1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học trong giai đoạn hiện nay

110 735 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác quản lí giáo viên là công việc không thể thiếu được trong hoạt động của người quản lí .Quản lí giáo viên không chỉ đơn thuần là “coi sóc” giáo viên làm việc phải đúng thời gian

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

NGUYỄN HỒNG SƠN

CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

Ở HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI

GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Hà Nội-2006

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

NGUYỄN HỒNG SƠN

CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

Ở HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI

GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lí giáo dục

Mã số: 60 14 05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ MỸ LỘC

Hà Nội-2006

Trang 3

Chương1: cơ sở lí luận về quản lí đội ngũ giáo viên tiểu học

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến công tác quản lí đội ngũ giáo

1.2 Một số vấn đề lí luận của công tác quản lí đội ngũ giáo viên 21

Trang 4

1.1.4.Nội dung quản lí giáo viên 28

Chương 2: Thực trạng công tác quản lí đội ngũ giáo viên tiểu học ở

huyện Lục Nam, Tỉnh Bắc Giang hiện nay

2.1 Vài nét sơ lược tình hình kinh tế chính trị, văn hoá giáo dục của

2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu học ở huyện Lục Nam 45 2.2.1 Số lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Lục Nam 45 2.2.2 Chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Lục Nam 47 2.3 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý cấp tiểu học huyện Lục Nam 51 2.3.1 Số lượng cán bộ quản lí giáo dục cấp tiểu học 51 2.3.2 Chất lượng cán bộ quản lí giáo dục cấp tiểu học 53 2.4 Thực trạng công tác quản lí đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Lục

Chương 3: các biện pháp quản lý giáo viên tiểu học huyện Lục Nam,

tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học

Trang 5

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước đang trên đường phát triển, nền Giáo dục nước ta đang có sự chuyển biến mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, cả về qui mô và loại hình đào tạo Đảng và Nhà nước ta đã xác định: "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân Trong vai trò đó nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng quyết định đến

sự phát triển nguồn nhân lực phục vụ đất nước”

Xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng, đòi hỏi Giáo dục cũng phải biến đổi theo để đáp ứng yêu cầu của xã hội Nó đặt ra cho Giáo dục những cơ hội và thách thức không nhỏ về chất lượng giáo dục toàn diện, về

cơ cấu ngành nghề, về chất lượng nguồn nhân lực Vì thế việc quản lí ngày càng có nhiều phức tạp và nhạy cảm mà trọng tâm là quản lí nhà trường

Về mục tiêu chung , Điều 2, Luật Giáo dục 2005 có nêu:

“Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Về mục tiêu cụ thể ở cấp tiểu học,Điều 27 khoản 3 Luật giáo dục 2005 nói rõ: "Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm

mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”

Trong Luật Giáo dục 2005 cũng nêu: "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng” Để đáp ứng những yêu cầu đó đòi hỏi phải

có người giáo viên đạt tiêu chuẩn nhà giáo Đối với giáo viên tiểu học đó là

Trang 8

chuẩn giáo viên tiểu học, bao gồm: phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị; kiến thức và kĩ năng sư phạm Một trong những yêu cầu đó là biết vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực; chủ động học tập của học sinh, thực hiện cá thể hoá trong dạy học, mở rộng thông tin kiến thức cho học sinh, dạy cho học sinh cách tự học và phải đảm bảo được mục tiêu của bài học với chất lượng cao nhất có thể đạt được Về phương pháp giáo dục, Điều 28 khoản 2 Luật giáo dục 2005 cũng đã nêu: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú trong học tâp cho học sinh”

Sự nghiệp GD-ĐT nước ta nói chung và Giáo dục Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nói riêng đang đứng trước những thách thức lớn của xã hội về chất lượng giáo dục, giáo dục phải đảm bảo đáp ứng yêu cầu của xã hội Việc cải tiến nâng cao chất lượng dạy học cho đội ngũ giáo viên là việc làm thường xuyên và rất cần thiết với mỗi giáo viên, mỗi cán bộ quản lí của mỗi nhà trường Song việc làm thế nào để quản lí được chất lượng giảng dạy nói chung và chất lượng dạy học ở tiểu học nói riêng là điều mà các nhà quản lí rất quan tâm Cần phải lựa chọn các phương pháp quản lí sao cho phù hợp và tối ưu nhất với mỗi địa phương là điều quan trọng hơn cả để quản lí nhà trường có hiệu quả và phát triển bền vững

Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã thực hiện được bốn năm nay và thu được một số kết quả và thành tựu nhất định trong đó có chất lượng giáo dục tiểu học Tuy nhiên, quá trình thực hiện đổi mới chương trình GDPT còn nhiều khó khăn vướng mắc dẫn đến chất lượng dạy học chưa cao Hiệu quả và chất lượng giáo dục phụ thuộc vào chính mỗi giáo viên, mỗi nhà quản lí giáo dục trong công tác giảng dạy và quản lí của họ, phụ thuộc vào

Trang 9

năng lực, sự nỗ lực và lòng nhiệt tình của chính họ Vấn đề đặt ra là phải quản lí như thế nào để nâng cao chất lượng giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của mỗi nhà trường ở cấp tiểu học Với cương vị là phó hiệu trưởng một trường tiểu học ở huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, điều làm tôi băn khoăn suy nghĩ đó là làm thế nào để quản lí đội ngũ giáo viên tiểu học dạy học có chất lượng, có hiệu quả , đáp ứng được yêu cầu hiện nay của xã hội Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: "Các biện pháp quản lí đội ngũ giáo viên tiểu học ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học trong giai đoạn hiện nay”, nhằm góp thêm công sức nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục ở địa phương trong giai đoạn đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay trong công cuộc đổi mới đất nước

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu:

Các biện pháp quản lí đội ngũ giáo viên tiểu học ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đưa ra được những biện pháp quản lí đội ngũ giáo viên tiểu học phù hợp và khả thi thì sẽ nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học của địa phương ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

-Hệ thống hoá những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

-Điều tra , khảo sát thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu học và thực trạng công tác quản lí đội ngũ đó

-Đề xuất những biện pháp quản lí đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Lục Nam

6 Giới hạn của đề tài

Đề tài tiến hành điều tra ,khảo sát đội ngũ giáo viên tiểu học từ năm học 2001-2002 đến nay

Tiến hành điều tra khảo sát đội ngũ giáo viên tiểu học ở các trường tiểu học:Thanh Lâm; Phương Sơn; Thị trấn Đồi Ngô; Bảo Đài ; Bảo Sơn; Yên Sơn; Lan Mẫu ; Chu Điện; Tam Dị; Đông Hưng; Nghĩa Phương; Lục Sơn; Cẩm Lí; Vũ Xá; Tiên Nha

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được kết hợp thực hiện bằng các nhóm phương pháp nghiên cứu:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:

Tham khảo các Văn kiện, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, của Bộ GD-ĐT; Luật Giáo dục 2005; nghiên cứu các sách, tài liệu khoa học

có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Thu thập thông tin, đàm thoại phỏng vấn, dự giờ-khảo sát thực tế, thu thập số liệu, so sánh đối chiếu, phân tích tổng hợp, xử lí thông tin, tổng kết kinh nghiệm

- Các thuật toán; xác suất thống kê; xử lí số liệu

8 Cấu trúc nội dung luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương:

Trang 11

Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí đội ngũ giáo viên tiểu học

Chương 2: Thực trạng công tác quản lí đội ngũ giáo viên tiểu học ở huyện

Lục Nam, Tỉnh Bắc Giang hiện nay

Chương 3: Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên

tiểu học huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

Trang 12

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC.

