1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay

106 838 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lâu nay XHHGD luôn được Đảng, Nhà nước các cấp lãnh đạo các địa phương quan tâm nhưng cho đến nay chưa có đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về việc tăng cường các giải pháp thực hiệ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀNỘI

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xác lập các giải pháp xã hội hoá giáo

dục trong quản lý các trường phổ thông ngoài công lập

1.2 Các khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 8

1.3 Vai trò của Trường phổ thông ngoài công lập 18 1.3.1 Vị trí trường phổ thông ngoài công lập 18 1.3.2 Vai trò trường phổ thông ngoài công lập 19 1.4 Xã hội hoá giáo dục và quản lý phát triển trường phổ thông ngoài công

1.4.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá giáo dục 20

1.4.2 Vai trò, ý nghĩa xã hội hoá giáo dục 22

Trang 3

1.4.4 Nguyên tắc xã hội hoá giáo dục 29 1.4.5 Kinh nghiệm xã hội hoá giáo dục của một số nước 31 1.4.6 Kết quả và tổng kết một số kinh nghiệm xã hội hoá giáo dục ở nước

ta

32

1.5 Quán triệt chủ trương xã hội hoá giáo dục vào quản lý phát triển trường phổ thông ngoài công lập trong bối cảnh hiện nay 34

Chương 2: Thực trạng xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ

thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang

2.1 Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế- xã hội tỉnh Bắc Giang hiện nay 37

2.2 Khái quát về tình hình ngành giáo dục của tỉnh 40

2.4.3 Tình hình huy động các lực lượng xã hội tham gia công tác xã hội

2.4.4 Phân tích thực trạng phát triển trường phổ thông ngoài công lập 59

Chương 3: Giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay

3.1 Định hướng phát triển giáo dục tỉnh Bắc Giang thời kỳ công nghiệp

Trang 4

hoá, hiện đại hoá 67 3.1.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển giáo dục của Đảng và

3.2.2 Tăng cường huy động nguồn lực thúc đẩy công tác xã hội hoá để phát

3.2.3 Tổ chức hoàn thiện cơ chế điều hành trong xã hội hoá giáo dục phát

3.2.4 Tăng cường các điều kiện về chính sách 82 3.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các nhà trường phổ thông ngoài công lập, chú ý kiểm tra các kết quả xã hội hoá 83 3.3 Kiểm chứng sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất 88

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội hoá giáo dục là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước nhằm huy động, khuyến khích mọi nguồn lực của các lực lượng xã hội tham gia vào phát triển sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập Nghị quyết TW 6 khoá IX của Đảng nêu: “Đẩy mạnh XXH giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục Nhà nước khuyến khích mọi đóng góp, mọi sáng kiến của

xã hội cho giáo dục”

Xã hội hoá để phát triển trường lớp ngoài công lập ở các cấp học, bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và của giáo dục phổ thông nói riêng là một yêu cầu cấp thiết góp phần phát triển giáo dục Sau gần 10 năm thực hiện, hoạt động XHHGD đang ngày càng phát triển rộng khắp cả nước, các loại hình trường lớp với phương thức giáo dục đa dạng hoá Hệ thống các trường ngoài công lập phát triển ở mọi bậc học, cấp học Đã huy động được nhiều nguồn lực của xã hội đầu tư cho giáo dục, xây dựng được phong trào học tập sôi nổi trong nhân dân khắp các vùng miền, công bằng xã hội trong học tập được đảm bảo, góp phần ổn định xã hội tạo niềm tin của dân đối với chế độ, với Nhà nước

Tuy nhiên vẫn còn tình trạng một số cấp, ngành và nhân dân chưa nhận thức đúng về XHH, còn sự phân biệt giữa trường công lập và ngoài công lập Các tổ chức kinh tế, xã hội tham gia vào XHHGD còn hạn chế, tiềm năng trong xã hội chưa được phát huy đầy đủ Việc phân cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với cơ sở NCL chưa thật tốt; một số cơ chế chính sách XHH chưa thật sự phát huy Các trường NCL, nhất là ở phổ thông còn nhỏ bé, CSVC còn thiếu thốn, chất lượng giáo dục còn thấp

Vì vậy XHHGD là điều kiện cần thiết và tất yếu để phát triển giáo dục nước ta XHHGD là chủ trương mang tính chiến lược của Đảng ta để định hướng chiến lược phát triển GD-ĐT trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước, được

Trang 6

thể hiện trong Nghị quyết TW 2 khoá VIII: “ Phát triển các trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bước mở các trường tư thục ở một số bậc học như mầm non, phổ thông trung học Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa ”

Hiến pháp năm 1992 và Luật Giáo dục năm 2005 đã thể chế hoá công tác xã hội hoá giáo dục để phát triển giáo dục đào tạo, xác định Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác Bộ GD&ĐT cũng đã có Đề án xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005-2010

XHH giáo dục và đa dạng hoá các hình thức hoạt động giáo dục là mở rộng khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực, trí lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, vì giáo dục là sự nghiệp lâu dài của nhân dân cho nên sẽ phát triển không ngừng cùng với những nguồn lực to lớn của toàn dân XHH không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm và sự đầu tư của Nhà nước mà trái lại Nhà nước huy động các nguồn thu để tăng tỷ lệ ngân sách chi cho các hoạt động này, đồng thời quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 90/CP, Nghị định 73/1999/NĐ-CP

về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh XHH trong các hoạt động GD&ĐT,Y tế, văn hoá, TDTT Lâu nay XHHGD luôn được Đảng, Nhà nước các cấp lãnh đạo các địa phương quan tâm nhưng cho đến nay chưa có

đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về việc tăng cường các giải pháp thực hiện chuyển đổi loại hình trường lớp công lập sang ngoài công lập hay phát triển loại hình trường dân lập, tư thục ở mầm non, phổ thông để thực hiện chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Chính phủ nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH

Trang 7

Với những lý do trên, tác giả chọn lựa nghiên cứu đề tài: “Các giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay”

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động XHHGD trong xây dựng trường lớp ngoài công lập

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu

Giải pháp tăng cường phát triển hệ thống trường lớp phổ thông ngoài công lập tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay

4 Giả thuyết khoa học của đề tài

Hiện nay công tác XHHGD trong quản lý trường phổ thông ngoài công

lập chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục ở địa phương

Nếu có nhận thức đúng đắn, các cơ chế, chính sách phù hợp, huy động được các nguồn lực, cùng với hiệu quả thiết thực của công tác thanh, kiểm tra đối với trường ngoài công lập một cách khả thi thì sẽ thúc đẩy thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển trường lớp phổ thông ngoài công lập tại tỉnh Bắc Giang

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận của hoạt động xã hội hoá nói chung và lộ

trình chuyển đổi, phát triển trường lớp phổ thông ngoài công lập

Trang 8

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng XHHGD ở phạm vi phát triển trường ngoài công lập

- Xác lập các giải pháp tăng cường công tác XHHGD nhằm phát triển trường phổ thông ngoài công lập ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay

6 Giới hạn của đề tài

-Về không gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là lĩnh vực các biện pháp tăng cường XHHGD trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang

- Về thời gian: Từ 1997 đến nay ( 2006)

7 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nhằm xây dựng cơ sở lý

luận của đề tài

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Khảo sát điều tra, phỏng vấn trao đổi, phân tích tài liệu nhằm khảo sát thực trạng, thu thập thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu

+Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, phương pháp chuyên gia để thu thập thông tin làm sáng tỏ cơ sở thực tiễn của việc đề xuất các giải pháp

- Nhóm phương pháp bổ trợ: Gồm phương pháp thống kê toán học, so

sánh để xử lý số liệu thu thập được

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ

lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xác lập các giải pháp xã hội hoá giáo

dục đối với quản lý các trường phổ thông ngoài công lập

Chương 2: Thực trạng xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập ở tỉnh Bắc Giang

Trang 9

Chương 3: Giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÁC LẬP CÁC GIẢI PHÁP

XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC ĐỐI VỚI QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống của xã hội loài người Sự tồn tại

và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển kinh tế

xã hội và ngược lại với chức năng của mình giáo dục lại có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội Xã hội loài người coi giáo dục là công cụ, phương tiện để cải biến xã hội Giáo dục được coi vừa là động lực, vừa là mục tiêu cho việc phát triển tiếp theo của xã hội Khi xã hội phát triển lên một mức mới, chính xã hội lại tạo điều kiện mới cho giáo dục và “đặt hàng mới” cho giáo dục nói chung, nhà trường nói riêng và buộc giáo dục phải tự nâng mình lên để một mặt đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng mới của xã hội, mặt khác tận dụng tốt những điều kiện mà xã hội mới tạo cho Cứ như thế tính chất vòng tròn của mối quan hệ giữa giáo dục và cộng đồng xã hội thường xuyên được diễn ra trong sự cân bằng động và phát triển đi lên theo đường xoắn ốc cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người Để phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, chúng ta phải tiến hành công tác xã hội hoá giáo dục

Xã hội hoá giáo dục là “Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân đóng góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước”

Trang 10

Xã hội hoá giáo dục là tạo cơ hội học tập cho mọi người, tạo nên một

xã hội học tập, cộng đồng hoá trách nhiệm của giáo dục và của cộng đồng, xã hội, đa dạng hoá loại hình, hình thức giáo dục, đa phương hoá nguồn lực và huy động cộng đồng, thể chế hoá chủ trương xã hội hoá giáo dục để chủ trương này nhanh chóng đi vào cuộc sống Bằng việc đối chiếu sự tác động các nội dung xã hội hoá giáo dục lên các mục tiêu quản lí giáo dục, quản lí nhà trường, chúng ta cảm thấy rất rõ vai trò của quá trình xã hội hoá giáo dục đối với việc thực hiện các mục tiêu quản lí giáo dục nói chung và quản lí nhà trường nói riêng

Xã hội hoá giáo dục nhằm mục tiêu “giáo dục cho mọi người”, làm cho mọi thành viên của cộng đồng được hưởng thụ giáo dục một cách thường xuyên, liên tục, được đào tạo suốt đời Các lực lượng xã hội được huy động vào đa dạng hoá các hình thức giáo dục và các loại hình nhà trường, nhằm mở

ra khả năng huy động nhiều lực lượng xã hội tham gia vào công tác giáo dục, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn, thực hiện có hiệu quả hơn nhiệm vụ “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân tạo điều kiện cho giáo dục phát triển Sức mạnh tổng hợp của các ngành có liên quan đến giáo dục được huy động vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục

Xã hội hoá giáo dục là chủ trương đúng đắn mang tính chiến lược của Đảng, là một trong những phương diện quan trọng của xã hội hoá hoạt động quản lý Nhà nước để phát triển giáo dục - đào tạo nước ta trong giai đoạn hiện nay

Chủ trương xã hội hoá giáo dục được đặt ra từ Nghị quyết TW4 khóa VII, Nghị quyết TW2 khoá VIII Đặc biệt đến Nghị quyết TW 6 khoá IX

Đảng khẳng định: "Đẩy mạnh XHHGD, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục

là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục"

Trang 11

Chủ trương XHHGD của Đảng được thể chế hoá vào Hiến pháp 1992,

tại Điều 35, "Phát triển các hình thức trường quốc lập, DL và các hình thức

GD khác" Điều 12 của Luật giáo dục 2005 khẳng định: " Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục để thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục"

Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 về phương hướng và chủ trương XHH các hoạt động giáo dục nhằm cụ thể hoá chủ trương, nội dung, biện pháp XHH hoạt động giáo dục - đào tạo

Ngày 18/4/2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động GD, văn hoá, y tế, TDTT Tiếp đó, ngày 24/6/2005, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT phê duyệt Đề án "Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005 - 2010"

Bên cạnh chủ trương của Đảng, Nhà nước nêu trên, các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục nước ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về xã hội hoá công tác giáo dục Đáng lưu ý là các công trình nghiên cứu bàn về công tác XHH các hoạt động giáo dục của các tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Đặng Quốc Bảo

Đặng Quốc Bảo đưa ra quan niệm: "Xã hội hoá giáo dục phản ảnh bản chất của luận đề: Giáo dục cho tất cả mọi người, tất cả cho sự nghiệp giáo dục" (Education for all, All for Eduction EFA-AFE) Vậy việc huy động toàn

xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước không phải là một ý tưởng mới

lạ [8,tr 6]

Xã hội hoá giáo dục không chỉ là chủ trương ở các nước kém phát triển

mà ngay cả những nước giàu, nước phát triển cũng đã từng thực hiện nhiều giải pháp đẩy mạnh XHHGD để phát triển sự nghiệp GD, bởi vì XHHGD là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi người, mọi lực lượng xã hội, nhằm hoàn lại bản chất xã hội của giáo dục cho giáo dục và trả lại nhiệm vụ

GD của xã hội cho chính xã hội, để tiến tới xây dựng một xã hội học tập Tổ

Trang 12

chức văn hoá giáo dục Liên hiệp quốc (Unesco) đã khuyến nghị: giáo dục không chỉ bó hẹp trong nhà trường phải cải tổ toàn diện nền giáo dục Giáo dục phải trở thành phong trào quần chúng thực hiện

Vấn đề xã hội hoá giáo dục đã được nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn khá sâu rộng và lâu dài, trong lịch sử nước ta và các nước trên thế giới Một số tác giả như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thanh Bình…đã có nhiều công trình nghiên cứu Bên cạnh đó các công trình nghiên cứu khoa học về công tác XHHGD trong những năm gần đây được nhiều cán bộ quản lý GD nước ta quan tâm, có những luận văn Thạc sĩ đã đề cập đến và nêu ra nhiều giải pháp tăng cường công tác XHHGD như Luận văn thạc sỹ của tác giả Hoàng Duy Đỉnh với đề tài Các biện pháp tăng cường quản lý nhằm đẩy mạnh XHH giáo dục cấp THPT ở Hải Phòng, luận văn Thạc sĩ của Lê Ngọc Quân về một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý trường chuẩn quốc gia THCS huyện Lâm Thao, Phú Thọ, đề tài tác động của chính sách xã hội hoá giáo dục đối với loại hình trường PT ngoài công lập ở Hà Nội của Đinh Thị Minh Châu…Tuy nhiên đó là những vấn đề cụ thể có tính chuyên sâu, gắn với công tác quản lý nảy sinh ở từng địa phương và phạm vi công tác, các hoạt động của xã hội hoá giáo dục là vấn đề rộng lớn, do vậy việc nghiên cứu xã hội hoá giáo dục vẫn có ý nghĩa thực tiễn lớn lao

1.2 Các khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt trong lịch sử nhân loại, là một trong những lĩnh vực hoạt động xã hội nhằm kế thừa, duy trì và phát triển nền văn hoá xã hội, văn minh nhân loại Giáo dục là nhân tố cốt lõi và tồn tại khách quan trong mọi giai đoạn phát triển xã hội

Theo nghĩa chung nhất: "GD là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỷ xảo và những kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống lao động và sinh hoạt xã hội; là một nhu cầu tất yếu của

xã hội loài người, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội" [37, tr.7]

Giáo dục là điều kiện để con người gắn bó và gắn bó với nhau một cách

có hiệu quả theo mục tiêu đổi mới điều kiện sinh tồn, bởi vì hành động của bất kỳ cá nhân nào cũng bị hạn chế do khả năng và kinh nghiệm của riêng

Trang 13

Là một hiện tượng xã hội đặc biệt, được hình thành tồn tại và phát triển trong môi trường xã hội cụ thể, nên mọi hoạt động giáo dục đều vì sự tiến bộ

xã hội Không có xã hội nào có thể tồn tại mà không có giáo dục và mọi sự giáo dục đều nhằm mục đích phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội Mối quan hệ biện chứng ấy trong thời đại kinh tế tri thức được thể hiện rất sinh động

Mỗi quốc gia đều quan tâm đến việc đổi mới nền GD của mình để phù hợp với thay đổi của xã hội và sự tiến bộ chung Thế giới ngày nay coi GD là

con đường cơ bản để khỏi tụt hậu, để tiến lên "GD là khâu cực kỳ quan trọng trong quy trình từ khoa học đến sản xuất, nhất là trong thời đại công nghiệp hoá" [27, tr.79]

Phát triển GD là quốc sách hàng đầu, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để xã hội phát triển nhanh và bền vững GD vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội, văn hoá, kinh tế, chính trị

Ngày nay, giáo dục được coi là "cái hiện hữu vô hình" trong từng tế bào của đời sống xã hội Thực sự sẽ không nhận ra được trong mỗi sản phẩm (vật chất lẫn tinh thần) đâu là GD, nhưng ở mỗi sản phẩm đều kết tinh trong

Trang 14

Giáo dục được coi là "then chốt" của mọi vấn đề "then chốt" Chiến

lược GD là tiêu điểm của chiến lược kinh tế - xã hội - văn hoá - chính trị Mọi chiến lược về con người, về nguồn nhân lực, về khoa học kỹ thuật, về chấn hưng văn hoá về xoá đói nghèo, phát triển kinh tế, quốc phòng an ninh đều xuất phát từ chiến lược giáo dục

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục - đào tạo là"Ai cũng được học hành", Người nói "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" và kêu gọi

"Phải biến dân tộc ta thành một dân tộc thông thái" HS phải cố gắng, siêng năng học tập để làm cho non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp Điều đó chứng minh vai trò giáo dục là hết sức quan trọng Một lần nữa khẳng định "Giáo dục là cầu nối từ chỗ không có gì đến chỗ cái gì cũng có" (Triết học giáo dục

1.2.2 Trường phổ thông

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, trường phổ thông thuộc bậc giáo

dục phổ thông, Điều 26 Luật giáo dục 2005 quy định "giáo dục phổ thông” bao gồm:

- Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của HS vào học lớp một là sáu tuổi

- Giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín HS vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi

- Giáo dục THPT được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai HS vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp THCS, có tuổi là mười lăm tuổi

Trang 15

Cơ sở giáo dục phổ thông bao gồm:

- Trường tiểu học;

- Trường trung học cơ sở;

- Trường trung học phổ thông;

- Trường phổ thông có nhiều cấp học;

- Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp (Điều 30 - Luật giáo dục)

"Mục tiêu của GD phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam

xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho

HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc " (Điều 27 - Luật giáo dục)

Nhưng trong trường phổ thông, nếu học mà không đi đôi với hành, GD

nhà trường nếu không trang bị những biểu biết về kỹ thuật và "Cho dù GD trong nhà trường có tốt đến mấy, nhưng thiếu GD trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn" [39, tr.118] Điều đó khẳng định tầm

quan trọng của sự kết hợp 3 môi trường GD gia đình - nhà trường - xã hội, đồng thời nói lên ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác XHHGD đối với giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay

1.2.3 Quản lý

Các Mác đã từng khẳng định: "Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhất định đến sự quản lý Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc

cá nhân và hình thành những chức năng chung, xuất hiện trong toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó" [36, tr.195]

Trên nhiều bình diện, quan niệm, tư tưởng và thời kỳ lịch sử khác nhau,

có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý Có người cho rằng quản lý là cai quản, điều hành, điều khiển, chỉ huy, hướng dẫn, trọng tài, cũng có người

quan niệm quản lý là "Nghệ thuật" Frederics Wiliam Taylor - Mỹ 1915) cho rằng: "Quản lý nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần phải làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất" [17, tr 89]

Trang 16

(1856-Các nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ góc độ khác nhau cũng đã

đưa ra những khái niệm quản lý Hà Thế Ngữ quan niệm: "Quản lý là một quá trình định hướng " [32, tr.24] Còn Nguyễn Văn Lê cho rằng: "Quản lý là khoa học và nghệ thuật" [26, tr.5]

Đặng Quốc Bảo quan niệm: "Quản lý về bản chất bao gồm quá trình

"Quản" và quá trình "lý" Quản là coi sóc, giữ gìn nhằm ổn định hệ thống Lý

là thanh lý, xử lý, biện lý, sửa sang, chỉnh đốn nhằm làm cho hệ thống phát triển Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu dẫn đến suy thoái Hệ phát triển

mà thiếu ổn định tất yếu dẫn đến rối ren

Như vậy: Quản lý = ổn định + phát triển

Trong quản phải có mầm mống của lý và trong lý phải có hạt nhân của quản Điều này tạo ra mối quan hệ hiện thực: ổn định đi tới sự phát triển, phát triển trong thế ổn định" [10, tr.176]

