Các tác giả nghiên cứu về QLGD đưa ra các ý kiến khác nhau về chức năng của QLGD, nhưng hầu hết đều đề cập đến bốn chức năng sau: - Kế hoạch hóa trong QLGD; - Tổ chức thực hiện kế hoạch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ QUANG TUẤN
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ QUANG TUẤN
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ CBQL trường học 2
5.2 Khảo sát thực trạng và các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc 2
5.3 Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT 2
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
7.1 Phương pháp luận 3
7.2 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Những đóng góp của đề tài 3
9 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1 Quản lý 8
1.2.2 Quản lý giáo dục 9
1.2.3 Cán bộ quản lý giáo dục 14
1.2.4 Quản lý trường học 15
1.3 Vị trí, đặc điểm, mục tiêu giáo dục trường THPT 16
1.3.1 Vị trí của trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân 16
Trang 41.3.2 Đặc điểm của trường THPT 16
1.3.3 Mục tiêu giáo dục THPT 17
1.4 Vai trò của CBQL trường THPT 18
1.4.1 Vai trò là người học 18
1.4.2 Vai trò là nhà quản lý 18
1.4.3 Vai trò là người lãnh đạo 19
1.4.4 Vai trò là người cố vấn 20
1.4.5 Vai trò là người giám sát 20
1.4.6 Vai trò là nhà chính trị 20
1.4.7 Vai trò là tuyên truyền viên 20
1.5 Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT trong giai đoạn hiện nay 22
1.5.1 Đội ngũ CBQL trường THPT 22
1.5.2 Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT 23
1.5.3 Phát triển năng lực cá nhân CBQL trường THPT 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CBQL TRƯỜNG THPT TỈNH VĨNH PHÚC 34
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 34 2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 34
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 34
2.2 Khái quát về giáo dục Vĩnh Phúc 36
2.2.1 Quy mô mạng lưới trường lớp 36
2.2.2 Cơ sở vật chất – phòng lớp học 37
2.2.3 Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia 38
2.2.4 Tình hình đội ngũ GV và CBQL 38
2.2.5 Chất lượng giáo dục các cấp học, ngành học 41
2.3 Thực trạng về giáo dục cấp THPT tỉnh Vĩnh Phúc 43
Trang 52.3.1 Quy mô trường, lớp, HS 43
2.3.2 Đặc điểm, chất lượng HS cấp THPT tỉnh Vĩnh Phúc 46
2.3.3 Thực trạng đội ngũ GV, CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc 48
2.4 Mẫu khảo sát 52
2.4.1 Khảo sát dựa trên kết quả tự đánh giá chuẩn hiệu trưởng trường THPT năm học 2010-2011 52
2.4.2 Khảo sát về phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp của CBQL trường THPT 54
2.4.3 Khảo sát về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm 56
2.4.4 Khảo sát về năng lực lãnh đạo và quản lý nhà trường 57
2.4.5 Nhận xét chung về thực trạng đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc 61
2.5 Thực trạng về công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc 62
2.5.1 Công tác quy hoạch 62
2.5.2 Công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển và miễn nhiệm cán bộ quản lý 63
2.5.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL trường THPT 64
2.5.4 Công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá đối với CBQL trường THPT 65
2.5.5 Công tác thực hiện chế độ, chính sách, đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với CBQL 66
2.6 Đánh giá chung về thực trạng phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc 68
2.6.1 Ưu điểm… 68
2.6.2 Hạn chế… 69 2.6.3 Những thuận lợi trong công tác phát triển đội ngũ CBQL trường
Trang 6THPT tỉnh Vĩnh Phúc 70
2.6.4 Những khó khăn trong công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc 71
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CBQL TRƯỜNG THPT TỈNH VĨNH PHÚC 72
3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 72
3.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 73
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 73
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 73
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 73
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 73
3.3 Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc 74
3.3.1 Hoàn thiện quy hoạch đội ngũ CBQL trường THPT 74
3.3.2 Thực hiện công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, miễn nhiệm 75
3.3.3 Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cho CBQL trường THPT 80
3.3.4 Cải tiến nội dung, hình thức thanh tra, kiểm tra, đánh giá 83
3.3.5 Hoàn thiện chính sách, chế độ, đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật phù hợp 86
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 88
3.5 Kết quả khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc 88
3.5.1 Mức độ cần thiết 89
3.5.2 Tính khả thi 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, kéo theo sự phát triển của nền kinh tế, giáo dục đã trở thành nền tảng của mọi sự phát triển xã hội Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm cho các thế hệ tương lai
Giáo dục Việt Nam đang trong quá trình phát triển và hội nhập quốc
tế, cơ chế hệ thống quản lý giáo dục ngày càng được tăng cường theo hướng phân cấp, phân quyền nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Cán bộ quản
lý (CBQL) trường trung học phổ thông (THPT) phải là người năng động, sáng tạo và đổi mới, nắm vững các lý thuyết về quản lý, nhận thức được các thế mạnh và các mặt hạn chế, tạo ra sự thay đổi và quản lý được sự thay đổi trong nhà trường, huy động được mọi nguồn lực và sử dụng chúng một cách hiệu quả
để phát triển nhà trường
Cũng như cả nước, đội ngũ CBQL trường THPT Tỉnh Vĩnh Phúc được lựa chọn từ lực lượng giáo viên nên có mặt tích cực là hiểu biết rất về rõ thực trạng hoạt động của nhà trường Tuy nhiên, việc chuyển đổi từ vai trò giáo viên sang vai trò quản lý trong khi chưa được bồi dưỡng về quản lý trường học, còn thiếu kiến thức về pháp luật, hạn chế về ngoại ngữ, tin học… đã gây ra nhiều khó khăn trong thực thi trách nhiệm và quyền hạn, đặc biệt khi được Nhà nước tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Bên cạnh đó, công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc vẫn còn nhiều bất cập, chưa khắc phục được những mâu thuẫn mới nảy sinh giữa yêu cầu tiếp cận và đổi mới theo phương thức quản lý trường học hiện đại với trình độ, năng lực của đội ngũ CBQL còn hạn chế Công tác nghiên cứu chưa được triển khai đồng bộ giữa quy hoạch, bồi dưỡng, bổ
Trang 9nhiệm và luân chuyển, các khâu trong quy trình phát triển còn chồng chéo, chưa phát huy được hiệu quả
Xuất phát từ tình hình thực tiễn như trên với mong muốn góp phần vào
sự nghiệp phát triển giáo dục THPT tỉnh Vĩnh Phúc trong thời kỳ đổi mới và
hội nhập với giáo dục thế giới, tác giả chọn đề tài "Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Vĩnh Phúc” để nghiên
cứu luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc, đề tài có mục đích đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bậc THPT của địa phương trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT
tỉnh Vĩnh Phúc
3.2 Khách thể nghiên cứu: Xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục
4 Giả thuyết khoa học
Đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc còn có những hạn chế về cơ cấu và chất lượng, các biện pháp phát triển đội ngũ này còn nhiều bất cập, nếu đề xuất được các biện pháp phát triển đồng bộ thì có thể nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của bậc học này
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ CBQL trường học
