1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn thi tốt nghiệp môn Kinh tế chính trị

17 319 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 130 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế hàng hóa xuất hiện cùng với sự xuất hiện của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất trong quá trình pháùt triển kinh tế của xã hội loài người.. Trước đây, khi nghiên cứu các điều kiện

Trang 1

CÂU1: Trình bày những yếu tố sản xuất cơ bản của nền sản xuất xã hội: Các quy luật về tái sản sản xuất ý nghĩa thự tiển các yếu tố đĩ.

Bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, kể cả nền sản xuất hiện đại, đều bao gồm ba yếu tố cơ bản là: sức lao động của con người, tư liệu lao động và đối tượng lao động

-Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người, là điều kiện cơ bản của sản xuất ơ bất kỳ xã hội nào Nói cách khác, sức lao động là những năng lực của con người để hình thành khả năng lao động sản xuất tạo ra những của cải vật chất và tinh thần cho đời sống xã hội Khi sức lao động hoạt động thì trở thành lao động Lao động là hoạt động riêng của loài người, nó khác về cơ bản với hoạt động bản năng của động vật …

Năng lực đó gồm hai loại: thứ nhất được gọi là thể lực, đó là năng lực để duy trì lao động có tính thể lực của con người, nó bao gồm thể chất và khí chất Trong đó thể chất là năng lực nội sinh của con người đảm bảo năng lượng cần thiết cho người trong quá trình lao động, thường được biểu hiện ra bằng tình trạng sức khỏe của mỗi người Khí chất là năng lực về mặt tâm lý để hình thành cá tính của mỗi người trong hoạt động Thứ hai là trí lực, đó là năng lực sáng tạo của con người, là cơ sở cho hoạt động trí tuệ, thường bao gồm những kinh nghiệm, những tri thức đã được tích lũy cùng với khả năng vận dụng những kinh nghiệm và tri thức đó trong quá trình hoạt động

Yếu tố thể lực không thể thiếu đối với sức lao động, nhưng là yếu tố có giới hạn cả về mặt tự nhiên cũng như về mặt xã hội Năng lực sáng tạo của con người khác với yếu tố sản xuất vật chất khác ở chỗ nó không mất dần đi trong quá trình sử dụng mà chỉ mất đàn đi khi không được sử dụng Càng sử dụng lại càng có năng lực cao hơn Không những thế, chính năng lực sáng tạo của con người mới làm cho quá trình lao động của con người khác với những hoạt động có tính bản năng của thế giới sinh vật

Thể lực và trí lực của một sức lao động nào đó phải thỏa mãn được những yêu cầu về trình độ ở mỗi một giai đoạn pháùt triển thì mới được coi là một sức lao động thực sự trên thực tế

- Đối tượng lao động là những vật mà lao động của con người tác động vào nhằm cải biến chúng phù hợp với nhu cầu của mình Đối tượng lao động gồm có: Loại có sẵn trong tự nhiên mà lao động của con người chỉ cần tách nó khỏi môi trường tồn tại của nó là có thể sử dụng được, như gỗ trong rừng nguyên thủy, cá ngoài biển, than ở mỏ… Loại đã có sự tác động của lao động gọi là nguyên liệu, như thép thỏi trong nhà máy cơ khí, gỗ ở xưởng mộc

… Với sự pháùt triển của cách mạng khoa học kỹ thuật, con người ngày càng tạo ra nhiều đối tượng lao động có chất lượng mới

- Tư liệu lao động là toàn bộ là những vật mà con người dùng để tác động vào đối tượng lao động, để truyền dẫn lao động của mình tới đối tượng lao động làm biến đổi chúng theo yêu cầu của mình Tư liệu lao động gồm: Công cụ lao động là bộ phận quan trọng nhất của

Trang 2

tư liệu lao động, nó tác động trực tiếp với đối tượng lao động, quyết định trực tiếp năng suất lao động Trình độ công cụ lao động là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế Hệ thống các yếu tố vật chất phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất như băng chuyền, ống dẫn, cần trục, bể chứa… Những yếu tố vật chất khác không tham gia trực tiếp quá trình sản xuất, nhưng có tác dụng quan trọng đến toàn bộ nền sản xuất xã hội, như đường sá, các phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc, … gọi chung là kết cấu hạ tầng của sản xuất xã hội Nên sản xuất càng hiện đại, càng đòi hỏi kết cấu hạ tầng sản xuất pháùt triển và hoàn thiện