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến công tác quản lí đội ngũ giáo viên

1.1.1 Khái niệm về quản lí

Không phải đến ngày nay người ta mới nói nhiều về quản lí Quản lí đã

có từ rất xa xưa, sự tiến hoá của các tư tưởng quản lí từ thời tiền sử đến những năm gần đây người ta mới chú đến tính khoa học của quá trình quản lí

và dần hình thành nên các “lí thuyết” về khoa học quản lí

Những tư tưởng quản lí cận đại đã sớm nhận ra tầm quan trọng hàng đầu của nguồn nhân lực và nó vẫn còn có giá trị thực tiễn cho quản lí hiện nay

Các quan điểm truyền thống hay các học thuyết quản lí cổ điển ra đời trong nền văn minh công nghiệp hiện vẫn đang tồn tại có giá trị thực tiễn rất lớn trong giai đoạn đang chuyển đổi hiện nay

Đó là thuyết quản lí khoa học của Frederick Winslow Taylor xây dựng một khoa học về quản lí dựa trên bốn nguyên tắc quản lí Việc hợp lí hoá lao động đã mang lại hiệu quả cao, việc bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp

vụ giúp thuộc cấp hoàn thành nhiệm vụ của họ, việc tuyển chọn và huấn luyện đội ngũ là yếu tố quyết định thành công trong quản lí

Đó là Henri Fayol với học thuyết quản lí tổng quát, ông đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển lí luận quản lí Những nguyên tắc quản lí mang tính phổ quát cao rất quí báu cho người quản lí ngày nay

Trang 13

Thuyết quản lí bàn giấy ( quan liêu) được nhà lịch sử xã hội người Đức Max Weber sáng lập Thuyết này đưa ra phác đồ chi tiết và hợp lí về một tổ chức vẹn toàn, nó có thể nâng cao hiệu quả của một tổ chức này nhưng cũng

có thể hạ thấp hiệu quả của một tổ chức khác

Quan điểm hành vi (thuyết quan hệ con người) : Thuyết này ra đời giúp cho người quản lí ứng xử có hiệu quả hơn với những khía cạnh con người trong tổ chức Nó hướng người quản lí thực hiện cái họ phải làm để lãnh đạo, hướng dẫn người dưới quyền và giao tiếp với những người dưới quyền như thế nào

Ngoài ra còn có các quan điểm hệ thống, quan điểm tình huống và một

số thuyết đương đại khác nữa đều quan tâm đến quản lí và hoạt động quản lí như thế nào ở từng giai đoạn khác nhau, từng thời điểm khác nhau

Người quản lí là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích

Quản lí là một hoạt động không thể thiếu được trong đời sống xã hội con người Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lí càng lớn Đã có rất nhiều những quan niệm khác nhau về quản lí, Quản lí là gì ? sau đây là một số khái niệm cơ bản về quản lí

Theo từ điển Tiếng Việt: Quản lí là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.Quản lí là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.[40 tr 800]

Theo Các Mác : “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên qui mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”

Trang 14

F.W.Taylor cho rằng: “Quản lí là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó cho thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”

H.Koontz thì: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lí là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc , vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.”

Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo “Quản lí” gồm hai quá trình tích hợp lại với nhau , gắn kết với nhau: “Quản” là sự coi sóc giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái “ổn định” , “Lí” là sự sửa sang sắp xếp đổi mới hệ vào thế “phát triển”.Quản lí là ổn định và phát triển hệ thống

Quản lí là một quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lí lên khách thể (đối tượng) quản lí nhằm đạt mục tiêu của tổ chức

Theo giáo trình của Học viện chính trị Quốc gia (1998) ”Quản lí là sự kết hợp giữa tri thức và lao động” [25,tr.7]

Như vậy, quản lí bao hàm cả tri thức và lao động Giá trị của quản lí bằng tri thức và lao động cộng lại Nếu quản lí đạt hiệu quả tốt thì xã hội phát triển tốt,ngược lại nếu giá trị quản lí đạt hiệu quả thấp thì xã hội không những không phát triển mà còn tụt hậu

Quản lí còn là một qui trình công nghệ và có nghĩa là “điều khiển” mà đối tượng điều khiển của nó là các mối quan hệ giữa con người và con người, con người với thiên nhiên, con người với khoa học kĩ thuật Quản lí là: “sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với qui luật , đạt tới mục đích đã đề ra

và đúng với ý chí của người quản lí” [25,tr.18]

Trang 15

Theo PGS.TS.Trần Khánh Đức: “Quản lí là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [22, tr.2]

Theo Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lí (management) là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong tổ chức ,nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”

Cho đến nay, hoạt động quản lí được định nghĩa rõ ràng hơn :”Quản lí

là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [13, tr.1]

Từ định nghĩa trên cho ta thấy bất kì tổ chức nào cũng đều có mục đích

và đều có sự quản lí của con người để tổ chức đó hoạt động có hiệu quả và đạt được mục đích của tổ chức

Như vậy, tất cả các khái niệm trên đây tuy khác nhau song chúng vẫn

có những dấu hiệu chung chủ yếu như sau:

- Hoạt động quản lí được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm

xã hội

- Hoạt động quản lí là tác động có tính hướng đích

- Hoạt động quản lí là những tác động phối hợp nỗ lực của mỗi cá nhân để nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức

Từ nhiều góc độ khác nhau, khái niệm quản lí bao gồm các vấn đề cốt lõi sau:

- Ai quản lí?( chủ thể quản lí)

- Quản lí ai? Quản lí cái gì? (khách thể quản lí)

- Quản lí như thế nào? (phương thức quản lí)

- Quản lí bằng cái gì? (công cụ quản lí)

- Quản lí để làm gì? (mục tiêu quản lí)

Trang 16

Theo những quan điểm phổ biến hiện nay, quản lí là một hệ thống gồm 4 chức năng như sau:

- Kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và các con đường , biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Đây là chức năng đầu tiên của hoạt động quản lí

- Tổ chức: Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức

- Lãnh đạo (chỉ đạo): Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Đây là chức năng kết nối 2 chức năng trên

-Kiểm tra : Kiểm tra là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa , uốn nắn nếu cần thiết của

cá nhân, nhóm hoặc một tổ chức Đây là chức năng cơ bản

Trong một chu trình quản lí cả 4 chức năng trên được thực hiện nối tiếp nhau , đan xen vào nhau, phối hợp, bổ sung tạo sự kết nối theo hướng phát triển và thông tin là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình ra quyết định quản lí Người ta coi thông tin có vị trí như một chức năng trung tâm liên quan đến các chức năng quản lí

Có thể mô hình hoá như sau:

Kế hoạch

Quản lí

Tổ chức

Trang 17

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ các chức năng quản lí

Khi thực hiện các chức năng trên, người quản lí phải thực hiện một loạt các vai trò quản lí, có thể phân làm ba nhóm: vai trò liên nhân cách, vai trò thông tin, vai trò quyết định

Tuỳ theo từng cấp quản lí mà người quản lí có những bổn phận khác nhau

Dù người quản lí ở cấp nào đi nữa thì cũng cần phải có các kĩ năng quản lí Đó là các kĩ năng kĩ thuật; Các kĩ năng liên nhân cách; các kĩ năng khái quát hoá; Các kĩ năng giao tiếp Tuy nhiên ở mỗi cấp quản lí lại có các mức độ khác nhau Người quản lí cấp thấp cần nhiều đến các kĩ năng chuyên môn-kĩ thuật; chức năng khái quát hoá chưa cần ở mức độ cao Người quản lí cấp cao lại cần nhiều đến mức độ nhận thức - khái quát, các kĩ năng liên nhân cách - giao tiếp ở mức độ trung bình, còn các kĩ năng chuyên môn - kĩ thuật chỉ cần ở mức độ thấp Người cán bộ quản lí cấp trung gian thì mức độ các kĩ

năng được chia đều cho nhau

1.1.2 Quản lí giáo dục

Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người nó được thực hiện một cách tự giác, nó tồn tại, vận động, phát triển với tư cách là một hệ thống Cũng như quản lí nói chung, quản lí giáo dục cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau, quản lí giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Quản lí giáo dục là những tác động tự giác của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả các mục tiêu giáo dục đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội yêu cầu

