ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ BÌNH CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN VĂN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ BÌNH
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ BÌNH
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 061405
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG VĂN CÚC
Trang 3Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Đặng Văn Cúc – người trực tiếp hướng dẫn, đã tận tâm chỉ dẫn cho tác giả về kiến thức cũng như phương pháp luận trong suốt thời gian hướng dẫn nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chân thành cám ơn: Ban giám đốc, Phòng Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng, Ban giám hiệu, các tổ chuyên môn các thầy cô giáo ở trường THPT quận Lê Chân, Hải Phòng, các bạn đồng nghiệp
và những người thân đã tận tình giúp đỡ cung cấp tài liêu, số liệu tham gia đóng góp ý kiến, tạo điều kiện thuận lơi cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Hà nội, ngày 24 tháng 10 năm 2008
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ BÌNH
Trang 5MỤC LỤC
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
3.2 Đối tượng nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Giả thuyết khoa học
6.Phạm vi đề tài nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
7.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.3.Nhóm các phương pháp xử lý số liệu
8 Cấu trúc luặn văn
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quản lý, biện pháp quản lý
1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.3 Hoạt động dạy học ở trường THPT, quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
1.3 Vị trí, vai trò môn tiếng Anh trong trường THPT
1.4 Đặc trưng của hoạt động dạy học môn tiếng Anh
Trang 61.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh
ở trường THPT
1.5.1 Bối cảnh chung
1.5.2 Người dạy
1.5.3 Người học
1.5.4 Sự quan tâm và tổ chức quản lý của nhà trường đối với bộ môn tiếng Anh
Tiểu kết chương 1
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG PTTH QUẬN LÊ CHÂN-THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1 Đặc điểm chung của quận Lê Chân
2.2 Vài nét khái quát về các trường THPT quận Lê Chân - Hải Phòng
2.2.1 Đặc điểm đối tượng giáo dục và đào tạo của các trường THPT quận Lê Chân
2.2.2 Mục tiêu đào tạo của trường THPT
2.2.3 Tổ chức bộ máy quản lý của các trường THPT quận Lê Chân-thành phố Hải Phòng
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT quận Lê Chân – thành phố Hải Phòng
2.3.1 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học của giáo viên
2.3.2 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT quận Lê Chân-thành phố Hải Phòng
2.3.3 Thực trạng công tác quản lý CSVC, trang thiết bị dạy học môn tiếng Anh
Tiểu kết chương 2
Trang 7Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG PTTH QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
3.1 Một số nguyên tắc chỉ đạo đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy
học môn tiếng Anh
3.1.1 Nguyên tắc tính hệ thống
3.1.2 Nguyên tắc tính thực tiễn
3.1.3.Nguyên tắc tính hiệu quả
3.1.4 Nguyên tắc tính đồng bộ
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường PTTH quận Lê Chân - thành phố Hải Phòng
3.2.1 Giáo dục nâng cao nhận thức cho học sinh về tầm quan trọng của môn tiếng Anh
3.2.2 Xây dựng động cơ học môn tiếng Anh cho học sinh
3.2.3 Xây dựng kế hoạch giảng dạy và học tập nhằm thực hiện mục tiêu và chương trình dạy học
3.2.4 Xây dựng nề nếp giảng dạy và học tập môn tiếng Anh
3.2.5 Bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên và khả năng tự học môn tiếng Anh của học sinh
3.2.6 Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh
3.2.7 Đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy và học môn tiếng Anh 3.2.8 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy và học môn tiếng Anh
3.3 Khảo sát tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT quận Lê Chân – thành phố Hải Phòng
Trang 8KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Kết luận Khuyến nghị TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo có vai trò hết sức to lớn trong quá trình phát triển của một đất nước, của một dân tộc ở mọi thời đại Đặc biệt trong hoàn cảnh thế giới hiện nay, khi mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thời đại của công nghệ thông tin đang phát triển hết sức mạnh mẽ, tạo ra sức mạnh, động lực cho quá trình phát triển của nhân loại
Khẳng định tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Tiếp theo đó, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta lại tiếp tục khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”
Nói đến giáo dục đào tạo chúng ta đều nghĩ ngay đến nhà trường Dạy học
là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường Quản lý nhà trường thực tế là quản lý hoạt động dạy và học Đứng trước yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông, việc đổi mới phương pháp là vấn đề tiên quyết, đổi mới quản lý giáo dục mang tính then chốt
Chất lượng giáo dục không chỉ phụ thuộc vào việc giảng dạy của từng GV
bộ môn mà còn phụ thuộc vào năng lực của người quản lý Công tác quản lý giáo dục nói chung và quản lý dạy học ở trường THPT hiện nay có nhiều mặt tích cực song cũng bộc lộ những hạn chế nhất định
Đất nước chúng ta đang mở cửa và hội nhập, chúng ta cần ngoại ngữ để chủ động trong giao tiếp, kinh doanh, sản xuất Ngoại ngữ chính là một công cụ tạo điều kiện cho nước ta hội nhập với khu vực và cộng đồng quốc tế, tiếp cận những thông tin khoa học của thế giới và các nền văn hoá khác, cũng như giới thiệu nền văn hoá Việt Nam với cộng đồng quốc tế Thấy rõ tầm quan trọng của
Trang 10ngoại ngữ nói chung (hay tiếng Anh nói riêng) với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển đất nước, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay, ngay từ những năm 60 Nhà nước chúng
ta đã có nhiều chỉ thị, thông tư về dạy - học ngoại ngữ trong nhà trường, theo đó môn ngoại ngữ được coi là môn "văn hoá giáo dục phổ thông" Tuy nhiên cũng như các môn học khác việc dạy học và quản lý dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT không phải mọi nơi mọi chỗ đã làm tốt Xét cho đến cùng việc quản lý tốt hoạt động dạy học môn học có tính chất mũi nhọn này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường Xuất phát từ
những lý do trên tôi chọn hướng nghiên cứu với đề tài “ Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường PTTH quận Lê Chân - thành phố Hải Phòng"
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động dạy và học môn tiếng Anh ở các trường PTTH quận Lê Chân - thành phố Hải Phòng, đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động dạy học môn tiếng Anh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học môn tiếng Anh
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy và học môn
tiếng Anh ở các trường THPT quận Lê Chân - thành phố Hải Phòng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận liên quan đến quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh
Khảo sát, đánh giá và phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT quận Lê Chân - thành phố Hải Phòng
Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT quận Lê Chân - thành phố Hải Phòng
5 Giả thuyết khoa học
Công tác giảng dạy môn tiếng Anh ở các trường PTTH quận Lê Chân -
