1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu qua việc giảng dạy phương trình hàm

84 932 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Trong các kỳ thi Học sinh giỏi Quốc gia, Quốc tế thường xuất hiện các bài toán về phương trình hàm, đó là những dạng bài tập khá mới mẻ đối với học sinh THPT.. Phương

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thành Văn

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

DANH MỤC VIẾT TẮT

1 CNTT : Công nghệ thông tin

2 HSG : Học sinh giỏi

3 THPT : Trung học phổ thông

4 PTH : Phương trình hàm

Trang 3

MỤC LỤC

Trang MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 1

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 1

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Cấu trúc luận văn 2

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Mục tiêu giáo dục và nhiệm vụ dạy học môn toán 3

1.2 Phát triển tư duy sáng tạo của học sinh ở trường phổ thông 3

1.3 Phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở trường phổ thông 5

1.3.1 Năng khiếu và năng khiếu toán học 5

1.3.2 Công tác tổ chức giảng dạy nhằm phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở trường phổ thông 7

1.4.Thực trạng giảng dạy phương trình hàm ở trường phổ thông 9

Kết luận chương 1 10

Chương 2: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI PHƯƠNG TRÌNH HÀM THƯỜNG GẶP 11

2.1 Một số khái niệm và định lý quan trọng liên quan tới phương trình hàm 11

2.2 Một số phương pháp pháp giải bài toán phương trình hàm thường dùng 12

2.3 Hướng khai thác, mở rộng bài toán phương trình hàm 62

Chương 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69

Trang 4

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 69

3.2 Hoạt động của học sinh sau khi học chuyên đề phương trình hàm 73

3.3 Một số nhận xét sau thực nghiệm 76

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong các kỳ thi Học sinh giỏi Quốc gia, Quốc tế thường xuất hiện các bài toán về phương trình hàm, đó là những dạng bài tập khá mới mẻ đối với học sinh THPT Phần lớn học sinh THPT chưa được làm quen nhiều với dạng bài toán này và đặc biệt là những cuốn sách tham khảo về phương trình hàm chưa được phong phú

Nguồn gốc của mỗi bài toán phương trình hàm thường rất đa dạng, nội dung của loại toán này còn khó và lạ lẫm với phần lớn học sinh, điều này dẫn tới khó khăn cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi Do vậy, việc phân loại các lớp bài tập phương trình hàm và đưa ra được những phương pháp giải tương ứng là điều hết sức cần thiết Nhưng công việc này không dễ dàng, đòi hỏi sự công phu mạch lạc bởi đôi khi có những bài toán mà những cách giải thông thường không giải quyết được hoặc phải kết hợp nhiều phương pháp cùng một lúc

Vậy có thể phân loại, sắp xếp để đưa ra những phương pháp giải tương ứng cho từng lớp bài tập phương trình hàm hay không?

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Tìm hiểu các lớp bài toán phương trình hàm và các phương pháp giải thường dùng từ trước tới nay

- Phân loại, sắp xếp, đưa ra các phương pháp giải chung tương ứng cho từng lớp bài tập và xây dựng một số bài tập của dạng toán này

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp và phân loại các bài toán đã có

- Đưa ra các phương pháp giải tương ứng cho từng dạng bài

Trang 6

4 Phạm vi nghiên cứu

Một số phương pháp giải phương trình hàm thường dùng và cách xây dựng các bài toán dạng này

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu lý luận

Tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề liên quanh đến đề tài định hướng cho việc nghiên cứu; phân tích và tổng hợp những quan điểm dựa trên các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học môn toán và các tài liệu về phương trình hàm

Phân tích giúp học sinh nắm thật rõ bản chất vấn đề, lựa chọn phương pháp giải cho phù hợp với bài toán

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận

Chương 2 Một số phương pháp giải phương trình hàm thường dùng Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Mục tiêu giáo dục và nhiệm vụ dạy học môn toán

Mục tiêu của Giáo dục & Đào tạo là đào tạo những con người lao động tự chủ, tích cực, có năng lực giải quyết vấn đề, góp phần thực hiện mục tiêu lớn của đất nước là "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh "

