cho mục tiêu đào tạo và phát triển nhà trường
1.2.3.3 Các điều kiện đảm bảo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
Để công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên được tiến hành một cách thuận lợi, hiệu quả thì cần phải có các điều kiện sau:
Điều kiện về con người (đội ngũ giáo viên): đây là điều kiện đóng vai
trò quyết định cho sự thành công trong công tác đào tạo, bồi dưỡng Chỉ khi con người có nhu cầu muốn vươn lên, muốn thử thách, muốn được khẳng định mình thì khi đó việc đào tạo, bồi dưỡng mới có hiệu quả đích thực Do vậy người quản lý cần quan tâm, động viên, khuyến khích kịp thời để các giáo viên, vui vẻ phấn khởi, hào hứng tham gia đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn đạt kết quả tốt nhất
Điều kiện về tài chính: bên cạnh yếu tố con người thì yếu tố tài chính,
có một vai trò rất to lớn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Đảm bảo đủ các chế độ, chính sách cho người đi học, đồng thời có những hỗ trợ tài chính hợp lý từ các nguồn xã hội hóa của nhà trường, cho giáo viên tham gia đào tạo, bồi dưỡng sẽ là nguồn động viên, khuyến khích rất có ý nghĩa, đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
Điều kiện cơ sở vật chất: Việc có đủ cơ sở vật chất, đáp ứng nhu cầu
dạy và học của giáo viên và học sinh, như: có đủ lớp học, phòng học bộ môn, phòng chức năng, thiết bị thí nghiệm, đồ dùng dạy học, sách tham khảo, Internet và cảnh quan nhà trường "xanh - sạch - đẹp" Với cơ sở vật chất đầy đủ, sẽ tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ giáo viên rèn luyện chuyên môn, đặc biệt là công tác tự bồi dưỡng
Với sự hội đủ của các điều kiện trên sẽ góp phần đảm bảo cho quá trình đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên đạt được hiệu quả cao nhất
Trang 321.3 Hiệu trưởng THPT với nhiệm vụ quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với giáo viên mới vào nghề
1.3.1 Mục tiêu và các cấp độ quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn trong trường THPT
1.3.1.1 Một số căn cứ pháp lý
Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, khi nói
về công tác giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, đã xác định rõ: “Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo
và độc lập suy nghĩ của sinh viên ”
Trên cơ sở đó, Quốc hội và Chính phủ đã chỉ đạo ngành Giáo dục- Đào tạo nghiên cứu và triển khai Đổi mới giáo dục các bậc học
Đề án "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010" của Thủ tướng chính phủ ngày 11 tháng
01 năm 2005, trong Mục tiêu tổng quát đã xác định : Xây dựng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình
độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước 1.3.1.2 Một số mục tiêu chủ yếu về phát triển đội ngũ giáo viên
Đề án "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010" của Thủ tướng chính phủ đã chỉ rõ:
(1) Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, đảm bảo đến năm
2010 đáp ứng đủ về số lượng, đạt tỷ lệ bình quân số sinh viên và giảng viên
là 20/1; 40% giảng viên có trình độ thạc sĩ, 25% có trình độ tiến sĩ
Trang 33(2) Triển khai có hệ thống và chuẩn hoá công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên các trường ĐH,CĐ: bảo đảm cho các nhà giáo được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm theo quy định của Luật giáo dục; nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo phải phù hợp với yêu cầu của từng bậc học
(3) Tiếp tục bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện và thực hiện chính sách ưu đãi đối với nhà giáo, khuyến khích đội ngũ nhà giáo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đẩy mạnh sự gắn kết chặt chẽ giảng dạy với nghiên cứu khoa học; đổi mới công tác quản lý, sử dụng và giao biên chế ngành giáo dục nhằm nâng cao quyền và trách nhiệm của đội ngũ nhà giáo
(4) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, trách nhiệm của nhà giáo về nhiệm vụ xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tụy với nghề Làm trụ cột thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Trong luật giáo dục 2005 tại điều 72 đã quy định rõ các yêu cầu đối với giáo viên phổ thông:
(1) Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục;
(2) Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật
và điều lệ nhà trường;
(3) Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;
(4) Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học;
Trang 341.3.2 Đặc điểm của giáo viên THPT mới vào nghề và yêu cầu đặt ra
Giáo viên THPT mới vào nghề là những GV mới tốt nghiệp từ các
trường Đại học Sư phạm hoặc các trường Đại học khác tương đương, có
chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm theo quy định để hành nghề và đang công tác
tại các trường THPT chưa quá 3 năm
1.3.2.1 Đặc điểm của giáo viên THPT mới vào nghề
Giáo viên THPT mới vào nghề là những người còn rất trẻ cả về tuổi đời
và tuổi nghề GV mới vào nghề là những người có lòng nhiệt tình, tận tâm với công việc, muốn khẳng định mình từ những bước đi đầu tiên
Hầu hết GV mới vào nghề là những GV năng động, yêu nghề, thể hiện lòng yêu quý học trò bằng những tiết dạy cuốn hút với tất cả tình thương, trách nhiệm và niềm tin vào nghề nghiệp
GV mới vào nghề luôn có tinh thần trách nhiệm cao vì công việc, không ngại khó khăn, có ý thức cầu tiến, trau dồi tri thức, kinh nghiệm cho bản thân
Tuy nhiên, đội ngũ GV mới vào nghề còn thiếu nhiều kinh nghiệm giảng
dạy, cũng như kỹ năng nghiệp vụ sư phạm và cách giải quyết các tình huống
sư phạm trong quá trình dạy học Một bộ phận GV mới vào nghề có năng lực chuyên môn chưa đáp ứng với yêu cầu mới, còn nóng vội, chủ quan trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục hoặc khi lên lớp Một số ít GV trẻ còn dễ
vi phạm chuẩn mực nhà giáo đối với HS và cha mẹ HS, vi phạm quy chế thi, đạo đức nhà giáo
Người quản lý nhà trường, trước hết là Hiệu trưởng, cần nắm bắt những đặc điểm này của “nhóm” GV trẻ để thực hiện hiệu quả các biện pháp bồi dưỡng phát triển đội ngũ GV và tạo được hiệu quả quản lý nhà trường nói chung
1.3.2.2 Yêu cầu đối với giáo viên THPT mới vào nghề
Nhiệm vụ giáo dục ngày càng nặng nề hơn, đòi hỏi của xã hội ngày càng
cao, tạo sức ép lớn đối với sự nghiệp giáo dục nói chung và các nhà trường
Trang 35THPT nói riêng Hơn ai hết những giáo viên trẻ, lực lượng nòng cốt trong các nhà trường THPT phải hiểu được trách nhiệm của mình rất nặng nề, để họ không ngừng rèn luyện và phấn đấu vì sự nghiệp giáo dục chung của toàn xã hội trong thời đại mới
Đứng trước sự thay đổi ngày càng mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, của đời sống xã hội, giáo dục luôn phải thay đổi và mỗi người giáo viên cũng thích ứng để phù hợp với sự phát triển đó
Ngày 22 tháng 10 năm 2009 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành thông tư
số 30/2009/TT-BGDĐT về “Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung
học cơ sở; giáo viên trung học phổ thông”
Với mục đích:
(1) Giúp giáo viên trung học tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực nghề nghiệp , từ đó xây dựng kế hoạch rèn luyện phẩm chất đạo đức và nâng cao trình độ chuyên môn , nghiệp vụ
(2) Làm cơ sở để đánh giá, xếp loại giáo viên hằng năm phục vụ công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ giáo viên trung học
(3) Làm cơ sở để xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trung học
(4) Làm cơ sở để nghiên cứu , đề xuất và thực hiện chế độ chính sách đối với giáo viên trung học ; cung cấp tư liệu cho các hoạt động quản lý khác
Chuẩn nghề nghiệp GV trung học cơ sở, GV THPT bao gồm 6
tiêu chuẩn với 25 tiêu chí Đó là hệ thống các yêu cầu cơ bản đối
với GV trung học về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ Đó thực sự là “Khuôn”, “thước” để các
Trang 36dựng các kế hoạch cải tiến, nhằm phát huy tối đa những mặt mạnh, đồng thời hạn chế và khắc phục những tồn tại của đội ngũ GV Bên cạnh đó các GV nói chung, GV mới vào nghề nói riêng có thể tự đánh giá mình, từ đó đưa ra các điều chỉnh cần thiết cho bản thân về việc tu dưỡng đạo đức, rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ để thỏa mãn chuẩn quy định
Các mục tiêu cụ thể mà giáo viên THPT mới vào nghề cần đạt:
Về thái độ nghề nghiêp: có đạo đức, nhân cách và lối sống lành
mạnh, trong sáng của nhà giáo; chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Chấp hành quy chế của ngành, quy định của nhà trường, luôn có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp; yêu nghề, tận tuỵ với nghề, sẵn sàng khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục học sinh Trung thực trong công tác; đoàn kết trong quan hệ đồng nghiệp; hết lòng phục vụ nhân dân và học sinh