Tư liệu lao động và đối tượng lao động là các yếu tố vật chất của quá trình sản xuất; chúng hợp thành tư liệu sản xuất Quá trình lao động là quá trình kết hợp và tác động của các yếu tố sản xuất nói trên, tức của sức lao động và tư liệu sản xuất

Tư liệu sản xuất là đối tượng chiếm hữu quan trọng nhất, vì ai là người chiếm hữu những tư liệu sản xuất thì người đó là người chủ của quá trình kinh tế và nền kinh tế

Đối tượng lao động có thể là những yếu tố vật chất, phi vật chất; có thể do con người tạo ra hoặc tự nhiên tạo ra và một yếu tố nào đó có thể là đối tượng lao động của nhiều ngành sản xuất khác nhau

Trong tư liệu lao động, hệ thống máy móc công cụ được xác định có vai trò quan trọng nhất, nó được phân biệt các thời đại kinh tế với nhau, theo thời gian chúng sẽ ngày càng hiện đại, nhờ đó mà quá trình lao động của con người ngày càng gián tiếp hơn và năng suất lao động ngày càng cao hơn Nhưng dù đạt tới trình độ hiện đại như thế nào, lao động bao giờ cũng là lao động của con người, con người sử dụng máy móc chứ không phải máy móc sử dụng con người

Sự phân biệt đối tượng lao động và tư liệu lao động cần phải đặt chúng trong những quan hệ nhất định, vì yếu tố nào đó có thể trong trường hợp này là đối tượng lao động, nhưng trong trường hợp khác có thể là tư liệu lao động

Sự pháùt triển của nền sản xuất xã hội gắn liền với sự pháùt triển của hoàn thiện của các yếu tố sản xuất Quá trình chuyển biến nền sản xuất nhỏ, lạc hậu sang nền sản xuất lớn, hiện đại đòi hỏi pháùt triển đồng bộ cả ba yếu tố sản xuất của mục tiêu cuối cùng là trang bị công nghệ hiện đại, tiên tiến trong các lĩnh vực của nền sản xuất xã hội

Trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, sức lao động luôn luôn là yếu tố cơ bản, có tính chất quyết định Tuy nhiên, bản thân sức lao động có sự biến đổi căn bản về chất lượng phù hợp với trình độ của tư liệu sản xuất Nếu trong nền sản xuất thủ công, trình độ sức lao động chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sức cơ bắp thì trong nền sản xuất hiện đại, trình độ sức lao động dựa vào trí tuệ, tri thức và “chất xám” nói chung Trong nền sản xuất hiện đại, kho tàng trí tuệ trở thành tài nguyên quý giá nhất của mỗi dân tộc Do đó, giáo dục và đào tạo được nhiều quốc gia coi là quốc sách; ở nước ta, vấn đề này được đặt vào

Trang 3

quốc sách hàng đầu Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng ta chủ trương: “pháùt triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người-yếu tố cơ bản để pháùt triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.” (văn kiện Đại hội IX, trang 108)

Chủ đề 2: Kinh tế hàng hĩa Mối quan hệ kinh tế thị trường với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nĩi chung và với định hướng XHCN ở Việt Nam

Bài làm

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, sự tồn tại của sản xuất hàng hĩa là tất yếu khách quan Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thơng hàng hĩa, vì vậy thừa nhận sản xuất hàng hĩa khơng thể phủ định sự tồn tại khách quan của thị trường Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đã được Đảng ta khẳng định về lý luận và đang tồn tại phát triển ở Việt Nam.