(Trích Nghị quyết Trung ương Đảng khóa VIII)

Nhiệm vụ dạy học toán ở trường phổ thông cụ thể là:

- Trang bị tri thức toán học cho học sinh

- Phát triển trí tuệ cho học sinh Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất Dạy học môn toán có nhiệm vụ phát triển cho học sinh tư duy trừu tượng, tức là cách nghĩ gạt bỏ đi những cái cụ thể, giữ lại những cái bản chất Dạy học môn toán có nhiệm vụ phát triển cho học sinh tư duy thuật toán, tức là cách nghĩ nhận thức và giải quyết vấn đề theo trình tự hợp lý Ngoài ra, dạy học môn toán còn phải phát triển cho học sinh tư duy hàm, tức là toán học hoá những bài toán thực tiễn

- Rèn luyện kỹ năng cho học sinh

- Bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất năng lực của người lao động mới như là tính cần cù, cẩn thận, chu đáo, kiên trì,

- Chuẩn bị hành trang cho học sinh sau khi rời ghế nhà trường bước vào cuộc sống lao động hoặc vào trường đại học

1.2 Phát triển tư duy sáng tạo toán học cho học sinh ở trường phổ thông

Toán học có thể xem xét theo hai phương diện Nếu chỉ trình bày lại những kết quả toán học đã đạt được thì nó là một khoa học suy diễn và tính logic nổi bật lên Nhưng nếu nhìn toán học trong quá trình hình thành và phát

Trang 8

triển, trong quá trình tìm tòi và phát minh, thì trong phương pháp của nó vẫn

có tìm tòi, dự đoán, vẫn có thực nghiệm và quy nạp Như vậy sự thống nhất giữa suy đoán và suy diễn là một đặc điểm của tư duy toán học Ngày nay, khi khoa học và công nghệ có những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong nền kinh tế tri thức, thì mục tiêu giáo dục nói chung và nhiệm vụ phát triển tư duy sáng tạo cho thế hệ trẻ nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng Sứ mệnh của nhà trường hiện đại là phát triển tối ưu nhân cách học sinh, trong đó năng lực sáng tạo cần được bồi dưỡng để thúc đẩy mọi tài năng

Môn toán với vị trí của nó trong nhà trường phổ thông, có khả năng to lớn giúp học sinh phát triển các năng lực và phẩm chất trí tuệ, rèn luyện tư duy chính xác, hợp logic, phương pháp khoa học trong suy nghĩ, lập luận, trong học tập và giải quyết các vấn đề : Biết quan sát, thí nghiệm, mò mẫm,

dự đoán, dùng tương tự, quy nạp, chứng minh, và qua đó có tác dụng lớn rèn luyện cho học sinh trí thông minh sáng tạo Phát triển tư duy sáng tạo toán học nằm trong việc phát triển năng lực trí tuệ chung, một nội dung quan trọng của mục đích dạy học môn toán Mục đích đó cần được thực hiện có ý thức, có hệ thống, có kế hoạch chứ không phải tự phát Về phía giáo viên, trong hoạt động dạy học toán cần vạch ra những biện pháp cụ thể và thực hiện đầy đủ một số mặt sau đây :

- Rèn luyện tư duy logic và ngôn ngữ chính xác

- Phát triển khả năng suy đoán và tưởng tượng

- Rèn luyện các hoạt động trí tuệ cơ bản, các thao tác tư duy như : Phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, trừu tượng hoá

- Hình thành, rèn luyện những phẩm chất trí tuệ như : Tính linh hoạt, tính độc lập, tính sáng tạo trong tư duy

Trang 9

1.3 Phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở trường phổ thông

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nhắc nhở những người làm công tác giáo dục: "Phải có ý thức phát hiện và bồi dưỡng các em có năng khiếu

về toán và các môn khác, đừng bỏ sót em nào, bỏ sót sẽ rất uổng" Vậy năng khiếu là gì mà có vai trò quan trọng như vậy ?

