Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Phương pháp này dùng để nghiên cứu thực trạng của khoa Tâm lí – Giáo dục học trường Đại học Hải Phòng, làm cơ sở cho việc đề xuất một số biện pháp quản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN VĂN THÀNH
BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY CỦA
GIẢNG VIÊN TẠI KHOA TÂM LÝ-GIÁO DỤC HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
LUẬT VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI-2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN VĂN THÀNH
BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY CỦA
GIẢNG VIÊN TẠI KHOA TÂM LÝ-GIÁO DỤC HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI VĂN QUÂN
HÀ NỘI-2008
MỤC LỤC
Trang 3Lời cảm ơn
Bằng tấm lòng cảm ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo và đầy trách nhiệm của PGS.TS Bùi Văn Quân
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô giáo trong khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội đã dạy dỗ em trong suốt quá trình học tập tại khoa
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các giảng viên và các bạn sinh viên trường Đại hcọ Hải Phòng đã công tác giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm đề tài
Chắc chắn trong luận văn còn nhiều thiếu sót kính mong được
sự góp ý của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Hà Nội, tháng 12 năm 2008 TÁC GIẢ
NGUYỄN VĂN THÀNH
Trang 4BẢN QUY ƯỚC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỦA CÁC KHOA TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
7
1.3 Hoạt động giảng dạy của giảng viên trường đại học 21 1.3.1 Trường đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân 21 1.3.2 Khoa và bộ môn - đơn vị quản lý trực tiếp hoạt động giảng dạy của giáo
viên
27
1.3.3 Hoạt động giảng dạy của giáo viên tại khoa và bộ môn 29 1.4 Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên ở cấp khoa 32
1.4.2 Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên ở cấp khoa 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN TẠI KHOA TLGDH TRƯỜNG ĐHHP
39
2.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của trường ĐHHP 39
Trang 62.2 Sự hình thành và phát triển của khoa TLGDH 43
2.2.2 Cơ câud tổ chức và đội ngũ giảng viên của khoa 44 2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy của giảng viên tại khoa TLGDH 44 2.3.1 Thực trạng phân cấp quản lý hoạt động dạy ở cấp khoa trường ĐHHP 44 2.3.2 Đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy tại khoa TLGDH 47 2.3.3 Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên 48
3.2 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên tại khoa
TLGDH trong giai đoạn hiện nay
66
3.2.1 Biện pháp: Tăng cường công tác lập kế hoạchduản lý giảng dạy 66 3.2.2 Biện pháp 2: Cải tiến công tác chỉ đạo hoạt động giảng dạy của giảng viên 72 3.2.3 Biện pháp 3: Cải tiến công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội
ngũ giảng viên và năng lực quản lý của tổ trưởng bộ môn
78
3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá và thanh tra chuyên
môn, thanh tra giảng dạy
81
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường CSVC, trang thiết bị phục vụ giảng dạy 84 3.3 Khảo nghiệm ý nghĩa và tính khả thi của biện pháp đề xuất 85 3.3.1 Khái quát về đánh giá ý nghĩa và tính khả thi của các biện pháp 85
Trang 7Tài liệu tham khảo
Phụ lục
92
Trang 8Với tốc độ phát triển như vũ bão đó của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ thì trí thức chiếm hàm lượng chủ yếu trong nhiều sản phẩm hàng hoá Nền kinh tế thế giới hiện nay đã chuyển sang nền kinh tế tri thức Nguồn nhân lực có chất lương cao với tiềm năng trí tuệ trở thành yếu tố quyết định cho sự phát triển của mỗi quốc gia Với yêu cầu đó đòi hỏi ngành giáo dục phải có sự đổi mới một cách toàn diện, trong đó đổi mới về quản lý nhằm năng cao chất lượng nguồn nhân lực đang là nhiệm vụ có tính chiến lược và
có tính cấp bách ở nước ta hiện nay
Đào tạo nguồn nhân lực cao với khả năng định hướng nhân văn - đây là một trong những mục tiêu quan trọng của ngành giáo dục và đào tạo và được thể hiện trong các nội dung sau: (1) Đảm bảo kiến thức nền tảng tối thiểu cần thiết; (2) Tạo ra những phương pháp tư duy tổng quát, hệ thống, có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau; (3) Cung cấp cho người học những khả năng lao động sáng tạo với định hướng nhân văn; (4) Cung cấp cho người học những khả năng thích nghi cao với những biến động, khả năng đổi mới tư duy, khả năng độc lập ra quyết định với tầm nhìn mang tính chiến lược
Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục theo hướng hiện đại hoá và thích ứng với yêu cầu nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước đã được ghi nhận là giải pháp đầu tiên trong chiến lược phát triển giáo dục do Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 28-12-2001 Và vài năm qua, việc đổi mới đã bắt đầu được thực hiện tốt đối với một số cấp học
Trang 9và môn học Một chiến lược giáo dục cho thế kỷ mới phải nhằm đào tạo những con người sống, hoạt động và góp phần vào sự nghiệp phát triển xã hội, đất nước trong thế kỷ mới Và trong thế kỷ mới, tiếp nối những thành tựu
to lớn đã dạt được, nhiều thành tựu mới xuất hiện để giúp con người tiếp tục củng cố và hoàn thiện những cách nhìn mới, những cách nghĩ mới, những cách xử sự mới trước moị biến động của thiên nhiên và xã hội Tiếp thu và làm chủ được những thành tựu trí tuệ đó, trên cơ sở đó tiếp tục đổi mới cách nghĩ, cách nhìn và có thêm năng lực sáng tạo để chủ động thích nghi với mọi yêu cầu phát triển của thời đại
Chiến lược giáo dục ở nước ta 2001 – 2010 đã khẳng định: Cần đổi mới cơ bản phương thức và tư duy quản lý giáo dục… Tập trung làm tốt ba nhiệm vụ chủ yếu là: xây dựng chiến lược quy hoạch và kế hoạch phát triển giáo dục, xây dựng cơ chế chính sách và quy chế quản lý nội dung chất lượng đào tạo, tổ chức kiểm tra thanh tra… Chiến lược nhấn mạnh bảy nhóm giải pháp lớn cần tập trung thực hiện để đạt được mục tiêu chung, trong đó đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục là các giải pháp trọng tâm, đổi mới quản lý giáo dục là khâu đột phá
Ngay từ Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam Lần thứ IX đã xác định phương hướng mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo là: Đổi mới căn bản và toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và
hệ thống giáo dục, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, phục vụ quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu xã hội
Đảng công sản Việt Nam đã xác định giáo dục và đào tạo là động lực của sự phát triển đất nước, giáo dục đào tạo được đặt lên vị trí hàng đầu và phải đi trước một bước cung cấp nguồn nhân lực có khả năng hoà nhập, thích ứng với nhu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội
Trang 10Tuy nhiên một thực tế mà chúng ta thấy, đồng thời cũng được dư luận quan tâm nhiều nhất đó là nguồn nhân lực của chúng ta còn yếu và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Trước thực trạng đó nền giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây đang có những thay đổi rất mạnh mẽ đặc biệt là thay đổi về nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy để đào tạo ra nguồn nhân lực chât lượng cao đáp ứng được nhu cầu của xã hội Trong
đó: Giáo dục đại học là khâu trực tiếp tạo ra nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hoá nước nhà, là đòn bẩy đảm bảo thực hiện đầy đủ và chất lượng Chiến lược phát triển giáo dục2001 – 2010
Trường Đại học Hải Phòng là một trường thuộc hệ thống các trường Đại học và Cao Đẳng trên cả nước đã và đang đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Trường tuy được thành lập chưa lâu (trước là trường Cao đảng sư phạm Hải Phòng) nhưng trong vài năm trở lại đây nhà trường đã có bước phát triển vượt bậc, trường đã
mở rông quy mô cả vể lĩnh vực đào tạo( đào tạo khối sư phạm và ngoài sư phạm) và cơ sở vật chất Hàng năm thu hút một lượng lớn học sinh, sinh viên chính quy và không chính quy của Hải Phòng và các tỉnh lân cận đến đào tạo tại 18 Khoa, trung tâm đào tạo, 3 trường thực hành và 1 trường THPT trực thuộc
Khoa Tâm lí - Giáo dục học(TLGDH) trường Đại học Hải Phòng là một khoa tương đối non trẻ ngoài việc tham gia đào tạo môn Tâm lí, môn Giáo dục và môn Công Tác Đội cho khối sư phạm thì hiện nay đang đào tạo một chuyên ngành Công Tác Xã Hội Với đội ngũ cán bộ giảng viên gồm 20 người, trong đó 2 tiến sĩ, 2 nghiên cứu sinh và 15 Thạc sĩ 1 Cử nhân đã phần nào đáp ứng được nhu cầu đào tạo hiện nay Tuy nhiên trong thời gian tới nếu không có biện pháp tốt thì khoa TLGDH sẽ khó có thể đáp ứng được nhu cầu đào tạo cho chuyên ngành mới Do vậy cần có sự đổi mới hơn nữa trong quản
lý, tổ chức để làm chuyển biến một bước quan trọng thì mới đáp ứng được
Trang 11không chỉ về số lượng mà quan trọng hơn là chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy để từ đó nâng cao chất lượng đào tạo của khoa
Xuất phát từ những lý do trên và mong muốn đi tìm câu trả lời cho vấn
đề này mà người viết đã chọn hướng đi nghiên cứu đề tài:
Biện pháp tăng cường quản lí hoạt động giảng dạy của giảng viên tại khoa Tâm lý-Giáo dục học trường Đại học Hải Phòng
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất biện pháp quản tăng cường lý hoạt động giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại khoa Tâm lí – Giáo dục học trường Đại học Hải Phòng
3 khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giảng dạy tại khoa Tâm lí – Giáo dục học trường Đại học Hải Phòng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên tại khoa Tâm lí – Giáo dục học trường Đại học Hải Phòng
4 Giả thuyết khoa học
Việc quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên tại khoa Tâm lí – Giáo dục học trường Đại học Hải Phòng bước đầu đã có kết quả, song còn một số hạn chế về biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên trong khoa Việc hoàn thiện đổi mới một số biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên có căn cứ khoa học, thực tiễn và khả thi sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của khoa trong giai đoạn hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giảng dạy ở cấp khoa thuộc trường Đại học Hải Phòng
Trang 12- Khảo sát thực trạng quản lý giảng dạy của khoa Tâm lí – Giáo dục học trường Đại học Hải Phòng, đánh giá và chỉ ra ưu điểm và những hạn chế, lý giải nguyên nhân của những hạn chế đó
- Đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên tại khoa nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phục vụ yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực góp phần phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình quản
lý giảng dạy tại khoa Tâm lí – Giáo dục học trường Đại học Hải Phòng nằm trong hệ thống các trường đào tạo của nước Cộng hoà XHCN Việt nam Từ
đó đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở khoa Tâm lí – Giáo dục học trường ĐHHP
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp này dùng để sưu tầm, hệ thống hoá các vấn đề lý luận về quản lý và hoạt động dạy của khoa Tâm lí – Giáo dục học trường ĐHHP Mặt khác tìm hiểu cơ sở lý luận phù hợp với quản lý khoa Tâm lí – Giáo dục học trong giai đoạn hiện nay
Phương pháp nghiên cứu lý luận gồm: Phân tích, tổng hợp các tài liệu, văn kiện rút ra những luận điểm quan trọng có tính chất chỉ đạo trong quá trình nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp này dùng để nghiên cứu thực trạng của khoa Tâm lí – Giáo dục học trường Đại học Hải Phòng, làm cơ sở cho việc đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là:
- Công tác quản lý chương trình, kế hoạch đào tạo của khoa TLGDH
- Quản lý dạy của giáo viên và học của học sinh trong khoa
Trang 13- Quản lý các phương tiện, thiết bị và các điều kiện phục vụ qúa trình dạy học cuả khoa
7.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết các kinh nghiệm dạy và học của khoa Tâm lí – Giáo dục học
7.4 Phương pháp chuyên gia
Toạ đàm, trao đổi kinh nghiệm, lấy ý kíên của các chuyên gia có kinh nghiệm trong công tác quản lý giáo dục đào tạo nhằm tìm hiểu các vấn đề bức xúc trong công tác quản lý khoa Tâm lí – Giáo dục học cũng như tổng kết kinh nghiệm trong công tác quản lý dạy học ở khoa của các trường Đại học hiện nay
7.4 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
Sử dụng phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giảng dạy tại khoa TLGDH trường ĐHHP
7.5 Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến trình bày trong 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận về biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy cảu các khoa trong trường Đại học
Chương 2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy của giảng
viên tại khoa Tâm lí – Giáo dục học trường Đại học Hải Phòng
Chương3 Biên pháp tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên tại khoa Tâm lí – Giáo dục học trường Đại học Hải Phòng
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỦA CÁC KHOA TRONG TRƯỜNG
ĐẠI HỌC
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong thời đại hiện nay – thời đại của nền kinh tế tri thức chúng ta đã được chứng kiến ngày cành nhiều những thành tựu về khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, công nghệ Zen Cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI những phát minh sáng kiến đã vượt xa những năm trước đó cộng lại, trong đó vai trò của Giáo dục là hết sức rõ rệt Giáo dục – đào tạo đã góp phần không nhỏ trong công cuộc xây dựng và phát triển của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam Tuy nhiên mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau luôn tồn tại một nền giáo dục khác nhau và đi theo nó là một cung cách quản lý khác nhau Trong giai đoạn hiện nay đối mặt với một nền giáo dục hiện đại thì cũng đòi hỏi phải có biện quản lý phù hợp với sự phát triển giáo dục – đào tạo
mà xã hội yêu cầu Xuất phát từ thực tế đó mà từ lâu các nhà khoa học trong