Trang 11đồng bộ, linh hoạt và sáng tạo các biện pháp quản lý có tính hiện thực và hợp lý thì chất lượng dạy và học môn tiếng Anh sẽ tốt hơn, đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay
6 Phạm vi đề tài nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT quận Lê Chân - thành phố Hải Phòng
7 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thu thập, phân loại, đọc, phân tích xử lý tài liệu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát
Phương pháp điều tra
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp thực hiện
7.3 Nhóm các phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng công thức toán học
Sử dụng phương pháp so sánh để xử lý kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, ký hiệu viết tắt và phụ lục, nội dung luận văn dự kiến trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy và học môn tiếng Anh
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường
THPT quận Lê Chân - thành phố Hải Phòng
Chương 3: Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các
trường THPT quận Lê Chân - thành phố Hải Phòng
Trang 12Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN
TIẾNG ANH
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cùng với sự ra đời của loài người , dạy học cũng xuất hiện Khi mới bắt đầu, dạy học chưa được con người ý thức một cách đầy đủ, sâu sắc Nó mang tính chất tự phát và bản năng Từ khi con người ý thức được vai trò của dạy học, thì cùng với nó là hoạt động quản lý giáo dục ra đời Nhưng lý luận về quản lý giáo dục chỉ thực sự nghiên cứu từ những năm đầu thế kỷ XX
Nhà trường từ lâu nay đã được thừa nhận như một thiết chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục thế hệ trẻ trở thành những công dân có ích cho xã hội Vấn đề quản lý dạy học trong trường phổ thông thì quản lý quá trình dạy học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Quản lý hoạt động dạy học là một bộ phận cấu thành chủ yếu của quản lý toàn bộ hệ thống giáo dục đào tạo
Ở nước ta vấn đề quản lý giáo dục nói chung đã được đặt ra từ sau cách mạng tháng 8/1945 Các công trình “Cơ sở khoa học quản lý” của tác giả Nguyễn Minh Đạo; “Quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả
Trang 13Đặng Quốc Bảo; “ Quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành giáo dục” do PGS.TS Phạm Viết Vượng chủ biên…là những tác phẩm có giá trị
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên thường đi sâu vào lý luận công tác quản lý giáo dục nói chung, còn ở phương diện quản lý cụ thể một môn học trong trường trung học phổ thông trong đó có môn tiếng Anh thì chưa được đề cập nhiều Trong những năm gần đây lý luận về quản lý các môn học trong trường trung học phổ thông đã được quan tâm, nhất là trong các luận văn thạc sỹ
về quản lý giáo dục
Đối với môn ngoại ngữ, trong nhiều công trình nghiên cứu về môn tiếng Anh, nhiều chuyên gia cũng đã đề cập đến một số phương diện của quản lý quá trình dạy và học môn tiếng Anh sao cho hiệu quả cao nhất Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: “Teaching English Cambridge University Press, 1995” của Adrian Doff; “Những vấn đề cơ bản về dạy học ngoại ngữ Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội 2005 của trường ĐHNN ĐHQG Hà Nội
Khi xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT cần căn cứ vào các văn bản nghị quyết, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng như các văn bản hướng dẫn của Bộ giáo dục và Đào tạo, các văn bản quy định của địa phương đối với các trường THPT Trong đó luật giáo dục
2005 và điều lệ trường Trung học là những văn bản mang tính nguyên tắc mà người cán bộ quản lý phải tuân thủ nghiêm túc Ngoài ra còn các chủ trương về Giáo dục và Đào tạo được thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết TW 2 về giáo dục; Kết luận Hội nghị TW 6 về Giáo dục - Đào tạo; Chỉ thị 40-CT/TW; Quyết định số 09/2005 /QĐ-TT của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục…cũng rất quan trọng
1.2 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quản lý, biện pháp quản lý
1.2.1.1 Quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực về quản lý đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải được dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó
Trang 14Quản lý là tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt mục đích đề ra Sự tác động của quản lý luôn tự giác, phấn khởi đem hết khả năng trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân và cho cả xã hội Các Mác đã nêu lên: bản chất của quản lý là nhằm thiết lập sự phốí hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với
sự vận động của các bộ phận riêng lẻ của nó, một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy Theo Harol Koontz thì:
“Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý nhằm hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” (38, tr.3)
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Hoạt động quản lý là tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho
tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức “ ( 21,tr.1)
Từ các định nghĩa trên chúng ta thấy mặc dù các tác giả có các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng quản lý) gồm: Con người, trang thiết bị kỹ thuật, nguồn tài chính và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của
xã hội hoặc do có sự cam kết, thỏa thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản
lý Từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ
Trang 15chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra
Xã hội ngày càng phát triển, vai trò của quản lý càng được nhấn mạnh và nội dung của hoạt động quản lý càng phức tạp Tác động quản lý thường mang tính tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau Vì vậy quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Quản lý mang tính khoa học vì các hoạt động của quản lý có tổ chức, có định hướng đều dựa trên những quy luật , những nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể đồng thời quản lý mang tính nghệ thuật vì nó vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống
xã hội Người ta có thể nói rằng sự thành công hay thất bại của một tổ chức chính là sự thành công hay thất bại của chính người quản lý tổ chức đó
1.2.1.2 Biện pháp quản lý
Nghiên cứu về khoa học quản lý, tác giả Trần Quốc Thành nêu ra 4 biện pháp quản lý chính, đó là: Biện pháp thuyết phục, biện pháp hành chính - tổ chức, biện pháp kinh tế, biện pháp tâm lý – giáo dục
Biện pháp thuyết phục: là cách tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng
quản lý bằng lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu này Đây là biện pháp cơ bản để giáo dục con người Biện pháp thuyết phục gắn với tất cả các biện pháp quản lý khác và phải được người quản lý sử dụng trước tiên vì nhận thức là bước đầu tiên trong hoạt động của con người
Biện pháp hành chính - tổ chức: là cách tác động của chủ thể quản lý
vào đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ quyền lực tổ chức, quyền hạn hành chính Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật tổ chức, bởi lẽ bất cứ một hệ thống nào cũng có quan hệ tổ chức Trong đó người ta sử dụng quyền uy và sự phục tùng trong bộ máy này Khi sử dụng biện pháp hành chính - tổ chức, chủ thể quản lý phải nắm chắc các văn bản pháp lý, biết rõ giới hạn, quyền hạn trách nhiệm Các quy định phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, phải kiểm tra và nắm được thông tin phản hồi
