Trong nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã nêu: “Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, chạy theo lối sống thực
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẶNG TRẦN HIẾU
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN VIÊN – GIA LÂM - HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.NGND.Nguyễn Võ Kỳ Anh
Hà Nội - 2012
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 2
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3
8 Phương pháp nghiên cứu 3
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 3
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
8.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ 3
9 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Vài nét tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 5
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 5
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 8
1.2.1 Khái niệm quản lý 8
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục 10
1.2.3 Khái niệm quản lý nhà trường 11
1.2.4 Khái niệm quản lý trường trung học phổ thông 12
Trang 31.2.7 Khái niệm quá trình giáo dục đạo đức 14
1.2.8 Khái niệm quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong nhà trường 15
1.2.9 Khái niệm quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong nhà trường THPT 15
1.3 Đặc điểm của học sinh THPT và vị trí của giáo dục THPT 17
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức 19
1.4.1 Yếu tố giáo dục nhà trường 19
1.4.2 Yếu tố giáo dục gia đình 20
1.4.3 Yếu tố giáo dục xã hội 20
1.4.4.Yếu tố tự giáo dục của bản thân học sinh 20
1.4.5 Kế hoạch hóa trong công tác quản lý hoạt động GDĐĐ 21
1.4.6 Chất lượng đội ngũ giáo viên tham gia GDĐĐ 22
1.4.7 Mức độ xã hội hóa giáo dục trong lĩnh vực GDĐĐ 22
1.4.8 Hoạt động của Đoàn -Hội 23
1.4.9 Điều kiện cơ sở vật chất, tài chính 23
Tiểu kết chương 1 25
CHƯƠNG 2 26
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC 26
HỌC SINH CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN VIÊN 26 GIA LÂM – HÀ NỘI 26
2.1 Khái quát tình hình kinh tế xã hội của huyện Gia Lâm – Hà Nội 26
2.2 Khái quát tình hình phát triển giáo dục của Huyện Gia lâm Hà Nội 27
2.3 Thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Yên Viên - Gia Lâm - Hà Nội 31
2.3.1 Vai trò và nhiệm vụ của trường THPT Yên Viên - Gia Lâm -Hà Nội 32 2.3.2 Thực trạng chất lượng giáo dục đạo đức ở trường THPT Yên Viên – Gia Lâm – Hà Nội 33 2.3.3 Thực trạng nhận thức của học sinh về giáo dục đạo đức trong nhà
Trang 42.3.4 Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Yên
Viên Gia Lâm – Hà Nội 43
2.3.4.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý về vấn đề giáo dục đạo đức 43
2.3.4.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về vấn đề giáo dục đạo đức học sinh 44 2.3.4.3 Thực trạng việc phối hợp các lực lượng giáo dục để giáo dục đạo đức học sinh 47
2.3.4.4 Thực trạng kế hoạch hóa công tác GDĐĐ 51
2.4 Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh yếu kém về đạo đức ở trường THPT Yên Viên Gia Lâm – Hà Nội 53
Tiểu kết chương 2 57
CHƯƠNG 3 58
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA NHÀ TRƯỜNG NHẰM NÂNG CAO KẾT QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN VIÊN 58
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 58
3.1 Nguyên tắc để xác định biện pháp 58
3.1.1 Nguyên tắc tính kế thừa 58
3.1.2 Nguyên tắc tính khả thi 58
3.1.3 Nguyên tắc tính thực tiễn 59
3.1.4 Nguyên tắc tính hiệu quả 59
3.2 Một số biện pháp chủ yếu 60
3.2.1 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các thành viên, tổ chức trong nhà trường đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 60
3.2.1.1 Mục tiêu của biện pháp 60
3.2.1.2 Nội dung của biện pháp 60
3.2.1.3 Cách thực hiện biện pháp 61
Trang 53.2.2.1 Mục tiêu của biện pháp 62
3.2.2.2 Nội dung của biện pháp 62
3.2.2.3 Cách thực hiện biện pháp 63
3.2.3 Phát huy hơn nữa vai trò của Đoàn thanh niên trong giáo dục đạo đức 64
3.2.3.1 Mục tiêu của biện pháp 64
3.2.3.2 Nội dung của biện pháp 64
3.2.3.3 Cách thực hiện biện pháp 65
3.2.4 Phát huy vai trò tự quản của tập thể và tự rèn luyện của học sinh 67
3.2.4.1 Mục tiêu của biện pháp 67
3.2.4.2 Nội dung của biện pháp 67
3.2.4.3 Cách thực hiện biện pháp 67
3.2.5 Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục đạo đức học sinh 68
3.3.5.1 Mục tiêu của biện pháp 68
3.2.5.2 Nội dung của biện pháp 69
3.2.6.3 Cách thực hiện biện pháp 69
3.2.6 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức học sinh 72
3.2.6.1 Mục tiêu của biện pháp 72
3.2.6.3 Cách thực hiện biện pháp 73
3.3 Khảo nghiệm một số biện pháp 74
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 74
3.3.2 Các biện pháp được khảo nghiệm 75
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Khuyến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PGS.TS : Phó giáo sư – Tiến sĩ
PGS.TS.NGND : Phó giáo sư – Tiến sĩ – Nhà giáo nhân dân
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Sơ đồ về quản lý 10
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ % về học sinh đạt hạnh kiểm tốt và khá của huyện Gia Lâm trong 4 năm gần đây 31
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ % về học sinh hạnh kiểm yếu của huyện Gia Lâm trong 4 năm gần đây 31
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ hạnh kiểm tốt, khá của học sinh trường THPT Yên Viên trong những năm học gần đây 35
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ hạnh kiểm trung bình, yếu của học sinh trường THPT Yên Viên trong những năm học gần đây 35
Biểu đồ 2.5: Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức 40
học sinh trường THPT Yên Viên 40
Biểu đồ 2.6: Tác động của các hoạt động giáo dục đạo đức theo đánh giá của giáo viên trường THPT Yên Viên 45
Biểu đồ 2.7: Nguyên nhân dẫn đến học sinh có hành vi vi phạm đạo đức 54
ở trường THPT Yên Viên 54
Biểu đồ 3.1: Đánh giá về tính quan trọng và khả thi của 6 biện pháp 76
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong Luật Giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2005, Điều 2 đã chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc”
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định yếu tố con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Đầu tư vào con người, cho con người để phát triển khoa học kỹ thuật tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nước là vô cùng quan trọng và là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân đồng thời có trách nhiệm lớn lao đào tạo con người phát triển toàn diện vừa có đức vừa có tài Hoạt động giáo dục trong nhà trường không chỉ có “dạy chữ”
mà phải coi trọng việc “dạy người”
Đặc biệt là Chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 07 tháng 11 năm
2006 về tổ chức cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Chỉ thị số 1973/CT-TTg, ngày 7/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. đã cho thấy sự quan tâm sâu sát của Đảng và nhà nước về giáo dục đạo đức
Trong công cuộc đổi mới, giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, như Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
có nêu: “Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập Xu hướng thương mại hóa
và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở
Trang 9một bộ phận trong lứa tuổi thanh thiếu niên nói chung và học sinh nói riêng có phần sa sút và được hiểu một cách sai lệch dẫn đến những hậu quả đáng tiếc khi các em đang ngồi trên ghế nhà trường Nếu không được giáo dục tốt sẽ dẫn đến có những hành vi tự phát thiếu văn hoá, phi đạo đức, do ý thức không kiềm chế được bản năng Trong nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã nêu: “Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”.