5.2 Khảo sát thực trạng và các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc
5.3 Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT trong giai đoạn
hiện nay và sắp tới
6 Phạm vi nghiên cứu
Trang 10Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển đội ngũ CBQL (gồm Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng) của 37 trường THPT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, trong 5 năm gần đây (2007-2011)
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
- Quan điểm hệ thống - cấu trúc
- Quan điểm lịch sử
- Quan điểm thực tiễn
7.2 Các phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phân tích, so sánh, tổng hợp các công trình nghiên cứu, văn kiện, văn bản, các nghị quyết, tài liệu, sách, báo, thông tin trên mạng Internet có liên quan đến đề tài
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu: Xây dựng bảng hỏi cho đội ngũ CBQL trường THPT
+ Phương pháp trò chuyện và phỏng vấn: Trao đổi, phỏng vấn CBQL của Sở Giáo dục và Đào tạo, CBQL trường THPT
+ Phương pháp quan sát: Quan sát CBQL trong công việc đang đảm nhận, ghi nhận những biểu hiện về năng lực quản lý ở CBQL
+ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Trang 11- Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc
góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của bậc học này
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Quá trình hội nhập và đổi mới phát triển giáo dục đang diễn ra ở quy
mô toàn cầu tạo cơ hội tốt cho giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với các
xu thế mới, tri thức mới Phát triển giáo dục đào tạo nói chung và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục đáp ứng theo yêu cầu của từng giai đoạn phát triển của đất nước luôn là vấn đề được Đảng và Chính phủ quan tâm chỉ đạo thực hiện thông qua các văn bản chỉ đạo, chỉ thị, nghị quyết, thông tư, quyết định…
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 của Chính phủ đã khẳng định
“Xây dựng và thực hiện chuẩn hoá đội ngũ CBQL giáo dục Đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ CBQL giáo dục các cấp về kiến thức, kỹ năng quản lý và rèn luyện phẩm chất đạo đức; đồng thời điều chỉnh, sắp xếp lại cán
bộ theo yêu cầu mới phù hợp với năng lực và phẩm chất của từng người” [13]
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2009-2020 đã xác định quản
lý giáo dục và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là những giải pháp mang tính đột phá góp phần xây dựng một nền giáo dục hiện đại mang bản sắc dân tộc; xây dựng xã hội học tập và đào tạo những người Việt Nam có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, có khả năng thích ứng, hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt, có bản lĩnh, trung thực, ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệm công dân, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội [14]
Nằm trong khu vực trung du miền núi phía Bắc và là một trong tám tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, giáo dục Vĩnh Phúc nói chung, công tác
Trang 13phát triển đội ngũ CBQL giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng luôn được các cấp chính quyền quan tâm chỉ đạo xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển đội ngũ bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đạt các tiêu chuẩn chất lượng
về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Quy hoạch phát triển giáo dục, đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc khẳng
định “Tiếp tục triển khai thực hiện chỉ thị 40/CT-TW của Ban bí thư Trung
ương Đảng và Kế hoạch số 87/KH-TU của Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục” là
khâu then chốt để thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển giáo dục của tỉnh Vĩnh Phúc [27] vì đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục quyết định việc hiện thực hoá mọi chủ trương đường lối giáo của của Đảng và Nhà nước, quyết định sự phát triển quy mô cũng như chất lượng của giáo dục Đội ngũ nhà giáo yếu, kém, bất cập không có động lực dạy học và phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức thì dù có chương trình, sách giáo khoa hay, cơ sở vật chất - thiết bị dạy học đầy đủ, hiện đại vẫn không thể đảm bảo được chất lượng giáo dục Có đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tốt thì mới phát huy tác dụng tích cực của các điều kiện khác đảm bảo chất lượng giáo dục
Trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục , các giải pháp phát triển giáo dục và phát triển đô ̣i ngũ cán
bô ̣ quản lý giáo dục
- Tác giả Đặng Quốc Bảo đề cập đến “Những vấn đề cơ bản về lãnh đạo -
quản lý và sự vận dụng vào điều hành nhà trường” [3] đã giới thiệu và tổng
hợp các yếu tố, phẩm chất, năng lực mỗi CBQL giáo dục cần có và cần đạt được; các vấn đề cốt lõi của lãnh đạo và quản lý cũng như việc thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý trong các nhà trường
- Cuốn sách “Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI - Chiến
Trang 14lược phát triển” của Đặng Bá Lãm đã có những phân tích khá sâu sắc về giải
pháp quản lý giáo dục [24, tr.283]
- Tác giả Trần Khánh Đức trong cuốn "Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực
trong thế kỷ XXI” đã trình bày quan điểm, mục tiêu và biện pháp phát triển
giáo dục và hệ thống giáo dục, làm rõ thêm nhận thức về chiến lược phát triển giáo dục cũng như phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI [20]
- Vấn đề bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong thời kỳ hội nhập cúng được tác giả Thân Văn Quân đề cập đến và coi đó
là vấn đề then chốt trong sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà 11]
[25,tr.10 Tác giả Nguyễn Tiến Đạt đã nghiên cứu những kinh nghiệm và thành tựu phát triển giáo dục và đào tạo trên thế giới, thông qua đó người đọc có thể so sánh, đối chiếu và nhận thấy được vai trò của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, hiện đại [19], ngoài ra còn nhiều tài liệu khác đề cập đến vấn đề này
Về nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục có một số l uận văn thạc sĩ khoa học giáo dục về đề tài quản lý giáo dục như:
- "Thực trạng, phương hướng và những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng
đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh” của Nguyễn
Công Duật (2000)
- “Phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định
trong giai đoạn hiện nay” của Trần Hải Bằng (2010)
- “Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định trong giai
đoạn hiện nay” của Nguyễn Quý Cao (2010)
- “Các giải pháp xây dựng, phát triển giáo viên và đội ngũ CBQL
trường THPT tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006-2010” của tác giả Phạm Đình Ly
- “Biện pháp phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THCS ở huyện Sơn Động, tỉnh
Trang 15Bắc Giang” của Nguyễn Đức Dụng (2010)
Các tác giả đã dựa trên thực trạng kinh tế xã hội của từng địa phương đã
đi sâu nghiên cứu, phân tích vai trò, vị trí của CBQL trường THPT và đề xuất các giải pháp phù hợp, đóng góp đáng kể về lý luận và thực tiễn cho công tác quản lý trong nhà trường
Tuy nhiên, việc áp dụng các kết quả nghiên cứu trên để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Vĩnh Phúc thì chưa thật
sự phù hợp Cho đến thời điểm này, tại Vĩnh Phúc chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ thông của tỉnh Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ thông của tỉnh Vĩnh Phúc là cần thiết
