Đồng thời nghị quyết cũng chỉ rõ “Giáo dục - Đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả đào tạo đáp ứng yêu cầu của đất nước thực hiện nâng cao dân tr
Trang 17.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
1.1 Một số khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục 7
1.1.4 Quản lý giáo dục là khoa học và nghệ thuật 15
Trang 21.2 Những vấn đề đổi mơí giáo dục phổ thông 19
trong giai đoạn hiện nay
1.2.1 Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng 19
1.2.2 Trong luật giáo dục được Quốc hội thông qua 19
1.2.3 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 20
1.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục Tiểu học 22
1.3.1 Trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục Quốc dân 22
1.3.2 Bản chất của quá trình dạy học Tiểu học 24
1.3.3 Hoạt động dạy - học ở trường Tiểu học 26
1.3.4 Vai trò của đội ngũ giáo viên Tiểu học
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN
NGÔ QUYỀN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 42
2.1 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế xã hội
2.1.1 Những khái quát về địa lý dân số 42
2.2 Phát triển giáo dục Tiểu học Hải Phòng về đội ngũ giáo viên Tiểu học từ khi thực hiện nghị quyết TW 2 khoá VIII đến nay 45
2.2.1 Sự phát triển của giáo dục Hải Phòng
từ khi thực hiện Nghị quyết TW 2 khoá VIII 45
2.2.2 Đội ngũ giáo viên Tiểu học Hải Phòng 50
2.2.3 Đánh giá chung kết quả giáo dục Hải Phòng 52
2.2.4 Kết quả đánh giá chuẩn giáo viên Tiểu học ở một số
quận, huyện thành phố Hải Phòng (Thực hiện theo dự án
2.3 Vài nét thực trạng giáo dục nói chung và
Trang 32.3.1 Đặc điểm kinh tế xã hội, dân cư quận Ngô Quyền 61
2.3.2 Đặc điểm, tình hình học sinh và đội ngũ giáo viên
và cơ sở vật chất các trường tiểu học quận Ngô Quyền 65
2.3.3 Kết quả đánh giá thí điểm giáo viên tiểu học theo chuẩn 69
2.3.4 Đánh giá chung điểm mạnh, điểm yếu của đội ngũ
giáo viên tiểu học quận Ngô Quyền 77
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN NGÔ QUYỀN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TIỂU HỌC 82
3.1.1 Củng cố tăng cường nề nếp, kỷ cương, chuyên môn 82
3.1.2 Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tại chỗ và nâng cao năng lực
3.1.3 Hoàn thiện, cải tiến phương pháp, cách thức tổ chức
3.1.4 Bồi dưỡng và nâng cao năng lực sử dụng máy vi tính
3.2.1 Thực hiện giáo dục tư tưởng, nâng cao nhận cho giáo viên 96
3.2.2 Thực hiện công tác dân chủ hoá, xã hội hoá 97
3.2.3 Thực hiện luân chuyển cán bộ quản lý và giáo viên 98
3.2.4 Đổi mới tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra 100
3.2.5 Tuyển mộ giáo viên trẻ thay thế đội ngũ giáo viên
Tài liệu tham khảo
Trang 4DA PTGVTH Dự án phát triển giáo viên tiểu học
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết hội nghị lần thứ II ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã nêu “Thực sự coi Giáo dục - Đào tạo cùng khoa học công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo là đầu tư phát triển"
Đồng thời nghị quyết cũng chỉ rõ “Giáo dục - Đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả đào tạo đáp ứng yêu cầu của đất nước thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhận lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước phải nâng cao chất lượng và bảo đảm số lượng giáo viên cho hệ thống giáo dục, tiêu chuẩn hoá
và hiện đại hoá các điều kiện dạy và học"
Trong tài liệu “Việt Nam con người phát triển đến năm 2020” của Bộ Khoa học - Công nghệ và môi trường : “Bất kể quốc gia nào nếu tiếp thu được những bài học của thị trường, tạo lập được những phẩm chất cho phép cạnh tranh trong một thế giới kinh tế không biên giới thì mới có cơ hội thành công Những phẩm chất đó bao gồm : Một dân cư được giáo dục tốt; một nguồn nhân lực dựa trên trí tuệ và một quỹ tri thức dồi dào; một hệ thống thông tin hiệu quả; một cơ cấu tài chính linh hoạt; một đội ngũ các nhà doanh nghiệp có năng lực … vào cuộc với thế giới Như vậy đòi hỏi một nguồn nhân lực có trình độ cao, để thích ứng, khi đó yếu tố giáo dục - đào tạo sẽ là một nguồn lực chủ yếu tạo thế cạnh tranh của các nước khi bước vào thế kỷ 21" Hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh (Trung Quốc) tháng 11 năm 1990 đã kết luận : Sự giàu có và thịnh vượng ngày càng phụ thuộc vào tri thức và kỹ năng Các nước phát triển chưa bao giờ đổi mới và sáng tạo như bây giờ Những nước này đang làm cho thế giới tràn ngập những sản phẩm và dịch vụ mới dựa trên sức mạnh của chất xám và sự sáng tạo của họ, sự thịnh vượng về mặt kinh tế của họ dựa trên sử dụng tài sản trí tuệ và các nguồn lực về các ngành nghệ thuật, các ngành khoa học và công nghệ đồng thời dựa vào sự phát triển của lực lượng lao động rất lành nghề và thường xuyên học hỏi “Cơ sở hoạt động trí tuệ và tổ hợp giáo dục (gồm các trường Đại học, Cao đẳng, cơ sở
Trang 6nghiên cứu …) ngày càng có vai trò quyết định trong sự phát triển xã hội đã đóng vai trò thực hiện sứ mệnh trên"
Như vậy chúng ta thấy rõ vị trí, vai trò của Giáo dục - Đào tạo rất to lớn,
là yếu tố có tính chất quyết định chiến lược đến sự phát triển kinh tế xã hội Trong sự nghiệp phát triển Giáo dục - Đào tạo yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục - đào tạo là chất lượng đội ngũ giáo viên trong các trường học Liên hệ với thực tế Giáo dục - Đào tạo Hải Phòng trong những năm qua thực hiện nghị quyết 4 Thành Uỷ Hải Phòng khoá XI (Triển khai thực hiện nghị quyết TW 2 khoá VIII) Giáo dục - Đào tạo Hải Phòng có những chuyển biến tích cực cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng giáo dục đào tạo Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đã được chỉ đạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ theo hướng chuẩn hoá, trên chuẩn và bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ, bồi dưỡng chương trình dạy SGK mới, nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên …
Tuy nhiên, đội ngũ giáo viên về chất lượng còn nhiều hạn chế và bất cập Trình độ, năng lực chuyên môn không đồng đều, còn nhiều yếu kém, chưa đồng bộ về cơ cấu, chậm đổi mới về phương pháp, tinh thần thái độ, trách nhiệm, tính gương mẫu của một bộ phận giáo viên còn hạn chế ở mặt này, mặt khác Trong đó đội ngũ giáo viên tiểu học không nằm ngoài những nhược điểm trên Trong điều lệ trường tiểu học có ghi rõ “Trường tiểu học là cơ sở giáo dục của bậc tiểu học, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân ”
Để hiểu rõ về người giáo viên tiểu học, chúng ta cần xác định rõ, đúng vị trí, vai trò, nhiệm vụ của họ trong nền giáo dục quốc dân
Trước hết người giáo viên tiểu học là nhân tố quan trọng trong việc xây dựng bậc tiểu học thành bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, tạo điều kiện nâng cao dân trí và trang bị những cơ sở ban đầu hết sức trọng yếu
để phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam trong tương lai
Giáo viên tiểu học là người giữ vai trò chủ yếu trong việc thực hiện và
Trang 7người sâu sát gần gũi nhất với mọi người và là những người thầy đầu tiên đối với mỗi công dân trong tương lai
Học sinh tiểu học tiềm ẩn nhiều khả năng phát triển sáng tạo song do chưa có kinh nghiệm về cuộc sống nên các em tiếp thu không những điều tốt
mà cả điều xấu Giáo viên tiểu học là người có uy tín “Thần tượng" đối với tuổi nhỏ Lời thầy cô là sự thuyết phục, cử chỉ của thầy cô là mẫu mực, cuộc sống và lao động của thầy cô là tấm gương đối với các em Giáo viên tiểu học giữ vai trò quyết định sự phát triển đúng hướng của các em Ấn tượng về các thầy cô giáo tiểu học giữ mãi trong ký ức của người
Phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý mỗi lớp tiểu học chủ yếu có một giáo viên làm chức năng “tổng thể" tương ứng với cả một “ê kíp” giáo viên ở bậc học khác
Vì vậy, điều 15 của Luật Phổ cập giáo dục tiểu học đã quy định “Giáo viên tiểu học là phải được tuyển chọn, đào tạo theo tiêu chuẩn đạo đức tác phong chuyên môn nghiệp vụ do Nhà nước quy định"
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và từ vai trò nhiệm vụ của nhà trường tiểu học cũng như yêu cầu đối với đội ngũ giáo viên tiểu học; xuất phát từ năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên tiểu học của thành phố Hải Phòng nói chung và của quận Ngô Quyền nói riêng Là người làm công tác quản lý bậc học phổ thông, đứng trước thực trạng và yêu cầu đối với
đội ngũ giáo viên tiểu học tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề : “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao năng lực chuyên môn giáo viên tiểu học quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học"
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm quản lý bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên tiểu học quận Ngô Quyền – Thành phố Hải Phòng đáp ứng việc đổi mới chương trình giáo dục Tiểu học
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Trang 8Quá trình bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên Tiểu học Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý và việc quản lý nâng cao năng lực
chuyên môn cho đội ngũ giáo viên tiểu học
4.2 Đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu học quận Ngô Quyền, thành
phố Hải Phòng
4.3 Đề xuất một số biện pháp chủ yếu quản lý nâng cao năng lực chuyên môn
giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Tiểu học quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
5 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số biện pháp quản lý nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên tiểu học quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
6 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng hợp lý, sáng tạo những biện pháp nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên tiểu học thì sẽ góp phần quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục toàn diện học sinh, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng và kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau :
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trang 9Nghiên cứu các nghị quyết, văn bản, tài liệu và các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý đội ngũ, quản lý dạy học, các vấn đề liên quan đến đề tài của các tác giả
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh, công tác quản
lý dạy học của hiệu trưởng các trường tiểu học trong quận Ngô Quyền
- Điều tra : Thông qua hồ sơ, sổ sách, trao đổi, trò chuyện với các nhà quản lý, giáo viên, học sinh, điều tra bằng phiếu tra và phỏng vấn …
7.3 Nhóm phương pháp bổ trợ
- Phương pháp thống kê (Căn cứ số liệu các trường và toàn quận Ngô Quyền)
- Phương pháp so sánh xử lý số liệu, tư liệu thu thập được
- Phương pháp đàm thoại phỏng vấn (lấy ý kiến của giáo viên, học sinh
và các nhà quản lý giáo dục)
- Xin ý kiến chuyên gia
8 Các luận điểm chính của luận văn
- Chất lượng đội ngũ giáo viên là khâu then chốt, quyết định việc thành công của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
- Cấp tiểu học là cấp học đầu tiên của bậc học phổ thông và do đặc thù của cấp học nên đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn một cách toàn diện của người giáo viên nhằm hoàn thành và củng cố nhân cách cho học sinh tiếp thu
từ các trường mầm non
9 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần : Mở đầu; Nội dung; Kết luận
- Phần mở đầu : Một số vấn đề chung của luận văn
- Phần nội dung : Gồm 3 chương :
Chương 1 : Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Trang 10 Chương 2 : Thực trạng về chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học quận Ngô Quyền
Chương 3 : Một số biện pháp quản lý nâng cao năng lực chuyên môn giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học (quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng)
Cuối luận văn là danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục
1.1.1 Quản lý
Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định Sự phân công hợp tác lao động đó nhằm đạt được hiệu quả và năng suất lao động cao hơn, do vậy cần có người đứng đầu, chỉ huy, phối hợp điều hành, kiểm tra, điều chỉnh chính vì vậy người ta quan niệm quản lý là một thuộc tính lịch sử vì nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, thường xuyên biến đổi và là hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm
Ngay từ thời Khổng Tử, ông đã đề cao và xác định rõ vai trò cá nhân của người làm công tác quản lý : Người quản lý mà chính trực thì không cần tốn nhiều công sức mà vẫn khiến người ta làm theo
Có nhiều cách định nghĩa về hoạt động quản lý
Một số nhà nghiên cứu cho rằng:
- Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn tác động tới hoạt động của con người để đạt được các mục tiêu của tổ chức
- Theo Đỗ Hoàng Toàn : "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường." {21}
- Theo Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc : "Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" {16}
- Theo Nguyễn Ngọc Quang "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chunglà khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến." {26}
Trang 12Như vậy, qua các tác giả kể trên có thể xác định khái niệm quản lý theo nghĩa chung nhất :
1.1.1.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường
Quá trình quản lý có thể được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
- Sơ đồ 1.1
1.1.1.2 Dấu hiệu chung của quản lý
Từ khái niệm trên ta thấy quản lý về cơ bản biểu hiện ở 3 dấu hiệu chung sau:
- Dấu hiệu thứ nhất : Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và khách thể quản lý
- Dấu hiệu thứ hai : Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối quan hệ ngược
- Dấu hiệu thứ ba : Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích ứng
Cụ thể : Nếu chủ thể cấp trên ra lệnh điều khiển vô lý thì không phải mọi
Phương pháp quản lý
Công cụ quản lý
Chủ thể
quản lý Chức năng
quản lý
Khách thể quản lý Mục tiêu quản lý trường Môi
Trang 13lý) tìm mọi cách để thích ứng bằng tự biến đổi cơ cấu của mình hoặc tìm cách
để cấp trên thấy sai và sửa sai Hoặc khi đối tượng cấp dưới tăng lên về quy
mô, phức tạp về quan hệ thì không phải chủ thể bó tay, mà họ vẫn có thể quản
lý được bằng việc cải tiến phương pháp quản lý và bộ máy của mình
1.1.1.3 Đặc trưng quản lý
Quản lý về cơ bản có 4 đặc trưng sau đây:
- Đặc trưng thứ nhất: Quản lý là hoạt động có mục đích, có định hướng,
có kế hoạch
- Đặc trưng thứ hai: Quản lý là sự lựa chọn các khả năng tối ưu, vì quản
lý trước khi giải quyết một sự việc nào đó bao giờ cũng dự đoán các khả năng có thể xảy ra, trong những khả năng đó lựa chọn khả năng tối ưu
- Đặc trưng thứ ba: Quản lý sắp xếp và thể hiện hợp lý các tác động đã lựa chọn
- Đặc trưng thứ tư: Quản lý giảm tính bất định, tăng tính tổ chức và hệ thống
Cụ thể, quản lý phải trả lời các câu hỏi :
"Phải đạt được mục tiêu nào đề ra?"; "Phải đạt được mục tiêu đó bằng cách nào?"; "Phải thu hút, lôi kéo thêm ai, bằng cách nào?"; "Phải xây và chống như thế nào?"; "Có những rủi ro nào xảy ra và cách xử lý như thế nào?"