Xuất phát từ phân tích trên, với trách nhiệm của một nhà giáo, nhà quản
lý ở một trường THPT – phụ trách công tác đức dục, tôi luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh và tôi đã
mạnh dạn chọn đề tài: “Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh của trường THPT Yên Viên – Gia Lâm – Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm
đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng một số biện pháp quản lý của nhà trường trong việc giáo dục đạo đức học sinh nói chung, học sinh trường THPT Yên Viên – Gia Lâm – Hà Nội nói riêng nhằm nâng cao kết
quả giáo dục đạo đức cho các em
3 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý giáo dục đạo đức ở Trường THPT Yên Viên - Gia Lâm -
Hà Nội
4 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở Trường THPT Yên Viên - Gia Lâm - Hà Nội
5 Giả thuyết khoa học
Trong điều kiện kinh tế – xã hội và thực tế giáo dục hiện nay, nếu các biện pháp quản lý giáo dục ðạo ðức học sinh ở trường THPT Yên Viên - Gia Lâm - Hà Nội được tổ chức thực hiện đồng bộ, thống nhất trong các lực lượng
Trang 10giáo dục thì sẽ góp phần nâng cao kết quả giáo dục đạo đức nói riêng và giáo dục toàn diện cho học sinh của nhà trường nói chung
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về quản lí giáo dục đạo đức trong nhà trường THPT
- Khảo sát, dánh giá, phân tích thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh Trường THPT Yên Viên
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục dạo đức cho học sinh Trường THPT Yên Viên
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở Trường THPT Yên Viên - Gia Lâm -
Hà Nội
+ Trong thời gian từ năm học 2006-2007 đến năm học 2011-2012
+ Đối tượng khảo sát: Giám hiệu trường THPT Yên Viên cán bộ quản
lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên, phụ huynh học sinh, học sinh
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, hệ thống hóa quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, những văn kiện của Đảng và Nhà nước có liên quan đến nội dung
đề tài nghiên cứu
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm khảo sát thực tiễn
- Phương pháp điều tra thu thập thông tin, số liệu, dữ liệu
- Phương pháp phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia và các nhà quản lý ở trường THPT
- Phương pháp xử lý, phân tích và sử dụng các thông tin đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu thuộc phạm vi đề tài
8.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ
Trang 11- Thống kê so sánh, phân tích trường hợp điển hình
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bầy trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức học sinh trong trường trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh của trường trung học phổ thông Yên Viên – Gia Lâm – Hà Nội
Chương 3: Một số biện pháp quản lý của nhà trường nhằm nâng cao kết quả giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Yên Viên – Gia Lâm – Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH
TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Vài nét tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Từ xưa đến nay, trong mọi thời đại, đạo đức có vai trò quan trọng trong
xã hội với những chuẩn mực giá trị đúng đắn, đạo đức là một bộ phận quan trọng trong nền tảng tinh thần của xã hội Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội
Khổng Tử (551-479 TCN) nhà giáo dục lớn của Trung Hoa phong kiến
đề cao đường lối đức trị và lễ trị để trị quốc an dân, phát triển đất nước Ông coi Nhân là gốc rễ của các đức khác, các đức tụ cả ở Nhân Khổng Tử cho rằng: “ Điều mình không muốn thì đừng làm cho kẻ khác” Làm người phải biết sửa mình “ Không nhìn cái không hợp Lễ, không nghe cái không hợp Lễ, không nói điều không hợp Lễ, không làm việc không hợp Lễ” Với những cống hiến ấy, Khổng Tử được coi là giáo dục lớn của Trung Quốc, được tôn làm “ Vạn thế sư biểu”
A.Komenxki (1592-1670) đã đúc kết “Một số qui tắc trong ứng xử” để giáo dục cho thanh thiếu niên Ông đặc biệt quan tâm đến phương pháp làm gương và nêu gương trong giáo dục đạo đức cho học sinh
Nhà giáo dục học và tâm lý học Liên Xô A.X Makarenco, ông nêu lên nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể Trong tác phẩm “Bài ca sư phạm’’ ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giáo dục đạo đức
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam nước ta, từ xa xưa cha ông chúng ta từng dạy: “Tiên học lễ, hậu học văn” Nguyễn Trãi cũng đã so sánh khẳng định “Tài thì kém đức một vài phần” và cho rằng “Người có tài mà không có đức thì nhũng nhiễu thiên hạ” Cho nên “sĩ tử đi học trước hết phải trau dồi đạo đức rồi sau mới học làm văn chương, giỏi thì giúp đời cứu dân, không giỏi thì sửa mình, sửa tục”[9]
Trang 13Bác Hồ đã để lại cho chúng ta cả một kho tàng về triết lý nhân sinh, hành động vì nhân sinh, đạo đức và giáo dục đạo đức Trong các tác phẩm, những bài nói chuyện Bác luôn chú trọng đưa vấn đề đạo đức để giáo dục cán
bộ, quần chúng nhân dân và đặc biệt lưu ý GDĐĐ cho học sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng củagiáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa
“Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng,
đó là cái gốc rất quan trọng Nếu mà không có đầy đủ đạo đức cách mạng thì
có tài gì cũng vô dụng” (Hồ Chí Minh Bài nói chuyện với cán bộ, học sinh trường Đại học sư phạm Hà Nội, ngày về thăm trường 21/10/1964)
Lúc sinh thời, Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng luôn đề cập đến vấn
đề đạo đức Bác viết: “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu khóa XI đã xem xét, thảo luận về Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa , hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường , định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Đổi mới chương trình giáo dục theo hướng người học không chỉ học trong nhà trường mà phải được giá o dục, rèn luyện thông qua các hoạt động xã hội , nghề nghiệp thích hợp , tạo sự phối hợp giữa nhà trường , gia đình và xã hội Đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá người học để phản ánh toàn diện phẩm chất , năng lực của người học ; tạo môi trường giáo dục trung thực , dân chủ , sáng tạo và thân thiện ; thầy cô giáo phải là tấm gương đạ o đức, tự học và sáng tạo
Bộ GD&ĐT ra Quyết định số 50/2007/QĐ-BGDĐT ngày 29 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên trong các đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp Quy định này đã nêu rõ mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, nội dung, hình
Trang 14thức, biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT trong giai đoạn hiện nay
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
đã có những đóng góp rất quan trọng vào lĩnh vực nghiên cứu này với các tác giả như: thầy Phạm Minh Hạc, thầy Hà Thế Ngữ, thầy Nguyễn Đức Minh, thầy Phạm Hoàng Gia, thầy Phạm Tất Dong và nhiều tác giả khác Để đi đến các quan niệm và giải pháp về giáo dục đạo đức, các tác giả đã lựa chọn cho mình những cách tiếp cận khác nhau, tạo ra một sự đa dạng, phong phú về nội dung
và phương pháp nghiên cứu