1.3.1 Năng khiếu và năng khiếu toán học

* Năng khiếu là gì ?

Theo từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên): năng khiếu là tập hợp những tư chất bẩm sinh, nét đặc trưng và tính chất đặc thù làm tiền đề bẩm sinh cho năng lực

Theo "Khơi dậy tiềm năng sáng tạo" (tác giả Nguyễn Cảnh Toàn) thì năng khiếu là năng lực còn tiềm tàng về một hoạt động nào đó nhưng chưa bộc lộ ở thành tích cao vì chưa qua tập dượt, rèn luyện nên còn thiếu hiểu biết và chưa thành thạo trong lĩnh vực hoạt động đó

Tâm lý học nhân cách (Nguyễn Ngọc Bích): Năng khiếu là những tiền

đề bẩm sinh, những khuynh hướng đầu tiên tạo điều kiện cho năng lực và tài năng phát sinh Nó bao gồm những đặc điểm tâm sinh lý giải phẫu của hệ thống thần kinh và khuynh hướng tâm lý đầu tiên tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển một năng lực nào đó

Năng khiếu tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành năng lực và tài năng Nghĩa là không phải trẻ nào có năng khiếu cũng thành thiên tài Một

em có năng khiếu đối với một hoạt động nào đó không nhất thiết sẽ trở thành tài năng trong lĩnh vực ấy và ngược lại

Điều này cho thấy rằng năng khiếu chỉ là dấu hiệu đầu của tài năng chứ không phải là tài năng Cấu trúc của năng khiếu chỉ mới xuất hiện một

số thành phần cơ bản nhưng chưa ổn định, dễ thay đổi Vì vậy, ta cần chú

Trang 10

trọng, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu cho các em một cách kịp thời, để không lãng phí những mầm ươm tài năng tương lai

* Năng khiếu toán học

Năng khiếu, theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt là năng lực vượt trội, năng lực đặc biệt của con người xuất hiện từ khi còn nhỏ Như vậy, năng khiếu toán học có thể coi như một tổ hợp những năng lực toán học, mà

ở lứa tuổi học sinh thể hiện rõ nhất ở năng lực học toán

Nhà tâm lý học V.A Kowrutecxki cho rằng: "Năng lực học tập toán học là những đặc điểm tâm lý cá nhân (trước hết là các đặc điểm hoạt động trí tuệ), đáp ứng yêu cầu hoạt động toán và giúp cho việc nắm giáo trình toán một cách tương đối nhanh, dễ dàng và sâu sắc kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo toán học " [51, tr.13]

Viện sĩ toán học A.N Kômôgôrôp viết trong cuốn sách "Về nghề nghiệp của nhà toán học": Để nắm vững toán học một cách có kết quả ở mức

độ cao thì đòi hỏi cần có những năng lực toán học được phát triển, năng lực này mang ý nghĩa sáng tạo khoa học Theo ông, thành phần cơ bản của năng lực toán gồm có :

- Năng lực biến đổi khéo léo những biểu thức phức tạp, năng lực tìm ra con đường giải phương trình không theo quy tắc chuẩn, năng lực tính toán

- Trí tưởng tượng hình học hay là trực giác hình học

- Nghệ thuật suy luận logic theo các bước đã được phân chia một cách đúng đắn kế tiếp nhau, nguyên tắc quy nạp toán học là tiêu chuẩn tốt cho sự trưởng thành logic hoàn toàn cần thiết đối với nhà toán học

Theo quan điểm tâm lý học, trong mỗi con người đều tiềm tàng một năng khiếu, một tài năng, tất nhiên ở mức độ khác nhau Đó là một kết

Trang 11

biện pháp phát hiện những năng khiếu toán ở học trò, từ đó có thể tạo ra môi trường và tổ chức các hoạt động thích hợp giúp các em phát triển năng lực đó

