phú hơn và đặc biệt với công cuộc đổi mới giáo dục trong mấy năm gần đây yêu cầu về chất lượng, hiệu quả giáo dục cũng đòi hỏi được nâng cao hơn khiến cho công tác QLGD ngày càng trở nên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2008
Trang 2MỤC LỤC
Lời cảm ơn 1
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt 2
Mở đầu 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Giả thuyết nghiên cứu 6
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lí giáo dục 8
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.2 Các khái niệm công cụ 14
1.2.1 Quản lý giáo dục và quản lí trường học 14
1.1.2 Hệ thống thông tin quản lí giáo dục (Educational management Information System - emis) 19
1.1.3 Tiêu chí và chỉ số thông tin quản lí giáo dục 25
1.1.4 Hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lý giáo dục 26
Trang 31.2 Vai trò của hệ thống thông tin QLGD trong đổi mới giáo dục THPT hiện
nay 28
1.2.1 Đổi mới giáo dục THPT hiện nay 28
1.2.2 Vai trò của hệ thống thông tin QLGD trong đối mới giáo dục THPT hiện nay 34
1.3 Yêu cầu và quy trình xây dựng hệ thống thông tin QLGD hoạt động có hiệu quả các trường THPT 36
1.3.1 Các yêu cầu về hệ thống thông tin QLGD trong các trường THPT hiện nay 36
1.3.2 Quy trình thông tin QLGD 38
Kết luận chương 1 40
Chương 2: Thực trạng hệ thống thông tin quản lý giáo dục trung học phổ thông thành phố Hải phòng 42
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá xã hội thành phố Hải phòng 42
2.2 Tình hình phát triển giáo dục Trung học 45
2.2.1 Tình hình phát triển giáo dục thành phố Hải phòng 45
2.2.2 Tình hình phát triển giáo dục THPT thành phố Hải phòng 50
2.3 Thực trạng hoạt động của hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông thành phố Hải phòng 52
2.3.1 Khái quát về hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông thành phố Hải phòng 53
2.3.2 Nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên về vai trò của hệ thống thông tin QLGD 58
Trang 42.3.3 Nhân lực cho hoạt động thông tin QLGD (trong hệ thống thông tin
QLGD) 60
2.3.4 Hệ thống tiêu chí, chỉ số thông tin quản lí giáo dục THPT 61
2.3.5 Cơ chế thu thập, xử lý và báo cáo dữ liệu 66
2.3.6 Điều kiện đảm bảo hoạt động cho hệ thống thông tin QLGD 68
2.4 Đánh giá thực trạng hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông thành phố Hải phòng 70
Kết luận chương 2 73
Chương 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lí giáo dục 74
3.1 Nguyên tắc xây dựng và thực hiện các biện pháp nhằm phát triển hoàn thiện hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông 74
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 74
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 74
3.1.3 Nguyên tắc quán triệt tính thực tiễn 75
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vận động phối hợp đồng bộ 75
3.2 Các biện pháp đề xuất 76
3.2.1 Truyên truyền, giáo dục cho các đối tượng về vai trò, vị trí của hệ thống thông tin quản lí giáo dục trong công tác QLGD 76
3.2.2 Bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho cán bộ QLGD 78
3.2.3 Thống nhất các chỉ số thông tin quản lý giáo dục trong các trường THPT 79
Trang 53.2.4 Cải tiến cơ chế thu thập và các kênh thông tin cấp trường 86
3.2.5 Đổi mới công tác tài chính và trang thiết bị phục vụ cho công tác TTQLGD 89
3.2.6 Thực hiện triệt để phân cấp quản lí trong giáo dục để hoàn thiện hệ thống thông tin quản lí giáo dục 92
3.3 Điều kiện để thực hiện các biện pháp 94
3.3.1 Các điều kiện khách quan 94
3.3.2 Các điều kiện chủ quan 95
3.4 Trưng cầu ý kiến về ý nghĩa và tính khả thi của các biện pháp 96
Kết luận chương 3 100
Kết luận và khuyến nghị 101
1 Kết luận 101
2 Khuyến nghị 103
Danh mục tài liệu tham khảo 104
Phụ Lục 107
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Luận văn được thực hiện và hoàn thành với sự giúp đỡ của quý Thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp, gia đình và sự cộng tác các ban ngành, lãnh đạo và chuyên viên sở giáo dục đào tạo, Hiệu trưởng các trường THPT trong thành phố Hải phòng
Tác giả xin chân thành cảm ơn lãnh đạo khoa Sư phạm đại học quốc gia
Hà nội, lãnh đạo sở giáo dục đào tạo Hải phòng đã quan tâm động viên, tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Luận văn là sự thể hiện kết quả học tập nghiên cứu của tác giả và sự tận tâm giảng dạy, giúp đỡ, động viên của quý Thầy Cô khoa Sư phậm Đại học quốc gia Hà nội
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến PGS - TS Bùi Văn Quân đã tận tâm hướng dẫn trau dồi cho tác giả phương pháp nghiên cứu khoa học và kiến thức khoa học quản lý hết sức bổ ích
Mặc dù đã rất nhiều cố gắng, song do khả năng có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong Quý Thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp đóng góp, giúp đỡ để luận văn tiếp tục được hoàn thiện tốt hơn
Hà nội, tháng 10 năm 2008
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 7BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CBQLGD&ĐT Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo
(Education Management Information System)
HTTTQLGD Hệ thống thông tin quản lý giáo dục
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam theo xu hướng hội nhập hiện nay đòi hỏi các nhà lãnh đạo, quản lý ở tất cả các lĩnh vực phải hết sức năng động và phải biết sử dụng tối đa các công cụ quản lý Trong các yếu tố cấu thành của quản lý, thông tin được xem là thành tố và là khâu cơ bản đầu tiên giúp nhà quản lý xây dựng kế hoạch, ra quyết định, điều hành bộ máy, kiểm tra giám sát nắm bắt thông tin ngược để nâng cao chất lượng quản lý
Nói một cách hình ảnh hơn, thì hệ thống quản lý luôn được “nhúng” trong
thông tin Hiệu quả của quản lý phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng tổ chức thông tin và sử dụng thông tin Các hệ thống thông tin trở thành những yếu tố quan trọng trong hệ thống quản lý của các tổ chức, là chìa khoá giúp các tổ chức quản lý có hiệu quả và góp phần tăng sức cạnh tranh của họ trong môi trường hoạt động và thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng
Trong quản lý giáo dục (QLGD), hoạt động thông tin quản lý giáo dục
là một bộ phận quan trọng trong hoạt động quản lý của ngành Giáo dục và Đào tạo Hệ thống thông tin QLGD hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng công tác QLGD và rộng hơn là nâng cao chất lượng của toàn bộ hệ thống giáo dục
Trước đây, QLGD vận hành theo cơ chế quản lý tập trung thì hệ thống thông tin QLGD có những đặc điểm khác với giai đoạn hiện nay Hiện nay, hệ thống thông tin QLGD trong các sở giáo dục đào tạo và đặc biệt trong các trường THPT có nhu cầu thay đổi do nhiệm vụ và yêu cầu đổi mới giáo dục như: mạng lưới và cơ cấu, mô hình nhà trường đa dạng hơn rất nhiều (các trường THPT có nhiều loại hình trường lớp như công lập, bán công, dân lập,
tư thục) Tính chất của nội dung và mục tiêu đào tạo cũng phức tạp và phong
Trang 9phú hơn và đặc biệt với công cuộc đổi mới giáo dục trong mấy năm gần đây yêu cầu về chất lượng, hiệu quả giáo dục cũng đòi hỏi được nâng cao hơn khiến cho công tác QLGD ngày càng trở nên phức tạp.Vai trò của thông tin trong QLGD được coi trọng hơn với mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác quản lý, đặc biệt trong việc thu nhập và cung cấp thông tin phục vụ cho quá trình lập kế hoạch, xây dựng chính sách, theo dõi và đánh giá các hoạt động giáo dục
Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lý giáo dục phù hợp với giai đoạn trước nay không còn phù hợp với xu thế phát triển mạnh mẽ trong ngành Giáo dục và Đào tạo
