Tôi chưa tìm ra để tài viết cho Hội thảo này thì được một số sinh viên, thạc sĩ, nghiên cứu sinh cho biết một thông tin: Trong kịch bản trình diễn về Lễ hội 990 năm Thăng Long sắp tới,
Trang 1cỡ! SỰ TÂN BIÊN VỀ TÁC GIẢ Ì
NAM QUỐC SƠN HÀ
Bài Duy Tân" NAM QUỐC SƠN HÀ (NQSH) từng được nhiễu học giả nổi
tiếng trong nhiều bộ sách lớn cho là do Lý Thường Kiệt viết ra Đó
là dự đoán hay võ đoán, tương truyền hay ngoa truyền? Văn bản
của bài thơ trích xuất từ loại hình tư liệu nào? có nên
thơ thần, khuyết danh thậm chí vô danh? Những vấn để
từng đã có kiến giải, song đường như vẫn là chuyện “cố s
oy
L
Dường như là chuyện cũ, chuyện xưa (cố sự) mà lại, muốn
bàn lại, viết mới (tân biên), thì rõ là “chuyện cũ viết mới” rồi
Duyên do câu chuyện là thế này Tôi chưa tìm ra để tài viết cho
Hội thảo này thì được một số sinh viên, thạc sĩ, nghiên cứu sinh
cho biết một thông tin: Trong kịch bản trình diễn về Lễ hội 990 năm Thăng Long sắp tới, bài thợ NQSH mà Thầy đã nhiều lấn viết, khẳng định không phải của Lý Thường Kiệt thì nay người ta vân cho là/ Soạn giả là Cát Điền, Tiến sĩ ngữ văn trường ta và
Phạm Thị Thành - nghệ sĩ nhân dân Hà Nội Tôi phôn hỏi lại TS
Cát Điền, NS Phạm Thị Thành và TS Nguyễn Viết Chức - Giám
đóc Sở Văn hoá Hà Nội Thì ra các vị dường như đều không nhớ
rõ, không chú ý lắm đến tình tiết và tác giả bài thơ Bà Thành, ông
` PGS Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội
368
Trang 2
ee 1.2/20) coUch than tam Giang
ig Hong, Trương Hát) đọc thơ NQSH âm phù quân ta
lặc, rồi hit nếu trong kịch bản có chuyện ấy thì sẽ sửa, tức
vn ài th y cho thân Tôi vẫn chưa thật yên tâm, bèn tìm trong
a cuốn a in,, được đề tặng, thì thấy một SỐ học
B Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2000, tr.73) có câu: “ Tính lào hùng của văn học Thăng Long chói sáng tr ong Lộ bố
của Ly Thường Kiệt và lời thơ Nam quốc sơn hà "° Ö sách
nhi tie giả Làng Dương Lôi và vương triéu Ly (NXB Van hoá
dân tộc, Hà Nội, 2000, tr.305) cũng viết: “Bài Nam quốc sơn hà
nam 1 dé cư nổi tiếng của Lý Thường Kiệt ””” Ngày 16 tháng 9 năm
2000, nhà thơ Vũ Quần Phương giới thiệu thơ trên đài truyền hình
Hà Nội, có câu nói: “Bài thơ NQSH là bài thơ tương truyền của Lý Thường Kiệt” Như vậy, ai là tác giả đích thực của bài thơ NQSH
vẫn còn là chuyện tồn tại Tôi thấy cần thiết và hứng thú trở lại viết về đề tài này cho Hội thảo Cho nên khi TS Chủ nhiệm bộ
môn Trần Ngọc Vương lệnh cho tôi phải viết: Tổng quan về văn hoc triéu Ly theo yêu cầu của Hội thảo, thì kết cấu bài bản của thiên: Cố sự tận biên này đã xong xuôi, tôi được chủ nhiệm bộ môn khuyến khích: Thế thì Thầy cứ viết vấn đề mà Thảy thích
* Sách này có một số chỗ viết có ý tương tự Ở đây chỉ trích dẫn 1 lần
**- Sách này cũng có một hai chỗ viết tương tự Có điều ở tr.246-247,
đã có một chú thích đúng đắn: “ Gần đây, theo ý kiến của một số nhà khoa học, bài Nam quốc sơn hà là khuyết danh Lý Thường Kiệt là