Trang 16Biện pháp kinh tế: là cách tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng
quản lý thông qua lợi ích kinh tế Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật kinh tế, thông qua quy luật này để tác động tới tâm lý của đối tượng Nội dung của biện pháp này là nhà quản lý đưa ra các nhiệm vụ, kế hoạch tương ứng với các mức lợi ích kinh tế Đối tượng bị quản lý có thể lựa chọn phương án thích hợp để vừa đạt được mục tiêu của tập thể vừa đạt được lợi ích kinh tế của cá nhân Khi sử dụng biện pháp này cần tránh dẫn đến chủ nghĩa thực dụng hay sự mất đoàn kết nếu thiếu công bằng
Biện pháp tâm lý - giáo dục: là cách tác động vào đối tượng quản lý
thông qua tâm lý, tình cảm, tư tưởng con người Cơ sở của biện pháp này dựa vào quy luật tâm lý con người và chức năng tâm lý của con người Nội dung của biện pháp này là kích thích tinh thần tự giác, sự say mê của con người Muốn quản lý thành công người quản lý cần phải hiểu rõ tâm lý của bản thân mình và của đối tượng quản lý
Trong sự đa dạng phức tạp của các tình huống trong cuộc sống luôn biến đổi đòi hỏi các nhà quản lý cần phải biết đưa ra, vận dụng các biện pháp quản lý một cách tài tình, khéo léo để đạt được mục đích
1.2.1.3 Các chức năng của quản lý
Qua nghiên cứu lý luận và thực tế công tác quản lý nói chung, có thể tóm lược rằng: quản lý bao gồm bốn chức năng cơ bản là kế hoạch hóa, tổ chức, điều khiển (lãnh đạo, chỉ huy) và kiểm tra đánh giá
Chức năng kế hoạch: Chức năng kế hoạch là xác định mục tiêu phát triển
giáo dục và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu khi tiến hành chức năng kế hoạch Người quản lý cần hoàn thành được 2 nhiệm vụ là: Xác định đúng những mục tiêu cần dể phát triển giáo dục và quyết định những biện pháp có tính khả thi
Chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên, nó có vai trò định hướng toàn
bộ các hoạt động; là cơ sở để huy động tối đa các nguồn lực cho thực hiện các mục tiêu và là căn cứ cho việc kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị và từng cá nhân của quá trình quản lý giáo dục
Trang 17Nội dung của chức năng kế hoạch bao gồm: Xác định mục tiêu và phân tích mục tiêu; xây dựng kế hoạch và thực hiện mục tiêu; triển khai thực hiện các
kế hoạch , kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Chức năng tổ chức: Là chức năng thể hiện quá trình phân phối và sắp xếp
nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện các mục tiêu giáo dục đề ra
Chức năng tổ chức có vai trò hiện thực hóa các mục tiêu của tổ chức và đặc biệt là chức năng tổ chức, có khả năng tạo ra sức mạnh mới của tổ chức, cơ quan, đơn vị….nếu việc sắp xếp nguồn nhân lực khoa học hợp lý
Nội dung chức năng tổ chức: Xác định cấu trúc tổ chức của chủ thế quản
lý tương ứng với các đối tượng và các mối quan hệ của tổ chức; tổ lao động một cách khoa học của người quản lý
Chức năng chỉ đạo: Trong quá trình quản lý giáo dục, chỉ đạo là quá trình
tác động tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm đạt được tới cá mục tiêu với chất lượng cao
Vai trò của chức năng chỉ đạo rất quan trọng, chức năng này cùng với chức năng tổ chức thực hiện hóa các mục tiêu Chức năng chỉ đạo được thể hiện
từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu có chất lượng hiệu quả Thực chất của các chức năng chỉ đạo là quá trình tác động
và ảnh hưởng tới chủ thể quản lý tới những người khác nhằm biến những yêu cầu chung thành nhu cầu của mọi người làm cho họ tích cực, chủ động, tự giác trong công việc, tạo ra hiệu quả trong công việc Nội dung chủ yếu của chức năng chỉ đạo: Quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai nhiệm vụ phải bảo đảm thiết thực, phù hợp và cụ thể với những khả năng và trình độ của từng thành viên trong toàn bộ hệ thống trên cơ sở sử dụng đúng đắn các quyền của người quản
Trang 18cầu hoạt động của mọi người Khi đó mọi người sẽ thể hiện được hết khả năng
và công sức của mình cho thực hiện các mục tiêu tổ chức
Giám sát và sửa chữa là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý nhằm theo dõi việc thực hiện các mục tiêu, các nhiệm vụ của cấp dưới khi thấy có sự sai lệch, lúng túng thì sửa chữa hoặc giúp đỡ mọi đối tượng thực hiện tốt các nhiệm vụ dược giao.Trong quá trình chỉ đạo người quản lý cần tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, thiết bị cũng như các điều kiện khác nhằm giúp cho các đối tượng khác phát triển
Chức năng kiểm tra: Trong quá trình quản lý giáo dục kiểm tra là quá
trình đánh giá và điều chỉnh cho các hoạt động đạt tới các mục tiêu của tổ chức
Vai trò của chức năng kiểm tra: Kiểm tra giúp cho chủ thể quản lí biết được mọi người quản lý ban hành có phù hợp hay không, trên cơ sở đó mà điều chỉnh các hoạt động giúp đỡ hay thúc đẩy để đạt được mục tiêu đề ra
1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.2.1 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hoạt động quản lý đặc biệt của con người, nó có từ khi loài người được sinh ra và nó có vị trí, vai trò rất to lớn trong đời sống xã hội con người Vì vậy quản lý giáo dục là vấn đề mà các quốc gia trên thế giới đều quan tâm
Quản lý giáo dục là môn khoa học quản lý chuyên ngành được nghiên cứu trên nền tảng của khoa học nói chung đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục Cũng như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu và được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “ Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các nhà quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó” (9)
Trong cuốn Giáo dục học tác giả Phạm Viết Vượng đã viết: “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp
Trang 19thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội (27, tr.206)
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang:“Quản lý giáo dục là hệ thống có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học-giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất (23,tr.35)
Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản
lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Với quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, giáo dục không còn giới hạn ở thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ nhân lực có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”
1.2.2.2 Quản lý nhà trường
Trong hệ thống giáo dục, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu Đa phần các hoạt động giáo dục đều được thực hiện trong nhà trường thông qua hệ thống nhà trường Nhà trường là tế bào chủ chốt của hệ thống giáo dục từ trung ương đến cơ sở Theo đó quan niệm quản lý giáo dục luôn đi kèm với quan niệm quản lý nhà trường
Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào tạo, thực hiện việc giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ Thành tích tập trung nhất
Trang 20của nhà trường là chất lượng và hiệu quả giáo dục, được thể hiện ở sự tiến bộ của học sinh, ở việc đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường
Quản lý nhà trường là hoạt động của chủ thể quản lý (hiệu trưởng và các
cơ quan quản lý cấp trên) nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường
Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường Mục đích của quản lý nhà trường là: Đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục
Nội dung công tác quản lý giáo dục trong nhà trường bao gồm:
+ Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục học sinh
+ Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của nhà trường, đồng thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học
+ Tổ chức đội ngũ các thầy cô giáo, cán bộ, nhân viên và tập thể học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ
+ Chỉ đạo tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình giáo dục của
Bộ, của Nhà trường Thực hiện nghiêm túc chương trình cải tiến phương pháp giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học
+ Quản lý tốt việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo Quản lý học sinh bao hàm cả quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần thái độ và phương pháp học tập
+ Chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tập thể giáo viên, nhân viên nhà trường
Trang 211.2.3 Hoạt động dạy học ở trường THPT, quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
1.2.3.1 Hoạt động dạy học ở trường THPT
Con người muốn tồn tại thì phải hoạt động Hoạt động là phương thức tồn tại của con người bằng cách tác động vào đối tượng để tạo ra một sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân và nhóm xã hội
Khái niệm về HĐD-H : Dạy học bao gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng; hoạt động dạy học của GV và hoạt động của HS Trong đó dưới sự điều khiển của GV, người học tự giác, tích cực tự tổ chức điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những hoạt động dạy học Trong hoạt động dạy học, hoạt động học của HS có vai trò tự giác, chủ động tích cực Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS có liên hệ tác động lẫn nhau Nếu thiếu một trong hai hoạt động đó, việc dạy học sẽ không diễn ra Quản lý hoạt động dạy học là quản lý hai hoạt động dạy và học trong mối quan hệ biện chứng thống nhất của chúng
Bản chất của quá trình dạy học: Bản chất của quá trình dạy học là quá trình lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học Trong quá trình dạy học một mặt GV phải quan tâm đến đặc điểm phát triển năng lực nhận thức của HS theo từng lứa tuổi để tổ chức, điều khiển quá trình dạy học đạt hiệu quả
Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Đó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giúp cho học sinh lĩnh hội được tri thức của xã hội loài người
Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách
có hệ thống, cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động
và trong đời sống Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu nước, yêu CNXH Ở trẻ em
đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của học sinh sau này Vì vậy có thể nói hoạt động dạy học trong nhà trường đã tô đậm
Trang 22chức năng xã hội của nhà trường, đặc trưng cho nhiệm vụ của nhà trường và là hoạt động giáo dục trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường
+ Hoạt động dạy
Dạy (hay dạy học) là hoạt động của người giáo viên, không chỉ là hoạt động truyền thụ cho người học những nội dung đáp ứng các mục tiêu đề ra, mà hơn thế nữa là hoạt động giúp đỡ, chỉ đạo và hướng dẫn người học trong quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo Để hoạt động học đạt được kết quả như mong muốn, người giáo viên cần nắm bắt được những điều kiện bên trong (hiểu biết, năng lực và hứng thú) của người học, trên cơ sở đó đưa ra những tác động sư phạm phù hợp
Ngày nay, với xu thế dạy học “lấy người học làm trung tâm”, giáo viên cần biết tạo cho người học một không khí học tập mang tính chủ động, linh hoạt
và sáng tạo Tức là dạy cho người học cách học, cách tư duy và tác động của người thầy là tác động bên ngoài, hướng dẫn, thúc đẩy và tạo điều kiện cho người học tự học
+ Hoạt động học
Theo nghĩa rộng nhất thì học là quá trình cơ bản của sự phát triển nhân cách trong hoạt động của con người Đó là sự lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những giá trị và phương thức hành động Hoạt động học là hoạt động nhận thức độc đáo của con người, thông qua học, con người thay đổi chính bản thân mình
và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan Hoạt động học của mỗi người học là nhằm tiếp thu, lĩnh hội và sử dụng tri thức, hình thành và phát triển nhân cách Người học vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của quá trình dạy học
Ngày nay, thời đại “học tập suốt đời” là xu hướng tất yếu thì yêu cầu về nâng cao năng lực học tập của mỗi người là yêu cầu bức thiết nhất và chúng ta cần phải hiểu được rằng quá trình học tập của mỗi người chính là quá trình biến đổi bản thân con người ấy, và đó cũng chính là quá trình học tự tạo ra
+ Mối quan hệ giữa HĐD -H
Trang 23HĐD –H mang tính chất hai chiều, gồm hoạt động dạy và hoạt động học,
đó là 2 mặt của một quá trình luôn tác động qua lại và bổ sung cho nhau, phối hợp chặt chẽ, thống nhất với nhau giữa người dạy và người học Hoạt động dạy học diễn ra trong những điều kiện xác định, trong đó hoạt động daỵ đóng vai trò chủ đạo, điều khiển, hướng dẫn Hoạt động dạy học đóng vai trò chủ động, tích
cực, tự giác và sáng tạo, nhằm đạt hiệu quả theo mục tiêu giáo dục đã xác định
Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và học, được thể hiện trong và bằng sự tương tác có tính chất cộng đồng và hợp tác giữa dạy và học tuân theo logic khách quan của nội dung dạy học.“Chỉ trong sự tác động qua lại giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học
Sự phá vỡ mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi sự toàn vẹn đó (24,tr 23)
+ Trường Trung học phổ thông
Trường THPT gồm 3 khối lớp, tiếp nhận học sinh từ 15 tuổi đến 18 tuổi vào học Nhiệm vụ của trường là cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học phổ thông vững chắc, toàn diện về tất cả các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội và kỹ thuật để các em tiếp tục học các cấp cao hơn hoặc có thể bước vào cuộc sống lao động Cấp THPT là cấp cuối cùng của bậc học phổ thông Cấp học này sẽ hoàn chỉnh các mục tiêu giáo dục phổ thông đặt ra Đó là việc cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản phổ thông vững chắc, toàn diện về tất
cả các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội và kỹ thuật, những kỹ năng cơ bản trong cuộc sống và biết ứng xử trong thời đại hiện nay Đồng thời những kiến thức mà người học tiếp nhận được ở phổ thông sẽ là nền tảng để họ tiếp tục học lên ở những bậc cao hơn
1.2.3.2 Quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
Từ vị trí, vai trò của cấp THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân, chúng
ta thấy rõ những yêu cầu đặt ra đối với việc quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT như thế nào?
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý một quá trình với một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố như: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, chương trình, các hoạt
Trang 24động dạy của thày với hoạt động học của trò, kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học v.v Hai quá trình này đã được ghi nhận trong mục tiêu, kế hoạch hoạt động giáo dục của mỗi cấp bậc học
Quản lý quá trình dạy học cũng phải thực hiện bốn chức năng cơ bản của quản lý nói chung Quản lý quá trình dạy học do nhà trường hướng dẫn, tổ chức
