ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM TRỊNH VĂN HẢI CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TÚY TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QU
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
TRỊNH VĂN HẢI
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TÚY TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: NGƯT.TS Nguyễn Gia Quý
Hà Nội năm 2006
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Khoa sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: NGƯT.TS Nguyễn Gia Quý
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ Họp tại: Vào hồi giờ ngày tháng năm 200
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Thư viện khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 3
6 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TUÝ TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 5
1.1 VÀI NÉT TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 5
1.2 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ MA TUÝ - CÁC TỆ NẠN XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ - CÁC TỆ NẠN XÃ HỘI CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG 9
1.2.1 KHÁI NIỆM MA TUÝ 9
1.2.2 TÁC HẠI CỦA MA TUÝ VÀ CÁCH PHÒNG, CHỐNG 14
1.2.3 ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ, SINH LÝ CỦA LỨA TUỔI SINH VIÊN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP LỰA CHỌN CÁC CÁCH PHÒNG CHỐNG MA TUÝ PHÙ HỢP VỚI SINH VIÊN 19
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ 23
1.3.1 KHÁI NIỆM QUẢN LÝ 23
1.3.2 NHỮNG CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ 25
1.3.3 KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TUÝ 28
1.3.4 KHÁI NIỆM BIỆN PHÁP - BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TUÝ TRONG SINH VIÊN 29
1.4 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TUÝ TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 34
Trang 42.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KỸ THUẬT NĐ 34
2.1.1 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SPKT NAM ĐỊNH 34 2.1.2 CƠ CẤU, TỔ CHỨC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 38 2.1.3 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUY MÔ ĐÀO TẠO CỦA NHÀ TRƯỜNG 40
2.2 NỘI DUNG, HÌNH THỨC VÀ CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG MA TUÝ CHO SINH VIÊN 42
2.2.1 NỘI DUNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG MA TUÝ CHO SINH VIÊN 422.2.2 HÌNH THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG MA TUÝ CHO SINH VIÊN 43 2.2.3 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG MA TUÝ CHO SINH VIÊN CỦA NHÀ TRƯỜNG 44
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TUÝ TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 45 2.4 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG
MA TUÝ TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH VÀ THỐNG KÊ THỰC TRẠNG SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH NGHIỆN MA TUÝ TRONG THỜI GIAN QUA PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NÀY 49 2.5 THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TUÝ TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 59
2.5.1 PHÒNG CÔNG TÁC HS-SV VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TUÝ - CÁC TỆ NẠN XÃ HỘI TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 59
Trang 52.5.2 VIỆC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÒNG CHỐNG MA TUÝ CÁC TỆ NẠN XÃ HỘI CHO TẬP THỂ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 62 2.5.3 TỔ CHỨC TRIỂN KHAI, THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 64 2.5.4 KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ 65
2.6 NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA TỆ NẠN MA TÚY TRONG TRƯỜNG HỌC NÓI CHUNG VÀ TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH NÓI RIÊNG 66 2.7 NHỮNG NGUYÊN NHÂN VỀ SỰ YẾU KÉM TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TUÝ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Trang 63.7 MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 85
3.8 KIỂM CHỨNG VỀ TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
1 KẾT LUẬN 89
2 KHUYẾN NGHỊ 89
2.1 ĐỐI VỚI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 89
2.2 ĐỐI VỚI BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH & XÃ HỘI 90
2.3 ĐỐI VỚI BỘ VĂN HOÁ - THÔNG TIN 90
2.4 ĐỐI VỚI TRUNG ƯƠNG ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH VÀ TRUNG ƯƠNG HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM 90
2.5 ĐỐI VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH 90
2.6 ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH SINH VIÊN 91
2.7 ĐỐI VỚI XÃ HỘI 91
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 94
Trang 7CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt
1 HS-SV Học sinh - Sinh viên
2 HIV Human Immunodeficieney Virus
3 AIDS Aquired Immunodeficieney Synarome
4 GS-TS Giáo sƣ - Tiến sỹ
5 GD-ĐT Giáo dục - Đào tạo
6 CNKT Công nhân kỹ thuật
7 THCN Trung học chuyên nghiệp
8 THPT Trung học phổ thông
9 KTX Ký túc xá
10 NCKH Nghiên cứu khoa học
11 NXB Nhà xuất bản
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay thế hệ trẻ Việt Nam mà tiêu biểu là lực lượng HS-SV đã có nhiều phẩm chất của thời đại như: Thông minh, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm ham hiểu biết, đi đầu trong mọi lĩnh vực, nhanh nhạy với các mới trong tiếp thu thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ, là đội ngũ chiếm 55% lực lượng lao động xã hội và 38% dân số, góp phần tạo ra cục diện mới cho đất nước Như nghị quyết Hội nghị TW lần thứ tư Khóa VII (trang 82) của Đảng đã chỉ rõ “Thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là
một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của cách mạng”
Song song với những ưu điểm nêu trên, một bộ phận thanh thiếu niên, sinh viên vẫn chưa theo kịp sự tiến bộ chung như: Chưa xác định được vị trí, trách nhiệm, vai trò của bản thân trước gia đình và xã hội, không chịu vận động, ỷ lại, lười học sa vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, nghiện hút, tiêm chích ma túy … làm ảnh hưởng đến tương lai bản thân, đến nhà trường, gia đình, cộng đồng và xã hội Nghị quyết TW 2 - Khóa VIII (trang 36) đã khẳng định “Một bộ phận sinh viên có biểu hiện suy thoái về đạo đức,
mờ nhạt lý tưởng theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp
vì tương lai của bản thân và của đất nước”
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định có nhiệm vụ đào tạo giáo viên dạy nghề cho các trường và trung tâm dạy nghề và giáo viên dạy kỹ thuật cho các trường phổ thông
Hiện nay, trường có 6000 sinh viên Trường quy tụ những sinh viên ở các độ tuổi khác nhau, ở các địa phương khác nhau trong cả nước đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc như: Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên là những tỉnh có điểm nóng về tệ nạn ma túy
