ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC KIỀU THANH UY PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ HÀ NỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ TRƯỜNG TRONG BỐI CẢNH MỚI LUẬN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
KIỀU THANH UY
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ HÀ NỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ TRƯỜNG TRONG BỐI CẢNH MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Bạch Mai
Hà Nội – 2012
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
GD & ĐT Giáo dục và đào tạo
KH & CN Khoa học và công nghệ
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC
1 Lý do nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận văn 7
1.2.1 Quản lý, quản lý nhà trường, quản lý nguồn nhân lực 7
1.2.2 Giảng viên, phát triển đội ngũ giảng viên 8
1.2.3 Phát triển đội ngũ giảng viên 10
1.2.4 Mục đích của việc phát triển đội ngũ giảng viên 11
1.2.5 Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên thông qua hình thức đào tạo – bồi dưỡng 12
1.2.6 Ý nghĩa của công tác ĐT – BD phát triển đội ngũ giảng viên 13
1.2.7 Bối cảnh phát triển mới của nhà trường từ nay đến năm 2015 14
1.2.8 Đội ngũ giảng viên trưởng Cao đẳng Công nghệ Hà Nội trong bối cảnh mới 16
Tiểu kết chương 1 18
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ HÀ NỘI 19
2.1 Khái quát tiến trình phát triển trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội 19
2.1.1 Quá trình xây dựng và phát triển nhà trường 19
2.1.2 Tổ chức quản lý đào tạo 20
2.1.3 Cơ sở vật chất hiện có của nhà trường 21
Trang 42.2 Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của trường 22
2.3 Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ giảng viên của nhà trường 23
2.3.1 Tình hình đội ngũ giảng viên 23
2.3.2 Các biện pháp xây dựng đội ngũ giảng viên của nhà trường 32
2.4 Thực trạng công tác phát triển ĐNGV tại trường CĐ CNHN 37
2.4.1 Thực trạng về công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên 37
2.4.2 Thực trạng về công tác tuyển dụng ĐNGV của nhà trường 38
2.3.4 Thực trạng về tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 41
2.4.4 Thực trạng về cơ chế, chính sách khuyến khích cho ĐNGV trong công tác ĐT – BD phát triển 43
2.4.5 Thực trạng về nâng cao năng lực QL, đặc biệt là ứng dụng CNTT trong việc quản lý đội ngũ giảng viên 45
2.4.6 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giảng viên 48
2.5 Đánh giá chung về các biện pháp xây dựng đội ngũ thông qua công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội 49
2.5.1 Mặt mạnh 49
2.5.2 Mặt hạn chế 51
Tiểu kết chương 2 53
Chương 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 55
3.1 Các nguyên tắc chọn lựa biện pháp 55
3.2.Các biện pháp phát triển ĐNGV ở trường Cao đẳng Công Nghệ Hà Nội 56
3.2.1 Nhóm biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và đội ngũ giảng viên về sứ mạng, nhiệm vụ, chiến lược, mục tiêu đào tạo của nhà trường; về vai trò và nhiệm vụ của giảng viên 56
3.2.2 Nhóm biện pháp 2: Đổi mới công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên của trường 59
Trang 53.2.3 Nhóm biện pháp 3: Tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giảng viên… 63 3.2.4 Nhóm biện pháp 4: Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ giảng viên 67
3.2.5 Nhóm biện pháp 5: Các điều kiện bảo đảm cho việc đào tạo, bồi dưỡng phát triển ĐNGV 73
3.3 Thăm dò tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Khuyến nghị 85
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Bảng 2.1 Quy mô đào tạo 20 Bảng 2.2 Thống kê số lượng giảng viên, cơ cấu giới, cơ cấu độ tuổi
theo Khoa - Bộ môn 24 Bảng 2.3 Thống kê trình độ giảng viên 26 Bảng 2.4 Thống kê trình độ của giảng viên theo từng bộ môn 27 Bảng 2.5: Thống kê trình độ lý luận chính trị, số đoàn viên, đảng viên 28 Bảng 2.6 Thống kê trình độ sư phạm ĐNGV 29 Bảng 2.8 Thống kê mức độ đánh giá về quy hoạch ĐNGV 38 Bảng 2.9 Bảng thống kê mức độ đánh giá về công tác tuyển dụng 40 Bảng 2.10 Bảng thống kê mức độ đánh giá hình thức ĐT - BD cho