Tóm lại, mặc dù có những kiến giải khác nhau, nhưng xét trên tổng thể, phần lớn các nhà nghiên cứu đã thống nhất rằng: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một

tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả cao bằng cách vận dụng các hoạt động chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra thực hiện đầy đủ các chức năng của mình, hoạt động quản lý sẽ đem lại hiệu quả mong muốn

1.2.4 Quản lý giáo dục

Với tư cách là một bộ phận của khoa học quản lý nói chung, quản lý

GD cũng được nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra khái niệm

M.I.Khônđanôp đã định nghĩa: "Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp (tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch, tài chính ) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng" [38, tr.93]

Đặng Quốc Bảo cho rằng: Quản lý GD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội

Nguyễn Ngọc Quang dẫn giải: “Quản lý GD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của các chủ thẻ quản lý, nhằm

Trang 17

làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất Quản lý GD là sự tác động của hệ thống quản lý GD của Nhà nước từ trung ương đến địa phương, đến khách thể quản

lý và hệ thống GD quốc dân và sự nghiệp GD của mỗi địa phương, nhằm đưa hoạt động giáo dục đến kết quả mong muốn" [42, tr.35]

Như vậy, cũng như quản lý nói chung, QLGD cũng là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm đạt mục tiêu GD đề ra QLGD là quản

lý quá trình hoạt động dạy và học bao gồm quản lý tất cả các thành tố của hoạt động dạy - học, do đó những tác động của nó lên hệ thống là những tác động kép, nhằm tạo ra một sức mạnh tổng hợp, chủ thể quản lý phải chú ý đến mối quan hệ quản lý dạy và học trong hoạt động GD, quan hệ giữa các cấp quản lý, quan hệ giữa nội bộ và bên ngoài; các vấn đề kỹ năng, phong cách, chiến lược, ưu tiên trong quản lý QLGD có quy mô và cấp độ đa dạng phức tạp, tầng nấc thứ bậc (trong hệ thống lớn có nhiều hệ thống con), lại nhiều yếu

tố cấu trúc khác nhau và chịu sự tác động của các yếu tố khách quan luôn vận hành và tương tác trong mối quan hệ đa dạng phức tạp, nhưng lại theo quy luật cần phải hiểu rõ đặc điểm này để thường xuyên đổi mới, cải tiến tư duy quản lý giáo dục phù hợp với yêu cầu hiện nay

1.2.5 Xã hội hoá

Thuật ngữ "xã hội hoá" dùng để chỉ chức năng nguyên thuỷ của giáo dục (Socialization), được các nhà xã hội học sử dụng để mô tả những phương cách, các giá trị, các vai trò mà xã hội đã quy ước, tạo cơ sở cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người

Nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhiều cách hiểu, định nghĩa xã hội hoá khác nhau:

* Xã hội hoá cá nhân: là quá trình biến cá thể người thành cá nhân và thành nhân cách

- Xã hội hoá là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội

- Xã hội hoá là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của cộng đồng nhằm đáp ứng lại xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội

Trang 18

- XHH là quá trình hội nhập, hoà nhập của cá nhân vào xã hội hay một nhóm của xã hội thông qua quá trình học và các chuẩn mực và các giá trị xã hội hay nhóm đó

* Xã hội hoá xã hội:

"Xã hội hoá các mặt hoạt động xã hội của Nhà nước là huy động mọi

tổ chức, mọi cá nhân tham gia công việc Nhà nước theo khả năng của mình" [32.Tr.12]

Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện chủ trương đổi mới thì thuật ngữ xã hội hoá được sử dụng khá phổ biến trong các văn kiện, trong các hội nghị, hội thảo

Xã hội hoá, trước hết là một xu thế ngược lại của quá trình Nhà nước hoá và hành chính hoạt động quản lý xã hội

“Thực chất xã hội hoá là một quá trình tham gia rộng rãi của các tổ chức xã hội, gia đình và cá nhân vào thực hiện một hoạt động nhất định nào

đó mà hoạt động này trước khi bị xã hội hoá chỉ có một loại chủ thể.” [29, Tr.309]

Lê Quốc Hùng quan niệm: "Xã hội hoá là việc Nhà nước huy động mọi

cá nhân và tổ chức tham gia thực hiện một số dịch vụ công cộng trên cơ sở có

sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của Nhà nước, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước" [32, tr.17]

Mặc dù có nhiều lý giải khác nhau, nhưng nhiều công trình nghiên cứu

về xã hội hoá đều thống nhất cho rằng:

"Bản chất của xã hội hoá là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi người dân, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội thực sự là của dân, do dân và vì dân" [2, tr 7]

Mặc dù còn tương đối mới mẻ, nhưng chúng ta cần nhận thức đầy đủ hơn về những đặc điểm xã hội hoá là:

Trang 19

- XHH không phải là buông lỏng sự quản lý hoặc từ bỏ chức năng quản

lý thống nhất của Nhà nước mà thực chất là tăng cường sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật

- Xã hội hoá gắn liền với mở rộng dân chủ, khuyến khích, động viên tinh thần tự quản, tự chịu trách nhiệm của mọi cá nhân và tổ chức đoàn thể xã hội Khắc phục dần tính thụ động, thờ ơ, phó mặc mọi công việc cho cơ quan chính quyền Nhà nước

- Xã hội hoá là thu hút mọi tổ chức xã hội, mọi thành phần kinh tế tham gia thực hiện các dự án phát triển của Nhà nước

- Quá trình thực hiện chủ trương xã hội hoá được Nhà nước Việt Nam tiến hành theo các bước phù hợp như sau:

+ Xoá bỏ dần chế độ bao cấp, cơ chế "xin cho"

+ Tách dần hoạt động quản lý kinh doanh khỏi hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan chức năng Nhà nước

+ Nhà nước không ngừng củng cố các cơ quan dịch vụ công

+ Nhà nước xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Tất cả những đặc điểm trên thể hiện khá đầy đủ nội dung, vai trò, ý nghĩa của hoạt động xã hội hoá

1.2.6 Xã hội hoá giáo dục

Chính nhu cầu lao động để tồn tại và phát triển xã hội mà ra đời giáo dục, hình thành và hoàn chỉnh hoạt động giáo dục Lúc bình minh của lịch sử nhân loại chưa có nền giáo dục dưới hình thức nhà trường mà chỉ có nền giáo dục từ môi trường gia đình và từ bản thân cuộc sống Chính nhờ có giáo dục

mà các di sản tư tưởng và kỹ thuật của thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau Các di sản này được tích lũy ngày càng phong phú, làm cho xã hội không ngừng đổi mới và phát triển Chính vì vậy mà giáo dục là hiện tượng đặc biệt, mang tính phổ biến và vĩnh hằng

Đặc biệt là vì bất kỳ thời đại nào, giáo dục cũng là điều kiện quyết định

sự tồn tại và phát triển của loài người

Phổ biến ở chỗ hiện tượng giáo dục có ở mọi lúc, mọi nơi, ở đâu có con người là ở đó có giáo dục

Trang 20

Vĩnh hằng là nó xuất hiện cùng với xã hội loài người và sau khi ra đời,

nó là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội và không có điểm dưng Do

đó, giáo dục không bao giờ tách rời khỏi sự tồn tại và phát triển của xã hội Phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển KT - XH

và ngược lại Đây chính là bản chất xã hội của giáo dục, là vấn đề cốt lõi, vấn

đề cội nguồn của giáo dục Điều này khẳng định giáo dục không đứng ngoài

xã hội và xã hội muốn phát triển luôn gắn với giáo dục

Mặc dù là động lực thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, nhưng để có đủ sức và lực thực hiện được vai trò (tính chất xã hội) thì giáo dục không thể tự vận động được mà phải có điều kiện Điều kiện là môi trường chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng, xã hội tiến bộ, truyền thống văn hoá tốt đẹp, tinh thần dân tộc luôn được đề cao khái quát, đó chính là yếu tố thời đại, là chiếc nôi để giáo dục thực hiện vai trò tính chất xã hội của mình

Tuỳ theo sự phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ lịch sử cụ thể mà các nền giáo dục khác nhau về tính chất, về hình thức (cơ cấu, hệ thống mục tiêu và phương thức hoạt động) và thực hiện đổi mới xã hội

Chính sự tương tác tạo nên tính chất xã hội của giáo dục, thể hiện mối quan hệ biện chứng: giáo dục cho xã hội phát triển, xã hội phát triển để cho giáo dục trở nên tiên tiến hơn

Qua nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tiễn hoạt động giáo dục, cho thấy có sự khác biệt rõ ràng về ý nghĩa tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hoá công tác giáo dục Thực tế nếu tự thân vận động, giáo dục dù không

có định hướng cụ thể rõ ràng vẫn thể hiện tính chất xã hội nhưng không đạt đến trình độ xã hội hoá đích thực theo ý nghĩa xã hội và nhân văn của nó

Xã hội hoá giáo dục là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động GD và cộng đồng xã hội, là làm cho GD phù hợp với sự phát triển của

xã hội, thích ứng với xã hội XHH công tác GD là duy trì sự cân bằng động giữa hoạt động GD và xã hội sẽ tạo động lực cho việc huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục

Nếu dừng lại ở khái niệm XHHGD thì chỉ hiểu và thừa nhận cái vốn có của giáo dục, chính là tính chất xã hội của giáo dục chứ chưa tạo ra động lực mới của hoạt động giáo dục trong một xã hội phát triển tiến bộ

Trang 21

Xã hội hoá giáo dục là cách nói gọn của XHH công tác giáo dục với nội hàm là phương thức, cách thức, phương châm, cách làm giáo dục, tổ chức và quản lý giáo dục Đảng ta chủ trương XHHGD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận trong đường lối giáo dục của Đảng

Đặc điểm của xã hội hoá giáo dục là mở rộng quy mô, mở rộng trách nhiệm GD, chuyển hướng từ GD tinh hoa thành GD đại chúng - GD cho mọi người - xây dựng xã hội học tập; hoạt động GD từ chỗ là trách nhiệm của ngành GD, do Nhà nước đảm trách, đến mọi cá nhân, tập thể, cộng đồng cùng chăm lo (tham gia) Điều đó tạo nên động lực mới và sức mạnh tổng hợp, tính công bằng xã hội của giáo dục - đào tạo

Như vậy xã hội hoá giáo dục là quá trình tăng cường tính xã hội của giáo dục lên tầm cao mới, đa phương hoá nguồn lực, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, cộng đồng hoá trách nhiệm “XHH giáo dục là một quá trình dân chủ hoá theo phương châm “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân

làm chủ” [29, tr.310]