và ngoài nước đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý GD trong đó quản lí hoạt động giảng dạy luôn là sự quan tâm hàng đầu của các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục
Ở nước ta một số công trình nghiên cứu như: ―Những khái niệm cơ bản
về quản lý giáo dục‖ của các tác giả Nguyễn Ngọc Quang; ― Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình‖ của Đặng Quốc Bảo Những công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy nói riêng đã đóng góp lớn trong sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà
Những năm gần đây vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở các trường cao đẳng, đại học đã có nhiều tác giả nghiên cứu, nhiều luận văn thạc sĩ chuyên
Trang 15ngành quản lý giáo dục như: “ Giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng sư phạm Bắc Giang‖ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Sơn; ― Một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học ở trường đại học Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên‖ của tác giả Hoàng Thị Bình; ― Nghiên cứu một số giải pháp quản lý quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại học Công đoàn Việt Nam‖ của tác giả Trần Thị Đoan Trang…
Các công trình nghiên cứu trên với tầm vóc, quy mô và giá trị khác nhau đã đưa ra các giải pháp quản lý, phù hợp trong điều kiện cụ thể của từng trường từng vùng, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên góp phần trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm- Đó chính là nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động
Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu quản lý quá trình đào tạo và dạy học, hoạt động dạy học ở các trường đại học và cao đẳng Vì vậy cần thiết phải nghiên cứu các biện pháp tăng cường quản lí hoạt động giảng dạy của giảng viên
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm về Quản lý
Ngay từ khi loài người xuất hiện cho tới khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể thực hiện được với tư cách cá nhân riêng lẻ thì đã bắt đầu hình thành những cách quản lý để thực hiện một mục tiêu chung, cho dù cách qản lý đó là đơn giản thì nó cũng mang lại hiệu quả nhất định Cách quản lý đã là một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân Vì chúng ta ngày càng dựa vào sự nỗ lực chung và vì nhiều nhóm có tổ chức ngày càng rộng lớn hơn, cho nên nhiệm
vụ của các nhà quản lý ngày càng quan trọng
Trang 16Quản lí gắn liền với cuộc sống, với hoạt động của con người, vì thế nó rất đa dạng và phức tạp Nhận thức của con người về quản lí vì thế cũng rất phong phú
Trong các giáo trình và tài liệu về quản lí, khi trình bày khái niệm quản
lí, ngoài việc trích dẫn những tư tưởng của các tác giả kinh điển của lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin, các tác giả thường dẫn ra quan điểm của một số tác giả nước ngoài Dưới đây là một số quan điểm của một số tác giả được nhiều người biết đến và có tầm ảnh hưởng lớn đến giáo dục
- Frederich Winslon Taylor (1855-1915) cho rằng :"Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đố hiểu được rằng họ
đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất"
- Theo tác giả người Đức Baranger cho rằng, quản lý là cai trị một tổ chức bằng cách đặt ra các mục tiêu và hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đạt,
là lựa chọn, sử dụng các phương tiện nhằm đạt được các mục tiêu đã định
- Theo Harold Koontz, "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của tổ chức"
- Theo A.N.Kolmogorov, nhà toán học ―Quản lý là gia công thông tin thành tín hiệu điều chỉnh hoạt động của máy móc hay cơ thể sống‖
Ngoài những tác giả trên thì vẫn còn rất nhiều tác giả khác cũng có tầm ảnh hưởng không nhỏ đến lĩnh vực quản lý như: Henry Fayol (1841-1925); Mary Parkor Pollet (1868-1933); Harold Koontz… và một số tác giả Việt Nam như: Nguyễn Hoàng Toàn, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Duy Quý, Bùi Trọng Tuân (Nguyễn Thị Doan, Đỗ
Minh Cương, Phương Ký Sơn, Các học thuyết quản lí, NXB Chính trị Quốc gia, H., 1996; Trần Kiểm, Khoa học quản lí giáo dục – một số vấn đề lí luận
và thực tiễn, NXB Giáo dục, H., 2006)
Trang 17Mỗi một tác giả đều nghiên cứu và nhìn nhận quản lý ở một góc độ khác nhau và vì thế cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau, song khái quát chung lại thì có mấy quan điểm về quản lý như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu quản lí theo quan điểm của điều khiển học và lí
thuyết hệ thống Theo đó, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật v.v…) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó Quản lý
là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển
Thứ hai, nghiên cứu quản lí với tư cách là một hoạt động, một lao động
tất yếu trong các tổ chức của con người Theo đó, Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm đạt được mục đích đề ra; "Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ chức"; ― Hoạt động quản lý bao gồm hai quá trình tích hợp với nhau: Đó là, quá trình "quản" và quá trình "lý" Quá trình "quản" bao gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình "lý" bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ thống, đưa hệ thống vào thế phát triển Nếu chỉ lo việc "quản"
tổ chức sẽ trì trệ, bảo thủ; nếu chỉ quan tâm đến "lý" tổ chức đó sẽ rơi vào thế mất cân bằng, mất ổn định Như vậy quản lý chính là hoạt động tạo ra sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức đến một trạng thái mới có chất
lượng mới cao hơn‖ (Đặng Quốc Bảo, Khoa học tổ chức và quản lí một số vấn
đề lí luận và thực tiễn, NXB Thống kê, H., 1999)
Thứ ba, nghiên cứu quản lí với tư cách là một quá trình trong đó các
chức năng quản lí được thực hiện trong sự tương tác lẫn nhau Theo hướng
Trang 18này, Quản lý là quá trình: Xác định mục tiêu mong muốn của tổ chức > lập
kế hoạch > tổ chức thực hiện > kiểm tra, đánh giá các công việc của các
thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp
để đạt được các mục đích xác định; "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của
tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra"
Do tính đa dạng của quản lí nên việc đưa ra một định nghĩa khái niệm được sử dụng chung cho nhiều lĩnh vực là một việc khó khăn Do vậy, cần thiết phải có sự khu biệt phạm vi mà khái niệm quản lí phản ánh từ đó để định nghĩa khái niệm này một cách chính xác, theo đó người ta chia thành các lĩnh vực quản lí sau: 1/ Quản lí giới vô sinh Ví dụ, quản lí nhà xưởng, hầm mỏ, thiết bị, đồ dùng dạy học 2/ Quản lí giới sinh vật Ví dụ, quản lí vật nuôi, quản lí cây trồng 3/ Quản lí xã hội Ví dụ, quản lí sản xuất –kinh tế, quản lí
xã hội – chính trị, quản lí đời sống tinh thần Các lĩnh vực quản lí nêu trên được xác định theo đối tượng tượng quản lí Đối tượng quản lí mặc dù rất đa dạng nhưng con người luôn được xác định là đối tượng cơ bản, chính yếu của quản lí Nói con người là đối tượng cơ bản của quản lí vì con người có quan