Như vậy, thực chất quản lý là quản lý con người trong một tổ chức, thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của tổ chức
để đạt được mục tiêu đề ra
1.1.1.4 Tính khoa học của quản lý
- Tính khoa học của quản lý trước hết đòi hỏi việc quản lý dựa trên sự hiểu biết sâu sắc quy luật khách quan, nghiên cứu các hình thức biểu hiện cụ thể của các quy luật, chứ không phải chỉ dựa trên những kinh nghiệm cá nhân
và trực giác của người lãnh đạo
Trang 14- Tính khoa học của quản lý đòi hỏi phải nghiên cứu toàn diện, đồng bộ các hoạt động ở cả các mặt kinh tế kỹ thuật và các mặt xã hội, tâm lý của quá trình đó
- Tính khoa học của quản lý còn thể hiện ở việc sử dụng các phương pháp đo lường định lượng, sự đánh giá khách quan, việc mô hình hoá toán học và sự phân tích thống kê các quy trình bị quản lý
1.1.1.5 Chức năng quản lý
Các chức năng quản lý được coi là những hoạt động nghiệp vụ đặc trưng của người quản lý Quản lý có 4 chức năng cơ bản sau :
+ Chức năng kế hoạch hoá
Đây là chức năng hoạch định, chức năng quan trọng nhất của người quản
lý Kế hoạch hoá là xác định rõ mục đích, mục tiêu trong tương lai của tổ chức và những biện pháp, cách thức để đạt mục đích, mục tiêu đó
Kế hoạch được phân loại như sau :
- Kế hoạch chiến lược (giải quyết các mục tiêu chiến lược)
- Kế hoạch chiến thuật (giải quyết các mục tiêu chiến thuật)
- Kế hoạch tác nghiệp (giải quyết các mục tiêu tác nghiệp)
+ Chức năng tổ chức
Chức năng tổ chức tiếp nối chức năng kế hoạch hoá nhằm thực hiện kế hoạch đã đề ra Tổ chức là sự hình thành cấu trúc các quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức
Nếu tổ chức tốt, có hiệu quả thì người quản lý có thể phối hợp, điều hành tốt các nguồn lực tạo ra sự vận hành đồng bộ trong bộ máy của tổ chức, tạo ra sức mạnh hợp đồng để phát triển của tổ chức và đạt được các mục tiêu đề ra Lênin nói: "Tổ chức sẽ nhân sức mạnh lên gấp mười lần"
Nội dung chủ yếu của chức năng tổ chức gồm: Xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định nhiệm vụ quyền hạn của từng thành viên, từng bộ phận của tổ chức,
Trang 15quản lý nhân sự (bao gồm tuyển dụng, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp, phân công nhiệm vụ ) và tổ chức các hoạt động
+ Chức năng điều khiển (chỉ đạo)
Sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu bộ máy tổ chức đã được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng, sắp xếp thì phải có người lãnh đạo (nhà quản lý) dẫn dắt và điều khiển Đó là quá trình tập hợp liên kết các thành viên trong tổ chức và giám sát hoạt động của các thành viên, các bộ phận trong tổ chức; điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh công việc hợp lý, nhịp nhàng, không chồng chéo, xử lý, uốn nắn những hành vi vi phạm, động viên ngưòi lao động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
+ Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá kết quả vận hành của tổ chức Thông qua kiểm tra, người quản lý nắm được những vấn đề còn tồn tại, hạn chế những thiếu xót, khuyết điểm, những trì trệ để có biện pháp điều chỉnh, uốn nắn, khắc phục đồng thời nắm được những ưu điểm
để phát huy động viên, khuyến khích hoàn thiện kế hoạch tổ chức và chỉ đạo Nội dung kiểm tra là kiểm soát tình hình, phát hiện, động viên, phê phán, đánh giá, thu thập thông tin và xử lý thông tin Bốn chức năng của quản lý:
Kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra có mối quan hệ biện chứng với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau, tạo ra một chu trình khép kín trong quản lý
Trong chu trình đó, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò là điều kiện, vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện các chức năng quản lý và ra quyết định
Mối quan hệ này được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 16Theo Nguyễn Ngọc Quang : "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quy trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất" {26}
- Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội." {13}
- Theo Phạm Minh Hạc : "Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo
Kế hoạch
Chỉ đạo
Trang 17dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" {20}
Ngày nay, theo quan điểm : Học thường xuyên, học suốt đời; do đó giáo dục không chỉ giới hạn cho thế hệ trẻ mà giáo dục cho mọi người; cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu : nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Theo UNESCO: "Quản lý giáo dục là cách điều hành hệ thống giáo dục, nhất là cách thức (quy trình, thủ tục, quy định, quy chế và cách thức mà chúng ta áp dụng) quyết định sự vận hành của hệ thống giáo dục và tất cả các cấu phần và hoạt động của hệ thống
để đạt kết quả (đầu ra) có chất lượng cao nhất
1.1.2.2 Đặc điểm quản lý giáo dục
Hệ thống giáo dục là một bộ phận của hệ thống xã hội, do đó quản lý giáo dục chịu sự chi phối của các quy luật xã hội, các tác động của quản lý xã hội được biểu hiện cụ thể ở một số đặc điểm sau
- Đặc điểm 1: Quản lý giáo dục gắn liền với quản lý con người, đặc biệt
là lao động sư phạm của giáo viên
Trang 18Đặc thù lao động của giáo viên mà đối tượng lao động sư phạm là người học với những đặc điểm tâm sinh lý hết sức phức tạp Người học vừa là đối tượng vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục, do đó kết quả hoạt động giáo dục không chỉ phụ thuộc vào bản thân nhà giáo (như năng lực phẩm chất của thầy, thái độ của họ đối với người học) mà còn phụ thuộc vào thái độ của người học Đây chính là điểm khác biệt giữa lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung Mặt khác, phương tiện lao động của giáo viên chủ yếu
là phương tiện tinh thần bằng lời, bằng tấm gương, thái độ, bằng sự cảm hoá Thời gian lao động của người giáo viên cũng rất khác biệt, nó không tách bạch, rạch ròi như thời gian của các lao động khác Vì bất kỳ lúc nào, ngay cả khi nghỉ ngơi, giải trí hay làm việc gia đình người giáo viên có thể vẫn nghĩ
về công việc giáo dục của mình Vì vậy, trong quản lý giáo dục cần tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần cho giáo viên, tạo điều kiện để họ nâng cao năng lực chuyên môn, nâng cao nhận thức tư tưởng để họ toàn tâm toàn ý cống hiến cho sự nghiệp trồng người
- Đặc điểm 2: Sản phẩm của giáo dục có tính đặc thù nên quản lý giáo dục phải chú ý ngăn ngừa dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng như không được phép tạo ra phế phẩm
- Đặc điểm 3: Quản lý giáo dục đòi hỏi cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính linh hoạt, tính phát triển
- Đặc điểm 4: Quản lý giáo dục phải quán triệt quan điểm quần chúng, kết hợp nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài trong đó nhân tố bên trong có tính quyết định Trong quản lý giáo dục cần phải phối hợp chặt chẽ và đồng
bộ các lực lượng trong nhà trường với gia đình và xã hội