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
Ngay từ những buổi đầu sơ khai, khi con người bắt đầu sinh sống theo bầy đàn, họ đã biết hợp tác với nhau, phân công nhau trong lao động để có được hiệu quả và năng suất lao động cao hơn Sự phân công và hợp tác đó đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành đó chính là chức năng quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội, là một dạng hoạt động đặc thù của con người Từ những góc độ khác nhau các nhà khoa học đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý
Theo W.Taylor (1856-1915) thì “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [21, tr327]
Mary Parker Follett định nghĩa “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua con người” [2, tr11]
Quản lý còn được định nghĩa là tác động có định hướng, có chủ đích của
chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
Trang 16hay Quản lý là quá trình đạt được đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng
các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra
[15, tr1]
Tác giả Phạm Viết Vượng trong cuốn Quản lí hành chính nhà nước và
quản lí ngành giáo dục đào tạo coi “Quản lí là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lí lên đối tượng quản lí nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình
xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [36, tr40]
Tác giả Trần Khánh Đức đưa ra một khái niệm khái quát về quản lý: Quản
lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người
để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất [21, tr328]
1.2.2 Quản lý giáo dục
Quản lý Giáo dục (QLGD) được hiểu ở nhiều cấp độ vĩ mô hay vi mô nên khái niệm quản lý giáo dục cũng được hiểu theo nhiều cấp độ rộng, hẹp khác nhau
Theo Từ điển giáo dục học “QLGD gồm hai mặt lớn là quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý nhà trường và các cơ sở giáo dục khác QLGD là việc thực hiện và giám sát những chính sách giáo dục, đào tạo trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phương và cơ sở”
Quản lý giáo dục được hiểu là quản lý được thực hiện trong các tổ chức giáo dục Theo Nguyễn Ngọc Quang thì “QLGD là hệ thống tác động có mục đích có kế hoạch của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [21, tr341]
Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “QLGD được hiểu là những tác động
Trang 17tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các
cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD và ĐT thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD” [21, tr.341]
Theo nghĩa rộng, QLGD là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác GD-ĐT thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội
Theo nghĩa hẹp, QLGD thực chất là những tác động của chủ thể quản
lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh với sự
hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Có thể thấy các khái niệm về QLGD đều thống nhất với nhau về nội dung và bản chất của quản lý là tác động của nhà quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác trong xã hội nhằm thực hiện có hệ thống các mục tiêu giáo dục Nói cách khác, bản chất của QLGD là sự phối hợp, nỗ lực của các chủ thể giáo dục thông qua các chức năng quản lý
Các tác giả nghiên cứu về QLGD đưa ra các ý kiến khác nhau về chức năng của QLGD, nhưng hầu hết đều đề cập đến bốn chức năng sau:
- Kế hoạch hóa trong QLGD;
- Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục và phát triển giáo dục;
- Điều khiển (chỉ đạo) các lực lượng tham gia quản lý và thực hiện công tác giáo dục;
- Kiểm tra, đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả giáo dục
Mỗi chức năng QLGD được thể hiện trong nhà trường dưới hình thức
là một loại hoạt động bao gồm một hệ thống các công việc khác nhau và có tính chuyên môn hóa
Trang 181.2.2.1 Chức năng lập kế hoạch
Lập kế hoạch có nghĩa là suy nghĩ trước của một cái gì đó phải thực hiện,
và chuẩn bị cách để thực hiện những hoạt động đã mong muốn đó là việc quyết định:
- Những hoạt động gì mà một người hay một tổ chức muốn làm
- Những hoạt động đó được thực hiện như thế nào
- Khi nào những hoạt động đó được thức hiện
- Ai là người thực hiện những hoạt động đó
- Nguồn lực gì là cần thiết để thực hiện những hoạt động đó
- Những hoạt động đó được diễn ra ở đâu
Lập kế hoạch là cầu nối khoảng cách giữa vị trí của tổ chức và nơi mà tổ chức muốn tới Nó được gọi là cơ bản nhất của tất cả các chức năng quản lý
Trong nhà trường, người CBQL trường học cần xác định được các mục tiêu phát triển của nhà trường và chương trình hành động phải được cụ thể hóa trước khi tiến hành thực hiện Kế hoạch GD trong nhà trường bao gồm:
- Kế hoạch chiến lược dài hạn thực hiện trong một nhiệm kỳ 5 năm (những định hướng lớn, thể hiện hình ảnh hiện thực trong tương lai mà nhà trường mong muốn đạt tới và các giải pháp chiến lược để đạt được trên cơ sở khả năng hiện tại);
- Kế hoạch năm học (định ra cho toàn bộ các mặt công tác, các hoạt động của nhà trường trong một năm học);
- Kế hoạch tác nghiệp cho một thời kỳ ngắn (kế hoạch ngày, tuần, tháng, quý) Tập trung vào những hoạt động nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất nhà trường, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học; quản lý tài chính, thanh tra, kiểm tra nội bộ; tổ chức các hoạt động đoàn thể trong nhà trường và tạo mối quan hệ gắn bó nhà trường với chính quyền địa phương và cha mẹ học sinh, xác định các công việc chi tiết để thực hiện, thời gian bắt đầu và thời gian hoàn thành, các nguồn lực, người thực hiện và kết
Trang 19quả cụ thể
Yêu cầu lập kế hoạch
- Kế hoạch lập ra phải đáp ứng mục tiêu giáo dục, phù hợp với tình hình của cơ
sở giáo dục, có nội dung, định mức, hạn mức và nguồn lực, vật thực thực hiện
để kế hoạch mang tính khả thi, tính hiệu quả
- Nghiên cứu kỹ mục tiêu giáo dục, chỉ thị, nghị quyết về giáo dục của cấp trên, khảo sát, nắm vững thực tế của nhà trường từ đó các nội dung quan trọng, cấp bách được đưa vào kế hoạch để kế hoạch vừa mang tính lý thuyết vừa mang tính thực tiễn
1.2.2.2 Chức năng tổ chức
Nói một cách ngắn gọn, tổ chức có nghĩa đảm bảo rằng tất cả các hoạt động và quá trình được sắp xếp để tổ chức có thể đạt được những mục tiêu Những khía cạnh quan trọng nhất của tổ chức là việc nhận đúng người, xác định trách nhiệm của họ, và phác thảo một tổ chức và cấu trúc mà đảm bảo rằng những người lao động biết họ làm việc ở đâu, họ làm việc và báo cáo với ai Tổ chức còn có nghĩa là sắp xếp mọi thứ để các cá nhân có khả năng cùng làm việc và liên hệ một cách tích cực với nhau, như vậy, đảm bảo một môi trường lành mạnh khuyến khích làm việc có hiệu quả Quá trình của việc tổ chức bao gồm các bước sau đây:
- Xem xét những kế hoạch và mục tiêu: Điều này giúp nhà quản lý tổ chức con người và nhiệm vụ để đạt được những mục tiêu đã định
- Xác định các hoạt động cần thiết để thực hiện các mục tiêu
- Phân loại và nhóm các mục tiêu vào các đơn vị quản lý công việc mà luôn được tiến hành bằng cách kết hợp những kỹ năng với hoạt động cụ thể
- Phân công công việc và nguồn lực: Đây là bước quan trọng trong quá trình của việc tổ chức, bởi vì người nào phải kết hợp với công việc đó và phải cung cấp được các nguồn lực để thực hiện những nhiệm vụ đã được phân công
Trang 20Như vậy công tác tổ chức trong nhà trường là sắp xếp những yếu tố, những con người và những hoạt động trong nhà trường một cách khoa học, hợp tình, hợp lý Trên cơ sở phân tích để hình dung toàn bộ khối lượng công việc, lựa chọn những việc cần thiết và quan trọng nhất, ví dụ công tác bố trí,