Phạm Minh Hạc chỉ ra rằng xã hội hoá giáo dục là: "Làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm đối với giáo dục, giáo dục phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện việc kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện để giáo dục kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; xã hội hoá giáo dục có quan hệ hữu cơ với dân chủ hoá giáo dục" [26, Tr.17]

Xã hội hoá giáo dục đã được các quốc gia trên thế giới chú trọng và được đặt ra nhiều thập kỷ nay, hoạt động XHHGD luôn vận động, luôn phát triển phù hợp với mọi không gian, thời gian càng ngày càng linh hoạt và phong phú

Ở nước ta, xã hội hoá giáo dục là điều kiện cần thiết và tất yếu để phát triển giáo dục - đào tạo, XHHGD là chủ trương đúng đắn, mang tính chiến lược của Đảng, một trong những phương diện quan trọng của XHH hoạt động

quản lý nhà nước "XHH GD là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức KT - XH tham gia vào sự nghiệp GD, đầu tư vào hoạt động GD trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình độ chuyên môn nhằm xây dựng xã hội học tập" [32, Tr.17]

Trang 22

Nghị quyết Đại hội Đảng lần IX khẳng định: "Thực hiện chủ trương XHHGD, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục" [23, Tr.111]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành TW khoá IX nêu quyết

tâm thực hiện giải pháp: "Đẩy mạnh XHHGD, xây dựng xã hội học tập, coi

GD là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển GD Nhà nước khuyến khích mọi đóng góp, mọi sáng kiến của xã hội cho GD" Trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, Chính

phủ đã ban hành các văn bản pháp quy và tổ chức thực hiện rộng rãi chủ trương xã hội hoá giáo dục

Văn kiện Đại hội X của Đảng: “Thực hiện xã hội hoá giáo dục Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp để mở mang giáo dục”[24, Tr.97]

Xã hội hoá giáo dục phải được hiểu trên phương diện rộng là toàn thể nhân dân, toàn thể xã hội tham gia vào sự nghiệp GD, làm cho hoạt động GD trở thành hoạt động chung của toàn xã hội Nhưng để cho công tác XHHGD đạt mục tiêu thì phải đặt nó thành hoạt động quản lý để nhà quản lý, tác động định hướng, điều khiển và kiểm soát các quá trình XHHGD đúng đường lối, chủ trương, kế hoạch phát triển GD của đất nước, địa phương, đảm bảo các nguyên tắc quản lý về giáo dục và phù hợp pháp luật

1.3 Vai trò trường phổ thông ngoài công lập

1.3.1 Vị trí trường phổ thông ngoài công lập

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và thực tiễn đổi mới đất nước, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường đã có những tác động tích cực đến giáo dục, thúc đẩy nhu cầu học của xã hội ngày càng tăng và đòi hỏi chất lượng giáo dục ngày càng cao, nhưng khả năng đáp ứng của Nhà nước có hạn Do vậy, chủ trương đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, tăng cường hình thành và phát triển trường ngoài công lập (dân lập, tư thục),

là xu hướng tất yếu phù hợp với sự phát triển xã hội, thích ứng với chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần để thúc đẩy sự cạnh tranh nhằm vận hành

và phát triển sự nghiệp giáo dục

Trang 23

Trường ngoài công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, tuỳ theo hình thức đầu tư tài chính và tư cách pháp nhân mà xác định loại hình trường dân lập hay tư thục

+ Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động

+ Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng CSVC và đảm bảo kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách

Trường phổ thông ngoài công lập bình đẳng với trường công lập về nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường trong việc tổ chức và hoạt động, thực hiện mục tiêu giáo dục Được hưởng quyền lợi, thực hiện nghĩa vụ theo quy định Nhà nước Trường phổ thông ngoài công lập chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan QLGD theo quy chế tổ chức và hoạt động các trường ngoài công lập; theo quy định điều lệ trường phổ thông

Trường phổ thông ngoài công lập là hình thức XHH hoạt động giáo dục điển hình, huy động các nguồn lực XH đầu tư cho giáo dục, tạo động lực phát triển sự nghiệp GD - ĐT; phù hợp với nền kinh tế hàng hoá, theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu công cuộc CNH, HĐH đất nước

1.3.2 Vai trò trường phổ thông ngoài công lập

Trường phổ thông ngoài công lập là kết quả của hoạt động xã hội hoá giáo dục, là biểu hiện chủ trương, chính sách xã hội hoá giáo dục của Đảng và Nhà nước đã đi vào hiện thực Ra đời trong giai đoạn hiện nay, trường phổ thông ngoài công lập đã góp phần:

- Thực hiện chủ trương sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của dân, do dân

và vì dân Tạo cơ hội cho mọi cá nhân, tổ chức có tâm huyết tham gia làm giáo dục, chia sẻ trách nhiệm nhà nước, thực hiện bản chất xã hội của giáo dục Đồng thời làm cho mục tiêu giáo dục gắn với mục tiêu phát triển KT -

XH theo cơ chế thị trường

- Đặc tính trường ngoài công lập là năng động, linh hoạt trong quản lý, điều hành Trường ngoài công lập ra đời góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của các chủ thể quản lý nhà trường (CBQL - GV), trong xây dựng nề nếp kỷ cương học đường; nâng cao chất lượng GD và hiệu quả đào tạo

Trang 24

Trường NCL hình thành, vận hành và hoạt động đồng hành với trường công lập, theo Luật Giáo dục, trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân; Để thực chất giữ vai trò nòng cốt, đòi hỏi các chủ thể quản

lý Nhà trường phải thường xuyên nâng cao năng lực quản lý, điều hành, tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh vì sự nghiệp phát triển GD bền vững

- Với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, trường phổ thông ngoài công lập không bị gò bó, phụ thuộc bởi cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, phát huy tối đa tinh thần tích cực, năng động, sáng tạo và linh hoạt trong quản lý, điều hành, tổ chức và hoạt động theo kế hoạch, quy chế tổ chức nhà trường đề ra Mục tiêu cuối cùng là chất lượng và hiệu quả giáo dục

- Trường phổ thông ngoài công lập là loại hình giáo dục mở, do vậy sẽ tạo điều kiện, cơ hội để mọi thành phần trong xã hội được tham gia đầu tư giáo dục và mở rộng cơ sở giáo dục ngoài công lập

- Trường ngoài công lập, góp phần chia sẻ những khó khăn tài chính của nhà nước, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của người dân Khắc phụ mâu thuẫn gay gắt hiện nay là nhu cầu đào tạo của xã hội ngày càng tăng

mà khả năng đáp ứng của nhà nước còn hạn hẹp Thực hiện tốt mục tiêu cơ

bản của giáo dục - đào tạo là "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài", phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.4 Xã hội hoá giáo dục và quản lý phát triển trường phổ thông ngoài công lập

1.4.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá giáo dục

Xã hội hoá giáo dục là một tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất xã hội vốn có của GD Chủ trương này ra đời nhằm giải quyết các mâu thuẫn cơ bản, đó là: mâu thuẫn giữa nguồn lực với yêu cầu về quy mô, chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH và sự hội nhập vào nền kinh tế tri thức; mâu thuẫn giữa tính chất XHH cao của GD với thực trạng hoạt động đơn độc hiện nay của giáo dục - đào tạo

Tư tưởng chiến lược của Đảng và Nhà nước về XHHGD được thể hiện trong các Nghị quyết: NQ Hội nghị lần thứ tư BCH TW Đảng (khoá VII), Nghị quyết Hội nghị lần 2 BCH TW Đảng (Khoá VIII) và Nghị quyết Đại hội

Đảng khoá IX Mục tiêu của XHHGD là nhằm "Huy động toàn xã hội làm

Trang 25

GD, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền GD quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước" [2, Tr 61]

Nghị quyết lần 2 Ban chấp hành TW khoá VIII, nêu rõ: "Phát triển GD

là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi công cộng, từng gia đình

và mỗi công dân Kết hợp giáo dục học đường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội"

Chiến lược phát triển GD-ĐT (2001-2010) Chính phủ đã chỉ rõ: XHHGD là quá trình làm cho mọi người có nghĩa vụ xây dựng và tạo điều kiện cho GD, tham gia vào sự nghiệp GD Đồng thời chiến lược cũng nhấn mạnh: đổi mới một cách có hệ thống và đồng bộ, tạo cơ sở nâng cao rõ rệt chất lượng và hiệu quả giáo dục, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chấn hưng đất nước; đưa GD thành một nền GD thực tiễn, đại chúng và hiệu quả, theo phương châm đa dạng hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá,

xã hội hoá, tạo bước phát triển mạnh về phát triển nguồn nhân lực Do vậy, thực hiện XHHGD nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân vào GD, là điều kiện tiên quyết để phát triển toàn diện GD, đưa hoạt động GD - ĐT tiến nhanh, tiến kịp sự tiến bộ của khoa học - công nghệ, góp phần thức đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của xã hội Việt Nam trong thế kỷ 21

Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997 và Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ đã triển khai cụ thể hoá quan điểm: XHHGD là quá trình giáo dục hoá xã hội, vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp giáo dục làm cho xã hội trở thành một xã hội học tập; là sự cộng đồng trách nhiệm để tạo lập và phát triển môi trường giáo dục lành mạnh; là đa dạng hoá sự đầu tư vào các loại hình giáo dục, các hình thức giáo dục dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước

Quan điểm này là sự kế thừa, phát triển và cụ thể hoá tư tưởng giáo dục

của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Cần phải phát huy đầy đủ tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng mối quan hệ thật tốt, đoàn kết giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó"[39, Tr 258]

Chủ trương xã hội hoá giáo dục của Đảng được thể chế hoá vào Hiến

pháp 1992, tại điều 36: "Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục gồm:

Trang 26

GD mầm non, GD phổ thông, GD nghề nghiệp, GD đại học và sau đại học; thực hiện phổ cập GD THCS; phát triển các hình thức trường quốc lập và các hình thức giáo dục khác"

Quan điểm xã hội hoá giáo dục đã được pháp lý hoá ở Luật Giáo dục

2005, tại Điều 12 XHH sự nghiệp GD; Điều 13, đầu tư cho GD; Điều 48, nhà trường trong hệ thống GD quốc dân; Điều 101, các nguồn tài chính đầu tư cho