hệ với tất cả các đối tượng quản lí khác, hơn nữa, quản lí các đối tượng đó, xét cho cùng là vì con người và do con người Quản lí là do con người và vì con người Khẳng định con người là đối tượng cơ bản của quản lí phải đồng thời nhấn mạnh rằng, con người sống và hoạt động trong những nhóm, những
tổ chức nhất định (từ đây gọi chung là tổ chức) Như vậy, dạng quản lí cơ bản
là quản lí xã hội, trong quản lí xã hội, quản lí con người và hành vi của của
con người là chính yếu Một cách khái quát, quản lí nói chung (hay nói đến quản lí) là quản lí các tổ chức của con người và hành vi, hoạt động của con người trong các tổ chức đó Con người đóng vai trò vừa là chủ thể vừa là khách thể của hoạt động quản lí
Trang 19Với cách hiểu quản lí là quản lí tổ chức của con người, hoạt động của
con người, có thể định nghĩa khái niệm quản lí như sau: Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động (Bùi Văn Quân, Giáo trình Quản
lí giáo dục, NXB Giáo dục Hà Nội, 2007)
Quan niệm trên nhấn mạnh những khía cạnh sau của quản lí: 1/ Quản lí
có hình thức thực thể là những hoạt động do chủ thể quản lí thực hiện Điều
đó có nghĩa không có những hoạt động này, chưa có hoạt động quản lí trên thực tế, chưa có cơ sở để khẳng định hoạt động quản lí đã xảy ra Các hoạt
động của chủ thể quản lí có hai nội dung chính Thứ nhất, tác động đến đối tượng quản lí (con ngưòi và những đối tượng khác); Thứ hai, khai thác, tổ
chức và thực hiện các nguồn lực Cần lưu ý rằng, nguồn lực cũng tồn tại như một trong những đối tượng quản lí nhưng không đồng nhất hoạt động tác động đến đối tượng quản lí với hoạt động khai thác, tổ chức nguồn lực Khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực, trong những trường hợp cụ thể là tạo điều kiện để hoạt động tác động của chủ thể đến đối tượng quản lí được thực hiện có hiệu quả; 2/Quản lí thể hiện tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể quản
lí Điều này được thể hiện ở những tác động hướng đích có chủ định do chủ thể quản lí thực hiện và những mục tiêu mà chủ thể quản lí xác định Tuy nhiên, những tác động này của chủ thể chỉ có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở nhận thức của chủ thể về các qui luật khách quan trong lĩnh vực hoạt động của mình và ý thức của chủ thể trong việc tuân thủ các qui luật khách quan
đó Mức độ thống nhất giữa những tác động hướng đích, có chủ định và hệ thống mục tiêu do chủ thể quản lí xác định với các qui luật khách quan khẳng định mức độ của tính khoa học, nghệ thuật của quản lí; 3/quản lí đồng nghĩa
Trang 20với sự thay đổi có chủ định cho tổ chức trong và bằng những tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí cũng như trong việc khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực của tổ chức Thay đối là thuộc tính của vật chất Bản thân tổ chức thay đổi và môi trường của nó luôn luôn biến động tạo ra tính
―không chắc chắn‖ đối với tổ chức Do vậy sự thay đổi cũng phải được quản
lí và sự thay đổi cần phải được thực hiện một cách tự giác Đứng trước những biến đổi của môi trường, để tạo khả năng thích ứng của tổ chức với môi trường, chủ thể quản lí phải chủ động tạo ra sự thay đổi đối với tổ chức của mình Khi chủ thể thực hiện sự thay đổi một cách tự giác, đó là những hành động (rộng và bao quát hơn là hoạt động) mang tính cải tiến, canh tân, đổi mới, cải tổ, cải cách và cách mạng đối với tổ chức của mình Những tác động của chủ thể nhằm tạo ra sự thay đổi của tổ chức được định hướng bởi mục đích chung của quản lí Mục đích của quản lí nói chung là nhằm duy trì, nhằm ổn định và phát triển tổ chức Tuỳ theo thực tế của tổ chức mà các cấp
độ mục đích nêu trên được xác định một cách cụ thể Với một tổ chức có nguy cơ tan dã, thông thường, mục đích trước mắt của chủ thể quản lí là giữ cho tổ chức đó tồn tại (duy trì) Khi đã giữ được tổ chức, cần phải ổn định tổ chức đó Sự ổn định tổ chức phải hướng đến phát triển tổ chức đó lên một trình độ cao hơn
a) Quản lí giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, một quá trình, một hoạt động của xã hội, vì thế nó cần và phải được quản lý Từ đó, hình thành một dạng quản lí trong hệ thống quản lí xã hội Dạng quản lí này có tên gọi ―Quản lí giáo dục‖ Giống với khái niệm quản lí, khái niệm quản lí giáo dục cũng được biểu đạt một cách rất đa dạng tuỳ theo những phương diện nghiên cứu và tiếp cận của nhà nghiên cứu về quản lí giáo dục
Theo khái niệm quản lí đã trình bày, có thể định nghĩa khái niệm quản
lí giáo dục như sau: Quản lí giáo dục là một dạng của quản lí xã hội trong đó
Trang 21diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra đối với giáo dục (Bùi Văn Quân, Giáo trình Quản lí giáo dục, NXB Giáo dục Hà
Nội, 2007)
Phân tích khái niệm này có thể nhận thấy:
- Quản lí giáo dục là một dạng của quản lí xã hội, vì thế nó có đầy đủ các đặc điểm của quản lí nói chung, quản lí xã hội nói riêng
- Do tính đặc thù của quản lí giáo dục mà những đặc điểm của quản lí giáo dục có nội dung và hình thái thể hiện khác biệt với các dạng quản lí xã
hội khác Chẳng hạn: i) Tính chất quản lí nhà nước được thể hiện rõ nét trong
quản lí giáo dục ngay cả với quản lí tác nghiệp tại trường học và các cơ sở
giáo dục; ii) Đối tượng chủ yếu của quản lí là con người, nhưng quản lí con
người trong quản lí giáo dục còn có ý nghĩa là sự huấn luyện, giáo dục con người, tạo dựng cho họ có khả năng thích ứng được với các vai trò xã hội mà
họ đã và sẽ đảm nhận…
Hệ thống giáo dục là một thiết chế đặc biệt chuyên trách trong chức năng duy trì, tiếp nối và phát triển kinh nghiệm xã hội lịch sử Hệ thống giáo dục cũng có đặc trưng như các hệ thống khác, đó là tính chất ―chồng chéo về
cơ cấu‖ Theo đó, cơ cấu của hệ thống giáo dục có thể được xem xét theo phương diện quản lí, theo trình độ học vấn và bằng cả sự tích hợp của hai phương diện trên Với mỗi phương diện, người ta đều xác định được những phân hệ của hệ thống giáo dục, và những phân hệ này đương nhiên cũng phải được quản lí Tình hình này dẫn đến những khó khăn khi đưa ra một định nghĩa chung nhất về khái niệm quản lí giáo dục
Giải pháp cho vấn đề trên là khu biệt khái niệm quản lí giáo dục theo
Trang 22phạm vi phản ánh của khái niệm giáo dục Khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng chỉ giáo dục xã hội với hệ thống giáo dục được phân bổ rộng khắp trong phạm vi lãnh thổ theo những cấp bậc học cụ thể Khái niệm ―quản lí giáo dục‖ với khái niệm giáo dục hiểu theo nghĩa này là quản lí giáo dục vĩ mô Theo nghĩa hẹp, giáo dục được giới hạn trong phạm vi trường học và các cơ
sở giáo dục khác với tư cách là phần tử của hệ thống giáo dục Khái niệm
―quản lí giáo dục‖ với khái niệm giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp là quản lí giáo dục vi mô
Như vậy, khi đề cập đến quản lí giáo dục ở cấp độ vĩ mô là đề cập đến việc quản lí toàn bộ hệ thống giáo dục trên các mặt quy mô, cơ cấu và chất lượng Đó là quản lí nhà nước về giáo dục Quản lý giáo dục hiểu theo nghĩa
rộng đó là; Quản lý gáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý ( Chính phủ,