ĐNGV 42 Bảng 2.11 Bảng thống kê mức độ đánh giá thực trạng các chính sách
khuyến khích ĐT - BD cho ĐVGV 44 Bảng 2.12 Mức độ thực hiện việc nâng cao năng lực QL, đặc biệt là
ứng dụng CNTT trong việc QL ĐNGV nhà trường: 47 Bảng 2.13 Mức độ đánh giá hoạt động kiểm tra, đánh giá ĐNGV 49 Bảng 3.1 Kết quả khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện
pháp 81
Hình 1.1: Mối liên hệ các chức năng quản lý 7 Hình 1.2 : Quy trình và biện pháp phát triển nhân sự 12 Hình 3.2: Khảo nghiệm tính khả thi và cần thiết của nhóm biện pháp 82
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Trong những năm gần đây quá trình đổi mới giáo dục của nước ta diễn
ra rất mạnh mẽ được Nhà nước quan tâm chỉ đạo, Bộ giáo dục và Đào tạo tổ chức, thực hiện và triên khai rất rộng khắp trong toàn ngành Một trong những
mục tiêu mà chiến lược giáo dục đã đề ra là “tạo bước chuyển biến cơ bản về
chất lượng, ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học công nghệ cao và phát triển đội ngũ nhà giáo vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả để phát triển giáo dục” [3]
Nhà trường đại học có vai trò “như một công cụ hàng đầu để thực
hiện mục tiêu quốc gia” [14], mà trong nhà trường đại học đội ngũ giảng
viên lại là nhân tố quyết định Vai trò này ngày càng tăng lên một cách
mạnh mẽ trong “xã hội ngày càng dựa trên tri thức, làm cho giáo dục đại
học và nghiên cứu trở thành những thành phần chủ yếu của sự phát triển văn hóa, kinh tế - xã hội và duy trì sinh thái với những cá nhân và cộng đồng dân tộc” [26, tr.10]
Chính vì vậy, phát triển đội ngũ giảng viên đại học, cao đẳng đảm bảo
đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục là mục tiêu đã định ra trong rất nhiều văn bản đã được thông qua
Chỉ thị số 40- CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư trung ương Đảng
về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD đã
chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng”[1]
Trang 8Phát triển đội ngũ giảng viên lại càng có ý nghĩa hơn đối với các trường đại học cao đẳng nói chung và các trường thuộc khối Công nghệ nói riêng, bởi vì đó là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo nhân lực có trình độ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội thành lập tháng 8 năm 2007 là một trường ngoài công lập theo mô hình trường trong doanh nghiệp Sau hơn
4 năm xây dựng và phát triển nhà trường đã có những thành công bước đầu về đào tạo
Tuy nhiên, một số khó khăn thách thức đang đặt ra khiến nhà trường có nguy cơ tụt hậu so với các trường cao đẳng khác cùng thời gian thành lập Một trong những lý do của tình trạng đó là do việc quản lý đội ngũ giảng viên, đặc biệt khâu phát triển đội ngũ, kể cả khâu đào tạo - bồi dưỡng chưa được quan tâm và xác định đúng hướng có nhiều bất cập Hậu quả là thiếu đội ngũ giỏi có khả năng kế cận; đội ngũ giảng viên chưa phát huy được năng lực,
sở trường, , chưa thu hút được nhân tài, “chất xám bị chảy máu”
Trong khi đó, vấn đề ĐT – BD phát triển ĐNGV là hết sức cấp thiết đặt
ra cho nhà trường Bởi yêu cầu thực hiện nhiệm vụ cam kết từ khi thành lập:
- Nâng cấp thành trường đại học trong giai đoạn 2012 – 2015
- Cũng như các cơ sở giáo dục khác, nhà trường hiện cũng đang chịu tác động khắc nghiệt của qui luật cạnh tranh về tuyển sinh và đào tạo trong điều kiện kinh tế thị trường
- Thêm vào đó, các chính sách và qui định tăng cường bảo đảm chất lượng đào tạo, đặc biệt là qui định về kiểm định và đảm bảo chất lượng của
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang đặt ra những thách thức mới buộc nhà trường phải tìm ra các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng các yêu cầu đặt ra
Mặt khác vấn đề đội ngũ có yếu tố quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục cũng là một trong những yếu tố hàng đầu của tiêu chuẩn nâng