và chỉ đạo nhưng nó có quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức giáo dục khác, hoặc các cơ quan, tổ chức văn hóa, khoa học, thể dục thể thao, các tổ chức đoàn thể quần chúng ngoài xã hội, nơi học sinh tham gia học tập, vui chơi giải trí có tổ chức
Quản lý quá trình dạy học là quản lý việc chấp hành những quy định, quy chế về hoạt động giảng dạy của thày và hoạt động của trò
+Quản lý hoạt động giảng dạy
Quản lý hoạt động giảng dạy thực chất là quản lý nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ giáo viên Thầy truyền đạt kiến thức, kỹ năng và những giá trị về tư tưởng, phẩm chất được trang bị cho trò Đồng thời thày có nhiệm vụ phải học tập, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ, nâng cao chất lượng giảng dạy của mình Trong quá trình giáo dục và đào tạo giáo viên vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể quản lý của hoạt động giảng dạy Quản lý hoạt động giảng dạy bao gồm:
Quản lý việc lập kế hoạch của giáo viên
Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy và chuẩn bị lên lớp của giáo viên
Quản lý nề nếp lên lớp giảng dạy của giáo viên và việc vận dụng phương pháp, phương tiện dạy học
Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Quản lý việc hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên
+ Quản lý hoạt động học tập
Quản lý hoạt động học tập của học sinh là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập, học sinh vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể tự quản lý
Trang 25Trong quản lý hoạt động học tập người học cần lưu ý tính phức tạp và tính trừu tượng về sự chuyển biến trong nhân cách do tác động đồng thời của nhiều yếu tố chủ thể và khách thể, làm cho kết quả học tập của họ bị hạn chế
Quản lý hoạt động học tập có nội dung, yêu cầu cụ thể, vì vậy phải tăng cường kiểm tra, đánh giá các hoạt động học tập của học sinh
Quản lý hoạt động học bao gồm:Quản lý hoạt động học trên lớp, quản lý hoạt động tự học, quản lý hoạt động ngoại khóa
+ Quản lý cơ sở vật chất
Quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ cho hoạt động dạy học đảm bảo được các yêu cầu: Tổ chức quản lý tốt, đảm bảo đầy đủ và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại phù hợp với hình thức tổ chức và phương pháp giảng dạy tạo điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng giờ dạy
Nội dung quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ hoạt động đạy học trong nhà trường thực chất là quản lý các việc sau:
+ Xây dựng nội dung và kế hoạch, nguồn kinh phí trang bị sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy học
+ Quản lý việc tổ chức bồi dưỡng kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật
+ Quản lý các trang thiết bị phục vụ dạy học (trường, lớp, bàn ghế, bảng ) hoạt động phòng bộ môn, phòng chức năng, thư viện trường học với các sách báo tài liệu tham khảo
1.3 Vị trí vai trò môn tiếng Anh trong trường THPT
Trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập với khu vực và quốc tế Trong những điều kiện cần thiết để hội nhập phát triển thì ngoại ngữ là điều kiện tiên quyết, là một công cụ, phương tiện đắc lực
và hữu hiệu Biết ngoại ngữ có thể giúp được chúng ta học hỏi kinh nghiệm hay của các nước đi trước, rút ngắn quãng đường phải mầy mò, tránh lặp lại những bước đi không cần thiết trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặt khác cũng tạo ra cơ hội cho từng người dân có thể lựa chọn, tìm kiếm việc
Trang 26làm trong nước và nước ngoài, giúp con người phát triển những giá trị nhân văn, đặc biệt là tạo cơ hội cho thế hệ trẻ của nước ta có thể theo học, nghiên cứu mở mang kiến thức ở bất cứ nơi đâu hứa hẹn một tương lai tốt đẹp cho cá nhân họ và những cống hiến thực sự cho đất nước Để hòa nhập vào sự phát triển chung của xã hội, tìm cho mình một chỗ đứng thực sự trong thế giới ngày nay, chúng ta phải dặc biệt quan tâm đến việc dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách của thực tiễn, Đảng và Chính phủ đã
có nhiều chỉ thị đẩy mạnh việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta nhằm phục vụ tích cực hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ngày 11/4/1968 thủ tướng Chính Phủ đã ra chỉ thị số 43/TT về phương hướng và nhiệm vụ dạy và học ngoại ngữ ở các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và các trường THPT
Ngày 7/9/1972, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 251/TT về việc cải tiến và tăng cường công tác dạy học ngoại ngữ trong các trường Phổ thông
Ngày 11/5/2001 Bộ giáo dục và Đào tạo đã ra thông tư số 3668/VP về “
Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 40/2000.QH10 của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông”, và giao cho Viện Khoa học giáo dục (nay là Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục) chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ dự thảo đề án “Giảng dạy học tập ngoại ngữ trong trường phổ thông” Tháng 9/2004, Bộ giáo dục và Đào tạo đã có Dự thảo “Đề án giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2004 – 2015
Ngoại ngữ được quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế Ở trường THPT thì ngoại ngữ là bộ môn bắt buộc Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường phải đảm bảo để người học được học liên tục và có hiệu quả, họat động dạy và học ngoại ngữ là một hoạt động phức tạp: người học cần phải tái tạo lại một ngôn ngữ cụ thể
Trang 27Trình độ văn hóa bao gồm trình độ học vấn bộ môn và năng lực tư duy
Bộ môn ngoại ngữ có mục đích nâng cao độ hiểu biết của người học trong hai lĩnh vực chủ yếu là ngôn ngữ học và ngôn ngữ đất nước học đồng thời góp phần nâng cao năng lực tư duy của họ Bởi vì để thực hiện tốt chức năng giao tiếp, việc rèn thói quen tư duy bằng chính ngoại ngữ là hết sức quan trọng Làm tốt điều này sẽ giúp cho người học nói và viết ngoại ngữ như người bản xứ Bộ môn ngoại ngữ góp phần làm hoàn chỉnh thêm những thao tác tư duy cơ bản như phân tích so sánh, đối chiếu, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa và phát triển thêm một bước tư duy logic như diễn đạt tư tưởng một cách mạch lạc, sáng sủa, gãy gọn và có lý lẽ về mặt phẩm chất đạo đức, bộ môn ngoại ngữ có nhiều điều kiện thực hiện mục đích giáo dục thế giới quan và nhân sinh quan Ngoại ngữ là hiện tượng xã hội, là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người và rất gắn bó với việc phát triển tư duy và văn hóa Hướng theo mục đích trên đây,
bộ môn ngoại ngữ cần đạt tới những yêu cầu trên ở cả phương diện nhận thức tư tưởng lẫn trong hoạt động thực tiễn của người học
Sau khi hoàn thành chương trình học, học sinh tốt nghiệp lớp 12 phải sử dụng được tiếng Anh thể hiện qua việc đọc hiểu các tài liệu như sách, báo phù hợp với trình độ được học, đồng thời có khả năng giao tiếp bằng tiếng nước ngoài về các vấn đề sinh hoạt đơn giản trong các tình huống thực hàng ngày góp phần hỗ trợ cho việc học tập các bộ môn học khác, phát triển trí tuệ cần thiết để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động nghề nghiệp sau này
1.4 Đặc trưng của hoạt động dạy học môn tiếng Anh
Xuất phát từ mục đích, yêu cầu và dựa trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn tiếng Anh trong chương trình giáo dục nói chung quy định những nội dung thiết yếu nhất trên các mặt: giáo dục tư tưởng đạo đức, bồi dưỡng tri thức văn hóa và rèn luyện kỹ năng giao tiếp để thông qua hoạt động dạy học tạo nên ở mỗi học sinh khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh
+ Nội dung kỹ năng giao tiếp
Tiếng Anh cũng như bất kỳ ngoại ngữ nào đều có chức năng là công cụ giao tiếp Nội dung kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh bao gồm bốn dạng hoạt
Trang 28động giao tiếp là: nghe, nói, đọc, viêt Cả bốn nội dung này đều xuất hiện thường trực trong suốt quá trình dạy học tiếng Anh Nội dung kỹ năng thực hành giao tiếp được thể hiện dưới dạng hệ thống các bài tập tương ứng với yêu cầu hình thành kỹ năng nghe, nói, đọc hiểu, viết
- Phương pháp dạy học nghe hiểu: Nghe là khả năng xác định và hiểu những gì người khác đang nói Điều này ngoài việc hiểu ngữ pháp và từ vựng của người nói còn phải hiểu giọng điệu, cách phát âm của họ và quan trọng hơn
là hiểu được ý nghĩa của họ Để dạy kỹ năng nghe một cách có hiệu quả, cần phải chia bài nghe làm 03 phần: a, Giai đoạn trước khi nghe (Pre –listening); b, Giai doạn trong khi nghe (while – listening); c, Giai đoạn sau khi nghe (post – listening) Kiểm tra kỹ năng nghe có nhiều loại bài tập như: nghe hiểu trả lời câu hỏi, nghe để điền thông tin thiếu, tóm tắt đoạn nghe hiểu Khả năng nghe của học sinh phản ánh khả năng nghe âm và hiểu ý lời nói bằng tiếng nước ngoài Thông thường giáo viên có thể kiểm tra kỹ năng nghe riêng biệt qua hình thức nghe ghi ở những kỳ kiểm tra đồng loạt còn kiểm tra nghe nói trong các giờ học
- Phương pháp dạy học đọc: Đọc là kỹ năng ngôn ngữ phức tạp Trong học tiếng Anh, đọc có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó cung cấp kiến thức về ngôn ngữ và xã hội cho các kỹ năng khác như: viết, nói và nghe Đọc các cuốn sách giáo khoa tiếng Anh dành cho học sinh phổ thông, chúng ta thấy bao giờ bài đọc cũng được dạy đầu tiên trong bốn kỹ năng Có nhiều kiểu đọc và các kiểu đọc này dược chia làm hai loại: a, Đọc theo phong cách; b, Đọc theo mục đích Đọc theo phong cách bao gồm đọc to và đọc thầm; Đọc theo mục đích bao gồm đọc rộng, đọc sâu, đọc lướt, đọc quét
Để đọc hiểu có hiệu quả, kỹ năng đọc hiểu cũng được chia làm ba giai đoạn: a, giai đoạn trước khi đọc (Pre – reading); b, Giai đoạn trong khi đọc (while – reading); c, Giai đoạn sau khi đọc (Post – reading) Kiểm tra kỹ năng đọc cần phân biệt rõ hai loại: đọc diễn cảm và đọc hiểu Đọc diễn cảm phát âm chuẩn, đúng ngữ điệu cần tiến hành kiểm tra với từng cá nhân, từng đoạn văn được chuẩn bị trước Đọc hiểu có mục đích là tự mình nắm lượng thông tin qua các văn bản viết Đây là mục đích chủ yếu nhất của việc dạy ngoại ngữ nên kỹ
Trang 29năng đọc hiểu cần được luyện tập thường xuyên từ đọc lướt, đoán ý của từ, của câu đến đọc sâu
- Phương pháp dạy học nói: Nói dường như là kỹ năng khó khăn nhất đối với họ sinh nói riêng cũng như đối với người học ngoại ngữ bởi vì: người học không những phải hiểu mà phải biết tự diễn đạt cho người khác hiểu ý của mình
Để dạy nói có hiệu quả thì người giáo viên phải biết tạo ra những tình huống
“thực”, những tình huống “có vấn đề” để học sinh phản ứng nói Trong khi dạy nói thì giáo viên không phải nhất thiết bắt học sinh phải tuân theo cấu trúc ngữ pháp cứng nhắc và hạn chế tối đa sửa lỗi không cần thiết, chỉ cần người nói và người nghe hiểu nhau để tạo cho học sinh không “ngại nói” Kỹ năng nói của học sinh cần được rèn luyện thường xuyên dưới sự điều khiển, giám sát của giáo viên qua việc làm việc theo cặp, theo nhóm Học sinh nói hội thoại về một chủ
đề mà giáo viên đưa ra Để học sinh thực hành có hiệu quả kỹ năng này giáo viên cần cung cấp cho học sinh từ vựng, cấu trúc câu như: bắt đầu hội thoại sẽ như thế nào, kết thúc hội thoại sẽ như thế nào… Qua việc yêu cầu học sinh hội thoại hoặc trình bày ý kiến về một chủ dề, giáo viên có thể kiểm tra kỹ năng nói của từng học sinh
- Phương pháp dạy học viết: Viết là một kỹ năng phức tạp: khi viết, người viết phải có kiến thức từ vựng, kiến thức ngữ pháp (thì, thể, thức và thái của động từ, sự hòa hợp giữa chủ ngữ, động từ, mạo từ, đại từ, tính từ), cú pháp (cấu trúc câu, lựa chọn văn phong), nội dung bài viết.v.v Có một số đường hướng dạy viết như: viết từ kiểm soát đến tự do, viết tự do, viết theo mẫu đoạn văn, viết theo tổ chức ngữ pháp, cú pháp.v.v Trong quá trình viết phải có: a, lập kế hoạch (lập dàn bài viết), b; viết nháp; c, sửa lại; d, gọt giũa; e, chia xẻ; f, sửa sai
Đánh giá khả năng diễn đạt thì nhất thiết phải sử dụng hình thức viết tiếng nước ngoài Vì trình độ học sinh cấp THPT còn hạn chế về từ vựng, cú pháp, ngữ pháp nên giáo viên lên cho bài viết qua hình thức viết lại câu đúng bằng từ gợi ý Giáo viên có thể cho học sinh thời gian viết và chữa trước lớp những bài điển hình để cả lớp rút kinh nghiệm
1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt dộng dạy học môn tiếng Anh
Trang 301.5.1 Bối cảnh chung
Trong thời đại hội nhập hiện nay, ngoại ngữ và tin học là hai đôi cánh để chúng ta bay vào tương lai, ngoại ngữ là phương tiện chính để chúng ta giao tiếp với các dân tộc khác để chúng ta hiểu biết họ, tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật của họ, cảm thụ cái hay trong văn hóa của họ, từ đó chúng ta có thể học hỏi, hợp tác với họ trong các lĩnh vực
Xuất phát từ thực tế hội nhập của Việt Nam, tháng 7/2007, Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã có dự thảo: “Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2007 – 2015” Theo dự thảo này mục tiêu chung của dạy học ngoại ngữ là: “ Thực hiện đổi mới toàn diện việc dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đảm bảo đến năm 2015 nâng cao rõ rệt trình độ ngoại ngữ của một số đối tượng ưu tiên, đồng thời triển khai chương trình dạy học ngoại ngữ đối với các cấp học và trình độ đào tạo, tạo điều kiện để đến năm
2020 tăng đáng kể tỉ lệ thanh niên Việt Nam có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ một cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường
đa ngôn ngữ, đa văn hóa phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (13, tr.8)
Tóm lại, trong thời đại ngày nay nếu không có ngoại ngữ nói chung , môn tiếng Anh nói riêng thì đồng nghĩa với tụt hậu Nhận thức được tầm quan trọng của môn tiếng Anh, nhiều cơ sở giáo dục đã đầu tư cơ sở vật chất, giáo viên dạy học môn tiếng Anh, nhiều gia đình tạo điều kiện tối đa cho con có thể học tiếng Anh ở những cơ sở có chất lượng tốt Chính vì vậy việc dạy học môn tiếng Anh trở lên thuận lợi hơn rất nhiều nhưng mặt khác nó cũng đòi hỏi trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên càng ngày càng phải nâng cao để đáp ứng yêu cầu xã hội Đối với học sinh thì rất nhiều em tìm được hứng thú thực sự trong việc học ngoại ngữ vì các em có động cơ học tập đúng đắn, có môi trường học tập tốt
1.5.2 Người dạy
Đội ngũ giáo viên dạy tiếng Anh ở các trường THPT là những người đã được đào tạo về chuyên môn và đạt trình độ cử nhân về nghiệp vụ, họ là những
Trang 31tâm lý học dạy học phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn Trong quá trình dạy học, giáo viên mang chức năng chỉ đạo, hướng dẫn học sinh Chất lượng của các giờ lên lớp quyết định chất lượng giảng dạy của giáo viên
1.5.3 Người học
Học sinh THPT ở lứa tuổi từ 14 – 15 đến 17 -18, các em học tập chương trình từ lớp 10 đến lớp 12 Ở lứa tuổi này các em đang hoàn chỉnh trưởng thành
về thể lực cũng như tâm sinh lý Vì thế có thể nhận thấy từ khi các em vào lớp