GD; Điều 12 nêu: "Phát triển GD, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của GD; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và hình thức GD; khuyến khích, huy động, vận động và tạo điều kiện tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp GD Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm

lo sự nghiệp GD, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu GD, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn"

Mục tiêu của chủ trương XHHGD để tăng cường nguồn lực, mở rộng quy mô, hình thức tổ chức, loại hình giáo dục, thực hiện mục tiêu giáo dục - đào tạo, đáp ứng những yêu cầu và hoạt động trong nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, đáp ứng đòi hỏi mới

về phát triển nguồn nhân lực, phục vụ CNH - HĐH đất nước, góp phần làm

cho "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

Nền giáo dục Việt nam xác định là nền GD xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, nên tính chất XHHGD rất đậm đặc dù là ở loại hình nào, cấp học nào cũng đều gắn với đời sống cộng đồng: cộng đồng dân cư, cộng đồng tổ chức, xã hội bảo trợ cho sự phát triển của nhà trường (thiết chế giáo dục) Trong những năm gần đây, Đảng đã chủ trương phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, khẳng định GD là sự nghiệp của toàn dân, đầu tư cho GD là đầu tư cho sự phát triển, mọi người đều được hưởng từ GD, do vậy mà chủ trương toàn dân chăm lo cho sự nghiệp GD ngày càng trở thành phong trào rộng lớn

và tiếp diễn không ngừng Hơn nữa, trong xu thế hội nhập cùng với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ đã làm thay đổi căn bản nền sản xuất, đời sống văn hoá, xã hội, đặc biệt sự thay đổi về nhận thức tự khẳng định mình trong bối cảnh nền kinh tế tri thức, làm tăng nhu cầu học tập của mọi người; chủ trương XHHGD ra đời đã giải quyết thoả đáng sự quá tải của ngân sách Nhà nước Đó là một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự ra đời phát triển giáo dục NCL các cấp bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó hệ thống giáo dục phổ thông là bậc học đang được Nhà nước

Trang 27

chủ trương đẩy mạnh XHHGD để thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010

1.4.2 Vai trò, ý nghĩa xã hội hoá giáo dục

Chủ trương xã hội hoá giáo dục đã trở thành một cuộc vận động lớn, mang lại hiệu quả thiết thực là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp giáo dục

Xã hội hoá giáo dục vừa mở rộng quy mô phát triển, vừa nâng cao chất lượng GD đáp ứng yêu cầu công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ chỉ ra:

Xã hội hoá giáo dục có vai trò ý nghĩa to lớn nhằm khơi dậy truyền thống hiếu học lẫn tiềm năng cho người, phát triển sự nghiệp GD - ĐT, đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới XHHGD xây dựng xã hội học tập, tạo ra môi trường và điều kiện học tập để mọi người được học tập suốt đời nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp Từng bước nâng cao sự hưởng thụ về giáo dục với những chính sách đầu tư khuyến khích phù hợp với đối tượng người dạy, người học tạo nên sự công bằng trong giáo dục Do vậy XHHGD để:

1.4.2.1 Xã hội hoá giáo dục góp phần tăng nguồn lực cho giáo dục

XHHGD huy động được nhiều nguồn lực cho sự nghiệp phát triển GD, bao gồm huy động nhân lực, vật lực, tài lực cho GD Mọi sự phát triển đều từ con người, con người là giá trị tạo ra mọi giá trị Huy động nguồn nhân lực là chiến lược dựa vào con người, tạo mọi điều kiện để phát huy tốt nhất năng lực của mọi cá nhân, các lực lượng xã hội để họ tự giác cống hiến tâm huyết, tài năng, tinh thần, vật chất cho GD Điều kiện bao gồm: điều kiện vật chất và tinh thần sẽ tạo môi trường tối ưu cho hoạt động GD phát triển Huy động nguồn vật lực là XHH các điều kiện giáo dục

Huy động tài lực (huy động nguồn đầu tư) để chia sẻ chi phí giữa Nhà nước và người thụ hưởng dịch vụ; đồng thời để giải quyết mẫu thuẫn giữa khả năng tài chính có hạn của Nhà nước với đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân về GD Không thể có một nền "giáo dục rẻ tiền mà có chất lượng", nếu không huy động, thu hút được nhiều nguồn đầu tư từ các giới trong xã

Trang 28

hội, kể cả nguồn từ ngoài nước cho phát triển giáo dục - đào tạo (đẩy mạnh hợp tác quốc tế khuyến khích các hoạt động nghiên cứu khoa học triển khai công nghệ ) thì giáo dục sẽ không được phát triển Do vậy huy động tài lực

là yêu cầu trọng tâm của xã hội hoá giáo dục

1.4.2.2 Xã hội hoá giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo

Mục tiêu của GD là phát triển toàn diện con người về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và kỹ năng nghề nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH

và tiến bộ của khoa học - công nghệ Không thể riêng ngành GD - ĐT thực hiện được mục tiêu GD mà đòi hỏi phải có sự tham gia trực tiếp và gián tiếp

của gia đình, xã hội và cộng đồng vào việc tạo môi trường "xã hội học tập"

thuận lợi cho GD phát triển, góp phần hoàn thiện nội dung, phương pháp GD thì chất lượng giáo dục sẽ chuyển biến tích cực

Nhà trường là thiết chế GD, văn hoá của địa phương, thực hiện nguyên tắc kết hợp ba môi trường GD (nhà trường - gia đình - xã hội) để tạo nên sản phẩm GD, nhưng cũng là nơi được xã hội kiểm định chất lượng hoạt động XHHGD, mức độ chất lượng GD XHHGD là phương thức đặc biệt vừa thực hiện, vừa tự kiểm tra đánh giá, do vậy hoạt động giáo dục - dạy học luôn luôn được cải tiết đổi mới, chính vì vậy chất lượng GD không ngừng được củng cố

học: "Ai cũng được học hành" nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội học

tập để GD cho mọi người, mọi người đều được GD và có điều kiện lựa chọn hình thức học tập phù hợp để nâng cao dân trí - nghề nghiệp, tiếp cận được những tri thức mới, khoa học kỹ thuật, hình thành nên nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tương ứng Chỉ trong xã hội học tập mới thật

sự là điều kiện để mục tiêu GD nhà trường và mục đích học tập của cá nhân người học đạt đến đích trong môi trường dân trí, nhân lực; giáo dục có chọn lọc sẽ đào tạo ra những tinh hoa vượt trội đáp ứng yêu cầu phát triển của CNH - HĐH và nền kinh tế tri thức Đó là những tài năng linh hoạt, sáng tạo

Trang 29

ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào đời sống lao động sản xuất theo nhu cầu và lợi ích của bản thân và xã hội; biết nhạy cảm với chính trị, nhạy cảm với tình hình kinh tế - xã hội; biết thích nghi với môi trường cạnh tranh hợp tác vì lợi ích chung

1.4.2.4 Xã hội hoá giáo dục là con đường thực hiện dân chủ hoá và thực hiện chính sách công bằng xã hội trong giáo dục

Dân chủ hoá giáo dục là nội dung rất quan trọng của công cuộc đổi mới nền giáo dục nước ta Dân chủ hoá GD là nhằm xoá bỏ tính khép kín của

hệ thống GD nhà trường; thực hiện nền GD đại chúng để mọi người được bình đẳng về cơ hội học tập, học thường xuyên, học suốt đời, đồng thời có điều kiện để mọi người thực hiện quyền làm chủ của mình đối với sự nghiệp giáo dục

Đặng Quốc Bảo quan niệm: "XHHGD gắn liền với dân chủ hoá giáo dục Chỉ có thể thực hiện XHHGD khi xã hội có một nền dân chủ, hiện thân nhân văn và nền dân chủ này được quán triệt trong đời sống giáo dục: mọi người dân có quyền được đi học, được học (tức là được lĩnh hội một nền giáo dục phù hợp với hoàn cảnh khả năng của mình) và được phát triển tài năng" [8, Tr 6]

Như vậy dân chủ hoá giáo dục là quá trình làm cho nhà trường của số ít (một thiết chế hành chính tháp ngà) trở thành nhà trường của số đông (một

thiết chế hoàn toàn của dân, do dân, vì dân) vì "giáo dục là sự nghiệp của toàn dân"

Dân chủ hoá thể hiện sự công khai dân chủ (các thành tố ) trong quá trình hoạt động giáo dục - dạy học và dân chủ hoá quản lý GD để đối tượng quản lý, mọi người phát huy vai trò trách nhiệm đối với GD; công minh công bằng trong thực hiện các chính sách, chế độ và mọi hoạt động GD trong nhà trường, trong ngành giáo dục

Dân chủ hoá giáo dục và XHHGD có mối quan hệ mật thiết và biện chứng XHHGD là con đường để thực hiện dân chủ hoá giáo dục, ngược lại nhờ dân chủ hoá giáo dục mà các thành phần xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển GD ngày càng đa dạng, phong phú, rộng khắp… làm cho sự nghiệp

GD trở thành sự nghiệp của toàn xã hội, huy động sự tham gia của toàn xã hội cùng làm GD Đẩy mạnh dân chủ hoá, làm tốt XHHGD chẳng những thu hút

Trang 30

được mọi cá nhân tổ chức trong nước đầu tư tài chính và các mặt cho GD mà còn thu hút sự đóng góp đầy đủ của các tổ chức Chính phủ, phi Chính phủ hỗ trợ GD mọi mặt, qua đó dân chủ hoá giáo dục sẽ được đẩy lên cao, tích cực tăng cường xã hội hoá giáo dục

1.4.2.5 Xã hội hoá giáo dục góp phần làm cho giáo dục phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, có mối quan hệ biện chứng với các lĩnh vực khác của quá trình phát triển xã hội, giáo dục với kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá Trong mối quan hệ tác động kinh tế tăng trưởng, chính trị ổn định, xã hội tiến bộ, văn hoá tiên tiến là điều kiện, là môi trường động lực thúc đẩy giáo dục phát triển, đến lượt mình, giáo dục vừa là mục tiêu, vừa

là động lực cho kinh tế tăng trưởng, chính trị ổn định, kỷ cương xã hội tiến

bộ, văn hoá trường tồn "Giáo dục là cầu nối từ chỗ không có gì đến chỗ cái

Các nhà xã hội học cho rằng nhìn vào GD của một quốc gia dân tộc thì biết được tương lai của quốc gia dân tộc đó như thế nào GD có tính chất tác động vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, chính nhờ có GD mà khoa học công nghệ phát triển, nhân lực kỹ thuật gia tăng, tổ chức sản xuất được cải tiến làm cho nền kinh tế tăng trưởng, phát triển bền vững Có thể khẳng định rằng đời sống KT - XH quy định trình