Trang 18

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [35, trang 56]

Quản lí giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức , có hướng đích của chủ thể quản lí lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trội của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống, đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài

Định nghĩa khác nói QLGD là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Như vậy, QLGD bao gồm chủ thể quản lí, đối tượng quản lí, mục tiêu quản lí và giữa các thành tố này có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau, tác động lẫn nhau nhằm cùng thực hiện mục tiêu chung của tổ chức

QLGD có những đặc trưng riêng khác với mọi quản lí khác:

- QLGD là một hoạt động mang tính xã hội Bởi mục tiêu phát triển giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội

- QLGD là một hoạt động mang tính nhân văn Nó thu hút mọi thành viên trong xã hội tham gia và có tác động rất lớn đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội

Trang 19

- QLGD là một hoạt động mang tính sáng tạo Đối tượng của hoạt động QLGD là con người với sức sáng tạo là vô tận Con người là nguồn tài nguyên vô tận mà nhân loại không bao giờ khai thác hết

- QLGD là một hoạt động mang tính học thuật và nghệ thuật Vì QLGD là quản lí con người với nhiều mối quan hệ phức tạp, đòi hỏi quản lí vừa mang tính khoa học nhưng cũng vừa phải mang tính nghệ thuật cao

QLGD chịu sự chi phối và tác động của các qui luật xã hội Bởi vì hệ thống giáo dục là một phân hệ trong toàn bộ hệ thống xã hội Chính vì thế mà QLGD cũng có các chức năng như kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Đặc điểm khác biệt của QLGD là quản lí con người với những đặc điểm tâm sinh

lí, năng lực, phẩm chất, nhân cách đa dạng phức tạp Kết quả giáo dục không hoàn toàn phụ thuộc vào nhà giáo mà phụ thuộc cả vào người học, vào nhận thức và thái độ học tập của họ Bởi người học vừa là đối tượng vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục Sản phẩm của giáo dục là nhân cách con người, vì vậy không được phép tạo ra phế phẩm Đặc điểm tiếp theo QLGD phải mang tính kế thừa, tính thống nhất, tính toàn diện, tính liên tục, tính phát triển và tính linh hoạt Ngoài ra QLGD phải phối kết hợp đồng bộ, chặt chẽ ba môi trường giáo dục: Gia đình - Nhà trường - cộng đồng xã hội Trong đó nhà

trường giữ vai trò trung tâm và có tính quyết định tới chất lượng giáo dục

1.1.3 Quản lí nhà trường

Nhà trường là trường học, là nơi tiến hành giảng dạy, đào tạo toàn diện hay về một lĩnh vực chuyên môn nào đó cho học sinh, học viên [40, tr 1057] Mười nhân tố đặc trưng cho nhà trường:

- Phương pháp đào tạo - Môi trường đào tạo

- Lực lượng đào tạo (thầy) - Bộ máy đào tạo

- Đối tượng đào tạo (trò) - Qui chế đào tạo

Trang 20

Điều 48 luật giáo dục 2005 có nêu :

“1 Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau đây:

a, Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;

b, Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động;

c, Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp,

tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước.”

Khi nói về vị trí của trường tiểu học, điều 2 điều lệ trường tiểu học có nêu: “Trường tiểu học là cơ sở giáo dục của bậc tiểu học, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Trường tiểu học có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng” [8, tr.1]

Trường tiểu học do Phòng Giáo dục và Đào tạo quản lí, chỉ đạo trực tiếp Các cơ sở giáo dục tiểu học khác được một trường tiểu học công lập bảo trợ và quản lí theo quyết định của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện

Trường tiểu học do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập

Quản lí các hoạt động của một nhà trường là Ban giám hiệu, bao gồm hiệu trưởng và một đến hai phó hiệu trưởng do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm theo đề nghị của Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo

1.1.4 Các biện pháp quản lý

Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể [40, trang 64]

Các biện pháp quản lí là các cách quản lí, các cách giải quyết một vấn

đề cụ thể của công tác quản lí

1.1.5 Quản lý giáo viên

Trang 21

Công tác quản lí giáo viên là công việc không thể thiếu được trong hoạt động của người quản lí Quản lí giáo viên không chỉ đơn thuần là “coi sóc” giáo viên làm việc phải đúng thời gian qui định, phải có hồ sơ lên lớp, phải thực hiện tốt các qui định của cấp trên, … mà “quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [13, tr.1]

Hoạt động quản lí (management) là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong tổ chức ,nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của

Như vậy, quản lí giáo viên là hoạt động của người quản lí tác động đến giáo viên trong một cơ sở giáo dục nhằm đạt đến mục tiêu của cơ sở giáo dục

đó

1.1.6 Quản lý đội ngũ giáo viên

Đội ngũ theo từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng [40, tr.339]

Theo Đại từ điển Tiếng Việt -Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam thì “đội ngũ là tập hợp người được tổ chức thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, nhiệm vụ, có thể cùng một nghề nghiệp hoặc không cùng một nghề nghiêp nhưng có chung một mục đích nhất định” [38]

Đội ngũ giáo viên , theo Vũ Văn Tảo “là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế

Trang 22

nào và có khả năng cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ cho giáo dục” [37]

Như vậy, quản lí đội ngũ giáo viên là hoạt động của người quản lí giáo dục tác động lên đội ngũ giáo viên trong nhà trường hoặc cơ sở giáo dục nhằm đạt được mục tiêu của cơ sở giáo dục hoặc nhà trường đó

1.1.7 Quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học

Như đã trình bày ở trên, đội ngũ giáo viên tiểu học là những “chuyên gia” trong lĩnh vực giáo dục, ở cấp tiểu học họ nắm vững tri thức,hiểu biết dạy học và giáo dục ở cấp học này và có khả năng cống hiến toàn bộ tài năng của họ cho giáo dục tiểu học

Quản lí đội ngũ giáo viên tiểu học là tác động của người QLGD lên đội ngũ GVTH trong nhà trường tiểu học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục tiểu học

Vai trò của đội ngũ GVTH:

Từ sau cách mạng tháng Tám đến nay, nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã được hình thành ; phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành quả

vô cùng to lớn trong sự nghiệp giáo dục của nước nhà: đã có nhiều chuyển biến căn bản cả về số lượng và chất lượng ( về số lượng người đi học, về nội dung học tâp, về trình độ học vấn), đưa nhân dân ta từ 95% dân số mù chữ trong thời Pháp thuộc lên 91% dân số nước ta được biết chữ, với hệ thống giáo dục quốc dân hoàn chỉnh, từ giáo dục mầm non, đến giáo dục phổ thông

và giáo dục đại học

Những thành quả ấy, phải kể đến công lao to lớn của Đảng và Bác Hồ, của Nhà nước đã vạch đường chỉ lối cho nhân dân ta từng bước đi lên, của các cấp bộ ngành và không thể thiếu được đó là đội ngũ GVTH đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp giáo dục của nước nhà

Vai trò của đội ngũ GVTH trong nền giáo dục là vô cùng to lớn trong sự nghiệp giáo dục của nước nhà:

Trang 23

Điều đầu tiên phải nói tới đó là đội ngũ các thầy giáo, cô giáo ở trường tiểu học phải đảm đương nhiệm vụ “phải xây dựng toàn bộ nền móng cho hệ thống giáo dục phổ thông để đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”

Do vậy, người GVTH không chỉ chịu trách nhiệm là người trực tiếp đặt nền móng cho GDPT mà còn đặt nền móng cho toàn bộ quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người Đó là vai trò của người “mở đầu”, đặt những viên gạch hồng đầu tiên xây nên những kì tích của giáo dục

Cấp tiểu học là cấp học phổ cập và phát triển, nhiệm vụ của GVTH phải chú ý đến “tính đồng loạt và tính cá thể” Nghĩa là phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng, nhưng cũng có định hướng giúp các em tiếp tục phát triển cả về phẩm chất, trí tuệ, tình cảm tốt đẹp Đó là vai trò “ươm mầm, nuôi dưỡng và vun trồng”

Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, nội dung dạy học tiểu học phải vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa có tính hiện đại, vừa phải chú ý đến những tinh hoa văn hoá nhân loại Như vậy, người GVTH vừa là người giúp các em giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa là người giúp các em hoà nhập với thế giới bên ngoài

Giáo dục tiểu học là dạy học sinh cách học, do đó người giáo viên không chỉ có truyền đạt kiến thức mà phải biết tổ chức, điều khiển mọi hoạt động học tập của học sinh giúp các em tự chiếm lĩnh tri thức, tự điều khiển hoạt động học tập của chính mình Như vậy người GVTH còn giữ vai trò của

“nhà thiết kế, nhà tổ chức” các hoạt động dạy học với những dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời trẻ thơ

Như đã trình bày ở trên, vai trò của đội ngũ GVTH là rất lớn trong sự nghiệp trồng người Vì vậy, chúng ta phải có biện pháp quản lí đội ngũ GVTH sao cho có hiệu quả và phát huy hết khả năng vốn có của mỗi người

Trang 24

cống hiến cho giáo dục nước nhà, góp phần không nhỏ trong công cuộc đổi mới đất nước

1.1.8 Chuẩn giáo viên tiểu học

Điều 77 Luật giáo dục 2005 có qui định trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên tiểu học như sau:

“a, Có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm đối với giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học;” [30, tr.59]

Giáo viên trường tiểu học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, giáo viên dạy các môn học, giáo viên tổng phụ trách Đội

Nhiệm vụ của giáo viên tiểu học được nêu rõ tại điều 32 trong Điều lệ trường tiểu học:

“Giáo viên dạy các môn học ở trường tiểu học có những nhiệm vụ sau:

a, Giảng dạy và giáo dục theo đúng chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài, kiểm tra, đánh giá đúng qui định; lên lớp đúng giờ, không tùy tiện bỏ giờ, bỏ buổi học, đảm bảo chất lượng và hiệu quả giảng dạy; quản

lí học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn;

b, Tham gia công tác phổ cập giáo dục tiểu học ở địa phương;

c, Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp

vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy và giáo dục;

d, Thực hiện nghĩa vụ công dân, các qui định của pháp luật, các quyết định của hiệu trưởng; nhận nhiệm vụ do hiệu trưởng phân công, chịu sự kiểm tra của hiệu trưởng và của cấp quản lí giáo dục;

đ, Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh, thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh; bảo

vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ các bạn đồng nghiệp;

Trang 25

e, Chủ động phối hợp với Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng Hồ Chí Minh, với gia đình học sinh và các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt độnh giảng dạy và giáo dục;

g, Thực hiện các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật.”

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra yêu cầu hiện đại hoá, chuẩn hoá trong đó có việc xây dựng chuẩn đội ngũ giáo viên về mọi mặt, như về phẩm chất đạo dức, về kiến thức và về kĩ năng sư phạm chứ không đơn thuần

là chuẩn đào tạo

Chuẩn giáo viên tiểu học:[10, tr.30-35] bao gồm các nội dung sau:

Chuẩn GVTH có ba vấn đề chính được đề cập đến, đó là:

Điều đầu tiên nói đến chuẩn GVTH là những yêu cầu cơ bản về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp đối với GVTH trong công cuộc đổi mới chương trình GDPT nói chung, GDTH nói riêng phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

Vấn đề thứ hai là chuẩn GVTH được thể hiện ở 3 lĩnh vực : phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị; kiến thức ; kĩ năng sư phạm ở mỗi lĩnh vực có các yêu cầu cơ bản Mỗi yêu cầu được phân làm 4 mức độ, phản ánh sự khác biệt về năng lực nghề nghiệp giữa các giáo viên

Thứ ba là chuẩn GVTH được dùng để đánh giá năng lực nghề nghiệp của GVTH, trên cơ sở đó, mỗi giáo viên đề ra kế hoạch tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực nghề nghiệp ; các cấp quản lí xây dựng qui hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và xếp ngạch giáo viên

Các vấn đề trên là các vấn đề chung nhất, cơ bản nhất được các nhà nghiên cứu cụ thể thành các yêu cầu cơ bản ở từng lĩnh vực như sau:

Lĩnh vực 1 : Phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị

Có thể nói, đây là một nội dung quan trọng không thể thiếu được đối với con người ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lứa tuổi, … không phân biệt già trẻ,

Trang 26

chức vụ, nghề nghiệp, vùng miền, nếu là người Việt Nam thì phẩm chất đầu tiên nói đến là phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, đó là:

1.Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội ; chấp hành luật pháp Nhà nước, qui định của ngành ; thực hiện chức năng, nhiệm vụ người GVTH

2 Yêu nghề, thương yêu , tôn trọng và đối xử công bằng với học sinh

3 Có tinh thần trách nhiệm ; có đạo đức, lối sống lành mạnh ; có tinh thần hợp tác

4 Có tinh thần phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Lĩnh vực 2 : Kiến thức

Bất kể ở lĩnh vực nào, nghề nghiệp nào cũng cần phải có kiến thức chuyên môn về nghề nghiệp hay lĩnh vực mà người đó đảm nhiệm Đối với chuẩn GVTH những nội dung về mặt kiến thức đó là:

1 Có kiến thức khoa học cơ bản liên quan đến các môn học trong chương trình tiểu học

2 Có kiến thức về nghiệp vụ sư phạm tiểu học

3 Có hiểu biết về những chủ chương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với kinh tế , văn hoá , xã hội

4 Có kiến thức phổ thông về quản lí hành chính nhà nước, về môi trường dân số, an ninh quốc phòng, an toàn giao thông, quyền trẻ em, y tế học đường

5 Có hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương nơi trường đóng

Lĩnh vực 3 : Kĩ năng sƣ phạm (kĩ năng giáo dục, dạy học, tổ chức)

Đây là một lĩnh vực đặc trưng chỉ có đối với ngành giáo dục, những kĩ năng này không thể thiếu đối với người giáo viên và đặc biệt là người giáo viên tiểu học, đó là:

1 Biết lập kế hoạch bài học

Trang 27

2 Biết tổ chức giờ học, đảm bảo thực hiện được các mục tiêu của bài học

3 Biết làm công tác chủ nhiệm lớp; biết tổ chức các hoạt động giáo dục; sinh hoạt tập thể; hoạt động ngoài giờ lên lớp; hoạt động của Đội thiếu niên và Sao nhi đồng

4 Biết giao tiếp, ứng xử với học sinh, phụ huynh học sinh, đồng nghiệp và cộng đồng

5 Biết lập hồ sơ, lưu giữ hồ sơ và sử dụng hồ sơ vào việc giảng dạy và giáo dục học sinh

Nếu chỉ đưa ra những tiêu chí chung thì rất khó có thể đánh giá chính xác được từng giáo viên thực hiện như thế nào Chính vì vậy người ta đã phân chia ra làm 4 mức độ yêu cầu: A; B; C; D (được nêu ở phụ lục 1), các mức độ ở từng lĩnh vực được sắp xếp theo nguyên tắc từ yêu cầu dễ đến yêu cầu khó, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Việc đánh giá giáo viên phải vừa mang tính định tính, vừa mang tính định lượng Ví dụ yêu cầu 1 của lĩnh vực “Phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị” ở mức độ A là “Có ý thức chấp hành luật pháp Nhà nước, qui định của ngành; nắm được chức năng nhiệm vụ của người giáo viên và có ý thức thực hiện” được nâng lên ở mức