Trong kinh tế hàng hóa giản đơn, người sản xuất trực tiếp là người sở hữu tư liệu sản xuất, hoặc thuê tư liệu sản xuất để sản xuất, làm cho sản xuất pháùt triển Dưới sự trao đổi của quy luật giá trị, sự biến động của giá cả, của cạnh tranh đã làm phân hóa những người sản xuất thành người giàu, trở thành ông chủ, và những người nghèo trở thành người làm thuê Thêm vào đó, quá trình tích lũy ban đầu của tư bản bằng bạo lực đã tạo thêm điều kiện để người giàu có đủ điều kiện để xây dựng nhà máy, mua nguyên vật liệu và thuê công nhân sản xuất nhằm thu về lợi nhuận, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành

Như vậy phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời từ sự chuyển kinh tế hàng hóa giản đơn thành kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa phải có hai điều kiện: có sự tập trung một số tiền lớn vào trong tất yếu một số ít người đủ để lập ra các xí nghiệp; có một lớp người tự do, không phải là nô lệ, họ không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản

Trong người sản xuất tư bản chủ nghĩa, người sản xuất trực tiếp là những công nhân làm thuê, không phải là người sở hữu tư liệu sản xuất, còn tư liệu sản xuất thuộc nhà tư bản, sản phẩm lao động do công nhân làm thuê tạo ra thuộc về chủ sở hữu tư liệu sản xuất

Đối với nước ta, trước đổi mới, chúng ta chưa nhận thức đúng hai điều kiện của kinh tế hàng hóa, phân công lao động bất cập, còn đối xử phân biệt giữa các hình thức sở hữu, có ích sở hữu tư nhân là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa Do đó làm cho kinh tế đất nước chậm pháùt triển

Sang thời kỳ đổi mới, chúng ta đã làm tốt hai điều kiện trên, với việc tổ chức phân công lại lao động xã hội , với việc thực hiện tốt đa dạng hóa các hình thức sở hữu đang

Trang 4

đóng góp tích cực cho người sản xuất nước ta pháùt triển đi lên định hướng xã hội chủ nghĩa

Có ý kiến nói kinh tế hàng hóa chỉ tồn tại và pháùt triển trong nền kinh tế có chế độ tư hữu là chưa đúng và chưa đủ

Kinh tế hàng hóa xuất hiện cùng với sự xuất hiện của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất trong quá trình pháùt triển kinh tế của xã hội loài người Song, nó tồn tại, pháùt triển và ngày càng hoàn thiện qua một số phương thức sản xuất tiếp theo pháùt triển phổ biến nhất, pháùt triển cao nhất trở thành hình thức sản xuất hàng hóa điển hình, nổi bật trong lịch sử là trong giai đoạn pháùt triển tư bản chủ nghĩa và nó tiếp tục tồn tại, pháùt triển ngay dưới chế độ xã hội chủ nghĩa khi mà chế độ tư hữu đã không còn thống trị, chế độ công hữu đã được hình thành củng cố và lớn mạnh

Tóm lại, chỉ đúng khi kinh tế hàng hóa mới ra đời Nó không còn đúng trong chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội, vì kinh tế hàng hóa không những tồn tại trong chủ nghĩa tư bản tiến lên chủ nghĩa xã hội, nó vẫn tồn tại và hoàn thiện cao hơn Vì vậy, câu này không đúng và không đủ

Để khẳng định kinh tế thị trường khơng đối lập với CNXH mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho cơng cuộc xây dựng CNXH và

cả khi CNXH đã được xây dựng chúng ta hãy phân tích làm rõ tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và mối quan hệ kinh tế thị trường với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và định hướng XHCN ở Việt Nam

1- Trước hết ta nĩi qua kinh tế thị trường là gì?

Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hĩa, trong đĩ tồn bộ các yếu tố “đấu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thơng qua thị trường.

Trong nền kinh tế hàng hĩa, các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện thơng qua quan hệ mua – bán hàng hĩa và dịch vụ trên thị trường Mục đích của các thành viên tham gia thị trường là tìm kiếm lợi ích (lợi nhuận) cho chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường hay “bàn tay vơ hình”.

Ta biết, kinh tế thị trường xuất hiện như là một yêu cầu khách quan khơng thể thiếu được của nền kinh tế hàng hĩa Xét về mặt lịch sử, kinh tế hàng hĩa cĩ trước kinh tế thị trường Kinh tế hàng hĩa ra đời, thị trường xuất hiện nhưng khơng cĩ nghĩa là đã cĩ kinh tế thị trường Chỉ với sự tăng trưởng của kinh tế hàng hĩa, thị trường được mở rộng, phong phú, đồng bộ và khi các quan hệ thị trường tương đối hồn thiện mới

cĩ kinh tế thị trường Như vậy, kinh tế thị trường khơng phải là một giai đoạn khác biệt, độc lập đứng ngồi kinh tế hàng hĩa mà là giai đoạn cao của kinh tế hàng hĩa.