độ phát triển giáo dục Ngược lại GD có vai trò cải thiện nâng cao nhận thức, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, kinh tế - xã hội không ngừng phát triển

Muốn kinh tế - xã hội phát triển phải tập trung chăm lo giáo dục, muốn giáo dục phát huy được sức mạnh đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục phải bám sát mục tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế và xây dựng xã hội tiến bộ của địa phương để xây dựng và thực hiện nhiệm vụ giáo cụ Đó chính là kết quả công việc xã hội hoá giáo dục

Trang 31

1.4.3 Nội dung xã hội hoá giáo dục

1.4.3.1 Giáo dục hoá xã hội

Giáo dục hoá xã hội là nội dung cơ bản của XHHGD nhằm huy động toàn xã hội tham gia vào quá trình GD và tự GD; tiến hành cho mọi người, thực hiện quyền cơ bản của con người để mọi người được học thường xuyên, suốt đời, tiến tới xây dựng xã hội học tập như kết luận Hội nghị Ban chấp

hành TW Đảng lần 6 khoá IX nêu: "Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng hình thức GD chính quy và không chính quy, giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập"

Luận bàn về nội dung xã hội hoá giáo dục, nhìn lại Việt Nam 60 năm

về trước, khi còn là chế độ thực dân, phong kiến, quy mô GD nước ta rất nhỏ

bé, chỉ có khoảng 3% dân số được đi học, từ tháng 9/1945 đến nay, trải qua quá trình xây dựng, phát triển nền GD với nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, chúng ta đã có một nền GD toàn dân với hệ thống GD hoàn chỉnh (cả nước có gần 30.000 trường học các loại hình với hơn 24 triệu sinh viên, học sinh trên 80 triệu dân, chiếm tỷ lệ 25%, đã hoàn thành đạt chuẩn chống mù chữ và PCGDTH năm 2000, đang thực hiện phổ cập GD THCS (đạt 28 tỉnh thành năm 2005) Đảng, Nhà nước rất quan tâm thực hiện công bằng trong giáo dục để mọi người được học và học được; thực hiện các chính sách, tài năng, địa bàn khó khăn và khu vực đào tạo nhân tài Đó là việc thực hiện hài hoà nội dung xã hội hoá giáo dục của nước ta

Xu thế phát triển của nhân loại tiến đến nền kinh tế tri thức và công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, GD hoá xã hội tạo ra phong trào học tập rộng khắp, đáp ứng quyền được hưởng GD theo nhu cầu của mọi người để đảm bảo cho mọi người có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, có ý thức nghiên cứu, tư duy khoa học sáng tạo, nhạy cảm, thích ứng với cái mới, làm chủ được khoa học công nghệ, đào tạo thế hệ trẻ có đủ năng lực trở thành chủ nhân đất nước Vì vậy, xã hội hoá giáo dục là nhiệm vụ chiến lược của công cuộc CNH - HĐH đất nước

1.4.3.2 Cộng đồng hoá trách nhiệm đối với hoạt động giáo dục

Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Để đạt được mục tiêu

Trang 32

đó, không thể chỉ ngành giáo dục thực hiện được mà phải huy động toàn xã hội tham gia chăm lo tạo nên sức mạnh tổng hợp Từ việc tham gia xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn với sự gắn kết nhất quán giữa các môi trường giáo dục: gia đình - nhà trường - xã hội, nhà giáo, nhà nước trong chăm ló, quản lý và giáo dục học sinh đến việc mọi tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục

Cộng đồng trách nhiệm còn thể hiện ở sự thu hút, phát huy sáng tạo cảu các lực lượng xã hội, với khả năng kinh nghiệm, tiềm năng của mình tham gia vào các hoạt động GD nhà trường, làm cho mọi người, mọi nguồn lực của xã hội đều được tự giác cống hiến cho sự phát triển giáo dục

1.4.3.3 Đa dạng hoá các loại hình, phương thức giáo dục

Công cuộc đổi mới đất nước thực hiện mô hình kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của Nhà nước để thúc đẩy phát triển KT- XH, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, phấn đấu vươn lên bằng các nước tiên tiến trong khu vực, đủ sức và

lực hội nhập kinh tế thế giới "Phát triển GD là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" [35, Tr.12] thực hiện

mục tiêu trên

Xã hội hoá giáo dục chính là mở cửa điều kiện để mọi cá nhân tổ chức

và toàn xã hội tham gia vào việc mở rộng quy mô đào tạo, phát triển nguồn lực con người trên cơ sở đảm bảo cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng

Theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, Xã hội hoá giáo dục: nhà trường trong hệ thống quốc dân bao gồm các loại hình trường công lập, dân lập, tư thục (Điều 46 Luật Giáo dục) cho phép GD theo phương thức chính quy và GDTX, hình thức học tập trung, học tại chức và học từ xa, tự học có hướng dẫn, trong đó phải lấy loại hình trường công lập, GD chính quy giữ vai trò nòng cốt, chủ đạo chi phối trong toàn bộ hệ thống giáo dục

Như vậy XHHGD là xây dựng hệ thống GD mở, GD hướng đến cộng đồng, cộng đồng quan tâm chăm lo GD tạo thành mối quan hệ "nhà trường

(GD) là nhu cầu tất yếu của cộng đồng, cộng đồng là môi trường thân thiện

của nhà trường (GD) Qua môi trường, GD phát triển; qua giáo dục, phát triển

Trang 33

môi trường Đây là kinh nghiệm phổ biến về XHHGD của các nước phát triển trên thế giới, là bài học quý để Việt Nam thực hiện đổi mới giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội

1.4.3.4 Đa phương hoá nguồn lực đầu tư cho giáo dục

Để phát triển quy mô, chất lượng, hiệu quả GD đáp ứng nhu cầu GD ngày càng cao của nhân dân, không thể chỉ thực hiện giữa nhu cầu phát triển quy mô và chất lượng GD, điều kiện còn nhiều khó khăn về tài chính của đất

nước chúng ta Mặc dù, "Nhà nước ưu tiên đầu tư cho GD" nhưng XHHGD, cần huy động nguồn lực cho GD: Nhà nước "khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt nam định cư ở nước ngoài đầu tư cho GD" [35, Tr.14]

Tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực viện trợ không hoàn lại, tài trợ, cho vay lãi suất thấp để đầu tư, phát triển giáo dục

Trong khoảng 10 năm nay, nhất là từ khi Đảng và Nhà nước có chủ trương xã hội hoá giáo dục, (NQ 90 năm 1997 của Chính phủ) đóng góp vào kinh phí hoạt động giáo dục - đào tạo của người dân chiếm tỷ lệ trên 30%, chỉ tính riêng quỹ khuyến học cả nước nhận được hàng năm trên 200 tỷ đồng (2002: 100 tỷ, 2003: 20 tỷ; 2005 gần 400 tỷ, nhân dân đã hiến hàng triệu m2đất để xây dựng trường học Các tổ chức quốc tế, viện trợ quốc tế thông qua chương trình hợp tác song phương, đa phương, Việt kiều viện trợ khoảng

1000 triệu USD Huy động được nhiều nguồn lực của xã hội đầu tư cho giáo dục với việc tăng chi ngân sách Nhà nước hàng năm cho giáo dục (2001: 15,1%; 2002: 15,6%; 2003: 16,4% và 2005: 18% dự kiến đến 2010 trên 20%) [6, tr.6] Nhờ đó, ngành giáo dục chủ động thực hiện đa dạng các loại hình đào tạo, tạo nên động lực thúc đẩy sự phát triển giáo dục cả về quy mô và chất

Trang 34

mà thông qua các văn bản pháp luật, các quy chế quản lý Do vậy, Nhà nước phải xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, minh bạch để đảm bảo trách nhiệm quyền lợi tính công bằng dân chủ và công khai trong hoạt động giáo dục Trong khuôn khổ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, mọi tổ chức, cá nhân tham gia XHHGD được tự do hoạt động

để mưu sinh, sinh lợi; tổ chức thực hiện có hiệu quả, đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà nước chỉ can thiệp khi có sự vi phạm pháp luật

1.4.4 Nguyên tắc xã hội hoá giáo dục

Xã hội hoá giáo dục là chủ trương chiến lược quan trọng của Đảng, Nhà nước để thực hiện chiến lược phát triển GD, phát triển đất nước Để đạt được thành công hoạt động XHHGD, phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

1.4.4.1 Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, quyền chủ động sáng tạo của ngành giáo dục, của nhà trường phổ thông trong quá trình hoạt động phát triển giáo dục

Đảng lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, đề ra quan điểm, đường lối chủ trương phát triển KT-XH Nhà nước thể chế hoá chủ trương đường lối thành chính sách pháp luật Ngành giáo dục và nhà trường là cơ quan chuyên môn căn cứ vào những định hướng của Đảng, quy định Nhà nước về hoạt động XHHGD tiến hành cụ thể yêu cầu nhiệm vụ, xác định mục tiêu nhu cầu, phương án kế hoạch thực hiện xã hội hoá từ đó chủ động tham mưu, đề xuất với cấp uỷ Đảng, chính quyền tại địa phương thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, theo mức độ yêu cầu và phạm vi hoạt động XHHGD để phát triển giáo dục - đào tạo một cách bền vững

1.4.4.2 Đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội hóa giáo dục để phát triển sự nghiệp giáo dục

Bản chất Nhà nước ta là Nhà nước "của dân do dân vì dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân "(Điều 2- Hiến pháp 1992)

Do vậy trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội đều đảm bảo

nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra "."Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước

và xã hội"(Đ.2- HP)

Trang 35

Do đó trong hoạt động XHHGD, ở bất kỳ phạm vi mức độ nào cũng cần đảm bảo thông tin tuyên truyền, công khai hoá để nhân dân biết, hiểu và tích cực tự giác tham gia trách nhiệm một cách thường xuyên, liên tục với vai trò vừa là chủ thể vừa là đối tượng hoạt động XHHGD, tất yếu sẽ xây dựng được môi trường giáo dục lành mạnh tạo động lực cho sự phát triển nền giáo dục tiên tiến