Thầy Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để khảo sát hành vi và hoạt động, nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách, thực hiện giáo dục đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục
Thầy Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh
Thầy Phạm Tất Dong đã đi sâu nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với giáo dục đạo đức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ
Cuốn sách “Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của Trịnh Duy Huy (Nxb Chính trị quốc gia, 2009),
có nội dung khá đầy đủ và hệ thống về lý luận, về thực trạng và một số phương hướng, giải pháp để xây dựng đạo đức mới trong điều kiện môi trường kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Tác giả cho rằng xây dựng và phát triển đạo đức mới phải dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân
Trang 15xây dựng ở nước ta bao gồm: chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế trong sáng; tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng; tinh thần lao động tự giác, sáng tạo; tinh thần nhân đạo và một số giá trị khác như: bình đẳng, công lý, nhân quyền, yêu thiên nhiên, sự lương thiện, thận trọng, tự giác, tự trọng
Con người sinh ra chưa có đạo đức, nhân cách, mà nó hình thành và được phát triển bởi giáo dục trong suốt cuộc đời trong môi trường kinh tế – xã hội được xác định Chính vì lẽ đó vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức ở thời đại nào cũng được quan tâm, chú ý của mọi thành viên trong xã hội Sự cần thiết phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức để tận dụng tài năng, phục
vụ cho lợi ích của gia đình và xã hội là nhân cách tốt đẹp của người công dân chân chính trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa hiện nay Công tác giáo dục đạo đức góp phần quan trọng vào việc đinh hướng hình thành và phát triển nhân cách Những phẩm chất đạo đức tiến bộ không phải tự nhiên mà có,
mà phải thông qua quá trình giáo dục, tự giáo dục, rèn luyện trong lao động và đấu tranh bền bỉ như Bác Hồ đã dạy “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” mới có thể giữ vững và nâng cao được những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của cá nhân, phù hợp với lợi ích chung của xã hội
Tác giả đã kế thừa trực tiếp những thành quả nghiên cứu nêu ở trên, dựa vào những gợi mở của các tác giả đi trước về lý luận và phương pháp để triển khai đề tài và hy vọng góp được một phần nhỏ bé của mình vào việc quản lý giáo dục đạo đức học sinh cũng như trong công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh tại trường THPT Yên Viên – Gia Lâm – Hà Nội
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý có từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người Đó là do yêu cầu của việc tổ chức lao động chung Nó đã làm tăng hiệu quả lao động cao hơn so với việc làm riêng lẻ của các cá nhân có chung mục tiêu hoạt động Trong tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn của từng quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và phải chịu một sự quản lý nào đó
Trang 16Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn
Quản lý là một khái niệm rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Do đó, khái niệm quản lý khi được nêu ra phải luôn gắn với các loại hình quản lý cụ thể
Sau đây là một số quan niệm:
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.[14, tr 9]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”.[23, tr 56]
Tác giả Trần Khánh Đức cho rằng “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn nhân lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”.[13, tr 328]
Như vậy, quản lý là tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thay đổi tích cực, để đạt được mục đích của chủ thể quản lý Hay là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền Biểu hiện cụ thể qua việc lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó, điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia trong mọi thời đại, quản lý là một tất yếu lịch
sử phát triển loài người
Trong quản lý, chủ thể quản lý và đối tượng quản lý lại có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Khi
Trang 17mục tiêu của tổ chức thay đổi sẽ tác động đến đối tượng quản lý thông qua chủ thể quản lý
Hình 1.1: Sơ đồ về quản lý
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội
Nó đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội Với cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm quản lý giáo dục như sau:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc chúng ta có thể hiểu rằng quản lý giáo dục
là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà giáo dục vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục, với thế
hệ và với từng học sinh
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo trong tài liệu một số khái niệm trong quản lý giáo dục phát hành năm 1998 cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lược lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác giáo dục và đào tạo theo yêu cầu phát triển của xã hội”
Theo tác giả Trần Kiểm: Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học
Chủ thể
quản lý
Công cụ quản lý
Khách thể quản lý
Mục tiêu
QL Phương pháp quản lý
Trang 18sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm
thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Bản chất của quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục
Như vậy, quản lý giáo dục thực chất là quản lý có hiệu quả chất lượng giáo dục (bao gồm dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiện thông qua các tác động có mục đích, có kế hoạch, qua các chức năng tổ chức, chỉ đạo
và kiểm tra đánh giá để đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, tự chủ, biết sống, phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội
1.2.3 Khái niệm quản lý nhà trường.
Nhà trường là đơn vị cơ sở của ngành giáo dục đào tạo Quản lý nhà trường là một phần quan trọng trong QLGD
Theo M.I.Kônđacôp quản lý nhà trường là hệ thống xã hội- sư phạm chuyên biệt Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội- kinh tế, tổ chức- sư phạm
của quá trình dạy học và giáo dục thể hệ đang lớn lên
Tác giả Phạm Viết Vượng thì cho rằng “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh
và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục
để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [28, tr 205]
Theo Phạm Thị Tuyết Oanh và cộng sự thì cho rằng: “Quản lý trường học
là hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác huy động tối
đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [22, tr.135]
Như vậy, quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục Là một
Trang 19luật), của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (giáo viên, cán bộ, nhân viên, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, cơ
sở vật chất, trang thiết bị, tài chính ) nhằm đưa hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục
Hay nói một cách khác, quản lý nhà trường thực chất là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục tiến tới mục tiêu giáo dục mà trọng tâm của nó là đưa hoạt động dạy và học tiến lên trạng thái mới về chất