Từ khi kinh tế thị trường ra đời cho đến nay, cĩ thể khái quát cĩ ba mơ hình: Kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, Kinh tế chỉ huy với cơ chế kế hoạch hĩa tập trung và kinh tế thị trường cĩ sự quản lý của Nhà nước.

Trang 5

Thực tiễn đã chứng minh, cả hai mô hình kinh tế thị trường đầu tiên đều có nhiều hạn chế và kém hiệu quả, vì thế ngày nay các nước trên thế giới chuyển sang mô hình kinh tế thị trường tự do cạnh tranh với

sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước.

2- Vậy, kinh tế thị trường có đối lập với chủ nghĩa xã hội không?

Trước đây, ở các nước XHCN nói chung và Việt Nam ta nói riêng, đã tồn tại phổ biến quan điểm sai lầm cho rằng: chủ nghĩa xã hội đối lập với kinh tế thị trường, phát triển kinh tế thị trường là đi chệch hướng XHCN - tức là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, quay lưng lại với CNXH Nguyên nhân dẫn đến sai lầm trên chủ yếu là do nhận thức không đúng về điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa thị trường và do chủ quan duy ý chí nên đã hiểu sai và vận dụng không đúng một số luận điểm của Mác và Ăngghen

Về mặt lý luận, cần khẳng định rằng kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa Những phạm trù gắn liền với nó là : thị trường, lợi nhuận, cạnh tranh, cung

- cầu, giá cả … phản ánh mối quan hệ chung, bản chất của chính bản thân nền sản xuất hàng hóa Trước đây, khi nghiên cứu các điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa

là phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, quan điểm lý luận của các nước XHCN đã quá nhấn mạnh chế độ tư hữu là nguồn gốc sản sinh ra chủ nghĩa tư bản nên từ đó đi đến kết luận sai lầm rằng việc xây dựng CNXH là xóa bỏ chế độ tư hữu, vì vậy cũng không còn nền sản xuất hàng hóa, thị trường nữa Thực ra, sản xuất hàng hóa bao giờ cũng tồn tại trong một chế độ xã hội nhất định, vì vậy mục đích, tính chất và phạm vi giới hạn của sản xuất hàng hóa còn bị chi phối bởi quan hệ sản xuất của phương thức sản xuất thống trị, sự phát triển của những quan hệ kinh tế quốc tế Các phạm trù hàng hóa, thị trường chịu sự tác chịu sự tác động của những quan hệ KT-XH nhất định trong từng chế độ

xã hội khác nhau và hình thành nên các phương thức sản xuất hàng hóa khác nhau, như sản xuất hàng hóa giản đơn, sản xuất hàng hóa TBCN, sản xuất hàng hóa XHCN Do đó sẽ sai lầm nếu đồng nhất nền kinh tế thị trường với CNTB, với kinh tế thị trường TBCN Thực tiễn nền kinh tế thị trường thế giới cho thấy: các nước khác nhau có trình độ kinh tế, kết cấu

xã hội, phong tục tập quán và truyền thống khác nhau nên cùng một mô hình hình kinh tế thị trường nhưng có các thể chế kinh tế khác nhau Không chỉ có các nước TBCN mới phát triển nền kinh tế thị trường, mà các nước XHCN cũng phát triển nền kinh tế thị trường (ví dụ nền kinh tế thị trường XHCN mang mầu sắc Trung Quốc ở Trung Quốc) Như vậy, không

có nền kinh tế thị trường nào là “bản sao” của nền kinh tế thị trường khác, mỗi nước cần tìm

ra cho mình một thể chế kinh tế thị trường phù hợp

Khi nhấn mạnh phân công lao động xã hội là điều kiện tồn tại của sản xuất hàng hóa, C.Mác đồng thời chỉ rõ rằng trong các công xã ở Ấn Độ và trong các công xưởng hiện đại, tuy lao động đã có sự phân công lao động xã hội, nhưng các sản phẩm lao động đó chưa trở thành hàng hóa vì “Chỉ có sản phẩm của những người lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc nhau mới đối diện vơi nhau như là hàng hóa" (C.Mác và Ăngghen: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1993, t23, tr72)