Trong những năm qua, song song với công tác đào tạo, công tác quản lý, giáo dục HS-SV đã đạt được những kết quả ban đầu Song trong thực tế hiện nay thì tình hình xã hội vẫn còn nhiều phức tạp, tiềm ẩn nhiều biến động, các
tệ nạn xã hội như: Cờ bạc, lô đề, nghiện hút, mại dâm, ma túy… có chiều hướng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp Tình hình đó đã ảnh hưởng khá
Trang 9rõ rệt vào nhà trường và gây ra không ít những băn khoăn, trăn trở đối với những người quản lý nhà trường
Là một cán bộ phụ trách về công tác quản lý - giáo dục HS-SV, qua nhiều năm công tác bản thân cũng đã nhận thức sâu sắc được trách nhiệm là phải quản lý, giáo dục HS-SV thật tốt, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các em yên tâm học tập, từng bước đẩy lùi và chấm dứt các tệ nạn xã hội không để chúng xâm nhập vào nhà trường
Chính vì những lý do trên, bản thân tôi đã chọn đề tài “Các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh viên trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Nam Định” để nghiên cứu với hy vọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đồng thời góp phần cùng toàn ngành Giáo dục phấn đấu không có ma túy và các tệ nạn xã hội trong trường học
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực trạng về công tác quản lý các hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định trong những năm gần đây Đề tài đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh viên ở Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý các hoạt động phòng chống ma túy - các tệ nạn xã hội cho sinh viên
- Khảo sát và đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động phòng chống ma túy của nhà trường và xác định các nguyên nhân của thực trạng
- Đề xuất các biện pháp khả thi trong quản lý hoạt động phòng chống
ma túy trong tập thể sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu
Quá trình quản lý hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
Trang 10- Khách thể khảo sát:
Đối tượng khảo sát chính là sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định ngoài ra cũng thu thập ý kiến của giáo viên, cán bộ lớp, cán bộ Đoàn, cán bộ quản lý trường, cán bộ quản lý các Phòng, Khoa ở Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
- Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
5 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay công tác quản lý hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định đã đạt được những kết quả ban đầu trên mọi mặt kể cả chiều rộng và chiều sâu Song vẫn còn tồn tại vẫn chưa dứt điểm, làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, đến tư tưởng của sinh viên và cán bộ giáo viên, chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục của nhà trường Nếu có những biện pháp quản lý phù hợp, sát thực mang tính khả thi, thì công tác quản lý hoạt động phòng chống ma túy - các tệ nạn xã hội trong tập thể sinh viên nhất định sẽ đạt được hiệu quả cao hơn
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện nghiên cứu hạn hẹp, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định và kiểm chứng ở mức độ nhận thức về tính khả thi
và hiệu quả của các biện pháp đã đưa ra
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài, tác giả sẽ sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Trong nhóm này sẽ sử dụng các phương pháp: Thu thập, phân tích, tổng hợp, khái quát, các văn kiện, các chỉ thị, các nghị quyết, các thông tư, quyết định, các công văn, thông báo, các công trình khoa học có liên quan đến công
Trang 11tác quản lý các hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh viên, để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Gồm các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra (bằng phiếu hỏi ý kiến của sinh viên, giảng viên, cán bộ quản lý)
- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động nhằm giáo dục, tuyên truyền phòng chống ma túy cho sinh viên của nhà trường
- Phương pháp tổng kết kinh nhiệm: Tổng kết các kinh ghiệm rút ra từ thực tế tổ chức thành công, chưa thành công các hoạt động phòng chống ma túy - các tệ nạn xã hội trong tập thể sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các giáo viên chủ nhiệm, các chuyên gia, các cán bộ quản lý bằng phiếu hỏi về tình hình và biện pháp phòng chống ma túy trong sinh viên
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Các số liệu khảo sát thu được sẽ sử dụng các phép tính thống kê toán học để tính toán xử lý
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến chuyên gia để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp quản lý đã đề xuất
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý các hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống ma túy trong tập thể sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MA TUÝ TRONG TẬP THỂ SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM ĐỊNH
1.1 VÀI NÉT TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Trong nhiều thập kỷ qua, tình hình sản xuất, vận chuyển, buôn bán và sử dụng các chất ma tuý đã và đang diễn ra rất phức tạp Ma tuý hiện nay được coi là vấn đề mang tính toàn cầu Cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm về
ma tuý cũng như vấn đề lạm dụng ma tuý đã trở thành vấn đề bức xúc của mỗi quốc gia, mỗi khu vực trên toàn thế giới Các quốc gia, các tổ chức quốc
tế liên quan không ngừng tăng cường và hợp tác trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và tệ nạn ma tuý với mục tiêu ngăn chặn và dần dần đẩy lùi dẫn tới triệt tiêu tệ nạn ma tuý khỏi đời sống xã hội
Ma tuý gây tác hại nghiêm trọng cho xã hội, vì vậy cũng như các nước trên thế giới, nhà nước Việt Nam từ chế độ phong kiến đến chế độ xã hội chủ nghĩa hiện nay đều không ngừng xây dựng, bổ sung, sửa đổi luật hình sự làm công cụ sắc bén để đấu trang chống tội phạm ma tuý Tuy nhiên mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi nhà nước khác nhau thì các chính sách hình sự về tội phạm ma tuý cũng khác nhau
Với Việt Nam, căn cứ vào đặc điểm các giai đoạn lịch sử của đất nước
và thái độ của Nhà nước đối với các tội phạm về ma tuý, có thể chia quá trình hình thành và phát triển của pháp luật hình sự về ma tuý thành năm giai đoạn sau:
* Giai đoạn I: Sự du nhập các loại cây có chất ma tuý vào Việt Nam và sự
hình thành pháp luật quy định tội phạm về ma tuý của Nhà nước phong kiến Việt Nam qua các triều đại
Trang 13Các loại cây có chất ma tuý được du nhập vào Việt Nam đầu tiên là cây thuốc phiện, cây này được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam vào những năm 1600 Ban đầu cây thuốc phiện được coi như một thứ “hỏa dược” có thể chữa được một số bệnh phong thấp, đường ruột và giảm đau Nhưng sau đó người ta cũng thấy được tác hại to lớn của nó Do đó, vào những năm Cảnh Trị thứ ba (1685) Nhà nước phong kiến đã ban hành đạo luật đầu tiên về “cấm trồng cây thuốc phiện” Ngoài ra, triều đình đã có lệnh cấm các thuyền buôn từ Tân Châu (Trung Quốc) vào Việt Nam và khám xét tất cả thuyền buôn nước ngoài vào các cảng dọc theo bờ biển nước ta