sử dụng cán bộ, giáo viên, và việc kiểm tra là giao trách nhiệm, ủy quyền cho cấp phó quản lý các mặt công tác còn lại Đồng thời phân công, giao trách nhiệm cụ thể, rõ ràng trong toàn bộ hệ thống quản lý theo nguyên tắc mỗi người được giao một công việc cụ thể, với trách nhiệm cá nhân rõ ràng và quyền hạn
cụ thể Việc quản lý phải xác định ai làm gì và làm khi nào Công việc của giáo viên ở trường học chủ yếu là dạy học, tuy nhiên, họ chỉ có thể được phân công dạy môn học mà họ có đủ trình độ thì công việc mới có hiệu quả
và đạt được mục tiêu của việc dạy học
1.2.2.3 Chức năng điều khiển (lãnh đạo/chỉ đạo)
Người quản lý phải học các kỹ năng lãnh đạo để làm việc có hiệu quả hay nói cách khác người quản lý cũng phải là những nhà lãnh đạo hiệu quả Chức năng lãnh đạo của người quản lý bao gồm: Định hướng; Tạo ảnh hưởng; Giám sát; Hướng dẫn;
Người CBQL nhà trường thực hiện chức năng điều khiển với vai trò là người thủ lĩnh của tập thể sư phạm và của hoạt động giáo dục trong nhà trường thông qua các hình thức:
- Các chỉ thị, quyết định thông qua hệ thống pháp quy được xây dựng trên cơ
sở kế hoạch Trước khi ra quyết định cần tạo điều kiện cho tập thể cán bộ, giáo viên thảo luận, góp ý và tìm ra giải pháp thực hiện tốt nhất nhiệm vụ được giao, động viên mọi thành viên cùng tham gia thực hiện kế hoạch
- Giám sát các hoạt động sao cho các trạng thái vận hành thực hiện theo đúng
kế hoạch và không làm thay đổi mục tiêu chiến lược đã được đề ra Ví dụ, chỉ đạo xây dựng nền nếp dạy và học, chỉ đạo tổ chức sinh hoạt tổ (nhóm) chuyên môn, thực hiện nghiêm túc kế hoạch giảng dạy, về thực hiện chương trình, kế
Trang 21hoạch dạy học các bộ môn, về hồ sơ chuyên môn, hồ sơ cá nhân để đạt mục tiêu
và đào tạo
Người CBQL trường THPT không nên ôm đồm, không quá tập trung những việc có thể chuyển giao trách nhiệm giải quyết cho cấp dưới, đồng thời kiên quyết khắc phục tình trạng chung chung, đại khái, không đi sâu vào nghiên cứu giải quyết những vấn đề then chốt, khoán trắng, buông trôi, không
tự xác định cho mình trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các quyết định đã đề
ra Sự phối hợp tốt nhất tìm thấy khi các cá nhân nhìn ra công việc của họ đóng góp như thế nào vào những mục tiêu quan trọng của tổ chức
1.2.2.4 Chức năng kiểm tra
Trong tất cả các tổ chức đều phải có một mức độ kiểm tra nhất định đối
với con người, tài chính, thời gian và các hoạt động
- Kiểm tra là một chức năng rất quan trọng, không thể thiếu của người quản lý Kiểm tra là xem xét, đánh giá các hoạt động cá nhân và các tổ chức thuộc quyền quản lý so với kế hoạch và mục tiêu đã đề Từ đó, điều chỉnh, uốn nắn những sai lệch kịp thời trong quá trình thực hiện
- Kiểm tra còn là một trong những điều kiện cơ bản để nâng cao hiệu quả quản
lý quá trình giáo dục trong nhà trường Việc kiểm tra, đánh giá phải dựa trên các tiêu chuẩn được xây dựng từ mục tiêu Nhờ vậy, việc kiểm tra, đánh giá mới chính xác, khách quan Kết quả của việc kiểm tra là khẳng định điều làm được hoặc chưa làm được theo kế hoạch Từ đó, CBQL có các quyết định chỉ
Trang 22đạo tiếp để đạt được mục tiêu
Khi tiến hành kiểm tra, người CBQL cần phối hợp nhiều cách thức khác nhau như thông qua hồ sơ, sổ sách, trao đổi với giáo viên, cha mẹ học sinh, bản thân học sinh, với các tổ chức trong nhà trường để thu được thông tin khách quan, đáng tin cậy, toàn diện, đầy đủ và kịp thời Việc kiểm tra phải hướng vào mục tiêu là nâng cao chất lượng giáo dục học sinh; Không nên quá chú trọng vào kết quả thu được của sự việc mà cần chú ý phân tích nguyên nhân sinh ra nó Hình thức kiểm tra cần đa dạng như kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ và kiểm tra thường xuyên, kiểm tra theo chuyên đề…
1.2.3 Cán bộ quản lý giáo dục
- Cán bộ quản lý là các cá nhân thực hiện chức năng và nhiệm vụ quản lý nhất định của bộ máy quản lý CBQL được hiểu là người điều hành hay điều khiển tổ chức thực hiện công việc Mỗi CBQL đảm nhận trách nhiệm trong bộ máy quản
lý bằng một trong hai hình thức: tuyển cử hoặc bổ nhiệm
- CBQLGD là người làm công việc lãnh đạo, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục từ: bộ, cục, vụ, viện ở trung ương đến các sở, phòng, ban, cơ sở giáo dục thuộc ngành giáo dục
Theo từ điển Tiếng Việt thì đội ngũ là tập hợp số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định
Chúng ta có thể hiểu đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc
- Như vậy đội ngũ CBQLGD được hiểu là tập hợp những người làm công tác quản lý giáo dục, là những người thực hiện điều hành quá trình giáo dục diễn ra trong các cơ sở giáo dục
1.2.4 Quản lý trường học
Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính chất Nhà nước - xã
Trang 23hội, trực tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Nhà trường được thành lập theo qui hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục Trường học là cơ quan hành chính Nhà nước đồng thời là một tổ chức mang tính xã hội Do đó quản lý trường học vừa có tính Nhà nước vừa có tính chất xã hội Nhà nước và xã hội cùng chăm lo xây dựng và quản lý nhà trường Quản lý Nhà nước các cấp phải nhằm mục đích tạo mọi điều kiện tối ưu cho sự phát triển của trường học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo học sinh
Quản lý trường học chính là quản lý giáo dục ở cấp vi mô, là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, giáo viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh, các tổ chức, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Nội dung quản lý trường học:
- Quản lý hoạt động dạy và học: Cụ thể là quản lý nội dung chương trình, quản
lý hoạt động chuẩn bị lên lớp và hoạt động lên lớp của giáo viên, quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh,…
- Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp;
- Quản lý thông tin trong nhà trường;
- Quản lý nhân sự: Đội ngũ giáo viên, CBQL, cán bộ các phòng ban, công nhân viên chức trong nhà trường Trong đó, đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt qui định trực tiếp chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường;
- Quản lý đoàn thể và xây dựng các mối quan hệ trong nhà trường;
Trang 24trường
- Quản lý thanh tra, kiểm tra nội bộ trong nhà trường;
1.3 Vị trí, đặc điểm, mục tiêu giáo dục trường THPT
1.3.1 Vị trí của trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trường THPT có một vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối với ngành giáo dục nói riêng cũng như đối với nền kinh tế quốc dân nói chung, vì chất lượng giáo dục đào tạo bậc THPT ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Trường THPT là đơn vị cơ sở thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, tiếp nối cấp trung học cơ sở và kết thúc bậc trung học, gồm 3 khối lớp 10, 11, 12 Trường THPT được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Giáo dục và Điều lệ trường Trung học, do Chủ tịch UBND cấp Tỉnh, Thành phố quyết định thành lập, sát nhập, chia tách, giải thể và là đơn vị sự nghiệp có ngân sách riêng, có bộ máy quản lý hành chính và chuyên môn hoàn chỉnh Mỗi trường THPT được Nhà nước cấp kinh phí hàng năm để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ giáo dục và giảng dạy cùng các hoạt động khác của nhà trường [5]
1.3.2 Đặc điểm của trường THPT