Người lao động tư nhân độc lập có thể là một người lao động cá thể hay là một lao động tổng thể (xí nghiệp, công ty, liên hiệp xí nghiệp … ) mà chỉ sản phẩm của cả tập thể mới trở thành hàng hóa Xét trong phạm vi toàn xã hội thì lao động của mỗi lao động cá thể hay tổng thể trước hết biểu hiện ra là lao động tư nhân, sản phẩm được tạo ra trước hết

Trang 6

thuộc quyền sở hữu của mỗi tư nhân đó (không kể yếu tố đầu vào thuộc quyền sở hữu của

họ hay là họ đi vay, đi thuê) và được xã hội thừa nhận

Sự xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là một nhân tố làm cho lao động của người sản xuất biểu hiện thành lao động tư nhân độc lập và cùng với sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng đã thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển Nhưng theo đà tăng trưởng của lực lượng sản xuất, nảy sinh xu hướng tách quyền sở hữu về mặt pháp lý khỏi quyền chiếm hữu và sử dụng tư liệu sản xuất C.Mác đã phân thành hai quyền: sở hữu danh nghĩa hay chiếm hữu và sở hữu có tính cách pháp lý Trong thời đại ngày nay, người sản xuất hàng hóa có thể chỉ là người sở hữu danh nghĩa Tính chất tư nhân, độc lập của lao động sản xuất hàng hóa không phụ thuộc vào quyền sở hữu về pháp lý mà chủ yếu phụ thuộc vào quyền chiếm hữu thực tế hay quyền sử dụng tư liệu sản xuất – họ vẫn là những người có quyền chiếm hữu kết quả sản xuất

Khi nói về giai đoạn thấp của Chủ nghĩa Cộng sản, tức là trong giai đoạn CNXH, C.Mác

đã nhấn mạnh: đó là một xã hội vừa thoát thai từ xã hội TBCN, do đó là một xã hội về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra Như vậy, làm sao xóa được ngay cái “dấu vết” đặc trưng của CNTB là kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường Trong giai đoạn XHCN, mỗi người lao động vẫn còn phải lệ thuộc vào sự phân công của lao động xã hội, vẫn còn sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc; lao động vẫn là phương tiện để sinh sống chứ chưa trở thành nhu cầu bậc nhất của mỗi người, sức sản xuất của xã hội chưa đạt đến mức của cải tuôn ra dào dạt để phân phối theo nhu cầu, thì vẫn phải đi con đường vòng thực hiện phân phối thông qua trao đổi hàng hóa

Từ những phân tích trên cho thấy quan điểm cho rằng CNXH đối lập với kinh tế thị trường là quan điểm sai lầm, kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng, là đặc trưng của CNTB Đó là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại Thực tiễn đã dạy rằng “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng” (Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII)

3- Về nhận thức: kinh tế thị trường cần thiết cho xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Ta đã biết, ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó có thị trường Trong thời

kỳ quá độ, các chủ thể tham gia thị trường thuộc nhiều thành phần kinh tế Và như vậy, trong thị trường thống nhất luôn tồn tại các lợi ích kinh tế khác nhau, mâu thuẫn với nhau Nhà nước XHCN thông qua các chính sách, pháp luật và các công cụ kinh tế khác để điều tiết thị trường, quản lý thị trường, làm cho thị trường lành mạnh, phong phú và sống động Trong nền kinh tế thị trường, thị trường trực tiếp hướng dẫn các doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực hoạt động, mặt hàng, quy mô, công nghệ và hình thức tổ chức sản xuất – kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất Sự phát triển của thị trường có tác dụng: kích thích sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển; kiểm tra mức độ thỏa mãn nhu cầu và khả năng sản xuất Với tác dụng như trên, thị trường được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển

Trang 7

Ở Việt Nam ta, từ sau Đại hội Đảng lần VI, đã có sự đổi mới về nhận thức, từ việc coi kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường là đối lập với CNXH sang nhận thức kinh tế thị trường không những không đối lập mà nó còn cần thiết cho quá trình xây dựng CNXH ở nước ta