* Giai đoạn II: Pháp luật quy định tội phạm về ma tuý trong thời kỳ Việt
Nam là thuộc địa của Pháp (1858-1945)
Giai đoạn này Pháp thực hiện chính sách ngu dân và vơ vét tài nguyên, tiền của ở Đông Dương, nhà cầm quyền Pháp cho công khai phát triển trồng cây thuốc phiện Vì vậy, việc trồng, buôn bán, sử dụng thuốc phiện phát triển rất mạnh và tệ nạn nghiện hút lan tràn phổ biến trong xã hội
* Giai đoạn III: Pháp luật quy định tội phạm về ma tuý trong thời kỳ nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời và tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
* Giai đoạn IV: Pháp luật quy định tội phạm về ma tuý từ năm 1954 đến khi
có Bộ luật hình sự năm 1985
Trong giai đoạn này, tại nghị định 580/TTg ngày 15 tháng 09 năm 1955 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định: “Người có hành vi buôn lậu, thuốc phiện có thể bị phạt tù từ ba tháng đến năm năm, tịch thu tang vật và các phương tiện dùng vào việc phạm tội”
* Giai đoạn V: Pháp luật quy định tội phạm về ma tuý từ sau khi Bộ luật hình
sự năm 1985 ra đời đến khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Như vậy trải qua năm giai đoạn hình thành và phát triển của pháp luật hình sự về ma tuý thì cho đến nay công tác đấu tranh phòng, chống ma tuý
Trang 14được coi là chính sách nhất quán của Đảng thể hiện qua chỉ thị số 06/CT ngày
30 tháng 11 năm 1996 của Bộ Chính trị “Về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý”, các chương trình hành động phòng, chống ma tuý giai đoạn 1998-2000 và chương trình hành động phòng, chống ma tuý giai đoạn 2001-2005, giai đoạn 2006-2010 và năm 2006 Quốc hội và Nhà nước đã ban hành Luật phòng chống ma tuý
Phòng, chống ma tuý nói chung và phòng, chống ma tuý trong học sinh viên nói riêng là vấn đề đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu Liên hợp quốc, Interpol, các tổ chức quốc tế đã tổ chức nhiều hội nghị quốc tế và xuất bản nhiều ấn phẩm về vấn đề phòng, chống ma tuý
sinh-Ở nước ta trong những năm qua, các cơ quan nhà nước, các nhà nghiên cứu của Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia đã nghiên cứu về
ma tuý dưới nhiều góc độ khác nhau Trong số này phải kể đến các công trình như: Đề tài KX.04.14 của Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân và giải pháp phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, “phòng, chống ma tuý trong nhà trường” năm 1997 của Vũ Ngọc Bừng
Đề tài “Tội phạm về ma tuý - đặc điểm hình sự, dấu hiệu pháp lý, các biện pháp phát hiện và điều tra” năm 1998 của Nguyễn Phong Hoà v.v Một
số công trình nghiên cứu khoa học, luận án cử nhân, thạc sỹ luật học và phó tiến sỹ, tiến sỹ luật học đã được nghiên cứu về tội phạm ma tuý, phòng, chống
ma tuý trong phạm vi cả nước hoặc các tỉnh, thành phố trong đó có luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Thị Oanh, cán bộ Học viện Cảnh sát nhân dân
Bộ Công an với đề tài “Phòng ngừa tệ nạn sử dụng ma tuý trong học sinh, sinh viên của lực lượng cảnh sát nhân dân Công an Thành phố Hà Nội, thực trạng
và một số giải pháp hoàn thiện”
Cùng với các đề tài đi sâu nghiên cứu về thực trạng nguyên nhân và giải
Trang 15sinh viên được giải thưởng của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 1998 của học viên Hoàng Văn Định - Học viện Cảnh sát nhân dân - Bộ Công an lại đi sâu nghiên cứu về ma tuý học đường, công trình mang tên “Ma tuý học đường thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, ngăn chặn của lực lượng công an nhân dân”
Ngoài ra là các sách, tài liệu xuất bản của Ban chỉ đạo phòng, chống ma tuý, Bộ Giáo dục và Đào tạo, báo cáo tổng thuật các sản phẩm của dự án
“Giáo dục phòng, chống lạm dụng ma tuý trong nhà trường” của Bộ Giáo dục
và Đào tạo Những công trình, đề tài nói trên đều có đề cập đến nội dung về phòng, chống ma tuý nói chung phòng, chống ma tuý trong nhà trường nói riêng, nhưng chủ yếu dưới góc độ tội phạm học, xã hội học hoặc luật hình sự mới chỉ giải quyết một số khía cạnh trong phòng, chống ma tuý Vì thế có thể nói rằng, đấu tranh phòng, chống ma tuý trong học sinh, sinh viên cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu việc quản lý công tác phòng chống ma tuý và các tệ nạn xã hội trong một trường Đại học, Cao đẳng Vì vậy, việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống ma tuý trong tập thể sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định” Tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động phòng, chống ma tuý cho HS-SV Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định nói riêng và có thể vận dụng cho các Trường Đại học khác trong toàn quốc trong những hoàn cảnh tương tự
Trang 161.2 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ MA TUÝ - CÁC TỆ NẠN XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ - CÁC TỆ NẠN XÃ HỘI CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG
1.2.1 Khái niệm ma tuý
1.2.1.1 Ma tuý là gì?
Trong vài năm gần đây danh từ “ma tuý” đã được người ta nhắc đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng Nhưng “ma tuý” là gì thì có nhiều cách hiểu khác nhau Trước đây, người ta thường dùng từ “thuốc phiện” bởi vì khi đó chỉ có thuốc phiện là một chất gây nghiện Nhưng ngày nay những chất gây nghiện ngày càng xuất hiện nhiều, đa dạng, muôn hình, muôn
vẻ, nên ma tuý được dùng để chỉ các chất gây nghiện nói chung
Ngày nay, một số người xem ma tuý là chất độc dược, khi xâm nhập vào
cơ thể sẽ gây ra một số phản ứng làm thay đổi một số chức năng trao đổi chất, gây những tổn thất lên hệ thống thần kinh, tạo ra trong tâm lý con người một thói quen, những khát khao đam mê khó có thể bỏ được hoặc gây nên những trạng thái tâm lý không bình thường, làm mất đi một số chức năng cơ bản vốn
có của cơ thể, tạo thành những ảo giác, cảm giác mới lạ hoặc làm giảm cơn đau Do đó, hiểu một cách đơn giản nhất thì ma tuý là một số chất tự nhiên hoặc tổng hợp, khi đưa vào cơ thể con người dưới bất cứ hình thức nào sẽ gây
ức chế hoặc kích thích mạnh hệ thần kinh, làm giảm đau hoặc có thể gây ảo giác
Như vậy, nếu dùng đúng một số chất tự nhiên hoặc một số chất tổng hợp vào mục đích chữa bệnh, đúng liều lượng, đúng lúc theo hướng dẫn của thầy thuốc thì nó có tác dụng tốt Ví dụ như Moocphin, dolargan có tác dụng làm giảm đau Nhưng nếu tự ý sử dụng chúng không có sự chỉ dẫn của thầy thuốc mà chỉ với mục đích giải trí, với liều lượng và thời gian bừa bãi, sẽ gây
ra sự thay đổi về chức năng sinh lý và tâm lý trong cơ thể người, dùng nhiều lần sẽ quen trở thành nghiện rất có hại cho sức khoẻ
Trang 17* Đặc điểm của ma tuý
Ma tuý dù dưới dạng tự nhiên hay tổng hợp, khi vào cơ thể người đều có chung một đặc điểm như sau:
- Làm cho người sử dụng dễ quen thuốc, có ham muốn dùng tiếp, không kiềm chế được và phải dùng tiếp nó với bất kỳ giá nào
- Luôn có xu hướng tăng dần liều lượng dùng: Liều dùng sau phải cao hơn liều dùng trước, do đó dẫn đến nghiện do tăng liều, tăng thời gian sử dụng
- Có sự lệ thuộc về tinh thần và vật chất Nếu đã nghiện mà ngừng sử dụng bị hội chứng cai thuốc làm cho cơ thể có những phản ứng bất lợi, thậm chí có thể đe doạ đến tính mạng