Trang 9cấp lên thành trường Đại học Chính vì vậy nghiên cứu việc “phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà trường trong bối cảnh mới” là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống
Vì những lý do kể trên, đề tài: “Phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà trường trong bối cảnh mới” là hết sức cần thiết để nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên
làm đòn bẩy cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo hướng đến mục tiêu nâng cấp nhà trường thành Đại học Công nghệ Hà Nội trong giai đoạn 2012 – 2015
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề ra các giải pháp phát triển ĐNGV trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, hướng đến mục tiêu nâng cấp thành trường đại học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích bối cảnh và các yếu tố tác động đến nhà trường, các thách thức đặt ra cho nhà trường và đội ngũ giảng viên
Tìm hiểu cơ sở lý luận phát triển ĐNGV
Đánh giá thực trạng ĐNGV và thực trạng phát triển ĐNGV của trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội, xác định các mạnh và điểm yếu
Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu nâng cấp trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội thành trường đại học
Trang 10 Về đối tượng: Đối tượng chủ yếu được đề cập là đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội
Về nội dung: Quản lý đội ngũ giảng viên hiệu quả để họ thực sự phát huy tài năng và phẩm chất vì sự nghiệp giáo dục của nhà trường và xã hội là phạm vi rất rộng, bao gồm nhiều khâu với nhiều giải pháp khác nhau Đề tài này chỉ tập trung vào khâu phát triển đội ngũ thông qua đào tạo bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo hướng đến mục tiêu cấp thành trường đại học
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu phân tích tài liệu nhằm tổng hợp các tài liệu liên quan phục
vụ cho việc tìm hiểu các chính sách phát triển giáo dục đại học, phát triển đội ngũ giảng viên; cũng như cơ sở lý luận cho việc phát triển đội ngũ giảng viên Các tài liệu được nghiên cứu bao gồm: Văn kiện, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về chính sách phát triển giáo dục đại học, phát triển đội ngũ giảng viên, các văn bản quy định của Nhà nước
về đội ngũ giảng viên; các tài liệu lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giảng viên, các nghiên cứu trước đó về phát triển giảng viên; các báo cáo, số liệu và đề án quy hoạch phát triển của Trường Cao đẳng Công nghệ Hà nội
Khái quát và hệ thống hoá các thông tin đã tổng hợp được qua nghiên cứu phân tích tài liệu
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Phương pháp phỏng vấn
Trang 11Đối tượng khảo sát là cán bộ quản lý, giảng viên Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội Mục đích khảo sát nhằm thu thập thông tin về thực trạng ĐNGV và thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên, những điểm mạnh và còn hạn chế, các đề xuất và mong muốn của ĐNGV
5.3 Những phương pháp khác
Phương pháp chuyên gia sẽ được sử dụng nhằm kiểm chứng các giải pháp đề xuất cho việc phát triển đội ngũ giảng viên nhà trường đáp ứng yêu cầu nâng cấp lên thành trường đại học
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyếnnghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội
Chương 3: Biện phát phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Trang 12và đang phát triển theo hướng hiện đạ hóa, hội nhập với xu hướng phát triển chung của thế giới Bởi vì, một nền giáo dục tốt, hiện đại sẽ tạo ra nguồn nhân lực tốt, nâng cao vị thế quốc gia
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm ở mức độ cao, sâu sắc, toàn diện đến thực tiễn quản lý giáo dục Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP, ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục cao đẳng, đại