Ta đã biết, kinh tế thị trường là thành tựu văn minh của nhân loại, là phương thức làm kinh tế hiệu quả hơn so với mô hình kinh tế điều tiết hành chính trực tiếp (phi thị trường) mà trước đây chúng ta đã áp dụng Ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH, sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan do những điều kiện chung để kinh tế hàng hóa xuất hiện vẫn còn tồn tại Những điều kiện chung đó bao gồm :

- Hiện nay, mặc dù lực lượng sản xuất ở nước ta còn thấp nhưng đã có sự phân công

xã hội Phân công lao động xã hội là cơ sở tất yếu của nền sản xuất hàng hóa vẫn còn tồn tại và ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, phân công lao động trong từng khu vực, từng địa phương cũng ngày càng phát triển Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện ở tính phong phú, đa dạng và chuyên môn sâu của các ngành nghề ở nước

ta, chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị trường

- Nền kinh tế nước ta hiện nay đang tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế như các thực thể kinh tế độc lập.Sự tồn tại và phát triển của nhiều hình thức sở hữu của nhiều thành phần kinh tế khác nhau tạo nên sự tách biệt kinh tế giữa các chủ thể kinh tế độc lập, cũng như điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường ở nước ta Trong những điều kiện đó, việc trao đổi sản phẩm giữa các chủ thể sản xuất với nhau thông qua con đường thỏa thuận, mua bán là một tất yếu

Đại hội Đảng lần IX đã khẳng định mô hình nền kinh tế ở nước ta trong thời kỳ quá độ

là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Sự lựa chọn đó xuất phát từ những lợi ích của việc phát triển kinh tế xã hội đem lại cho nước ta Sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta có những lợi ích như sau :

- Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, muốn phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất phải XH hóa, chuyên môn hóa lao động, làm cho phân công lao động phát triển nên đòi hỏi phải hợp tác trao đổi hàng hóa Quá trình ấy chỉ có thể diễn ra một cách thuận lợi trong nền kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường

- Chỉ có đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế thị trường mới làm cho nền kinh tế nước ta phát triển năng động, bởi vì :

+ Cơ chế thị trường là một cơ chế tự vận động của thị trường theo quy luật nội tại vốn

có của nó, trong đó có một loạt các quy luật kinh tế cùng đồng thời vận động và quan hệ hữu cơ với nhau Sự tác động của các quy luật giá trị, cạnh tranh, sự vận động của quy luật cung - cầu, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật lợi nhuận.… đã tạo sự tác động tổng hợp có tác dụng tích cực trong nền SX hàng hóa, nó có tác dụng lựa chọn các tiến bộ, đào thải cái lạc hậu, trì trệ, kém phát triển Vị vậy, kinh tế thị trường đòi hỏi người sản xuất phải tích cực, năng động, thường xuyên cải tiến kỹ thuật và tổ chức quản lý nhằm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu thị trường, nó có tác dụng trực tiếp hướng dẫn các doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực hoạt động, mặt hàng, quy mô, công nghệ và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm

Trang 8

đạt hiệu quả cao nhất Nhờ vậy, sự phát triển của kinh tế thị trường có tác dụng kích thích sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển

+ Phát triển kinh tế thị trường đòi hỏi phải đào tạo ngày càng nhiều cán bộ quản lý và lao động có trình độ cao Muốn thu nhiều lợi nhuận, họ phải vận dung nhiều biện pháp để quản lý kinh tế, ứng dụng nhanh những thành tựu khoa học kỹ thuật để nâng cao sức sản xuất của lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó, nhờ đó

có ưu thế trong cạnh tranh và thu lợi nhuận siêu ngạch nhiều hơn Qua các cuộc cạnh tranh trên thị trường, những nhân tài quản lý kinh tế và lao động thành thạo xuất hiện ngày càng nhiều và đó là dấu hiệu quan trọng cho tiến bộ kinh tế Kinh tế thị trường cũng mang lại tính dân chủ, xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của mỗi thành viên khi tham gia vào một quá trình kinh tế