Về trình độ chuyên môn: có trình độ chuyên môn được đào tạo theo
đúng chuẩn trình độ của giáo viên THPT Nắm vững mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình, sách giáo khoa của các môn học được phân công giảng dạy; có kiến thức chuyên sâu, đồng thời có khả năng hệ thống hoá kiến thức trong cả cấp học để nâng cao hiệu quả giảng dạy đối với các môn học được phân công giảng dạy Biết vận dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt, phù hợp với nội dung kiến thức cần truyền tải, phù hợp với đặc thù của bộ môn và phù hợp với từng đối tượng học sinh Có kiến thức về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh, vận dụng vào việc đánh giá học sinh chính xác, khách quan theo đúng các qui định hiện hành Có kiến thức phổ thông về chính trị, xã hội và nhân văn, kiến
Trang 37thức liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu dạy học Có hiểu biết cơ bản về nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, huyện, xã nơi công tác
Về nghiệp vụ sư phạm: biết cách lập các loại kế hoạch cá nhân (kế
hoạch dạy học, kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn,…), trong năm học
và từng học kỳ, nhằm cụ thể hoá chương trình giáo dục của bộ môn, theo phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT và các văn bản hướng dẫn của Sở GD&ĐT Biết soạn giáo án theo hướng đổi mới, thể hiện các hoạt động dạy học tích cực của thầy và trò Xây dựng môi trường học tập thân thiện, hợp tác, lựa chọn và kết hợp tốt các PPDH thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp phát huy được tính năng động sáng tạo, chủ động học tập của học sinh Biết cách hướng dẫn học sinh tự học Sử dụng hình thức kiểm tra đánh giá phù hợp đối tượng học sinh, sử dụng kết quả kiểm tra điều chỉnh việc học tập của học sinh một cách tích cực Biết khai thác và sử dụng tốt thiết bị, đồ dùng dạy học nhằm hỗ trợ quá trình học tập của học sinh Ngôn ngữ giảng dạy trong sáng, trình bày rõ ràng, mạch lạc các nội dung của bài học Nói rõ ràng, rành mạch, không nói ngọng khi giảng dạy và giao tiếp trong phạm vi nhà trường Có các biện pháp giáo dục cá biệt phù hợp Có khả năng phối hợp với gia đình và các đoàn thể ở địa phương để theo dõi, làm công tác giáo dục học sinh Tổ chức các buổi sinh hoạt tập thể thích hợp Thường xuyên trao đổi góp ý với học sinh về tình hình học tập, tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các giải pháp để cải tiến chất lượng học tập sau từng học kỳ Biết cách xử lí các tình huống cụ thể để giáo dục học sinh và vận dụng vào tổng kết sáng kiến kinh nghiệm giáo dục; ứng xử với đồng nghiệp, cộng đồng luôn giữ đúng phong cách nhà giáo Xây
Trang 381.3.3 Nội dung, quy trình quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với giáo viên THPT mới vào nghề
1.3.3.1 Nội dung quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với giáo viên THPT mới vào nghề
- Bồi dưỡng ý thức nghề nghiệp, tập huấn chuyên môn và giao nhiệm vụ theo phân cấp quản lý (Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn, nhóm trưởng )
- Tổ chức bồi dưỡng việc lập kế hoạch cá nhân của giáo viên mới và quản lý kế hoạch bồi dưỡng giáo viên mới của các Tổ chuyên môn
- Chỉ đạo hoạt động của Tổ chuyên môn trong công tác bồi dưỡng giáo viên mới về nghiên cứu chương trình dạy học và đổi mới PPDH
- Chỉ đạo hoạt động của Tổ chuyên môn trong việc bồi dưỡng giáo viên mới chuẩn bị bài trước khi lên lớp
- Chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn trong việc thực hiện dạy học trên lớp và thực hiện nề nếp chuyên môn của giáo viên mới
- Chỉ đạo hoạt động của Tổ chuyên môn trong việc hướng dẫn giáo viên mới thực hiện kiểm tra đánh giá kết quả học tập đúng qui định
- Quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên mới
- Quản lí hồ sơ chuyên môn của giáo viên mới và đánh giá sự tiến bộ
1.3.3.2 Quy trình quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên THPT
Quy trình quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn
Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn, là một hoạt động quản lí trong nhà trường THPT Do vậy quy trình quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cũng bao gồm bốn công đoạn, tương ứng với các chức năng quản lý giáo dục (kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, thông tin quản lý)
Ứng với mỗi “khâu” của quy trình có thể xác định các (nhóm) biện pháp thực hiện phù hợp
Trang 39Khảo sát nhu cầu và lập kế hoạch: Xây dựng kế hoạch quản lý công tác
bồi dưỡng chuyên môn, là công việc đầu tiên và cực kỳ quan trọng Ngay từ đầu năm học, Hiệu trưởng, các tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn phải xây dựng được kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên Các bản
kế hoạch phải xác định rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp, cách thức, điều kiện
để tiến hành công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, sát với tình hình thực tế và điều kiện của nhóm chuyên môn, tổ chuyên môn và của nhà trường
Tổ chức: Trên cơ sở của các bản kế hoạch đã xây dựng, tổ chức cho tập
thể và cá nhân thực hiện kế hoạch Đa dạng hóa các cách thức tổ chức bồi dưỡng giáo viên(Bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng trên chuẩn,bồi dưỡng tại trường, tự bồi dưỡng ) Phối hợp hoạt động một cách nhịp nhàng, chặt chẽ giữa ban giám hiệu với các đoàn thể trong nhà trường, tạo ra môi trường
sư phạm thân thiện, là động lực thúc đẩy các giáo viên trong nhà trường nhiệt tình tham gia bồi dưỡng chuyên môn
Chỉ đạo: thành lập Ban chỉ đạo công tác bồi dưỡng chuyên môn, sau đó
Ban chỉ đạo phân công phân nhiệm cho các tổ trưởng chuyên môn, giáo viên
và các bộ phận liên quan Trên cơ sở của việc phân công, phân nhiệm ở trên yêu cầu tổ trưởng chuyên môn và các giáo viên thực hiện những nội dung bồi dưỡng, theo kế hoạch đã xây dựng Động viên khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và kinh phí để mọi giáo viên tham gia bồi dưỡng chuyên môn đạt hiệu quả Kêu gọi các đoàn thể, phát động các phong trào thi đua, tạo không khí chuyên môn sôi nổi trong nhà trường
Kiểm tra: Là khâu quan trọng trong quy trình quản lý công tác bồi dưỡng
chuyên môn cho giáo viên THPT Không có thanh tra, kiểm tra coi như không
có hoạt động quản lý Công tác thanh tra, kiểm tra việc bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên, được thực hiện thường xuyên, liên tục theo một kế hoạch riêng và bám vào mục tiêu của kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn đã xác định
Trang 40hành rà soát, đánh giá để điều chỉnh kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho phù hợp với tình hình mới, giúp cho quy trình quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn, đạt hiệu quả cao
Đảm bảo thông tin quản lý: yếu tố thông tin luôn có mặt ở tất cả các
khâu trong quy trình quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn, nó vừa là điều kiện, vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện quy trình quản lý này Đảm bảo thông tin trong quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn, giúp cho các nhà quản lý có thể tiếp nhận thông tin phản hồi từ: GV; môi trường giáo dục ở mỗi nhà trường; cơ quan quản lý cấp trên; từ các lực lượng xã hội khác sau đó xử lí, rồi đưa ra các quyết định cải tiền, nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả quy trình quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn ở các nhà trường
Việc chuẩn bị xây dựng kế hoạch và quy trình bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên THPT có vai trò quyết định cho sự thành công trong công tác bồi dưỡng giáo viên
Song để thực hiên hiệu quả kế hoạch và quy trình đó nhà quản lý (HT) cần xác định đúng, đủ và chuẩn bị các điều kiện đảm bảo
Chuẩn bị các điều kiện đảm bảo
Sau khi đã xác định được các công đoạn chuẩn bị cho kế hoạch quy trình bồi dưỡng chuyên môn cho các GV mới, thì một việc rất quan trọng phải làm
là xác định các điều kiện đảm bảo cho kế hoạch thành công Đó là những điều
kiện:
- Điều kiện về nguồn lực con người: đây là nguồn lực quan trọng nhất, là
vốn quý nhất để phát triển nhà trường Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, phải chú ý đến điều kiện này Căn cứ vào nguồn lực con người trong nhà trường(số giáo viên cốt cán, những giáo viên giàu kinh nghiệm và tâm huyết ) để đưa ra các mục tiêu và biện pháp thực hiện kế hoạch một cách hiệu quả