học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 xác định: "Xây dựng đội ngũ giảng viên và
cán bộ quản lý giáo dục đại học đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiến tiến" [5, tr.3] và Quyết định số: 09/2005/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính
phủ về việc phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề Đến năm 2010 khẳng định:
"Xây dựng qui hoạch tổng thể phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ QLGD các cấp đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đạt các tiêu chuẩn chất lượng về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ" [14]
Đề cập đến vai trò đội ngũ giảng viên, Nghị quyết hội nghị lần 2 Ban
chấp hành trung ương Đảng khóa VIII đã xác định “giảng viên là nhân tố
quyết định đến chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh, chăm lo xây dựng đội ngũ giảng viên sẽ tạo được sự chuyển biến chất lượng giáo dục đáp ứng được những yêu cầu mới của đất nước” Chỉ thị số 40-CT/TW ngày
15/6/2004 của Ban bí thư trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất
lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã chỉ rõ: “Chất lượng
chuyên môn, nghiệp vụ của các nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi
Trang 13mới giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội, tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo một cách toàn diện” [1]
Là một trường Cao đẳng ngoài công lập được thành lập năm 2007 trên địa bàn Hà Nội, vấn đề đội ngũ giảng viên có yếu tố quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục cũng là một trong những yếu tố hàng đầu của tiêu chuẩn nâng cấp lên thành trường Đại học
1.2 Một số khái niệm cơ bản đƣợc sử dụng trong luận văn
1.2.1 Quản lý, quản lý nhà trường, quản lý nguồn nhân lực
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Từ các cách tiếp cận khác nhau nhưng các quan điểm đều cơ bản thống nhất khi quan niệm về “quản lý” là: Quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng, có tổ chức, có kế hoạch và hệ thống của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất nhằm tạo nên
sự phát triển
Bản chất của hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách thực hiện các chức năng quản lý Quản lý có 4 chức năng cơ bản: lập kế hoạch; tổ chức; lãnh đạo; kiểm tra
Mối liên hệ giữa các chức năng quản lý được mô tả như sau :
Hình 1.1: Mối liên hệ các chức năng quản lý [19]
Thông tin
Kế hoạch
Chỉ đạo
Tổ chức Kiểm tra-
đánh giá
Trang 141.2.1.2 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là những công việc của người cán bộ quản lý nhà trường thực hiện những chức năng quản lý để thực hiện nhiệm vụ công tác của mình Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và học
Quản lý nhà trường thực hiện hoạt động quản lý trong tổ chức nhà trường Hoạt động quản lý nhà trường do chủ thể quản lý nhà trường thực hiện, bao gồm các hoạt động quản lý bên trong nhà trường như:
- Quản lý giáo viên;
- Quản lý học sinh, sinh viên;
- Quản lý quá trình dạy học, giáo dục;
- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học;
- Quản lý tài chính trường học;
- Quản lý lớp học, quản lý quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng xã hội
Quản lý giảng viên là khâu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý nhà trường Đặc biệt, muốn nhà trường phát triển phải quan tâm phát triển ĐNGV trong đó chú ý đến việc đào tạo – bồi dưỡng giáo viên trẻ, khuyến khích họ tự học, tự bòi dưỡng để có ĐNGV giỏi kế cận sau này
1.2.2 Giảng viên, phát triển đội ngũ giảng viên
* Giảng viên
* Khái niệm “Giảng viên” được khẳng định trong Điều 70 Luật Giáo
dục 2005 “Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong trường đại học
và sau đại học gọi là giảng viên” Đây là những người “công chức, viên chức
Trang 15chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy, đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng”[8]