1.1.3 Nội dung quản lý giáo dục
Nội dung quản lý giáo dục là quản lý một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, người dạy, người học, cơ sở vật chất thiết bị, môi trường, kết quả giáo dục
Cụ thể là :
Trang 192) Quản lý nội dung giáo dục
3) Quản lý phương pháp giáo dục
4) Quản lý hình thức tổ chức giáo dục
5) Quản lý giáo viên, cán bộ nhân viên
6) Quản lý học sinh
7) Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật
8) Quản lý môi trường giáo dục
9) Quản lý kết quả giáo dục
1.1.4 Quản lý giáo dục là một khoa học và nghệ thuật
Quản lý giáo dục là một khoa học vì quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng đều phải dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của quản
lý bao gồm lý thuyết hệ thống, các tư tưởng, quan điểm, các khái niệm phạm trù, các quy luật về lĩnh vực quản lý giáo dục Nhờ có tri thức khoa học, các nhà quản lý đề ra được những giải pháp (cách giải quyết) có căn cứ, phù hợp quy luật khách quan, định hướng chung cho các hoạt động giáo dục, những vấn đề có tính chiến lược, chiến thuật và tác nghiệp cụ thể
Quản lý giáo dục là một nghệ thuật bởi vì kết quả giáo dục tốt hay chưa tốt, đạt tới mục tiêu nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố là khả năng vận dụng sáng tạo các quy luật, sử dụng các phương pháp thích hợp vào các tình huống thực tiễn của người quản lý, đó là nghệ thuật quản lý Nghệ thuật quản lý đòi hỏi sự khôn khéo, tinh tế và kinh nghiệm, phong cách lãnh đạo thích hợp trong cách "đối nhân xử thế" Nhà quản lý vừa phải biết kết hợp giữa "đức trị" và "pháp trị", vừa đảm bảo tính nguyên tắc với sự mềm dẻo trong phương pháp biết kết hợp giữa uy quyền với sự bao dung, biết động viên những người dưới quyền thực hiện các mục tiêu đề ra một cách tự nguyện
1.1.5 Chất lượng và quản lý chất lượng
1.1.5.1 Chất lượng
Trang 20Vấn đề chất lượng trong thời đại hiện nay là mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ Nâng cao chất lượng luôn luôn là mối quan tâm có tính chất sống còn của các doanh nghiệp Chất lượng có tầm quan trọng như vậy, nhưng mỗi người hiểu về chất lượng theo một quan niệm riêng của mình
Theo quan niệm của IBM : "Chất lượng bằng chính sự hài lòng của khách hàng"
Theo Sallis chất lượng được hiểu theo nghĩa tuyệt đối và tương đối Chất lượng được hiểu theo nghĩa tuyệt đối là : Chất lượng cao hay cao nhất nói về những thứ tuyệt hảo, hoàn mỹ Theo nghĩa này thì chất lượng là một cái gì đó hoàn hảo, tuyệt mỹ, có chuẩn mực rất cao không thể vượt qua được Như vậy, chất lượng hiểu theo nghĩa tuyệt đối không có tính thực tiễn, bởi đại bộ phận dân chúng chỉ có thể ngưỡng mộ những sản phẩm có chất lượng mà chỉ rất ít người trong số họ may ra mới có đủ điều kiện để sở hữu chúng {24}
Chất lượng hiểu theo nghĩa tương đối thì không xem chất lượng là thuộc tính của đồ vật hay dịch vụ mà là cái người ta gắn cho nó Sản phẩm hay dịch
vụ được coi là có chất lượng khi chúng đạt được những chuẩn mực nhất định được quy định trước Chất lượng không được coi là cái đích mà nó được coi
là phương tiện, theo đó sản phẩm hay dịch vụ được đánh giá Chính vì vậy, theo Guaspari thì: "Khách hàng quan tâm đến câu trả lời cho câu hỏi: Sản phẩm được sản xuất ra có đúng như tôi yêu cầu hay không ? Nếu câu trả lời là
có thì sản phẩm được sản xuất ra có chất lượng, nếu câu trả lời đó là không, thì sản phẩm làm ra không có chất lượng" {24}
Theo Phan Văn Kha (Viện nghiên cứu phát triển giáo dục) : Chất lượng theo quan điểm tuyệt đối là sự xuất chúng, tuyệt hảo hay xuất sắc là bản chất của đồ vật: Đặc tính, hình thức, các thông số kỹ thuật của bản thân đồ vật đó Chất lượng theo quan điểm tuyệt đối không thể hiện đầy đủ ý nghĩa cũng như mức độ khác nhau của chất lượng, tuy nhiên đó cũng là đích để chúng ta hướng tơí Chất lượng theo quan điểm tương đối trong quản lý chất lượng tổng thể: Chất lượng chưa phải là hết, chưa phải là cuối cùng, có hai đặc tính:
Trang 21Từ các quan niệm về chất lượng nêu trên các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn, chúng ta có căn cứ để quan niệm rằng : Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ là sản phẩm hay dịch vụ đó đáp ứng được những chuẩn mực phù hợp hoặc vượt yêu cầu của khách hàng tại một thơì điểm nhất định
1.1.5.2 Chất lượng giáo dục
Nói về chất lượng giáo dục, có một số quan điểm cho rằng: Dựa trên chất lượng giảng dạy để đánh giá chất lượng của nhà trường Thực tế kết quả giáo dục - đào tạo không chỉ phụ thuộc vào việc giảng dạy mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự học tập tích cực của học sinh và các yếu tố khác
Theo Astin (theo lý thuyết gia tăng giá trị) cho rằng: Chất lượng giáo dục cao của các nhà trường là làm sao làm tăng sự khác biệt của kiến thức, kỹ năng và thái độ từ khi nhập trường đến khi ra trường
Tóm lại: Qua các quan niệm nêu trên có thể hiểu chất lượng theo nghĩa sau đây:
Chất lượng giáo dục của các nhà trường là trên cơ sở đưa ra các chuẩn mực, sản phẩm đào tạo, để đo, đếm, xác định chất lượng mà các trường làm tăng được sự khác biệt của kiến thức; kỹ năng và thái độ của học sinh từ khi nhập trường đến khi ra trường
1.1.5.3 Quản lý chất lượng
Theo Phan Văn Kha : Quản lý chất lượng là quá trình thiết kế các tiêu chuẩn và duy trì cơ chế đảm bảo chất lượng để sản phẩm hay dịch vụ được các tiêu chuẩn xác định Quản lý chất lượng được thực hiện và phát triển qua các giai đoạn: kiểm định chất lượng, đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng tổng thể {3}
Theo Phạm Thành Nghị : Quản lý chất lượng tập trung tăng cường khả năng của toàn bộ hệ thống nhằm nâng cao chất lượng một cách thường xuyên trên cơ sở xây dựng nền văn hoá chất lượng cao, sự hợp tác của các thành viên, cam kết của lãnh đạo Do vậy những nguyên tắc chính của quản lý bao gồm : tập trung vào khách hàng, sự cam kết của lãnh đạo và sự tham gia của
Trang 22các thành viên, cải thiện chất lượng một cách thường xuyên, xây dựng nền văn hoá chất lượng cao và tư duy hệ thống {24}
1.1.5.4 Quan niệm về chất lượng dạy học
Chất lượng giáo dục là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các trường học,
có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng, về đánh giá chất lượng của một trường học
Quan điểm đánh giá bằng chất lượng "đầu vào" cho rằng chất lượng của một trường phụ thuộc chất lượng hay số lượng của đầu vào (học sinh) Quan điểm này bỏ qua vai trò của quá trình đào tạo
Quan điểm: Chất lượng được đánh giá bằng "đầu ra" cho rằng "đầu ra" (sản phẩm của nhà trường) quan trọng hơn "đầu vào" Với quan điểm này rất khó đánh giá "đầu ra" của trường vì mỗi trường có những điều kiện khác nhau khó xây dựng những tiêu chí đánh giá chung cho "đầu ra" của sản phẩm Đây cũng là hạn chế của quan điểm: Chất lượng được đánh giá bằng sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của học sinh Bởi vì khó có một thước