Tuỳ thuộc vào nồng độ cao hay thấp của ma tuý mà có một, hai hoặc cả
ba đặc điểm trên
1.2.1.2 Vài nét về lịch sử ma tuý
Từ thời thượng cổ, người Ai Cập và người Ba Tư đã biết trồng cây thuốc phiện và cũng cách đây 3000 năm, chính người Ai Cập đã phát hiện ra rằng chất nước màu nâu xám xanh của nhựa cây gai dầu Ấn Độ (hachisch) luôn tạo
ra cảm giác say sưa và dễ chịu cho con người
Cũng từ lâu đời, các thổ dân Nam Mỹ đã coi cây Coca như một vị thuốc
bổ vì khi nhai nuốt sẽ mất cảm giác đói và khát Nghề trồng thuốc phiện nhanh chóng lan ra các nước Tiểu Á Từ thế kỷ thứ VII trước công nguyên các thầy thuốc đã biết đến tác dụng của thuốc phiện, ngay cả Hypocrat ông tổ của y học cũng đã dùng thuốc phiện chữa khỏi một số bệnh
Với sự truyền bá của Đạo Hồi việc trồng thuốc phiện đã lan ra khắp thế giới và ngày nay đã trở thành phổ biến Việc tìm ra chất Moocphin và sau đó
là Heroin (mạnh gấp 10 lần Moocphin) lại càng kích thích việc sản xuất và buôn bán các chất ma tuý phát triển Một vùng khác như Tam giác vàng ở Đông Nam Á bọn buôn bán ma tuý còn có một lực lượng 7 - 8 ngàn người
Trang 18được trang bị khá tốt chiếm giữ các vùng hiểm trở gây rất nhiều khó khăn cho quân đội các nước sở tại
Công việc sản xuất và buôn bán ma tuý mang lại một thu nhập rất cao
Ví dụ: ở Bôlivia trong những năm 1990-1991 thu mỗi năm từ 400-700 triệu USD, ở Pêru là 600-700 triệu USD, còn ở Côlombia thì con số lên đến hàng
tỷ USD Tại khu vực Tam Giác vàng thuộc khu vực Đông Nam Á, chỉ tính từ năm 1985 đến năm 1989 số lợi nhuận do buôn bán ma tuý mang lại ước tính lên tới 350 triệu USD
1.2.1.3 Phân loại ma tuý và cách nhận biết người nghiện ma tuý
Theo quy định của công ước Quốc tế về kiểm soát ma tuý, danh mục các chất ma tuý, tiền chất cần kiểm soát gồm 247 chất ma tuý và 22 chất có thể sản xuất ra ma tuý, 22 chất này chưa phải là ma tuý nhưng phải áp dụng chế
độ kiểm soát như các chất ma tuý Như vậy, ma tuý có mấy trăm loại khác nhau Thường người ta phân loại theo nguồn gốc, tác dụng hoặc đặc tính của chúng - Theo nguồn gốc
* Ma tuý có nguồn gốc tự nhiên
Thuốc phiện chín: Được bào chế từ thuốc phiện sống bằng cách dùng nước nóng hoà tan nhiều lần thuốc phiện sống, lọc qua vải nhiều lần và sấy khô lọc rồi đóng thành bánh Nó có mùi thơm hơn thuốc phiện sống và cũng
có màu nâu đen xẫm
Trang 19 Xác thuốc phiện là phần còn lại trong tẩu sau khi thuốc phiện được hút xong Thường trong xái thuốc phiện vẫn còn lại một lượng nhất định moocphin
- Cây cần sa (hay còn gọi là cây gai đầu, cây lanh mèo, cây đại mã, bồ đà) hoạt chất của nó thường là Hashush có hoạt tính sinh học mạnh và gây nghiện
- Cây coca mà hoạt chất chính của nó là côcain, cocain là hợp chất thiên nhiên, có tác dụng gây tê tại chỗ, có tác dụng kích thích thần kinh trung ương
Ngoài các chất làm giảm đau còn có các chất kích thích hệ thần kinh và
ức chế hệ thần kinh
* Theo mức độ gây nghiện: Gồm 3 loại
- Loại mạnh: Bao gồm những ma tuý luôn gây ra hiện tượng nghiện như: Thuốc phiện, heroin, cocain…
- Loại trung gian: Nếu bị lạm dụng, thường gây nghiện do phản ứng dược lý như moocphin, dolargan, seducen …
- Loại nhẹ: Thường là những chất gây nghiện có phản ứng tâm lý như: Nicotin, caphein
* Phương thức sử dụng ma tuý: ma tuý được đưa vào cơ thể thông qua 3 con đường:
Trang 20- Qua hô hấp như: Hút (thuốc phiện, cần sa), ngửi, hít (heroin, cocain)
- Qua hệ tiêu hoá như: Nhai, nuốt, uống
- Qua hệ tuần hoàn như: Tiêm, chích dưới da, tĩnh mạch hay bắp thịt
* Biểu hiện của người nghiện ma tuý
- Ở thể nhẹ: Ngáp vặt, chảy nước mắt, nước mũi, nước bọt, toát mồ hôi,
ớn lạnh nổi da gà
- Ở thể nặng: Nôn mửa, đi ngoài, xuất huyết đường tiêu hoá, đau xương,
cơ, khớp, nhức đầu, co giật, hôn mê
Trang 21Các biểu hiện trên được đánh giá qua bảng sau đây:
TT NHỮNG BIỂU
HIỆN
TỶ LỆ (%) TT
NHỮNG BIỂU HIỆN
TỶ LỆ (%)
2 Chảy nước mắt 100 9 Buồn nôn, nôn 75
5 Ớn l¹nh, næi da gµ 83 12 Trầm cảm 41
6 Đau các cơ 83 13 Dễ bị kích động 30
1.2.2 Tác hại của ma tuý và cách phòng, chống
1.2.2.1 Tác hại của ma tuý đối với cơ thể người nghiện
Qua nhiều công trình nghiên cứu trong y học về tác hại và ảnh hưởng của ma tuý đối với sức khoẻ con người đã và đang chứng minh và khẳng định rằng ma tuý là nguyên nhân phát sinh nhiều loại bệnh tật huỷ hoại sức khoẻ con người
Ma tuý sẽ làm cho những người nghiện có thể chất và tinh thần rất suy giảm, dẫn đến tình trạng gầy còm, kém ăn, mất ngủ, rối loạn thần kinh, trí nhớ kém, ngại vận động…
Đồng thời do tác động của chất ma tuý, người nghiện còn có cảm giác giả tạo về sức khoẻ, không kiểm soát được hành vi của chính mình như thu hẹp các phạm vi thích thú, trở nên thô lỗ sinh ra cau có, thích cô độc, hay u sầu lãnh đạm với người thân, thờ ơ với công tác và những vui buồn trong cuộc sống Đây cũng là nguyên nhân làm cho họ dễ có hành vi trái với chuẩn mực đạo đức Đặc biệt đối với những người sử dụng thuốc phiện kết hợp với các chất tân dược gây nghiện như Dolagan, Dearepam… sẽ có tác dụng kích
Trang 22thích thần kinh về tình dục làm cho bản thân họ dễ mất khả năng tự chủ dẫn đến hành vi phạm tội như hiếp dâm, bạo dâm…
1.2.2.2 Tác hại đối với Kinh tế - Gia đình - Xã hội
Theo khảo sát, những người nghiện ma tuý cho thấy độ nghiện ma tuý càng nặng thì sức khỏe của người nghiện ma tuý càng giảm, dần dẫn đến hậu quả không còn sức lực để lao động, kiếm tiền chỉ để thoả mãn cơn nghiện Thực tế điều tra được biết một đối tượng nghiện ma tuý trung bình một ngày chi phí ít nhất từ 20.000 đồng trở lên (đối với thuốc phiện) và 50.000 đồng đến 100.000 đồng (đối với Hêroin) Cá biệt có những đối tượng nghiện mỗi ngày có thể chi phí để giải quyết thoả mãn cơn nghiện lên tới 500.000 đến 1.000.000 đồng (Bao bạn, ăn uống, hút, quan hệ với gái mại dâm) Theo số liệu thống kê cứ 50 vạn người nghiện trong cả nước thì chi phí một tháng là
150 tỷ đồng
Với những khoản chi phí như vậy chúng ta khẳng định rằng không thể có một cá nhân, một gia đình nào có thể đủ tiền để thoả mãn cho những cơn nghiện và chắc chắn sẽ khánh kiệt về kinh tế Đây là nguyên nhân chính làm phát sinh tội phạm như trộm cắp, cướp của, giết người…
Với gia đình, ngoài khánh kiệt về kinh tế còn dẫn đến xung đột với các thành viên khác trong gia đình như vợ, chồng, bố, mẹ, con cái, họ hàng do mâu thuẫn về quan điểm lối sống và thiệt hại về kinh tế Hơn nữa người nghiện còn biến đổi về nhân cách, thờ ơ về tình cảm, lãnh đạm về tình dục dẫn đến ly thân, ly hôn, lang thang, bụi đời, trộm cắp… Theo số liệu thì tỷ lệ
ly thân, ly hôn do mâu thuẫn gia đình là: 46,8%; bụi đời: 25 %; đi lang thang
do nghiện ngập 66,67%
Đối với xã hội: ma tuý không chỉ tàn phá cuộc sống của người nghiện
mà còn để lại hậu quả nặng nề cho nền kinh tế, xã hội và gây thiệt hại lớn về mặt đạo đức, lối sống của cả cộng đồng đặc biệt là thế hệ tương lai của mỗi
Trang 23Theo số liệu điều tra trong toàn quốc tính đến tháng 8 năm 2002 cả nước