1.2.4 Khái niệm quản lý trường trung học phổ thông.
Quản lý trường THPT là quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp Là quá trình tác động có định hướng, có kế hoạch của Hiệu trưởng lên tất cả các nguồn lực nhằm đưa các hoạt động của nhà trường thực hiện có chất lượng và đạt hiệu quả mục tiêu giáo dục
Mục tiêu quản lý của nhà trường THPT chính là xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, để thực hiện được mục tiêu giáo dục Mục tiêu quản lý trường học thường được cụ thể hóa trong bản kế hoạch của nhà trường
Quản lý nhà trường thực chất là quản lý của người Hiệu trưởng trên tất
cả các hoạt động của nhà trường Quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản
lư các lĩnh vực khác bởi sản phẩm của giáo dục là tri thức, là nhân cách của học sinh “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với
lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
1.2.5 Khái niệm về đạo đức
Đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện ác, lương tâm, danh dự, trách nhiệm, về lòng tự trọng về công bằng hạnh phúc và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội
Trang 20Đạo đức là một hiện tượng xã hội khá phức tạp, và có nhiều khái niệm khác nhau
Quan niệm đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người quan niệm đạo đức là “Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm, chính ” [20, tr 335]
Đó là đạo đức cách mạng “ Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu,
nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [20,tr 337]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì đạo đức có thể được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng
“Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định, những chuẩn mực
ứng xử trong quan hệ của con người với con người, với công việc, với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống, đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh
bộ mặt nhân cách của cá nhân được xã hội hóa”.[15, tr 158]
Tóm lại, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về Đạo đức song có thể khái quát chung Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng
xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội Khi quan hệ
xã hội thay đổi thì ý thức đạo đức cũng thay đổi nội dung của nó, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội Đạo đức gắn liền với hành vi, thói quen, tập quán sống nên nó thường xuyên biến động theo tiến trình phát triển của nhân loại trên hai phương diện lịch sử và đương đại
Trong giai đoạn hiện nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, một
số chuẩn mực đạo đức có thể bị thay đổi, một số bộ phận cá nhân đặt lợi ích cá nhân trên lợi ích tập thể, vì thế nó có tác động tiêu cực đến đạo đức
1.2.6 Khái niệm giáo dục đạo đức
Trang 21Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài, liên tục và phải được sự ủng
hộ, phối hợp không những giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường mà còn giữa nhà trường với gia đình, các lực lượng ngoài xã hội cũng như sự tự giác rèn luyện của bản thân học sinh
Giáo dục đạo đức có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng mong muốn: Đạo đức học cần phải trở nên một ngành khoa học xã hội mà những người có trách nhiệm cần phải đi sâu nghiên cứu chuyên cần hơn nữa Nó cũng phải trở thành một môn khoa học không thể thiếu được trong các trường đại học và giáo dục phổ thông
Theo tác giả Phạm Minh Hạc về khái niệm giáo dục đạo đức có thể hiểu:
“Giáo dục đạo đức là một quá trình kết hợp nâng cao nhận thức với hình thành thái độ, xúc cảm, tình cảm, niềm tin và hành vi, thói quen đạo đức”.[16, tr 156]
Theo tác giả Hà Nhật Thăng: “Giáo dục đạo đức là hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh” [25, tr 209]
Như vậy ở bất cứ thời đại nào, việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ cũng luôn luôn được coi trọng Ngày nay khi nền kinh tế của nước ta đang phát triển, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt, các hiện tượng tiêu cực, suy thoái
về mặt đạo đức vẫn còn tồn tại Vì vậy, trong các trường học việc tăng cường công tác giáo dục đạo đức cho người học là rất cần thiết, góp phần định hướng
và trang bị cho người học những tri thức, niềm tin, tính trung thực, giúp cho nhân cách ngày càng hoàn thiện
1.2.7 Khái niệm quá trình giáo dục đạo đức
Bản chất của giáo dục đạo đức là quá trình biến những hệ thống các chuẩn mực đạo đức, từ những yêu cầu đòi hỏi bên ngoài của xã hội về hành vi đối với mỗi cá nhân thành những nhu cầu, đòi hỏi từ bên trong của cá nhân
Trang 22trong mối quan hệ, ứng xử hằng ngày đối với cộng đồng xã hội, từ đó biến thành niềm tin, thói quen, nhu cầu của người được giáo dục
Giáo dục đạo đức được thực hiện ở các môi trường khác nhau Trường học được xác định là một môi trường, là lực lượng quan trọng trong việc tổ chức giáo dục đạo đức Trong nhà trường giáo dục đạo đức được tổ chức, được điều khiển một cách khoa học nên nó tồn tại với tư cách là một quá trình
Quá trình giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin hành vi, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập cho những thói quen hành vi đạo đức
1.2.8 Khái niệm quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong nhà trường
- Xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức:
Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong năm học của ngành, trường, địa phương; xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường
- Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức:
Giải thích mục tiêu, yêu cầu, của kế hoạch giáo dục đạo đức; thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch; sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức:
Là chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ để bảo đảm việc giáo dục đạo đức diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho đạt hiệu quả
- Kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức:
Kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp, hoặc gián tiếp để giúp học sinh hiểu rõ hơn về những hoạt động của mình, khẳng định được mình, từ đó hoạt động tích cực hơn, tự giác hơn, biết tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu chung của xã hội
Trang 23Nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Đối với học sinh, nhà trường không chỉ thực hiện nhiệm vụ cung cấp kiến thức mà còn tổ chức giáo dục đạo đức học sinh, coi trọng cả tài và đức
Xã hội có tác động không nhỏ đến sự hành thành và phát triển nhân cách của trẻ, những biểu hiện tiêu cực trong xã hội, trong cộng đồng dân cư mà trẻ tiếp xúc là những tấm gương phản diện với những gì mà cha mẹ và nhà trường giáo dục cho nên gây khó khăn cho quá trình giáo dục đạo đức