đo chuẩn để đánh giá (so sánh) chất lượng "đầu vào" và "đầu ra"
Chất lượng giáo dục - đào tạo là sự thoả mãn tối đa các mục tiêu đã đặt
ra với sản phẩm của giáo dục - đào tạo, là sự hoàn thiện trình độ, kiến thức,
kỹ năng, thái độ theo mức độ xác định và khả năng đáp ứng được nhu cầu xã hội hoá cá nhân, đồng thời thoả mãn yêu cầu đa dạng của kinh tế xã hội luôn phát triển Như vậy, chất lượng giáo dục luôn gắn với hiệu quả trong và ngoài của sản phẩm giáo dục và đào tạo, chất lượng càng cao nghĩa là gia tăng về hiệu quả Chất lượng giáo dục có đặc trưng riêng cho từng đối tượng, quốc gia, địa phương, cộng đồng, nhà trường tuỳ theo đối tượng mà cách nhìn chất lượng và hiệu quả khác nhau
Chất lượng giáo dục là một tiêu thức phản ánh các mức độ của kết quả hoạt động giáo dục có tính liên tục từ lúc khởi đầu quá trình giáo dục đến khi kết thúc quá trình đó
Trang 23Với đặc trưng riêng của mình, sản phẩm của quá trình dạy học là con người - thứ sản phẩm không được phép phế phẩm Giáo dục là một ngành đòi hỏi chất lượng cao nhất cả phía người giáo dục và phía người được giáo dục Chất lượng giáo dục là chất lượng của việc dạy học, sự phát huy tối đa năng lực của thầy giáo và năng lực của học sinh để sau khi kết thúc quá trình giáo dục thu được sản phẩm là những học sinh có đủ phẩm chất năng lực đáp ứng được yêu cầu của xã hội, của thực tế cuộc sống Chất lượng giáo dục được tiến hành bằng nhiều hình thức, nhưng hình thức cơ bản nhất là hình thức dạy học
1.2 Những vấn đề đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay
1.2.1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã đánh dấu một
bước ngoặt trọng đại, đưa cách mạng nước ta sang một thời kỳ mới Nghị quyết Đại hội nêu rõ: "Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố
cơ bản của sự việc phát triển nhanh chóng và bền vững" Đồng thời cũng nhấn mạnh "Cùng với khoa học và công nghệ giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" Báo cáo chính trị của BCHTW khoá VIII tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: "Xác định rõ hơn mục tiêu, thiết kế nội dung, chương trình đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, lựa chọn những nội dung có tính cơ bản hiện đại, tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức
và nhân văn, lịch sử dân tộc và bản sắc văn hoá dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại hoá vào quá trình đào tạo, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp"
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: "Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá" "Con đường công nghiệp
Trang 24hoá, hiện đại hoá cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt "
Để đạt được mục tiêu trên, giáo dục và khoa học công nghệ có vai trò quyết định, nhu cầu phát triển giáo dục là bức thiết
1.2.2 Trong Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ IV khoá X ngày 02 tháng 12 năm 1998 đã xác định: "Mục tiêu giáo dục là đào
tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ và thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc." {5} (Tr.8)
1.2.3 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 đã nêu rõ: Để đáp
ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản và toàn diện về giáo dục Vì vậy chiến lược phát triển giáo dục
b) Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
c) Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp học và trình độ đào tạo, phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy
- học, đổi mới quản lý giáo dục - đào tạo và phát huy nội lực phát triển giáo
Trang 25Trong "Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010" cũng chỉ rõ mục tiêu phát triển các cấp bậc học Cụ thể đối với giáo dục phổ thông: "Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ Cung cấp học vấn phổ thông cơ bản,
hệ thống và có tính hướng nghiệp, tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo, lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dung kiến thức vào cuộc sống
Tiểu học : Phát triển những đặc tính tự nhiên của trẻ em, hình thành ở học sinh lòng ham hiểu biết, và những đặc tính, những kỹ năng cơ bản đầu tiên để tạo hứng thú học tập và học tập tốt Củng cố và nâng cao thành quả phổ cập giáo dục tiểu học Tăng tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường từ 95 % năm 2000 đến 97% năm 2005 và 99% năm 2010 {6} (Tr.24)
Để đạt được mục tiêu phát triển giáo dục, chiến lược phát triển giáo dục
2001 - 2010 cũng đã nêu rõ :
Cần tập trung 7 nhóm giải pháp lớn
1) Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục
2) Phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáo dục
3) Đổi mới quản lý giáo dục
4) Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển mạng lưới trường lớp và các cơ sở giáo dục
5) Tăng cường nguồn tài chính và cơ sở vật chất cho giáo dục
6) Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục
7) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục Trong đó đổi mới chương trình giáo dục phát triển đội ngũ nhà giáo là giải pháp trọng tâm; Đổi mới quản lý giáo dục là khâu đột phá {6} (Tr.27)
Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã xác định cụ thể : "Nhiệm vụ và mục tiêu của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và
Trang 26bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá dân tộc có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc Việt Nam, có ý chí cộng đồng và phát huy tính tích cực cá nhân, làm chủ tri thức công nghệ và khoa học hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật; có sức khoẻ là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên" như lời dặn của Bác Hồ” {7}(Tr.28, 29)
Như vậy, các nghị quyết và các định hướng lớn của Đảng, Nhà nước và Quốc hội đều đã khẳng định : Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu và là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo phải thực hiện được mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ trở thành con người toàn diện
có đủ những phẩm chất về đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ đáp ứng được những đòi hỏi lớn lao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Muốn thực hiện những mục tiêu trên, giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay phải thực hiện mạnh mẽ hơn nữa việc cải tiến chất lượng dạy và học, khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong ngành giáo dục để hoàn thành tốt việc đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực con người cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục tiểu học
1.3.1 Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1.1 Vị trí của trường tiểu học
Vị trí của trường tiểu học được xác định trong Điều 2 của Điều lệ trường tiểu học "Trường tiểu học là cơ sở giáo dục của bậc tiểu học, bậc học là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Trường tiểu học có tư cách pháp nhân