Bộ giáo dục) lên đối tượng quản lý ( toàn bộ hệ thống giáo dục từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học và sau đại học) nhằm thực hiện thành công mục tiêu giáo dục của Việt Nam Còn khi đề cập đến quản lí giáo dục ở cấp độ
vi mô, là đề cập đến quản lí tác nghiệp tại các cơ sở giáo dục mà trường học
là hạt nhân Trọng tâm của quản lí giáo dục ở cấp độ vi mô là quản lí trường học và tất cả các hoạt động, các quan hệ trên – dưới, các hoạt động có liên quan đến nhà trường Quản lí tác nghiệp tại trường học là quản lí giáo dục ở
có sở với trọng tâm là quản lí các hoạt động dạy học và giáo dục Quản lý
giáo dục vi mô hay còn gọi là quản lý nhà trường đó là; Quản lý giáo dục sự tác động của chủ thể quản lý ( Hiệu trưởng nhà trường, Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn) lên đối tượng quản lý ( Học sinh, Giáo viên nội dung chương trình) nhằm đạt được mục tiêu của từng môn học, từng năm học và của từng cấp bậc học
Có thể mô tả các cấp độ của khái niệm quản lí giáo dục như sơ đồ 1.1 dưới đây
Trang 23Sơ đồ 1.1: Các cấp độ của khái niệm quản lí giáo dục
VĨ MÔ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC
-VỀ GIÁO DỤC
QUẢN LÍ GIÁO DỤC
VI MÔ - QUẢN LÍ TÁC NGHIỆP TẠI TRƯỜNG HỌC/CƠ SỞ GIÁO DỤC
Hệ thống giáo dục với các phân hệ từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học
Quản lí của lãnh đạo nhà trường/cơ sở giáo dục
Quản lí của các tổ chuyên môn
Quản lí của người dạy và người học
Quản lí của nhà nước
từ trung ương đến địa phương
Trường học/cơ sở giáo dục
Hoạt động dạy học và giáo dục
Trang 24[ 8, tr 12]
b) Quản lý nhà trường
Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội thực hiện chức
năng tái tạo và phát triển xã hội, theo nghĩa hình thành và phát triển nhân cách mỗi thành viên của xã hội, hướng tới sự duy trì và phát triển xã hội Thiết chế chuyên biệt này hoạt động trong tính quy định của xã hội và theo các dấu hiệu phân biệt
Như vậy, nhà trường là cơ quan chuyên trách việc đào tạo con người mới xã hội, là một thiết chế xã hội được tổ chức và hoạt động theo một mục đích xác định, với một nội dung giáo dục được chọn lọc và sắp xếp hệ thống, với những phương pháp giáo dục cơ sở khoa học và thực tiễn, với những nhà
sư phạm đã được trang bị đầy đủ về kiến thức khoa học và phẩm chất đạo đức
Nhà trường là một hệ thống xã hội : theo cách tiếp cận hệ thống, nhà trường là một bộ phận hay hệ thống con, phân hệ của hệ thống xã hội Đến lượt mình, hệ thống con đó cũng tự nó là một hệ thống của hệ thống xã hội.Vì vậy, nhà trường là một hệ thống xã hội với các thành tố:
- Thành tố con người bao gồm : trước hết là hai thành viên cơ bản là người dạy và người học, kế đó là đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ, nhân viên giúp việc,
- Thành tố vật chất của nhà trường bao gồm : các cơ sở trường lớp, trang thiết bị đồ dùng phục vụ giảng dạy và học tập, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo,
- Thành tố ý thức, tinh thần : là toàn bộ tri thức, kỹ năng, thái độ mà xã hội đã tích luỹ được, tái tạo được và phát triển trong nhà trường thông qua hoạt động dạy và học; là hệ tư tưởng chỉ đạo, là quan điểm đường lối phát
Trang 25triển giáo dục, thể hiện ở đường lối chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước; là tinh thần nghề nghiệp, lương tâm nhà giáo
- Thành tố quá trình : là quá trình cơ bản, phản ánh bản chất của nhà trường, tạo nên sự khác biệt của nhà trường với các tổ chức khác trong xã hội,
là quá trình sư phạm Tuy nhiên, còn có những quá trình thứ yếu, tuy không kém phần quan trọng khác thuộc về yếu tố quá trình của nhà trường như quá trình xây dựng trường, lớp, quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực trong nhà trường,
Quản lí nhà trường là sự cụ thể hoá công tác quản lí giáo dục Nhà trường là tế bào chủ chốt của bất cư hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương Quản lí nhà trường thực chất là quản lí giáo dục ở cơ sở Mỗi nhà trường đều có hiệu trưởng và Hội đồng giáo viên là chủ thể quản lí trực tiếp vận hành hệ thống giáo dục đi đến mục tiêu giáo dục chung Bản chất của quản lí trường học là quản lí quá trình giáo dục theo nghĩa rộng (quá trình sư phạm tổng thể - quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp) Quá trình quản lí ấy nhằm đưa các hoạt động thực hiện quá trình giáo dục từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần đạt mục tiêu của quá trình đó Các hoạt động trong nhà trường bản thân nó đã có tính giáo dục, song cần có sự quản lí
tổ chức chặt chẽ thì mới phát huy được hiệu quả trong việc thực hiện nội dung
và mục tiêu của quá trình giáo dục Quá trình giáo dục vận hành tại các cơ sở giáo dục (mà trường học là hạt nhân) trong hệ thống giáo dục quốc dân – khách thể của quản lí giáo dục ở cấp vĩ mô
Quản lí quá trình giáo dục là trọng tâm, là nét bản chất của quản lí nhà
trường, do vậy, Quản lí nhà trường (Việt Nam) là thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng (trong phạm vi trách nhiệm) trong việc thực hiện các hoạt động khai thác, sử dụng, tổ chức, thực hiện các nguồn lực và những tác động của chủ thể quản lí đến các thành tố của quá trình giáo dục diễn ra trong nhà
Trang 26trường, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục - mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ, với từng học sinh (Phạm Minh Hạc)
Khái niệm trên cho thấy:
- Mục tiêu của quản lí nhà trường là vận hành quá trình giáo dục để duy trì, ổn định và phát triển hệ thống giáo dục sao cho đáp ứng cao nhất với nhu cầu học tập của mọi tầng lớp nhân dân, đáp yêu cầu phát triển nhân cách toàn diện cho người học ở mọi cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
- Chủ thể quản lí nhà trường là chủ thể kép Điều đó có nghĩa, nhà trường (theo đó là) quá trình giáo dục được quản lí bởi các chủ thể quản lí ngoài nhà trường và của các chủ thể quản lí trong (của) nhà trường Mỗi chủ thể quản lí quá trình giáo dục với nội dung xác định
- Đối tượng của quản lí nhà trường là các thành tố cấu thành nhà trường vận động xung quanh trục quá trình giáo dục Do đó, xét đến cùng, đối tượng quản lí nhà trường chình là các thành tố cấu thành quá trình giáo dục và những nguồn lực được huy động, sử dụng cho quá trình đó
1.2.2 Giảng viên
Với truyền thống tôn sư trọng đạo, đã từ lâu người thầy giáo luôn được
cả xã hội tôn trọng và giành cho nhiều tình cảm Giáo dục nói chung và giáo dục đại học Việt Nam đã khẳng định và tôn vinh người giáo viên, giảng viên
là kĩ sư tâm hồn, người không chỉ có vai trò quyết định đối với chất lượng giáo dục và đào tạo của trường đại học mà còn có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp phát triển đất nước
Luật Giáo dục nước CHXHXN Việt Nam đã chỉ rõ: ― Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác; nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên‖ ( Luật Giáo dục, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) Như các nhà giáo khác, giảng viên phải có những tiêu chuẩn sau:
- Lý lịch bản thân rõ ràng
Trang 27- Phẩm chất đạo đức tư tưởng tốt
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ
- Yêu nghề, yêu trò