Để giải quyết những vấn đề thực tiễn trong lĩnh vực thông tin, quản lí thông tin, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành những chính sách và chủ trương cụ thể Chỉ thị số 218/TTg ngày 7/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cải tiến lề lối làm việc của Chính phủ và chế độ thông tin báo cáo đã nhấn mạnh yêu cầu chấn chỉnh công tác thông tin báo cáo, bảo đảm thông tin hai chiều, phục vụ có hiệu quả hoạt động quản lí nhà nước từ trung ương đến địa phương và cơ sở Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 của Chính phủ về phát triển CNTT, đã khẳng định :
" Phổ biến kiến thức về CNTT rộng rãi trong xã hội, đồng thời tăng cường
áp dụng CNTT trong bản thân ngành giáo dục và đào tạo "
"Nghiên cứu áp dụng tích cực CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo "
Trong khi đưa ra những chủ trương và biện pháp chính để thúc đẩy phát triển CNTT, vấn đề hàng đầu được đề cập tới là tạo nguồn thông tin và chuẩn hoá các thông tin phát sinh trong xã hội, Nghị quyết nhấn mạnh :
" Trong việc thực hiện các dự án ứng dụng CNTT, nội dung quan trọng nhất là xây dựng các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu Các loại mẫu biểu
và chế độ báo cáo, truyền đưa thông tin phải được cải tiến và bổ sung theo yêu cầu của ứng dụng CNTT "
Trang 10Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống, hệ thống thông tin QLGD trong các trường THPT thành phố Hải phòng là một phân hệ của hệ thống thông tin QLGD trong toàn thành phố, do sở GD&ĐT quản lý Bên cạnh những thành tích đạt được trong giai đoạn vừa qua, hoạt động thông tin QLGD của các trường THPT thành phố Hải phòng cũng còn những bất cập, yếu kém về nhiều mặt như: nhận thức của các nhà quản lý cấp sở, cấp trường về thông tin QLGD còn mờ nhạt, chưa thấy rõ tầm quan trọng của hệ thống thông tin QLGD trong công tác quản lý; chưa thống nhất trong quá trình xử lý và sử dụng các tiêu chí và chỉ số thông tin trong nhà trường Cơ sở vật chất phục vụ cho thông tin QLGD chưa được tăng cường Cán bộ chuyên trách công tác thông tin QLGD còn thiếu, còn yếu và các cơ chế quản lý của nhà trường THPT còn chưa đáp ứng cho nhu cầu của HTTT QLGD nói chung
Để đáp ứng có hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, đổi mới công tác QLGD hiện nay, việc nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin QLGD nói chung, của Sở GD&ĐT với các trường
THPT nói riêng trở thành vấn đề cấp thiết
Với những phân tích trên, tôi quyết định chọn vấn đề “Biện pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lí giáo dục Trung học phổ thông thành phố Hải phòng” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
QLGD
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về lý thuyết thông tin quản lý và thực trạng quản lý
hệ thống thông tin QLGD, đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của HTTT QLGD Trung học phổ thông thành phố Hải phòng
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hệ thống thông tin quản lý giáo dục Trung học phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Hoạt động của hệ thống thông tin quản lý giáo dục THPT thuộc sự quản lí của Sở GD&ĐT thành phố Hải phòng
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống thông tin QLGD và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông thành phố Hải phòng theo các lĩnh vực thông tin chính sau đây:
- Thông tin phục vụ công tác quản lý học sinh
- Thông tin phục vụ công tác quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên
- Thông tin phục vụ công tác quản lý tài chính nhà và cơ sở vật chất Các nghiên cứu được thực hiện tại 10 trường THPT thành phố Hải phòng được chọn đại diện cho 2 mô hình (công lập và dân lập hoặc tư thục) của thành phố: THPT Lương Thế Vinh, THPT Thái phiên, THPT Thăng long, THPT Tiên lãng, THPT Đồ Sơn, THPT Bán công Vĩnh bảo, THPT Lý Thường Kiệt, THPT Nguyễn Đức Cảnh, THPT Nguyễn Trãi, THPT Kiến
Thụy
5 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông của sở giáo dục và đào tạo Hải phòng được vận hành theo những yêu cầu: Có sự bồi dưỡng, nâng cao nhận thức và trình độ của các cán bộ làm công tác thông tin và các nhà QLGD về hệ thống thông tin QLGD; Có sự thống nhất các tiêu chỉ và chỉ số QLGD trong các trường THPT; Hoàn thiện các cơ chế thu thập và xử lí dữ liệu; Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho hệ thống thông tin QLGD thì hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông của
Sở giáo dục và Đào tạo thành phố Hải phòng sẽ được nâng cao
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống hoá những vấn đề lí luận cơ bản về nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông
6.2 Đánh giá thực trạng hoạt động của HTTT QLGD Trung học phổ thông hiện nay của Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải phòng
Trang 126.3 Đề xuất những biện pháp phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của HTTTQLGD THPT của Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải phòng
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Sử dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá lý thuyết nhằm tổng quan các tài liệu về quản lý giáo dục, về hệ thống thông tin quản lý giáo dục để:
- Xây dựng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết cho đề tài
- Phân tích các luận điểm, đường lối chính sách trong quản lý giáo dục
và thông tin QLGD để vận dụng trong đánh giá thực trạng và đề xuất kiến nghị về các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông thành phố Hải phòng
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
Xây dựng và sử dụng phiếu điều tra để thu thông tin về thực trạng thông tin QLGD và hoạt động của hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông thành phố Hải phòng Phương pháp này cũng được sử dụng để hỏi ý kiến các chuyên gia về hệ thống biện pháp xây dựng hệ thống thông tin QLGD hoạt động có hiệu quả trong hoạt động quản lí của các trường THPT
và của Sở GD&ĐT thành phố Hải phòng
- Phương pháp quan sát
Tổ chức quan sát các hoạt động trong trường THPT để thu thập thông tin về sự vận hành của hệ thống thông tin QLGD của các trường THPT thành phố Hải phòng hiện nay
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu các hồ sơ, các mẫu biểu, các văn bản của các trường THPT thành phố Hải phòng trong 5 năm qua để khái quát về phương pháp, kĩ
Trang 13thuật lưu trữ, xử lí thông tin QLGD của các trường THPT thành phố Hải phòng
7.3 Phương pháp bổ trợ: Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý số liệu và
các phương pháp khác để trực quan hoá các số liệu nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài
liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ
thống thông tin quản lí giáo dục THPT của Sở giáo dục và đào tạo
Chương 2: thực trạng hệ thống thông tin quản lý giáo dục trung học phổ
thông thành phố Hải phòng
Chương 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông
tin quản lí giáo dục trung học phổ thông thành phố Hải phòng
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ
thống thông tin quản lí giáo dục Trung học phổ thông của Sở giáo dục và đào tạo
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, các nhà quản lý không thể quản lý có hiệu quả công ty hoặc doanh nghiệp của họ nếu như không có những kiến thức về các HTTT
Alvin Toffler trong cuốn “Thăng trầm quyền lực” cho rằng chúng ta đang ở
giai đoạn cuối của kỷ nguyên thông tin theo kiểu cũ và sẽ bắt đầu một kỷ nguyên mới được ông gọi là kỷ nguyên của tri thức với những khả năng phân
Trang 14tích thông tin và giao tiếp Theo Toffler tri thức ở đây chính là thông tin CNTT sẽ tiếp tục được áp dụng không những trong các công việc hàng ngày
mà còn thể hiện ở các sản phẩm qua đó sẽ thay đổi cách thức quản lý của các
tổ chức
Các HTTT trở thành yếu tố quan trọng trong HTQL của các tổ chức, là chìa khoá giúp các tổ chức quản lý có hiệu quả và góp phần tăng sức cạnh tranh của họ trong môi trường