và con dấu riêng." {8}(Tr.9)
Điều 22 của luật giáo dục ghi rõ "Giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 10 tuổi; được thực hiện trong năm học, từ lớp 1 đến lớp 5 Tuổi của học sinh vào lớp 1 là 6 tuổi" {5}(Tr.28)
Trang 27Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên của một hệ thống giáo dục phổ thông của mỗi quốc gia Là bậc học giành cho 100% trẻ em có độ tuổi từ 6 đến 11,
12 tuổi (một bộ phận nhỏ có thể đến 14 tuổi) cũng có nghĩa bậc tiểu học là bậc học của 100% dân cư và từ thế hệ trẻ em ngày nay thì toàn dân đều qua ghế nhà trường tiểu học
Bậc tiểu học có bản sắc riêng và tính độc lập tương đối, có tính sư phạm đặc thù và không phụ thuộc nghiêm ngặt vào sự giáo dục trước đó và các bậc học tiếp sau đó Bậc tiểu học tạo ra những cơ sở ban đầu của nhân cách Đặc điểm này đòi hỏi sự chuẩn xác với tính khoa học cao, tính nhân văn của một nền giáo dục nhà trường, ở mỗi giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục
Bậc tiểu học có vị trí hết sức quan trọng trong giáo dục cũng như đời sống xã hội đòi hỏi các nhà quản lý phải quan tâm và có chính sách ưu tiên,
ưu đãi đối với bậc tiểu học Với tư cách là bậc học đặt nền tảng cho hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học có vững chắc thì mới đảm bảo được nhiệm vụ xây dựng toàn bộ nền móng không chỉ cho giáo dục phổ thông mà còn cho cả sự hình thành và phát triển nhân cách con người
1.3.1.2 Mục tiêu và nội dung của giáo dục tiểu học
Mục tiêu giáo dục tiểu học bao gồm những phẩm chất và năng lực chủ yếu cần hình thành cho học sinh tiểu học để góp phần vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập khu vực và quốc tế
Mục tiêu của giáo dục tiểu học theo điều 23 của luật giáo dục : "Nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học THCS "
Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục tiểu học cần đạt được một số mục tiêu cụ thể : Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở bậc học
Với mục tiêu trên nội dung giáo dục tiểu học "Phải đảm bảo cho học sinh
có những hiểu biết đơn giản cần thiết về tự nhiên xã hội và con người, có kỹ
Trang 28năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và tính toán, có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh ; có hiểu biết ban đầu về hát múa, âm nhạc, mỹ thuật" {5} (Tr.17)
Từ cơ sở lý luận về mục tiêu và nội dung giáo dục tiểu học, chúng ta có thể sơ đồ hoá quan hệ của mục tiêu giáo dục tiểu học như sơ đồ 3
Trang 29Sơ đồ 3
1.3.2 Bản chất của quá trình dạy học tiểu học
"Quá trình dạy học là sự thống nhất giữa dạy và học Nó được thực hiện trong và bằng sự tương tác có tính chất cộng đồng và hợp tác (cộng tác) giữa dạy và học tuân theo một logic khách quan của nội dung dạy học."{26} (Tr.23)
Bản chất của quá trình dạy học là : Quá trình tự phát hiện, (tự khám phá)
tự lĩnh hội của học sinh dưới sự chỉ đạo tổ chức, hướng dẫn của thầy Dạy học thực chất là quá trình điều khiển và tự điều khiển, là quá trình nhận thức của học sinh
Quá trình dạy học là quá trình nhận thức của cá nhân - chủ thể người học
- được tổ chức một cách riêng biệt, dưới sự chỉ đạo của giáo viên nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học cụ thể
Quá trình dạy học bao gồm 2 hoạt động: Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này luôn gắn bó hữu cơ, mật thiết với nhau, tồn tại cho nhau, vì nhau
Mục tiêu giáo dục tiểu học
giáo dục tiểu học
Nội dung của các mặt giáo dục
Kiến thức Kỹ năng Thái độ
Trang 30Quá trình nhận thức của học sinh cũng như quá trình nhận thức nói chung của con người là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người Lênin đã khẳng định "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,
từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan."
Quá trình nhận thức của học sinh được diễn ra theo con đường từ cụ thể đến trừu tượng, từ đơn nhất đến khái quát và con đường từ trừu tượng đến cụ thể, từ khái quát đến đơn nhất Vì vậy, trong quá trình dạy học người thầy giáo phải tận dụng cả hai con đường này một cách hợp lý nhất, nhằm giúp cho học sinh thu được kết quả tối ưu Quá trình nhận thức của học sinh là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào các em Điều đó cũng có nghĩa học sinh có khả năng phản ánh đúng bản chất sự vật, hiện tượng cũng như các quy luật khách quan Mỗi học sinh có phương pháp nhận thức của riêng mình Dưới sự tổ chức điều khiển của từng thầy cô giáo với năng lực của bản thân học sinh cụ thể có khả năng nhận thức đúng đắn thế giới khách quan
Quá trình nhận thức của học sinh còn thể hiện sự độc đáo ở tính giáo dục của nó nghĩa là: Thông qua sự việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ của học sinh dần dần xây dựng được từ thế giới quan khoa học và bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức của con người mới Đây là sự phù hợp và sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học
Quá trình dạy học là quá trình giáo dục thực hiện các nhiệm vụ trí dục, nhiệm vụ giáo dục, nhiệm vụ phát triển Quá trình dạy học như là một hệ thống phát triển biện chứng Nó có những quy luật, phản ánh những mối liên
hệ tất yếu, chủ yếu và bền vững vốn có của nó như các quy luật về tính quy định xã hội đối với quá trình dạy học Quy luật thống nhất biện chứng giữa nội dung và phương pháp, phương tiện dạy học, quy luật thống nhất biện chứng giữa việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kiểm tra điều chỉnh các hoạt động dạy và học Quá trình này thể hiện đặc trưng nổi bật là hoạt động của thầy và hoạt động của trò
Sự tác động qua lại giữa dạy và học được tập trung trong việc tổ chức
Trang 31cầu: Nhận thức rõ mục đích điều khiển, tổ chức tốt mối quan hệ thuận - nghịch, chọn lựa những phương pháp dạy học thích hợp trên cơ sở của những thông tin thu được
Sơ đồ 4 Sơ đồ bản chất của quá trình dạy và học
1.3.3 Hoạt động dạy - học ở trường tiểu học
1.3.3.1 Hoạt động học và đặc điểm của nó
Hoạt động học tập của con người xuất hiện từ lúc sơ sinh, từ học nhìn, học nghe, đến học ăn, học nói, học chữ, học nghề Trước khi đến trường, ở lứa tuổi mẫu giáo trẻ đã học, các em học qua hoạt động vui chơi và qua các loại hình hoạt động khác
Việc học của trẻ lúc này diễn ra tự phát thông qua việc truyền thụ kinh nghiệm theo lối "bắt chước", "truyền khẩu" Trẻ em cũng có thể học tập ở các lớp mẫu giáo qua các tiết học do cô giáo tổ chức Nhưng đó cũng chỉ là hình thức vui chơi chứ chưa phải là hoạt động chuyên biệt
Hoạt động học đúng với nghĩa tâm lý giáo dục học chỉ nảy sinh và được hình thành từ lúc 6 tuổi Hoạt động này tạo ra sự biến đổi ngay chính trong bản thân học sinh
Khái niệm khoa học (Bài giảng)
Môi trường kinh tế -
Trang 32Trẻ em lớn lên về cơ thể và có sức khoẻ nhờ nuôi dưỡng, nhờ ăn uống Trí tuệ của trẻ phát triển, tâm hồn các em phong phú, năng lực tình cảm của các em hình thành và phát triển nhờ hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học, hoạt động này