- Có năng lực tự học, tự nghiên cứu cao
- Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp
Ngoài những yêu cầu trên, do đặc thù của môi trường lao động nghề nghiệp là cơ sở giáo dục đại học nên giảng viên có những chức trách khác với nhà giáo ở các cấp, bậc học khác
Nếu trước đây, giảng dạy là nhiệm vụ trọng tâm không thể thiếu của giảng viên, thì từ những năm 60 hoạt động nghiên cứu khoa học được bổ sung vào chức trách của giảng viên Những năm cuối của thế kỉ 20 và thập kỉ đầu thế kỉ 21, chức trách của giảng viên thường được cấu trúc xung quanh hai nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu
Sự phát triển của giáo dục đại học do yêu cầu của xã hội đã khiến cho những nghiên cứu về chức trách của giảng viên ngày càng được mở rộng Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu phê phán quan niêm trên về trách nhiệm của giảng viên và cho rằng các trường đại học chưa quan tâm đúng mức tới quá trình học tập và tiến bộ của sinh viên Hơn nữa, các giảng viên của các trường đại học ngày càng mở rộng môi trường làm việc của mình vượt khỏi phạm vi nhà trường Họ có thể làm việc với các trường đại học khác, các địa phương khác, thậm chí với các đồng nghiệp và các trường đại học ở nước ngoài Điều này dẫn đến quan niệm toàn diện hơn về chức trách của giảng viên Các nghiên cứu của Bowen &Schuster (1989), Rhodes (1990), Rice (1991), Boyer (1990)… có chung một quan điểm về cách xác định đầy đủ và chính xác công việc của giảng viên Theo họ, công việc của giảng viên được cấu thành từ 4 yếu tố chính:
- Giảng dạy
- Nghiên cứu
Trang 28- Dịch vụ chuyên môn phục vụ cộng đồng
- Bồn phận công dân với tư cách là nhà khoa học
1.2.3 Hoạt động giảng dạy
Giáo dục là một hoạt động xã hội đặc biệt chỉ có ở loài người, nó duy trì, bảo tồn tích luỹ và truyền thụ những kinh nghiệm, tri thức của loài người
từ thế hệ này cho các thế hệ kế tiếp nhau, để xã hội loài người phát triển không ngừng LêNin coi giáo dục là hoạt động tất yếu và vĩnh hằng của xã hội loài người Trong lịch sử tồn tại và phát triển của loài người nhanh và hiệu quả nhất, khoa học nhất, hệ thống nhất là tổ chức dạy và học Hoạt động dạy
sẽ truyền thụ cho người học hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kỹ năng cơ bản nhằm nâng cao trình độ học vấn, hình thành nhân cách sống, vận dụng vào cuộc sống lao động sản xuất, học tập của bản thân người học Khi đó, dạy học đã thực hiện chức năng nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước
Hoạt động dạy là hoạt động chuyên biệt của những người được đào tạo, nghề dạy học thực hiện việc tổ chức và điều khiển hoạt động học của người học nhằm giúp người học lĩnh hội nền văn hoá - xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành và phát triển nhân cách Điều cốt lõi trong hoạt động dạy
là làm sao để tạo ra được tính sáng tạo, tích cực trong hoạt động học của người học vì tính sáng tạo tích cực sẽ quyết định chất lượng học tập Trong dạy học, chất lượng học tập của trò phụ thuộc phần lớn vào trình độ, phương pháp giảng dạy của người thầy Hai hoạt động dạy và học được tiến hành do 2 chủ thể thầy trò với chức năng truyền thụ – lĩnh hội khác nhau, nhưng hai hoạt động đó đã gắn bó chặt chẽ với nhau hợp thành hoạt động dạy – học
Việc tách hoạt động giảng dạy thành một hoạt động có tính độc lập tương đối là nhằm nghiên cứu cụ thể hơn về hoạt động này về phương diện lý thuyết Theo đó, hoạt động giảng dạy là hoạt động do giảng viên thực hiện nhằm tạo ra những tác động gây ảnh hưởng đến sinh viên và hoạt động của
Trang 29sinh viên, trong và bằng cách đó hình thành và phát triển hoạt động học tập cho sinh viên
Công tác giảng dạy đại học trong giai đoạn hiện nay được xem xét rộng hơn việc đơn thuần truyền đạt kiến thức cho sinh viên Menge (1990) đã xác định: ― bản chất của việc giảng dạy là sáng tạo những tình huống mà ở đó sự học diễn ra một cách phù hợp, công việc của giảng viên phải làm là sắp xếp các tình huống đó để tiến hành giảng dạy một cách có hiệu quả‖
1.3 Hoạt động giảng dạy của giảng viên trường đại học
1.3.1 Trường đại học trong hệ thống giáo dục Quốc dân
Trường đại học là một trong những cơ sở giáo dục đại học được xác định trong Luật Giáo dục năm 2005 Điều lệ Trường đại học đã qui định:
a) Nhiệm vụ của trường đại học
- Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe,
có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc
-Tiến hành nghiên cứu khoa học vầ phát triển công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Giáo dục và các quy định khác của pháp luật
- Giữ gìn và phát triển những di sản và bản sắc văn hóa dân tộc
- Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội ngũ cán bộ giảng viên của trường
- Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên; xây dựng đội ngũ giảng viên của trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu tuổi và giới
- Tuyển sinh và quản lý người học
Trang 30- Phối hợp với gia đình người học, các tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục
- Tổ chức cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo và nhu cầu của xã hội
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
b) Quyền hạn và trách nhiệm của trường Đại học
Trường Đại học được quyền tự chủ và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và điều lệ trường Đại học về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức và nhân sự Cụ thể là:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường phù hợp với các ngành nghề nhà trường được phép đào tạo trên cơ sở chương trình khung do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành; tổ chức tuyển sinh theo chỉ tiêu của nhà nước, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp, in
ấn và cấp bằng theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục; hợp tác, liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, gắn đào tạo với việc làm, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội;
- Đăng ký tham gia tuyển chọn và thực hiện nhiệm vụ khoa học và cộng nghệ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giao; sử dụng có hiệu quả kinh phí đầu tư phát triển khoa học và công nghệ, kí kết, thực hiện hợp đồng khoa học và công nghệ góp phần xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước ;
Trang 31- Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng kết quả hoạt động khoa học và công nghệ, công bố kết quả hoạt động khoa học và công nghệ, bảo vệ lợi ích của nhà nước và xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ của nhà trường
- Hợp tác, liên doanh, nhận tài trợ của các tổ chức, cá nhân; góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền sở hữu trí tuệ để tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất kinh doanh, sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh
tế để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường, chi cho các hoạt động giáo dục và bổ sung nguồn tài chính cho nhà trường
- Được Nhà nước giao đất; được thuê đất, vay vốn; được miễn, giảm thuế theo quy định của Nhà nước