người sử dụng bài thơ này để động viên quân sĩ Bài thơ cũng đã được
thần độc để giúp Lê Hoàn ”
369
Trang 3Thực tình, khi nghe và đọc những gì trái ngược hản
kiến của mình tuy buồn nhưng bao giờ tôi cũng tỉnh táo,
lai xem tại sao luận điểm của mình chưa thuyết phục Tôi đã n
mot số có thể là không ít chưa hẻ đọc những bài viết của tôi,
cứ viết theo cách hiểu tuy mòn cũ, nhưng yên ổn, xuôi đồng
chữ, hơn nữa những bài viết phần nhiều chỉ dẫn dụ bài thc
tác giả để bàn luận về những vấn để khác, một số tuy CÓ đọc, có biết nhưng vì nhiều lý do, thậm chí rất tế nhị, không công khái t
rõ đồng tình hay phản đối Dầu sao thì để khẳng định NQSH là
thơ khuyết danh, Lý Thường Kiệt chỉ sử dụng bài thơ đã sẵn cổ đ
khích lệ tướng sĩ chiến đấu tôi cũng đã viết tới ba bài và nhắc đến chuyện này đãm bẩy lần khi viết những vấn đề khác Bài Nén chon
tác phẩm nào là sớm nhất của văn học trung đại Việt Nam (T
chí Hán Nôm số 2, 1993) và bài Bài thơ sớm nhất: Nam quốc s‹
hà hay Quốc tộ (Thế giới mới, 12-1993) Dĩ nhiên chọn NQSH,
hơn là Quốc lộ của Pháp Thuận viết năm 981, vì NQSH được thả đọc giúp Lê Hoàn chống Tống, còn Quốc tộ thì lời thơ của Pháp Thuan 1a dé trả lời Lê Hoàn hỏi về vận nước sau khi chống Tốn
thắng lợi, cả nước bước sang thời đại thái bình Bài Bàn thêm về văn bản và tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà (Tạp chí Văn học s(
10 - 1996) cũng có kết luận: *Bài thơ này nên để khuyết danh tác
gid” Dac biệt ở loại sách giáo khoa phổ thông, một loại sách đồi
hỏi độ chính xác cao về tư liệu văn bản, tôi đã từng bước giáo
khoa hoá kiến giải trên đây Ở Văn 10, với tư cách người thẩm
định, tôi để nghị các tác giả biên soạn dùng lời lẽ thích hợp bóc
dần tên Lý Thường Kiệt ra khỏi bài thơ Và Giáo sư Nguyễn Đình
Chú, chủ biên - soạn giả đã viết: “am quốc sơn hà (sông núi nước Nam) thường được coi là của Lý Thường Kiệt(?)° (Văn 10,
tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1990, tr81 và Văn học 10, tập 1,
sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000, tr.80) Ở Văn học 9, tập một, sách do tôi chính lý toàn bộ thì lần in đầu 1995 còn như thăm dò:
370
Trang 4on h là bài thơ tương truyền ˆ Lý Thường Kiệt đã
ñ tướng sĩ i (Van hoc 9, NXB GD, Ha Noi, 1995, tr.28) lai mới day, sách dùng cho niên học 2000 - 2001, tôi đã
i ' “Nam quốc sơn hà là bài thơ tương truyền` do
in Pa \ er Lý Thường Kiệt cổ vũ tướng sĩ (tr.28)ˆ.Và ở chú ( ¡ quyết hạ bút; “Thực ra coi đáy là bài Thơ Thần - khuyết
mới phù hợp với tư liệu hiện còn”(tr.29) Trong khoảng
gân đây, kiến giải mới về tác giả và văn bản bài thơ NQSÌ được nhiều thức giả cổ vũ, đông tình GS Trần Quốc
/uong l người đầu tiên khuyến khích tôi nên viết, ông còn cho
ôi biết ‘mot tư liệu đã từng nêu vấn đề tác giả bài thơ NQSH của
GS Hà \ Văn Tấn, GS Nguyễn Huệ Chỉ qua Từ điển văn học (tập 1,
mực từ Lý Thường Kiệt, NXB KHXH, Hà Nội,1983, tr.428) có
ag dong viết như đã hỏi, như gợi ý tìm tòi: “Về xuất xứ, đến