1.3.2 Công tác tổ chức giảng dạy nhằm phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở trường phổ thông

Trên thế giới, việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu đã có

từ rất lâu Ở Trung Quốc, từ đời Đường những trẻ em có tài đặc biệt được mời ra sân Rồng để học tập và được giáo dục bằng những hình thức đặc biệt

Từ năm 2001, chính quyền NewZeland đã phê chuẩn kế hoạch phát triển chiến lược HSG Cộng hoà Liên bang Đức có hiệp hội dành cho HSG

Các em có năng khiếu thường bộc lộ những đặc tính :

- Có niềm say mê, yêu thích bộ môn

- Có tư chất bẩm sinh như tiếp thu nhanh, có trí nhớ bền vững, có khả năng phát hiện vấn đề và có khả năng sáng tạo

- Có vốn tri thức, giàu cảm xúc và thường nhạy cảm trước mọi vấn đề của cuộc sống

Chính vì vậy, các em có thể học bằng nhiều cách khác nhau và tốc độ nhanh hơn so với các bạn cùng lớp, vì thế, mỗi bộ môn cần biên soạn riêng một chương trình bồi dưỡng sao cho đạt được mục tiêu:

+ Có kiến thức khoa học cơ bản, hiện đại, tiên tiến

+ Có tính tự lập và khả năng nhận thức ở mức độ cao

Trang 12

Trong đó, việc rèn luyện cho học sinh có tính tự lập và khả năng nhận thức ở mức độ cao là quan trọng và khó khăn nhất Có thể phân chia việc tổ chức giảng dạy theo từng giai đoạn ở từng cấp lớp như sau:

Giai đoạn 1 :

 Giới thiệu chương trình, sách giáo khoa, các loại sách, tài liệu tham khảo dành riêng cho học sinh năng khiếu

 Hướng dẫn học sinh cách học, cách nghe giảng và ghi chép bài học

Giai đoạn 2: Hướng dẫn học sinh tiếp thu một số kiến thức cơ bản về môn

Chuyên Qua đó làm cho các em yêu thích môn học mình sắp theo đuổi

Giai đoạn 3: Giúp học sinh biết cách giải quyết , khai thác một đơn vị kiến

thức hay một bài tập Từ đó cho các em khả năng tư duy logic, tư duy độc lập sáng tạo và biết cách tương tự hoá, mở rộng hoá, tổng quát hoá một vấn

đề của kiến thức

Giai đoạn 4: Kiểm tra, đánh giá để phân loại, từ đó sẽ tìm ra được những

gương mặt tiêu biểu để tiếp tục bồi dưỡng năng khiếu vốn có của các em

Giai đoạn 5: Khi thấy nhận thức của học sinh đến độ chín, yêu cầu các em

viết chuyên đề theo nhóm, tham gia viết bài trên báo hay tạp chí chuyên ngành

Giai đoạn 6: Tham dự các kỳ thi học sinh giỏi các cấp

Việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu là một công việc hết sức quan trọng của người thầy Năng khiếu và tri thức văn hoá nói chung phải được bồi đắp theo năm tháng, gắn liền với sự nhạy bén của tố chất cá nhân Người thầy phải là "chất xúc tác" trong quá trình biến đổi chất, là người định hướng cho những năng khiếu đó được bộc lộ mạnh mẽ nhất

Để hoàn thành được sứ mệnh này, thầy cô giáo phải tham khảo nhiều tài liệu một cách thường xuyên để cập nhật, bổ sung và phát triển chuyên đề mình phụ trách, phải chủ động đi trước học sinh một bước, hướng dẫn và

Trang 13

Trong quá trình giảng dạy, người thầy phải dạy cho học sinh tiếp cận kiến thức một cách tự nhiên, chủ động và sáng tạo, cụ thể là dạy cho các em cách tìm đến kiến thức và nghiên cứu nó, cách làm bài tập, cách đọc sách và tìm tài liệu, cách mở rộng và khai thác kiến thức, cách chế tác và tổng quát hoá một bài tập,