Trường THPT giáo dục những tri thức phổ thông cơ bản, lao động kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông Nhà trường có nhiệm vụ chuyển kiến thức văn hóa cơ bản của học sinh thành tiềm năng kỹ thuật công nghệ để sau khi tốt nghiệp học sinh có khả năng học tiếp lên các bậc học cao hơn hoặc học nghề để có thể vận dụng trong cuộc sống, phát triển bản thân
Trường THPT thực hiện phân hóa trong dạy học đáp ứng nhu cầu, hứng thú và khả năng của mỗi học sinh Mức độ thực hiện việc phân hóa đảm bảo tính phổ thông với nội dung giáo dục mang tính chất nền tảng, làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện nhân cách của học sinh
1.3.3 Mục tiêu giáo dục THPT
Trang 25Mục tiêu giáo dục THPT được Luật Giáo dục 2005 ghi rõ: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [27]
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát đã nêu ở Luật Giáo dục, mục tiêu và kế hoạch giáo dục của trường THPT” cụ thể như sau:
- Hình thành và củng cố các giá trị về tư tưởng, đạo đức, lối sống phù hợp thích hợp với trình độ, lứa tuổi học sinh THPT; có ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá, truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng bảo
vệ tổ quốc; có văn hoá trong quan hệ gia đình, bạn bè, xã hội; sống lành mạnh,
tự tin, giản dị, tiết kiệm; hiểu biết, tôn trọng và chấp hành pháp luật; quan tâm đến những vấn đề cấp bách của đất nước, của toàn cầu
- Củng cố, phát triển những nội dung đã học ở bậc trung học cơ sở; có những hiểu biết cần thiết về kỹ thuật và hướng nghiệp, đảm bảo hoàn thành nội dung học vấn phổ thông về tự nhiên, xã hội và con người, gắn với cuộc sống cộng đồng và thực tiễn địa phương
- Được tiếp tục phát triển và nâng cao các kỹ năng học tập; độc lập suy nghĩ, sáng tạo trong tư duy và hành động; có khả năng sử dụng một ngoại ngữ trong giao tiếp thông thường và khả năng ứng dụng một số thành tựu của công nghệ thông tin ở trình độ phổ thông trong giải quyết công việc; có hiểu biết và kỹ năng cần thiết về kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp để có thể vận dụng trong cuộc sống lao động, trong việc lựa chọn hướng phát triển phù hợp với năng lực của bản thân
- Hiểu biết và có thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên, đạt tiêu chuẩn rèn luyện theo lứa tuổi; giữ gìn vệ sinh cá nhân và môi trường; sử dụng thời gian
Trang 26hợp lý, biết cách làm việc và nghỉ ngơi khoa học
- Hiểu biết và có khả năng cảm thụ, đánh giá cái đẹp trong cuộc sống và văn học, nghệ thuật, có nhu cầu sáng tạo cái đẹp; sống hoà hợp với thiên nhiên và
xã hội Người CBQL cần phải hiểu rõ mình thực sự không phải là quan chức hành chính chỉ làm theo các mệnh lệnh từ trên đưa xuống mà phải là người lãnh đạo sáng tạo và năng động, biết nhìn nhận tình huống phát triển của xã hội để đưa ra những quyết định chính xác thúc đẩy các hoạt động giáo dục của nhà trường đáp ứng yêu cầu thực tế
Nếu trước đây, người CBQL chỉ thay mặt nhà nước để quản lý nhà
trường, thì hiện nay họ còn có vai trò là người học, người lãnh đạo, cố vấn,
giám sát, nhà chính trị, và tuyên truyền viên Các vai trò nêu trên thường đan
xen với nhau và được thể hiện qua các hoạt động quản lý trong và ngoài nhà trường Để thực hiện đầy đủ các vai trò trên, nhân cách và năng lực của người CBQL phải không ngừng được hoàn thiện và phát triển
1.4.1 Vai trò là người học
Người CBQL trường THPT phải xem việc học là nhiệm vụ quan trọng
để nâng cao trình độ cho bản thân, phải là người đi đầu trong học tập, thường xuyên và nghiêm túc học tập dưới nhiều hình thức như học tập trung, không tập trung, học dài hạn hoặc ngắn hạn, học bằng con đường chính qui và phi chính qui, tự học trong cuộc sống để ngày càng thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quản lý của mình
Trang 271.4.2 Vai trò là nhà quản lý
Người CBQL trường THPT chính là người đại diện cho chính quyền về mặt thực thi pháp luật chính sách, điều lệ, quy chế giáo dục và thực hiện các quy định về mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông CBQL trường THPT phải là hạt nhân thiết lập bộ máy tổ chức, phát triển, điều hành đội ngũ nhân lực và hỗ trợ sư phạm cho đội ngũ nhân lực của nhà trường để mọi hoạt động của trường thực hiện đúng theo những qui định của ngành và đạt chất lượng, hiệu quả cao Phải biết tổ chức huy động
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất nhằm đáp ứng các hoạt động của nhà trường và xây dựng các mối quan hệ giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động của nhà trường trong một môi trường lành mạnh
Người CBQL trường THPT cũng là người tổ chức vận hành hệ thống thông tin giáo dục, thông tin quản lý giáo dục và ứng dụng công nghệ thông tin vào truyền thông trong các hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục tại nhà trường
1.4.3 Vai trò là người lãnh đạo
Người CBQL trường THPT phải là “đầu tàu” tạo ra sự thay đổi và đổi mới trong nhà trường Phải tạo ra, duy trì và thay đổi văn hóa trường học, vạch ra tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêu và các giá trị nhà trường (xây dựng chiến lược phát triển nhà trường); Chỉ ra những lĩnh vực cần thay đổi để phát triển nhà trường; Tập hợp, thu hút, huy động và phát triển các nguồn lực để vun trồng văn hóa…, nhằm phát triển toàn diện học sinh; Đánh giá, uốn nắn, khuyến khích, phát huy thành tích của nhà trường
Trong một xã hội phát triển và đổi mới không ngừng, người CBQL trường THPT phải có khả năng kết nối tầm nhìn với những ý tưởng, phân tích được tình hình, dự báo được tương lai phát triển của nhà trường để có những bước đi phù hợp đưa nhà trường phát triển theo tiến bộ xã hội, phải là
Trang 28người lãnh đạo sự đổi mới, dám mơ ước và tạo nên sự thay đổi, có bản lĩnh tự chủ, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm
Trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm, CBQL trường THPT phải là người khởi xướng đổi mới, hỗ trợ đổi mới, hoạch định đổi mới, củng cố đổi mới, không phải chỉ chờ mệnh lệnh, hướng dẫn chỉ đạo cụ thể và thực hiện đúng như cấp trên yêu cầu, mà tùy vào năng lực của đội ngũ cán bộ, giáo viên,
cơ sở vật chất, các điều kiện thuận lợi và hỗ trợ từ chính quyền địa phương để lãnh đạo thực hiện những cải tiến, xây dựng một mạng lưới cộng tác tích cực,
có hiệu quả, xây dựng nhà trường thành một tổ chức học tập, thúc đẩy năng lực tư duy của đội ngũ, phát triển đội ngũ, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài
1.4.4 Vai trò là người cố vấn
Người CBQL trường THPT phải đóng vai trò trung tâm trong việc giúp giáo viên và học sinh trong hoạt động giảng dạy và học tập, là người hướng dẫn tin cậy, người lãnh đạo và là người bạn của mọi thành viên trong trường
1.4.5 Vai trò là người giám sát
Hiện nay vai trò giám sát đòi hỏi ngày càng cao, Người CBQL trường THPT có thể là người lãnh đạo giảng dạy, đặt kế hoạch phát triển, giám sát và đánh giá chương trình giảng dạy, năng lực của giáo viên và kết quả học tập, rèn luyện của học sinh, đồng thời theo dõi kiểm tra toàn bộ các hoạt động về hành chính, tài chính và các hoạt động đoàn thể…trong nhà trường
1.4.6 Vai trò là nhà chính trị
Người CBQL trường THPT cần phải có một kiến thức, hiểu biết về hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến giáo dục và hoạt động trong trường học, giúp xã hội hiểu được sứ mệnh của trường và tập thể cán bộ, giáo viên, học sinh trường mình hiểu được tầm quan trọng những yêu cầu của xã hội đối với nhà trường, là người phối hợp trung gian về chính trị thông qua việc tham gia vào các hoạt động của cộng đồng và phụ huynh, khuyến khích sự cộng tác một cách có ý nghĩa, thực hiện các chính sách xã hội như vấn đề công bằng xã hội,