- Tổ chức bộ máy nhà trường, thành lập và giải thể các tổ chức khoa học và công nghệ, các đơn vị sự nghiệp và các doanh nghiệp của trường theo quy định của Nhà nước
- Thực hiện dân chủ, bình đẳng, công khai trong việc bố trí và thực hiện các nhiệm vụ đào tạp, khoa học và công nghệ và hoạt động tài chính
- Thực hiện chế độ báo cáo cơ quan chủ quản và các cơ quan cấp trên
về các hoạt động của trường theo quy định hiện hành
c) Tổ chức và quản lí
Tổ chức và quản lí của trường đại học được qui định như sau:
- Hội đồng trường (đối với các trường công lập) và Hội đồng quản trị
(đối với các trường bán công, dân lập, tư thục gọi chung là các trường ngoài công lập)
- Hiệu trưởng trường Đại học: người đại diện theo pháp luật của nhà trường; chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường theo các quy định của pháp luật và Điều lệ trường Đại học
Trang 32- Phó hiệu trưởng trường Đại học giúp việc cho hiệu trưởng có các phó hiệu trưởng Phó hiệu trưởng trường Đại học phải có bằng tốt nghiệp Đại học trở lên, có sức khỏe, tuổi khi bổ nhiệm không quá 55 đối với nam và 50 đối với nữ Riêng phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo và nghiên cứu khoa học phải
có đủ các tiêu chuẩn như đối với hiệu trưởng
- Hội đồng khoa học và Đào tạo là tổ chức tư vấn cho hiệu trưởng về:
Mục tiêu, chương trình Đào tạo; kế hoạch dài hạn và kế hoạch hàng năm phát triển giáo dục – Đào tạo, khoa học và công nghệ của trường
Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên
Hội đồng khoa học và Đào tạo được thành lập theo quyết định của hiệu trưởng Nhiệm kỳ của Hội đồng khoa học và Đào tạo theo nhiệm kỳ của hiệu trưởng Chủ tịch Hội đồng do các ủy viên Hội đồng bầu theo nguyên tắc đa số phiếu Trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định theo phía có phiếu của hiệu trưởng Hiệu trưởng kí quyết định bổ nhiệm chủ tịch Hội đồng khoa học
và Đào tạo
- Các phòng có nhiệm vụ tham mưu và giúp hiệu trưởng trong việc quản lý, tổng hợp, đề xuất ý kiến, tổ chức thực hiện các mảng công việc chủ yếu của trường: Phòng Hành chính – Tổng hợp, Tổ chức cán bộ, Đào tạo Đại học và Sau đại học, Khoa học và Công nghệ, Công tác chính trị – Quản lí người học, Kế hoạch – Tài chính, Quan hệ quốc tế, Thanh tra
- Các khoa và bộ môn trực thuộc trường
- Các tổ chức khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp và các đơn vị
sự nghiệp Nhiệm vụ của các tổ chức nghiên cứu và phát triển là triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ, đưa tiến bộ khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng
- Các cơ sở phục vụ đào tạo, khoa học và công nghệ Trường Đại học
có Trung tâm Thông tin tư liệu phục vụ cho hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ… Trung tâm Thông tin tư liệu có trách nhiệm quản lý, bổ sung và
Trang 33cung cấp thông tin, tư liệu khoa học và công nghệ trong và ngoài nước thuộc các lĩnh vực hoạt động của trường, thu thập và bảo quản các sách, tạp chí, băng, đĩa, các tài liệu lưu trữ, các luận án đã bảo vệ tại trường, các ấn phẩm của trường; hướng dẫn và quản lý công tác quyền sở hữu trí tuệ của trường
- Tổ chức Đảng và các đoàn thể Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong trường Đại học lãnh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đảng, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Các đoàn thể, các tổ chức xã hội trong trường Đại học hoạt động theo quy định của pháp luật và có trách nhiệm thực hiện mục tiêu, nguyên lí giáo dục theo quy định của Luật giáo dục, phù hợp với tôn chỉ mục đích, chức năng, nhiệm vụ của đoàn thể, tổ chức xã hội đã được xác định
Cơ cấu tổ chức của trường đại học được thể hiện như sơ đồ1.2 dưới đây
Sơ đồ 1.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý trường đại học
Chủ tịch HĐ trường/HĐQT
Tổ chức Đảng CSVN
Các đoàn thể và tổ
Hội
đồng
Khoa
Trang 34[ 8,tr 21]
1.3.2 Khoa và Bộ môn - đơn vị quản lí trực tiếp hoạt động giảng dạy của giảng viên
a) Khoa trong trường đại học
Khoa là đơn vị quản lý hành chính cơ sở của trường, có các nhiệm vụ sau:
Các phó hiệu trưởng giúp hiệu trưởng
Bộ môn
Các tổ chức khoa học và công nghệ (viện, trung tâm…)
Cơ sở đào tạo: in ấn;
phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, kí túc
xá, nhà ăn, trung tâm
tư liệu
Các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp
: Quản lý, chỉ đạo thực hiện
: Phối hợp, hướng dẫn, kiểm tra
Trang 35- Xây dựng chương trình kế hoạch giảng dạy, học tập và chủ trì tổ chức quá trình đào tạo một hoặc một hoặc một số ngành; tổ chức quá trình đào tạo
và các hoạt động giáo dục khác trong chương trình, kế hoạch giảng dạ chung của nhà trường
-Tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ, chủ động khai thác các dự
án hợp tác quốc tế; phối hợp với các tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở sản xuất, kinh doanh, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội
- Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học thuộc khoa theo phân cấp của hiệu trưởng
- Quản lý chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và nghiên cứu khoa học
- Tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình môn học do hiệu trưởng giao; tổ chức nghiên cứu, cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập; đề xuất xây dựng kế hoạch bổ sung, bảo trì thiết bị dạy học, thực hành, thực tập và thực nghiệm khoa học
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác giáo dục chính trị,
tư tưởng, đạo đức, lối sống cho đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ cho giảng viên và cán bộ nhân viên thuộc khoa
Trên cơ sở quyết nghị của Hội đồng trường về kế hoạch phát triển của trường, hiệu trưởng quyết dịnh thành lập và giải thể các khoa
Đứng đầu các khoa là các trưởng khoa do hiệu trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm Giúp việc cho các trưởng khoa có các phó trưởng khoa do hiệu trưởng
bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của trưởng khoa Nhiệm kì của trưởng khoa và phó trưởng khoa là 5 năm và có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp
Trang 36Trưởng khoa, phó trưởng khoa được chọn trong số các giảng viên có uy tín, có kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý Trưởng khoa phải có học vị tiến sĩ Tuổi khi bổ nhiệm trưởng khoa, phó trưởng khoa các trường công lập không quá 55 đối với nam và 50 đối với nữ Giới hạn tuổi bổ nhiệm trưởng khoa, phó trưởng khoa trong các trường ngoài công lập được quy định trong quy chế về tổ chức và hoạt động của từng loại hình trường
Trong khoa có các Hội đồng Khoa học và Đào tạo của khoa Nhiệm vụ
và quyền hạn của Hội đồng Khoa học và Đào tạo của khoa do hiệu trưởng quyết định Trong các trường Đại học chuyên ngành chỉ tổ chức khoa hoặc bộ môn trực thuộc trường thì các khoa hoặc bộ môn trực thuộc có chức năng và nhiệm vụ được quy định như là chức năng và nhiệm vụ của các khoa và bộ môn trực thuộc trường
Bộ môn có nhiệm vụ sau đây:
- Chịu trách nhiệm về nội dung, chất lượng, tiến độ giảng dạy, học tập một số môn học trong chương trình, kế hoạch giảng dạy chung của trường, của khoa
- Xây dựng và hoàn thiện nội dung, chương trình, biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo liên quan đến chuyên ngành đào tạo và môn học được khoa
và trường giao
Trang 37- Nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, tổ chức các hoạt động học thuật nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Tiến hành nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và cung ứng các dịch vụ khoa học và công nghệ theo kế hoạch của trường và khoa giao, chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo, tổ chức khoa học và công nghệ, sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhằm gắn đào tạo, nghiên cứu khoa học với hoạt động sản xuất và đời sống xã hội, bổ sung nguồn tài chính cho trường
- Xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học của bộ môn; tham gia đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thuộc chuyên ngành
- Chủ trì việc đào tạo chuyên ngành cho một hoặc một số chuyên ngành; chủ trì việc đào tạo các chuyên ngành Sau đại học
- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị của bộ môn
Đứng đầu bộ môn là trưởng bộ môn Trưởng bộ môn do hiệu trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở đề nghị của trưởng khoa sau khi tham khảo ý kiến của các giảng viên trong bộ môn Trưởng bộ môn là nhà khoa học có uy tín của chuyên ngành đào tạo tương ứng Nhiệm kì của trưởng bộ môn là 5 năm và có thể được bổ nhiệm lại
Tiêu chuẩn cụ thể và giới hạn về độ tuổi của trưởng bộ môn do hiệu trưởng quy định nhưng không vượt quá tuổi lao động quy định tại Luật lao động đối với các trường công lập hoặc tuổi quy định tại quy chế về tổ chức và hoạt động của từng loại hình trường đối với các trường ngoài công lập
1.3.3 Hoạt động giảng dạy của giảng viên tại các Khoa và Bộ môn
Giảng viên thực hiện các hoạt động chuyên môn của mình tại Bộ môn thuộc các Khoa cụ thể trong trường đại học Trong hoạt động chuyên môn của giảng viên, hoạt động giảng dạy có vài trò quan trọng Đây là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn trong quĩ thời gian hoạt động của giảng viên
Hoạt động giảng dạy của giảng viên được xác định với các nội dung cụ thể như sau :
Trang 38a) Chuẩn bị giờ dạy và tổ chức giờ dạy cho các lớp sinh viên
- Chuẩn bị giờ dạy
Chuẩn bị bài giảng là công việc của GV và do GV thực hiện vì vậy không thể dựa vào những tài liệu mẫu cứng nhắc nào hết Mẫu là quan trọng những mẫu không giải quyết được những vấn đề thực tiễn của từng GVkhi thực hiện bài giảng của mình ở từng lớp SV cụ thể Hành vi sáng tạo của GV
về PPDH chính là ở bước thay đổi các kĩ năng và thủ thuật thực hiện PPDH
Do vậy, mỗi GV phải tự làm lấy công việc chuẩn bị bài giảng cho chính mình
Việc làm trước tiên để chuẩn bị bài giảng là xác định rõ đối tượng SV tại các lớp mà GV sẽ giảng dạy Tiếp đó là chuẩn bị tư liệu giảng dạy: Với mỗi bài giảng đã xác định rõ chủ đề và mục tiêu, GV phải chuẩn bị đầy đủ các
tư liệu phục vụ cho bài giảng đó Muốn vậy, GV phải biết nguồn tư liệu (khai thác ở đâu), và mục đích sử dụng ( khai thác cái gì) của những tư liệu đó
Các tư liệu phục vụ bài giảng rất phong phú về chủng loại và đa dạng
về nguồn gốc, đặc biệt trong tình hình thông tin phát triển và phương tiện hỗ trợ cho việc lưu gĩư và truyền tải thông tin ngày càng hiện đại Các tư liệu đó thể là một câu, một trích đoạn, một câu chuyện, một sự kiện lịch sử, một nhân vật điển hình mà giáo viên cần sử dụng để minh hoạ hay giải thích, chứng minh cho một lụân điểm lý luận khái quát nào đó mà giáo viên đang tổ chức cho SV lĩnh hội Đó cũng có thể là những tư liệu mà giáo viên cần giới thiệu
để SV đọc thêm khi họ có nhu cầu đào sâu, mở rộng kiến thức
Viết kế hoạch bài giảng: Kế hoạch bài giảng là văn bản ghi chép một cách chi tiết theo một trình tự lôgic những gì mà GV mong muốn sẽ diễn ra trong giờ lên lớp của mình Có kế hoạch bài giảng, GV mới chủ động khi giảng dạy và tránh được những sai sót (ví dụ quên một ý nào đó, một hoạt động nào đó) trong tiến trình giờ giảng Để có kế hoạch bài giảng, GV phải lập kế hoạch bài giảng, tức là phải viết ra những dự kiến của mình về bài giảng đó
Trang 39Kế hoạch bài giảng theo định hướng của đổi mới PPDH quan tâm chủ yếu đến chuỗi các hoạt động mà GV thiết kế cho SV Bằng hành động tham gia của từng cá nhân SV vào các hoạt động này, các em sẽ đạt được mục tiêu học tập
- Thực hiện giờ dạy
Thực hiện giờ dạy là quá trình thi công bản kế hoạch dạy học đã được
GV thiết kế Các tiêu chí thường được sử dụng để đánh giá việc thực hiện của giảng viên là:
1/ Thực hiện giảng dạy theo hình thức tổ chức dạy học đã thiết kế (lên lớp tại giảng đường, Phòng thí nghiệm, Bệnh viện…)
2/ Các hoạt động được giảng viên tổ chức trong giờ học như thế nào? 3/ Mức độ tham gia của sinh viên vào các hoạt động do GV tổ chức 4/ Các thông tin phản hồi về giờ học được thực hiện như thế nào
5/ Phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên
5/ Mức độ đạt được về mục tiêu dạy học…
Thực hiện giờ dạy cho lớp sinh viên là lao động đầy tính khoa học và nghệ thuật của GV Trên thực tế, không phải bao giờ các kế hoạch bài giảng cũng được thực hiện đúng như thiết kế Những tình huống dạy học khác nhau nảy sinh trong tiến trình của giờ học đòi hỏi người giảng viên phải có sự ứng
xử khéo léo mới có thể duy trì giờ học đạt đến các mục tiêu đã định
b) Tư vấn, giám sát, hướng dẫn, cố vấn cho sinh viên
+ Giám sát các hoạt động của sinh viên như hoạt động tại giảng đường, hoạt động thực tập, học dã ngoại…
+ Tư vấn cho sinh viên về các nguồn tài liệu, các phương pháp thực hiện nhiệm vụ học tập một cách có hiệu quả; tư vấn cho sinh viên về các đề tài nghiên cứu, luận văn…
+ Tư vấn cho sinh viên về nghề nghiệp, học thuật…
- Công tác nghiệp vụ sư phạm
Trang 40+ Tham gia các hoạt động nhằm phát triển về mặt chuyên môn, nghiệp
vụ
+ Tham gia đánh giá hoạt động giảng dạy của đồng nghiệp
+ Hướng dẫn các nghiên cứu về nghiệp vụ sư phạm
1.4 Quản lí hoạt động giảng dạy của giảng viên ở cấp khoa
1.4.1 Quản lý đào tạo ở cấp khoa
Hoạt động đào tạo của trường được thực hiện ở cấp khoa Nói cách khác, khoa là đơn vị đào tạo trong bộ máy quản lí của trường đại học Hoạt động đào tạo ở cấp khoa có một số đặc điểm
- Tính chất chuyên ngành sâu sắc: Mỗi khoa là một đơn vị đào tạo một hoặc một số chuyên ngành nhất định Do vậy, tính chất chuyên ngành được thể hiện rõ trong mục tiêu đào tạo, theo đó là chương trình, nội dung và tổ chức quá trình đào tạo ở mỗi khoa
- Tính độc lập tương đối: Mỗi khoa, xét về phương diện đào tạo là một đơn vị thực hiện nhiệm vụ đào tạo theo mục tiêu đã xác định Mục tiêu này không trùng lặp với mục tiêu đào tạo của các khoa khác Do đó, việc tổ chức đào tạo của khoa có tính độc lập tương đối về chương trình và hình thức tổ chức đào tạo Khoa là đơn vị có chức năng phát triển chương trình và hệ thống học có tính chuyên ngành của mình để tạo sự khác biệt và khẳng định tính độc lập tương đối của mình
Hoạt động đào tạo của khoa được quản lí theo cơ chế như sơ đồ 1.3 dưới đây