n chưa biết đích xác đây là tác phẩm của Lý Thường Kiệt
(the ø Việt điện u linh, Đại Việt sứ ký toàn thư) hay của Lê Hoàn
(theo Lĩnh Nam chích quái, Thiên nam vân lục liệt truyện) Nhà
Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc khi kết thúc bài viết vẻ Lý Thường
Kiệt trong Tác giả Thăng Long - Hà Nội (NXB Hội Nhà văn, Hà
Nội, 1998, tr.11) cũng có nhu cầu làm rõ “Bài thơ được coi là của
Lý Thường Kiệt thì tính chính xác của xuất xứ, tác giả và văn bản
cũng còn cần nghiên cứu thêm” Đặc biệt, GS Hà Văn Tấn, với
nhiều đòng viết mang phong cách sử bút, trong một bài báo từ
1988 buổi đầu thời đổi mới: L/ch sử, sự thật và sử học (Tổ quốc,
số 401, tháng 1 - 1988) da làm cho tôi vững tâm: “Không một nhà
sử học nào có thể chứng mình được rằng bài thơ Nam quốc sơn
hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chống Tống ở
`
` Nhấn mạnh - BDT
” Chú ý, trên là: Lý Thường Kiệt đã đọc Dưới là Thần đọc giúp Lý
Thường Kiệt, ý tứ dã có khác
371
Trang 5vùng sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ ï nghe tiểng gd
đó trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát Có thể đoán rà g
Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ Đi xa hơn, có thể đoán
Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ Nhưng đó là đoán thối, l n Sa
nói chắc được bài thơ đó là của Lý Thường Kiệt Thế nÌu
đến nay, mọi người dường như đều tin rằng đó là sự that, h
đúng hơn, không ai đám nghỉ ngờ đó không phải là sự thẻ
viết cuối như một quả đắng, song cũng chưa đến nổi n nà ào! Ị Ré |
tháng trước, khi đọc mấy bài viết về một số vấn để khảo ất tư
liệu, trong đó có vấn đề tác giả NQSH của tôi, in trong tập ách:
Khảo và luận một số tác giả - tác phẩm Trung đại Việt Nam (t
1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999) Ông phôn cho tôi ngay: Tôi
dạy ở Đà Lạt về thấy cuốn sách ông gửi tặng, tôi đọc ngay, am
thấy rất thú vi Cha là, trong lời để tặng, tôi có viết xin G§ đọc
ngay những bài hiên về khảo sát như các PGS Trần Nghĩa, Tran
Thị Băng Thanh, Kiểu Thu Hoạch đều đồng tình với luận điểm của tôi Riêng PGS Trần Nghĩa từng in một bài dài: Thử xác lật
văn bản bài thơ Nam quốc sơn hà (Tạp chí Han Nom, sé 1 oA
1986), nhung chua dat van dé tac gia Dén khi thay bai t6i gửi đến
có đặt ra vấn đề tác giả, ông cho đăng tải ngay ở tạp chí mà ông là Tổng biên tập ( xem bài: nên chon tác phẩm nào là sớm nhất đã dân) TS Nguyên Hữu Sơn, trong tập: Từ điển tác giả tác phẩm Việt Nam sắp xuất bản, đã tách NQSH thành một tứ điếu độc lập
tác giả khuyết danh, không để NQ§H vào tứ điếu: Lý Thường Kiệt như một vài Từ điển văn học thường thấy trước đây, với lời viết, ngay ở dòng đâu: "Bài thơ thất ngôn tưyệt cú lâu nay gán lầm cho
Lý Thường Kiệt, nay nên coi là bài Thơ thẩn- Khuyết danh '”
“Công trình kể biết mấy mươi” thế mà vẫn gặp phải sự cố
chap, bao thu, là ngơ, nghỉ ngại hoặc vô tình, hoặc hữu ý qua
_ Tác giả Nguyễn Hữu Sơn nhấn mạnh
372
a
“'-.