Trên thế giới những nghiên cứu về quản lý HTTT nói chung trước đây thường tập trung vào xây dựng lý thuyết hoặc phương pháp Hiện nay, các nhà thiết kế hệ thống, các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, chiến lược quan tâm nhiều đến các yếu tố kỹ thuật, kỹ năng và văn hoá trong một tổ chức Trong nghiên cứu của tác giả Radhakrishna và một số tác giả khác các vấn đề về quản lý HTTT được nghiên cứu qua các giai đoạn phát triển sau:
* Những năm đầu của thập niên 70: Xây dựng hệ thống quản lý, xây dựng các phương pháp luận, kinh tế và máy tính hoá
* Giữa những năm 70: Hệ thống trợ giúp việc ra quyết định, việc thực hiện và những thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý
* Đầu những năm 80: Các công cụ nâng cao năng xuất, cơ sở dữ liệu quản lý, những ảnh hưởng của công nghệ tới cơ cấu tổ chức, tin học văn phòng
* Giữa những năm 80: Viễn thông, ảnh hưởng cạnh tranh của công nghệ thông tin, các hệ thống chuyên gia, ảnh hưởng của CNTT tới nguồn gốc công việc
Trong vòng 10 năm trở lại đây, các nghiên cứu tập trung nhiều vào các hoạt động trong tổ chức Các nhà nghiên cứu coi đây là một hướng công nghệ mới được chuyển từ phòng thí nghiệm sang các tổ chức thực tiễn Họ quan tâm nhiều tới các HTTT hỏi - đáp, đây được coi là trọng tâm của các hướng nghiên cứu Các nhà nghiên cứu hệ thống cho rằng xu hướng tốt nhất trong
Trang 15các nghiên cứu về QLHTTT là nghiên cứu việc sử dụng, phân phối thông tin
và ảnh hưởng tích cực của CNTT trong các tổ chức và trong xã hội
Từ năm 1984, tổ chức UNESCO khu vực châu Á-Thái Bình Dương (UNESCO/PROAP) đã đưa ra một chương trình hành động được gọi là:
"Tăng cường lập kế hoạch và QLGD dựa trên cơ sở thông tin" trong các nước
thành viên khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Thông qua đó để phát triển một HTTTQL giáo dục được máy tính hoá UNESCO/PROAP đã tổ chức một
số diễn đàn khoa học, hội thảo, seminar nhằm nâng cao nhận thức của các nhà QLGD của các nước thành viên trong việc sử dụng, trao đổi thông tin trong lập kế hoạch và QLGD Cuốn sách "Hệ thống thông tin QLGD- Education Management Information System - EMIS" được UNESCO/PROAP xuất bản năm 1992 là một tài liệu có giá trị định hướng cho các nghiên cứu, xây dựng
và hoàn thiện EMIS của các nước thành viên
Hưởng ứng xu thế này, Philippines đã tập trung những nỗ lực trong xây dựng các HTTT tổng hợp cho lập kế hoạch và QLGD từ những năm 1980 và dần dần ứng dụng tin học trong toàn hệ thống tạo thành mạng thông tin
QLGD trong toàn quốc Trong tác phẩm "EMIS in the Philippines- Hệ thống thông tin QLGD của Philippines”, Charles C Villanueva đã cung cấp thông
tin về những cải cách hệ thống thông tin QLGD Philippines được xem xét dưới khía cạnh phạm vi và cơ cấu tổ chức cũng như những vấn đề trọng tâm
mà họ đang phải đương đầu Đây là một tài liệu tham khảo tốt trong việc hoàn thiện HTTTQL giáo dục Việt Nam
Những năm đầu của thập niên 90 thế kỷ XX, Chính phủ ở các nước phát triển đưa ra quan điểm tiếp cận mới đối với việc quản lý HTTT, đó là quan điểm tiếp cận tổng thể và tiếp cận hệ thống, cốt lõi của quan điểm này là
ý tưởng xây dựng Chính phủ điện tử
Tại Châu Âu, Walter W Mc Mahon (thuộc Viện kế hoạch hoá giáo dục quốc tế - IIEP, Paris) là người dẫn đầu các nghiên cứu giáo dục quốc tế về HTTTQL giáo dục Ông đã đưa ra các khái niệm về quản lý HTTT trong giáo
Trang 16dục dựa trên cơ sở hiệu suất với các chỉ số làm thế nào mà một HTTTQL giáo dục thích nghi được với các điều kiện địa phương Ông cho rằng các phương pháp truyền thống trong xác định các chỉ số thu thập thông tin thường không phù hợp với các nhà lập kế hoạch giáo dục và không thích hợp với các vấn đề thực tiễn mà các nhà hoạch định chính sách và chiến lược giáo dục đang phải đương đầu
Nói tóm lại, các nghiên cứu ở nước ngoài đều khẳng định vai trò quan trọng của HTTT trong quản lý và tìm cách quản lý phát triển hệ thống thông tin đó ngày càng hiệu quả phục vụ đắc lực cho hoạt động quản lý
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, đặc biệt trong QLGD muộn hơn so với nhiều nước trên thế giới Vào thập niên 90, sau nghiên cứu đánh giá tổng thể về GD&ĐT và nguồn nhân lực ngành GD&ĐT (VIE 89/022) nước ta đã nhận thức được tầm quan trọng của thông tin QLGD
và đã có những bước tiến đáng khích lệ về mặt này Đã có một số hội thảo đề cập đến vấn đề này trong toàn quốc như: Hội thảo về thông tin quản lý và điều hành trong giáo dục cho mọi người do Viện Khoa học Giáo dục tổ chức (1993); Hội thảo về HTTTQL giáo dục đại học do Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục tổ chức (1995) và Hội thảo về xây dựng HTTT phổ cập giáo dục tiểu học do Vụ Tiểu học - Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức (1997) Đây thực
sự là các diễn đàn khoa học của các nhà quản lý, các nhà khoa học giáo dục bàn về hiện trạng thông tin QLGD Việt Nam, những khó khăn và các giải pháp khắc phục, nhưng những kiến nghị của các Hội thảo đó rất chậm được
triển khai vào thực tiễn Gần đây nhất dự án “tăng cường năng lực cho Bộ GD&ĐT ” do EU tài trợ giai đoạn 2000 - 2003, trong đó HTTTQL giáo dục
đã có bước nghiên cứu ban đầu về phát triển HTTTQL giáo dục Việt Nam
Dự án đã tiến hành một số hoạt động như đánh giá thực trạng công tác thông tin QLGD tại các Sở GD&ĐT thông qua phiếu hỏi, trang bị máy tính cho một
số Sở và Phòng GD&ĐT
Trang 17Về mặt lý luận, một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề này
như chuyên đề về "Hệ thống thông tin QLGD và văn hoá" do trường Cán bộ
quản lý giáo dục trung ương I (nay là Học viện Quản lý giáo dục) dùng trong giảng dạy cao học và các khoá bồi dưỡng tại trường Một số báo cáo tại các
hội thảo xây dựng HTTTQL giáo dục: “Xây dựng hệ thống thông tin giáo dục cho mọi người” của Hoàng Đức Nhuận; “Thông tin QLGD phục vụ xây dựng chính sách giáo dục” của Lê Thạc Cán; “Tăng cường tiềm năng và nâng cao năng lực cho Trung tâm thông tin QLGD thuộc Bộ” của Trần Ngọc Chương,
trong những báo cáo đó các tác giả cho rằng thông tin phục vụ xây dựng chính sách giáo dục cần đa dạng, kết hợp được các nguồn thông tin cả về số lượng và chất lượng
Ngoài các công trình nêu trên, một số đề tài nghiên cứu cấp Bộ cũng đề cập đến vấn đề xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục:
Đề tài nghiên cứu khoa học B96-52-12 "Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý giáo dục và đào tạo Việt Nam" được thực hiện tại
Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục đã bước đầu nghiên cứu cơ sở lý luận của HTTTQL giáo dục, đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp chung
để hoàn thiện hệ thống Đề tài kế thừa các nghiên cứu đã có nhưng tập trung nghiên cứu hiệu quả hoạt động của HTTTQL giáo dục Việt Nam để đề xuất các biện pháp cải tiến phù hợp
Đề tài B2000-52-48 "Nghiên cứu đề xuất mô hình hệ thống thông tin quản lý của trường THCS tại Hà Nội" do Trường Bồi dưỡng cán bộ giáo dục
Hà Nội và Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục phối hợp (2001- 2003) tiến hành, đã tập trung nghiên cứu sâu về một khía cạnh của hệ thống như tạo lập sơ đồ chức năng nghiệp vụ, sơ đồ dòng dữ liệu và thiết kế phần mềm
"Quản lý kết quả học tập của học sinh trong trường THCS Hà Nội"
Thực hiện “Chiến lược Công nghệ thông tin quốc gia“ và chủ trương
đổi mới công tác thông tin trong QLGD, ngày 09/7/1992, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 1359/QĐ-CB về việc thành lập Trung
Trang 18tâm thông tin QLGD (trên cơ sở sát nhập Tổ thống kê của Vụ Kế hoach- Tài chính, Trung tâm Tin học của Bộ và Tổ thông tin quản lý của Văn phòng Bộ) Trung tâm thông tin QLGD có chức năng chính là quản lý thống nhất toàn bộ hoạt động thông tin QLGD& ĐT của cơ quan Bộ và toàn ngành, chịu trách nhiệm thu thập, xử lý, lưu trữ, khai thác và cung cấp, phổ biến thông tin của ngành Tiếp đó, ngày 08/12/1992 Bộ trường Bộ GD&ĐT ban hành chỉ thị số 26/CT về việc cải tiến và thống nhất công tác thông tin QLGD&ĐT nhằm xây dựng và kiện toàn HTTTQL giáo dục toàn ngành