Người thầy phải luôn thắp sáng ngọn lửa say mê môn học mà học sinh đang theo đuổi, phải dạy cho các em niềm tin có thể biến ước mơ thành hiện thực, biết chấp nhận khó khăn để cố gắng vượt qua, biết rút kinh nghiệm sau những lần thất bại hay thành công trong từng giai đoạn mà mình phấn đấu

1.4 Thực trạng giảng dạy phương trình hàm ở trường phổ thông

Hiện nay, ở các trường THPT , phương trình hàm vẫn chưa được đề cập nhiều Phần lớn những học sinh tiếp cận phương trình hàm là những học sinh lớp chuyên Toán, còn đối với học sinh đại trà thì vẫn là một lĩnh vực xa

lạ, khó tiếp cận, rất lúng túng trong quá trình phân tích để tìm ra bản chất và vận dụng kiến thức về phương trình hàm một cách thích hợp

Đa số học sinh khi tìm hiểu về phương trình hàm đều cảm thấy khó bởi vì đây là loại toán đòi hỏi người học phải vận dụng nhiều kiến thức khi giải, có khả năng tư duy tốt, khả năng khái quát, phán đoán vấn đề,

Hơn nữa, thầy cô không dạy lớp chuyên, trường chuyên thì cũng không nghiên cứu sâu về mảng kiến thức này

Chính vì lẽ đó, phương trình hàm không phải là một kiến thức quá mới

mẻ của toán học nhưng lại không phải là kiến thức phổ thông mà học sinh THPT nào cũng biết

Trang 14

- Có khả năng quan sát tinh tế, mau chóng phát hiện ra các dấu hiệu chung

và riêng, mau chóng phát hiện ra các nút làm cho việc giải quyết vấn đề phát triển theo hướng hợp lý hơn, độc đáo hơn

- Có khả năng suy luận có căn cứ chắc chắn, có ý thức tự kiểm tra việc làm

- Có khả năng chuyển từ trừu tượng khái quát sang cụ thể và ngược lại

Và để thuận lợi hơn trong việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu trong quá trình giảng dạy phương trình hàm, chúng tôi đã tập hợp các bài toán phương trình hàm đã có, sắp xếp , phân loại để đưa ra những phương pháp giải tương ứng nhằm giúp các em có một tư duy hệ thống về phương trình hàm Qua hệ thống bài tập phong phú, giúp các em có được kỹ năng giải phương trình hàm tốt nhất, và có cái nhìn khái quát, logic về phương trình hàm, mở ra cho các em những hướng suy nghĩ mới, bước đầu tìm hiểu và xây dựng nên những bài toán mới

Trang 15

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI PHƯƠNG TRÌNH HÀM THƯỜNG DÙNG

2.1 Những khái niệm cơ bản

2.1.4 Hàm cộng tính, nhân tính trên một tập hợp

Hàm số f(x) được gọi là cộng tính trên tập xác định D nếu với mọi x, y

D thì x + y D và f(x+y) = f(x) + f(y)

Trang 16

Hàm số f(x) được gọi là nhân tính trên tập xác định D nếu với mọi x, y

D thì x.y D và f(xy) = f(x).f(y)

Nếu với mọi x, y D mà x+y  D, x - y D và f(x-y) = f(x) - f(y) thì f(x) cũng gọi là một hàm cộng tính trên D

2.2 Một số phương pháp giải phương trình hàm thường dùng

Như ta đã biết, phương trình hàm là một phương trình thông thường

mà nghiệm của nó là hàm Do vậy việc đầu tiên ta sẽ nêu những đặc trưng của một số hàm sơ cấp thường gặp trong chương trình phổ thông Nhờ các đặc trưng này, mà ta có thể dự đoán kết quả của các phương trình hàm tương ứng cũng như có thể đề xuất những dạng bài tập tương ứng với các đặc trưng hàm đó

Trang 17

Đặc trưng hàm : f(xy) = f(x)f(y);  x y ,

Phương pháp 1 Sử dụng các giá trị đặc biệt để đoán nhận nghiệm của phương trình hàm

Cũng giống như cách giải phương trình thông thường Khi giải phương trình hàm, ta cũng có thể đoán nhận các nghiệm của phương trình hàm và chứng minh rằng ngoài các nghiệm đó ra PTH không có nghiệm nào khác Thông thường, ta hay thử các hàm số đặc biệt như hàm hằng, hàm đồng nhất, hàm tuyến tính, để xem chúng có phải là các nghiệm của phương trình hàm hay không ?