Trang 6tiện truyền thông văn hoá, văn học, như: phát thanh,
truyền hình, báo chí, kịch bản và cả trên những trang sách của một
số đại nhân, nhất là các bậc thức giả đã và đang cộng tác với các văn hoá văn học trong một số công trình về Thăng Long về
Tiểu Lý
aes Thực fa, chang phải đến bây giờ, mà từ trước Cách mạng tháng Tám, một vài tập sách có giá trị của các học giả nổi tiếng đã
khẳng định, bài thơ NQSH là thủ bút của Lý Thường Kiệt Dương
Quảng Hàm không hề do dự: “Lý Thường Kiệt khi chống nhau với
quân địch, có làm bài thơ để khuyến khích tướng sĩ, lời lẽ thật
khẳng khái” (Việt Nam văn học sử yếu, Bộ Giáo dục, ¡in lần thứ
10, Sài Gòn, 1968, tr.231,232) Nguyễn Đồng Chi than trong hon, tuy vẫn xem là của: “Thường Kiệt khi thúc quân cự địch, một hôm giả thác `chuyện nằm chiêm bao có một vi than cho bài thơ rằng” (Việt Nam cổ văn học sử, Hàn thuyên xuất bản cục, 1942, tr.143) Hoàng Xuân Hãn: “Theo ý Trần Trọng Kim, nhận rằng thơ là của Lý Thường Kiệt Nhưng chắc là Lý Thường Kiệt làm
được thơ thì không có gì làm bằng cit” (Lý Thường Kiệt, NXB Sông Nhị, Hà Nội, 1949, tr.303) Ngô Tất Tố trong Văn học đời
Lý, Hoa Bằng trong Thử viết Việt nam văn học sử, Nguyễn Văn Tố
trong bài phê bình: Đọc sách Việt Nam văn học của ông Ngô Tất
Tố không viết gì về bài thơ này
Sau Cách mạng tháng Tám, có vô vàn câu viết, bài viết, sách
viết khẳng định Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ NQSH Trước hết: và cũng là có tính chất tiêu biểu, phải kể đến 5 bộ sách lớn về
văn học sử:
1 Lược thảo Lịch sử văn học Việt Nam (nhóm Lê Quý Đôn)
2 Sơ thảo Lịch sử văn học Việt Nam (nhóm văn sử địa)
° Do tôi nhấn mạnh B.D.T
373
Trang 73 Lich sit van hoc Viét Nam E2 1472 ‹ S41
pe day nhat (1980) va oiling là bộ sách có tính chính thống cai
ve “Tác phẩm nổi tiếng nhất đời Lý là bài thơ Nam quốc
"' Năm 1076, để khích lệ tướng sĩ trong trận quyết
ei xâm lược Tong ở sông Cầu (sông Như Nguyệt), Lý
Kiệt đã nhân danh” thân sông Như Nguyệt làm bốn câu thơ:
sau "(tr.192) Sách nghiên cứu văn học viết thế, cl
lịch sử dường như cũng viết theo Lai ciing 1a bo Lich sit \
Nam, tap | ciia Uy ban Khoa học xã hội Việt Nam (NXB Khí
học xã hội, Hà Nội, 1971, tr.181) nhan dinh: “Trong khi thé v
lên của cả dân tộc để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược, '
Lý Thường Kiệt đã viết một bài thơ bất hủ Bằng bài thơ đó, Lý: Thường Kiệt đã nhân danh cả dân tộc ta ” “hy ‘elk pili
Độc giả có thể sẽ không yên tâm, không tha thứ cho tôi of,
tôi quên đi hai tên sách, một là sách ngbiên cứu, một là sách tuyển
tập, đều xuất hiện sau khi vấn đẻ tác giả bài NQSH đã được đật ra đầu thập niên 90 Sách nghiên cứu có tên là: Gương mặt văn học
Thăng Long (Sở Văn hoá thông tiỂ Hà Nội, 1994), một tập sách