“Một số giải pháp về thông tin quản lý giáo dục (EMIS) đối với trường trung học Việt Nam đầu thế kỷ XXI theo hướng tích hợp và phương pháp dạy học chủ động”( Đặng Quốc Bảo (1997), Chiến lược chương trình trung học đầu thế kỷ XXI , Kỉ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội); “ Một số giải pháp hoàn thiện thông tin quản lý giáo dục và đào tạo Việt Nam” (Vương Thanh Hương
, Đề tài cấp Bộ, Viện nghiên cứu Phát triển Giáo dục) Đây là những công trình bước đầu nghiên cứu cơ sở lý luận của hệ thống TTQLGD, đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp chung để hoàn thiện hệ thống này
Chương trình hành động quốc gia giáo dục cho mọi người được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 872/CP-KG, ngày 02/7/2003, có
đoạn ghi: “Đến năm 2010 hệ thống thông tin QLGD thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các chức năng được quy định trên toàn bộ các vùng lãnh thổ, theo tinh thần phân cấp QLGD”
Trong báo cáo về tình hình giáo dục của Chính phủ trình Quốc hôi,
tháng 9 năm 2004, có đoạn ghi “ Từng bước đưa công nghệ thông tin vào tất cả các khâu trong quá trình dạy học, tạo điều kiện áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý các quá trình đào tạo ”
Trong hơn 10 năm qua đã có nhiều chủ trương, chính sách của Nhà nước về việc quản lý và phát triển HTTTQL giáo dục HTTTQL giáo dục đã được hình thành và từng bước phát triển có hiệu quả phục vụ cho công tác
Trang 19quản lý ngành GD&ĐT nói chung, GD&ĐT địa phương nói riêng và từng bước công khai thông tin về QLGD với nhân dân
Tóm lại: Ở tầm vĩ mô, Việt Nam đã có chiến lược và những hướng dẫn tương đối cụ thể về việc phát triển HTTT trong giáo dục, đòi hỏi những cơ quan quản lý và những người quản lý ở tầm vi mô phải có chiến lược cụ thể cho địa phương mình và cơ sở giáo dục của mình, mà vấn đề trước tiên là thiết lập HTTTQL tại cơ sở mình một cách sát hợp và khả thi
Những phân tích trên cho thấy, vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của
hệ thống TTQLGD trong các nhà trường phổ thông và đặc biệt trong trường THPT còn là vấn đề mới mẻ, chưa được nghiên cứu cụ thể Trong khi đó, hoạt động của hệ thống TTQLGD ở các trường THPT còn ở mức hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn, chưa thích nghi được với từng địa phương, chưa đảm bảo cung cấp thông tin nhanh, chính xác và đáp ứng yêu cầu sử dụng tin của nhà quản lý giáo dục các cấp Do đó, nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin QLGD trong các trường THPT nói chung, các trường THPT thành phố Hải phòng nói riêng là việc làm cần thiết và cấp bách
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Quản lý giáo dục và quản lí trường học
- Quản lý
Theo quan niệm của điều khiển học, quản lý là chức năng của những hệ
có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật ) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó Quản lý là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển
Theo C.Mác, bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhất định đến sự quản lý Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hình thành những chức năng chung xuất hiện trong toàn bộ cơ thể sản xuất, khác
Trang 20với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó Như vậy, Mác đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan
trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Theo đó, quản lý là một
hoạt động lao động tất yếu có tầm quan trọng đặc biệt, gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người Nó ra đời khi xã hội có sự phân công lao động, đòi hỏi sự hợp tác trong lao động tập thể trên một quy mô nào đó hoặc khi con người hoạt động cùng nhau với mục tiêu chung Xã hội càng phát triển thì trình độ tổ chức, điều hành của xã hội cũng càng phát triển và đòi hỏi ngày càng cao như một tất yếu lịch sử khách quan Quản lý không những là công việc cụ thể mà đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống ở cả tầm vĩ mô và vi mô
Ở nước ngoài, có thể kể đến một số định nghĩa về khái niệm quản lí của các tác giả như: Frederich Winslon Taylor (1855-1915) nhà thực hành quản lý lao động người Mỹ; Henry Fayol (1841-1925) nhà quản lý hành chính người Pháp; Mary Parkor Pollet (1868-1933), nhà quản lý người Mỹ theo trường phái quan hệ con người Harold Koontz, nhà quản lý người Mỹ đề xuất định
nghĩa khái niệm quản lý như sau: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học"
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về quản lí dựa trên hai tiếp cận:
- Tiếp cận theo phương diện hoạt động của tổ chức Theo đó, "Quản lý
là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển đối tượng" ; "Quản lý là tác động có định hướng,
Trang 21có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức, làm cho
tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ chức"; "Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định"
- Tiếp cận theo các chức năng của hoạt động quản lý Theo tiếp cận này, "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra" [11,2]; Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định
và cho nó phát triển tới mục tiêu đã định
Các quan niệm trên mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau, song đều thống nhất khi đề cập đến những dấu hiệu cơ bản của quản lí là: 1/ Quản
lý là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành phát triển; 2/ Quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội; 3/ Quản lý là những tác động có tính hướng đích, là những tác động phối hợp
nỗ lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức; 4/ Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người bị quản lý giữ vai trò trung tâm trong chu trình, trong hoạt động quản lý
Từ những phân tích trên, tác giả luận văn quan niệm: Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch để chủ động gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết, sao cho đảm bảo cân đối giữa tính (mặt ) ổn định và phát triển của tổ chức
Trang 22Quá trình nêu trên, xét về chức năng chính là tạo sự thống nhất và tác động lẫn nhau giữa lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm soát công việc để dẫn đến hiệu lực, hiệu quả và mục tiêu đã định của tổ chức
Có thể mô tả lôgic khái niệm quản lí qua hình 1.1 dưới đây
C : Kiểm tra (Controling)
I : Thông tin ( Information)
Hình 1.1: Lôgíc khái niệm quản lí [ 11]
- Quản lý giáo dục
M.I Cônđacốp – nhà lý luận và hoạt động thực tiễn xuất sắc của Liên
Xô (cũ) đã đưa ra quan điểm của mình trong tác phẩm “Những cơ sở lý luận
của quản lý trường học” (1983): “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp
tổ chức cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính v.v nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [14, 22]
Năm 1987, Viện quản lý và kinh tế giáo dục thuộc Viện hàn lâm sư phạm Liên Xô (cũ) đã tổng kết những thành tựu nghiên cứu về quản lý trường
học trong nhiều năm trong cuốn “Những cơ sở của quản lý nội bộ trường học” Cuốn sách đã trình bày những quan điểm mới nhất về quản lý giáo dục
của các học giả Liên Xô cũ tính đến thời điểm đó
Đầu những năm 90, UNESCO PROAP đã xuất bản cuốn sách có tính
cẩm nang về kỹ năng quản lý giáo dục mang tựa đề “Kế hoạch hóa và quản lý giáo dục vi mô” (Micro – Level Educational Planning and Management)
I
Trang 23Trong những năm gần đây tại các nước phương Tây, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục cũng rất sôi động, sách báo về quản lý giáo