1.4.4.3 Đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa

Xã hội hoá giáo dục nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp GD, nhưng XHH các hoạt động GD phải vận hành trong khuôn khổ pháp lý, tuân thủ theo pháp luật XHHGD được thực hiện và phát triển trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể hoạt động XHHGD cần phải được trang bị thấm nhuần pháp luật để đầu tư thực hiện các hoạt động giáo dục pháp luật khuyến khích, cho phép Có như vậy thì mục đích, ý nghĩa, chủ trương, chính sách XHH mới đạt hiệu quả, đảm bảo tính đồng bộ nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, phát huy động lực

và tạo đà cho sự phát triển giáo dục nhanh, bền vững và chất lượng cao

1.4.5 Kinh nghiệm xã hội hoá giáo dục của một số nước

Kinh tế tri thức vừa là sản phẩm của giáo dục vừa là động lực thúc đẩy giáo dục Những năm cuối thế kỷ XX, sự phát triển như vũ bão của cách mạng KHCN và toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của thời đại, đặt các quốc gia vào sự lựa chọn hoặc là bị nhấn chìm hoặc là hội nhập để tạo thêm sức mạnh Phát triển kinh tế tri thức là cách hội nhập tốt nhất, do vậy giáo dục trở thành

lẽ hưng vong của mỗi quốc gia Đó là cơ hội thúc đẩy giáo dục phát triển Tuy nhiên vấn đề đặt ra là nhu cầu giáo dục lớn hơn, nhiều hơn, khác hơn và cao hơn mà khả năng, điều kiện hệ thống giáo dục hiện có không đáp ứng, đòi hỏi hầu hết các quốc gia dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển đều quan tâm việc huy động mọi cá nhân, tổ chức của mọi thành phần kinh tế tham gia tổ chức hoạt động giáo dục và đã trở thành phong trào xã hội hoá rộng khắp và phổ biến trên thế giới

Hình thức XHHGD phổ biến là tổ chức thực hiện trường ngoài công lập và tổ chức giáo dục thường xuyên với các mô hình tổ chức khác nhau phục vụ cho các đối tượng khác nhau, mục tiêu học tập khác nhau

Trang 36

Điển hình ở các nước Châu Á - Thái Bình Dương, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Inđônêxia, Philipin tiến hành tổ chức GD tư thục đại trà, hạn chế trường công lập Nhờ mô hình này mà Nhật Bản và Hàn Quốc đã có nhiều thành công trong đào tạo nguồn nhân lực, nhiều thế hệ lao động, khoa học kỹ thuật tinh hoa Nhật Bản đã thành công trong việc vận động toàn xã hội đầu tư cho GD, phát triển hệ thống trường tư Kinh nghiệm của Hàn Quốc cũng cho thấy, nhờ biết đầu tư hiệu quả cho GD mà kinh tế tăng trưởng nhanh So sánh những năm 60 của thế kỷ XX, Hàn Quốc và Pakixtan đều ở trình độ phát triển như nhau, nhưng đến năm 80 GDP tính theo đầu người của Hàn Quốc gấp 3 lần Pakixtan và đến 2001 gấp 21 lần Chính sách đầu tư cho GD ở Hàn Quốc được xác định rõ: đào tạo nguồn nhân lực là nhiệm vụ chung của toàn xã hội

Inđônêxia, quốc gia có dân số đứng thứ năm thế giới (212,2 triệu người

- năm 2000), nhờ hệ thống trường tư thục ra đời đã góp phần đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của người dân và chia sẻ những khó khăn trong vấn đề tài chính của Nhà nước, nguồn nhân lực luôn được tăng tiến

Ở Trung Quốc, theo chủ trương của Đảng Cộng sản Trung Quốc (Đại

hội VIII năm 1987): " Kế hoạch lớn trăm năm, giáo dục là gốc mở đường cho việc huy động toàn xã hội tham gia công tác giáo dục" Nhân dân trở nên tự

giác, "xã hội tham gia công tác giáo dục đã trở thành nếp sống" Trung Quốc động viên các lực lượng xã hội chung vốn làm giáo dục không thu thuế, hoan nghênh, khen thưởng cho kiều bào, cho các tổ chức nước ngoài tham gia giúp

đỡ hoạt động giáo dục Trung Quốc

Các nước phát triển Châu Âu, Bắc Mỹ, giáo dục công lập và giáo dục

tư thục song song phát triển nhằm tăng khả năng lựa chọn cho người học và tăng cường tính đổi mới thích ứng với môi trường

Hoa Kỳ là một quốc gia có nền giáo dục tiên tiến, tất cả trẻ em Hoa Kỳ dưới 16 tuổi đều buộc phải đi học Một nửa số dân Hoa Kỳ trong độ tuổi 18 đến 25 đều vào trường Cao đẳng hoặc Đại học Từ 1990, ở Hoa Kỳ đã tổ chức

hệ thống các trung tâm học tập cộng đồng, Cao đẳng cộng đồng, Đại học cộng đồng đều khắp cả nước do tư nhân thực hiện Chính giáo dục Hoa Kỳ đã góp phần không nhỏ đưa Hoa Kỳ trở thành cường quốc số một về KH- CN và kinh tế như hiện nay

Trang 37

Nhìn lại kinh nghiệm xã hội hoá giáo dục ở hầu hết các quốc gia điển hình trên thế giới là đều thực hiện chính sách huy động mọi nguồn lực cho giáo dục, đều theo xu hướng mở và rất năng động Nhờ vậy mà thực hiện được đa dạng hoá các nguồn lực, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, đa dạng hoá các lực lượng tham gia giáo dục, phát triển nguồn nhân lực tiên tiến cho đất nước, đang là xu thế chung được áp dụng rộng rãi trong giáo dục ở các nước

1.4.6 Kết quả và tổng kết một số kinh nghiệm xã hội hoá giáo dục ở nước

ta

Ở Việt Nam, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đặt ra yêu cầu

hệ thống giáo dục phải từng bước đổi mới để phù hợp và thích ứng, bởi lẽ giáo dục được coi là động lực để phát triển kinh tế – xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Chủ trương XHH hoạt động giáo dục của Đảng và Nhà nước là nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội, đầu tư phát triển giáo dục

là định hướng quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển hệ thống giáo dục hiện nay

Chủ trương XHHGD đã huy động được nhiều nguồn lực của xã hội đầu

tư cho giáo dục Cùng với việc tăng chi ngân sách Nhà nước hàng năm cho giáo dục (2001: 15,1%; 2002: 15,6%; 2003: 16,4%; 2004: 17,1%; 2005; 18%; 2006: 19,3%) Nguồn tài chính ngoài ngân sách Nhà nước tăng đáng kể, chiếm từ 25- 30% tổng nguồn tài chính đầu tư cho lĩnh vực GD, nếu tính riêng phần tài chính do nhân dân đóng góp cho giáo dục: tiểu học chiếm 27%, THCS: 41% THPT: 48% Riêng hệ thống quỹ khuyến học hàng năm nhận hơn 200 tỷ đồng Ngoài ra nhân dân cả nước đã hiến hàng triệu m2 đất để xây dựng trường học, trong đó có 142.108m2 cho các cơ sở ngoài công lập

Nhờ chủ trương XHHGD mà đã hợp tác quốc tế về giáo dục với các nước trong liên kết đào tạo; huy động được nhiều sự hỗ trợ các tổ chức quốc

tế, cá nhân nước ngoài và việt kiều, ngành giáo dục ngày càng nhận được nhiều nguồn viện trợ thông qua các chương trình hợp tác song phương, đa phương

Xã hội hoá GD là chủ trương chiến lược đúng đắn của Đảng, Nhà nước

ta, do vậy bên cạnh việc huy động khá thành công nguồn lực trong xã hội, phát triển được hệ thống các cơ sở GD NCL, nước ta đã xây dựng phong trào

Trang 38

học tập, xã hội học tập sôi nổi trong mọi người, mọi nhà, nhất là trong thanh niên và cán bộ XHHGD đã thật sự phát huy được nội lực, khai thác các nguồn lực xã hội cho phát triển GD, ổn định chính trị xã hội, tăng cường được kinh tế, tạo niềm tin vào chế độ chính trị, vào Đảng và Nhà nước

Kinh nghiệm có thể thấy trong thực hiện XHH giáo dục thời gian qua

đó là: sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền được thể hiện qua các chính sách, chủ trương cụ thể; chính sách huy động nguồn lực, đầu tư cho giáo dục; từng bước xây dựng xã hội học tập; công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về giáo dục và XHH giáo dục trong các cấp lãnh đạo, trong các tầng lớp nhân dân, các tổ chức đoàn thể đã đạt nhiều kết quả

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được, quá trình thực hiện xã hội hoá giáo dục ở nước ta cũng bộc lộ những tồn tại, hạn chế:

+ Mức độ phát triển XHH không đồng đều giữa các vùng miền, giữa các tỉnh, thành phố, địa phương

+ Công tác quản lý XHH của chính quyền và cơ quan quản lý GD các cấp chưa làm tốt chức năng quản lý nhà nước Trong quản lý định hướng phát triển, quy hoạch và chỉ đạo triển khai thực hiện còn nhiều bất cập, lúng túng, chậm chạp; cơ chế chính sách chưa cụ thể, thiếu đồng bộ

+ Trong nhận thức của các nhà quản lý và nhân dân, còn định kiến với

GD NCL, chưa tin tưởng, chưa thật ủng hộ, thậm chí còn phân biệt trong tuyển dụng lao động

Vẫn còn có quan điểm khác nhau giữa các cấp, các ngành về quan hệ

sở hữu, phạm vi, mức độ, quy mô, loại hình cơ sở XHH, về đầu tư vốn, về quản lý, về lợi nhuận và phi lợi nhuận, lợi ích kinh tế của cá nhân tham gia XHH.v.v Việc phân cấp thực hiện triển khai XHHGD chưa thật đầy đủ, hợp

lý, đồng bộ; còn có quan niệm XHHGD chỉ là giải pháp kinh tế, tạm thời hoặc chỉ thực hiện được ở thành thị, nơi KT- XH phát triển, còn ở những vùng khác không thực hiện được, nên có tư tưởng trông chờ Một số khác lại nghĩ, XHHGD tức là tư nhân hoá GD; một số ngành hữu quan cũng chưa quan tâm, tạo điều kiện để các cơ sở GDNCL phát triển Thực tế đó đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, giải pháp để vừa đảm bảo định hướng phát triển, vừa khuyến khích đẩy mạnh và nâng cao chất lượng XHHGD