có 131.783 người nghiện ma tuý trong đó 1550 em là học sinh, sinh viên Đến tháng 4 năm 2005 cả nước có 17 vạn con nghiện có hồ sơ kiểm soát Với số lượng người nghiện nhiều như vậy đã và đang làm ảnh hưởng rất lớn đối với việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước, làm thâm hụt nguồn ngân sách của quốc gia, tạo điều kiện cho các loại tệ nạn xã hội phát triển như mại dâm, cờ bạc Đây cũng là nguyên nhân lây lan đại dịch nhiễm vi rút HIV (Human Immunodeficiency Virus) đây là loại vi rút làm suy giảm hệ miễn dịch ở người và bệnh AIDS (Aquired Immunodeficiency Syndrome) chỉ hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
Theo số liệu thống kê của Uỷ ban quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm thì chỉ hơn 10 vạn người nghiện ma tuý
có hồ sơ kiểm soát, mỗi năm người nghiện ma tuý ở nước ta tiêu phí 2000 tỷ đồng để hút, hít, tiêm chích và uống ma tuý, đồng thời Chính phủ cũng đã phải chi phí rất tốn kém cho công tác kiểm soát, phòng, chống ma tuý Mặt khác theo số liệu của Bộ Y tế cho biết hiện nay khoảng 70% số người bị nhiễm HIV là qua con đường tiêm chích ma tuý
Ma tuý và tệ nạn nghiện hút ma tuý là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm, đe doạ sự bền vững của an ninh quốc gia và sự trường tồn của dân tộc Đây thực sự là mối hiểm hoạ cho cộng đồng và xã hội, chỉ vì có tiền
để thỏa mãn cơn nghiện những người nghiện có thể bất chấp tất cả luân thường đạo lý, kể cả giết hại những người ruột thịt của mình để đạt được mục đích
Như vậy, tội phạm ma tuý và các tệ nạn xã hội khác luôn luôn là “Người bạn đồng hành” có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau và lệ thuộc lẫn nhau
1.2.2.3 Công tác đấu tranh phòng chống ma tuý hiện nay
* Trên thế giới:
Trang 24Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (OMS) toàn thế giới có khoảng
50 triệu người nghiện ma tuý, hàng năm sử dụng khoảng 3.303 tấn thuốc phiện Do nhận thực được sự nguy hiểm đặc biệt của tệ nạn nghiện hút ma tuý, chính phủ nhiều nước và các tổ chức chống ma tuý quốc tế đã được thành lập, đề ra nhiều biện pháp đặc biệt, đầu tư nhiều kinh tế để ngăn chặn và tiêu diệt sự sản xuất và buôn bán ma tuý bất hợp pháp Cuộc đấu tranh chống ma tuý hiện nay đang tiến hành trên khắp thế giới không phân biệt chế độ chính trị Nhiều hình thức kiên quyết đã được áp dụng ở nhiều quốc gia như:
- Phạt tử hình hoặc dùng mức án cao với những người mang ma tuý bất hợp pháp dù chỉ một lượng rất nhỏ
- Phối hợp chặt chẽ với Lực lượng Cảnh sát Quốc tế (Interpol) trong việc truy nã và bắt giữ tội phạm
- Mỗi quốc gia đều có các Tiểu ban đặc biệt phòng, chống ma tuý
- Tiến hành các hoạt động quân sự tiêu diệt các căn cứ của các tổ chức sản xuất, buôn lậu ma tuý quốc tế
- Kiểm soát chặt chẽ tại sân bay, bến cảng, cửa khẩu
- Tăng cường các biện pháp phòng chống ma tuý
- Tìm kiếm thị trường, thay thế các loại cây chứa chất ma tuý bằng các loại cây khác
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song cuộc đấu tranh chống ma tuý là một vấn đề quyết liệt, gay go, phức tạp của toàn thể cộng đồng
* Ở Việt Nam
Là một thành viên trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam cũng không thể tránh khỏi phải đối mặt với những thách thức về thảm hoạ của tệ nạn nghiện hút và buôn lậu ma tuý Trước đây vấn đề nghiện hút ma tuý còn chưa phức tạp như ngày nay Lúc đó việc buôn bán và nghiện hút còn ở mức quy mô hẹp, lẻ tẻ chủ yếu là những người cao tuổi và hút thuốc phiện là chính, hơn
Trang 25nữa lại tập trung chủ yếu ở những vùng cao, vùng sâu nơi có trồng nhiều cây thuốc phiện
Hiện nay, nạn buôn bán và tệ nghiện hút ma tuý đã lan rộng khắp cả nước từ thành thị tới nông thôn, đã len lỏi khắp các hang cùng ngõ hẻm, với mức độ ngày càng gia tăng Ma tuý không dừng lại ở số lượng nhất định người cao tuổi, trình độ dân trí thấp mà còn lây lan vào học đường (các trường phổ thông, cao đẳng, đại học) trên quy mô cả nước với gần 20 triệu học sinh, sinh viên, chiếm gần 1/4 dân số cả nước
Đứng trước tình hình tệ nạn ma tuý ngày càng gia tăng phức tạp như vậy, đặc biệt là những năm gần đây, Nhà nước đã đặt vấn đề phải xây dựng chương trình Quốc gia phòng chống và kiểm soát ma tuý để chỉ đạo công tác này
Để phòng chống, khắc phục có hiệu qủa tệ nạn ma tuý, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản để phối hợp giữa các ban ngành trong cả nước sớm ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ tệ nạn ma tuý ở Việt Nam Nội dung một số văn bản như sau:
Ngày 30 tháng 11 năm 1996, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung Ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 06/CT-TW về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống và kiểm soát ma tuý Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình hành động phòng chống ma tuý giai đoạn 2001-2005; Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá X đã thông qua luật phòng chống ma tuý Chỉ thị số 37/2004/CT/TTg, ngày 08 tháng 11 năm 2004
về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 09/1998/NQ-CP về chương trình quốc gia phòng chống tội phạm ma tuý của Chính phủ đến năm 2010 Đây là những
cơ sở pháp lý quan trọng nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp và các tổ chức xã hội, các tầng lớp nhân dân tham gia phòng, chống
ma tuý
* Đối với các nhà trường cần phải:
Trang 26- Tuyên truyền cho học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên, cha mẹ học sinh, sinh viên thấy rõ tác hại, ảnh hưởng của ma tuý để tích cực chủ động phòng chống
- Ngăn chặn có hiệu quả các nguồn ma tuý từ bên ngoài vào các trường học, xử lý hình sự nghiêm khắc bọn buôn bán, tổ chức sử dụng ma tuý và rủ
rê, lôi kéo học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên hút, hít và tiêm chích ma tuý
- Phát hiện và chữa trị kịp thời cho những học sinh, sinh viên đã nghiện ma tuý, hạn chế, đẩy lùi tiến tới chấm dứt nạn nghiện hút ma tuý trong HS-SV Như vậy, phòng chống và giáo dục phòng chống ma tuý là chương trình giáo dục tác động vào nhận thức, thái độ, hành vi của mọi người, để kiên quyết chống lại việc sản xuất, tàng trữ, mua bán và sử dụng ma tuý - một tệ nạn xã hội nguy hiểm nhất hiện nay
1.2.3 Đặc điểm tâm lý, sinh lý của lứa tuổi sinh viên và các phương pháp lựa chọn các cách phòng chống ma tuý phù hợp với sinh viên
Sinh viên có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển của đất nước Họ có những phẩm chất quý báu như trẻ, khoẻ, có học thức, ham học, năng động, dám nghĩ, dám làm theo cái mới
Các nhà tâm lý học trên thế giới đều có chung một quan niệm cho rằng tuổi thanh niên - sinh viên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em đến người lớn Giai đoạn này có thể chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ chuyển tiếp trước và thời
kỳ chuyển tiếp sau, bắt đầu từ 17-18 tuổi, kết thúc lúc thành người lớn thực sự 24-25 tuổi
* Đặc điểm về mặt tâm lý:
Đây là thời kỳ quan trọng đối với toàn bộ cuộc đời Ý nghĩa của nó lớn lao ở chỗ, nó xác định hướng đi của mỗi con người trong cuộc sống Thời kỳ này không chỉ là thời kỳ phát triển cao về mặt thể chất mà còn là thời kỳ nở rộ