+ Phát triển nền kinh tế thị trường là phù hợp với sự phát triển nền sản xuất sản xuất

xã hội, cũng có nghĩa là sản xuất xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng như cầu đa dạng của mọi người Thông qua thị trường, nhu cầu tiêu dùng của xã hội sẽ được thỏa mãn Sự tiêu dùng của nhân dân sẽ tái tạo nhu cầu, kích thích nhu cầu mới đòi hỏi sản xuất phải đáp ứng Thị trường có tác dụng kiểm tra mức độ thỏa mãn nhu cầu và khả năng sản xuất Nó còn là nơi so sánh giá trị hàng hóa, do đó thúc đẩy người sản xuất tìm mọi cách giảm tiêu hao lao động xã hội, giảm giá thành hàng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm Với tác dụng như trên, thị trường được coi như là một đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy sản xuất

và lưu thông phát triển

- Quan hệ hàng hóa - tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế đang phát triển ngày càng sâu sắc vì mỗi nước

là một quốc gia riêng biệt, là người chủ sở hữu đối với các hàng hóa đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới Sự trao đổi ở đây phải theo nguyên tắc ngang giá

Tóm lại, từ những phân tích trên cho thấy chỉ có kinh tế thị trường mới có khả năng tạo ra điều kiện cơ sở vật chất, tinh thần cho sự phát triển của mỗi người, tạo điều kiện cho

sự phát triển của mọi người Việc vận hành cơ chế kinh tế hàng hóa thị trường trong thời kỳ quá độ lên CNXH trong giai đoạn hiện nay là một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế Đó

là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng đất nước để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kinh tế hàng hóa, kinh

tế thị trường không đối lập với các nhiệm vụ KT-XH của thời kỳ quá độ lên CNXH mà trái lại thúc đẩy các nhiệm vụ đó phát triển mạnh mẽ hực tế trong thời gian vừa qua, việc chuyển sang mô hình kinh tế thị trường là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với quy luật Nhờ đó kinh

tế nước ta phát triển và tăng trưởng khá cao Bước đầu khai thác có hiệu quả tiềm năng trong nước, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội, đời sống của nhân dân ta từng bước được cải thiện

4- Những nguyên tắc đảm bảo cho kinh tế thị trường đảm bảo định hướng XHCN

Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001), lần đầu tiên nêu lên khái niệm nước ta đang thực hiện "nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" Vậy đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là gì ?

Trang 9

Nói kinh tế thị trường định hướng XHCN có nghĩa là nền kinh tế của chúng ta không phải là nền kinh tế thị trường tự do theo cách của các nước tư bản, tức là không phải kinh tế thị trường TBCN nhưng cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường XHCN Bởi chúng ta còn đang ở trong thời kỳ quá độ lên CNXH còn có sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có, vừa chưa có đầy đủ yếu tố XHCN Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta một mặt vừa có nguyên tắc, tính chất chung của nền kinh tế thị trường Theo nhiều nhà nghiên cứu khoa học thì kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên

cơ sở và được dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH thực hiện trên cả

3 mặt : sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối

Do đó kinh tế thị trường định hướng XHCN phải có những nguyên tắc đặc trưng, bản chất như sau :

* Về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường :

Trong nhiều đặc tính có thể dùng làm tiêu thức để phân biệt nền kinh tế thị trường ở nước ta so với nền kinh tế thị trường khác, phải nói đến mục đích chính trị, mục tiêu KTXH

mà nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn làm định hướng chi phối sự vận động và phát triển nền kinh tế

- Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là dùng cơ chế thị trường, sử dụng các hình thức và quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất khuyến khích tinh thần năng động sáng tạo của người lao động,giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật nhưng là để đi lên CNXH, không để cho thị trường tự phát theo con đường TBCN

- Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng lấy sản xuất gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp gắn liền với xóa đói giảm nghèo

* Nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Trong kinh tế thị trường TBCN thì sở hữu tư bản tư nhân giữ vai trò thống trị, còn trong kinh tế thị trường của chúng ta mặc dù cũng có nhiều thành phần kinh tế, trong đó có

cả kinh tế tư bản, kinh tế tư nhân nhưng giữ vai trò chủ đạo vẫn là sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, tức là công hữu bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và phần của kinh

tế nhà nước, kinh tế tập thể trong các cơ sở kinh tế liên doanh hỗn hợp - dần dần trở thành nền tảng, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kể cả sở hữu những ngành then chốt, kể cả

tỷ trọng trong nền kinh tế

Việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là vấn đề có tính nguyên tắc và là

sự khác biệt có tính chất bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN Ở đây, ta cần nhận thức rõ ràng, mỗi thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH có bản chất kinh tế xã hội riêng, chịu sự tác động của các quy luật kinh tế riêng nên bên cạnh sự thống nhất của các thành phần kinh tế còn có những khác biệt và mâu thuẫn khiến cho nền kinh tế thị trường ở nước ta có khả năng phát triển theo những