Ví dụ 1 Tìm tất cả các hàm số f : [1,+)[1,+ ) ,sao cho : f(xf(y)) = yf(x) , với mọi x,y thuộc [1,+ )

Lời giải:

Ta nhận thấy f(x) = x là nghiệm của bài toán

Ta sẽ chứng minh nghiệm đó là duy nhất :

Cho x = y = 1 thì f(f(1)) = f(1)

Trang 18

Cho y = f(1) thì f(xf(f(1))) = f(1)f(x) f(xf(1)) = f(1)f(x)

Mặt khác : f(xf(1)) = f(x) (giả thiết)

f(1)f(x) = f(x) f(1) = 1, (f(1)  1, x)

Cho x = 1 ta được :f(f(y)) = y (1)

Nếu f(y) = 1 f(fy)) = f(1) = 1 , từ (1) y = 1

(2) f(x) > f(y) suy ra f(x) đồng biến trên [1,+)

Giả sử x0 ; f(x0) xo ta xét các trường hợp sau :

Trang 19

Lời giải:

Dễ thấy f(x) = x là một nghiệm của phương trình

Ta sẽ chứng minh f(x) = x là nghiệm duy nhất của phương trình

Thật vậy : cho x = y = 0 ta được f(0) = 0

f x x

 ) = f(1) + f(1

x x

x x

 f(

1

x - 1) = 1 +

2 2 (1 )

x x

- 1) = 1 + ( )2

(1 )

f x x

2 2 (1 )

x x

 (2)

Từ (1) và (2) có 1 ( )2

(1 )

f x x

 = 1 + 2

( ) (1 )

f x x

2 2 (1 )

x x

Vậy f(x) = x ,  x 1, x 0

Kết hợp với giả thiết f(1) = 1 ; f(0) = 0 ta có f(x) = x ,  x R

Trang 21

Đặt y = -x ta nhận được 0 = f(0) = f(x + (-x)) = f(x) + f(-x)

Suy ra : f(-x) = -f(x) điều này kéo theo , với mọi x , y ; f(x – y) = f(x) – f(y)

Bây giờ , lấy x bất kỳ , đặt y = f(x)

Trang 22

Nếu f(0) = 1 thì cho :

x = - y  f x f( ) (   x) 1 ( sin2x) cos2xf x f( ) ( x) cos 2x

Cho

0 2 2

0 2

f x

Trang 23

Ví dụ 7 Tìm f R: R thoả mãn :

2

( ) ( )( 1) ( ) 1

Trang 24

( ) ( ) ( )

Trang 25

Vậy f x( )   x x R Thử lại thấy đúng

+ Nếu f x( )     1 x R Thử lại ta được (*) xy 2 x y, R Vô lí

Vậy hàm cần tìm là : f x ( )   x

Trang 26

BÀI TẬP ĐỀ NGHỊ Bài 1 Tìm f g R, : R thoả mãn : ( )f xf y( )cos(xy g x) (  y) x y, R (1)

Trang 27

Từ đó biến đổi ta được : f x ( )    0, x 0

Vậy f(x) = 0 với mọi x (0,1)

Phương pháp 2 Đặt ẩn phụ

Xét phương trình hàm số dạng : f((x)) = g(x) , trong đó (x),g(x) là những hàm số biến số thực đã biết

Trong một số trường hợp nếu đặt (x) = t , ta có thể giải ra x =  (t) Khi

đó thế vào phương trình đã cho ta có ta có f(t) = g( (t)) , từ đó ta có hàm số f(x) = g( (x))