* Vai trò của giảng viên được đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng và nhà nước: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH TW 2 khóa VIII nhấn
mạnh: “Giảng viên là nhân tố quyết định của chất lượng giáo dục”[7] Tầm
quan trọng của GV và việc phát triển ĐNGV cũng được chỉ ra trong các văn
kiện quan trọng khác Nghị quyết Hội nghị BCH TW 2 khóa VIII “Giảng
viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục”
* Tiêu chuẩn của người giảng viên, theo Điều 70 Luật Giáo dục 2005, nhà giáo (giảng viên) phải có những tiêu chuẩn sau đây:
“a Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
b Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
c Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
d Lý lịch bản thân rõ ràng”
Theo quyết định số: 538/TCCB-BCTL ngày 18/12/1995 của Ban tổ chức cán bộ chính phủ yêu cầu về trình độ của giảng viên:
- “Có bằng cử nhân trở lên
- Đã qua thời gian tập sự theo quy định hiện hành
- Phải có ít nhất 2 chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học
+ Chương trình triết học nâng cao cho nghiên cứu sinh và cao học + Những vấn đề cơ bản của tâm lý học và lý luận dạy học bộ môn ở bậc cao đẳng và đại học
+ Sử dụng được một ngoại ngữ trình độ B (là ngoại ngữ thứ 2 đối với giảng viên ngoại ngữ)”
Trang 16* Nhiệm vụ của người giảng viên: Nhiệm vụ của giảng viên được qui định tại Điều 72 của Luật Giáo dục 2005 và các nhiệm vụ cụ thể theo Điều 46 Điều lệ trường cao đẳng:
- "Hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và NCKH được qui định theo giờ
chuẩn do Bộ GD&ĐT ban hành đối với các chức danh và ngạch tương ứng;
- Giảng dạy theo nội dung, chương trình đã được Bộ GD&ĐT, trường cao đẳng qui định Viết giáo trình, bài giảng, tài liệu phục vụ giảng dạy - học tập theo sự phân công của các cấp quản lý;
- Không ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo;
- Tham gia và chủ trì các đề tài NCKH, phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học, công nghệ và các hoạt động khoa học, công nghệ khác;
- Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và NCKH;
- Hướng dẫn, giúp đỡ người trong học tập, NCKH, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống
- Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật” [8]
1.2.3 Phát triển đội ngũ giảng viên
Theo từ điển tiếng Việt khái niệm phát triển được hiểu là: “Biến đổi
hoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [12, tr.743]
Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội có sự gia tăng về lượng, biến đổi về chất, làm cho số lượng và chất lượng vận động theo hướng
đi lên trong mối quan hệ bổ sung cho nhau tạo nên giá trị mới trong một thể thống nhất đều có thể coi là phát triển
Phát triển đội ngũ giảng viên trên cơ sở phát triển cá nhân giảng viên đồng thời với việc thực hiện mục tiêu nhà trường Đây là quan điểm mang tính hợp tác vì lý do: Các nhu cầu phát triển của nhà trường cũng quan trọng
Trang 17như các nhu cầu phát triển của giảng viên, vì vậy cả 2 loại nhu cầu đều cần phải cân nhắc, được hoà hợp và cân bằng với nhau thì công tác phát triển đội ngũ giảng viên mới đạt kết quả tốt
Sự quan tâm chăm lo đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên trong các nhà trường là nhiệm vụ trung tâm, ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển toàn diện của nhà trường,
Theo tác giả Trần Thị Bạch Mai trong Tập bài giảng chuyên đề Quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục đưa ra nhận định và mô hình vận động của
việc quản lý - phát triển nhân sự: Các chính sách, chương trình giúp nhân
viên(CBGD) tăng cường kiến thức, kỹ năng và sự tiến triển sự nghiệp, tọ điều kiện cho sự trưởng thành cả sự phát triển cá nhân lẫn nghiệp vụ và mang lại lợi ích cho việc nâng cao hiệu quả và sự thích ứng của tổ chức” [29]
1.2.4 Mục đích của việc phát triển đội ngũ giảng viên