Trang 29thực hiện dân chủ trong giáo dục
1.4.7 Vai trò là tuyên truyền viên
Người CBQL trường THPT phải là một tuyên truyền viên trong giáo dục bằng cách giúp cho các nhà giáo dục khác thực hiện được vai trò của mình một cách tốt nhất nhằm tăng cường công bằng xã hội và điều kiện tiếp cận bình đẳng với giáo dục cho mọi trẻ em
Theo PGS-TS Đặng Quốc Bảo thì người CBQLGD có 10 sứ mệnh sau:
- Là người xây dựng tầm nhìn phát triển nhà trường
- Là người chỉ đạo thực hiện chương trình dạy học
- Là chuyên gia đánh giá giáo viên, học sinh về kết quả dạy học
- Là người chấp hành chỉ thị của cấp trên
- Là người liên hệ chủ yếu với cộng đồng (đại diện cho nhà trường trước đời sống cộng đồng)
- Là chuyên gia quan hệ công chúng trong đời sống nhà trường
- Là người chịu trách nhiệm về ngân sách nhà trường
- Là người chịu trách nhiệm về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường
- Là người tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp - hoạt động ngoại khoá của nhà trường
- Là chuyên gia giám sát việc thực hiện luật pháp, hiện thực hoá các sáng kiến giáo dục, dạy học [1]
Philip Yeo - Viện trưởng giáo dục Singapore thì nhấn mạnh: Quản lý nhà trường trong nền kinh tế mới đòi hỏi người quản lý phải có văn hoá quản lý mới Đó là tiếng gọi thiêng liêng cao cả, bởi hiện nay nhà trường đào tạo ra những con người mới, nguồn nhân lực mới, thế hệ quản lý mới cho nền kinh tế mới - Kinh tế tri thức [14] và theo ông thì :
- Người quản lý nhà trường mới phải chứng tỏ họ có thể xử lý thông tin tốt Kiến thức là thông tin đã được xử lý, chắt lọc, được liên hệ với những thông tin khác nhau để cho nó hữu dụng hơn với mục tiêu quản lý Người quản lý nhà
Trang 30trường mới không chỉ biết chế biến thông tin thành kiến thức mà còn phải biết
áp dụng nó tốt hơn bất kỳ ai
- Người quản lý nhà trường mới phải biết giá trị tương tác giữa các con người luôn là mối quan tâm hàng đầu trong việc tạo ra sự đồng thuận của tập thể sư phạm Do đó người quản lý nhà trường phải kiến thiết một mạng lưới giao tiếp tốt trong đời sống chung của nhà trường
- Người quản lý nhà trường mới phải là người biết phát hiện, phân biệt nhanh giải pháp tốt, giải pháp dở, phải biết thực hiện nhanh một giải pháp tốt, một khi
đã xác định được nó Phải luôn biết canh tân và ủng hộ cho các sự canh tân giáo dục đào tạo
- Người quản lý nhà trường mới phải biết huy động được cộng đồng tham gia xây dựng nhà trường, đặc biệt huy động được nguồn lực tổng hợp của cộng đồng
- Người quản lý nhà trường mới vừa phải là người biết kiên nhẫn lắng nghe, biết dân chủ song đòi hỏi phải có sự quyết đoán, ra quyết định dứt khoát và hành động nhanh
- Người quản lý nhà trường mới phải biết gợi ý, thuyết phục người khác Tuỳ tình huống quản lý có lúc phải là chim đầu đàn, có lúc phải lùi về sau làm tầu đẩy cho tập thể tiến lên
- Người quản lý nhà trường mới phải xây dựng được các cộng sự chân thực, muốn vậy phải giữ được sự chuẩn mực cao về tính trung thực và liêm khiết, phải biết khiêm nhường, biết thừa nhận đóng góp của người khác
- Người quản lý nhà trường mới phải thực hiện tốt quản lý thu phục nhân tâm, biết động viên người dưới quyền làm việc, biết khuyến khích các tài năng, bảo đảm sự liên tục trong chỉ đạo, biết cách duy trì và phát triển tổ chức ngay cả khi quyền quản lý chuyển tới người kế nhiệm
- Người quản lý nhà trường mới cần phấn đấu là người có kiến thức tổng hợp trên nhiều mặt của quá trình sư phạm giáo dục
Trang 31- Người quản lý nhà trường mới phải có tư duy chiến lược tốt, biết kết hợp trước mắt với lâu dài, biết quản lý trong thay đổi, không né tránh mâu thuẫn, biết tìm ra mâu thuẫn và có cách hoá giải mâu thuẫn
1.5 Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT trong giai đoạn hiện nay
1.5.2 Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT
Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT bao gồm hai vấn đề: Phát triển đội ngũ và phát triển phẩm chất, năng lực cá nhân của từng CBQL Hai vấn đề này có mối liên hệ gắn bó và hỗ trợ lẫn nhau Cá nhân giỏi sẽ dẫn đến tập thể vững mạnh và tập thể vững mạnh sẽ tạo điều hiện tốt cho cá nhân phát triển
- Phát triển đội ngũ là phát triển về số lượng, cơ cấu và chất lượng của đội ngũ, cần nắm vững tình hình phát triển và biến đổi về các mặt số lượng, cơ cấu
về giới tính, độ tuổi, thâm niên giảng dạy, trình độ chuyên môn, quản lý, phẩm chất đạo đức, chính trị… Xây dựng tiêu chuẩn về yêu cầu năng lực và những kỹ năng cần rèn luyện theo từng vị trí, chức danh quản lý để phát huy mặt mạnh, hạn chế điểm yếu của đội ngũ về tư tưởng, về đạo đức, trình độ, năng lực, sức khỏe so với yêu cầu, nhiệm vụ được giao trong từng giai đoạn
- Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT thực chất là phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục, là thực hiện mục tiêu xây dựng đội ngũ này theo hướng chuẩn hóa, đồng bộ về cơ cấu và chất lượng, có phẩm chất đạo đức
Trang 32trong sáng, lành mạnh, năng lực quản lý toàn diện, bản lĩnh chính trị vững vàng đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của giáo dục bậc THPT, góp phần vào sự nghiệp đổi mới, phát triển giáo dục Việt Nam và tiếp thu những tinh hoa của giáo dục thế giới Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT gồm các nội dung sau:
1.5.2.1 Quy hoạch cán bộ
Đây là trách nhiệm của các cấp lãnh đạo chính quyền và Ngành giáo dục đào tạo Quy hoạch cán bộ là một chủ trương lớn của Đảng, được đề cập trong các Nghị quyết Trung ương các khoá VII, VIII, IX, X, XI về công tác cán
bộ Quy hoạch cán bộ nhằm chuẩn bị đội ngũ cán bộ một cách chủ động, có kế hoạch, đảm bảo tính kế thừa về số lượng, chất lượng và cơ cấu Khắc phục tình trạng bố trí, sử dụng cán bộ một cách thiếu kế hoạch, bị động, không đồng bộ
và kém hiệu quả Quy hoạch cán bộ đảm bảo cho việc bổ nhiệm đi vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài Vì vậy, trong quy trình quy hoạch đòi hỏi phải nắm vững các quan điểm của Đảng về công tác cán bộ, nắm chắc mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của nhà trường THPT để tiến hành đồng bộ các biện pháp đảm bảo cho công tác quy hoạch sát với thực tế, có tính khả thi cao và hiệu quả thiết thực Công tác quy hoạch CBQL phải được rà soát, bổ sung và điều chỉnh hàng năm Cần chủ động chuẩn bị nhân sự để bổ nhiệm, bố trí, sử dụng bảo đảm sự kế thừa và phát triển đội ngũ CBQL Quy hoạch đội ngũ cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Về số lượng: Phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, quy định của Bộ giáo dục
và đào tạo và yêu cầu thực tiễn của địa phương Chú ý yêu cầu tinh giản, gọn nhẹ nhưng có hiệu quả
- Về cơ cấu: Đảm bảo đội ngũ CBQL đồng bộ về năng lực, trình độ nhưng cũng cần có những cá nhân nổi trội về chuyên môn, nghiệp vụ, tư tưởng đạo đức làm cốt cán Cần có người lớn tuổi, trung tuổi và trẻ tuổi để đảm bảo được tính liên tục, kế thừa Cần có tỷ lệ hợp lý giữa nam và nữ, ở các trường có học sinh người dân tộc cũng cần có CBQL là người dân tộc
Trang 33Đội ngũ CBQL phải được ổn định tương đối, có những người công tác lâu năm và cần có một tỷ lệ đổi mới Chuẩn hóa đội ngũ theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo về từng chức danh và nâng cao vượt chuẩn
1.5.2.2 Tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển và miễn nhiệm