độ B là “Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước, qui định của ngành Thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của người giáo viên tiểu học” Như vậy là mức độ yêu cầu đã cao hơn mức B, đòi hỏi người giáo viên phải có sự phấn đấu vươn lên và không chỉ có như vậy, ở mức độ C không còn là thực hiện nghiêm chỉnh nữa mà nâng lên đến mức “Gương mẫu chấp hành pháp luật, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, qui định của ngành; …” Để phấn đấu đạt được mức độ C là khó khăn nhưng còn khó khăn phức tạp hơn nữa đó là thực hiện tới mức độ “Tác động tích cực đến đồng nghiệp và học sinh, khơi dậy ở họ lòng yêu nước, yêu CNXH, ý thức trách nhiệm công dân” ; đây là mức độ yêu cầu cao nhất của lòng yêu nước,

Trang 28

của việc chấp hành luật pháp, các qui định của ngành và thực hiện nhiệm vụ của người giáo viên Các mức độ rất cụ thể, rõ ràng giúp cho nhà quản lí có thể đánh giá, xếp loại giáo viên có định lượng Nhưng tác giả nhận thấy việc người “có ý thức” hay “nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp của Nhà nước” cũng là có thể hiện “lòng yêu nước…” cho nên cần phân định rõ ràng hơn nữa để tránh khó phân xử khi cơ sở vận dụng thực hiện

Về các lĩnh vực kiến thức, kĩ năng sư phạm thì việc vận dụng đánh giá định lượng các mức độ dễ dàng hơn

Qua tìm hiểu được biết chuẩn giáo viên tiểu học được áp dụng thử nghiệm trên 10 tỉnh thành với 25.000 giáo viên đã cho kết quả rất khả quan,

nó đã có những tác động tích cực đối với giáo viên hiện nay Chuẩn mang tính tổng thể và toàn diện, có thang bậc rõ ràng để giáo viên phấn đấu, có thể nói chuẩn là thước đo sự trưởng thành của mỗi cán bộ giáo viên về năng lực nghề nghiệp, là động lực để họ phấn đấu, vươn lên Chuẩn giáo viên tiểu học

là chuẩn để quản lí nghề nghiệp chứ không đơn thuần là chuẩn đào tạo, nên chăng cần sớm đưa chuẩn vào hoàn thiện và áp dụng rộng rãi trên toàn quốc Tiêu chuẩn giáo viên tiểu học trên đây là cơ sở pháp lí để đánh giá, xếp loại giáo viên tiểu học và thông qua đó tác giả nghiên cứu, xem xét, đánh giá chất lượng đội ngũ GVTH của Lục Nam-Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay

1.2 Một số vấn đề lí luận của công tác quản lí đội ngũ giáo viên

1.2.1 Các vấn đề về tâm lí học quản lí

Nói đến tâm lí học là nói đến con người, nói đến chủ thể của xã hội Khi bàn về quản lí đội ngũ giáo viên nói chung và quản lí đội ngũ GVTH nói riêng, một vấn đề nhận thấy đó là chủ thể và đối tượng của quá trình quản lí đều là con người Điều đó khiến ta phải nghiên cứu kĩ lưỡng cơ sở tâm lí của các chủ thể trong quá trình quản lí này Đội ngũ giáo viên là một tập hợp những chủ thể tâm lí khác nhau, với những sự khác biệt cá nhân vô cùng phức tạp, đó chính là sự khác biệt của cá nhân trong một tổ chức, bao gồm:

Trang 29

Hai chiều khác biệt nhau: Chiều sơ cấp và chiều thứ cấp

Chiều sơ cấp: là những khác biệt cá nhân ảnh hưởng quan trọng đến sự

xã hội hoá tứ lúc còn nhỏ của con người, nó có ảnh hưởng mạnh mẽ, ổn định xuyên suốt các giai đoạn của cuộc đời mỗi con người Bao gồm: Tuổi tác; định hướng giới tính; giới; khả năng và đặc điểm thể chất / tinh thần; chủng tộc; truyền thống dân tộc

Chiều thứ cấp: bao gồm những đặc điểm cá nhân mà người đó có được, có thể loại bỏ hoặc biến đổi trong cuộc đời của con người đó Bao gồm: Tiếng mẹ đẻ; giáo dục; tôn giáo; kinh nghiệm quân ngũ; kinh nghiệm công tác; phong cách làm việc; phong cách giao tiếp; vai trò, địa vị trong tổ chức; thu nhập; tình trạng gia đình; nơi cư trú…

Tôi và cái tôi trong hành vi tổ chức Đó là sự tự ý thức, tự nhận thức,

sự tôn trọng bản thân, tôn trọng tổ chức, tự tin vào khả năng của mình trong công việc và biết tự điều chỉnh mình để thích nghi với mọi điều kiện hoàn cảnh

Bản sắc riêng của mỗi con người Đó là nhân cách, là sự kết hợp các đặc trưng ổn định về thể chất và tinh thần của một cá nhân

Nhân cách con người được biểu hiện thông qua thái độ và hành vi của họ:

- Thái độ là thiên hướng/bẩm chất có được phản ứng lại một cách tích cực hay không tích cực có tính nhất quán

- Còn giá trị biểu hiện niềm tin có tính tổng thể tác động đến hành vi xuyên suốt mọi tình huống; còn thái độ chỉ ảnh hưởng, tác động đến hành vi với những tình huống con người cụ thể, đối tượng cụ thể

- Và niềm tin là kết quả của việc quan sát trực tiếp và những suy diễn

từ các quan hệ đã biết trước Niềm tin ảnh hưởng đến thái độ, niềm tin có thể thay đổi khi môi trường thay đổi hoặc hoàn cảnh thay đổi Niềm tin có ảnh

Trang 30

hưởng đến chuẩn mực khách quan, đòi hỏi con người phải hoàn thành hay không hoàn thành một hành vi nào đó

Khả năng và thành quả: Khả năng của con người cộng với kĩ năng và

sự nỗ lực của họ sẽ tạo nên những thành quả nhất định Thành quả lớn hay nhỏ nó phụ thuộc vào từng công việc cụ thể, nhiệm vụ cụ thể mà họ đảm nhận và vào khả năng, kĩ năng và sự nỗ lực không mệt mỏi của họ

Nói đến con người không thể không nói đến trí thông minh và khả năng nhận thức của mỗi cá nhân:

- Trí thông minh thể hiện năng lực cá nhân trong tư duy kiến tạo, lập luận và giải quyết vấn đề

- Khả năng hiểu ngôn ngữ, lưu loát trong sử dụng ngôn từ, tính toán nhanh, xác định không gian tốt, ghi nhớ sâu, nhận biết nhanh, lập luận qui nạp tốt

Và cảm xúc của con người là: Phức hợp những phản ứng của con người trước những thành tựu hoặc những cản trở của mình

Trong thực tế, người ta có thể phân làm hai loại cảm xúc: cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực

Biểu hiện của cảm xúc tiêu cực là giận giữ; buồn bã; chán ghét; sợ hãi /

lo âu; đố kị / ghen tức; tội lỗi / xấu hổ

Biểu hiện của cảm xúc tích cực là tự hào; cảm tình / yêu mến; thoải mái khuây khoả; hưng phấn / hạnh phúc

Từ những cảm xúc trong mỗi một con người mà có thể hình thành nên những động cơ cho mỗi cá nhân hoặc cho cả một tổ chức hoạt động hướng tới mục đích, mục tiêu của cá nhân hoặc tổ chức đó

Động cơ là nhân tố dẫn đến thành quả của một cá nhân hoặc một tổ chức

Thành quả lao động được đo bằng: Mức độ khả năng nhân với mức độ

kĩ năng nhân với động cơ nhân với tri thức về việc làm thế nào để hoàn thành

Trang 31

nhiệm vụ nhân với tình cảm / cảm xúc nhân với tạo thuận lợi và kìm hãm

những điều kiện

Có những động cơ không cần thúc ép vẫn có hiệu quả, thậm chí hiệu quả cao nữa là khác Nhưng nếu không có động cơ thì dù có thúc ép mấy đi chăng nữa thì vẫn không có hiệu quả

Nhiệm vụ của người quản lí không phải là làm giúp hoặc làm thay thuộc cấp mà là tạo điều kiện để thuộc cấp hoàn thành nhiệm vụ của họ và hướng tới đạt mục tiêu

Động cơ là những quá trình tâm lí tạo nên sự kích thích, sự định hướng, sự bền vững của những hoạt động tự nguyện hướng tới mục tiêu

Sơ đồ 1.2 Nhu cầu về động cơ

Hiện nay chúng ta đang tiến hành đổi mới phương pháp dạy học, nhưng đổi mới phương pháp dạy học khó đạt được vì đổi mới phương pháp dạy học chưa biến thành nhu cầu, động cơ của người dạy Học sinh chưa muốn học tập tốt vì chưa biến việc học trở thành nhu cầu, động cơ học tập cho các em

Với quan điểm hành vi (thuyết quan hệ con người) nhấn mạnh đến nhu cầu cá nhân và xã hội, những ảnh hưởng của tổ chức đến kết quả công việc Maslow cho rằng động cơ của con người có quan hệ chặt chẽ với thứ bậc nhu cầu gồm năm bậc, từ nhu cầu thấp nhất là nhu cầu sinh học, tiếp đến là nhu

Trang 32

cầu về sự an toàn, nhu cầu về sự thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng và cuối cùng cao nhất là nhu cầu tự thể hiện mình Người lao động được thúc đẩy nhờ nhu cầu xã hội, đó là nhu cầu về sự thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện mình trong xã hội; họ trở nên có trách nhiệm hơn nhờ sự thúc đẩy của xã hội; họ sẽ ủng hộ, đáp ứng yêu cầu của người quản lí nếu người quản lí đáp ứng giúp thoả mãn nhu cầu của họ Nhà quản lí phải phối hợp dân chủ với cấp dưới, kết hợp với các phương pháp quản lí khác để đạt hiệu quả quản lí ở mức cao nhất, đáp ứng yêu cầu của xã hội

Xuất phát điểm quan trọng để lựa chọn phong cách quản lí thích hợp là động cơ thúc đẩy Quá trình này bao gồm sự tìm hiểu nhanh nhạy sắc bén về nhu cầu và khát vọng của đội ngũ Mỗi cá nhân tham gia trong một bộ phận hay nhóm làm việc chắc chắn có những mẫu nhu cầu khác nhau như: nhu cầu

hỗ trợ; nhu cầu lắng nghe; nhu cầu nhận biết; nhu cầu khuyến khích; nhu cầu tin cậy; nhu cầu nhận thức và đánh giá; nhu cầu am hiểu; nhu cầu giúp làm rõ

ý tưởng; nhu cầu giúp phát triển kĩ năng và khả năng; nhu cầu thử thách và phát triển

Khi mà văn hoá tổ chức đáp ứng các nhu cầu cụ thể trên, con người làm việc chăm chỉ hơn, có ràng buộc về ý thức, mục đích Khi tạo ra văn hoá thoả mãn nhu cầu sẽ là điều kiện sống còn đối với sự thành công của tổ chức

Nhà quản lí hiệu quả là những người có khả năng cảm nhận một mẫu nhu cầu ở những người đang làm việc và phải làm cho phong cách làm việc của họ thích nghi Nguyên tắc là phải đối xử phù hợp vơí từng người với sự nhạy cảm về thái độ tự trọng

Những nhà tâm lí học nhân văn như Abraham Maslow và Carl Rogers đều cho rằng cá nhân trong chính họ có nguồn tài nguyên đời sống khoẻ mạnh và thành công rất lớn

Trang 33

Trong cuộc sống, bất kể ai cũng có nhu cầu quyền lực vì đó là nhu cầu

tự khẳng định, nhu cầu thành đạt, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu được phát triển Sự thành đạt không chỉ có ở chức vụ

Muốn thuộc cấp làm việc / thực thi công việc nào đó thì phải tạo cho

họ có nhu cầu để hình thành động cơ

Chúng ta phải nâng cao hiệu quả công tác của đội ngũ trên cơ sở thông tin phản hồi và khen thưởng

Phản hồi là thông tin khách quan về thành quả hoạt động của một cá nhân hoặc một tập thể Phản hồi rất quan trọng, nó đem lại hiệu quả quản lí hoặc triệt tiêu hiệu quả quản lí

Cách thức giao tiếp truyền tải nội dung rất quan trọng nó làm cho người nghe lắng nghe hay không

Giao tiếp truyền thông là sự chia sẻ, không đơn thuần là nói và viết Khi người quản lí ra mệnh lệnh quản lí đều phải có sự giám sát về giao tiếp truyền thông xem người đó có tiếp nhận hay không Trong thông tin có nhiễu,

do có sai lệch về tiếp nhận và chuyển giao thông tin từ người này nói với người khác, từ người khác nói với người khác nữa, … đều khác nhau mặc dù không cố ý làm sai lệch thông tin

Đối với người giáo viên tiểu học, họ có một vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục, là cầu nối giữa nền văn hoá dân tộc với người học Họ có những đặc điểm tâm lí chung như tất cả mọi người, và họ cũng có cái riêng

có thể các cấp học khác không cần có Do đặc điểm đội ngũ GVTH không đồng đều về trình độ đào tạo, tỉ lệ giáo viên nữ cao, ngoài công tác họ còn phải chăm lo tới gia đình, sinh đẻ, nuôi dạy con cái, … cho nên bị chi phối nhiều Lao động của người GVTH có liên quan trực tiếp đến trẻ em nhỏ do

đó người GVTH cần phải có tình thương, sự chăm sóc công bằng, tế nhị, mềm dẻo trong cư xử, trong giao tiếp hàng ngày, trong kĩ năng làm việc với

Trang 34

trẻ Vì vậy, thái độ và hành vi của họ có ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách của học sinh

Đối với các nhà quản lí giáo dục cần phải hiểu rõ đặc điểm đội ngũ GVTH của mình và không ngừng tạo điều kiện, cơ hội cho giáo viên tham gia phấn đấu rèn luyện và thể hiện mình Và nhà quản lí giáo dục cũng cần phải liên tục đổi mới để hoà nhập và thích ứng với mọi điều kiện hoàn cảnh trong nước cũng như trên thế giới

1.2.2 Các vấn đề về lí luận dạy học hiện đại

Muốn quản lí được đội ngũ giáo viên có chất lượng hiệu quả cao, đòi hỏi người quản lí không chỉ giỏi về nghiệp vụ quản lí mà còn phải là chuyên gia trong lĩnh vực hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên Có như vậy người quản lí mới quản lí được hoạt động chủ đạo của đội ngũ giáo viên - hoạt động dạy học Trước hết cần phải hiểu các vấn đề về lí luận dạy học hiện đại sau:

Mối quan hệ biện chứng của dạy và học

Dạy và học là hai mặt của một quá trình thống nhất biện chứng - quá trình dạy học Dạy và học là hai hoạt động có cấu trúc khác nhau, nhưng có mối quan hệ qua lại khăng khít với nhau

Giáo viên là chuyên gia trong lĩnh vực dạy và học, bao gồm các năng lực nòng cốt: Năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực phán đoán, đánh giá, tư vấn; năng lực phát triển nghề nghiệp (riêng) và năng lực phát triển trường học

Sự thay đổi vai trò của người dạy và người học: Người học thực hiện quá trình học tập thông qua các dự án học tập; Người dạy điều khiển các nội dung và phương pháp trọng tâm; giáo viên đóng vai trò phần nhiều là người

tư vấn, chỉ dẫn, khích lệ các em học tập; tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức, kĩ năng; giáo viên trở lên linh hoạt hơn trong việc đưa ra nội dung dạy học

Trang 35

Phương pháp dạy học (theo nghĩa rộng) là những hình thức, cách thức, thông qua đó và bằng cách đó giáo viên và học sinh lĩnh hội những hiện thực

tự nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện học tập cụ thể

Phương pháp dạy học (theo nghĩa hẹp) là những mẫu hành động cụ thể

và có thể phân biệt được của hoạt động dạy học

Kĩ thuật dạy học là những tình huống hành động tương đối ngắn trong dạy học của giáo viên và học sinh Kĩ thuật là những biện pháp nhỏ, nhằm điều khiển quá trình dạy học

1.2.3 Mục tiêu quản lý đội ngũ giáo viên

Mục tiêu là: đích cần hướng tới để thực hiện nhiệm vụ [40, trang 649] Quản lí đội ngũ giáo viên (như đã trình bày ở phần trên) là hoạt động của người quản lí giáo dục tác động lên đội ngũ giáo viên trong nhà trường hoặc cơ sở giáo dục nhằm đạt được mục tiêu của cơ sở giáo dục hoặc nhà trường đó

Vậy mục tiêu quản lí đội ngũ giáo viên là hoạt động cần hướng tới của người quản lí giáo dục tác động lên đội ngũ giáo viên trong nhà trường hoặc

cơ sở giáo dục để thực hiện nhiệm vụ của mình nhằm đạt được mục tiêu của nhà trường hoặc cơ sở giáo dục đó

1.2.4 Nội dung quản lý đội ngũ giáo viên

Quản lí nguồn nhân lực là chức năng quản lí giúp cho người quản lí tuyển mộ, lựa chọn, huấn luyện và phát triển các thành viện của tổ chức

Bản chất nguồn nhân lực là toàn bộ chuyên môn mà con người tích luỹ được Quản lí nguồn nhân lực là quản lí nguồn lực chuyên môn của họ, tổng thể tiềm năng lao động của tổ chức (chứ không phải là quản lí nhân sự), để đem lại hiệu quả cao và đạt được mục tiêu của tổ chức Vì vậy phải có sự đầu

tư, bồi dưỡng tiềm năng của những lao động đó Tuỳ theo năng lực và trình

độ của người lao động mà sử dụng người này, người kia vào những công việc này hoặc việc khác

Trang 36

Quản lí nguồn nhân lực trong nhà trường, cơ sở giáo dục chính là quản

lí nguồn lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên - công nhân viên trong nhà trường

Đây cũng chính là điều mà tác giả tâm đắc nhất Bởi đây cũng là nội dung quản lí đầy khó khăn và phức tạp đối với công tác quản lí ở cấp cơ sở trong nhà trường nói chung và nhà trường tiểu học nói riêng hiện nay Nguồn nhân lực của trường tiểu học Việt Nam hiện nay là do sự phân bổ, điều động của các cấp quản lí ngoài nhà trường; nhà trường tiểu học không được phép chủ động về nguồn nhân lực của mình, thực trạng này dẫn đến nhiều khó khăn, bất cập trong quản lí đội ngũ giáo viên Đây cũng là vấn đề cần được xem xét và giải quyết kịp thời

Đồng thời nhà trường cũng không có quyền xa thải những lao động yếu kém, không hiệu quả Mặc dù vẫn có đủ 7 quá trình quản lí nguồn nhân lực trong nhà trường như: Kế hoạch hoá nguồn nhân lực; tuyển mộ; lựa chọn; sắp xếp, bố trí; đánh giá; phát triển; thăng thưởng, đào thải Tuy nhiên để quản lí nguồn nhân lực có hiệu quả trong mọi hoạt động có sự biến đổi này từ những hoạt động thực thi công việc của con người đều có sự phụ thuộc vào năng lực, động cơ, nhận thức vai trò và tập hợp các yếu tố tình huống khác nhau thì người quản lí không nên quá cứng nhắc mà phải linh hoạt sáng tạo trong hoạt động quản lí của mình Phải biết kết hợp các quan điểm quản lí như quản lí theo cách tiếp cận hiệu quả, quản lí theo cách tiếp cận kết quả, quản lí phù hợp và quản lí đáp ứng, bởi vậy nhà quản lí cũng phải liên tục đổi mới các phương pháp quản lí, lãnh đạo của mình sao cho thích ứng và phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể của nguồn nhân lực đó để tạo ra hiệu quả tốt nhất cho tổ chức, cho nhà trường của mình

Trong các mô hình quản lí mỗi mô hình đều có mặt mạnh và mặt yếu của nó, tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh của mỗi tổ chức mà có sự lựa chọn, vận dụng sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất

Trang 37

Cũng từ sự khác biệt trong quản lí nguồn nhân lực là tạo ra sự khuyến khích đủ mạnh để người lao động chủ động làm việc Cơ sở chính của việc quản lí nguồn nhân lực là sự tham gia, phối hợp, cam kết và hệ thống niềm tin giá trị

Để quản lí đội ngũ giáo viên một cách khoa học; đánh giá, xếp loại giáo viên một cách công bằng và chính xác, Bộ Nội vụ đã có Quyết định số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành qui chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông công lập

Việc đánh giá, xếp loại giáo viên nhằm mục đích làm rõ năng lực, trình

độ, kết quả công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống làm căn cứ để các cấp quản lí giáo dục bố trí,sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ chính sách đối với giáo viên

Nội dunh đánh giá được nêu rõ trong Điều 5 của qui chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông công lập như sau:

Việc đánh giá, xếp loại giáo viên sau một năm học phải căn cứ vào các qui định tại Điều 4 của qui chế này về các mặt:

1 Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống:

a Nhận thức tư tưởng, chính trị;

b Chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước;

c Việc chấp hành qui chế của ngành, qui định của cơ quan, đơn vị, đảm bảo số lượng, chất lượng ngày, giờ công lao động;

d Giữ gìn đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của giáo viên; ý thức đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực; sự tín nhiệm trong đồng nghiệp, học sinh và nhân dân;

đ Tinh thần đoàn kết; tính trung thực trong công tác; quan hệ đồng nghiệp, thái độ phục vụ nhân dân và học sinh

2 Kết quả công tác được giao:

Trang 38

a Khối lượng, chất lượng, hiệu quả giảng dạy và công tác trong từng

vị trí, từng thời gian và từng điều kiện công tác cụ thể;

b Tinh thần học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; ý thức

tổ chức kỉ luật, tinh thần trách nhiệm trong giảng dạy và công tác; tinh thần phê bình, tự phê bình

3 Khả năng phát triển ( về chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực quản lí và hoạt động xã hội vv… )

Về tiêu chuẩn xếp loại Điều 6 nêu :

1 Tiêu chuẩn xếp loại về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống:

a Loại tốt là những giáo viên đạt các yêu cầu sau:

- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước;

- Gương mẫu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của cán bộ, công chức, các qui định của Điều lệ nhà trường, Qui chế về tổ chức hoạt động của nhà trường;

- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao;

- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;

- Sống mẫu mực, trong sáng; có uy tín cao trong đồng nghiệp, học sinh

và nhân dân; có ảnh hưởng tốt trong nhà trường và ngoài xã hội

b Loại khá: Là những giáo viên đạt các yêu cầu sau:

- Chấp hành đầy đủ chính sách, pháp luật của Nhà nước;

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của cán bộ, công chức, các qui định Điều

lệ nhà trường, Qui chế về tổ chức và hoạt động của nhà trường;

- Hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao;

- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;

- Có uy tín cao trong đồng nghiệp, học sinh và nhân dân

Trang 39

c Loại trung bình: Là những giáo viên đạt các yêu cầu sau:

- Chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước;

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của cán bộ, công chức, các qui định Điều

lệ nhà trường, Qui chế về tổ chức và hoạt động của nhà trường;

- Hoàn thành các nhiệm vụ được giao;

- Còn thiếu sót trong kỉ luật lao động, nề nếp chuyên môn và lối sống,

có khuyết điểm nhưng chưa đến mức độ khiển trách;