Vậy quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong nhà trường THPT là xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức- Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức - Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức - Kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức nhằm: Giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi tổ chức xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý giáo dục đạo đức Giúp mọi người có hiểu biết và ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh với những việc làm sai trái Tích cực tham gia quản lý và tổ chức việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức cho học sinh theo chuẩn mực chung của xã hội
Giáo dục đạo đức học sinh phải được tiến hành bằng nhiều biện pháp, có mục tiêu phù hợp Phải được xây dựng nội dung, kế hoạch cụ thể và được làm thường xuyên liên tục, có hệ thống mới đạt kết quả cao
Quản lý quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh THPT gồm nhiều nội dung và trong đó có
Quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức: là thực hiện tốt quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về chiến lược phát triển toàn diện con người trong thời kỳ thực hiện CNH-HĐH đất nước
Quản lý nội dung giáo dục đạo đức: là quản lý các nội dung hướng tới
các mục tiêu:
- Chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức chính trị, tư tưởng: có ý tưởng XHCN, yêu quê hương, đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin tưởng vào Đảng
và Nhà nước
Trang 24- Chuẩn mực hướng vào sự tự hoàn thiện bản thân như: tự trọng, tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, hướng thiện, biết kiềm chế, biết hối hận
- Chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với công việc đó là: trách nhiệm cao,
có lương tâm, tôn trọng pháp luật, lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết
- Chuẩn mực liên quan đến xây dưng môi trường sống (môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa xã hội) như: xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn bảo vệ tài nguyên, xây dụng xã hội dân chủ bình đẳng… mặt khác có ý thức chống lại những hành vi gây tác hại đến con người, môi trường sống, bảo vệ hòa bình, bảo vệ phát huy truyền thống di sản văn hóa của dân tộc và của nhân loại
Quản lý phương pháp giáo dục đạo đức: là quản lý các hoạt động như
Kích thích tình cảm và hành vi: thi đua, nêu gương, khen thưởng, trách phạt, phê phán hành vi xấu, kỷ luật,…; Tác động vào nhận thức tình cảm: đàm thoại, tranh luận, kể chuyện, giảng giải, khuyên răn ; và phương pháp về Tổ chức hoạt động thực tiễn: giao việc, rèn luyện, tập thói quen…
Quản lý hoạt động giáo viên và học sinh trong quá trình giáo dục đạo đức học sinh: bao gồm các hoạt động như giáo dục chính khóa, ngoài giờ lên
lớp, sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoài xã hội
Quản lý các điều kiện để thực hiện giáo dục đạo đức học sinh: là quản lý
các điều kiện phục vụ quá trình giáo dục như cơ sở vật chất, thiết bị, đội ngũ giáo viên, khả năng xã hội hóa
1.3 Đặc điểm của học sinh THPT và vị trí của giáo dục THPT
Học sinh THPT có độ tuổi thường từ 15 đến 18 tuổi, các em đang trong giai đoạn phát triển mạnh về thể lực, tâm lý, sinh lý, đang ở thời kỳ chuyển tiếp
từ trẻ con sang người lớn Đây là thời kỳ các em gia nhập tích cực vào đời sống
xã hội và hình thành cơ sở nhân cách của người công dân trong tương lai Đặc điểm của sự phát triển nhân cách của họ là sự tự ý thức gắn liền với nhu cầu nhận thức và đánh giá các phẩm chất tâm lý, đạo đức trong nhân cách của mình
Trang 25giá đó không phải là cái đã qua mà là cái hiện tại và tương lai Nét đặc trưng của sự phát triển các phẩm chất đạo đức là sự tăng cường vai trò của các niềm tin đạo đức, ý thức đạo đức trong hành vi Cuộc sống học tập, lao động xã hội trong các tập thể lành mạnh, có yêu cầu cao sẽ có tác dụng tích cực đến các thành viên, ngăn ngừa, hạn chế và cải tạo những yếu tố tiêu cực trong ý thức và hành vi của học sinh Cũng ở lứa tuổi này, học sinh có nhu cầu mạnh về tình bạn, tình yêu Các em cũng đang tự xây dựng cho mình những kế hoạch và viễn cảnh cuộc sống của bản thân trong tương lai
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, thông tin trên thế giới
và nhất là sự phức tạp của nền kinh tế thị trường dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; kéo theo đó là sự biến đổi về tâm lý, đạo đức của thế hệ trẻ Việt Nam mà chủ yếu là học sinh Các em có những nét tâm lý - đạo đức nói chung của thế hệ, mang truyền thống của dân tộc, song có cả những nét mới mang dấu ấn của thời đại
Có thể thấy được ở các em một số đặc điểm nổi bật sau:
- Lứa tuổi giàu ước mơ hoài bão, có khát vọng được cống hiến, mong muốn được xã hội ghi nhận Đa số học sinh có ý thức rèn luyện phẩm chất đạo đức, có ý chí vươn lên trong học tập, chiếm lĩnh tri thức khoa học và có ý thức
sẽ tiếp tục học lên cao hơn nữa để tiến thân, lập nghiệp Đó là ước mơ, nguyện vọng chính đáng, hợp quy luật của tuổi trẻ trong sự phát triển chung của xã hội
- Lứa tuổi dồi dào về thể lực, trí tuệ, cảm xúc, nhạy bén, sáng tạo, thích tòm tòi cái mới Học sinh có ý thức học hỏi, có khát vọng tìm đến cái “chân, thiện, mỹ”, mong muốn tự khẳng định bản thân và có ý thức của người lớn nên tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, đặc biệt là hoạt động văn, thể, mỹ, hoạt động nhân đạo, từ thiện…Lứa tuổi này cũng nhận thức được các quy tắc, các chuẩn mực đạo đức xã hội, có ý thức chính trị rõ nét, có lý tưởng và lẽ sống đúng đắn, có ý thức tự học và tu dưỡng phẩm chất đạo đức Mặt khác, các em
có khả năng giao lưu phong phú, tự tôn, phóng khoáng, hào hiệp, nhiệt tình, hăng hái trước những khó khăn, thử thách của cuộc sống
Trang 26- Lứa tuổi phát triển tình cảm phong phú: Ở học sinh xuất hiện những tình cảm lớn như tình cảm dân tộc, quốc gia, nhân loại; có lòng nhân ái, biết sống có nghĩa tình, có ý thức làm việc thiện; tình bạn phát triển mạnh mẽ, tình yêu nam nữ nảy nở Bên cạnh những đặc điểm về đạo đức mang tính tích cực của học sinh THPT có thể thấy một số hạn chế: Một bộ phận học sinh định hướng chính trị - xã hội còn mờ nhạt, lý tưởng, niềm tin chưa vững chắc, ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm công dân chưa cao, mơ hồ, bàng quan với xung quanh, có xu hướng thực dụng, đua đòi chạy theo cái mới, chạy theo thị hiếu tầm thường, dễ bị sa ngã, bị cuốn vào những tiêu cực về đạo đức của xã hội, nhìn nhận và đánh giá con người, xã hội thường hay siêu hình, cực đoan
Tóm lại, học sinh ở lứa tuổi này dồi dào về thể lực, phong phú về tinh thần, phức tạp về tính cách và hành vi Tuy nhiên, đây cũng là thời kỳ nhận thức và hiểu biết các phẩm chất đạo đức của nhân cách sâu sắc hơn trước Hơn nữa, con người không phải là một thực thể thụ động mà là một chủ thể tích cực