- Tuyển chọn: Là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những người có đủ năng lực
đáp ứng một công việc trong một tổ chức
- Bổ nhiệm: Là việc người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định cử
cán bộ, công chức giữ một chức vụ lãnh đạo có thời hạn trong cơ quan, đơn vị [12]
Tuyển chọn, bổ nhiệm CBQL có đủ phẩm chất và năng lực là điều kiện tiên quyết để hoàn thành mục tiêu giáo dục và phát triển nhà trường Trong công tác bổ nhiệm CBQL hiện nay còn xu hướng coi trọng cơ cấu hơn tiêu chuẩn Do đó, cần nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa cơ cấu và tiêu chuẩn; bảo đảm cơ cấu, đồng thời CBQL phải đủ đức, đủ tài, có phẩm chất, năng lực tương xứng với cương vị, chức trách được giao
- Luân chuyển: Là việc người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm cán
bộ, công chức lãnh đạo giữ một chức vụ lãnh đạo mới trong quá trình thực hiện công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ [12]
Khi thực hiện luân chuyển CBQL trường THPT cần căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, quy hoạch, kế hoạch sử dụng Việc luân chuyển còn nhằm giúp cho người CBQL đa dạng hóa công tác để khi cần thiết họ có thể thực hiện nhiệm vụ ở các vị trí khác nhau hoặc ở các đơn vị trường học khác nhau
- Miễn nhiệm: Là việc người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định
thôi giữ chức vụ lãnh đạo đối với cán bộ, công chức lãnh đạo khi chưa hết thời hạn bổ nhiệm [12]
Miễn nhiệm được thực hiện trong các trường hợp CBQL không đủ sức khỏe, không đủ năng lực uy tín, miễn nhiệm theo yêu cầu nhiệm vụ hoặc vì các lý do khác Miễn nhiệm nhằm đảm bảo đội ngũ CBQL đồng bộ về chất
Trang 34lượng, khắc phục những sai sót trong công tác quản lý Đây là một trong các biện pháp nâng cao chất lượng, phát triển đội ngũ
1.5.2.3 Đào tạo, bồi dưỡng
Phải xác định mục tiêu phát triển của giáo dục đào tạo địa phương trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, từ đó tổ chức đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, liên tục nhằm hoàn thiện, bổ sung và nâng cao các phẩm chất,
kỹ năng cần thiết theo các tiêu chuẩn đã đề ra cho CBQL để họ có thể hoàn thành tốt công tác quản lý nhà trường trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình
Công tác phát triển đội ngũ CBQL là một quá trình gồm nhiều giai đoạn, phụ thuộc vào phương pháp kết hợp hay kết nối các khâu tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng, bổ nhiệm và sử dụng Các phương pháp kết hợp hay kết nối giữa các khâu này như sau:
- Tuyển chọn - bổ nhiệm - sử dụng: Là phương pháp tuyển chọn rồi bổ nhiệm
và sử dụng ngay vào vị trí CBQL (không qua khâu đào tạo, bồi dưỡng)
- Tuyển chọn - bổ nhiệm - đào tạo, bồi dưỡng: Là phương pháp bắt đầu bằng
tuyển chọn rồi bổ nhiệm, sau đó mới đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí chức danh đảm nhiệm trong nhà trường
- Tuyển chọn - đào tạo, bồi dưỡng - bổ nhiệm: Là phương pháp được bắt đầu
bằng việc tuyển chọn những người có khả năng và triển vọng, sau đó tiến hành đào tạo bồi dưỡng và cất nhắc lên các vị trí lãnh đạo nhà trường
- Đào tạo, bồi dưỡng - tuyển chọn - bổ nhiệm: Phương pháp này dựa trên nền
tảng là đào tạo các kiến thức, kỹ năng quản lý cho mỗi chức danh, việc tuyển chọn và bổ nhiệm được dựa trên cơ sở nguồn nhân lực qua đào tạo, đáp ứng đủ tiêu chuẩn để bổ nhiệm vào vị trí chức danh quản lý
Để nâng cao chất lượng của đội ngũ thì quy trình “Đào tạo, bồi dưỡng
- tuyển chọn - bổ nhiệm” có ưu việt hơn Tuy nhiên, trong thực tiễn CBQL
thường được tuyển chọn rồi bổ nhiệm, chưa chú trọng khâu đào tạo, bồi dưỡng
Trang 35Đây là vấn đề cần phải được xem xét thấu đáo, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập với giáo dục thế giới, quản lý trường học được xem là một nghề, không phải bất cứ giáo viên nào có thời gian công tác lâu năm và có nhiều kinh nghiệm giảng dạy là có thể trở thành CBQL được
1.5.2.4 Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh
Kiểm tra, đánh giá CBQL là một quá trình thu thập và phân tích các thông tin về kết quả công tác của họ trong sự thay đổi và phát triển của giáo dục, của nhà trường trong các mối quan hệ chính trị và xã hội đa dạng, phức tạp, từ rất nhiều hiện tượng, sự việc cụ thể, riêng lẻ đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra Trên cơ sở đó đưa ra những phán đoán, nhận xét, tìm ra mặt bản chất về phẩm chất, nhân cách, năng lực của người CBQL và đề xuất những thay đổi, điều chỉnh tạo ra chất lượng, hiệu quả cao Khi đánh giá cần phải xem xét toàn diện các vai trò mà người CBQL phải thực hiện đối với nhà trường và xã hội vì khi thực hiện các vai trò quản lý của mình thì nhân cách và
kỹ năng nghề nghiệp của người CBQL sẽ được thể hiện
Việc đánh giá CBQL trường THPT được thực hiện theo Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT ngày 20/10/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [10] với các nội dung sau:
- Xây dựng kế hoạch giáo dục; kế hoạch nghiên cứu khoa học, phục vụ xã hội
- Quản lý cán bộ, nhà giáo, nhân viên và người học: tuyển dụng; quản lý hồ
sơ nhà giáo, cán bộ, nhân viên, người học; việc bố trí, sử dụng; kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo;
- Thực hiện quy chế dân chủ, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong cơ sở giáo dục;
- Công tác kiểm tra của thủ trưởng cơ sở giáo dục theo quy định;
- Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội; thực hiện chế độ chính sách đối với nhà giáo và người học;
Trang 36- Quản lý hành chính, tài chính, tài sản: hồ sơ, sổ sách; thu chi và sử dụng các nguồn tài chính; đầu tư xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, bảo quản tài sản công;
- Công tác tham mưu với cơ quan quản lý cấp trên, với chính quyền địa phương và công tác xã hội hóa giáo dục;
- Phối hợp công tác giữa cơ sở giáo dục với các đoàn thể quần chúng, Ban đại diện cha mẹ học sinh
Qua kết quả kiểm tra đánh giá, kiên quyết xử lý kỷ luật và miễn nhiệm đối với những CBQL có sai phạm, không được tập thể nhà trường, cộng đồng tín nhiệm
1.5.2.5 Chính sách đãi ngộ và chế độ khen thưởng
Chế độ, chính sách đối với đội ngũ CBQL trường học luôn là vấn đề mang tính chiến lược của phát triển giáo dục, nó quy định và chi phối khả năng thành công hay thất bại các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục đào tạo Bởi vì mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải thực hiện ở cơ sở và thông qua hoạt động của đội ngũ CBQL Song song với chế độ, chính sách đãi ngộ, việc khen thưởng thỏa đáng, kịp thời cũng tạo động lực cho CBQL trong việc nâng cao nhận thức và thực hiện đầy đủ hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Kỷ cương nền nếp được bảo đảm, phong cách, ý thức trách nhiệm và lề lối làm việc chuyển biến tiến bộ theo hướng năng động, tích cực góp phần phát triển đội ngũ CBQL
1.5.3 Phát triển năng lực cá nhân CBQL trường THPT
Phát triển chất lượng đội ngũ CBQL còn là phát triển về phẩm chất đạo đức và năng lực của người cán bộ, là làm cho người CBQL nâng cao phẩm chất đạo đức, chính trị, nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực quản lý
Năng lực quản lý là một tổ hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân phức tạp của chủ thể quản lý phù hợp với các yêu cầu của hoạt động quản lý Do đó, phát triển năng lực CBQL cần đảm bảo mục đích sử dụng đúng người, đúng