10 cho đến lớp 12 cơ thể các em đang trưởng thành và dần hoàn thiện, phát triển chiều cao, cân nặng, sức vóc tăng dần về tâm sinh lý cũng chuyển sang những nét tâm sinh lý của người lớn, các em ý thức được bản thân mình nhiều hơn Các em có nhu cầu tự khẳng định cá nhân ngày càng cao
Hoạt động học tập của các em dần dần được nâng cao cả về lượng kiến thức và phương pháp học tập Cấp THPT đòi hỏi các em phải có tính tự giác, độc lập cao trong học tập thì mới đáp ứng được yêu cầu về kiến thức của cấp học Tự bản thân các em đã nhận thức được đầy đủ và khá sâu sắc nhiệm vụ học tập của mình Lứa tuổi này thái độ và động cơ học tập cảu các em rõ ràng hơn trước rất nhiều Hầu hết các em xác định được mục đích học tập và cách học để đạt kết quả cao nhất Tuy nhiên ở các em vẫn còn những nét tính cách của tuổi mới lớn, trong nhiều hoạt dộng vẫn còn sự giám sát, đôn đốc của người lớn Do vậy trong quá trình học tập người thầy giáo vừa động viên khuyến khích lại vừa
có những hình thức kiểm tra đánh giá chặt chẽ mới đạt được kết quả như mong muốn
1.5.4 Sự quan tâm và tổ chức quản lý của nhà trường đối với bộ môn tiếng Anh
Nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn ngoại ngữ nói chung cũng như bộ môn tiếng Anh nói riêng trong bối cảnh hiện nay các nhà trường đã có sự quan tâm đầu tư ở một số mặt cụ thể
1.5.4.1 Sự quan tâm của nhà trường
Nhà trường luôn quan tâm và giáo dục cho giáo viên và học sinh nhận thức tầm quan trọng của tiếng Anh
Trang 32Nhà trường có một hiệu phó phụ trách tổ ngoại ngữ
Giáo viên tiếng Anh được biên chế vào một tổ là tổ ngoại ngữ
Về cơ sở vật chất: Tổ ngoại ngữ có một phòng họp tổ, một phòng học tiếng theo yêu cầu bộ môn
Nhà trường cung cấp đủ sách giáo khoa, sách bài tập, sách hướng dẫn giáo viên cho giáo viên, đủ sách giáo khoa, sách bài tập cho học sinh, thư viện nhà trường, sách tham khảo cho giáo viên và học sinh học tiếng Anh
Nhà trường tạo điều kiện đến mức tối đa thiết bị dạy học, phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy học tiếng Anh
Nhà trường yêu cầu các giáo viên dạy Tiếng Anh dự đầy đủ các lớp bồi dưỡng chuyên môn do Bộ giáo dục , Sở giáo dục tổ chức Động viên tạo điều kiện cho giáo viên dạy tiếng Anh tiếp tục học tập trên chuẩn
Nhà trường chỉ đạo tổ tiếng Anh tổ chức các hoạt động ngoại khóa phù hợp, thiết thực với HS
Nhà trường yêu cầu tổ tiếng Anh có câu lạc bộ tiếng Anh, thường xuyên
tổ chức hội thảo trao đổi cách dạy và học tiếng Anh thế nào cho tốt
1.5.4.2 Tổ chức quản lý của nhà trường đối với bộ môn tiếng Anh
Cùng với các bộ môn khác, bộ môn tiếng Anh được tổ chức quản lý như sau:
Giáo viên bộ môn tiếng Anh được biên chế vào tổ tiếng Anh (hoặc tổ ngoại ngữ) được biên chế một tổ trưởng, một tổ phó và đặt dưới sự quản lý chỉ đạo trực tiếp của một phó hiệu trưởng và hiệu trưởng Tùy theo số lượng học sinh từng trường mà số lượng giáo viên được biên chế từ 9 đến 14 giáo viên với
số lượng giờ dạy tối đa 17 tiết/tuần Trình độ giáo viên tiếng Anh đều đạt chuẩn 100%
Bộ môn tiếng Anh được giảng dạy theo số lượng kiến thức theo phân phối chương trình của Sở GD& ĐT Hải Phòng
Sách giáo khoa tiếng Anh lớp 10, 11, 12 được in ấn và chỉnh sửa năm
2005 là bộ sách giáo khoa chính thống cho giáo viên và học sinh
Trang 33Ngoài những quy định về chuyên môn, các giáo viên tiếng Anh đều phải chấp hành các điều lệ, quy định khác của ngành giáo dục, của trường Nhà trường có phòng họp tổ, phòng học tiếng được thiết kế, trang trí phù hợp với đặc điểm bộ môn
Tiểu kết chương 1
Nội dung của chương 1 đề cập đến các khái niệm cơ bản liên quan đến quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Các khái niệm cơ bản đó giúp tôi có cơ sở phân tích thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT quận Lê Chân thành phố Hải Phòng để đề xuất một số biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn này ở các trường THPT trong giai đoạn hiện nay
Trang 34Chương 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH CÁC TRƯỜNG THPT QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1 Đặc điểm chung của quận Lê Chân
Quận Lê Chân nằm ở phía Tây – Nam của thành phố Hải Phòng, là một trong những quận trung tâm của thành phố, Quận có 14 phường với tổng diện tích 12,3km2, dân số trên 21 vạn người Đây là một quận mà chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, lẻ đóng trên địa bàn Dân cư trong quận chủ yếu là công nhân, viên chức hoặc buôn bán nhỏ, tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm của Quận là 1,01%, mật độ dân số ngày càng đông do có sự di chuyển lớn số dân từ ngoại thành và các tỉnh lân cận Tóm lại Lê Chân là một quận có số dân đông, mức sống người dân còn thấp Về lĩnh vực giáo dục đào tạo ở cấp Trung học phổ thông, quận có 4 trường: 02 trường công lập và 02 trường dân lập Giáo dục Trung học phổ thông của quận phát triển tương đối nhanh và toàn diện Số trường trong quận có đủ để thu hút cơ bản hết số HS tốt nghiệp trung học cơ sở Chất lượng giáo dục ở mức cao so với mặt bằng của cả nước Hàng năm trung bình có từ 1.200 đến 1.600 HS tham gia kỳ thi tốt nghiệp THPT Tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THPT hàng năm trên 90% Đội ngũ GV đủ về số lượng, đạt chuẩn 100% Cơ sở vật chất thiết bị kỹ thuật ngày càng được trang bị đầy đủ, dần đi đến chuẩn hoá Trong bản phương hướng nhiệm vụ từ 2006 – 2010 Đảng bộ thành phố đã chỉ rõ; “ Đảng bộ và nhân dân toàn thành phố phấn đấu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy Đảng; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân; tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện, huy động mọi nguồn lực để khai thác các tiềm năng, lợi thế, nhằm tăng tốc độ phát triển
và đẩy mạnh kinh tế công nghiệp làm chủ lực, đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn phát triển văn hóa, xã hội tương xứng với nhịp độ phát tiển kinh tế Nâng cao chất lượng đời sống nhân dân Bảo đảm an ninh – quốc phòng Xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể vững mạnh
Trang 35Riêng về GD &ĐT, báo cáo nêu rõ: Phát triển nâng cao chất lượng GD
&ĐT, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa Tiếp tục phát triển quy mô GD &ĐT có cơ cấu hợp lý giữa các cơ sở công lập, ngoài công lập, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Khuyến khích phát triển các cơ sở ngoài công lập Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học, coi trọng giáo dục đạo đức, kết hợp dạy chữ, dạy người, dạy nghề Phấn đấu để sản phẩm giáo dục là nguồn lực có trình độ phục
vụ quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa của thành phố
2.2.Vài nét khái quát về các trường THPT quận Lê Chân – thành phố Hải Phòng
2.2.1 Đặc điểm đối tượng giáo dục và đào tạo của các trường THPT quận Lê Chân- thành phố Hải Phòng
Đối tượng giáo dục và đào tạo của các trường THPT quận Lê Chân - Hải Phòng đều là HS đã tốt nghiệp THCS đa số là ở các trường THCS trong quận
Do đó đa số các em đều ngoan, chăm học, động cơ học tập nghiêm túc Do đặc điểm tâm lý của lứa tuổi từ 15 đến 18 tuổi các em rất ham học hỏi cái mới, năng động, nhiệt tình trong học tập Điều này rất thuận lợi cho việc học tập các môn nói chung cũng như môn tiếng Anh nói riêng
Khó khăn chủ yếu của HS ở các trường THPT trong quận là có 02 trường THCS trong quận có các em học tiếng Pháp nhưng khi lên cấp THPT các em lại phải học tiếng Anh 100% Điều này gây khó khăn cho các em trong việc học tập