Trang 28

Tuy nhiên nhiều khi vấn đề không hoàn toàn đơn giản Trong trường hợp

đó cần sử dụng các phép biến đổi thích hợp, cố gắng đưa phương trình đã cho về dạng :

 x =

1 1

t t

 + 3 =

4 2 1

t t

Trang 29

cầu bài toán

(*) f(1- u) + 2f(u) = 1

1 u (**)

Trang 30

Từ (*) và (**) ta được hệ :

1 ( ) 2 (1 )

1 (1 ) 2 ( )

x x

 ) + f(

3 1

x x

 ) = x,  x R\  1;1 (1)

t t

t t

 ) =

3 1

t t

u u

u u

u u

Trang 31

Giải hệ trên ta được : f(x) =

2 2

3 1

x x

3 1

x x

BÀI TẬP ĐỀ NGHỊ Bài 1 Tìm hàm số f : R\{2} R thoả mãn :

f( 3 1

2

x x

 ) =

1 2

x x

2 1 ( 3) 3

t t t

2 1

1 3

t t t t

a x

,  x 0

b) f( 1 x ) = 1 x 2 ,   x 1

c) f(1 + 1

x) = x2 – 1,  x 0

Trang 32

Hướng dẫn

a) Đặt t = x + a

x  t2 = x2 +

2 2

a x

+ 2a  x2 +

2 2

a x

( ) x

f x  

Trang 33

Nếu dãy {xn} được xác định như trên tuần hoàn với chu kỳ k , ta sẽ đưa (*)

về hệ k phương trình với k ẩn hàm, giải hệ này ta tìm được f(x)

Ví dụ 1 Giả sử a 1 và a-1 và a là một số thực , (x) là một hàm số cho trước xác định x 1.Tìm hàm số f(x) xác định x 1 và thoả mãn điều kiện :

Trang 34

Bằng phép thay thế x lần lượt bằng x1, x2 ta nhận được hệ

x

x a

 , x5 = x Suy ra dãy xn tuần hoàn với chu kỳ 4

Trang 35

Bằng phép thay thế x lần lượt bằng x1 ,x2 ,x3 ,x4 ta đưa (1) về hệ sau :

1

; 1, (0)2

Trang 36

Chú ý 1 : Trong một số trường hợp ta gặp phương trình hàm dạng

a(x)f(h(x)) + b(x)f(g(x)) = c(x) , trong đó a(x) ,b(x) ,c(x) ,g(x) ,h(x) là những hàm số đã biết , ta đặt t = h(x) (t = g(x) ) nếu phương trình này cho biểu thức nghiệm đơn giản chẳng hạn x = d(t) ( hoặc bằng kỷ thuật biến đổi nào đó) ta cố gắng đưa phương trình trên về dạng quen thuộc:

Trang 37

BÀI TẬP ĐỀ NGHỊ Bài 1 Tìm hàm f R: R thoả mãn : f x( ) xf(     x) x 1, x R

Trang 38

Phương pháp 4 Chuyển qua giới hạn

Đối với một số phương trình hàm có kèm theo giả thiết liên tục, trong nhiều trường hợp, bằng cách xây dựng một dãy số và sử dụng phương pháp chuyển qua giới hạn ta sẽ tìm được hàm f(x)

Ví dụ 1 Tìm tất cả các hàm số f(x) xác định , liên tục trên R và thoả mãn :

- 133

n

 

Trang 39

= 1

8x1(1 – (-1

3)n-1 ) Lấy giới hạn của cả hai vế sử dụng tính liên tục của hàm số và f(0) = 0 ta được

a.f(x) + f(bx) = cx, ở đây a, b, c  R , 0< b <1 , a 1.Cách giải hoàn

toàn tương tự ta được f(x) = cx

x

Trang 40

3 3

x + … + 1

3

n n

1 ( ) 9 1 1 9

Ngày đăng: 16/03/2015, 18:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ví dụ 3. (VMO năm 2006, bảng B) - Phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu qua việc giảng dạy phương trình hàm
d ụ 3. (VMO năm 2006, bảng B) (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w