Do đó, việc GDĐĐ cho học sinh ở lứa tuổi này phải căn cứ vào các đặc điểm tâm, sinh lý và đặc điểm đạo đức của họ để xác định phương châm giáo dục phù hợp Bên cạnh đó cũng cần hiểu rằng mỗi cá nhân lại có những đặc điểm riêng về tâm, sinh lý và có vốn sống riêng của mình, cho nên quá trình GDĐĐ cho học sinh, đặc biệt là học sinh ở lứa tuổi có nhiều biến đổi về tâm, sinh lý như học sinh THPT là hết sức phức tạp Vấn đề là phải có định hướng những giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển của xã hội để có hình thức, phương pháp giáo dục đa dạng, biện chứng và thích ứng trong quá trình GDĐĐ cho học sinh
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức
1.4.1 Yếu tố giáo dục nhà trường
Nhà trường với cả một hệ thống giáo dục được tổ chức quản lý chặt chẽ
là yếu tố quan trong nhất trong việc GDĐĐ cho học sinh Với định hướng mục tiêu GDĐĐ theo những chuẩn giá trị tiến bộ, đúng đắn, theo định hướng
Trang 27tham khảo phong phú, các phương tiện hỗ trợ giáo dục ngày càng hiện đại và đặc biệt cùng với một đội ngũ giáo viên, giáo viên chủ nhiệm được đáo tạo cơ bản có đủ phẩm chất và năng lực tổ chức hoạt động lớp sẽ là yếu tố có tính quyết định hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
1.4.2 Yếu tố giáo dục gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội Gia đình với những quan hệ mật thiết, là nơi nuôi dưỡng các em HS từ bé đến lúc trưởng thành Gia đình là cội nguồn hình thành nhân cách HS Trong gia đình ông bà, cha mẹ, anh chị là tấm gương sáng để con trẻ noi theo: “Không có gì tác động lên tâm hồn non trẻ bằng quyền lực của sự làm gương Còn giữa muôn vàn tấm gương không có tấm gương nào gây ấn tượng sâu sắc, bền chặt bằng tấm gương của bố mẹ và thầy giáo”(Ni-vi-cốp) Một gia đình đầm ấm hạnh phúc cũng là yếu tố quyết định nâng cao hiệu quả GDĐĐ học sinh, là điều kiện tốt để hình thành nhân cách hoàn thiện ở các em
1.4.3 Yếu tố giáo dục xã hội
Môi trường giáo dục rộng lớn đó là cộng đồng cư trú của học sinh tử xóm giềng, khối phó đến các tổ chức đoàn thể xã hội, các cơ quan Nhà nước…đều ảnh hưởng rất lớn đến việc GDĐĐ cho học sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng Một môi trường xã hội trong sạch lành mạnh, một cộng đồng xã hội tốt đẹp văn minh là diều kiện thuận lợi nhất GDĐĐ cho học sinh
và hình thành nhân cách học sinh cần phải có sự phối hợp thống nhất giữa nhà trường, gia đình, xã hội đã trở thành nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục XHCN Sự phối hợp này trở nên môi trường thuận lợi, sức mạnh tổng hợp để GDĐĐ cho học sinh
1.4.4.Yếu tố tự giáo dục của bản thân học sinh
Học sinh lứa tuổi THPT đang ở lứa tuổi “bùng nổ” có nhiều thay đổi về tâm, sinh lý, các em muốn được mọi người nhìn nhận mình như người trưởng thành, bắt đầu tự ý thức và có nhu cầu tự giáo dục Vì vậy đây là yếu tố chi phối việc quản lư hạt động GDĐĐ cho học sinh THPT Trong quá trình hình
Trang 28thành nhân cách học sinh phải tự tu dưỡng giáo dục bản thân Sự hình thành phát triển đạo đức của mỗi con người là một quá trình phức tạp lâu dài cũng phải trải qua bao khó khăn, gian truân trong cuộc sống mới dẫn đến thành công Vì vậy học sinh từ chỗ là ðối týợng của giáo dục thành chủ thể giáo dục
tu dưỡng, rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách đạo đức
Để biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục cần phải chú trọng phát triển đặc điểm tự ý thức, tự giáo dục của lứa tuổi học sinh THPT Mặc dù đặc điểm tự ý thức được phát triển mạnh mẽ ở học sinh THPT, tạo cho học sinh khả năng độc lập sáng tạo nhiều hơn nhưng học sinh cũng dễ mắc sai lầm trong nhận thức và hành vi, dễ có những suy nghĩ, hành động bồng bột, nông nổi nhất thời Vì vậy cần cần phải thực hiện các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức chặt chẽ và khoa học hơn Các nhà quản lý và các nhà giáo dục phải xây dựng được chương trình GDĐĐ phù hợp với trình độ nhận thức, tâm lý lứa tuổi, có sự chỉ đạo thống nhất đồng bộ, vận dụng linh hoạt các phương pháp giáo dục, phát huy khả năng tự ý thức, tự giáo dục của học sinh một cách đúng đắn nhằm đạt mục tiêu GDĐĐ ở trong nhà trường
1.4.5 Kế hoạch hóa trong công tác quản lý hoạt động GDĐĐ
Kế hoạch hóa công tác GDĐĐ cho học sinh là nội dung quản lý được thực hiện đầu tiên trong quá trình quản lý GDĐĐ và giữ vị trí quan trọng trong suốt quá trình GDĐĐ
Kế hoạch hóa trong công tác quản lý hoạt động GDĐĐ bao gồm các yếu
tố cơ bản sau: Xác định thực trạng đạo đức, xác định mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể cần đạt tới; xác định nội dung GDĐĐ, xác định phương pháp, biện pháp GDĐĐ; vạch lộ trình bước đi thích hợp; xác định các lực lượng tham gia, phân công, phân nhiệm vụ cụ thể; xác định các điều kiện phục vụ công tác GDĐĐ
Kế hoạch là công cụ quản lý GDĐĐ cho học sinh một cách có hiệu quả, tránh được sự tùy tiện, kinh nghiệm chủ nghĩa; đồng thời, giúp nhà quản lý chủ động và hành động đúng hướng, đúng lộ trình đã vạch ra Mục đích cuối cùng
Trang 29của kế hoạch hóa là đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra, đưa công tác quản lý GDĐĐ cho HS đạt hiệu quả, chất lượng ngày càng cao
1.4.6 Chất lượng đội ngũ giáo viên tham gia GDĐĐ
Đội ngũ giáo viên là một trong những chủ thể ảnh hưởng lớn đến đạo đức học sinh Chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên quyết định chất lượng đạo đức học sinh Đối với công tác giáo dục đạo đức, chất lượng đội ngũ thể hiện ở phẩm chất đạo đức, năng lực công tác và hiệu quả công tác của mỗi cán bộ giáo viên Để hoàn thành nhiệm vụ giáo dục học sinh, mỗi cán bộ giáo viên phải là những tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức, về lối sống, về kiến thức
và năng lực công tác, đồng thời phải tạn tâm, tâm huyết với nghề nghiệp, nắm vững mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, có uy tín với học sinh, được học sinh mến phục Thường xuyên kiểm tra đánh giá chất lượng đội ngũ là một trong những biện pháp hiệu quả quản lý công tác giáo dục nói chung và công tác giáo dục đạo đức nói riêng
1.4.7 Mức độ xã hội hóa giáo dục trong lĩnh vực GDĐĐ
GDĐĐ cho học sinh là quá trình, lâu dài, phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của 3 môi trường: gia đình, nhà trường, xã hội Trong mối quan hệ đó nhà trường phải giữ vai trò chủ đạo
Thông qua Ban đại diện cha mẹ học sinh, nhà trường chủ động tuyên truyền, giúp gia đình nhận thức sâu sắc trách nhiệm của cha mẹ học sinh trong việc phối hợp với nhà trường, với thầy cô giáo để GDĐĐ cho học sinh Đồng thời nhà trường cùng gia đình bàn bạc để thống nhất các biện pháp, hình thức