về tinh thần của cá nhân
Trang 27* Vai trò của sinh viên ở gia đình và xã hội:
Trong gia đình, ở lứa tuổi này họ đã được bàn bạc với cha mẹ, anh chị một số việc chủ yếu trong gia đình Họ được tôn trọng, họ chủ động, tự lập và mọi người đã tin vào khả năng của họ
Trong cuộc sống ở nhà trường, họ phải tự lập song vẫn còn nhiều thứ phụ thuộc vào gia đình, đặc biệt về mặt tình cảm và về mặt kinh tế Các em của họ coi họ là những người trưởng thành thực sự và lắng nghe ý kiến của họ thông qua thư từ và thông qua các buổi gặp gỡ ở các kỳ nghỉ hè Về giai đoạn cuối của quá trình học tập, sinh viên đã bắt đầu có ý thức về sự thành lập gia đình và hạnh phúc riêng của bản thân
Ở ngoài xã hội, lứa tuổi này đã bắt đầu trở thành công dân và họ tham gia vào nhiều hoạt động xã hội trên nhiều lĩnh vực khác nhau Các hoạt động này được thực hiện chủ yếu trong hoạt động ở nhà trường thể hiện khá rõ nét
ở các mặt: Học tập, nghiên cứu, lao động, hội họp Thông qua các hoạt động tập thể mà họ đã trưởng thành về mọi mặt Nhìn chung ở lứa tuổi này, sinh viên rất nhạy cảm đối với các hành vi của những người xung quanh
Sinh viên có đặc điểm nổi bật trong hứng thú là rất thích những cái mới
Vì thế họ tiếp thu những cái mới thường rất nhanh Nhưng sinh viên tiếp thu cái mới thường ít có sự chọn lọc Do đó, nếu không giáo dục để họ có cơ sở nhận thức một cách đầy đủ về cái mới thì họ dễ có những biểu hiện lệch lạc
Do vậy phải giáo dục cho họ thấy rõ được cái mới nào là có lợi, là phù hợp và cái mới nào là có hại, là xa lạ với con người và xã hội
Sinh viên rất trân trọng các sáng tạo, phát minh và sáng chế trong khoa học kỹ thuật Họ thường tỏ ra rất khó chịu với thói bảo thủ và lạc hậu
Tuổi sinh viên là tuổi có nhiều cảm xúc, đây là thời kỳ trẻ trung và có rất nhiều tình yêu: yêu đời, yếu cuộc sống, yêu bạn, tình yêu nam nữ Nhìn chung tuổi sinh viên là tuổi của nhiều ước mơ, hoài bão rất lãng mạn Song ở họ thường ít lường trước được những khó khăn, vấp váp trong cuộc sống Tuổi
Trang 28sinh viên là tuổi có nhiều bạn, vì vậy cần giúp đỡ để họ xây dựng các tình bạn với mục đích chân chính, giúp đỡ nhau học tập, tu dưỡng để tiến bộ Chỉ có như vậy mới hạn chế được những lệch lạc trong tình bạn của các em
Một loại nữa trong tình cảm của sinh viên là tình yêu nam nữ Tình yêu của nam, nữ sinh viên ở độ tuổi này thường có màu sắc đặc biệt Thơ mộng, thuần khiết, trinh bạch và dễ dãi Trong tình yêu họ không tính toán đến mặt vật chất và ít lường thấy hết những khó khăn Tình yêu nam nữ ở lứa tuổi này cũng có những mặt tốt là giúp cho họ học tập tích cực hơn, giúp nhau học tập
tu dưỡng tốt hơn
Nhưng những hạn chế thường xảy ra nhiều hơn với lý do là họ chưa có
đủ kinh nghiệm sống và kiến thức thực tế, thiếu cơ sở chắc chắn, thiếu sự cân nhắc kỹ lưỡng Bởi vậy, tình yêu trong họ thường gặp những vấp váp tiêu cực Vì vậy, cần giáo dục và làm cho họ thấy rõ điều đó để các em tập trung vào việc học, gác chuyện tình yêu lại sau khi ra trường
Trong tính cách của sinh viên trước hết phải kể đến tính độc lập Tính độc lập biểu hiện là họ đang trưởng thành Trước hết họ cố gắng đặt mình trong hàng ngũ những người lớn, những người cùng tuổi Tính độc lập còn biểu hiện ở sự phán đoán, trong việc ra quyết định và trong việc biểu lộ các ý kiến, quan điểm của mình Trong gia đình tính độc lập của họ biểu hiện ở sự quan tâm, thu xếp công việc, đôi khi có ý kiến trái hẳn với ý kiến của cha mẹ Điều đó thường gây ra “xung đột” trong quan hệ cha mẹ, con cái
Một đặc điểm nữa của tính cách sinh viên là tính kiên quyết và quả cảm,
họ căm ghét thói ươn hèn, nhút nhát, sẵn sàng hi sinh tất cả tâm trí và sức lực cho mục đích cao cả khi đã được xác định
Sinh viên rất nhạy cảm và rất thích hoạt động tập thể, thích giao thiệp rộng rãi và thích giao du với bạn bè, đây cũng là những nguyên nhân của hàng loạt các hiện tượng trong cuộc sống của sinh viên
Trang 29Như vậy, do đặc điểm phong phú, đa dạng của tâm lý lứa tuổi sinh viên
mà công tác giáo dục sinh viên trong các nhà trường phải tính đến đặc điểm tâm lý của đối tượng, là cơ sở cho việc đề ra các biện pháp giáo dục Không nắm được đặc điểm của đối tượng sẽ có những tác động xa lạ, thiếu thiết thực
do đó không thể có hiệu quả cao trong giáo dục
Mặt khác trong phạm vi nhà trường, cần phải có những tác động đồng
bộ, thống nhất để đạt được yêu cầu đó.Từ những đặc điểm nêu trên về tâm lý của lứa tuổi sinh viên, muốn có một cách nhìn đúng, một phương hướng lựa chọn đúng về công tác phòng chống ma tuý để áp dụng cho phù hợp với lứa tuổi trên, thì người quản lý, người làm công tác giáo dục, người tổ chức phải hiểu sâu để nắm vững và tận dụng cho được các hoạt động đa dạng, sôi nổi có như vậy mới thu được những kết quả cao
Như đã nêu và phân tích kỹ ở phần trên thì đặc điểm tâm, sinh lý của lứa tuổi sinh viên được khái quát là trẻ, khoẻ, có học thức, ham học, năng động, tính tự lập cao, rất nhạy cảm, thích cái mới, không ủng hộ thói bảo thủ, lạc hậu, nhiều cảm xúc, nhiều ước mơ, lãng mạn, vô tư, độc lập, kiên quyết và quả cảm, thích hoạt động, nhiều bạn bè, thích giao du
Do vậy với lứa tuổi này phương hướng lựa chọn thích hợp và có hiệu quả về công tác phòng chống ma tuý chủ yếu kết hợp với giáo dục lý tưởng động cơ học tập, lối sống lành mạnh là tuyên truyền, phát động, tạo phong trào, tạo sân chơi, thường xuyên tổ chức thi viết bài về ma tuý, thi tiểu phẩm,
tổ chức cho học tập và ký cam kết Phát động phong phú các hoạt động xã hội, thể dục thể thao, lấy hoạt động xã hội, thể dục thể thao đẩy lùi ma túy, lấy hoạt động xã hội, thể dục thể thao cuốn hút mọi thời gian nhàn rỗi của sinh viên Có như vậy mới hạn chế được những tệ nạn ma tuý và các tệ nạn xã hội khác trong nhà trường và trong xã hội
Trang 301.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ
1.3.1 Khái niệm quản lý
Thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách hiểu không giống nhau Hoạt động quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.Thuật ngữ “quản lý” gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thể “phát triển” Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ
lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt nền tảng của sự ổn định, thì sự phát triển của tổ chức sẽ không bền vững Trong “quản” phải có “lý”, trong
“lý” phải có “quản” để động thái của hệ luôn ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng có hiệu qủa trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của mỗi tổ chức Từ sự phân công, hợp tác lao động, muốn đạt hiệu quả, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra Đây chính là hoạt động để người lãnh đạo phối hợp và phát huy hết sức mạnh của các thành viên trong nhóm, trong tổ chức để có thể đạt mục tiêu đề ra Ngày xưa, Khổng Tử đã xác định, đề cao vai trò cá nhân người quản lý Ông cho rằng: “Người quản lý trung trực thì không phải tốn nhiều đến công sức mà khiến được người ta theo”
Các nhà lý luận quản lý trên thế giới như Frederich Wiliam Taylor (1856-1915), người Mỹ; Max Weber (1864-1920) người Đức đều khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội
Trang 31“Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển phối hợp kiểm tra” (Nguyễn Thị Doan: Các học thuyết quản lý nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-1996)
Thuật ngữ “quản lý” cũng có thể quan niệm như một số người hiện nay
là hoạt động nhằm cho hệ thống vận động theo mục đích đề ra và tiến tới trạng thái chất lượng mới
Có người cho quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác
Có tác giả lại cho quản lý là hoạt động phối hợp có hiệu qủa hoạt động cuả những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức
Cũng có tác giả cho quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm.Theo quản điểm lý thuyết hệ thống, GS-TS Đỗ Hoàng Toàn định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” {37-Tr38} Theo định nghĩa trên thì quản lý bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau:
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đã đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
- Chủ thể phải thực hành việc tác động Chủ thể có thể là một người, nhiều người, một thiết bị còn đối tượng có thể là con người (có thể một hoặc nhiều người) hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, hầm mỏ ) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng)
Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, nhóm tác giả là chuyên gia về khoa học quản lý thuộc trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý Nhà nước cũng đã đưa ra khái niệm về quản lý Theo các tác giả này thì: “Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân
Trang 32riêng lẻ, thì quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung” {39-Tr175}
Các tác giả cuốn sách này cũng nêu lên nhiều quan niệm khác nhau về quản lý: - Quản lý là biết chính xác việc mình muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
- Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung
- Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của một nhóm người, một tổ chức
- Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đề ra thông qua việc điều khiển phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác Cuối cùng, nhóm tác giả đã đi đến một định hướng tổng quát nhất về quản lý:
“Quản lý là một qúa trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung {39-Tr176} Nói một cách tổng quát nhất có thể xem quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
1.3.2 Những chức năng cơ bản của quản lý
Quản lý phải thể hiện những chức năng nhất định; có nhiều quan niệm khác nhau về những chức năng Theo UNESCO thì quản lý có các chức năng
cơ bản như sau:
- Chức năng lập kế hoạch: Là soạn thảo và thông qua được những quyết định, chủ trương quản lý quan trọng
Trang 33- Chức năng tổ chức: Thực hiện các quyết định, chủ trương bằng cách xây dựng kết cấu tổ chức của đối tượng quản lý, tạo dựng mạng lưới quan hệ
tổ chức tuyển lựa sắp xếp bồi dưỡng cán bộ, làm cho mục tiêu trở nên có ý nghĩa, tăng tính hiệu quả về mặt tổ chức
- Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng trong tổ chức, làm cho các lực lượng giáo dục tích cực hăng hái, chủ động theo sự phân công và kế hoạch đã định
- Chức năng kiểm tra đánh giá: Là chức năng liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống Thực hiện việc xem xét tình hình công việc, đối chiếu với yêu cầu để có sự đánh giá đúng đắn
Theo GS-TS Đỗ Hoàng Toàn “Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện
sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản
lý, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý” {33-Tr106}
Như vậy, thực chất của chức năng quản lý chính là do sự tồn tại các hoạt động quản lý
Vậy thì quản lý có những chức năng nào?
Theo Henri Fayol thì có năm chức năng (thường được gọi là yếu tố Fayol) đó là:
Trang 343 Điều chỉnh
4 Sửa chữa
5 Kiểm kê, kiểm tra
Theo D.M Druck có năm chức năng
a Theo phương hướng quản lý có hai chức năng là: Chức năng đối
nội và chức năng đối ngoại
b Phân chia theo giai đoạn tác động thì quản lý có năm chức năng:
+ Chức năng hoạch định
+ Chức năng tổ chức
+ Chức năng điều khiển
+ Chức năng kiểm tra
3 Chỉ đạo (bao gồm cả sửa chữa, uốn nắn, phối hợp)
4 Kiểm tra (bao gồm cả thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm kê)
Trang 35- Chức năng lập kế hoạch
- Chức năng tổ chức
- Chức năng chỉ đạo
- Chức năng kiểm tra, đánh giá
1.3.3 Khái niệm về quản lý các hoạt động phòng chống ma tuý
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người: Hoạt động xã hội, tập thể và gia đình, hoạt động vui chơi, hoạt động học tập, hoạt động lao động, hoạt động nghỉ ngơi Bằng hoạt động và trong các hoạt động này mà mỗi cá thể hình thành và phát triển năng lực, tính tình, đạo đức của mình Nói cách khác bằng hoạt động và trong hoạt động mỗi cá thể người tự sinh thành ra mình, tự tạo ra nhân cách của mình
Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa mình và thế giới tự nhiên và thế giới xã hội, giữa mình và người khác, giữa mình với bản thân
Trong quá trình đó con người bộc lộ tâm lý năng lực, ý chí, mong muốn, tính nết ra bên ngoài Trong lao động thì đó là quá trình chuyển năng lực người thành sản phẩm lao động; trong quan hệ xã hội thì con người chuyển quan hệ với người khác vào thế giới nội tâm, tạo nên tâm lý, nhân cách của bản thân
Quản lý các hoạt động phòng chống ma tuý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đưa các hoạt động phòng chống
ma tuý đạt kết quả mong muốn và đạt hiệu quả cao nhất
Về bản chất, quản lý các hoạt động phòng chống ma tuý là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý vào quá trình hoạt động nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu của công tác phòng chống ma tuý
Trang 36Như vậy, quản lý các hoạt động phòng chống ma tuý là hoạt động điều hành công tác phòng chống ma tuý để công tác này vừa là yêu cầu vừa là nhiệm vụ của toàn xã hội
Mục tiêu của quản lý các hoạt động phòng chống ma tuý là làm cho quá trình công tác phòng chống ma tuý được vận hành một cách đồng bộ, hiệu quả và có chất lượng
* Mục tiêu này bao gồm:
Về nhận thức: giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác phòng chống ma tuý, nắm vững được quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác phòng chống ma tuý và các tệ nạn xã hội hiện nay
Về thái độ: giúp cho mọi người biết ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh với những việc làm trái pháp luật, có thái độ đúng đắn với các hoạt động phòng chống ma tuý và các tội phạm
Về hành vi: Tích cực tham gia vào các hoạt động phòng chống ma tuý và các tệ nạn xã hội Tự rèn luyện mình để không sa vào các tệ nạn xã hội
Tóm lại: Điều quan trọng nhất của việc quản lý các hoạt động phòng
chống ma tuý là làm sao cho quá trình của công tác này tác động đến mọi người để hình thành cho họ những nhận thức, quan điểm, thái độ và biết cách