có một số đặc điểm như sau :
- Đó là hoạt động có đối tượng, có phương pháp và được tổ chức chuyên biệt
- Hoạt động tạo ra sự phát triển tâm lý của trẻ em đó là sự phát triển các quá trình tâm lý, hình thành các thuộc tính tâm lý và nhân cách học sinh Đáng lưu ý ở bậc học này là sự phát triển trí tuệ của các em
- Hoạt động học được hình thành ở học sinh bằng những phương pháp nhà trường do người có tay nghề (giáo viên) tổ chức chỉ đạo
- Hoạt động học là hoạt động có đối tượng chuyên biệt, đối tượng này được cụ thể hoá ở nội dung học tập của học sinh Nội dung đó chính là hệ thống khái niệm khoa học, hệ thông trí thức khoa học Nội dung này được nhà trường đưa đến cho học sinh trên cơ sở của logic khoa học xác định với những nguyên tắc của nhà trường nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Học sinh lĩnh hội các nội dung trên bằng hoạt động học với các thành tố như: Nhu cầu (động cơ) học, nhiệm vụ học và các hành động khác
Động cơ học tập của học sinh là cái mà vì nó trẻ học, là cái thôi thúc trẻ học tập
Động cơ tạo nên động lực học, một thành tố quan trọng trong các cấu trúc hoạt động của học sinh
Nhiệm vụ học tập là hình thức cụ thể hoá nội dung học thành mục đích
và phương tiện đạt mục đích đó trong hoạt động của học sinh từng lớp, từng
độ tuổi
Học sinh dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viêntiến hành hoạt động học để tự tạo cho mình sản phẩm học tập Mỗi nhiệm vụ học tập tạo ra ở học
Trang 33sinh năng lực mới; cái mới trong tâm lý chứ không đơn thuần là tích lũy thêm, không phải gộp thêm vào vốn kinh nghiệm đã có
Học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập bằng hành động như: Hành động phân tích, hành động mô hình hoá, hành động cụ thể hoá, hành động kiểm tra
và đánh giá
Dạy học sinh chính là làm cho các em hiểu nhiệm vụ học tập và biết dùng các hành động học để giải quyết nhiệm vụ đó Giáo viên luôn luôn thấu suốt quy luật của nhận thức trong quá trình dạy học
Phương pháp dạy học tốt là muốn dạy cho học sinh điều gì thì thì thầy giáo tổ chức cho các em tự hoạt động để phát hiện ra cái đó, phát hiện ra logic chứa đựng trong nó (cái cần lĩnh hội) nghĩa là học sinh tự làm ra sản phẩm học tập của mình
1.3.3.2 Hoạt động dạy của giáo viên
Hoạt động dạy của giáo viên tiểu học là loại hình hoạt động chuyên biệt,
là một nghề không giống với các nghề trong xã hội Đó là hoạt động tổ chức quá trình phát triển của trẻ em
Giáo viên tiểu học là ông thầy tổng thể, người đại diện của nền văn minh nhà trường tiểu học, tổ chức quá trình phát triên của trẻ em cụ thể là tổ chức cho các em hoạt động, đó là lĩnh hội cái cần học và lĩnh hội cái học
Hoạt động dạy của giáo viên tiểu học là hoạt động được định hướng và thực hiện theo một kế hoạch khoa học phù hợp đặc điểm tâm sinh lý tiểu học nhằm tổ chức hoạt động học tập của học sinh có hiệu quả
Hoạt động học tập của học sinh là hoạt động lĩnh hội tri thức, kỹ năng và các giá trị, các chuẩn mực nhằm tạo ra sự biến đổi, sự phát triển của chính người học Do vậy mà hoạt động dạy của giáo viên có đặc điểm là: có đối tượng hoạt động nằm ở học sinh; là hoạt động lĩnh hội và hành động ứng xử của học sinh
Hoạt động dạy của giáo viên tiểu học là công việc đặc trưng của nghề dạy học, một nghề chuyên biệt mà chỉ có người được đào tạo ở trường sư phạm mới có thể hành nghề theo đúng nghĩa của nó
Trang 34Trình độ chuyên môn nghiệp vụ và "tay nghề" của giáo viên tiểu học được đánh giá qua một số yếu tố cơ bản như sau
+ Phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị
Người giáo viên tiểu học phải là người có lòng yêu nước; yêu CNXH; là một công dân tốt là giáo viên có phẩm chất đạo đức mà nghề dạy học đòi hỏi đối với bậc học, luôn phấn đấu nâng cao trình độ kiến thức, năng lực nghề nghiệp
+ Người giáo viên tiểu học phải là người có kiến thức hiểu biết toàn diện Giáo viên tiểu học phải dạy nhiều môn như: Toán, tiếng Việt, Tự nhiên
và Xã hội Vì vậy, giáo viên tiểu học phải am hiểu về tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học, các kiến thức khoa học ở nhiều lĩnh vực chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội thuộc phạm vi trong nước và thế giới
+ Người giáo viên tiểu học phải có kỹ năng sư phạm Kỹ năng sư phạm
là một đòi hỏi cao đối với giáo viên tiểu học Giáo viên tiểu học đòi hỏi có rất nhiều kỹ năng cơ bản như: kỹ năng lập kế hoạch dạy học, kỹ năng dạy học, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lập hồ sơ giáo dục giảng dạy
1.3.3.3 Mối quan hệ giữa dạy và học trong quá trình dạy học ở bậc tiểu học
Hoạt động dạy và học là hoạt động chủ đạo quyết định sự tồn tại của nhà trường Hoạt động dạy và học trong một nhà trường luôn tồn tại bên nhau một cách biện chứng
Hoạt động dạy và học là sự thống nhất của sự truyền thụ kiến thức của thầy và sự tiếp nhận, vận dụng những kiến thức đó cuả học sinh Kết quả học tập của học sinh là kết quả của cả hai hoạt động dạy và học Nếu kết quả này thấp thì không có nghĩa là năng lực của học sinh yếu kém mà người thầy cũng phải chia sẻ trách nhiệm Ngược lại, nếu kết quả học tập của học sinh tốt không chỉ là việc thầy dạy tốt mà còn là sự nỗ lực cố gắng của học sinh
Dạy học là quá trình tương tác giữa thầy và trò Dưới sự điều khiển tích cực của người thầy giáo, học sinh phải chủ động chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện
kỹ năng, hình thành thái độ
Trang 35Quá trình vận động tích cực, sáng tạo của thầy và trò làm phát triển hoàn thiện phẩm chất, năng lực không chỉ của học sinh mà của cả thầy và trò Qua
đó, không những trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm và trình độ hoạt động xã hội của thầy được nâng cao mà kỹ thuật giao tiếp sư phạm của thầy cũng không ngừng được hoàn thiện, do đó hoạt động dạy ngày càng đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy học
Quá trình công tác hiệp đồng các hoạt động của thầy giáo và học sinh càng nhịp nhàng phù hợp càng làm tăng kết quả của hệ thống dạy học và càng làm trưởng thành nhanh chóng mỗi cá nhân trong quá trình ấy
Học sinh tới trường có nhu cầu thoả mãn những hiểu biết về thế giới tự nhiên, xã hội Thầy giáo là người giúp các em thỏa mãn các yêu cầu của cá nhân và yêu cầu của nhà trường Thầy giáo không chỉ mở ra trước mắt các em những chân trời mới mà còn là người tổ chức, chỉ đạo, đồng hành với các em trên con đường tìm ra chân lý, cái đích đã định trước trong chương trình học
và mục tiêu của nhà trường
Thầy dạy không ngừng phải học, thầy điều khiển học sinh, học sinh lĩnh hội và tự điều khiển
Các quá trình dạy học, điều khiển, tự điều khiển trong hoạt động của cả
hệ thống có sự chuyển hoá cho nhau từ chủ thể hành động này sang chủ thể hành động khác, thể hiện sự thống nhất biện chứng trong quá trình dạy học