day dan, lân đầu tiên viết vẻ văn học Thăñg Long qui mô, lệ thống, khoa học và rất cập nhật Sách có lần viết vẻ Lý Thường -
Kiệt, tác giả NQSH Xin trích dẫn ngay ở bài Dẩn luận: '“Thăng `
Long vào buổi bình minh của chế độ phong kiến tự chủ đã xuất hiện một gương mặt kỳ vĩ, khuôn mặt người anh hùng Lý Thường
` Do tôi nhấn mạnh, B.D.T
374
Trang 8gò Tuấn sinh ra và lớn lên ở phường Cơ Xá, về sau là đất với chiến công lừng lẫy đánh Tống, với hai áng văn
aa ¡ tắc phẩm khai sáng cho nén van hoc viét dan toc: Nam son ha va Lộ bố văn” (tr.1 1) Sách tuyển tập có tên là: Tổng
văn học Việt Nam, bộ tùng thư lớn nhất thời đại (42 tập,
00 trang, 900 tác giả, 9.000 tác phẩm) vừa được tái bản có sửa
chữa, bổ sung, trưng bày tại Hội thảo quốc tế “ Việt Nam trong thế
ky XX” vita qua, tap 1 của bộ Tổng tập xuất bản từ 1980 (Tổng
tập văn học Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội, 1980) đã dé NQSH
lên vị trí trang trọng Đầu tiên với chữ vàng ¡n trên nền đỏ Cố GS
Văn Tân cho rằng: “Truyền thống yêu nước được nêu cao hơn cả trong bài NQSH”(tr.249) nên xếp bài thơ trên cả Quốc tộ của Pháp Thuận viết vào nam 981 Đến lần tái bản có sửa chữa bổ sung qui
mô này (Tổng tập văn học Việt Nam, tập 1, NXB KHXH, Hà Nội,
2000) vị trí của NQSH vẫn thế, những dòng viết về NQSH vẫn vậy: “Bài thơ Nam quốc sơn hà do Lý Thường Kiệt làm năm 1077 trong khói lửa của cuộc chiến đấu quyết liệt chống giặc Tống xâm lược trên bờ sông Nguyệt là một trong những tác phẩm văn học nổi tiếng nhất của nước ta từ xưa đến nay: (tr.223) Rõ ràng GS Định Gia Khánh - Chủ tịch hội đồng biên tập muốn mở đầu và kết thúc Tổng tập bằng hai bài Tuyên ngôn độc lập” Nhưng giá GS theo kiến giải mới, trả NQSH cho khuyết danh/ nhân dân và thời gian xuất hiện là sớm nhất, thì tính cập nhật của bộ sách khi tái
bản chắc hẳn khách quan khoa học hơn nhiều ”
3 MWe
` Thứ nhất là bài NQSH vẫn được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên được tuyển chọn đặt lên đầu Tổng tập 1, nhưng vẫn cho là của Lý
Thường Kiệt làm năm 1077 Thứ hai là bài Tuyên ngôn độc lập Bác đọc ở Ba Đình, 2-9-1945, được tuyển chọn đặt ở vị trí kết thúc Tổng -
tập văn học Việt Nam
” Trong chương trình giao lưu: Sinh viên với lịch sứ văn hoá 1000 năm Thăng Long - Hà Nội của trường ta hồi đầu năm, phần tài liệu để Hội
đồng tham khảo có câu: “Bài thơ Nam quốc sơn hà bat hu cua Ông
375
Trang 9
Trên đây, mới chủ yếu 1a luge thuat Lich su van ae pur vay
xin din du mot sé tu liệu để minh chứng cho NQSH do ý Thường -
Kiệt viết ra là một ngô nhận nhằm duy lý một cách giản đơn một
truyền thuyết, một huyền tích, trái hẳn với tư liệu lịch sử _ via
Theo PGS Tran Nghia (Tạp chí đã dẫn) sự bổ sung của Lâm
Giang (Tạp chí Hán Nôm số 2 - 1993, bài tư liệu Hán Nôm ở Hà