dục đã xuất hiện rất nhiều Điển hình là các công trình “Nghề hiệu trưởng – một triển vọng thực tiễn đựơc phản ánh” (The Principalship - A Reflective Practice Perspective) của Thomas J Seriovanni (1991); “Hành vi tổ chức trong giáo dục” (Organizational Behavior in Education) của Robert Jowens
(1995); Quản lý giáo dục: lý thuyết nghiên cứu và thực tiễn (Educational Adminstration - Theory, Researah and Practive) của Wayne K Hoy, Cecil G Miskel (1986)
Ở Việt Nam, theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [11,31]
GS.VS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Việc quản lý nhà trường phổ thông (có thể
mở rộng ra là việc quản lý giáo dục nói chung) là quản lý hoạt động dạy – học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [26, 124]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng Thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến đến trạng thái mới về chất” [19, 12]
Từ các quan niệm trên cho thấy, khi đề cập đến quản lí giáo dục, các tác giả Việt Nam đều quan tâm đến vấn đề quản lí dạy học và giáo dục, đều thống thống nhất khẳng định về vai trò của Đảng trong quản lí giáo dục Đây
là đặc trưng của giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện được mục tiêu giáo dục là phát triển con người, là dạy tốt, học tốt để phát triển toàn diện nhân cách toàn diện của người học
Trang 24Dựa trên những phân tích trên và khái niệm quản lí đã trình bày, tác giả
luận văn quan niệm: Quản lí giáo dục là dạng quản lí (với đầy đủ nghĩa khai thác, lựa chọn, tổ chức, và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết) được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục và đối với giáo dục
Chủ thể quản lí giáo dục là Nhà nước, từ trung ương đến địa phương và
cơ sở, trong toàn bộ mạng lưới trường lớp, và những người chịu trách nhiệm trước nhà nước như các cơ quan quản lí, các nhà giáo, các cán bộ giáo dục khác và cả chính người học
Khách thể quản lí tổng thể là hệ thống giáo dục, các đối tượng quản lí
là các thành tố của hệ thống này (nhân sự, chương trình giáo dục, hoạt động giáo dục, người học, nguồn lực giáo dục và học liệu, môi trường giáo dục và
cơ sở giáo dục, các quan hệ giáo dục) trên các mặt qui mô, cơ cấu và chất lượng của chúng
Trọng tâm của quản lí giáo dục là quản lí trường học và tất cả những hoạt động, các quan hệ trên –dưới, các nhân tố liên quan đến nhà trường
216]
Tác giả Phạm Minh Hạc quan niệm: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”
Trang 25Tác giả Hà Sĩ Hồ trong cuốn “Những bài giảng về quản lý trường học”
đã chỉ ra: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học Có tổ chức hoạt động dạy – học, thực hiện được tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục” [15,
32]
Theo tác giả luận văn, quản lí nhà trường là sự cụ thể hoá của quản lí giáo dục Trường học là phân tử của hệ thống giáo dục quốc dân Quản lí nhà trường, thực chất là quản lí giáo dục ở cơ sở Theo đó, trường học trở thành khách thể quản lí của tất cả các cấp quản lí, trong đó Ban giám hiệu và Hội đồng sư phạm của mỗi trường là chủ thể quản lí trực tiếp
Quản lí trường học có bản chất là quản lí hoạt động dạy, hoạt động học
và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường
1.1.2 Hệ thống thông tin quản lí giáo dục (Educational Management Information System - EMIS)
- Thông tin quản lí giáo dục
Xét về bản chất, thông tin nói chung là thuộc tính khách quan của sự vật và đặc trưng cho độ bất định (độ không ổn định) của sự vật đó trong môi trường mà nó tồn tại và vận động Sự vật càng ít ổn định càng phát ra nhiều thông tin, ngược lại sự vật càng ổn định càng ít phát ra thông tin
Thông tin được con người chế biến, sử dụng với những mục đích khác nhau và chính dưới dạng này nó được coi là tri thức, còn tự thân nó chưa phải
là tri thức Từ điển Bách khoa về Giáo dục coi thông tin là điều người ta nói đến, là tri thức, tin tức, chúng được khai thác và sử dụng không phải ở nơi chúng phát sinh và ở thời điểm chúng xuất hiện Thông tin tồn tại và vận động
trong không gian và thời gian nhờ các kênh và phương tiện riêng biệt
Có quan hệ mật thiết với khái niệm thông tin là khái niệm dữ liệu Hai khái niệm này thống nhất với nhau những không đồng nhất
Dữ liệu là nguyên liệu gốc, là đầu vào của một hệ thống thông tin Dữ liệu có các đặc tính như lưu giữ các sự kiện, mang tính bị động và được thu
Trang 26nhập từ nhiều nguồn khác nhau, trong khi đó thông tin có các đặc tính là cung cấp các sự kiện, mang tính hoạt động và được xử lý, biến đổi từ dữ liệu Như vậy, có thể hiểu dữ liệu mang tính ổn định và bị động trong khi đó thông tin
mang tính bất định Thông tin là kết quả được xử lý từ dữ liệu thông tin qua trí tuệ con người và các phương tiện, công cụ hỗ trợ
Quá trình xử lý dữ liệu thành thông tin có thể biểu diễn như hình 1.2
Hình 1.2: Sơ đồ quá trình xử lý dữ liệu thành thông tin
Như vậy, ở góc độ thông tin phục vụ công tác quản lý ta có thể hiểu
thông tin là trí thức, tin tức được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích cho việc ra quyết định
Theo nghĩa này, thông tin tồn tại dưới hai dạng: định tính và định lượng Thông tin định tính là những thông tin cho biết về tính chất hay sự biến đổi về tính chất của đối tượng Thông tin định lượng là những thông tin
về số lượng hay sự biến đổi về số lượng của đối tương nghiên cứu Với hai dạng thông tin như vậy, thông tin cần phải được xử lí
Xử lý thông tin là từ các thông tin đã thu được người ta nghiên cứu sắp xếp, chỉnh lý, trình bày các thông tin đó làm cơ sở cho việc diễn giải, phân tích, thống kê và báo cáo khoa học Việc xử lý thông tin được thực hiện với các yêu cầu riêng tương ứng với từng loại, dạng thông tin Xử lý thông tin định lượng là quá trình sử dụng các phương pháp thống kê và thống kê toán học để xác định xu hướng diễn biến của tập hợp số liệu thu thập được, tức là xác định quy luật thống kê của tập hợp số liệu Xử lý thông tin định tính là quá trình đưa ra những phán đoán về bản chất các sự kiện, đồng thời thể hiện những liên hệ logic của các sự kiện được xem xét Các thông tin định tính và
DỮ
LIỆU
CÔNG CỤ
HỖ TRÍ TUỆ
TRỢ-THÔNG TIN
TRI THỨC CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ
QUYẾT ĐỊNH
Trang 27định lượng cần được xử lý để xây dựng các luận cứ, khái quát hóa để làm bộc
lộ các quy luật, phục vụ cho công tác quản lý (Bùi Văn Quân(2006), Giáo trình phương pháp nghiên cứu giáo dục học, Nhà xuất bản Đại học sư phạm,
Hà Nội [27, 173)
Thông tin quản lí là loại thông tin được con người thu thập, xử lý, đánh giá và áp dụng vào các mục đích quản lý và thực hiện các chức năng quản lý chung: Lập kế hoạch, dự báo, tổ chức bộ máy, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện, giám sát thực hiện, kiểm tra và đánh giá kết quả cũng như tiến trình thực hiện
Thông tin quản lý có thể là thông tin khoa học - công nghệ, có thể là thông tin từ dư luận, có thể là thông tin từ nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm Mọi loại thông tin cụ thể nào đó đều có thể là thông tin quản lý nếu
ta sử đụng chúng với mục đích quản lý chứ không phải với mục đích khác Thông tin quản lý là một bộ phận hợp thành của thông tin xã hội ( Trường đại
học Kinh tế quốc dân ( 2001), Giáo trình khoa học quản lý, tập I, NXB Khoa
học và kỹ thuật , Hà Nội, trang 233-234), còn đối với riêng hệ thống quản lý
và nhà quản lý thì nó đồng thời là tri thức cần thiết để đảm bảo hoạt động quản lý
Có nhiều cách phân loại thông tin quản lí tuỳ thuộc vào dấu hiệu của thông tin được lựa chọn làm cơ sở phân loại như: đặc tính, dấu hiệu, trạng thái vật lý, cách thu nhập, mức độ xử lý, mục đích sử dụng Với mục đích sử dụng thông tin phục vụ công tác QLGD có thể phân thông tin thành hai loại: Loại thứ nhất là thông tin phục vụ cho việc thực hiện các chức năng QLGD (bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, quản lý nhân sự, lãnh đạo, kiểm tra, ra quyết định giáo dục của cơ sở giáo dục và hệ thống giáo dục quốc dân) Loại thứ hai là thông tin phục vụ cho việc điều hành các hoạt động hàng ngày của hệ thống giáo dục cả ở tầm vĩ mô và vi mô