1.3.4 Vai trò của đội ngũ giáo viên Tiểu học trong nền giáo dục
1.3.4.1 Đội ngũ giáo viên tiểu học
- Đội ngũ là một tập hợp người được tổ chức thành một lực lượng để thực hiên một hay nhiều chức năng, nhiệm vụ có thể cùng một nghề nghiệp hoặc không cùng một nghề nghiệp nhưng cùng một mục đích nhất định {9}
- Đội ngũ giáo viên "Là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ cho giáo dục" {18}
Từ đó, ta có thể coi đội ngũ giáo viên tiểu học là những "chuyên gia" trong lĩnh vực giáo dục, ở bậc tiểu học họ nắm vững tri thức, hiểu biết dạy
Trang 36học và giáo dục ở bậc học này và có khả năng cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ cho giáo dục tiểu học
1.3.4.2 Vai trò của đội ngũ giáo viên tiểu học
- Trước hết, đội ngũ các thầy cô giáo trường tiểu học của chúng ta đảm đương nhiệm vụ "phải xây dựng toàn bộ nền móng cho hệ thống giáo dục phổ thông để đặt cơ sở vững chãi cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa" Các thầy cô giáo tiểu học không chỉ chịu trách nhiệm trực tiếp đặt nền móng cho giáo dục phổ thông mà còn đặt nền móng cho toàn bộ
sự hình thành nhân cách con người Đó là vai trò của những người mở đầu, đi trước, vai trò đặt những viên gạch đầu tiên trong việc xây dựng nên những kỳ tích của nền giáo dục nước nhà
- Tiểu học là bậc học phổ cập và phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học của chúng ta cần phải làm nhiều nhiệm vụ một lúc Đó là dạy người, dạy chữ, dạy phương pháp tư duy Điều đó có nghĩa là các thầy cô giáo tiểu học phải giáo dục giảng dạy sao cho học sinh ngay từ những năm đầu tiên đến trường phổ thông và đến khi học hết bậc học phải đạt được những yêu cầu tối thiểu nhưng cũng phải hướng dẫn tổ chức để tạo điều kiện cho trẻ em phát triển, có khả năng học tập suốt đời để trở thành những con người có trí tuệ, phát triển ý trí cao và tình cảm tốt đẹp
- Sự mẫu mực toàn diện của các thầy cô giáo tiểu học vô cùng quan trọng, tạo ra những đường nét sâu đậm trong việc hình thành nhân cách của học sinh sau này Phương pháp giảng dạy mới sẽ tạo ra phương pháp tư duy mới, bền vững trong học sinh tiểu học và tạo đà cho sự phát triển tư duy toàn diện ở những bậc học tiếp theo
1.3.4.3 Những phẩm chất và năng lực cần thiết của giáo viên tiểu học
Người thầy giáo giữ một vai trò quyết định đối với quá trình dạy học, một lực lương có "chức năng đặc biệt", chi phối và định hướng cho nguồn nhân lực tương lai của một đất nước Giáo viên thông qua các hoạt động giảng dạy và giáo dục góp phần cung cấp những kiến thức cơ bản cần thiết
Trang 37báo cáo của Bộ Chính trị tại hội nghị lần VI Ban chấp hành TW khoá IX đã nêu chủ trương: "Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý đủ sức
đủ tài cùng với đội ngũ nhà giáo và toàn xã hội chấn hưng nền giáo dục nước nhà" và "Chú trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, lối sống của nhà giáo" Nói cách khác, những yêu cầu về phẩm chất đạo đức của nhà giáo (trong
đó có giáo viên tiểu học) là gì? Đảng, Nhà nước, ngành Giáo dục - Đào tạo và nhân dân mong đợi ở nhà giáo nói chung và người giáo viên tiểu học nói riêng những kiến thức và kỹ năng sư phạm thế nào trong điều kiện của một dân tộc đã và đang tiến vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá? Những yêu cầu đó hiện nay đã và đang thể chế hoá thành chuẩn giáo viên tiểu học của giai đoạn mới mang tính khách quan khoa học phù hợp với thực tiễn Đây cũng là việc quan trọng phù hợp với chủ trương chuẩn hoá, hiện đại hoá nền giáo dục của Đại hội Đảng lần thứ IX
Dự án phát triển giáo viên tiểu học đã nêu các yêu cầu cơ bản của chuẩn giáo viên tiểu học ở 3 lĩnh vực và các mức độ của từng lĩnh vực:
Lĩnh vực 1: Phẩm chất đạo đức và tư tương chính trị
1) Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; chấp hành luật pháp nhà nước, quy định của ngành; thực hiện chức năng nhiệm vụ của người giáo viên tiểu học
2) Yêu nghề, yêu thương, tôn trọng và đối xử công bằng với học sinh 3) Có tinh thần trách nhiệm; có đạo đức, lối sống lành mạnh, có tinh thần hợp tác
4) Có tinh thần phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Lĩnh vực 2: Kiến thức
1) Có kiến thức khoa học cơ bản liên quan đến các môn học trong chương trình tiểu học
2) Có kiến thức về nghiệp vụ sư phạm Tiểu học
3) Có hiểu biết về những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với kinh tế, văn hoá, xã hội
Trang 384) Có kiến thức phổ thông về quản lý hành chính nhà nước, về môi trường dân số, an ninh quốc phòng, an toàn giao thông, quyền trẻ em,
y tế học đường
5) Có hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương nơi trường đóng
Lĩnh vực 3: Kỹ năng sư phạm (kỹ năng giáo dục, dạy học, tổ chức)
1) Biết lập kế hoạch bài học
2) Biết tổ chức giờ học, đảm bảo thực hiện các mục tiêu của bài học 3) Biết làm công tác chủ nhiệm lớp, biết tổ chức các hoạt động giáo dục, sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động của Đội thiếu niên và Sao nhi đồng
4) Biết giao tiếp ứng xử với học sinh, phụ huynh học sinh, đồng nghiệp
và cộng đồng
5) Biết lập hồ sơ, lưu trữ hồ sơ và sử dụng hồ sơ vào việc giảng dạy và giáo dục học sinh
Trang 39CÁC MỨC ĐỘ CHUẨN GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
(bảng ngang)
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ NÂNG CAO
NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng
2.1.1 Những khái quát về địa lí dân số
Tổng diện tích tự nhiên 1.507,66 km2, Hải Phòng là một thành phố lớn của Việt Nam, có cảng biển lớn nhất miền Bắc Việt Nam, ba phía tiếp giáp với ba tỉnh: phía bắc và đông bắc giáp với Quảng Ninh; phía tây bắc giáp với Hải Dương; phía tây nam giáp với Thái Bình Phía đông thành phố với 125
km bờ biển chạy dài theo hướng đông bắc - tây nam
Hải Phòng là một đầu mối giao thông quan trọng; là trung tâm giao thông vận tải của các tỉnh thành phố phía Bắc Cảng Hải Phòng là một trung tâm lớn của giao thông vận tải, hàng hóa trong nước cũng như khu vực Đông Nam Á và quốc tế
Hải Phòng là thành phố có nhiều tiềm năng kinh tế lớn :
- Đó là nghề nuôi trồng đánh bắt thủy sản, hải sản đã có từ lâu đời
- Là một thành phố lớn song Hải Phòng có cả rừng núi, tập trung chủ yếu
ở vùng đảo Cát Bà với diện tích được quy hoạch là 15.200 ha, bán đảo, đồi núi - Đồ Sơn vươn ra biển với chiều dài là 5 km Cát Bà (huyện Cát Hải), Đồ Sơn, núi Voi (huyện An Lão), Tràng Kênh (huyện Thủy Nguyên) là những địa danh du lịch nổi tiếng của thành phố Hải Phòng là một địa phương có nhiều điều kiện phát triển ngành công nghiệp du lịch dịch vụ
Là thành phố công nghiệp, có diện tích đất nông nghiệp không nhiều, nhưng Hải Phòng có tiềm năng phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Dọc theo 125 km bờ biển, Hải Phòng có 5 cửa sông lớn: Cửa Nam Triệu, Cửa Cấm, Cửa Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình