481 Văn hóa quản lý truyền thống và hiện đại
Trang 1TRƯNG TÂM KIOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP NHÀ NƯỚC KX.06
ĐỀ TÀI
VAN HOA QUAN LÝ TRUYEN THONG VA HIEN DAI
MÃ SỐ KX.06.12 -_
CHU NHIEM DE TAL: GS NGUYEN HỒNG PHONG
BAO CAO TONG HOP
NAM 1995
Trang 2MUC LUC
PHAN MOT
VAN HOA QUAN LY TRONG XA HOI TRUYEN THONG
Chương 1 Từ tưởng xã hội của Khổng giáo nguyên thuỷ Tr 4
Chương 2 Quốc gia - Công hữu và tư hữu Tr 24
Chương 3 Lang xã - Cá nhân và cộng đồng Tr.48
PHAN HAI
TRUYEN THONG VA HIEN ĐẠI HOÁ VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Chương ï Đông Á và công cuộc Duy tân Tr 70
Chượng 2 Công cuộc Duy Tân đầu thế kỷ ở Việt Nam và mô hình
Chương 3 Sự kết hợp dân tộc và hiện đại và Chủ nghĩa Xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
Công trình Văn hoá quản lý - truyền thống và hiện đại ở Việt Nam
là một tổng kết lịch sử tư tưởng chính trị về quản lý xã hội của Việt Nam
trong quá khứ, nó tạo nên một truyền thống văn hoá lớn của dân tộc: Xây đựng đời sống cộng đồng và phái triển các quan hệ nhân văn
Bước vào thế kỷ XX, xung đột văn hoá Đông Tây đã diễn ra quyết
liệt ở Việt Nam ngay trong lòng chế độ thực dân, rồi chuyển thành một cuộc đối thoại văn hoá và tiếp biến văn hóa tích cực của Việt Nam với
Phương Tây Nhờ ảnh hưởng của phong trào yêu nước kết hợp với tư tưởng canh tân nước nhà, các giải pháp phát triển đất nước đã được đề xuất :
Giải pháp kết hợp dân tộc với hiện đại hoá theo mô hình dân
chủ tư sản Phương Tây-tư tưởng ánh sáng, được để xuất vào ' những năm đầu thế kỹ
Giải pháp kết hợp dân tộc với hiện đại hoá theo mô hình xã hội chủ nghĩa Xô Viết được dé xuất từ những năm 30 của thế ky
Các giải pháp phát triển đất nước từ nay tuỳ thuộc vào khả nang giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc, hiện đại hoá và Chủ nghia Xã hội ,
Hiện nay Việt Nam đã có một sự lựa chọn đũng cảm có tínH.lịch sử Vận dụng phương thức phát triển của nền kinh tế thị trường để năng động hoá nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và phục vụ cho Chủ nghĩa Xã hội
Đây là một thách thức lịch sử và là nhiệm vụ sáng tạo Đáp ứng cho thách thức này với Việt Nam tuỳ thuộc vào khả năng, thống nhất được truyền thống (dân tộc) với hiện đại hoá (Tây Phương) và Chủ nghĩa Xã hội
Day là kết luận cuối cùng mà công trình này đi tới từ những dit kién
và kinh nghiệm lịch sử đã được kiểm kê
Trang 4PHAN MOT VAN HOA QUAN LY TRONG XA HOI TRUYEN THONG
CHUGONG I
TU TƯỞNG XÃ HỘI CỦA KHÔNG CIAO NGUYEN THUY
Khổng giáo nguyên thuỷ so với Hán nho, Tống nho là khác nhau
như sự khác nhau giữa Cơ đốc giáo nguyên thuỷ và Cơ đốc giáo thời Trung cổ ở Châu Âu mà Marx, Enghen đã phân tích Khổng giáo nguyên thuỷ phản ánh một chế độ nhà nước xây dựng trên các công xã gia trưởng, khi sự phân hoá giai cấp chưa phát triển
Ảnh hưởng của Khổng giáo nguyên thuỷ đối với văn hoá chính trị ở
- Việt Nam - không chỉ trong phạm vi hệ tư tưởng làng xã, mà cả trong phạm vi hệ tư tưởng Nhà nước Có thể thấy ảnh hưởng này trong tư tưởng
các vua nhà Lý "thương dân như con”, vua nhà Trần "khoan thứ sức dân
sâu rễ bên gốc”; ở tư tưởng nhân nghĩa của Lê Lợi, Nguyễn Trãi Tư tưởng
về phân phối bình quân: ruộng đất của Khổng giáo nguyên thuỷ - tức là chế độ tỉnh điển, còn được đề xuất như là một cuộc "cải cách ruộng đất" vào thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XIX Và chế độ "tỉnh điển" với các biến dạng của nó đã được thực thi ở các làng xã Việt Nam cho đến thế ky XIX dưới triều Nguyễn với ý nghĩa tao ra sự cân bằng giữa công hữu và tư hữu (giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu làng xã, giữa sở hữu cộng đồng và sở
hữu tư nhân)
Khổng Tử là một nhân vật của thời kỳ quá độ, từ chế độ quân chủ
bộ lạc chuyển sang xã hội giai cấp kiểu phương thức sản xuất Châu Á
Trang 5Ông sợ hãi những mâu thuẫn giai cấp đang tăng lên Ông muốn bảo vệ công xã, làm giảm bớt xung đột xã hội bằng cách kêu gọi đồng đều phân
phối tài sản Ông lý tưởng hoá thời xưa và muốn khôi phục lại những mối quan hệ công xã gia trưởng Tư tưởng và tâm trạng của ông thể hiện rõ trong thiên Lễ vận trong Kinh Lễ, đoạn chép lời Khổng Tử nói với Tử
"Những đạo lớn (lẽ sống sáng ngời) mà được thi hành, thiên hạ sẽ coi như của chung của mọi người, lúc đó chỉ cần tuyển chọn người hiển mà nói với nhau những điều tín nghĩa, chăm lo tình hoà thuận hữu hảơ Vì thế, con người ta không chỉ lấy tình thân làm cơ sở thân tình, không chỉ coi riêng con mình là con, để cho người già
có phần cuối đời vui vẻ, trai tráng có đất dụng, trẻ thơ ấu được đào '
tạo và phát huy tài năng Những người quan quả cô độc, tần tật đều có nơi nuôi dưỡng, Trai có phận sự của trai, gấi có chỗ gửi gam thân mình Những điều tai ác đều bị vứt bỏ xuống đất, không cần phải giấu trong mình, những hành vi tai ác không thể bộc phát, không cần phải bo bo vị kỷ Được như vậy, những mưu mô :_ thầm kín sẽ không có dịp nảy sinh, trộm cắp giặc dã sẽ không thể làm loạn, như vậy, cửa ngõ cũng không cần đóng, như thế gọi là đại đồng”
Sau khi ca ngợi thời Đại Đồng - xã hội quân chủ bộ lạc, ông than thở về xã hội thời ông :
"Nay đại đạo đã bỏ, người ta lấy thiên hạ làm của riêng, ai nấy
đều thân riêng cha mẹ mình, đều riêng yêu con mình, cho của cải
và sức lực là của riêng mình, vua quan thì cha truyền con nối,
quốc gia thì lấy thành quách mà giữ vững
Mạnh Tử người sáng lập thứ hai của Khổng Giáo sau Khổng Tử hơn hai thé ky (372-289) vào thời phân hóa ruộng đất, phân hoá giai cấp
tiến thêm một bước nữa, những nhà nước mạnh và hiếu chiến đã: xuất
hiện, Mạnh 'Tử trong khi phát triển học thuyết của Khổng Tử muốn hạn
chế bọn nhà gidu, làm cho nông dân trở nên ngang nhau về tài sản, và điều tiết việc sử dụng ruộng đất, chủ trương: khôi phục lại chế độ tỉnh điền thời cổ Ông chống lại thuế khoá nặng nề của Nhà nước Ông cũng chống lại bạo lực của Nhà nước, chống lại việc Nhà nước can thiệp: quá nhiều
vào đời sống kinh tế, ông đòi buôn bán phải được tự do (Ông kêu gọi thủ tiêu việc thu thuế đảm phụ Nhà nước chỉ cần thu thuế thập phân là đủ) Ông thừa nhận sự phân chia đẳng cấp, chênh lệch tài sản, nhưng không tan thành phân chia giai cấp theo hai cực: người ăn không hết kẻ lần
! 1ã ký Đại toàn Q.9 tờ 2A, 2B Thư viện Viện Sử học, ký hiệu IIV 483 (4).
Trang 6không ra Mô hình xã hội có thể dựng lên từ quan điểm của Không Mạnh
là một mô hình xã hội đẳng cấp kiểu quân chủ gia trưởng - dựa trên thị tộc
và công xã Tức là Nhà nước quân chủ thiết lập trên các công xã thị tộc và công xã nông thôn Nhà nước quân chủ bao gồm vua và quan - tạo thành một cộng đồng thượng cấp thu cống vật (thuế tương đương [/10 thu hoạch) của nông dân công xã phải nộp Nó thừa nhận công thương nghiệp
và sự phát triển của thành thị, nhưng sự phát triển đó không thể đưa đến sự tích luỹ của cải và làm phân hoá tài sản Trong mô hình xã hội của Khổng Mạnh, nền kinh tế vẫn là nên kinh tế tự nhiên, nhằm tự cấp tự túc, công thương nghiệp và thành phố chỉ phát triển trên cơ sở tiểu thương và tiểu
công
Chúng ta hãy tìm hiểu mô hình xã hội qua những ý kiến của Khổng
Tử và Mạnh Tử, trên những phương diện chủ yếu nhất của cơ cấu xã hội - kinh tế, cơ cấu đẳng cấp và cơ cấu Nhà nước
CHẾ ĐỘ TỈNH ĐIỂN
Xã hội mà Khổng Giáo quan niệm là một xã hội nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm nền tảng Cho nên điểm đảu tiên họ quan tâm là chế độ phân phối ruộng đất Chống lại quá trình phân chia ruộng đất đang diễn ra trước mắt, Khổng Giáo chủ trương phải làm cho tài sản của nhân dân không được chênh lệch nhau quá Khổng Tử chọ rằng trong nước có kẻ quá giầu, kẻ quá nghèo thì khó giữ được cho khỏi loạn Khổng Tử nói:
"Người trị nước và trị nhà không lo tài sản tt, ma lo tai sdn chia không đêu, không lo nghèo mà lo không yên ổn" (Luận ngữ - Quý thụ)
*
Để cho tài sản không quá chênh lệch, Mạnh Tử chủ trương phải
khôi phục lại chế độ ruộng đất thời cổ, tức là chế độ tỉnh điển '”
' Chế độ tỉnh điển là chế độ phân phối ruộng đất vào thời quân chủ bộ lạc cửa Trung Quốc, theo
truyền thuyết là thuộc thời Hoàng Đế:
"Mỗi miếng đất vuông vức, cộng Tà chấn tram mẫu chỉa làm chín phần bằng nhau, mỗi phần
100 mẫu Một tràm mẫu tương đương 5 hà Tấm phần chung quanh chia cho tiny gia đình, phân ở giữa để ra 20 mẫu làm chỗ ở cho tám gia đình, còn lại thì tám giá định phải góp sức cây cấy để nộp lúa cho nhà vua (như vậy cũng tương đương với việc người nông đân cẩy cấy ruộng
công, nộp thuế 1/10 cho nhà nước)”
Đến đời Hạ, Chế độ tỉnh điển vẫn còn, mỗi nhà dược chia 50 mẫu Đến đời Án, mỗi nhà 70 mẫu Đến dời Mạnh Tử, chế độ này bị bãi bở từ lâu Mạnh Tử muốn hồi phục lại Sau Mạnh Tử chế
độ tư hữu rưộng đất vẫn tiếp tục phát triển Tuy nhiên cứ íL lâu các triểu đại Trung Quốc lai 4p dung
lại, để kiểm chế quá tình phân hoá tài sẵn và tích tụ cửa cải Vf dụ cải cách Vương Mãng đời Hán Vũ
6
Trang 7Mạnh Tử nói:
“Đất vuông một dặm là một tỉnh điền, một tỉnh điển có chín trăm
mẫu, khu một trăm mẫu ở giữa là ruộng công, tám nhà đều được
chia mỗi nhà một trăm mẫu làm ruộng tư ở chung quanh, tám nhà
cùng lo làm ruộng công, việc ruộng công xong rồi mới làm việc
ruộng tư của mình, thế là để phân biệt người dân quê làm ruộng và
người quân tử làm quan vậy” (Mạnh Tử - Tập Thượng)
Chủ Hy giải thích đoạn này như sau :
“Đây nói rõ quy chế về hình thể phép tỉnh điền, tức là phép trợ của
nhà Chu, ruộng công ở giữa làm bồng lộc cho người quân tử, còn
ruộng tư ở xung quanh là phần để cấp cho người dân quê Trước lo
ruộng công sau mới lo ruộng tư là để phân biệt phần của quân tử
với của dan qué "
Quan niệm đồng đều của Khổng Giáo không phải là quan niệm
hoàn toàn bình quân theo kiểu công xã nguyên thuỷ Nếu Khổng Tử
thường lên án xa hoa, và khuyên nên tiêu đùng vừa phải thì Mạnh Tử lại
, chủ trương: Quý tộc có thể xa hoa, nhưng làm sao cho dân có mức sống
tối thiểu, không đối; rét Còn nếu "trong nhà bếp nhà vua có thịt béo,
trong chuồng ngựa nhà vua có ngựa béo mà dân có sắc đói, trong đồng
tuộng có người chết đói, thế là cho thú ăn thịt người Loài thú ăn thịt lẫn
nhau, người ta còn ghét, huống hồ làm cha mẹ dân, thi hành chính trị mà
lại để cho loài thú ăn thịt thì sao phải là cha mẹ dân” (Mạnh Tử, Lương
Huệ Vương Hạ) Mạnh Tử chấp nhận có người giàu nhưng không chap
nhận tình trạng bẩm cùng Quan niệm của Mạnh Tử là: nếu dân đủ ăn
mặc thì nhà vưa có thể vui chơi xa xỉ mà dân không oán
Và ông ca ngợi nền kinh tế gia trưởng, tự cấp, tự túc
Mạnh Tử nói:
"Nhà có năm mẫu mà trồng dâu ở dưới chân tường, rồi đàn bà
nuôi tầm, thì người già có đủ lụa để tặc, nuôi năm con gà mái,
hai con heo nái cho kịp thời thì người già có thịt để ăn Ruộng
đế cũng muốn lấy đất đai của đại địa chủ chia đều cho nông dân nghèo theo phép tỉnh điển Về các
đời sau như Lực Triều, nhà Tân, Hậu Nguy, Tống tuy không định khôi phục lại phép tỉnh điển nhimg
vẫn hướng về lầm sao để giảm tình trạng “bất quân” tài sản Cái tỉnh thần của Khổng Gido "Bat hoan
quả như hoạn bất quân" (Không sợ thiếu chỉ sợ không đều - Khổng Tử), mà các nhà cải cách các triều
đạt thường vẫn nhắc tại Chẳng hạn đời Lục Triều, nhà Tần hạn chế ruộng đất của các hạng vương tôn
(quý tộc) và cấp cho đân nghèo mỗi người 70 mẫu Đời Hậu Nguy, mọợi nông đân nghèo được cấp 4O
mẫu, khi chết phải trả lại triều đình, cho đứt thêm 20 mẫu dể truyền tử lưu tôn
hed
Trang 8trim mẫu để trai tráng cẩy cấy thì nhà tám miệng ăn sẽ không đói"
Mạnh Tử thừa nhận phân công lao động xã hội giữa công nghiệp và
nông nghiệp, giữa lao động trí óc và lao động chân tay Ông thừa nhận vat : trò người quản lý: "Không có người quân tử thì không có ai trị người dân quê, không có người dân quê thì không có ai nuôi quân tử"
XÃ HỘI DANG CAP KIEU GIA TRUGNG
Xã hội theo quan niệm của Khổng Mạnh là xã hội đã phân hoá đẳng cấp Khổng Tử và Mạnh Tử phân biệt hai đẳng cấp chính của xã hội
Đó không phải là địa chủ và nông dân, giầu và nghèo, mà là lao động
chân tay và lao động trí óc, mà ông gọi là lao tâm và lao lực Lao tâm
không chỉ đơn thuần là ông đồ, thầy thuốc, nhà thơ, v.v Lao tâm chủ yếu
là người quản lý Người quản lý - tức là Quan - theo Khổng Mạnh phải là người có học thức Chính tầng lớp này đã thống trị người lao lực và sống
_ Doan van sau day trong Luận Ngữ nói lên rất rõ quan điểm về sự phân chia đẳng cấp của Mạnh Tử:
“vay thì bậc cai trị thiên hạ - có việc của hạng người trên, có việc
` của hạng người dưới Hoặc có người lao tâm trí hoặc có người
lao sức lực Người lao tâm trí thì quản trị người, người lao sức lực thì bị người quản trị, người bị quản trị thì phải (nộp thuế) nuôi người, quản trị người thì được người nuôi, đó là nghiã thông thường trong thiên hạ" :
Khéng Tir va Mạnh Tử như trên đã nói, không tán thành'tích luỹ của cải, làm phân hoá giầu nghèo trong dân Ông chủ trương đồng đền tài sẩn Không bao giờ ông nói đến giai cấp địa chủ Ông chỉ nói đến vua
quan (khanh, đại phu) và dân Vua quan là giai cấp trị người, dân là người
bị trị Dân phải nuôi vua, quan bằng tô thuế của mình, xã hội theo Nho
giáo là xã hội đẳng cấp - Đẳng cấp được phân biệt theo trên dưới
3
"Có trời đất rồi sau mới có vạn vật, có vạn vật rồi sau mới có nam
nỡ, có nam nữ rồi sau mới có vợ chồng, có vợ chồng rồi sau mới
' Mạnh Tử
Trang 9có cha con, có cha con rồi mới có vua tôi, có vưa tôi rồi mdi cé
trên dưới, có trên dưới rồi sau lễ nghĩa mới có chỗ thi hanh"!
(Dịch - Tự quái truyện) ˆ
Mạnh Tử diễn tà sự bất bình đẳng xã hội bằng sự phân công lao
, động xã hội Mạnh Tử xuất phát từ giá trị (đổi chác) của hàng hoá để nói
là làm loạn thiên hạ như vậy trị quốc làm sao gu
(Đằng Văn Công Thương)
Còn Tuân Tử thì lại đưa một lý lẽ tất yếu (cần thiết) của sự phân chia đẳng cấp xã hội do lợi ích của quần tụ
"Người ta sống ở đời không thể không quần tụ, quần tụ mà không
- định phận trên dưới thì tranh đoạt nhau, tranh đoạt nhau thì loạn,
loạn thì khốn Cho nên không định phân trên dưới là cái hại lớn
của thiên hạ, định phận trên dưới là cái lợi lớn của thiên hạ"
Xã hội theo Nho Giáo có nhiều đẳng cấp, nhưng có thể gồm lại trong hai đẳng cấp chính: đẳng cấp quản lý gồm vua và quan lại và đẳng cấp thứ dân - tức là nông, công, thương, sĩ mà không làm quan cũng thuộc vào thứ dân
Xã hội theo Khổng Giáo có hình ảnh một triêu đình kiểu Nhà nước
Quân chủ thiết lập trên các công xã thị tộc (Ở Trung Quốc thời Mạnh Tử công xã thị tộc tồn tại phổ biến) Công xã thị tộc đứng đầu là tộc trưởng, đẳng cấp cao nhất trong công xã thị tộc, cũng như lớp già là đẳng cấp cao nhất trong công xã nông thôn
„ Kinh Dịch
2 Mạnh Tử
` Mạnh Tử
Trang 10Mạnh Tử nói:
"Thiên hạ có ba bậc đáng tôn: tước, sỉ, đức, ở triều đình không; có
gì đáng tôn bằng tước; ở hương đẳng không có gì đáng tôn bằng tuổi, giúp đời mà trị đân không gì bằng đức"
Nếu Saint Thomas D'Aquin” đã dựng lên một trật tự của vũ trụ để biện minh cho trật tự đẳng cấp phong kiến Phương Tây thì Nho Giáo truyền thống cũng dựng lên một vũ trụ quan tôn giáo, nó biện minh cho trật tự của Nhà nước quân chủ gia trưởng kiểu Châu Á ở Trung Quốc
Thế giới quan Nho Giáo có tính chất chính trị rõ rệt Trước Khổng
Tử, Đạo Nho nguyên thuỷ giải thích vũ trụ như sau: Vũ trụ bắt đầu còn
mờ mịt, chứa một cái "lý” linh diệu gọi là thái cực - thái cực biến hoá ra thành âm dương rồi âm dương biến mãi ra thành vạn vật Trên cao nhất có trời rồi đến quý thần Đưới quý thần là con người Trời là một ông ưa coi
việc trần gian, nên mới gọi là Đế Vì trời là một ông vua cao nhất: Thượng -
Đế - nên loài người chính là đân của Thượng Đế Trong Ngũ Kinh rất ít
khi ta gặp chữ dân: Dân là thuật ngữ để so sánh với Vua Chẳng hạn ta gặp những câu: "Trời sinh dân đó", "Trời yêu đân lắm", "Cái đạo của đạo
học ở chỗ làm sáng cái đức, sáng cái chỗ thương yêu dân” v.v
Bởi vì loài người sinh ra là để làm dân của Trời Dân là con cưng,
của Trời Dân mang tính Trời cho nên “Thiên ý” và "Dân tâm” là một,
lòng Dân là lòng Trời Thượng thư - Cao - Dao mô - “Trời nhìn tự dân ta nhìn, Trời nghe tự dân ta nghe” Đại Vũ mô cũng nói : “Sự sáng suốt của
' Mạnh Tử
? Triết gia của chế độ phong kiến Tây Âu, thế kỷ XIH
* Văn Côn g6 năm 13, Tướng Công nim 14
* Văn Công năm I3, Tướng công năm 14
10
Trang 11Trời hiện ra ở sự sáng suốt của dân” Boi vi ý dân khi sáng suốt là ý trời nên "Dân muốn cái gi Trời cũng nghe theo”!
Do đó vua phải bỏ cái lợi của mình mà theo cái lợi của dân 7đ
truyện chép Vua Văn Công nước Chu bói việc đi cư sang đất Địch, được
',một quẻ lợi cho đân nhưng bất lợi cho tính mạng của ông Nhưng ông cũng nhất định di cư, các quan can ông đáp:
"Lợi cho dân là lợi cho ta Trời sinh dân rồi lập ra vua để làm lợi cho dân Mạng vua ở chễ nuôi dan, còn việc thọ yeu là thời vận Nếu di cư mà có lợi cho dân thì không còn gì bằng nữa”
Đây chính là nguồn gốc của tư tưởng "sợ dân” nét đặc thù của fư
tưởng chính trị của Nho Giáo mà ở Châu Âu hoặc ở các nền văn hoá khác
ngoài Nho Giáo không thấy có tư tưởng này
Nhà Trung Quốc học nổi tiếng Needham đã cắt nghĩa tư tưởng sợ đân có nguồn gốc ở kỹ thuật học và chính trị:
"Về vấn để quan hệ kỹ thuật học và quyên lực chính trị thì tình hình Trung Quốc ra sao? Võ khí chính của người La Mã bao giờ -
cũng là cái khiên và thanh kiếm ngắn Trung Quốc lại là chuyện
khác; bởi vì từ rất sớm đân chúng đã dùng nỏ còn vua chúa thì chỉ
dùng những áo giáp tổi tệ để tự vệ cho nên tại sao trong những điều kiện tương đồng ấy, ở Trung Quốc người ta đã phải sử dụng việc thuyết phục nhân dân chứ không phải là vũ lực: do đó sinh ra
‘tim quan trong của những người Không Giáo ở thế kỷ IV trước Công Nguyên, trong cuộc chiến giữa các Nhà nước như của Nhà Tống, Nhà Hạ hay nhà Chu, dân chúng dưới quyền của vương hầu tất có thể đột nhiên chạy sang phía địch trên chiến rong cho nén phải thuyết phục dân chúng về công lý mà học bảo vệ"
Trước ông Needham, vào năm 1937 ông H.G.Creel có lẽ là người
đầu tiên đã phân tích nguồn gốc tư tưởng sợ dân của vụa chúa:Trững Hoa, chắc là ông Needham có biết đến đoạn văn này của ông Cree]:
"Nhân dân xưa có nhiều quyển uy lắm nếu họ muốn sử dụng quyền của mình Đa số quân đội hồi ấy không chuyên nghiệp, do
những cuộc trưng tập nông dân và tiểu đân, đo quý tộc chỉ huy
Võ khí phổ biến đáng gờm nhất là cái nó (are réfléchi) nó có sức xuyên thủng mọi giáp trụ chấc chấn nhất của quý tộc Nghĩa là quý tộc Trung Hoa cổ đại không giống với các hiệp sỹ Trung cổ
} Kinh Thư, Thượng Thư, Thái - Hệ - Thượng,
? Joseph Needham - La science chinoise et l'occident, Seuil, Paris 1973, tr 145-1 16
Trang 12Châu Âu, "mình vận giáp trụ, nhét chân vào bàn đạp bịt sắt, rồi lao
vào giữa đấm võ trang nông dân và bọn lính đi đất, vừa cười nhạo báng, bất kể số lượng chúng bao nhiêu ˆ
Vì vậy, tư tưởng sợ dân không hề nảy sinh trong tầng lớp quý tộc : Còn ở Trung Quốc thì trước loại vũ khí lợi hại và rẻ tiền mà người dân nào cũng có thể có trong khi quý tộc lại chỉ có cái áo giáp bằng vải đính những miếng kim khí không đủ sức ngăn các múi tên ngọn giáo Vì vậy, chủ yếu phải làm sao cho dân thoả mãn hay ít nhất cũng tới chỗ căm thù tích cực với các bạo chúa của họ Đấy là nguồn gốc xã hội theo ông Creel của tư tưởng chuộng nhân đạo trong chính sách trị dân của Nho sĩ
Dù sao tư tưởng "ý dân là ý trời", đã hạn chế quyền quân chủ tuyệt đối Trong Nho Giáo vua không phải là quyền uy tối thượng: trên vua còn
có Thượng Đế, dưới vua có dân con cưng của Thượng Đế Thượng Đế luôn luôn giám sát việc làm của vua và biểu hiện ý chí của mình qua lòng
đân
Vua trong Nho giáo là người cha của quốc dân, có trách nhiệm nuôi dân, bảo vệ dân Vua là do Trời đặt ra để thay Trời giúp đân Như vậy vua
là đại biểu của Thượng Đế ở trên mặt đất, làm trung gian giữa Thượng Đế
và nhân đân Thiên tử có nghĩa là như vậy
ĐÂN CHỦ NHO GIÁO
“Ngày nay chế độ quân chủ chuyên chế được xây dựng trên nguyên tắc: Truyền tử, quyền trưởng nam, Quan niệm của Nho Giáo không phải
là con vua thì lại làm vua, cũng không phải là truyền theo quyền trưởng nam
Theo Nho Giáo, có ba cách Trời lựa người trao quyền %rị đân Mạnh
Theo Mạnh Tử: Vua truyền ngôi cho người hiển không phải do lòng tốt hay sự sáng suốt của cá nhân ông vua mà do ý Trời, lòng dan Vi dat,
{2
Trang 13nước không phải là của vua, mà là.của Trời, Trời trao cho vua quan để giúp dân, cho nên vua không có quyên nhường nó cho ai?
Căn cứ ở trường hợp ông Nghiêu nhường ngôi cho ông Thuấn, ông Thuấn nhường ngôi cho ông Vũ, thì người muốn được trao cho ngôi Thiên
tử phải có mấy điều kiện:
1 Có đức, có tài Đức như ông Thuấn nổi tiếng là người có hiếu Tài như ông Vũ có công trị thuỷ trong chín năm Ông Vũ có đức, đằng đẳng xa nhà ba năm, đi qua cửa cũng không vào
2 Phải là người có kinh nghiệm làm quản lý Trước khi được cử làm Thiên tử ông Vũ đã làm Tể tướng 17 năm, ông Thuấn đã làm Tể tướng 28 năm
3 Được chư hầu và nhân đân ngưỡng mộ Được tiến cử Bởi vì có những người có tài có đức, có kinh nghiệm mà không được tiến cử thì cũng không thể được làm Thiên tử Khổng Tử có đủ điều kiện để làm Thiên Tử, nhưng vì không được tiến cử nên không được làm vua Mạnh
Tử thêm điêu kiện thứ tư được tiến cử với Trời
Cách lên ngôi thứ hai, là do cha truyền lại Việc truyền tử không phù hợp với quan điểm nhân trị của Nho Giáo Trong lời than thở của Khổng Tử về việc nay không bằng việc xưa, tức là thời đại đồng, có nói đến sự việc "vua quan thì cha truyền con nổi " Từ sau thời Nghiêu- Thuấn, nghĩa là từ vua Vũ trở đi việc truyền ngôi vua không theo nguyên tắc truyền hiển, mà là truyền tử Mạnh Tử vẫn theo nguyên lý ý Trời và lòng dân đề giải thích hiện tượng này
Mạnh Tử nói: Lúc đầu vua Vũ có tiến cử một đại thần là ông Ích lên làm vua - ông Ích là Tể tướng của ông Vũ Nhưng khi ông Vũ chết đi rồi thì dân không theo ông Ích mà lại theo con ông Vũ là ông Khải Sở dĩ
- Ông Ích mới làm Tể tướng cho ông Vũ được ít năm (7 năm) thí ân
cho dân chưa được lâu, dân chưa tín nhiệm
-Ông Khải nổi tiếng là hiên, kế thừa được đạo của cha
Như thế quan điểm của Khổng Giáo là nhất quán: Thiên tử muốn tự
ý nhường ngôi cho con hay nhường ngôi cho người hiển cũng không được Muốn nhường ngôi phải thuận ý dân, lòng dân Cho nên Khổng Tử nói:
Trang 14Các đời Đường Ngư thì truyền ngôi, các đời Hạ, An, Chu thì nối ngôi, ý
Còn một cách nhận ngôi thứ ba nữa - tức là dùng bạo lực để bạ vua
cũ xuống, lên làm vua - tức là thừa nhận quyền đảo chính, lật đổ cách mang
Điều đó vẫn phù hợp với nguyên lý: ý Dân và ý Trời Vua Thang giết Vua Kiệt, Vua Vũ giết Vua Trụ, bai ông này nhân danh thay Trời trừ
bạo chúa, nên được làm Thiên tử
Cách này theo Khổng Giáo vẫn hợp đạo lý nếu có đủ ba điều kiện: một là phải theo ý dân chứ không phải theo ý mình vì giận ghét Dân phải
tỏ lòng oán chính sách tàn ngược của bạo chúa và mong mỏi giải phóng Như khi Vua Thang thảo phạt Vua Kiệt thì lúc ấy ở đâu đâu cũng thấy dân ca thán Vua Kiệt "Vua (tức là Vua Kiệt không thương chúng ta, bỏ
ruộng nương của chúng ta mà chính trị thì bạo ngược"”
Về việc Vua Vũ giết Vua Trụ, Kinh Thư Thiên Thái - Thệ cũng chép: "Vua Trụ tự tuyệt với Trời mà kết oán với dân””
Vua là thay Trời, nhưng khi đã không làm tròn nhiệm vụ, lại tàn bạo thì không phải là vua nữa mà là một tội nhân Manh Tử nói: "Nghe nói giết một kẻ tên là Trụ, chứ chưa nghe nói giết vua",
Những người nhân danh mệnh Trời để thảo phạt kể có tội phải tin rằng mình làm thuận ý Trời
Khi Vua Thang giết Vua Kiệt có nói :
"Đạo Trời giáng tai ương cho Kiệt để tỏ rõ tội hắn Ía theo mệnh Trời để tỏ rõ uy của Trời, nên không dám tha han" (Thư, Kháng Cáo)
Vũ Vương giết Vua Trụ cũng nói:
"Trời nổi giận sai ta xét tội của Trụ, ta phải kinh sợ mệnh lệnh và
uy của Trời" (Thư, Thái Thệ), "Tội Trụ đã đây, mệnh Trời là giết hắn đi, nếu ta không thuận ý Trời thì tội cũng như han"
Trang 15Mệnh Trời hiện trong ý dân và trong những tai ách Trời giáng cho những quốc gia nào có bạo quân như bão, lụt, hạn, động đất (đất sụt, núi lở) Người nhân danh thừa thiên hành đạo phải là người có đức độ Vua Thang trước khi khởi quân diệt Vua Kiệt đã nổi danh là khoan đại nhân nghĩa, Vua Vũ trước khi giết Vua Trụ cũng có tiếng là người hiền
Có đủ những điêu kiện ấy có thể giết vua, nghĩa là thực hành cách mạng Chữ cách mạng trong Nho Giáo có nghĩa là đổi mệnh vưa, đổi vua
cũ thay vua mới Trong ba cách lên ngôi thiên tử trên đây, cách thứ ba bị cho là kém hơn cách thứ nhất Khổng Tử so sánh nhạc vũ của Vua Vũ với nhạc thiểu của Vua Thuấn, có câu:"Nhạc vũ tận mỹ, mà chưa tận
thiện" Có ý cho rằng đức độ và việc làm của Vua Thuấn (người được
nhường ngôi) cao hơn việc làm của Vua Vũ (người diệt Vua Trụ mà lên ngôi) Theo Khổng Tử - đức độ và chính sách của nhà cầm quyền ra sao thể hiện rõ trong Nhạc
Chúng ta nhớ đoạn Nguyễn Tiãi nói về Nhạc là theo quan điểm trên đây của Nho Giáo : " làm cho thôn cùng, xóm vắng không có tiếng oán
sầu, đó là cái gốc của Nhạc”:
Nhiều nhà Trung Quốc học Phương Tây cho rằng sở dĩ Khổng Mạnh đề cao việc truyền hiển là vì hai ông đã đứng về lập trường của các nhà Nho, những kẻ sĩ để để cao vai trò của kẻ sĩ Vai trò của kẻ sĩ được giải thích bởi việc các triéu đình vua chúa thời xưa cần có những người thông thạo chữ tượng hình (chữ khó học) để giúp vào công việc giấy to nhà nước Vai trò của các nhà Nho đầu tiên chỉ là vai trò người thư lại trong triểu đình Từ chỗ chuyên trách về soạn thảo và về đọc công văn thư tịch, họ cũng là người độc quyền kiến thức như là những linh mục thông thạo chữ Latinh ở Châu Âu thời Trung Cổ Dần dần họ trở thành cố vấn cho nhà vua Chính những vị cố vấn này đã sáng tác ra những huyền thoại của thời Thượng Cổ trong đó có huyền thoại của Vua Nghiêu, Vua Thuấn nhằm đề caơ vai trò Nho sĩ Về sau khi phái Pháp gia tấn công lại Nho Giáo đã đánh vào huyền thoại về Nghiêu Thuấn Dù sao-Nhò Giáo cũng
đã xây dựng lên cả một vũ trụ quan nhất quán về mệnh Trời và ý Dân
Vua không thể làm tròn nhiệm vụ của mình nếu không được quan lại đến giúp vua Trước đời Tần việc tuyển lựa đại phu đều do nhà vua đảm nhiệm lấy Việc tuyển lựa quan của nhà vua phải tiến hành thận trọng, vì quan lạt cũng như vua phải có tư cách làm cha mẹ dân, có nhiệm vụ chăn dắt dân chứ không phải là kẻ áp bức, cai trị, cho nên việc tuyển quan lại cũng phải theo ý dân
! Kinh Thư
15
Trang 16Mạnh Tử nói:
"Làm vua một nước mà muốn đặt người hiển ở dưới thấp lên cao thì phải cẩn thận lắm, như bị quốc dân bắt buộc vậy Nhưng muốn đùng một người nào mà hỏi người tả hữu bên mình, ai cũng bảo người đó hiển, như vậy chưa được; hỏi các đại phu, các đại phu cũng bảo người đó hiển, như vậy cũng chưa được khi hết thấy quốc dân đều bảo người đó hiển, lúc đố mới xét người ấy, xét xong mà thấy người đó quả là hiển thì mới dùng” (Mạnh Tử)
Ở các nước Phương Tây thời Trung Cổ quan lại là những viên chức
đo nhà vua cắt đặt, sai bảo, phải phục tùng mệnh lệnh của nhà vua, thực hiện ý chí của vua Các quan lại trong Nho Giáo không có chức năng đơn thuần như vậy Ở đây các quan vừa là người phải thực hiện ý chí của vua,
chính sách của nhà vua, đồng thời nhân danh nhân dân, xuất phát từ đạo
lý, mà giám sát, khuyên răn, can gián, dẫn dất nhà vua Nếu nhà vua không đi theo con đường phải, làm điều bất nhân bất nghĩa, thì quan lại phải thôi không giúp nhà vua nữa Như thế gọi là tôi trung
Tuân Tử phát biểu rõ ràng quan điểm Nho Giáo về nghĩa vụ và tự
cách một bề tôi trung, ông chia làm bốn hạng: ko
"Có bậc đại trung, có bậc thứ trung, có bậc hạ trung, có kẻ quốc tặc Lấy đức mà báo đáp vua để cải hóa được vua, là bậc đại trung Lấy đức mà sửa lỗi vua và giúp vua là bậc thứ trưng Lấy điều phải
mà can ngăn vua, làm cho vua giận là bậc hạ trung Không lo đến
sự vinh nhục của vua, không lo đến nước trị hay loạn, chỉ thâu hợp của cải, dung túng kể càn rỡ để giữ lợi lộc, nuôi bè đẳng, là kẻ quốc tặc” (Tuân tử, Thân đạo)
16
Trang 17Nho Giáo để cao vai tré cha quanelai, va ddi hdi vua phải tôn trọng bẩy tôi, và bầy tôi có quyền coi vua như Blặc, như thù nếu vua coi bẩy tôi như đất, như cỏ (Mạnh Tử, Ly Lâu, Hạ)
TRÁCH NHIỆM VÀ ĐẠO ĐỨC CUA NGƯỜI CẨM QUYỀN Tuân tử nói:
Vua là thuyển, dân là nước Nước chở thuyền, nhưng nước cũng làm đấm thuyền" (Tuân Tử, Vương Chế)
Ở Châu Âu, và cho đến trước các nhà xã hội không tưởng trong
tư tưởng chính trị Phương Tây chưa bao giờ tiệc chăm lo đến đời sống nhân dân lại được coi là trách nhiệm của các nhà câm quyển, trước hết
là trách nhiệm của vua đứng đầu nhà nước Những vua chúa và các nhà
cầm quyên đều cho rằng dân đói khổ là tại họ lười biếng, mất mùa thiên tai là tại trời, chứ không phải tại chính sách của triều đình Ở nước Anh
mãi tới triều Nữ hoàng Elisabet (thế kỷ 16) sự cứu bần mới được nhà cầm quyền lưu tâm, nhưng công việc đó chẳng qua chỉ được coi là một công việc từ thiện, chứ chưa thành một nhiệm vụ của chính phủ
Leibnif là người đầu tiên đã vạch rõ nhiệm vụ của nhà cầm quyền
là phải lo cho đân đủ ăn, đủ mặc Chính những nhà trí thức theo chủ nghĩa
xã hội không tưởng như Simon, Fourier, Robert, Oweir là những người nói nhiều đến vai trò và quyền lợi của nhân dân
Vua là một chúa đất lớn, mà tất cả đất đại trong thiên hạ là của
riêng ông ta cho nên những kẻ cầy cấy và sống trên đất đai ấy cũng là nô
lệ của ông ta, có nghĩa vụ phải phục vụ ông ta, chịu ơn ông ta, vưa cũng là đại biểu của những chúa đất giầu có, và chỉ bảo vệ lợi ích cho các chúa đất đó Ở Âu Châu nếu nông dân nổi đậy chống chúa đất thì vua sẽ đần áp nông dân để bảo vệ chúa đất Đấy là hình ảnh các ông vua cửa chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến ở Châu Âu VỊ Hoàng đế trong Nho Giáo được quan niệm khác - Hoàng đế ở đây là nhà quản lý đất nước cao nhất, là người cha của nhân dân, phải có bổn phận bảo vệ dân, giáo hoá
đân và chịu trách nhiệm về cuộc sống của dân
Theo Mạnh tử, Vua Nghiêu đã vạch rõ bổn phận của vua trong câu:
“An ủi dân, vỗ về dân, giúp đỡ dân, che chở dân, khiến dan tự biết vui về đạo ." (Mạnh Tử, Đằng Văn Công - Thượng)
17
Trang 18Việc chăm lo dân trước hết ở việc làm cho dân no đủ: "Thường tình của dân là kẻ nào có hằng sản rồi mới cớ hằng tâm” (Mạnh Tử)
Nước trị hay loạn nhà vua phải chịu trách nhiệm Dân phạm tội vua
cũng phải chịu trách nhiệm "Nước mà loạn là tội của trẫm, riêng trẫm
chịu phạt” (Thượng Thư - Bàn Canh) "Vận dân có tội là tại một mình ta,
'cho nên một mình ta chịu tội, không luy gì đến dân cả" (Thượng Thư - Thang Cáo)
Chúng ta nhớ lại lời khấn trời của Vua nhà Lý, khi chỉnh phạt Chiêm Thành trở về qua vùng biển gặp sóng to gió lớn:
“Tôi là kẻ ít đức lạm trên muôn dân, nơm nớp lo sợ, như sắp sa
xuống vực sâu không đám cậy quân đánh dẹp càn Chỉ vì người Châu Diễn không theo giáo hoá, mặc sức làm điều hỗn bạo, tàn ngược dân đen, tội ác đây rẫy, nay không thể không đánh Còn trong khi binh đao sô sát, hoặc giết oan người trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiển lương, đến nỗi Hoàng Thiên nổi giận vạch rõ lầm lỗi cho tôi, thì dù thân này có phải chết cũng không đám phàn nàn gì Tuy nhiên đối với sáu quân, tội đó xin dung thứ, dám mong lòng Trời soi xét"
Nho Giáo cho rằng "Thiên tử nếu có làm tròn trách nhiệm cũng không có công gì cả, công là của dân" "Nước mà bình trị là công của
dan" (Thuong Thu - Ban Canh)
`
GIÁO HOÁ DÂN
Nhà nước trong Nho Giáo có một nhiệm vụ lớn, quan trọng ngang với việc làm cho nhân dân no ấm là giáo hoá nhân dân Nho Giáo rất coi
trọng giáo dục, còn đặt giáo dục lên trên cả chính trị
"Muốn được dân thì chính trị tốt không bằng giáo dục tốt, vì chính
trị tốt thì dân sợ, còn giáo dục tốt thì dân yêu; chính trị tốt thì dân
giầu nước cũng giầu, còn giáo dục tốt thì được lòng dân"
Theo truyền thuyết lịch sử, các nhà nước Trung Hoa thời Cổ đại đã
có một hệ thống giáo dục chặt chế từ trong triểu đình đến tận dân gian Thời Vua Thuấn, 23 thế kỷ trước Công nguyên đã có nhiều học hiệu Đến các đời vua sau: Hạ, Thượng, Chu đã có sự phân chia đại học và tiểu học
Trang 19Kinh Lễ Thiên học nhì chép:
"Giáo dục ngày xưa ở nhà thì có “thục”, ở chỗ "đẳng" thì có
"tưởng", ở chễ "thuật" thì có "tự", ở nước thì có “học”
Lâm Ngữ Đường giải thích:
Mỗi xóm 25 nhà thì có một "thục”, một trăm nhà thì có một
"tưởng", hai ngàn rưởi nhà thì có một "tu" va tai kinh đô mỗi nước
có một “học”
Cấp tiểu học có 7 năm đại học, đại bọc có hai năm, rèn luyện
ở cả hai cấp ấy đều là cả về trí lẫn về đức
"Mỗi năm người ta thu nhận học trò mới và cũ, hai năm một
kỳ thi: Cuối năm thứ nhất, người ta xét cách chấm câu của học sinh và tăng tiến thiên tử của nó Sau ba năm người ta cố gắng xét
tập quán chuyên cần và tỉnh thân đoàn thể của chúng Sau năm năm người ta xét sức học của chúng và xem chúng có theo đúng lời thầy dạy không? Sau bẩy năm, người ta xét sự tiến triển của †ư
tưởng cùng cách lựa bạn để giao du của chúng Đó là cấp tiểu học Sau chín năm, học sinh phải biết mọi điều, có một sự hiểu biết tổng quát về đời sống và có một nhân cách xây dựng vững vàng _ trên những nguyên tắc mà chúng không thể rời được, đó là cấp đại học”
Theo Lễ ký trẻ em mười tuổi bắt đầu đi học, mười ba tuổi bắt đầu
học nhạc, thư, bắn cúng; sau dậy thêm lễ, đánh xe, toán pháp, cho đủ lục nghệ (Lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số) Nhưng những môn đó đều là phụ Mục đích của giáo dục là đạo đức
Khổng Tử nói trong Thiên học nhí như sau:
"Người đi học, vào thì hiếu ra thi dé, cần mà tin, yêu, mến mọi người mà thân cận với người nhân; làm được điều ấy rỗi, có thừa sức mới học van"!
Trang 20Các kinh, sách đều nhằm mục đích giáo dục đức chính trị:
Thượng thư là bộ sử nhưng cũng là một cuốn nghị luận chính trị bàn về nguyên lý trị nước, bình thiên hạ
: Kinh thi là một sưu tập ca dao và các bài hát ở triểu đình, Khống
Luận Ngữ viết về Kinh Thi:
"Học tập thi có thể cảm phát ý chí, có thể xem xét điều hay điều
dở, có thể hoà hợp mà không lưu đãng, bẩy tô cái sầu oán mà không giận, gần là ở trong nhà biết cách thờ cha, xa ra ngoài thì
biết cách thờ vua"!
Chỗ khác ông nói:
“Đọc ba trăm bài thi, giao cho chính quyền không đạt được, sai đi
ra ngoài bốn phương mà không biết đối phó thì học nhiều mà làm sa
gi’
Kinh Dịch cũng chứa một triết lý về cách tri dan và ứng xử:
_ "Thánh nhân dùng đạo dịch để thông được cái trí của thiên hạ,
định được công việc của thiên hạ, đoán được cái ngờ của thiên hạ”
`
Kính Xuân Thu, một bộ sử biên niên nhằm "vạch đường ngay cho
kẻ cầm quyên"
Kinh Lễ, Kinh Nhạc cũng có tính cách giáo hoá rõ rệt Nhiệm vụ
của nhà cầm quyền là tạo ra những hoàn cảnh tốt tập luyện cho dân những đức tính tốt Với Khổng Tử có ba đức tính căn bản là: trí, nhân, dũng ` Với Mạnh Tử có bốn đức tính căn bản: Nhân) Nghĩa, Lễ; Trí -
Trong các đức tính trên đây, nhân là đức tính căn bản, bao trùm, nó bao hàm tất cả
Trong Luận ngữ, trả lời cho Phần Trí, Khổng Tử nói: "Nhân là yêu người” rồi thêm "cư xử phải kính, làm việc phải cẩn thận, đối đãi với
"Luan Ngữ Dương hoá
Trang 21người phải thực thà” Nói với Tu Ma-Nguu “ngudi nhan néi ra cfu nào phải chấc chắn"
Nói với Trọng Cung : "Đi ra cửa kính cẩn như sắp tiếp một người khách quý, trị dân kính cẩn như là lo như việc tế tự lớn Việc gì mình không thích đừng làm cho người khác phải chịu"
Trả lời cho Nhân Uyên, người học trò giỏi nhất của Khổng Tử, ông nói: “Đè nén mình theo Lễ là nhân" Khổng Tử đáp Tử Lộ : "Khoan nhu mà đạy người, ngay thẳng với kẻ vô đạo, là cái cường của người Phương Nam”
Chữ nhân của Không Tử bao gồm hầu như tất cả các khái niém đạo đức khác của ông Học trò của ông là Tê Dư cho tầng bố mẹ chết phải để tang ba năm, như vậy lâu thế, chỉ để tang một năm cũng qua du rồi! Hành xi ấy là bất hiếu Nhưng Khổng Tử lại nói Tê Dư là bá? nhân `
Vị tử, Cơ tử, Tỷ Can đều là những người bầy tôi tốt của Trụ Vương,
thấy Trụ Vương vô đạo, Vị Tử vừa lo buồn tức giận đã xa lánh Trụ
Vương, Cơ tử sốt ruột và không có biện pháp gì đành giả điên và đi làm
nô lệ cho người, chỉ có Tỷ Can bất chấp tất cả, tiến hành can gián, kết qua’
bị giết Như thế cả ba có thể gọi là trung trực, nhưng Khổng Tử lại gọi như thế là nhân "nhà Ân có ba người nhân"”
Nhân bao gồm cả Lễ: "Khắc phục bản thân, phục hồi lễ, ấy là nhân" °
Nhân bao quát cả Trí, Không Tử nói: "Trí lực thiếu hiểu biết không đây đủ, còn nói gì đến nhân" “
Nhân bao quát cả "đũng, cung kiện, rộng lượng" Khổng Tử nói:
“Người nhân tất đũng cảm" Ÿ, Khi trả lời học trò của ông là Tử Trương
“Thực hiện được năm diéu sau day với thiên hạ là nhận
đấy cưng kính, rộng tượng, được lòng tin, nhạy bền, ân huệ" °
` Luận Ngữ Dương hoá
? Luận Ngữ Vi tứ ˆ
* Luận Ngữ Nhan Uyên
4 Luận Ngữ Công Duyên trường
: Luận Ngữ Hiếu văn
* Laan Ngữ Vệ Linh công
21
Trang 22Sự thống nhất giữa trí dục và đức dục, đạo đức và chính trị được trình bầy một cách minh bạch, và xúc tích trong phân mở đầu của một cuốn Đại học
“Đường lối về sự học của người lớn là ở chỗ làm sáng tỏ đức sáng của mình; làm mới đức sáng của dân và đứng vững tại nơi rất phải"
Từ bậc Thiên tử đến người thường dân ai cũng phải lấy điều sửa mình làm gốc” (Đại học)
Phương pháp giáo dục của Nho Giáo là phương pháp nêu gương Các nhà cầm quyển vua và quan phải nêu gương đạo đức để giáo hoá cho
nhiên của cổ Hy Lạp, đạo Do Thái Cơ Đốc Không có một Promethee của
Khổng giáo 7
Con người Khổng giáo đề cao là con rrgười cộng đồng, nghĩa là
con người của gia đình, họ hàng, làng mạc, quốc gia Không có một giai đoạn nào xuất hiện cái bi do cá nhân tách ra khỏi cộng đồng Không có
Oreste và Antigone ở xã hội Đông Á Vị nghĩa chống vị lợi tA gid trị dẫn
đạo sự ứng xử của cá nhân trong cộng đồng Lợi ích của người khác, của cộng đông đặt lên trên lợi ích của cá nhân Cái "vị nghĩa" của Khổng giáo như là phản để với "chủ nghĩa vị lợi" của thời kỳ chủ nghĩa tư bản sơ khai
ở phương Tây Đề cao vị nghĩa chống vị lợi đã đưa đến việc lên án nghề buôn, và hạ bệ giai cấp thương nhân xuống hàng cuối của xã hội Các nhà nho đã phê phán kịch liệt lớp thương nhân coi như thủ phạm chính tạo nên
sự đổi bại phong hoá và mất an ninh xã hội, trong cuộc tranh luận lớn về chính sách kinh tế dưới thời Hán Vũ đế
ee „Ö
` Đại học Trung tâm học liệu - Hộ Giáo dục xuất bản, 1957,tr H4, 15, JG, 17, 18
? Mạnh tử - Ly Lâu thượng
22
Trang 23Đề cao học thức là đóng góp tích cực nhất của Khổng giáo cho lịch
sử và văn minh Người quản lý đã được tuyển chọn qua thi cử chứ không phải từ gốc gác quý tộc hay từ tài sản Chế độ tuyển cử chọn người quân
lý qua khoa cử chỉ có ở Châu Âu từ thế ky XVIII, bắt đâu ở nước Pháp,
Anh, rồi Đức, Mỹ do học tập kinh nghiệm của Trung Quốc Ở Trung
: Quốc chế đệ này có từ thời nhà Đường thế kỷ thứ V, còn ở Việt Nam thì
có từ cuối thế kỷ XI thời Lý
Nhưng trọng học thức của Khổng giáo cũng có mặt trái của nó Học thức ở đây không phải là tri thức tự nhiên hay tri thức về xã hội như trong triết học Platon, Aristote của Hy Lạp mà học thức ở đây chủ yếu là đạo đức ứng xử Đề cao kinh điển, sùng bái quá khứ, cái chủ nghĩa lịch sử bảo thủ của Khổng giáo đã ngăn chặn sự sáng tạo, làm thui chột sáng kiến cá nhân, làm mất đi tính năng động của tuổi trẻ Khi người ta đặt ra một vấn
đề từ cuộc sống thì các nhà nho thường viện dẫn kinh (sách triết học và
văn học) và sử ra để giải đáp hay biện luận Bằng cách đó các nhà nho có sắn những câu trả lời cho mọi câu hỏi Nói có sách trở thành câu nói cửa miệng của mọi nhà nho Ưu điểm và nhược điểm của sự trọng học thức của Khổng giáo là ở đó
23
Trang 24CHUONG II
QUỐC GIA - CÔNG HỮU VÀ TƯ HỮU
Vào thời Trung Cổ ở Châu Âu người ta biết đến câu nói nổi tiếng của Beaumanorr "Không có đất đai nào là không có chúa" Nghĩa là tất cả đất đai đều do các địa chủ chiếm, còn ở Việt Nam thì phổ biến câu nói
"Đất vua chùa làng" Nghĩa là đất nào cũng là đất của vua, “chìa khoá của chế độ Phương Đông, đó là việc không có chế độ tư hữu ruộng đất” (Lê
“Nin)
Khởi nghĩa Ngô Quyền thắng lợi năm 936, mở đầu thời kỳ độc lập
dân tộc, sau hơn 900 năm đô hộ bởi Đế quốc Trung Hoa Chính quyền
nhà Ngô tuy đơn giản, nhưng là một chế độ quân chủ tập trung Sự xác lập chế độ quân chủ tập trung diễn ra qua cuộc đấu tranh chống truyền thống
phân tán, tự trị của công xã, bộ lạc, chống khuynh hướng cát cứ của các „
thủ lĩnh quân sự địa phương, chống lại tình trạng hỗn loạn, tranh nhau đế
vị, để xác lập chế độ quân chủ tập trung, đã điễn ra qua suốt thế kỷ X Từ
Lý Công Uẩn chế độ quân chủ tập trung đã được xác lập
Từ KhúcThừa Dụ đến Ngô Quyền, Nhà nước về cơ bản dựa vào bộ máy quân sự (appareil militaie) Đến Đỉnh Tiên Hoàng và sau đó là Lê Hoàn, nhà nước đã chuyển dần sang bộ máy nửa quân sự - nửa quan lại (appareil militaire bureaucratique)
Khi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long thì Nhà nước Về cơ bản không còn có tính quân sự nữa, tuy chức năng quân sự vẫn còn quan trọng Nhà nước thời Lý là nhà nước quân chủ quan lại Đó là mội chế độ quân chủ tập trung đứng đầu là một ông vua chuyên chế Ông uaày tập trung trong tay cả thế quyền lẫn thần quyền Dưới vua'là một triểu đình gồm các quan lại cao cấp điều hành việc nước Số quan lại này không nhiều, được tuyển lựa từ nhiều nguồn cả trong hàng ngũ tôn thất lẫn ngoài
tôn thất, và trong cả thứ dân Ví dụ : Lê Phụng Hiểu, một vị quan võ cao
` cấp trong triểu vốn xuất thân từ bình dân, là thủ lĩnh quân sự của một làng Nhà chùa cũng là nguồn cung cấp quan lại Nhiều vị quan cao cấp là tăng ni
Quyền cai trị các địa phương ở miền núi thì trao cho các thủ lĩnh địa phương (tù trưởng) họ phải tuân thủ các luật pháp và mệnh lệnh của
24
Trang 25nhà vua, và phải nộp cống phẩm Quyền cai trị các địa phương chia theo vùng, mỗi vùng gồm nhiều làng, trao cho các quý tộc tước vương và quan lại cai tri
SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT NHÀ.NƯỚC
Quyền sở hữu ruộng đất là thuộc về Nhà nước, đứng đầu là nhà vua Vua là chủ lãnh thổ toàn quốc Trong lời biện luận với Nhà Tống để đòi đất chúng lấn chiếm của ta, sứ bộ Lê Văn Thịnh có nói : "Đất thì có chủ, bọn thuộc lại đem dâng nộp và trốn đi, thì đất ấy thành vật ăn trộm của
chủ" ' Chủ đây tức là nhà vua
Quyền sở hữu của nhà vua ở đây có hai mặt Nhà vua vừa là một cá
nhân nhưng lại vừa là đại biểu cho cộng đồng lớn là Nhà nước Ông ta là người chủ đất không phải với danh nghĩa một cá nhân như các lãnh chúa phong kiến Châu Âu hay các đại địa chủ Việt Nam sau này, mà là chủ đất _ trên đanh nghĩa là chủ của nước, là người cha các công xã, người đại biển
của cộng đồng dân tộc, người quản lý cao nhất đất đai của cộng đồng,
Ông vưa có toàn quyền phân phối đất đai tr ong toàn quốc cho bất cứ ai,
cũng có quyền tịch thu ruộng đất của bất cứ ai Nhưng trong thực tế ông không làm việc này một cách tự do, tuỳ tiện như một địa chủ sử lý tài sản
riêng của mình, mà làm theo phép nước, được quy định thành văn bản hay theo truyền thống
` Mạnh Tử đã diễn tả tư cách đại biểu nhà vua (Thiên tử) thay trời chăn dân như sau:
Học trò của ông là Vạn Chương hỏi : "Vua Nghiêu lấy fhiên hạ cho Vua Thuấn việc ấy có khêng?" Mạnh Tử trả lời : "Không, thiên tử không,
thể lấy thiên hạ cho người khác được" Vậy "Vua Thuấn được thiên hạ là
do ai cho?" - “Do Trời cho", Mạnh Tử trả lời Ông giải thícl-trời cho biểu hiện trong ý chí của dân, được đân ủng hộ Lòng dân là lòng trời
Như thế vua sở dĩ là chủ ruộng đất, vì ông ta là chủ Nhà nước Lê Nin đã nói về xã hội Phương Đông: "Tất cả đất đai là sở hữu của người
chủ Nhà nước"Ÿ là theo ý đó
Chế độ sở hữu ruộng đất Nhà nước đã thiết lập trên chế độ sở hữu công xã nông thôn Đó là một chế độ sở hữu công xã bị chồng lên (surchargé) một chế độ sở hữu nhà nước Những công xã nông thôn vốn là
' Thơ văn Lý Trần, Tập 1, NXBKHXHT Hà Nội 1977, tr 297
? Mác, F Angnghen, V.I Lenin, Các xã hội tiên tư bản Tr 444
25
Trang 26những công xã tự do tập thể những nông dân liên hiệp với nhau một cách
tự nguyện, trong cuộc đấu tranh chỉnh phục những miền đất gieo trồng Những công xã mới luôn luôn được tái sinh do phát triển dân số và quy luật bành trướng quảng canh Những công xã tự do ấy lại trở thành những công xã lệ thuộc Nhà nước quân chủ, là do Nhà nước quân chủ đã dùng
` bạo lực quốc hữu hoá ruộng đất, biến sở hữu công xã thành sở hữu Nhà
nước, buộc cấc công xã phải nộp tô thuế cho Nhà nước
Bởi vì các công xã nông thôn vốn là công xã tự do ở bất cứ đâu Ở
Châu Âu trong thời kỳ phong kiến hoá, các công xã nông thôn lần lượt thành công xã lệ thuộc phong kiến, rồi sau đó biến thành sở hữu phong kiến Ở Việt Nam, các công xã nông thôn cũng trải qua các bước: ,
Khi mới thành lập các công xã là tự do- Nông dân cầy cấy ruộng công và được hưởng hoa lợi, chỉ phải đóng một phần nào đấy vào quỹ chung của công xã Bước thứ hai, các công xã trở thành công xã lệ thuộc, nhưng nó không thuộc vào quý tộc địa chủ mà lệ thuộc vào Nhà nước : Công xã không tự nguyện lệ thuộc Nhà nước bằng việc tự mình đăng ký ruộng đất để nộp tô thuế và chịu lao địch Trái lại nó còn chống lại và vẫn chống lại mãi sau khi đã bị lệ thuộc Nhà nước
Ngày nay, chúng ta còn biết được cả một quá trình thành lập một công xã và công xã từ chỗ là tự do đến chỗ bị lệ thuộc Nhà nước, ruộng đất của công xã bị quốc hữu hoá, coi như sở hữu Nhà nước, phải đăng ký vào sổ điển và nộp tô thuế cho Nhà nước như thế nào qua tài liệu về lịch
sử các làng xã khu đạo Hà Nam thế kỷ XV '
Quan hệ giữa Nhà nước và công xã là quan hệ cống nạp Nhà nước quản lý các công xã không chỉ về ruộng đất mà còn quản lý về nhân lực Hơn nữa về nhân lực công xã còn bị quản chặt hơn so với quản về ruộng
QUẦN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
Về ruộng đất, có lẽ để khuyến khích việc khẩn hoang hồi này đất đai còn rộng, nên việc đo đạc ruộng hàng năm không tiến hành Sử cũ còn ghi hai lần Nhà nước Trung ương tiến hành việc đo ruộng (một cách quy m6 trong toàn quốc) ‘
"Nong thon Viet Nam trong lich sir Tap 1, NXBKIIXI, HA NOi 1976
26
Trang 27- Lần thứ nhất năm 1092 "làm số đính đánh thuế"?
- Lần thứ hai năm 1398, Hồ Quý Ly ra lệnh "người nào có ruộng thì-
tự công khai số mẫu lại bạ lệnh cho dân dựng biển ahi rõ tên ở bờ
ruộng, các lộ phủ, châu huyện cũng phải đo, khám, làm sổ" !
Đây là những đợt tiến hành trên quy mô cả nước, còn việc các làng
xã mới lập, hoặc diện tích mới khai phá chính quyền Trung ương hay địa phương cho người về khám xét, đo đạc để đánh thuế thì sử không thể ghi hết được
Tuy nhiên, nếu về ruộng đất, Nhà nước chỉ kiểm soát ở một mức độ nhất định thì nguồn nhân lực tức là dân đỉnh (người đến tuổi lao động, làm lao địch và binh dịch) thì Nhà nước quản rất chặt Quyền lực tập trung của chính quyền Trung ương biểu hiện chủ yếu là ở đấy
Việc lập sổ đỉnh đã tiến hành rất sớm, từ thời Lý và được thực hiện
đều đặn theo định kỳ Phan Huy Chú nhận xét : "Đời Lý kiểm soát hộ tịch rất là nghiêm ngặt Dân đỉnh nào đến I8 tuổi thì ghi vào sổ vàng gọi là
Hoàng nam, đến 20 tuổi gọi là Đại nam" Đến đời Trần, Nhà nước quy định “Hàng năm đến đầu mùa xuân các quan phải khai báo nhân khẩu" trong xã gọi là đơn số, rồi sau đó theo đó mà làm số Phải khai rõ các hạng tôn thất, quan văn, quan võ, quan theo hầu, quan nhân, tạp lưu, người già yếu, tàn tật, ở nhờ, xiêu tấn, v.v
Quyền sở hữu ruộng đất của Nhà nước thể hiện qua các hình thức
phong cấp đất đai cho quý tộc, quan lại Chế độ phong cấp đất đai chủ yếu thể hiện trên các ruộng công của làng xã, gọi là quan điển Ruộng đã
đem phong cấp vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước Người được phong chỉ được hưởng tô thuế hết đời Sau khi chết, hoặc nửa chừng bị cách chức, phải trả lại ruộng đất ấy cho Nhà nước
Chế độ phong cấp ruộng đất thời Lý Trần có hai hình thức:
1 Ban cho một số hộ để người được phong thu lấy tô thuế mà
hưởng
Dai Việt Sử ký Toàn thư của Ngô Sĩ Liên, tr 242, tap I
„ Đại Việt Sử ký Toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Tập HH, Tr 204
? Đại Việt Sử ký Toàn thư, tập II, Tr 9
27
Trang 28Hoặc là phong cho cả một vùng zộng lớn Ví dụ Thái uý Lý Thường Kiệt được phong 4.000 hộ, Thái uý Lưu Khánh Đàm được phong 3.000
hộ, Tướng Lý Bật Nhiễm được phong 1.500 ho
Hoặc là phong lẻ tẻ Ví dụ như Sư Mẫn Giác được ăn lộc 50 hộ, Sư Minh Không được hưởng vài trăm hộ để ăn lộc
2 Ban Thái ấp, đây là hình thức riêng của ,đời nhà Trần Thái ấp cũng như ruộng phong theo hộ trên kia, người được phong chỉ được hưởng hết một đời, sau đó ruộng đất lại thuộc sự phân phối của Nhà nước Nhiều tài liệu sử ghi rõ một thái ấp nào đó được phong cho một quý tộc, sau khi người này chết đi, thái ấp ấy lại được lấy lại đêm phong cho người khác
Thái ấp thực sự là một làng mà nhà vua phong cho quý tộc với tư
cách là quan cại trị được hưởng toàn bộ tô, thuế, lao dịch của dân xã (cầy
ruộng công) Thời Trần có tất cả 6 thái ấp được sử ghi lại:
1.Vạn Kiếp, thái ấp của Trần Quốc Tuấn
2 Quác Hương, thái ấp của Trần Thủ Độ
3 Chí Linh, thái ấp của Quốc Chấn
4 Dưỡng Hoà, thái ấp của Trần Khánh Dư
5 Cố Mai, thái ấp của Trần Khánh Chân
6 Bạch Hạc, thái ấp của Các Trưởng Công Chúa
Các thái ấp trên đây đều là làng Gần hai thế kỷ, cững chỉ có 6 làng
được phong thái ấp cho đại quý tộc Như vậy các thái ấp không quá I'% số
làng xã thời đó
Ngoài chế độ sở hữu ruộng đất đó của Nhà nước từ thế kỷ XII đã xuất hiện những thành phần sở hữu ruộng đất tư nhân của nỗng dân, địa chủ Chúng ta không có tài liệu thống kê để có thể biết được tỷ trọng trong thành phần này, nhưng trong suốt thế kỷ XIV, nhiều lần Nhà nước phải kêu gọi nhà giầu bỏ thóc phát chẩn, bỏ thóc vào kho Nhà nước sẽ được hưởng quan tước (đó là một hình thức bán quan tước - titre
fonctionnaire), điều này đã nói lên vai trò của giai cấp địa chủ và nông
dân giầu
Có hai hình thức sở hữu thuộc ba phương thức sản xuất khác nhau
ở các thế kỷ XI - XV
28
Trang 29| Hùnh thức sở hữu tiểu nông Đó là những người bán ruộng, cầm ruộng mà sử có nói rất nhiều vào những năm 30 của thế ky XH, và những người hiến ruộng cho nhà chùa mà một số bia có ghi chép Ví dụ, bia Chùa Hương Phú.(Xã Chính Tân, Huyện Gia Viễn, Tỉnh Ninh Bình) ghi tên những người hiến ruộng, người thì l sào, 2 sào, 3 sào, 4 sào, cao nhất
- Tà 5 sào Đó là những tiểu nông Nó phân biệt rõ tệt, chẳng hạn Chùa Báo
An thì ghi tên những quan lại, địa chủ: Nguyễn Công cúng 126 mẫu do bỏ
ra 1.000 quan tiền để mua cúng cho chùa :
2 Chế độ sở hữu lớn của địa chủ, phân lớn là đại địa chủ quý tộc
và quan lại Đây là sự chuyển biến một bộ phận quý tộc tít cống (những
kẻ được phong cấp ruộng đất hưởng tô thuế quan điền), thành địa chủ phong kiến Những đại quý tộc và quan lại cao cấp vì được hưởng tô thuế của hàng nghìn hộ, nên nó đã tích luỹ một số của cải lớn Sử có nói đến Sự phát triển của chế độ nô lệ gia trưởng đời Trần Những đại quý tộc nuôi hàng trăm có khi hàng ngần nô tỳ Khi nhà nước quân chủ cho phép bán một phần quan điền làm ruộng tư, và cho phép lập điển trang riêng, thì đại
quý tộc đã chuyển thân phận nô tỳ thành nông nô, và chiêu tập những tiểu
nông phá sản làm nông nô để khai phá đất đai lập điển trang, hoặc canh
tác những ruộng đất của họ mua được hay chiếm được
Vào đầu thế kỷ XIV có nhiễu tài liệu nói về việc hiến rưộng của quý tộc, nói lên chế độ sở hữu địa chủ đã phát triển trong giới quý tộc Ví
du, nam 1324 Di Loan cư sĩ, con của Công Chúa Nhật Trinh đã cúng 300 mẫu ruộng cho nhà sư Pháp Hoa Cũng năm đó, Trần Quang Thiều, tước vương đã lấy hơn I.000 mẫu và hơn 1.000 nông nô cấp cho Chùa Quỳnh Lâm (theo Đại Việt Sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên)
Sự phát triển của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất: chế độ sở hữu phong kiến (chế độ nông nô) đã tạo nên một mâu thuẫn mới giữa giai cấp quý tộc thu cống (tầng lớp quý tộc hưởng tô thuế và lao dịch công xã) và
giai cấp lãnh chúa (lãnh chứa mà tôi dùng ở đây là địa chủ bóc lột nông
nô, để phân biệt với địa chủ bóc lột địa tô) eae,
{ Về chính trị và quân sự các quý tộc lãnh chúa càng mạnh thì càng đe doạ chế độ quân chủ tập trung và chuyên chế
2 Các lãnh chúa hay điền trang của lãnh chúa càng mở rộng, ruộng công càng thu hẹp lại thì nguồn tài chính của nhà nước càng eo hẹp, giai cấp quý tộc thu cống càng thua kém giai cấp lãnh chúa phong kiến
Từ nay, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa công xã và Nhà nước thu cống lại xuất hiện và ngày càng phát triển Mâu thuẫn giữa giai cấp quý
29
Trang 30tộc và giai cấp (hay đẳng cấp theo nghĩa là giai cấp còn non) địa chủ phong kiến và địa chủ thường
Và giai cấp quý tộc thu cống thường xuyên có khuynh hướng chuyển thành giai cấp địa chủ, một mặt của sự biến chuyển từ trên của sự quá độ từ phương thức sản xuất cống nạp sang phương thức sản xuất phong kiến
Và từ nay cũng xuất hiện một khuynh hướng nhằm cân bằng sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân
Sở hữu tư nhân về ruộng đất đã phát triển trong các kẽ hở của SỞ hữu Nhà nước Khi nó đã phát triển tới một mức nhất định thì Nhà nước lại tiến hành quốc hữu hoá ruộng đất biến một phần ruộng tư thành ruộng
công
Đó là quốc hữu hoá theo kiểu phương thức sản xuất Châu Á mà Lê
Nin đã một lần nói đến! „
Những hành vi thường xuyên hay từng đợt quốc hữu hoá ruộng đất -
ở Việt Nam cho đến cuối thế kỷ XIX là rất tiêu biểu cho quốc hữu hoá ruộng đất theo phương thức sản xuất Châu Á này
TƯ HỮU HỌÁ
Dưới thời nhà Lý, chế độ công hữu ruộng đất (tức sở hữu công xã
và sở hữu nhà nước) bao gồm đại bộ phận đất đai canh tác Chế độ tư hữu ruộng đất từ thế kỷ XII chỉ xuất hiện trong những khe hở của chế độ công hữu về ruộng đất Việc phong cấp ruộng đất không vĩnh viễn (thực phong, thực cấp) chỉ tạo nên một giai cấp quý tộc nửa địa.chủ (địa chủ hưởng sở
hữu địa tô mà không có ruộng đất tư hữu) Ruộng công xã bị đặt trong chế
độ sở hữu Nhà nước và được luật pháp Nhà nước bảo vệ có
Đến đầu thế kỷ XIII, dưới thời Trần Thái Tông, Nhà nước quý
tộc ban hành những chính sách nhằm khẳng định quyền tư hữu rưộng
đát, cho phép phát triển chế độ tư hữu ruộng đất Đó là điêu lệnh năm
1254 cho bán ruộng công làm ruộng tư "mỗi diện ruộng là 5 quan tiền cho nhân dân mua làm của tư" Năm 1266, Trần Thái Tông hạ lệnh "cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng hoang, lập làm điển
' “Chừng nào ở nước Nga Mát-xcơ-va có sự quốc hữu hoá ruộng đất thì chừng đó phương thức sân
xuất châu Á là cơ sở kinh tế của nố" Lênin toàn tập, tập 10
30
Trang 31trang” Sử cũ nói rõ : vương hầu có,trang áp thực bắt đầu từ đáy Đây là những biện pháp có tính chất cách mạng Xã hội Việt Nam từ giữa thế kỷ XIII chuyển hình thái xã hội có tính chất Châu Á sang hinh thai mang
Sau những biện pháp kinh tế thời Trần Thái Tông, chế độ tư hữu đã phat triển vào nửa sau thế kỷ XIH Trước tiên là sự phát triển chế độ sở hữu lớn về ruộng đất - tức là các thái ấp, điển trang của các quý tộc Sử cũ bắt đầu nói ráí nhiều đến việc quý lộc cướp ruộng của dán Căn cứ ở việc hiến ruộng, cúng vàng cho nhà chùa của quý tộc được ghi trong Tam:
tổ thực lục có thể thấy đầu thế kỷ XIV số ruộng đất và tiên của tích luỹ
trong tay đại quý tộc là rất lớn Chẳng hạn, một Văn Huệ Vương Trần
Quang Thiéu đã cúng cho Chùa Quynh Lam năm 1324 trên 1.000 mẫu ruộng và nô tỳ trên I.000 người v.v Đại quý tộc có điền trang, thái ấp riêng, có hàng nghìn nô tỳ họp thành quân đội riêng, chia nhau trấn thị
những vùng xung yếu trong nước và giữ những chức vụ quan trọng nhất
trong triểu đầu hàng văn võ Các điển trang thái ấp của đại quý tộc càng
phát triển thì thế lực chính trị (quân sự) của chúng càng tăng cường và _ chính quyền quân chủ trung ương càng yếu Chúng (a sẽ thấy rõ điều này
từ nửa sau thế kỷ XIV, nó là nguyên nhân của việc nhà nước quân chit tấn công ào thế lực quý tộc cuối thế kỷ XIV
._ Cùng với sự phát triển các điền trang của quý tộc, là sự xuất hiện một thành phần kinh tế tiến bộ, đó là nên kinh tế tiểu nông, tiểu thủ công -
cơ sở của nền sản xuất hàng hoá phát triển cuối thế ký XIH và thế kỷ
XIV Lúc này giai cấp thương nhân đã hình thành với tư cách một giai cấp
độc lập và phát triển: Sự xuất hiện giai cấp thương nhân là quan trọng như Angghen đã nói về vai trò giai cấp thương nhân, một giai cấp chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, không tham gia.sin xuất nhưng lại chiếm toàn quyền lãnh đạo sản xuất, dưới cái lý do làm cho những người sản xuất khỏi phải khó nhọc và gặp những rủi ro trong việc trao đổi, mở rộng -
việc buôn bán đến những thị trường xa xôi nhất và ly do dé lam cho
thương nhân trở thành một giai cấp có ích nhát trong dân chứng Đó là giai cấp ký sinh, những kẻ thực sự ăn bám, hót lấy phần tinh tuý của sản
xuất, nhanh chóng thu được những của cải kếch xù và đã gây được mội
ảnh hưởng xã hội tương ứng với của cải đó
Cũng như trong lịch sử ở bất cứ đâu - Tây Âu, nước Nga hay nước Nhật - khi kinh tế hàng hoá phát triển, giai cấp thương nhân giầu có xuất hiện, thì người ta thấy xuất hiện sự xa hoa của giới quý tộc Thời Lý, quý
tộc dùng số của cải tích luỹ được vào việc xây chùa chiến Được ăn lộc
hàng vạn hộ như Lý Thường Kiệt thế mà sử cũ không hề nói đến những lâu đài cung thất của ông Từ cuối thế kỷ XI, đưới thời Trần, sử lại nói
3]
Trang 32rat nhiéu dén su gidu cé xa hoa, viéc x4¥ đựng lâu đài cung thất của quý
Nam 1270, Tinh quéc Dai Vuong Quéc Khang dung phu dé ở chậu Diễn “lang va vũ vòng quan lộng lẫy quá mức bình thường” vua nghe tin sai người đến xem, Quốc Khang hoảng sợ phải tô tượng Phật để thờ, biến
thành chùa
Từ đầu thế kỷ XIV, sử cũ có nói rấ nhiều đến sự xa hoa của quý tộc Năm 1347, vì cái áo bằng thứ vải hoa rất quý, một thước 300 quan do thương nhân Tống tiến vua mà một viên quan trong cung đã bị giết chết vì
tư thông với một cung nữ ăn cắp chiếc áo ấy Để có nhiều dé quý giá, Trần Du Tông còn ra lệnh kiểm kê tài sẩn các nhà quyền quý có nhiều
đồ quý báu, sau khi chết phải nộp cho nhà nước chứ không được để cho
con cháu Còn Trần Nhật Duật - một đại quý tộc - thì "cựu kỳ phú quý" không ngày nào không mở chèo hát, bầy trò chơi trong nhà:
Cũng như ở Châu Âu, công thương nghiệp ngày càng phát triển giai cấp quý tộc càng xa hoa thì càng cần tiển, do đó càng phụ thuộc vào thương nhân Vào thế kỷ XVI, 80% quý tộc Pháp bị mắc nợ Ở Nhật từ thế kỷ XVI, khi thành thị và công thương nghiệp phát triển thì thủ đô chính trị là Giang Hộ trở thành điêu tàn và thường xuyên túng thiếu Còn
"thủ đô kinh tế tài chính” là Đại Bản thì trên bến dưới thuyền, nhộn nhịp quanh năm Thương nhân Đại Bản không phải lên chầu Tướng quân từ Giang Hộ đến vay tiền Các lãnh chúa Đại Danh, giai cấp lãnh đạo tối cao của quốc gia, thường vay tiền trước của thương gia Giang Hộ rồi thu thóc thuế trả sau Nhiều thương gia Đại Bản đã phá sản vì nghề buôn thóc non,
do lãnh chúa Đại Danh vỡ nợ không trả được Ở Việt Nam vào thế kỷ XIV; người ta chưa thấy sự phụ thuộc của quý tộc vào thương nhân, nhưng có thể thấy những biểu hiện sau đây:
1 Nhà nước nhiều lần đã phải kêu gọi nhà giàu bỏ thóc giúp sào quân lương hoặc bỏ thóc phát chẩn cứu đới Hiện tượng này xảW-ra lần
đầu tiên vào cuối thế kỷ XHI Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên,
“Trần Hưng Đạo đã kêu gọi nhà giầu bỏ thóc ra cấp quân lương, sẽ được thưởng quan tước Rõ ràng nhà giầu đây không phải là quý tộc, mà chỉ có
thể là địa chủ thường và thương nhân Năm 1358, hạn hán, đói kém nhà
ˆ vua kêu gọi nhà giầu phát thóc chẩn cấp cho dân, Nhà nước định giá trả
tiên Bốn năm sau, năm 1362, có đói lớn, Nhà nước lại kêu gọi nhà giầu
bỏ thóc phát chẩn, Nhà nước sẽ ban tước phẩm theo thứ bậc khác nhau Năm 1375 kêu goi "nha gidu ở các lộ” nộp thóc vào Nhà nước rỗi ban phẩm tước Năm 1405 dân đói, kiểm tra số thóc của nhà giầu, bắt bán cho dân theo giá thoả thuận
Trang 33Những nhà giầu có nhiều thóc tích trữ trên đây cố nhiên không phải quý tộc, vì ở đây có chuyện bán thóc thưởng tước Đó là những địa chủ ˆ_ thường và thương nhân Ở bất cứ đâu có thương nhân là có tích trữ đầu cơ thóc gạo, làm cho nạn đói trầm trọng vì nạn đầu cơ của chúng Địa chủ và thương, nhân trữ thóc cũng nhằm mục đích đầu cơ - để bán giá cao -chứ : không phải để "tích cốc phòng cơ” như người tiểu nông bình thường
2 Về mặt xã hội, uy lực của đồng tiền đã xoá nhoà ranh giới giai cấp quý tộc, bình dân, làm cho quý tộc có những quan hệ “bình đẳng" với
bình đân
Sử cũ có nói đến việc Hoàng Tử Minh Hiến hay đến chơi nhà Phạm Ngũ Lão ngồi cùng chiếu nói chuyện bình đẳng, vì Phạm Ngũ Lão giầu có thường tặng vàng ngọc cho Minh Hiến Vương Minh Hiến đòi cái gì, Ngũ Lão cũng không tiếc Vua quở trách Ngũ Lão rằng : Minh Hiến Vuong là Hoàng Tử sao dám khinh xuất Phạm Ngũ Lão có nói cho Minh Hiến Vương biết, nhưng ông quý tộc tham lam này vẫn cứ đến, và ông bình dân cậy của này vẫn cứ tiếp Ngô Sĩ Liên bình luận như sau : "Một người thì ' cậy của mà không thấy thói giản dị, một người thì ham của mà quên mất
phận trên dưới vậy”
Ngay bản thân nhà vua, vì lòng tham cũng phá ranh giới phân chia quý tộc và bình dân, vua và tôi, khi nhà vua triệu các nhà giầu làng Đình Bảng và Nga Đính - những đại thương nhân - vào cung đánh bạc với nhà vua, mỗi tiếng 300 quan Cũng vì lòng ham của mà nguyên tắc kết hôn đồng tộc rất nghiêm ngặt của quý tộc nhà Trân đã bị Vua Minh Tông phá
vỡ khì nhà vua đem gả Công chúa Nguyệt Sơn cho trại chủ Ngô Dẫn, con một gia đình thương gia chuyên buôn bán ngọc ở Vân Đồn Chính Ngô Dẫn cậy giầu đã tổ ý khinh bi cả Công chúa, vì thế bị nhà vua trả thù bằng
' Không phải giai cấp quý tộc chỉ quan hệ với thương nhân, mà bản thân một số quý tộc cũng tham gia kinh doanh Việc Đại quý tộc Trần Khánh Dư buôn than, buôn nón, buôn lụa không phải là trường: hợp đặc biệt cho nên trường hợp Vua Trần Dụ Tông phát triển kinh doanh riêng: Sai tư nô khai khẩn bờ bắc sông Tô Lịch để trồng hành tỏi và các thứ rau, sản xuất quạt để bán cho dân, không phải là hiện tượng kỳ lạ
Đến đây có thể thấy sự xuất hiện lực lượng xã hội mới đời Trân, thế
kỷ XIV đó là giai cấp tiểu nông, tiểu thủ công và thương nhân Giai cấp tiểu nông và công thương họp thành giai cấp tiến bộ và giai cấp đại địa chủ - quý tộc hay địa chủ thường họp thành giai cấp bảo thủ.
Trang 34Có thể nêu lên những mặt kìm hãm sức sản xuất của Chế độ Đại sở
hữu quý tộc như sau:
I Sự bành trướng của kinh tế thái ấp của lãnh chúa làm cho những tiểu nông bị phá sản thành tá điền, hoặc nô tỳ, tạo nên tình trạng đói khổ, , trộm cướp và những cuộc nổi dậy của nông dân nô tỳ
2 Giai cấp đại quý tộc dùng tài sản đồ sộ của mình như ruộng đất, _ thóc tô và tiền bạc vào những chỉ phí xa xỉ, có tính chất ăn bám phi sản xuất như xây dinh thự, nhất là chùa chiền Các ngôi chùa với trang bị và các chỉ phí rất lớn đều do quý tộc bỏ tiên Mỗi đại quý tộc nuôi hàng nghìn nô tỳ để hầu hạ và làm quân đội riêng - với cả một triểu đình nhỏ, gồm những gia tướng, gia thần Hiến cho chùa hàng vạn mẫu ruộng và những số tiên bạc rất lớn để có thể nuôi sống hàng trăm vạn nhà sư trên toàn quốc, họp thành một đoàn quân ăn bám khổng lồ Chính giai cấp quý tộc đã nuôi các nhà sư này Do đó ở thế kỷ XIV, có tình trạng ngược đời
là những năm đói kém, người tiểu nông lại tự nguyện chứ không phải bị bắt buộc (bị bắt bị bắn hoặc vì nợ) đến các nhà quý tộc xin làm gia nó, hoặc đến chùa xin làm thầy chùa Như năm 1344, sử cũ có ghi: "Bấy giờ mất mùa, đói kém, nhân dân phần nhiều đi làm thầy chùa và làm gia nô
_ Nhu thé viéc han ché Ché d6 Dai sé hit ctia quy téc, thi tiêu chế
độ nô tỳ, đồng thời thu hẹp đội ngũ tăng nỉ là một yêu cầu của xã hội - Kinh tế cấp thiết để loại dẫn những nhân tố kìm hãm sản xuất phát triển Chúng ta sẽ thấy cải cách của Hồ Quý Ly nhằm hạn điền, hạn nô, va bắt nhà sư dưới 50 tuổi phẩi hoàn tục là nhằm loại bỗ những thế lực ăn bám
xã hội rất to lớn thời ấy
Sức mạnh của quý tộc lãnh chúa không những có hại cho sự phát triển kinh tế như đã nói trên đây mà còn làm cho Nhà nước quân chủ ngày càng suy yếu Có thể thấy dễ dàng suy yếu của Nhà nước quân chủ trung
~
I Lãnh địa của quý tộc càng phát triển thì rưộng công và ruộng tư
- (của nông dân) càng bị thu hẹp, do đấy nguồn tài chính của bộ máy chính quyền trung ương chủ yếu dựa vào tô thuế sẽ ngày càng giảm sút (thái ấp, - điển trang của quý tộc tất nhiên là không mất thuế) Đấy là lý do khiến cho từ giữa thế kỷ XIV Nhà nước lâm vào khủng hoảng tài chính liên
miên Trước kia ở thời nhà Lý, những lần đói kém mất mùa Nhà nước đều tha tô thuế, hoặc đem thóc kho nhà nước phát chẩn hay cho dân vay Còn
bây giờ, ngay từ cuối thế kỷ XIII, Nhà nước kêu gọi tư nhân (nhà giầu) góp thóc làm quân lương, nhà Lý hoàn toàn không có hiện tượng này Và
từ giữa thế kỷ XIV thì Nhà nước liên tục kêu gọi nhà giầu bỏ thóc cứu đói,
34
Trang 35hoặc nộp thóc vào kho Nhà nước hoặc nộp làm quân lương Năm 1378, sử còn nói đến tình trạng “kho tang trống không”
2 Bọn quý tộc vương hầu ngày càng giầu có xa hoa thì càng chỉ muốn thu về quản lý các thái ấp, điển trang của riêng mình, bỏ mặc quốc gia, giao cho bọn quan chức chủ yếu là Nho Sĩ Cho nên, ở buổi đầu nhà Trần các vương hầu còn thay nhau về triều đảm nhiệm các chức vụ cao
nhất như Tể tướng, Hành khiển, nhưng bước vào thế kỷ XIV thì những
chức vụ quan trọng trong triểu đình dần dân được giao cho Nho Sĩ Thật ra
từ cuối thế kỷ XIIL, Nho Sĩ dần dân được giao các chức vụ quan trọng Thật có ý nghĩa, khi năm 1366 có lệnh quý tộc lập điển trang riêng, thì
một năm sau 1367, có lệnh tuyển Nho Sĩ vào những chức vụ quan trọng
"Người có nho học được giữ quyền bính bắt đầu từ đây"
ˆXu hướng thay dân Nhà nước quân chủ do quý tộc nắm: thành Nhà nước quản chủ do quan lại nắm vào cuối thế kỷ XIV càng thể hiện
16
3 Từ cuối thế kỷ XIV, khi mà nhà Minh đã thiết lập nền độc lập va thống nhất trên toàn lãnh thổ Trung Hoa va bắt đầu xúc tiến việc xâm lược Việt Nam (chưa kể sự tấn công và cướp phá liên tục của Chiêm Thành) thì vấn đề tăng cường Nhà nước quân chủ tập trung, tăng cường lực lượng quốc phòng trở thành cấp thiết số một Hoàn cảnh khách quan này đầy mạnh xu hướng quân chủ quan lại phát triển Người ta thấy dưới thời Trần Nghệ Tông, chức vụ cao nhất về đân sự và quân sự dần dần được trao
chovcác quan lại ngoài quý tộc Năm 1271, Hồ Quý Ly được cử làm
Trung tuyển Quốc thượng Hầu, Phan Nghĩa làm Lang trung bộ Lễ, Đỗ Tử Bình làm Hành khiến tham mưu quân sự, Hồ Tông Xác làm Học sĩ Viện Hàn lâm
_ Đến năm 1375, một chủ trương quan trọng nữa được công bố: tuyển chọn tá? cả những quan viên người nào có tài, luyện tập nghề vố thông hiểu thao lược thì đêu được làm tướng coi quân dù không phẩ tôn thái Như thế là trước đây kẻ sĩ lần lượt được giao phó những chức vụ quân sự cao nhất Chỉ sau khi nhà nước quân chủ đã chuyển giao chính quyền vào tay tầng lớp quan lại, nhất là lực lượng quân đội trung ương và gạt dần quý tộc ra khỏi các chức vụ quan trọng nhất, thì lúc ấy nhà nước quân chủ mới tiến hành bước tấn công cuối cùng quyết định vào toàn bộ giai cấp quý tộc nhằm (ước bỏ thế lực kinh tế - chính trị của quý tộc và tập trung sức mạnh kinh tế, chính trị quân sự vào nhà nước trung ương Chế độ quân chủ phân quyền của giai cấp quý tộc lãnh chúa, chuyển thành chế độ quân chủ tạp quyền của giai cấp quan lại Nhà nước quân chủ nhà Trần do quý
35
Trang 36tộc nắm từ thời Trần Nghệ Tông chuyển dân sang quan liêu hoá do tầng
QUỐC HỮU HOÁ LẦN THỨ NHẤT
Năm 1397, Hồ Quý Ly lập phép Hạn điền Sử cũ có nói : Vì trước
đây các nhà tôn thất thường sai nô tỳ đấp đê ngăn nước mặn ở địa phương
những nơi ven biển, hai ba năm khai khẩn thành ruộng lập trại riêng Đây
là tình hình có từ giữa thế kỷ XIH
Bấy giờ Nhà nước quy định: chỉ có Đại vương và Trưởng công chúa thì ruộng không bị hạn định, còn thứ nhân không được qua mười mẫu
Người nào ruộng quá hạn đị: thì phải nộp vào quan - nghĩa là biến
thành ruộng của Nhà nước (quốc khố điển) Như thế, cải cách của Hồ Quý
Ly năm 1397 nhu la phẩn đề của chủ trương năm 1266 ; nhằm khuyến khích quý tộc bỏ vốn chiêu tập dân nghèo khai khẩn đất hoang lập điền trang riêng Phép hạn đin này nhằm xoá bô sở hữu ruộng đất của quý tộc
và của địa chủ, chỉ còn lại ruộng của tiểu nông bao gồm cả phú nông Năm 1398, Hồ Quý Ly hạ lệnh đo tuộng của dân Sử cữ chép: Người.nào có ruộng phải khai báo số mẫu trên mặt ruộng cắm thẻ đề tên mình Ruộng nào không có người khai nhận thì nhà nước lấy làm ruộng công Về chủ trương này, lúc ấy đã có người vạch ra : "Đặt ra phép này chỉ để ăn cướp của dân" Có thể giải thích câu nói đó như sau: Ngày xưa các xã thường ẩn lậu ruộng để giảm bớt số tô đóng cho nhà nước Những ruộng ẩn lậu trước đây đã không khai, giờ đây tất không dám nhận Dựa vào đó nhà nước tịch thu làm ruộng công :
Nam 1401, nhà Hồ lập phép Hạn nó, quy định số gia nô được dùng
theo cấp bậc, số thừa phải xung công, nghĩa là phải trở thành nô lệ nhà
nước Mục đích cải cách này được sử cũ ghi rõ : "Nhằm đè riến Thế lực họ
Tran" vi quý tộc nhà Trần có hàng trăm, hàng nghìn gia nô để làm rudng, hầu hạ và làm quân đội riêng
Về thuế ruộng, thời Trần mỗi mẫu ruộng tư nộp 3 thăng thóc, đến nhà Hồ (1402) tăng lên 5 thăng Thuế đỉnh nói chung cũng tăng thêm Ngoài ra, chúng ta có thể nêu thêm những chính sách quan trọng khác - năm 1396, ra iénh tdi cd nhiing nha sư chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục Năm 1405 có nạn đói, nhà Hồ hạ lệnh cho quan các phủ, châu, huyện
' Việt sử Thông giám Cương mục Tập 7 tr 3I
36
Trang 37kiểm tra số thóc của nhà giầu bắt bán cho dân theo giá hai bên cùng thoả thuận Đây là biện pháp tấn công vào bọn thương nhân đầu cơ vào thóc
gạo (bởi vì lớp địa chủ đã bị xoá bỏ từ 8 năm về trước theo chính sách hạn điển) Chính bọn đầu cơ này đã gây nên nạn đói Vì sử không hề ghi thiên tai mất mùa kèm với nạn đối như thường thấy từ trước đến nay Đã không phải là chẩn cấp mà là bán thóc theo giá thoả thuận, nghĩa là người ta có _ tiến nhưng không đong được thóc Nạn đầu cơ khá rõ, Hồ Quý Ly còn
- dùng một biện pháp mạnh nhằm thu hep ting lớp thương nhân - bất họ chuyển sang sẳn xuất nông nghiệp Đó là năm triểu đình hạ lệnh dân các
lộ người nào không có ruộng mà có của rời đến lộ Thăng Hoa đất Chiêm Động và Cổ Luỹ của Chiêm Thành cũ - để khai khẩn đất đai trồng trọt -
“không có ruộng mà có của" đó chính là tầng lớp thương nhân rất phát
_Tóm lại, cải cách của Hồ Quý Ly nhằm tước bỏ sở hữu lớn của quý tộc, địa chủ; tước bỏ nô tỳ của quý tộc, đo đó tước bỏ thế lực chính trị quân sự của lãnh chúa, đánh vào kinh tế nhà chùa, bắt sự hoàn tục và đánh vào bọn đầu cơ thóc gạo gây ra nạn đói Về mặt xã hội nó gây nên tình trạng bất mãn trong nông nô, nô tỳ, và giới công thương Những nông
nô, nô tỳ của quý tộc giờ đây thành nông nô, nô tỳ của nhà nước, họ bị nhiều tầng lớp áp bức hơn và bị bóc lột nhiều hơn Những tiểu nông cũng: bất mãn vì thuế ruộng tăng lên gấp đôi, thuế đỉnh nặng và vì họ cũng bị nhà nước cướp một phần ruộng tư của họ, và ruộng khẩu phần của làng
xã Tầng lớp công thương bất mãn vì họ buộc phải đi khai hoang làm ruộng (ở đây chưa nói đến việc phát hành tiên giấy)
Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly có đem lại một tác dụng tức thời, tích cực do chỗ nó tăng cường lực lượng kinh tế và tài chính của Nhà nước, giải quyết được nạn khủng hoảng tài chính kéo dài gần nửa thế kỷ, nhờ đó xây dựng lực lượng quốc phòng mạnh để đối phó với nguy cơ xâm lược từ ngoài cửa ngõ Có thể nói, trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ lực lượng quốc phòng của ta lại được tăng cường đến thế Quân đông vũ ˆ khí nhiều, đóng nhiều thuyền chiến lớn, xây dựng thành 4 tri _kién cố
Nhưng lại thua rất nhanh vì mất lòng dân , :
Sau khi đánh đuổi quân Minh và lên ngôi vua, Lê Lợi tiếp tục khuynh hướng chính trị của Hồ Quý Ly, tăng cường Chế độ sở hữu Nhà nước, chế độ quân chủ tập trung và quan liêu
Ngay năm đầu khi chiến tranh vừa kết thúc, Lê Lợi hạ lệnh kiểm kê tài sản toàn quốc: kiểm tra các thổ sản như đồng, sắt, dâu, gai, tơ lụa, keo, sơn, sáp ong cho đến cả đầu, muối tiêu, dây mây và điển sản của những nguy quan, các hộ tuyệt tự, lính đào ngữ Tất cả đều phải liệt kê đầy đủ, trình nhà vua biết để xung công vào nhà nước Trên đây không kể đến -
37
Trang 38những đồn điển của bọn quan lại nhà Minh và các quý tộc nhà Trần đầu hàng giặc Những ruộng đất đó cố nhiên đều xung công Thời Minh, chế
độ đồn điển rất phát triển Theo An Nam chí nguyện trên đất Việt Nam chiếm đóng có 72 trang điển Những trang điển thời Minh bên Trung Quốc trung bình khoảng 100.000 mẫu (mẫu Trung Quốc) Như vậy, dù trang điển của quan lại Trung Quốc ở Việt Nam nhỏ hơn, song chắc cũng không thể quá nhỏ Do đấy thì số ruộng của 72 trang điển này cũng đã hết sức lớn
Ngoài ra những ruộng bỏ hoang của dân cũng đem xung công làm công điền Do hoàn cảnh chiến tranh - hoặc vì đói khổ phải xiêu tán số
ruộng bỏ hoang dưới thời thuộc Minh khá nhiều Sử cũ cho biết có những
vùng rộng lớn ruộng hoàn toàn bỏ hoang, bấy giờ những ruộng đó cũng đem xung làm ruộng công Tổng số các loại ruộng đất trên đây là rất lớn, chiếm đại bộ phận đất đai canh tác lúc ấy Trong khi đó, ruộng tư chấc chắn là sau hai chục năm chiếm đóng của giặc Minh sẽ chẳng còn bao nhiêu Địa chủ thì đã bị cải cách của Hồ Quý Ly thủ tiêu cuối thế ký XIV Dưới thời thuộc Minh với chính sách cướp bóc và vơ vét làm kiệt quệ nhân lực, vật lực giai cấp địa chủ thường cũng như tâng lớp tiểu nông không thể phát triển được Cho nên Chế độ sở hữu nhà nước là cơ sở của chế độ quản chủ thời Lê trước thời Hồng Đức Từ chế độ này, đã hìmlr
thành một tầng lớp quan lại đông đảo Đó là giai cấp ăn lộc trên tô thuế
ruộng công (mỗi quan lại được ăn tô thuế từ 5O hộ đến 10 hộ)
Đây là sự khác nhau giữa nhà Lê trước Hồng Đức và nhà Trần, chính giai cấp đại địa chủ, tức là quý tộc vương hầu nấm các chức vụ cao nhất trong triều Bọn quan lại chỉ là tay chân, thư lại, kẻ thừa hành Quý tộc có ruộng đất, điển nô, nô tỳ, nó sống bằng tô thuế của nó trên điển trang mênh mông của nó chứ không phải bằng bồng lộc Bởi thế chỉ có dưới thời Trần mới có chuyện đoàn kết vua tôi "chia nhau sùng hưởng
- thiên hạ do tổ tông để lại” mới có chuyên Tế tướng kỳ lưng cho nhau hay nhường ngôi cho nhau như Nghiêu Thuấn Đấy là thời kỳ của những vua sáng tôi hiển Trước nạn ngoại xâm, các vương hầu quý tộc lãnh đạo cuộc kháng chiến để bảo vệ tổ quốc, cũng tức là bảo vệ "thiên hạ của tổ tông
dòng họ nhà mình", cũng tức là bảo vệ thái ấp của mình Lãnh chúa Trần
Hưng Đạo nói với các gia tướng của mình : "Nếu nước mất thì chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc của các người cũng mất" Cho nên sau chiến tranh, vấn dé thưởng công cũng đơn giản với quý tộc chỉ có nghĩa về tỉnh thần (vì quý tộc chiến đấu để bảo vệ lợi ích của mình) Đệ nhất công thần Trần Hưng Đạo không lên một chức nào, một
tước nào
Xã hội thời Lê sơ thì khác Những tướng lĩnh của Lê Lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn không phải là địa chủ mà chỉ là quan lại sống bằng bổng ˆ
38
Trang 39lộc Bồổng lộc không phải là lương cố định như các viên chức Anh mà các nhà Trung Quốc học Phương Tây haý so sánh với các quan chức Trung Quốc Một tên quan lại "đầu quỷ" như đời Lê có thể ra sức vơ vét bóc lột
nhân đân trong lộ nó cai trị làm cho trăm họ sơ xác, điều đó chỉ có lợi cho
nó Song một đại địa chủ như Chiêu Văn Vương Trần Quang Thiều không thể làm cho tá điền, nô tỳ trong thái ấp mình xác sơ, vì thế có hại cho nền kinh tế thái ấp, cho sự sản xuất và kinh doanh của chính nó
Chế độ quan lại và bổng lộc đã tạo điều kiện cho bọn quan lại tha
hồ vơ vét cha dan: "Sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi", sự tranh nhau địa
vị (địa vị càng cao càng nhiều bổng lộc) và nạn tham ô phổ biến trầm trọng ở các triểu Lê trước Hồng Đức như là một sản phẩm tất yếu của chế
độ quan lại Nó được tạm giải quyết trong đời Hồng Đức và lại tiếp tục trong tất cả các triéu đại sau để ngày càng trầm trọng hơn và trở thành tai
hoa lớn nhất
TƯ HỮU HOÁ LẦN THỨ HAI
Nếu cải cách của Hồ Quý Ly vào cuối thế kỷ XIV nhằm quốc hitu hod ruộng dát, biến ruộng tư làm ruộng công, thì sau đó 30 nam, chính sách Quản điền của Lê Lợi lại tiến hành việc phong cáp đất đai vĩnh: viễn cho quý tộc quan lại Đây là biểu hiện chế độ phong kiến hoá
từ trên của nhà nước thu cống sang chế độ phong kiến sơ kỳ Sự quá độ này kéo dài gần 4 thế kỷ tiếp theo sau mà vẫn chưa hoàn thành
Trong chính sách quan điển đời Lê sơ, quý tộc từ tước vương cho đến tước bá, ngoài phần được cấp ruộng đất được hưởng một đời, cá phần được cấp vĩnh viễn Ví dụ cao nhất là Thân Vương được cấp“!.530 mẫu
ruộng để (hu tô thuế một đời và 600 mẫu ruộng thế nghiệp làm tr sẩn
vfnh viễn Tước bá ruộng thế nghiệp là 200 mẫu Nói chung ruộng thế nghiệp chiếm 25% số ruộng được phong cấp ko
Từ thế ký XVI, XVII có một bước phát triển mới về nông nghiệp, nhờ việc mở mang những vùng đất mới phì nhiêu ở phía Nam làm giẫm áp
lực đân số, mặt khác do nông nghiệp ngày càng đi vào thâm canh, đạt
năng suất cao hơn
Học giả Lê Quý Đôn trong Vân Đài loại ngữ đã cho ta biết cây ngô
đã được trồng phổ biến ở nước ta thời kỳ này
Về giống lúa, nông dân đã sử dựng 8 giống lúa chiêm, 27 giống lúa mùa, 29 loại lúa nếp Lê Quý Đôn cho ta một con số về năng suất thời kỳ
39
Trang 40này Ở một số vùng đồng bằng Bắc Bộ ngày nay thuộc các tỉnh Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình "ruộng cấy hai mùa, mỗi mẫu trị giá hơn 200 quan”, giá mỗi mẫu ruộng đương thời cũng chỉ là 200 quan Sản lượng và năng suất như thế là cao
'Ở những vùng Đàng trong mới khai phá, theo lời của một giáo sĩ
nước ngoài, Bori, vào nước ta đầu thế kỷ XVII đã ca ngợi, thì đất đai Đằng Trong rất phì nhiêu, mỗi năm gặt lúa 3 lần Nhiều lái buôn nước ngoài vào đàng trong cũng nhận xết như vậy Ví dụ như lái buôn Poivre đã
nhận xét: Ruộng đất ở đàng trong mầu mỡ, nhân dân giỏi trồng trọt
Bước phát triển mới về năng suất lao động trong nông nghiệp cho phép một số ngành công nghiệp chế biến phát triển, và sự phát triển của công nghiệp nhẹ: nghề làm đường, nghề dệt, nghề gốm Đô thị nhất là
Thăng Long phồn thịnh lên Quan hệ hàng hoá, tiền tệ phát triển và thâm
nhập vào đời sống Tác động của quan hệ hàng hoá tiền tệ đã làm cho các công xã tự cấp bị tan vỡ, chế độ tư hữu ruộng đất đã phát triển khắp nơi
Chế độ sở hữu ruộng đất nhà nước không còn chiếm wae thé Ruộng quan dién duoc uu tién dang chia cho binh linh Tuy nhiên nhà nước vẫn duy trì chính sách phong thưởng ruộng đất rất hậu cho quý tộc quan lại Biến quan lại thành địa chủ
a Quan lại có phẩm hàm từ nhất phẩm đến cửu phẩm, đương chức,
về hưu : thí dụ chánh nhất phẩm, đương chức được cấp 45 mẫu, về hưu từ
25 đến 30.mẫu; bát phẩm 20 mẫu khi đương chức, 8 mẫu khi về hưu
b) Những viên quan đỗ đạt cao được cấp thêm Ví dụ đỗ Trạng Nguyên được cấp 20 mẫu cấp thêm Bằng nhãn, Thám hoa l5 mẫu
Ở đầu thế kỷ XVIHI, số quan lại dân sự từ bát phẩm trở lên khoảng 3.500 viên Như thế số ruộng công được dùng để cấp cho quan lại lên tới
8, 9 vạn mẫu
ge
Ngoài ra, các quý tộc như Hoàng Tử, Hoàng Thân, các cung tần trong cung vua phủ chúa đều được cấp ruộng để hưởng khi làm việc hay nghỉ việc
Ngoài ra, vào năm I720 nhà nước còn ban hành chính sách cấp xã
dân lộc cho quan lại về hưu từ nhất phẩm đến ngĩ phẩm Nhất phẩm trở
lên được cấp 4, 5 xã ăn lộc, tiền 400 quan, người hầu 40 người, ngũ phẩm được Í xã, 100 quan tiền và I0 người Một thí dụ một quân công về hưu thời Chúa Trịnh tên là Đặng Đình Tường được Chúa Trịnh ban cho 100
lính hầu và 200 xã ăn lộc
40