Với cách phân loại thứ nhất, thông tin được thu thập ổn định và được báo cáo định kỳ theo các cấp quản lý Với cách phân loại thứ hai, thông tin
Trang 28được thu thập thường xuyên phục vụ điều hành và quản lý các hoạt động hàng ngày của hệ thống giáo dục
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả giới hạn nghiên cứu về
loại thông tin thứ nhất – thông tin phục vụ lập kế hoạch và ra quyết định giáo dục tại cơ sở giáo dục
Thông tin quản lí giáo dục phản ánh liên tục các yếu tố đa dạng cần thiết theo các chu kỳ QLGD phục vụ cho các cấp quản lý điều chỉnh các quyết định hiện hành, ra quyết định mới và điều khiển tối ưu sự vận hành để tiếp cận mục tiêu giáo dục
Nội dung thông tin QLGD gồm:
1/ Nguồn thông tin nhằm cụ thể hoá mục tiêu: Thông tin chỉ đạo được ban hành từ các văn bản Nhà nước và của các Bộ, bao gồm mục tiêu, các thông số về kinh tế xã hội, khoa học- kỹ thuật của từng năm, từng giai đoạn 5 năm , từng giai đoạn phát triển dài hơn
2/ Nguồn thông tin về hình thành mục tiêu, gồm: Phản ánh kết quả phối hợp với các lực lượng xã hội; phản ánh kết quả tác động của bản thân ngành giáo dục về quản lý quá trình đào tạo và thực hiện quá trình đào tạo Đây là nguồn thông tin cơ bản nhất, được phản ánh một cách chính thức qua hệ thống tổ chức chặt chẽ
3/ Thông tin để đối chứng: Thông tin xã hội, đánh giá của xã hội, thông tin quốc tế để so sánh, rút kinh nghiệm
Quản lý nhà nước về giáo dục chủ yếu dựa vào văn bản quản lý Thông tin là chức năng cơ bản nhất của mọi loại văn bản, trong đó có văn bản quản
lý nhà nước về giáo dục Theo quan điểm thông tin, giá trị của văn bản được bảo đảm bởi giá trị thông tin chứa đựng trong chúng Đến lượt mình giá trị thông tin chứa trong văn bản lệ thộc vào tính chính xác, mức độ đầy đủ và sự không trùng lặp thông tin mà văn bản mang lại trong quá trình quản lý Muốn chức năng thông tin của văn bản được bảo đảm, cần phải quan tâm đến khả
Trang 29năng tiếp nhận thông tin qua các văn bản có thuận lợi hay không và những thông tin đó được sử dụng như thế nào trong thực tế quản lý nhà nước
- Hệ thống thông tin quản lí giáo dục
Theo nghĩa chung nhất, hệ thống là tổ hợp, mạng lưới các yếu tố, các phần tử có sự tương tác lẫn nhau để tạo thành một chính thể Theo phương diện xã hội, hệ thống là một khối thống nhất của các bộ phận cấu thành có liên kết với nhau cùng hoạt động để đạt mục đích chung Khái niệm hệ thống
còn bao hàm cả ý nghĩa kế hoạch, phương pháp, xếp đặt và trật tự “ Hệ thống
là một tập hợp các phần tử khác nhau , giữa chúng có mối liên hệ và tác động qua lại theo một quy luật nhất định tạo thành một chỉnh thể có khả năng thực hiện được những chức năng cụ thể nhất định ” [33, 15]
Hệ thống thông tin (HTTT) là một chu trình gồm đầu vào, quá trình xử
lý thông tin và đầu ra được thực hiện và quản lý trong một tổ chức và môi trường quanh tổ chức đó Các hệ thống thông tin trong giai đoạn hiện nay thường được cải tiến, nâng cao nhờ áp dụng CNTT trong quá trình thu thập, tổng hợp, lưu trữ, phản hồi và cung cấp thông tin Laudon, K.and Laudon,
J(2000) trong cuốn Management Information System Prentice Hall định nghĩa: Hệ thống thông tin là một tập hợp các bộ phận liên kết làm nhiệm vụ thu thập hoặc phản hồi, xử lý, lưu trữ và phân phối thông tin trợ giúp quá trình ra quyết định, giám sát và đánh giá trong một tổ chức Để trợ giúp quá
trình ra quyết định, phối hợp và kiểm tra, các hệ thống thông tin có thể còn giúp các nhà quản lý phân tích vấn đề, tìm hiểu các đối tượng và sáng tạo các sản phẩm mới Quan điểm kỹ thuật hiện đại cho rằng hệ thông thông tin không phải chỉ là một hệ thống máy tính mà gồm 5 bộ phận hợp thành, đó là : Máy tính( phần cứng ), các chương trình( phần mềm ) , cơ sở dữ liệu, các thủ tục và con người
Hệ thống thông tin quản lí (HTTTQL) là một hệ thống được trang bị kỹ thuật tin học, có khả năng thu thập, xử lý và cung cấp thông tin đúng, kịp thời
Trang 30và có ích tới các nhà quản lý, đáp ứng các mục tiêu quản lý tổng quát và cụ thể Khi xem xét dưới góc độ quản lý thông tin, HTTTQL được hiểu là một hệ thống tích hợp các cơ sở dữ liệu và các kênh thông tin ở các bộ phận quản lý
và qua mọi cấp độ quản lý của tổ chức, có nhiệm vụ thu thập, trao đổi và cung cấp dữ liệu đã được xử lý đáp ứng nhu cầu thông tin của tổ chức Như vậy HTTTQL là nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý ở các cấp , cung cấp cho các nhà quản lý thông tin và các báo cáo, trong một vài trường hợp là các báo cáo đánh giá các hoạt động hiện tại so với các hoạt động đã qua Thông thường hệ thống này được định hướng vào các sự kiện, các hoạt động bên trong một tổ chức HTTTQL phục vụ cho các chức năng quản lý như: lập kế hoạch, tổ chức, quản lý nhân sự, đánh giá và ra quyết định ở các cấp quản lý
Hệ thống thông tin QLGD (Educational Management Information System - EMIS) là hệ thống cung cấp cho các nhà QLGD những thông tin có ích trong lập kế hoạch và phân bổ các dịch vụ giáo dục
Với cách tiếp cận theo quan điểm thông tin phục vụ cho công tác lập kế
hoạch và quản lý EMIS được hiểu là một nhóm hay bộ phận thông tin, tư liệu được tổ chức để tiến hành thu nhập, xử lý, lưu trữ, phân tích và phân phối thông tin cho lập kế hoạch và ra quyết định giáo dục Với cách tiếp cận theo
quan điểm quản lý thông tin về giáo dục, hệ thống thông tin QLGD được hiểu
là hệ thống tích hợp các cơ sở dữ liệu ( CSDL) bao gồm CSDL về quản lý nhà trường phổ thông và các CSDL khác có liên quan được thu thập, xử lý, tổng hợp, lưu trữ và báo cáo hông qua các cấp quản lý, cung cấp thông tin phục vụ QLGD
Các chuyên gia UNESCO/PROAP cho rằng cần nghiên cứu hệ thống
thông tin QLGD theo cách tiếp cận hệ thống phục vụ công tác QLGD Đó là một quá trình chuyển đổi từ dữ liệu thô (đầu vào) thông qua hệ thống thông tin QLGD (quá trình) cung cấp thông tin (đầu ra) kịp thời và có ích tới tay các nhà quản lý
Trang 31Với việc phát triển công nghệ thông tin (CNTT) và các công cụ viễn thông được áp dụng trong hệ thống thông tin QLGD sẽ mở ra một giai đoạn mới hỗ trợ đắc lực cho lập kế hoạch và QLGD có hiệu quả Quan điểm này được các tác giả thể hiện theo hình 1.3
Hình 1.3: Sơ đồ tiếp cận hệ thống tới thông tin QLGD
Vậy, hệ thống thông tin QLGD (EMIS) là một công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLGD đặc biệt trong giai đoạn hiện nay QLGD được coi là giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục
1.1.3 Tiêu chí và chỉ số thông tin quản lí giáo dục
- Tiêu chí thông tin quản lí giáo dục
Tiêu chí (Criterion) là đặc trưng, dấu hiệu có thể được lấy làm cơ sở, căn cứ để nhận biết, xếp loại, đánh giá các sự vật, các khái niệm
Tùy theo yêu cầu hay ý muốn của con người, bất kể một dấu hiệu nào của đối tượng cũng đều có thể trở thành tiêu chí: mầu sắc, trọng lượng, tính chất vật lí, tính chất hoá học, cấu tạo, giá trị, hiệu quả, tốc độ, kích thước…nếu lúc đó nó phù hợp với mục tiêu của chủ thể Tiêu chí, chuẩn và mục tiêu là những phạm trù gần nhau, có quan hệ chặt ché và thường khó phân biệt tuyệt đối với nhau Tuy nhiên, chúng có thể được phân biệt theo nghĩa so sánh nếu cùng được đặt cạnh nhau trong trường hợp xem xét cụ thể
Tiêu chí được con người thừa nhận là phương tiện để con người phân loại, so sánh, đánh gía, tổ chức, cấu trúc tuyển chọn và ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau của thực tiễn xã hội như khoa học, quản lý, ứng xử xã hội
Đầu vào
Trang 32Tiêu chí thông tin quản lí giáo dục là đặc trưng, dấu hiệu của thông tin quản lí giáo dục có thể được lấy làm cơ sở, căn cứ để nhận biết, xếp loại, đánh giá thông tin quản lí giáo dục tại các cơ sở hoặc hệ thống giáo dục
Xác định các tiêu chí thông tin quản lí giáo dục cần chú ý các vấn đề :
- Các tiêu chí phải có tính độc lập tương đối Các tiêu chí phải được phân biệt với nhau vì bản thân chúng là cái để phân biệt, để nhận diện
- Tập hợp các tiêu chí phải cho phép nhận diện toàn diện về đối tượng (hiện tượng, sự kiện, quá trình ) dạy học và giáo dục được nghiên cứu
- Các tiêu chí phải cụ thể, có khả năng đo lường, đánh giá
- Chỉ số thông tin quản lí giáo dục
Chỉ số (Indicator) thông tin quản lí giáo dục là đại lượng dùng để biểu thị cường độ, khuynh hướng biến động, có tính chất định lượng quá trình thông tin quản lí giáo dục trong cơ sở giáo dục hoặc trong hệ thống giáo dục quốc dân Thông thường, các chỉ số là những đại lượng bằng số Mỗi chỉ số ít nhất được cấu thành từ hai biến số thì mới có khả năng chỉ thị giá trị Nói cách khác, chỉ số là sự kết hợp ít nhất là hai biến số theo quan niệm, qui tắc hay phương thức nào đó Một tiêu chí được xác định bằng các chỉ số Các chỉ
số là sự mô tả định lượng những biểu hiện khác nhau của tiêu chí Nhờ chỉ số
mà có thể kết luận tiêu chí có hay không có ( xảy ra hay không xảy ra) ở đối tượng Chẳng hạn, tiêu chí tính chính xác của thông tin quản lí giáo dục có thể được xác định qua các chỉ số: 1/ Thông tin đầy đủ; 2/ Kênh thông tin không bị gây nhiễu; 3/ Thông tin được truyền và xử lí theo đúng kênh qui định
Xác định các tiêu chí và chỉ số của thông tin quản lí giáo dục là cơ sở
để nghiên cứu, thiết kế các công cụ và lựa chọn các phương pháp tổ chức hệ thống thông tin QLGD phù hợp và hiệu quả Đề xác định chỉ số, cần phải căn
cứ vào tiêu chí Mỗi tiêu chí có một số chỉ số xác định Số lượng các chỉ số phải cho phép chỉ thị giá trị của tiêu chí Vì vậy, mỗi chỉ số phải được xác định cụ thể và đáp ứng yêu cầu đo lường được của chính nó
1.1.4 Hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lý giáo dục
Trang 33Trong lý luận và thực tiễn công tác quản lý chúng ta thường gặp phạm trù hiệu quả Nói đến hiệu quả là nói đến mục tiêu đặt ra được hoàn thành tốt xấu thế nào và ở mức độ nào Trong một tổ chức, khái niệm hiệu quả được sử dụng khá thường xuyên Hiệu quả mô tả các kết quả được thực hiện đích thực
và rõ rệt như thế nào so với mục tiêu đề ra
Khái niệm hiệu quả hoạt động khi xem xét được gắn với bối cảnh thực
và con người thực Những nhà kinh tế cho rằng, hiệu quả hoạt động gắn với việc mang lại lợi nhuận hoặc tỉ lệ thu hồi cao Đối với những nhà quản lý sản xuất trực tiếp, hoạt động có hiệu quả được đo bằng tổng số và chất lượng của sản phẩm làm ra Những nhà khoa học thường diễn đạt hiệu quả bằng tổng số phát minh, các sáng chế hoặc sản phẩm mới được đưa ra thị trường và được thị trường chấp nhận Đối với nhiều nhà lãnh đạo công đoàn, hoạt động có hiệu quả có nghĩa là sự an toàn lao động, người làm công được trả lương cao, được thoả mãn trong công việc và chất lượng cuộc sống Các nhà quản lý cho rằng, hệ thống thông tin quản lý hoạt động có hiệu quả khi các sản phẩm thông tin đầu ra của hệ thống đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Phản ánh đúng thực trạng: Thông tin quản lý phải phản ánh đúng thực trạng kinh tế - xã hội, lĩnh vực hoặc ngành chuyên môn, cả khó khăn và thuận lợi để giúp các nhà quản lý làm cơ sở hoạch định các chính sách phát triển chung và chính sách riêng cho từng khu vực
- Kịp thời: Thông tin quản lý phải được cập nhật hàng tháng, hàng quí giúp cho các nhà quản lý điều chỉnh kế hoạch đúng với tình hình thực tế hoặc điều chỉnh kịp thời các quyết định quản lý
- Nội dung thông tin ngắn gọn, vừa đủ: Loại bỏ những thông tin không cần thiết và chỉ cung cấp những thông tin phù hợp "Vừa đủ" được hiểu là không thiếu để có thể sử dụng vào các công việc quản lý nhưng không được thừa hoặc chi tiết thái quá dễ dẫn đến nhiều giải trình méo mó thậm chí giải trình sai khi người ra quyết định quản lý không cân nhắc kỹ Mọi thông tin phải
Trang 34được kiểm tra loại bỏ sai sót không đáng có trước khi đưa đến tay người sử dụng và các nhà quản lý
- Thông tin phục vụ công tác quản lý có đặc điểm hết sức quan trọng đó là nguồn gốc thực tiễn của nó Nó vừa bắt nguồn từ thực tiễn, vừa quay trở lại phục vụ thực tiễn Chính thực tiễn công tác quản lý làm xuất hiện sự phản ánh, tức là xuất hiện thông tin Song, sự xuất hiện của thông tin không phải vì mục đích tự thân mà nhằm phục vụ thực tiễn quản lý Thông tin có giá trị là thông tin tạo khả năng đạt mục đích Điều này chỉ có thể đạt được khi thoả mãn ba điều kiện:
Thông tin được xử lý: Chỉ có thông tin được xử lý mới có khả năng phản ánh tích cực và do đó mới có giá trị trong quản lý;
Thông tin phải được chọn lọc: Nó nhất thiết phải gắn liền với việc xử lý thông tin, với việc lựa chọn thông tin có giá trị phục vụ cho việc giải quyết những nhiệm vụ quản lý Thông tin có giá trị cao là thông tin khi sử dụng sẽ bảo đảm đạt mục đích dự kiến của quản lý;
Thông tin quản lý phải có tính phản ánh và dự báo, nghĩa là, khả năng phân biệt những hình ảnh chủ quan với bản thân các sự vật Yêu cầu này làm cho thông tin trở thành tích cực, không chỉ cho phép phản ánh cái đã có mà còn tạo ra sự phản ánh tích cực, tiên đoán, dự đoán diễn biến của các sự kiện trong tiến trình quản lý
1.2 Vai trò của hệ thống thông tin QLGD trong đổi mới giáo dục THPT hiện nay
1.2.1 Đổi mới giáo dục THPT hiện nay
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá X kỳ họp thứ 8 đã ra Nghị quyết số 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị số 14/2001/CT-TTg ngày 11/6/2001 về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội và Chỉ thị số 30/1998/CT-TTg ngày 01/9/1998 về việc điều chỉnh chủ
Trang 35trương phân ban ở THPT và đào tạo hai giai đoạn ở đại học nêu rõ các yêu cầu, các công việc mà Bộ GD&ĐT phải triển khai thực hiện
- Mục tiêu của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
+ Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới
+ Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự học của học sinh
+ Tiếp cận trình độ phát triển của giáo dục ở các nước trong khu vực và thế giới
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức phân luồng sau THCS và THPT, chuẩn bị tốt để học sinh tiếp tục học tập ở bậc sau trung học hoặc tham gia lao động ngoài xã hội
Mục tiêu của đổi mới chương trình là phát triển hài hoà, toàn diện của học sinh, chú trọng cả phẩm chất và năng lực Trên một nền học vấn phổ thông cơ bản toàn diện, chương trình THPT mới tập trung vào việc củng cố
và phát triển 4 năng lực chính sau đây của học sinh:
+Năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã được hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và giao tiếp Cụ thể là dám nghĩ, dám làm, năng động có khả năng ứng dụng vào thực tiễn
+ Năng lực sáng tạo có thể ứng phó với những thay đổi của cuộc sống, thể hiện ở tính chủ động, linh hoạt , biết đặt và giải quyết vấn đề
+ Năng lực hợp tác, phối hợp hành động, thể hiện ở lòng nhân ái, tính trách nhiệm và tôn trọng con người
+ Năng lực tự khẳng định bản thân thể hiện ở tính tự lực, tự chịu trách nhiệm có ý thức và phương pháp tự học
- Những yêu cầu của đổi mới chương trình, SGK phổ thông
Trang 36+Quán triệt các mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục
của bậc học, cấp học theo quy định của Luật giáo dục
+ Đảm bảo tính hệ thống, tính kế thừa và phát triển của chương trình giáo dục, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp thu các thành tựu giáo dục tiên tiến trên thế giới
+ Thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá Bảo đảm thống nhất