Trang 10

phương hướng khác nhau Vì vậy, nền kinh tế nhà nước phải được xây dựng và phát triển

có hiệu quả, để thực hiện tốt vai trò chủ đạo của mình, đồng thời nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý vĩ mô kinh tế xã hội để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN

* Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước XHCN :

Tuy nền kinh tế thị trường có nhiều điểm tích cực nhưng nền kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật như : mang tính tự phát, bất ổn định, chạy theo lợi nhuận nên gây

ra những hiện tượng tiêu cực như : hàng giả, lừa dối, trốn thuế và các hiện tượng kinh tế ngầm khác Vì vậy, đi đôi với phát triển kinh tế thị trường phải có sự kiểm soát, quản lý của nhà nước Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta cũng như kinh tế thị trường ở các nước TB đều có sự quản lý của nhà nước nhưng 2 nhà nước khác nhau về chất Trong quản lý nhà nước tư sản chủ yếu bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản, trước hết là những tập đoàn tư bản lớn Còn nhà nước chúng ta là nhà nước XHCN, nhà nước của dân, do dân vì dân, quản lý nền kinh tế theo nguyên tắc kết hợp thị trường với kế hoạch, kết hợp định hướng và cân đối của kế hoạch với tính năng động và nhạy cảm của thị trường Thị trường là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, nó tồn tại khách quan tự vận động theo quy luật vốn có của nó Kinh tế thị trường là căn cứ để xây dựng và kiểm tra các kế hoạch phát triển kinh tế Những mục tiêu và biện pháp mà kế hoạch nêu ra muốn thực hiện có hiệu quả phải xuất phát từ yêu cầu của thị trường Muốn cho thị trường hoạt động phù hợp với định hướng XHCN thì nó phải được hướng dẫn và điều tiết bởi kế hoạch Kế hoạch hóa vĩ

mô có thể tác đông đến cung - cầu, giá cả để uốn nắn những lệch lạc của sự phát triển do

sự tác động tự phát của thị trường gây ra, thông qua đó mà hướng hoạt động của thị trường theo hướng của kế hoạch Đối với chúng ta, cơ chế thị trường không phải là liệu thuốc vạn năng không phải là mục đích, mà chỉ là phương tiện Mục đích của ta không phải là chạy theo lợi nhuận tối đa cho một thiểu số người mà chính là để xây dựng CNXH

* Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập, trong đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu : Mỗi chế độ XH có chế độ phân phối tương ứng với nó Mỗi chế độ sở hữu có nguyên tắc, hình thức phân phối tương ứng, vì thế trong thời kỳ quá độ tồn tại cơ cấu đa dạng về hình thức phân phối thu nhập Sự khác nhau cơ bản giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN là

ở chỗ kinh tế thị trường TBCN phân phối chủ yếu theo tư bản, phục vụ lợi ích tối đa cho các nhà tư bản còn kinh tế thi trường XHCN xác lập chế độ công hữu và thực hiện phân phối theo lao động Chúng ta lấy phát triển kinh tế thị trường là phương tiện để đạt được mục tiêu cơ bản xây dựng CNXH, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện Vì vậy, mỗi bước tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với cải thiện đời sống… Việc phân phối thông qua các quỹ phúc lợi XH và tập thể có ý nghĩa quan trọng để thực hiện mục tiêu đó Về chính sách xã hội : chúng ta chủ trương làm giàu nhưng đó là làm giàu hợp pháp, cùng với làm giàu phải xóa đói giảm nghèo, hạn chế sự phân cực qáu đáng giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo là khó tránh khỏi, phải chấp nhận nhưng phải hạn chế nó, phải chăm lo tiến bộ và công bằng XH

Ngày đăng: 16/03/2015, 20:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w