vì giáo trình sách giáo khoa môn tiếng Anh được liên thông từ lớp 6 đến lớp 12
2.2.2 Mục tiêu đào tạo của trường THPT
Bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ của thông tin, khoa học, kỹ thuật và công nghệ ngày càng đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cũng như các trường THPT khác mục tiêu cơ bản của giáo dục trong nhà trường THPT quận Lê Chân, Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay là: Tiếp tục thực hiện toàn diện, hoàn thành việc cung cấp cho học sinh học vấn phổ thông theo một
Trang 36chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực và sở trường của học sinh ở một mức độ nhất định, giúp học sinh có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh khi vào đời hoặc chọn ngành học tiếp sau khi tốt nghiệp cấp học
Mục tiêu của môn học tiếng Anh của các trường THPT: Với tư cách là môn văn hóa cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông Dạy học môn tiếng Anh nhằm giúp học sinh sử dụng được tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết có kiến thức cơ bản tương đối hệ thống và hoàn chỉnh về tiếng Anh phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lý lứa tuổi, có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nét đẹp văn hóa của một số nước nói tiếng Anh, từ đó có thái độ, tình cảm tốt đẹp đối với đất nước, con người có nền văn hóa, ngôn ngữ của các nước nói tiếng Anh, biết tự hào, yêu quý và tôn trọng nền văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc mình
2.2.3 Tổ chức bộ máy quản lý của các trường THPT quận Lê Chân, Hải Phòng
Về chức năng: Sở GD &ĐT Hải Phòng là cơ quan chuyên môn của UBND thành phố, là hệ thống tổ chức quản lý ngành GD &ĐT của Bộ GD &ĐT
ở địa phương Nhiệm vụ chủ yếu của Sở giáo dục là chỉ đạo các trường học thực hiện các điều lệ, quy dịnh về tổ chức và chuyên môn, quản lý công tác cán bộ từ đào tạo quy hoạch đến bố trí sử dụng cán bộ, quản lý công tác tuyển sinh, quản
lý cơ sở vật chất, tài sản theo quy định của UBND thành phố
Trong bộ máy của Sở GD &ĐT Hải Phòng thì phòng Trung học là cơ quan chuyên môn có nhiệm vụ quản lý mọi hoạt động chuyên môn của ngành giáo dục địa phương Nhiệm vụ này được phân công cho các chuyên viên theo từng chuyên môn Trước mỗi một năm học mới, kế hoạch dạy học ở từng bộ môn được xây dựng tương đối cụ thể, nhưng do địa bàn rộng, công việc nhiêu nên sự quản lý còn nặng nề về những hoạt động mang tính chất hành chính, các hoạt động chuyên môn còn nhiều bất cập
Trang 37Cơ sở giáo dục dưới Sở GD &ĐT là các trường học, trung tâm giáo dục
Ở các trường THPT, đứng đầu là BGH, trong BGH sẽ có một hiệu phó phụ trách
chuyên môn Các giáo viên được phân công về các tổ bộ môn và chịu sự quản lý
trực tiếp của tổ trưởng bộ môn, hiệu phó phụ trách chuyên môn và Hiệu trưởng
Tổ chức bộ máy nhà trường như một cơ thể sống, có cơ chế vận hành theo
sự phân cấp: Đảng ủy, Ban giám hiệu trong đó người chịu trách nhiệm chính là
Hiệu trưởng , các tổ chức đoàn thể quần chúng , các tổ bộ môn, bộ phận hành
chính, kế toán, tài vụ cùng tham gia hoạt động của bộ máy để đơn vị hoàn thành
kế hoạch, nhiệm vụ.Cơ cấu tổ chức bộ máy trường THPT được thể diện qua sơ
đồ sau:
Cơ cấu tổ chức bộ máy trường THPT
Đảng bộ hoặc Chi bộ mà đại diện cao nhất là Đảng ủy hoặc Chi ủy nhà
trường , lãnh đạo về chủ trương, đường lối để các tổ chức, đoàn thể trong trường
Trang 38hoạt động thông qua nghị quyết và những chủ trương mang tính nguyên tắc hướng tới mục tiêu giáo dục
Ban giám hiệu bao gồm Hiệu trưởng và các Phó hiệu trưởng Hiệu trưởng
là người đại diện cho nhà trường về nhiều mặt pháp lý, là người đứng đầu bộ máy, chịu trách nhiệm quản lý toàn diện các hoạt động của nhà trường Các Phó hiệu trưởng: giúp việc cho Hiệu trưởng, quản lý từng mặt công tác trong trường
do Hiệu trưởng phân công
Các tổ chức đoàn thể: Công đoàn cơ sở, Đoàn thanh niên, Ban nữ công là những tổ chức quần chúng cùng phối hợp với Ban giám hiệu và Hội đồng giáo dục để xây dựng chương trình kế hoạch, tổ chức các phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”; “Rèn luyện và học tập vì ngày mai lập nghiệp”; “Giỏi việc trường, đảm việc nhà”.v.v…
Các tổ chuyên môn: Tổ chức, giảng dạy các môn học theo kế hoạch giảng dạy và đặc thù bộ môn Giáo viên ngoài dạy môn học còn tham gia làm công tác chủ nhiệm lớp, điều hành tổ chức học sinh hoạt động theo kế hoạch của nhà trường ở từng giai đoạn trong năm học Tổ trưởng chuyên môn chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về quản lý giáo viên, chất lượng giảng dạy, thực hiện bồi dưỡng giáo viên, xây dựng tư liệu bộ môn
Phòng hành chính và văn thư: giúp Hiệu trưởng quản lý toàn bộ hồ sơ của học sinh qua các năm học, các loại sổ đăng bộ, sổ kiểm diện và ghi điểm, sổ đầu bài, học bạ, sổ cấp bằng tốt nghiệp, các phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy học
Bộ phận kế toán, tài vụ: Giúp hiệu trưởng quản lý toàn bộ vốn, tài chính trong và ngoài ngân sách, quản lý tài sản nhà trường và công tác kế toán
Tất cả các tổ chức bộ máy trong nhà trường cùng hướng tới một đối tượng
là học sinh
Các lớp học sinh: Dưới sự quản lý, chỉ đạo của giáo viên chủ nhiệm, học sinh có nhiệm vụ thực hiện đầy đủ kế hoạch học tập và các họat động thi đua theo kế hoạch của nhà trường và các tổ chức đoàn thể (Đoàn thanh niên, ban nữ công…) tổ chức, cá nhân và tập thể học sinh cần đoàn kết, giúp đỡ nhau trong
Trang 39học tập và rèn luyện, thực hiện nghiêm chỉnh Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT quận Lê Chân - thành phố Hải Phòng
2.3.1 Thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên
2.3.1.1 Thực trạng về hoạt động dạy học của giáo viên
Nhằm hiểu rõ được thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên trước hết tôi diều tra và khảo sát tình hình đội ngũ giáo viên của các trường THPT trong quận Lê Chân - thành phố Hải Phòng
Bảng 2.1: Độ tuổi GV môn tiếng Anh ở các trường THPT quận Lê Chân - Hải Phòng
Nhận xét: Nhìn vào bảng thống kê ta thấy tổng số GV ở 04 trường THPT
Quận Lê Chân, Hải Phòng là 33, trong đó số GV dưới 40 là 19 người Số GV có
độ tuổi từ 40 đến 50 là 6 người, số GV trên 50 tuổi là 8 người Số GV dưới 40 tuổi chiếm hơn một nửa, tức là đội ngũ GV tiếng Anh trong quận đa số còn trẻ,
đó là những người có sức khỏe, có trình độ, có thời gian công tác dài Điều này rất thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của xã hội
Trang 40Bảng 2.2: Trình độ chuyên môn của GV ở các trường THPT quận Lê Chân - Hải Phòng
Nhận xét: Qua thống kê ta thấy 100% GV đạt chuẩn về trình độ chuyên
môn, đều tốt nghiệp trường đại học sư phạm Các thầy cô giáo đều có đủ kiến thức sư phạm, kiến thức chuyên môn, nhiệt tình, tâm huyết với nghề với thế hệ trẻ có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần chủ động tích cực trong công tác
Tuy nhiên bảng thống kê chỉ ra năng lực chuyên môn của GV, GV có trình độ trên chuẩn còn rất ít không đồng đều, chỉ có 01 GV được đi học bồi dưỡng chuyên môn ở nước ngoài Do vậy, đội ngũ GV chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội Điều này đòi hỏi các CBQL có sự quan tâm đúng, tạo điều kiện để GV tiếng Anh có cơ hội được học tập về chuyên môn, nhất là được có cơ hội học tập chuyên môn ở nước ngoài để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát hiện trạng các hoạt động giảng dạy của GV
Đánh giá mức độ thực
hiện (%)
Thường xuyên
Đôi khi
Không bao giờ