về chuẩn kiến thức và kỹ năng, tăng cường tính liên thông với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục sau trung học; chọn lọc và đưa vào chương trình những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh; coi trọng tính thực tiễn, học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội
+ Thực hiện đồng bộ việc đổi mới chưông trình SGK, phương pháp dạy học với việc đổi mới cơ bản cách đánh giá, thi cử, đổi mới đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, đổi mới công tác quản lí giáo dục, nâng cấp cơ sở vật chất của nhà trường theo hướng chuẩn hóa, đảm bảo trang thiết bị và đồ dùng dạy học
+ Những nội dung cơ bản trong đổi mới chương trình giáo dục THPT được thể hiện ở các khía cạnh sau:
+ Chương trình hướng tới việc đổi mới đồng bộ các thành tố: mục tiêu, nội dung chương trình, cấu trúc và phương pháp trình bày sách giáo khoa, phương tiện dạy học, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, tăng cường thiết bị, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Trang 37+ Chương trình quan tâm đến việc đáp ứng sự phân hóa về năng lực, sở trường, nguyện vọng học tập của học sinh, theo hình thức phân ban kết hợp các chủ đề tự chọn Các nội dung tự chọn gồm các loại chủ đề bám sát, nâng cao, đáp ứng
+ Chương trình được thiết kế tăng thời lượng dành cho các hoạt động thực hành, hoạt động học tập tích cực của học sinh Các nội dung lý thuyết được cân nhắc lựa chọn và đề ra các yêu cầu thực hiện phù hợp với mức độ nhận thức của học sinh Sắp xếp lại các nội dung sao cho tăng cường ứng dụng hoặc hỗ trợ giữa các môn, đảm bảo tính thực tiễn, tăng cường tích hợp
b) Về hình thức tổ chức dạy học
Định hướng dạy học phân hóa theo hình thức phân ban kết hợp các chủ
đề tự chọn nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu và khả năng học tập của học sinh Học sinh vào lớp 10 được tuyển vào một trong hai ban: Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội nhân văn Ngoài một số môn chung (Giáo dục công dân, tin học, ngoại ngữ, công nghệ, thể dục) mà học sinh ở ban nào cũng phải học như nhau về nội dung và mức độ thì mỗi ban có một số môn phải nâng cao (phân hóa):
+ Ban KHTN: toán, lý, hóa, sinh
+ Ban KHXH-NV: văn, sử, địa
Sự chênh lệch về mức độ giữa các môn phân hóa không quá 20% với mặt bằng chung Ngoài ra có chủ đề tự chọn để học sinh bổ sung thêm kiến thức của mình theo nguyện vọng, hứng thú
c) Về sách giáo khoa
+ Về hình thức, các sách giáo khoa được biên soạn theo một mô hình cấu trúc sách chung, hỗ trợ cho việc đổi mới phương pháp dạy học, tạo điều kiện cho học sinh làm việc tích cực, chủ động, hạn chế việc cung cấp kiến thức
+ Về nội dung, đảm bảo việc lựa chọn kiến thức, xác định mức độ kiến thức hướng vào mục tiêu giáo dục của từng bài, từng chương Đưa vào một số
Trang 38những yếu tố mới của thành tựu khoa học công nghệ, sự phát triển kinh tế, xã hội Một số cuốn sách đã đưa vào cuối sách bảng thuật ngữ của môn học giúp học sinh tập dựơt với công việc tra cứu, tìm tòi, tạo điều kiện ban đầu cho học sinh trong công hoạt động nghiên cứu khoa học Các hoạt động của học sinh được lựa chọn và sắp xếp có chủ đích, có hệ thống hơn, thể hiện rõ hơn các yêu cầu thực hành vận dụng kiến thức vào thực tiễn…
c) Về đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới chương trình sách giáo khoa lần này đặt trọng tâm vào đổi mới phương pháp dạy học Chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy học mà cốt lõi
là hướng tới hoạt động học tập chủ động của học sinh, chống lại thói quen học tập thụ động chúng ta mới có thể tạo ra sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với một nền kinh
tế tri thức Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi việc tổ chức dạy và học thực hiện theo các hướng như sau:
+ Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động cho học sinh
+ Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
+ Tăng cường học tập cá thể phối hợp với việc học tập hợp tác
+ Kết hợp đánh giá của thầy với việc đánh giá của trò
d) Về cơ sở vật chất và thiết bị trường học
Cơ sở vật chất và thiết bị trường học là điều kiện không thể thiếu được cho việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động học tập tích cực, chủ động của học sinh Nó không chỉ đơn thuần là dụng cụ để giáo viên minh họa cho bài giảng mà còn là điều kiện để học sinh thực hiện
Trang 39các hoạt động học tập độc lập hoặc theo nhóm, lĩnh hội tri thức một cách chủ động và sáng tạo
Để tiến hành đổi mới phương pháp dạy học cần tích cực đổi mới cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học theo các yêu cầu như:
+ Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống, thực tế và đạt chất lượng cao, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của học sinh trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua thực hành, thâm nhập thực tế trong quá trình học tập
+ Đảm bảo để nhà trường được trang bị những thiết bị dạy học ở mức
độ tối thiểu, đó là những trang thiết bị cần thiết không thể không có Tăng cường các thiết bị tự làm của giáo viên để làm phong phú thêm thiết bị dạy học của nhà trường
+ Tăng cường các phòng học bộ môn, trước hết là phòng học cho các
bộ môn thực nghiệm như: lý, hóa, sinh, tin, ngoại ngữ…
+ Cần lưu ý đến việc bảo quản, sử dụng, có quy định cụ thể để các điều kiện về cơ sở vật chất thiết bị được giáo viên sử dụng một cách tối đa
e) Về đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh
Đánh giá là khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình dạy học và giáo dục, thường nằm ở khâu cuối của một quá trình giáo dục và là khởi đầu của quá trình giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn
Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một quá trình thu thập và xử
lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, tạo
cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường đối với học sinh để học sinh học tập ngày một tốt hơn, tiến bộ hơn Kiểm tra đánh giá phải được đổi mới theo hướng phát triển trí thông minh sáng tạo cho người học, khuyến khích vận dụng linh hoạt kiến thức, kỹ năng đã học vào giải quyết các tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề khác nhau của đời sống xã hội cũng như của cá nhân mình
Trang 40Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sịnh cần theo các yêu cầu sau:
+ Kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo tính khách quan, công bằng, phản ánh đúng kết quả và trình độ học tâp của học sinh
+ Bộ công cụ kiểm tra đánh giá phải được bổ sung các hình thức đánh giá khác nhau như đưa thêm các dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm khách quan, chú ý đến đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, quan tâm đến mức độ hoạt động tích cực chủ động học tập của học sinh trong từng tiết học
+ Hệ thống câu hỏi kiểm tra, đánh giá cần thể hiện sự phân hóa để kiểm tra đánh giá và đo được mức độ đạt được trình độ chuẩn đồng thời phân hóa mức độ nâng cao cho học sinh có năng lực trí tuệ cao hơn
1.2.2 Vai trò của hệ thống thông tin QLGD trong đối mới giáo dục THPT hiện nay
Vai trò của thông tin QLGD (EMIS) trong đối mới giáo dục THPT được thể hiện qua những điểm dưới đây:
- Thứ nhất, Giáo dục Việt Nam đang đứng trước những thách thức về
quốc tế hóa, toàn cầu hóa và những ảnh hưởng to lớn của cách mạng khoa học
và công nghệ trong bối cảnh tiến tới một nền kinh tế tri thức “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế –
xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh”[ ] Do vậy,
chất lượng giáo dục phải được nâng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Một trong những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục là phải nâng cao chất lượng công tác QLGD Muốn vậy phải có thông tin
đa dạng, đáng tin cậy phục vụ cho việc thực hiện các chức năng chính của công tác QLGD như : Lập kế hoạch, tổ chức, quản lý nhân sự, lãnh đạo, kiểm