Trang 39

Nhìn chung cùng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua, các lĩnh vực xã hội thu được những thành quả đáng kể Trong đó, công tác XHH các hoạt động GD đã phát huy động lực, tạo đà cho phát triển sự nghiệp

GD và góp phần vào sự phát triển KH – XH; thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, khẳng định Việt Nam đủ sức và lực trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

1.5 Quán triệt chủ trương xã hội hoá giáo dục vào quản lý phát triển trường phổ thông ngoài công lập trong giai đoạn hiện nay

Thực hiện XHH nhằm hai mục tiêu lớn đó là là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo cho giáo dục đồng thời tạo điều kiện để toàn xã hội đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được thụ hưởng thành quả giáo dục mức độ ngày càng cao

Thực hiện chủ trương XXHGD của Đảng và Nhà nước, các tổ chức, cá nhân đã tích cực hưởng ứng, nhất là khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997, hàng loạt trường NCL: Dân lập, tư thục, bán công được thành lập Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định 20/2005/QĐ-BGD&ĐT:

“Thực hiện XHHGD nhằm phát huy tiềm năng về trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, đồng thời tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được hưởng thụ thành quả giáo dục ở mức độ ngày càng cao” Quyết định cũng nêu chuyển các cơ sở công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, có lộ trình chuyển các cơ sở giáo dục bán công sang loại hình ngoài công lập, chuyển một số cơ sở giáo dục công lập sang loại hình ngoài công lập Đa dạng hoá các loại hình giáo dục, phát triển mạnh các cơ sở

GD NCL với hai hình thức dân lập và tư thục, mở rộng liên kết hợp tác với nước ngoài và phát triển hợp lý cơ sở GD do nước ngoài đầu tư 100% vốn Khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước bằng nhiều hình thức phù hợp với quy hoạch phát triển, yêu cầu và đặc điểm giáo dục từng vùng miền

Thực tiễn trong thời gian qua cho thấy, các trường ngoài công lập đã thu hút ba phần tư (75%) tổng số trẻ em đi nhà trẻ và hơn một nửa (55%) học sinh mẫu giáo Riêng đối với tiểu học và THCS thì tỷ lệ đó còn ít (đây là kết quả quá trình thực hiện luật phổ cập GD tiểu học và tiến tới phổ cập THCS) Đối với THPT các trường NCL đã thu hút gần một phần ba học sinh THPT,

Trang 40

đây là một tỷ lệ XHH rất lớn so với tiểu học, THCS và giáo dục đại học Tỷ lệ các trường ngoài công lập: mầm non 57%; tiểu học có 75/14.575 trường chiếm 0,5%; Cấp trung học cơ sở có 67/10.075 trường chiếm 0,6%; Cấp trung học phổ thông có 607/2.224 trường chiếm 27,3%; cơ sở dạy nghề đạt 44%, trung học chuyên nghiệp 16,5%; cao đẳng, đại học chiếm 12,6%

Như vậy, xét về tỷ lệ học sinh NCL, xã hội hoá GD đã diễn ra mạnh ở giai đoạn đầu của tuổi học đường, giảm mạnh ở tiểu học và THCS, tăng lên ở THPT và giảm mạnh xuống còn 10% ở giáo dục đại học

Chủ trương XHH để đa dạng hoá hình thức học tập và loại hình trường lớp đã giúp cho hàng triệu học sinh có điều kiện tiếp tục học tập Đối với các

cơ sở giáo dục ngoài công lập đủ điều kiện nên chất lượng giáo dục từng bước được khẳng định Sự xuất hiện các trường học NCL đã góp phần chia sẻ tài chính có hạn của Nhà nước trong phát triển giáo dục, giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng, đặt biệt phát huy được tính năng động, tự chủ của

cá nhân và tổ chức xã hội tham gia giáo dục Đó là ý nghĩa lớn nhất của phát triển giáo dục ngoài công lập

Chủ trương XHH giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập trên cơ sở tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng chính quyền, sự phối hợp các ban ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội, các tổ chức chính trị xã hội, các hội nghề nghiệp tăng cường đầu tư các nguồn lực cho giáo dục ngoài công lập Phát triển các trường NCL cần dựa vào nhân dân, các tổ chức xã hội, phát huy ý thức trách nhiệm, quyền làm chủ của nhân dân, các tổ chức, đoàn thể Khắc phục tình trạng hiện nay một số trường NCL thành lập tự phát, chất lượng hiệu quả kém, không đáp ứng như mong muốn của xã hội, cụ thể về CSVC, thiết bị dạy học, đội ngũ giáo viên, chất lượng GD cũng như cơ chế chính sách còn nhiều hạn chế Nên cần tập trung giải quyết để đẩy mạnh thực hiện chủ trương XHHGD của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay

Ngày đăng: 16/03/2015, 18:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành TW Đảng cộng sản Việt Nam, Chỉ thị số 40/CT - TW về việc xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo CBQL, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hỉ thị số 40/CT - TW về việc xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo CBQL
2. Ban Khoa giáo TW, Báo cáo tại Hội thảo về xã hội hoá các lĩnh vực khoa giáo. Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại Hội thảo về xã hội hoá các lĩnh vực khoa giáo
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chiến lượcphát triển giáo dục 2001 - 2010 NXB Giáo dục. Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lượcphát triển giáo dục 2001 - 2010
Nhà XB: NXB Giáo dục. Hà Nội
4. Bộ GD&ĐT, Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT,ngày 24/6/2005 về việc phê duyệt Đề án Quy hoạch phát triển XHHGD 2005- 2010. Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: uyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT,ngày 24/6/2005 về việc phê duyệt Đề án Quy hoạch phát triển XHHGD 2005- 2010
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đề án xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam 2004 – 2010. Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam 2004 – 2010
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đề án quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005 – 2010. Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005 – 2010
7. Đặng Quốc Bảo, "Nghiệp vụ quản lý giáo dục và phát triển người". Giáo trình lớp cao học QLGD, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ quản lý giáo dục và phát triển người
8. Đặng Quốc Bảo, "Bản chất của XHHGD và dân chủ hoá giáo dục", Báo Giáo dục thời đại, số 71, trang 6. Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của XHHGD và dân chủ hoá giáo dục
9. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Khắc Hưng, Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai, vấn đề và giải pháp. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai, vấn đề và giải pháp
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội
10. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí, Khoa học tổ chức và quản lý, NXB thống kê. Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tổ chức và quản lý
Nhà XB: NXB thống kê. Hà Nội
11. Đặng Xuân Hải, Xã hội hoá công tác giáo dục và huy động cộng đồng tham gia xây dựng sự nghiệp GD - ĐT. Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục - Đào tạo Trung ương 1. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ã hội hoá công tác giáo dục và huy động cộng đồng tham gia xây dựng sự nghiệp GD - ĐT
12. Chung Á - Nguyễn Đình Tấn, Nghiên cứu xã hội học. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xã hội học
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội
13. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Cơ sở khoa học quản lý. Giáo trình. Hà Nội,1996 - 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học quản lý
14. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Những quan điểm giáo dục hiện đại. Giáo trình lớp cao học QLGD. Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm giáo dục hiện đại
15. Chính Phủ, Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hoá hoạt động GD, y tế, văn hoá. Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hoá hoạt động GD, y tế, văn hoá
16. Chính phủ, Quyết định số 73/2005/QĐ - TTg, ngày 6/4/2005, ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 37/2004/QH11, khoá XI, kỳ họp lần thứ 6 Quốc hội về Giáo dục.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 73/2005/QĐ - TTg, ngày 6/4/2005, ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 37/2004/QH11, khoá XI, kỳ họp lần thứ 6 Quốc hội về Giáo dục
17. Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh Cường, Phương Kỳ Sơn, Các học thuyết quản lý. NXB chính trị Quốc gia. Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết quản lý
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia. Hà Nội
18. Đảng cộng sản Việt Nam, Kết luận Hội nghị TW6, khoá IX. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận Hội nghị TW6, khoá IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội
19. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội
20. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 BCHTW Đảng khoá VII. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 BCHTW Đảng khoá VII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kê số liệu phát triển trường học từ 2000 – 2005 - Các giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.1 Thống kê số liệu phát triển trường học từ 2000 – 2005 (Trang 45)
Bảng 2.2: Thống kê số lượng phát triển học sinh 2000-2005 - Các giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.2 Thống kê số lượng phát triển học sinh 2000-2005 (Trang 46)
Bảng 2.3:  Thống kê số lượng phát triển đội ngũ giáo viên 2000-2005 - Các giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.3 Thống kê số lượng phát triển đội ngũ giáo viên 2000-2005 (Trang 47)
Bảng 2.5: Thống kê số trường và số học sinh THPT ngoài công lập - Các giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.5 Thống kê số trường và số học sinh THPT ngoài công lập (Trang 53)
Bảng  2.7-  Kết  quả  thăm  dò  ý  kiến  về  loại  hình  trường  lớp  phổ  thông  ngoài công lập - Các giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
ng 2.7- Kết quả thăm dò ý kiến về loại hình trường lớp phổ thông ngoài công lập (Trang 60)
Bảng 2.8: Kết quả ý kiến về tình hình các lực lượng xã hội tham gia  công tác xã hội hoá giáo dục - Các giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.8 Kết quả ý kiến về tình hình các lực lượng xã hội tham gia công tác xã hội hoá giáo dục (Trang 62)
Bảng 2.10:  Tổng hợp xã hội hoá tài lực cho giáo dục từ 2001 - 2005 - Các giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.10 Tổng hợp xã hội hoá tài lực cho giáo dục từ 2001 - 2005 (Trang 65)
Bảng 2.12:  Số lượng trường, HS, GV công lập và ngoài công lập năm 2005-2006 - Các giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.12 Số lượng trường, HS, GV công lập và ngoài công lập năm 2005-2006 (Trang 68)
Bảng 3.1: Dự kiến phát triển số học sinh, số trường đến năm 2010 - Các giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3.1 Dự kiến phát triển số học sinh, số trường đến năm 2010 (Trang 76)
Bảng 3.3: Kết quả điểm TB cộng trưng cầu kiểm chứng - Các giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3.3 Kết quả điểm TB cộng trưng cầu kiểm chứng (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w