tự phòng chống đồng thời tích cực tham gia vào phong trào phòng chống, tự phòng chống ma tuý
1.3.4 Khái niệm biện pháp - biện pháp quản lý, biện pháp quản lý các hoạt động phòng chống ma tuý trong sinh viên
- Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải quyết một vấn đề cụ thể
Trang 37- Biện pháp quản lý là hệ thống các cách thức được sử dụng để tiến hành giải quyết những công việc cụ thể của công tác quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý
- Biện pháp quản lý các hoạt động phòng chống ma tuý trong sinh viên là
hệ thống các cách thức được sử dụng để tiến hành giải quyết những công việc
có liên quan đến các hoạt động phòng, chống ma tuý trong sinh viên nhằm đạt được mục tiêu đưa ra trong công tác này
1.4 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KỸ THUẬT NAM ĐỊNH
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định là trường Đại học đào tạo
đa ngành, đa cấp, đa hệ, đồng thời trường còn là trung tâm nghiên cứu Khoa học - công nghệ, giáo dục và đào tạo Thông qua phát triển các hoạt động đào tạo nhân lực, từng bước đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ gắn với yêu cầu thực tế của đất nước
Mục tiêu đào tạo của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định là đào tạo người giáo viên dạy nghề có trình độ Đại học, Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật cụ thể là:
- Có phẩm chất đạo đức tốt, yêu nghề, có hiểu biết về khoa học kỹ thuật, công nghệ, biết giáo dục nghề nghiệp
- Có kiến thức chuyên môn kỹ thuật nghề nghiệp ứng với nghề được đào tạo, đạt trình độ Đại học và Cao đẳng
- Trình độ thực hành nghề đạt tiêu chuẩn bậc thợ 4/7 (hoặc tương đương) Có động tác cơ bản của hoạt động lao động nghề nghiệp chuẩn xác
Có kỹ năng tổ chức lao động sản xuất theo nghề một cách khoa học (trong phạm vi một đơn vị sản xuất)
- Có kiến thức và kỹ năng sư phạm dạy nghề, kỹ năng tổ chức và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh - sinh viên
Trang 38- Có khả năng tự học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt
- Có đủ sức khoẻ để làm giáo viên dạy nghề, phục vụ lâu dài trong ngành dạy nghề và thực hiện nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc
Hướng vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường, các hoạt động giáo dục toàn diện của nhà trường có những đặc điểm sau đây:
- Trong hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên có chú ý đến các hoạt động giáo dục nhằm trau dồi cho sinh viên động cơ học tập
để trở thành người giáo viên kỹ thuật giỏi sau khi ra trường Để từ đó sinh viên chú ý rèn luyện về hai mặt: học giỏi để nắm vững kiến thức và kỹ năng các môn học kỹ thuật, đồng thời trau dồi nghiệp vụ sư phạm và tác phong mô phạm của người thầy giáo
- Trong hoạt động trí dục thầy và trò đều phải quan tâm đúng mức đến việc dạy và học tốt lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng chu đáo các môn kỹ thuật để sau này mỗi sinh viên có thể đứng vững trên bục giảng với tư cách người giáo viên kỹ thuật Cải tiến cách dạy, cách học để tăng thêm chất lượng, hiệu quả và tính hấp dẫn của hoạt động trí dục
- Để đáp ứng nhu cầu hoạt động, đồng thời phát triển toàn diện năng lực của sinh viên, nhà trường đã quan tâm, tổ chức tốt các hoạt động xã hội, văn nghệ, thể dục thể thao, cuốn hút sinh viên vào các hoạt động lành mạnh bổ ích
- Hoạt động phòng chống ma tuý của trường đều có thể lồng ghép vào các hoạt động giáo dục kể trên
- Muốn lập thân, lập nghiệp, có tương lai tươi sáng, cống hiến tài năng, sức lực cho đất nước và có cuộc sống hạnh phúc thì sinh viên phải tránh xa
ma
tuý, chống ma tuý
- Hứng thú học tập, cuốn hút vào việc học, ham mê khoa học, sinh viên
sẽ có thế giới quan, nhân sinh quan đúng đắn và vững chắc Từ đó sinh viên
sẽ có năng lực tự vệ trước những cám dỗ của các tệ nạn xã hội và ma tuý
- Rèn luyện sức khoẻ và thoả mãn những hứng thú riêng lành mạnh, lại được cung cấp đầy đủ phương tiện, sinh viên sẽ hào hứng tham gia các hoạt
Trang 39động thể dục thể thao, văn nghệ, xã hội Quỹ thời gian của sinh viên không còn chỗ cho ma tuý len lỏi vào Ngoài ra hoạt động phòng, chống ma tuý còn lồng ghép vào các hoạt động văn nghệ, hoạt động xã hội của sinh viên và đem lại hiệu quả giáo dục cao về phòng chống ma tuý
Như vậy, các hoạt động giáo dục của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định phải hướng tới các mục tiêu là trang bị cho sinh viên có lối sống lành mạnh, có lý tưởng cao đẹp, có kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức, có trí tuệ, có cơ thể khỏe mạnh, có khả năng thẩm mĩ, biết đánh giá nhận xét, biết cảm nhận, có văn hóa để hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn có ích cho xã hội, tự làm chủ trong mọi tình huống, biét xử lý những đúng sai, biết tránh xa những cám dỗ không lành mạnh, bệnh tật nguy hại, nghiện hút, tiêm trích ma túy, mại dâm, ăn chơi sa đọa …
*Tóm lại:
Trong chương 1 chúng tôi đã cố gắng làm rõ các khái niệm cơ bản về
ma tuý, thấy rõ được tác hại của ma tuý với sức khoẻ, tính mạng, nòi giống, kinh tế và xã hội Từ đó có thái độ, niềm tin và thực hành trong cuộc sống xã hội, phòng tránh việc sử dụng trái phép ma tuý Biết được nguyên nhân, cách nhận biết người nghiện ma tuý và hiểu rõ được các phương pháp cai nghiện Điều quan trọng còn được làm rõ ở chương 1 là các chủ trương, các biện pháp của Đảng, Nhà nước về phòng chống kiểm soát ma tuý Các chủ trương, biện pháp này được thông qua các hệ thống văn bản, nghị quyết, chỉ thị, thông tư Các hệ thống giải pháp đồng bộ Kinh tế - Xã hội - Giáo dục - Hành chính - Pháp luật, đặc biệt là ngày 19/12/2000 Quốc hội đã thông qua luật phòng chống ma tuý; ngày 28/12/2000 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 150-TTg chương trình hành động phòng chống ma tuý giai đoạn 2001-2005 Ngày 10/03/2005 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 49/2005/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch tổng thể phòng, chống ma tuý đến năm 2010
Trang 40Như vậy, để thực hiện được mục tiêu về phòng chống ma tuý có hiệu quả thì mỗi trường học, mỗi cơ sở giáo dục phải áp dụng được một hệ thống các biện pháp về phòng chống ma tuý đạt chất lượng
Tất cả các vấn đề nêu trên, đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan và phụ thuộc ở một mức độ rất lớn vào hoạt động quản lý phòng chống ma tuý trong nhà trường
Muốn chất lượng quản lý hoạt động phòng chống ma tuý ngày càng có hiệu quả thì phải có các biện pháp quản lý các hoạt động về phòng chống ma tuý thật hữu hiệu, khả thi, sát thực tế Nhưng muốn đề ra được các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống ma tuý hiệu quả thì trước hết phải có sự đánh giá đúng đắn, khoa học về thực trạng quản lý hoạt động phòng chống ma tuý trong nhà trường.Vì vậy trong chương 2 của luận văn này chúng tôi tập trung làm rõ thực trạng quản lý hoạt động phòng chống ma tuý trong tập thể sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định trong những năm gần đây