tổ chức sao cho phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, phù hợp với hoàn cảnh từng gia đình trong việc giáo dục học sinh nói chung, GDĐĐ cho học sinh nói riêng Nhà trường cần cha mẹ học sinh phải thường xuyên liên hệ với thầy cô giáo để kịp thời nắm bắt tình hình học tập, rèn luyện của con em mình Đồng thời cha
mẹ học sinh thông báo với nhà trường tình hình học tập, rèn luyện của học sinh
ở gia đình Sự phối hợp tốt giữa nhà trường và gia đình sẽ giúp điều chỉnh kịp thời quá trình học tập, hành vi đạo đức cho học sinh
Trang 30Nhà trường phải tích cực liên hệ với chính quyền địa phương, các cơ quan, đoàn thể… trên địa bàn để bàn bạc, phối hợp GDĐĐ cho học sinh theo nội dung yêu cầu của nhà trường Đồng thời nhà trường liên hệ với các đoàn thể, tổ chức cho
HS các hoạt động tập thể, hoạt động XH, văn hóa, văn nghệ, lao động…
Qua thực tiễn hoạt động đó, Việc GDĐĐ cho học sinh sẽ sinh động hơn,
ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi đạo đức của HS sẽ bộc lộ một cách
cụ thể Đây là điều kiện tốt giúp nhà trường điều chỉnh phương pháp cách thức
tổ chức, từng bước nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh
1.4.8 Hoạt động của Đoàn -Hội
Đoàn - Hội là 2 tổ chức của thanh thiếu niên mà chức năng quan trọng nhất là giáo dục lý tưởng cho thế hệ trẻ
Do đó Đoàn - Hội giữ vai trò quan trọng trong công tác GDĐĐ cho học sinh Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động của Đoàn - Hội quyết định chất lượng hoạt động của 2 tổ chức này Chất lượng hoạt động của Đoàn - Hội có cao hay không phụ thuộc vào rất nhiều Đội ngũ cán bộ Đoàn - Hội Do đó Hiệu trưởng phải hết sức quan tâm đạo tạo bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ Đoàn - Hội đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của
tổ chức, của nhà trường
1.4.9 Điều kiện cơ sở vật chất, tài chính
Cơ sở vật chất thiết bị dạy học- giáo dục là thiết bị lao động sư phạm của các nhà giáo dục và học sinh Nguồn lực tài chính dùng để mua sắm cở sơ vật chất thiết bị, huy động nguồn nhân lực tham gia các hoạt động giáo dục Nếu thiếu kinh phí, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học- giáo dục thì các hoạt động giáo dục trong nhà trường sẽ gặp nhiều khó khăn hoặc không thể thực hiện được Trang thiết bị hiện đại phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động giáo dục Vì vậy một trong những nội dung của việc quản lý công tác GDĐĐ cho học sinh là phải thường xuyên có kế hoạch bố trí, sắp xếp huy
Trang 31động các nguồn lực tài chính để tăng cường cở sở vật chất, phương tiện phục
vụ đắc lực cho nhiệm vụ dạy học và GDĐĐ cho học sinh./
Trang 32Tiểu kết chương 1
Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực, những quy tắc xã hội nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội Cấu trúc nhân cách gồm hai yếu tố là “tài” và “đức”; trong đó, “đức” là gốc- nền tảng cho sự phát triển nhân cách con người.Do đó, GDĐĐ cho thế hệ trẻ có ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh GDĐĐ cho học sinh là quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi toàn xã hội phải quan tâm Trong đó, nhà trường giữ vai trò chủ đạo
Để GDĐĐ cho học sinh THPT đạt hiệu quả cao, nhà quản lý giáo dục trước hết phải nhận thức sâu sắc rằng trong các mặt giáo dục thì GDĐĐ giữ vị trí hết sức quan trọng Quản lý công tác giáo dục đạo đức phải toàn diện, khoa học Từ góc độ lý luận quản lý giáo dục và góc độ lý luận giáo dục đạo đức học sinh trong nhà trường phổ thông Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý và quản lý giáo dục đạo đức, tác giả sẽ tiến hành khảo sát và phân tích thực trạng quản lý công tác GDĐĐ ở một trường THPT và đề xuất các biện pháp quản lý công tác GDĐĐ học sinh có hiệu quả và khả thi
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN VIÊN
GIA LÂM – HÀ NỘI 2.1 Khái quát tình hình kinh tế xã hội của huyện Gia Lâm – Hà Nội
Gia Lâm là một huyện ngoại thành của Hà Nội có diện tích:114,79 km2, dân số: 243.957 người (năm 2011), là cửa ngõ, đầu mối giao thông phía Bắc của thủ đô Gia Lâm được nối liền với thành phố cảng Hải Phòng qua con đường quốc lộ số 5, với các tỉnh thành qua con đường số 1
Từ tháng 1-2004 sau điều chỉnh địa giới hành chính, Gia Lâm gồm 20 xã
và 2 thị trấn: Yên Viên và Trâu Quỳ
Với lợi thế của huyện ven đô, bên cạnh sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề truyền thống được mở rộng và phát triển như làng nghề gốm sứ Bát Tràng; nghề thuộc da Kiêu Kỵ
Mặt khác cùng với sự phát triển đô thị hoá, các cụm công nghiệp Ninh Hiệp, thực phẩm Hapro, khu công nghiệp vừa và nhỏ Phú Thị được hình thành, các doanh nghiệp công nghiệp phát triển nhanh, mạnh về quy mô, số lượng và chất lượng hiệu quả
Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch đúng hướng, các ngành kinh tế có bước phát triển ổn định và tăng trưởng khá
Năm 2011, tỉ trọng các ngành kinh tế tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
cơ bản chiếm 54,25%; nông nghiệp chiếm 19,15%; thương mại dịch vụ chiếm 26,60%
Gia Lâm là quê hương giàu truyền thống lịch sử, xã Phù Đổng quê hương Thánh Gióng nhổ tre ngà đánh thắng giặc Ân, đền thờ Nguyên Phi Ỷ Lan ở xã Phú Thị, đền thờ công chúa Ngọc Hân ở xã Ninh Hiệp, xã Trung Màu
là cơ sở cách mạng kiên trung thời kỳ tiền khởi nghĩa chuẩn bị cho cách mạng tháng 8-1945
Trang 34Đảng bộ huyện Gia Lâm là Đảng bộ anh hùng, có nhiều chủ trương, đường lối phát triển kinh tế xã hội, các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, xây dựng gia đình văn hoá…
Nhân dân Gia Lâm có truyền thống hiếu học, nhiều xã, nhiều dòng họ, nhiều gia đình xây dựng quỹ khuyến học, có nhiều hình thức động viên, khen thưởng học sinh giỏi, đỗ đại học, đỗ đạt cao trong các kỳ thi
Nhìn chung kinh tế – xã hội của huyện Gia lâm đang từng bước phát triển, có nhiều đổi mới, tiến bộ Đảng bộ và nhân dân Gia Lâm vinh dự được Đảng nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quí Huyện Gia Lâm được tặng cờ thi đua dẫn đầu khối huyện của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà nội Sự nghiệp văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục thể thao, dân số, gia đình và trẻ em được quan tâm và có nhiều tiến bộ Tỷ lệ hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa 88,7%; tỷ lệ thôn, làng đạt tiêu chuẩn thôn, làng văn hóa 12,5%; tỷ lệ
tổ dân phố, cụm dân cư đạt tiêu chuẩn tổ dân phố, cụm dân cư văn hóa 52,8%;
tỷ lệ cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn cơ quan, đơn vị văn hóa 77%; ngành Giáo dục và đào tạo Gia Lâm tiếp tục được thành phố đánh giá là đơn vị dẫn đầu khối Huyện, đạt 13/13 chỉ tiêu xếp loại xuất sắc và tốt, trong đó có 4 chỉ tiêu xuất sắc; đến nay, trên địa bàn Huyện có 34/70 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 48,5%