- Uy tín trong đồng nghiệp và học sinh chưa cao

d Loại kém: Là những giáo viên vi phạm một trong các trường hợp sau:

- Không chấp hành đầy đủ chính sách, pháp luật của Nhà nước;

- Còn thiếu sót về đạo đức lối sống;

- Không hoàn thành các nhiệm vụ được giao;

- Bị xử lí kỉ luật từ hình thức khiển trách trở lên;

- Không còn tín nhiệm trong đồng nghiệp, học sinh và nhân dân

2 Tiêu chuẩn xếp loại về chuyên môn, nghiệp vụ:

Tất cả giáo viên của các cơ sở giáo dục qui định tại Khoản 1 Điều 1 của Qui chế này đều được đánh giá xếp loại chuyên môn, nghiệp vụ định kì một lần trong năm học ở cấp trường để xếp thành 04 loại: tốt, khá, trung bình, kém Kết quả đánh giá, xếp loại chuyên môn , nghiệp vụ là tiêu chuẩn quan trọng để phân loại giáo viên sau đánh giá

Nội dung tiêu chuẩn cụ thể về chuyên môn, nghiệp vụ của loại tốt, khá, trung bình, kém theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Qui chế đánh giá xếp loại chuyên môn , nghiệp vụ của giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học, giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông, giáo viên của trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm kĩ thuật tổng hợp – hướng nghiệp và Hướng dẫn đánh giá, xếp loại giờ dạy ở bậc trung học) [ Qui chế đánh giá, xếp loại giáo viên/ cẩm nang pháp luật ngành GD&ĐT , trang10-11]

Trang 40

Đối với giáo viên tiểu học thực hiện theo qui định tại các Điều 4; 5; 6

và Điều 7 của “Qui chế đánh giá, xếp loại chuyên môn, nghiệp vụ giáo viên tiểu học” ban hành theo quyết định số 48/2000/QĐ/BGD&ĐT ngày

13/11/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trong đó tên gọi loại đạt yêu cầu và loại chưa đạt yêu cầu trong Quyết định số 48/2000/QĐ/BGD&ĐT tương ứng với loại trung bình và kém trong quyết định số 06/2006/QĐ-BNV

Cụ thể như sau:

Trong Điều 4 có nêu: Nội dung đánh giá, xếp loại chuyên môn –

nghiệp vụ giáo viên tiểu học bao gồm kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công về giảng dạy, giáo dục và kết quả đánh giá tiết dạy của giáo viên tiểu

học

Tại Điều 5 có qui định là: Kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công

về giảng dạy và giáo dục của giáo viên tiểu học được đánh giá theo 3 tiêu chí

cụ thể như sau:

Thứ nhất là việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy:

- Thực hiện chương trình và kế hoạch dạy học

- Chuẩn bị bài, lên lớp, đánh giá học sinh

- Mức độ tiến bộ của từng học sinh qua từng học kì và cả năm căn cứ vào tỉ lệ xếp loại học lực và hạnh kiểm

Thứ hai là việc thực hiện công tác chủ nhiệm lớp và hoạt động giáo dục khác:

- Đảm bảo sĩ số, quản lí việc học tập và rèn luyện của học sinh Quản lí

hồ sơ, sổ sách Thực hiện việc giáo dục đạo đức cho học sinh , xây dung nề nếp, rèn luyện thói quen tốt, giúp đỡ các học sinh cá biệt

- Phối hợp với gia đình học sinh và cộng đồng xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh

- Tham gia các công tác khác đã được nhà trường phân công

Ngày đăng: 16/03/2015, 21:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo.Vấn đề "Quản lí" và"Quản lí nhà trường".Nhận thức từ tinh hoa tiền nhân và ý tưởng thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí" và"Quản lí nhà trường
3. Đặng Quốc Bảo.Phát triển nguồn nhân lực và phát triển con người. Bài giảng cho chương trình cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực và phát triển con người
4. Đặng Quốc Bảo (và nhóm biên soạn). Danh nhân Hồ Chí Minh. NXB Lao động.Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Lao động.Hà Nội 2000
5. Bộ GD&ĐT. Đổi mới nội dung-phương pháp dạy học ở tiểu học. NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung-phương pháp dạy học ở tiểu học
Nhà XB: NXB Hà Nội
8. Bộ GD&ĐT .QĐ 22/2000/QĐ-BGD&ĐT. Điều lệ trường tiểu học./ Cẩm nang nghiệp vụ quản lí. NXB Lao động-Xã hội. Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường tiểu học./ Cẩm nang nghiệp vụ quản lí
Nhà XB: NXB Lao động-Xã hội. Hà Nội 2006
12. Bộ Nội vụ. QĐ số 06/2006/QĐ- BNV. Qui chế đánh giá xếp loại giáo viên Mầm non và giáo viên phổ thông công lập. Cẩm nang pháp luật ngành Giáo dục . NXB Lao động-Xã hội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui chế đánh giá xếp loại giáo viên Mầm non và giáo viên phổ thông công lập. Cẩm nang pháp luật ngành Giáo dục
Nhà XB: NXB Lao động-Xã hội 2006
17. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Nguyễn Đức Chính. Đánh giá giảng viên. Chuyên đề cao học Quản lí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá giảng viên
21. Vũ Cao Đàm. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Khoa học và Kĩ thuật. Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB Khoa học và Kĩ thuật. Hà Nội 2005
22. Trần Khánh Đức. QLNN về GD. Tập bài giảng cho cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: QLNN về GD
23. Đặng Xuân Hải. Quản lí sự thay đổi và vận dụng nó trong quản lí giáo dục. Chuyên đề cao học Quản lí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí sự thay đổi và vận dụng nó trong quản lí giáo dục
24. Nguyễn Thị Phương Hoa. Lí luận dạy học hiện đại. Tập bài giảng cho chương trình cao học 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại
25. Học viện Chính tri Quốc gia. Giáo trình Quản lí Hành chính Nhà nước t.2. NXB Lao động 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lí Hành chính Nhà nước t.2
Nhà XB: NXB Lao động 1998
26. Học viện Hành chính quốc gia. Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và Quản lí hành chính Nhà nước. Hà Nội 11/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và Quản lí hành chính Nhà nước
27. Đặng Bá Lãm. Quản lí nhà nước về giáo dục. Lí luận và thực tiễn. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí nhà nước về giáo dục. Lí luận và thực tiễn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. 2005
28. Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Tâm lí học quản lí. Giáo trình cao học thạc sĩ Quản lí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học quản lí
29. Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Quản lí nguồn nhân lực. Giáo trình cao học thạc sĩ Quản lí giáo dục.30. Luật giáo dục 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí nguồn nhân lực." Giáo trình cao học thạc sĩ Quản lí giáo dục. 30
31. Hồ Chí Minh. Về vấn đề giáo dục. NXB Giáo dục. 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục. 1990
32. Hồ Chi Minh toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chi Minh toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội 2000
33. Phòng Giáo dục Lục Nam. Báo cáo thống kê tình hình thực hiện biên chế. Các năm học 2001-2002; 2002-2003; 2003-2004; 2004-2005; 2005-2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê tình hình thực hiện biên chế

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2 Nhu cầu về động cơ - Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học trong giai đoạn hiện nay
Sơ đồ 1.2 Nhu cầu về động cơ (Trang 31)
Bảng 2.1 Số lượng, cơ cấu giáo viên các năm học . - Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.1 Số lượng, cơ cấu giáo viên các năm học (Trang 54)
Bảng số liệu trên được biểu diễn bằng đồ thị trình độ chuyên môn nghiệp  vụ của đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Lục Nam như sau: - Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học trong giai đoạn hiện nay
Bảng s ố liệu trên được biểu diễn bằng đồ thị trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Lục Nam như sau: (Trang 55)
Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả trưng cầu ý kiến  về tính cấp thiết và khả thi của các nhóm biện pháp - Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả trưng cầu ý kiến về tính cấp thiết và khả thi của các nhóm biện pháp (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w