Bắc) và Dương Thái Minh (Tạp chí Hán Nôm số 3 - 1993,
thơ Nam quóc sơn hà một di bản mới phát hiện) thì hiện các anh
đã sở hữu được 28 văn bản trong đó có một biển khắc gỗ để ở Phù
Khê - Tiên Sơn (Bắc Ninh), 27 bản khác là in hoặc chép tay Tôi
xin thêm 2 văn bản đều trong sách địa chí”, con số đã là 30 NQSH thường được ghi lại trong sử ký, truyện Ký-*đ†ầ*€hí, nhưng nhiều hơn là ở thần tích của hàng trăm đình đền thờ Thánh Tam
Giang (tức Trương Hống, Trương Hát, thần Sông Như Nguyệt) tập
trung ở vùng Kinh Bắc, Sơn Tây thời xưa Chỉ tính sơ sơ qua ghi chép của Trương tôn thần sự tích (bản in VHv- 1268 - Viện nghiên cứu Hán Nôm) thì ở 14 huyện: Vũ Giàng, Quế Dương, Tiên Du Đa Phúc Hiệp Hoà, Phúc Thọ đã có đến gần 300 xã có đến miếu thờ Thánh Tam Giang””” Cứ mỗi đền có một thần pha thì ta
đã có non 300 thần phả tức 300 dị bản của bài thơ NQSH Hãy chỉ
qua 30 văn bản bài thơ đã biết đã sơ thấy, nảm trong nhiều thể tài:
(tức của Lý Thường Kiệt) coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của
dân tộc Việt Nam” +
“ Phan Huy Chú, trong Lịch triểu hiến chương loại chí, ghi lại văn bản bài thơ là ở phần dư địa chí, Kinh Bác Còn Đại Nam nhất thống chí thì có văn bản bài thơ ở phần Đền Miếu Bắc Ninh
` Hoàng Xuân Hãn, trong Lý Thường Kiệt có chú thích: “ Cả vùng
sông Câu và Thương có đến hơn 290 ngôi đến thờ hai vị họ
Trương ”(tr.303, sđd)
376
a ,ỒỘỐ
Trang 10sử ký, địa chí, truyện ky, thân tích, sự tích, phong vật chí có thể
- “Bài thơ nằm trong văn bản có dạng truyền thuyết, huyền
tích, có tính chất một bài thơ thần, khuyết danh, thậm chí vô danh
Có lẽ vì thế mà bài thơ không hề được tuyển vào bất cứ một tuyển
thơ nào thời Trung đại, như Việt Âm thì tập, Trích diễm thi tap, Tỉnh tuyển chư gia thư tập, Toàn Việt thí lục, Hoàng Việt thi tuyển Thể tài sử ký địa chí được coi là ghi chép rõ ràng, tư liệu
chính xác, thì bài thơ cũng có toàn văn trong các tập sử địa lớn:
Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Việt sử diễn âm (khuyết danh)`, Việt sử tiêu án (Ngô Thì Sĩ), Việt sử tiệp kính (Phạm Quý Thích) và Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Đại Nam nhất thống chí (triều Nguyên) Xin dẫn ra đây nguyên bản của Đại Việt sử ký toàn thư:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Và nguyên bản của Trương Tôn thần sự tích, bản này chính
là bản đang được dùng trong và ngoài nhà trường hiện nay:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
` Trong mấy bộ sử Nôm, bộ thì ghi lại cả itso bài thơ, như Việt sử diễn âm, bộ thì chỉ ghi hiện tượng âm phù, như Đại nam quốc sử diễn
ca, Bên Sông Như Nguyệt trú dinh Giang sơn dường có thân linh hộ trì Miếu tiền phang phat ngâm thi Như phân địa thấp như trí thiên bình (NXB Văn học, Hà Nội, 1966, tr.126)
a17