Tuy nhiên những năm gần đây do tác động ảnh hưởng mặt trái của cơ chế thị trường một số hành vi vi phạm pháp luật các tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng Đặc biệt những nơi có tốc độ đô thị hóa nhanh, tệ nạn cờ bạc, nghiện hút, mại dâm… cũng tăng lên Có thể nói Gia Lâm cũng là nơi giao lưu, tập trung tập của các loại tệ nạn xã hội ở cửa ngõ phía Đông Bắc Thành Phố
Hà Nội Điều đó ảnh hưởng tác động xấu tới giáo dục nói chung và giáo dục học sinh trong nhà trường nói riêng, nhất là công tác giáo dục đạo đức
Trang 35Được sự quan tâm đầu tư của Huyện uỷ Hội đồng nhân dân Uỷ ban nhân dân huyện, giáo dục Gia Lâm từng bước phát triển Mạng lưới trường học từ giáo dục mầm non đến THPT ngày càng phát triển về số lượng và qui mô Mỗi
xã đều có hệ thống giáo dục mầm non, toàn huyện có 20 trường tiểu học, 20 trường THCS, có 4 trường THPT công lập, có 4 trường THPT dân lập Toàn huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở từ năm 2000 Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT từ 95% trở lên Tỉ lệ học giỏi trên 10% Đến tháng 7-
2012, trên địa bàn Huyện có 34/70 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 48,5% trong đó có 01 trường THPT đạt chuẩn quốc gia
Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, từng bước phát huy hiệu quả, tập trung khai thác mọi nguồn lực đầu tư cho giáo dục Các cấp chính quyền địa phương nhận thức sâu sắc về giáo dục, chăm lo đúng mức đến giáo dục Từ đó chỉ đạo việc phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng để tiến hành công tác giáo dục nói chung và công tác giáo dục đạo đức nói riêng
Công tác xây dựng Đảng và các tổ chức đoàn thể trong mỗi đơn vị, cơ sở trường học, công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Gia Lâm phát triển mạnh, là đơn vị dẫn đầu của khối ngoại thành Hà Nội
Bảng 2.1: Thống kê học lực của các trường THPT công lập thuộc
huyện Gia Lâm – Hà Nội trong 4 năm gần đây
Trang 36Nhìn chung sự nghiệp giáo dục của Gia Lâm đã và đang được các cấp
uỷ Đảng và chính quyền, nhân dân địa phương quan tâm vi vậy nên số học sinh học lực giỏi những năm gần đây có sự gia tăng đáng kể, tạo ra một môi trường đồng thuận cho giáo dục nói chung và công tác giáo dục đạo đức nói riêng
Trang 37Bảng 2.2: Thống kê hạnh kiểm của các trường THPT công lập thuộc
huyện Gia Lâm – Hà Nội trong 4 năm gần đây
Trường Loại Năm 2008-2009 Năm 2009-2010
Trang 382011 Như vậy nhìn chung tỷ tệ học sinh được đánh giá hạnh kiểm tôt, khá có chiều hướng giảm
Tỷ lệ % hạnh kiểm tốt và và khá của học sinh công lập huyện Gia Lâm
Năm 2008-2009 Năm 2009-2010 Năm 2010-2011 Năm 2011-2012
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ % về học sinh đạt hạnh kiểm tốt và khá của huyện Gia
Lâm trong 4 năm gần đây
Biểu đồ 2.1 cho thấy hạnh kiểm tốt và khá của học sinh trong huyện Gia Lâm theo chiều hướng giảm Và đáng quan tâm là tỷ lệ học sinh hạnh kiểm yếu của học sinh trong các trường công lập trong huyện Gia Lâm ngày càng tăng
Tỷ lệ % hạnh kiểm yếu của học sinh THPT công lập huyện Gia Lâm
Năm 2008-2009 Năm 2009-2010 Năm 2010-2011 Năm 2011-2012
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ % về học sinh hạnh kiểm yếu của huyện Gia Lâm trong
4 năm gần đây 2.3 Thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường
Trang 392.3.1 Vai trò và nhiệm vụ của trường THPT Yên Viên - Gia Lâm -Hà Nội
Trường THPT Yên Viên được thành lập từ năm 1965, với truyền thống lịch sử 47 năm trưởng thành và phát triển
Trường nằm trên địa bàn thị trấn Yên Viên cạnh quốc lộ số 1A cửa ngõ phía Bắc của thủ đô, trên tuyến phố mang tên Hà Huy Tập, nguyên tổng bí thư của Đảng (giai đoạn 1936 – 1938), gần ga Yên Viên đầu mối giao thông phía Bắc Trường THPT Yên Viên hiện tại có 20 phòng học và 7 phòng chức năng,
01 sân vận động, tổng diện tích mặt bằng hơn 17.800m2
Học sinh của trường thuộc 7 xã nông nghiệp phía Bắc của sông Đuống (trước gọi là sông Thiên Đức) và của thị trấn Yên Viên chỉ có một trường THPT công lập duy nhất là trường THPT Yên Viên
Học sinh các xã có truyền thống lịch sử nhý Trung Màu, Phù Ðổng, các
xã anh hùng như Yên Thường, Yên Viên, nơi làng nghề sầm uất Ninh Hiệp, Đình Xuyên… nhiều cơ quan, xí nghiệp, đơn vị bộ đội, các doanh nghiệp đóng
ở gần trường, đơn vị bộ đội xây lắp của binh đoàn 386; xí nghiệp xây dựng 122; công ty xây dựng đường bộ , công tŕnh 120, công ty dầu khí, vật liệu bưu điện… đa số cán bộ công nhân đi làm ở các công trình xa, có đợt đi công tác 1 tháng hoặc 3 – 4 tháng, ít có điều kiện quản lý con ở nhà, công việc học tập, rèn luyện, sinh hoạt các em phải tự giác, tự lực và trông cậy vào nhà trường Đây là khu vực tuyển sinh tập trung dân cư đông đa số là con em của các gia đình lao động (75%), của các hộ buôn bán chiếm 25% Cấp uỷ Đảng, chính quyền các xã, thị trấn đều quan tâm ủng hộ tới giáo dục, xác định được đầu tư cho giáo dục để tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, tạo nguồn lực lao động có chất lượng, là cơ sở để xây dựng xã hội học tập, xây dựng gia đình văn hoá, làng xóm, khu dân cư văn hoá, xây dựng cộng đồng văn hóa
Tuy nhiên cũng có một vài xã gần đây được coi là điểm nóng của huyện như xã Ninh Hiệp, nơi tập trung làng nghề, buôn bán phát triển, thuận lợi phát triển kinh tế song có khó khăn trong việc quản lý học sinh như khu vực gần ga
Trang 40Yên Viên, một số hiện tượng học sinh yếu kém về đạo đức đã xuất hiện ở khu vực này, như chơi cờ bạc, bỏ học, trốn tiết, đi chơi điện tử, bi-a…
Như vậy vai trò giáo dục của trường THPT Yên Viên là rất quan trọng đối với 7 xã thuộc khu vực bắc Đuống và thị trấn Yên Viên - Gia Lâm - Hà Nội
2.3.2 Thực trạng chất lượng giáo dục đạo đức ở trường THPT Yên Viên – Gia Lâm – Hà Nội
Kết quả xếp loại văn hóa của nhà trường từ năm 2008 đến năm 2012 (được thể hiện ở bảng sau)
Bảng 2.3: Kết quả xếp loại văn hóa của trường THPT Yên Viên
730 (41,06%)
79 (4,44%)
6 (0,34%)
2008 – 2009 1730 158
(9,13%)
860 (49,71%)
667 (38,55%)
41 (2,37%)
4 (0,23%)
2009 – 2010 1722 182
(10,46%)
797 (45,80
%)
684 (39,31%)
74 (4,25%)
3 (0,17%)
2010 – 2011 1719 203
(11,81%)
877 (51,02%)
584 (33,97%)
53 (3,08%)
2 (0,12%)
2011 – 2012 1725 227
(13,16%)
874 (50,67%)
568 (32,93%)
51 (2,96%)
5 (0,29%) Kết quả trí dục không ngừng tăng lên, từ năm 2007 số học sinh giỏi toàn diện mới chỉ có 114 em tỷ lệ là 6,41%, đến năm 2012 là 227 em tỷ lệ là 13,16% Tỉ lệ học sinh yếu kém giảm nhiều : Từ 7,78% (năm 2007), đến năm
2012 còn 3,25% Học sinh đỗ tốt nghiệp lớp 12 chiếm tỉ lệ từ 97% đến 99,82%,
tỉ lệ đỗ đại học hằng năm từ 20% đến 33% Kết quả trên khẳng định ý thức động cơ học tập của học sinh có nhiều tiến bộ