Trang 37việc; có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp để người CBQL có khả năng thực hiện những nhiệm vụ, công việc và giải quyết những tình huống nảy sinh trong hoạt động quản lý một cách khoa học, phù hợp với mục tiêu giáo dục đặt ra
Năng lực quản lý muốn nói đến tri thức, kỹ năng và các phẩm chất giúp CBQL đạt kết quả tốt trong công tác quản lý Nói đến năng lực là muốn nói đến cái tài của người quản lý Vì thế, một người CBQL giỏi phải là người
“vừa có đức, vừa có tài”, “vừa có tài và vừa có tầm”
CBQL trường THPT phải là người có lối sống văn hóa, có đạo đức, tuân thủ hiến pháp, pháp luật, biết thu phục lòng người, tập hợp được tập thể cán bộ, giáo viên, học sinh trong trường thành một khối đoàn kết nhất trí cùng nhau phấn đấu để đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường Cần chú ý quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật, vì vậy, năng lực quản lý mới chỉ là những điều kiện cơ bản, cần thiết của người CBQL Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, người CBQL trường THPT còn cần phải có nghệ thuật quản
lý
Trong điều kiện có nhiều biến động như hiện nay thì năng lực quản
lý của CBQL cũng cần thay đổi (năng lực quản lý sự thay đổi) nhằm đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của công tác quản lý trường học Do đó, trên cơ sở những quy định hiện hành của Bộ GD&ĐT, kết hợp với phân tích các chức năng nhiệm vụ của người CBQL trong lý luận quản lý nhà trường và thực tiễn quản lý ở các trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc, chúng tôi xin nêu lên các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức và kỹ năng cần thiết sau đây:
1.5.3.1 Yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối sống và tác phong làm việc
Người CBQL trong thời đại mới cần đạt được những yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp sau đây:
Về phẩm chất chính trị:
Trang 38- Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích dân tộc; Gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng; hiểu biết và thực hiện đúng pháp luật, chế
độ, chính sách, quy định của Nhà nước, các quy định của ngành, địa phương;
- Tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội; Có ý chí vượt khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao;
- Có khả năng động viên, khích lệ giáo viên, cán bộ, nhân viên và học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ; được tập thể giáo viên, cán bộ, nhân viên tín nhiệm
Về đạo đức nghề nghiệp:
- Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; Trung thực, tâm huyết với nghề nghiệp và có trách nhiệm trong quản lý nhà trường; Ngăn ngừa và kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực;
- Không lợi dụng chứ c vu ̣ vì mu ̣c đích vu ̣ lợi , đảm bảo dân chủ trong hoạt động nhà trường
Về lối sống: Có lối sống lành mạnh, phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc
trong xu thế hội nhập
Về tác phong làm việc: Có tác phong làm việc khoa học, sư phạm
Về giao tiếp, ứng xử: Có cách thức giao tiếp, ứng xử đúng mực và có hiệu
quả
1.5.3.2 Yêu cầu về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm
- Hiểu đúng và đầy đủ mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục trong chương trình giáo du ̣c phổ thông
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục đối với cấp học; đạt trình độ chuẩn ở cấp học cao nhất đối với trường phổ thông có nhiều cấp học; Nắm vững môn học đã hoặc đang đảm nhận giảng dạy, có hiểu biết về các môn học khác đáp ứng yêu cầu quản lý;
- Am hiểu về lí luận, nghiệp vụ và quản lý giáo dục
Trang 39- Có khả năng tổ chức, thực hiện hiệu quả phương pháp dạy học và giáo dục tích cực; Có ý thức , tinh thần tự học và xây dựng tập thể sư ph ạm thành tổ chức học tập, sáng tạo
- Sử dụng được một ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc (đối với hiệu trưởng công tác tại trường dân tộc nội trú, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số);
- Sử dụng được công nghệ thông tin trong công việc
1.5.3.3 Yêu cầu về năng lực quản lí nhà trường
Năng lực quản lý nhà trường là năng lực rất quan trọng đối với mỗi CBQL trường học nói chung và CBQL trường THPT nói riêng Năng lực quản lý nhà trường gồm:
- Hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, địa phương, nắm bắt kịp thời chủ trương, chính sách và quy định của ngành giáo dục để từ
đó phân tích tình hình và dự báo được xu thế phát triển của nhà trường
- Xây dựng được tầm nhìn, sứ mạng, các giá trị của nhà trường hướng tới sự phát triển toàn diện của mỗi học sinh và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục của nhà trường; Tuyên truyền và quảng bá về giá trị nhà trường ; công khai mu ̣c tiêu, chương trình giáo du ̣c, kết quả đánh giá chất lượng giáo du ̣c và
hê ̣ thống văn bằng , chứng chỉ của nhà trường tạo được sự đồng thuâ ̣n và ủng
hộ nhằm phát triển nhà trường
- Xác định được các mục tiêu ưu tiên; Thiết kế và triển khai các chương trình hành động nhằm thực hiện kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường; Hướng mọi hoạt động của nhà trường vào mục tiêu nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện của học sinh, nâng cao hiệu quả làm việc của các thầy cô giáo; đô ̣ng viên, khích lệ mọi thành viên trong nhà trường tích cực tham gia phong trào thi đua xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”;
- Chủ động tham gia và khuyến khích các thành viên trong trường tích cực tham gia các hoạt động xã hội
Trang 40- Có khả năng ra quyết định đúng đắn, kịp thời và dám chịu trách nhiệm về các quyết định nhằm đảm bảo cơ hội học tập cho mọi học sinh, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của nhà trường
- Tổ chức xây dựng kế hoạch của nhà trường phù hợp với tầm nhìn chiến lược
và các chương trình hành động của nhà trường
- Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường hoạt động hiệu quả; Quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng và thực hiện đúng chế độ, chính sách đối với đội ngũ giáo viên, cán bộ và nhân viên; Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán
bộ và nhân viên đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá, đảm bảo sự phát triển lâu dài của nhà trường;
- Động viên đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên phát huy sáng kiến xây dựng nhà trường, thực hành dân chủ ở cơ sở , xây dựng đoàn kết ở từng đơn vị và trong toàn trường; mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo; Chăm lo đời sống tinh thần, vật chất của giáo viên, cán bộ và nhân viên
- Tuyển sinh, tiếp nhận học sinh đúng quy định , làm tốt công tác quản lý học sinh; Thực hiện chương trình các môn học theo hướng phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh nhằm đạt kết quả học tập cao trên
cơ sở đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng theo các quy định hiện hành;
- Tổ chức hoạt động dạy học của giáo viên theo yêu cầu đổi mới, phát huy dân chủ, khuyến khích sự sáng tạo của từng giáo viên, của các tổ bộ môn và tập thể sư phạm của trường; Thực hiện giáo dục toàn diện , phát triển tối đa tiềm năng của người ho ̣c, để mỗi học sinh có phẩm chất đạo đức làm nền tảng cho một công dân tốt, có khả năng định hướng vào một lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với tiềm năng sẵn có của mình và nhu cầu của xã hội
- Huy động và sử dụng hiệu quả, minh bạch, đúng quy định các nguồn tài chính phục vụ các hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường, thực hiện công khai tài chính của trường theo đúng quy định;