Để thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của trường đại học và để đạt tới mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực lao động xã hội thì phải có đội ngũ giảng viên luôn luôn có tiềm năng phát triển và được phát triển
Mục đích phát triển ĐNGV của các nhà trường là làm cho trường đó có một ĐNGN:
+ Đủ về số lượng;
+ Đồng bộ về cơ cấu (chuyên ngành, tuổi, giới…);
+ Đạt chuẩn về trình độ đào tạo theo các chuyên ngành đào tạo
+ Nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sƣ phạm;
+ Giữ được phẩm chất – đạo đức của nhà giáo;
Những mục đích phát triển ĐNGV đưa ra phù hợp với chủ trương của Chính phủ đã nêu trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020
đó là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số
lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng”[5]
Trang 18Tóm lại, phát triển ĐNGV trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội ngoài việc đồng thời phát triển cả 3 yếu tố: đủ về số lượng; đồng bộ về cơ cấu; đảm bảo chuẩn về chất lượng thể hiện trên các phương diện đạo đức, trình độ
chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm thì luận văn này tập trung vào yếu tố nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sƣ phạm tạo động lực để phát triển ĐNGV
1.2.5 Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên thông qua hình thức đào tạo – bồi dưỡng
Đội ngũ giảng viên là nguồn nhân lực cơ bản của nhà trường đại học Phát triển đội ngũ giảng viên chính là một khâu quan trọng trong quá trình quản lý phát triển nguồn nhân lực trong nhà trường đại học
Con đường chủ yếu để duy trì và không ngừng nâng cao năng lực giảng viên là tổ chức hoạt động đào tạo và bồi dưỡng
Hình 1.2 : Quy trình và biện pháp phát triển nhân sự [29]
* Nội dung của công tác đào tạo – bồi dưỡng phát triển giảng viên chính là các hoạt động thúc đẩy nâng cao năng lực ĐNGV trong đó tập trung vào nâng cao năng lực:
- Phân tích công việc, yêu
cầu về năng lực cần có
- Tiên hành tuyển chọn
- Các hoạt động thúc đẩy nâng cao năng lực
- Lương bổng
- Đánh giá đề bạt sử dụng
- Khuyến khích
- Dự báo, xác định nhu cầu
nhân sự, lập kế hoạch nhân
sự (số lượng, chất lượng)
Thu hút Tuyển chọn
ĐT - BD Phát triển
Lập KH Đãi ngộ Duy trì
Trang 19- Trình độ chuyên môn;
- Trình độ sư phạm;
- Thái độ nghề nghiệp;
- Số lượng, cơ cấu, đội ngũ kế cận
* Các hình thức đào tạo nâng cao trình độ cho GV:
+ Đào tạo sau đại học
+ Học Cao học, Tiến sĩ với các GV chưa đạt trình độ
+ Cử các cán bộ giáo viên thường xuyên dự các lớp huấn luyện, bồi dưỡng do Bộ GD&ĐT tổ chức hoặc hiệp hội các trường ĐH, CĐ ngoài công lập tổ chức
+ Tổ chức hoạt động đào tạo nâng cao trình độ cho GV dưới hình thức
tổ chức ngay tại trường Như mở lớp nghiệp vụ sư phạm do nhà trường đặt hàng với các trường ĐH sư phạm; Tổ chức lớp bồi dưỡng công tác Quản lý đào tạo cho toàn bộ CB, GV; Tổ chức lớp bồi dưỡng công tác giáo viên chủ nhiệm…
+ Tổ chức hoạt động tự bồi dưỡng của GV: như hàng năm tổ chức hội thi giáo viên dạy giỏi cấp khoa và cấp trường yêu cầu 100% CB, GV tham gia Để tập thể GV tự dánh giá chuyên môn và khắc phục những hạn chế về nghiệp vụ sư phạm
+ Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học cho ĐNGV nhằm làm cho
GV phát huy được tính sáng tạo trong dạy học và thực tiễn Cung cấp cho nhà trường những sản phẩm trí tuệ mới bổ sung vào phương tiện dạy học…
+ Lãnh đạo giao nhiệm vụ kèm cặp, giúp đỡ giữa người vững vàng chuyên môn nghiệp vụ và người trẻ tuổi ít kinh nghiệm…
1.2.6 Ý nghĩa của công tác ĐT – BD phát triển đội ngũ giảng viên
Tạo động lực cho ĐNGV là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển ĐNGV Nội dung quản lý trong việc tạo động lực cho ĐNGV gồm:
Trang 20+ Bố trí công việc phù hợp với trình độ, năng lực, học hàm, học vị, chức danh để mỗi GV có điều kiện phát huy tối đa năng lực của họ trong giảng dạy và tham gia các hoạt động đào tạo khác; đồng thời được hưởng các chế độ lương và phụ cấp tương xứng Mặt khác, việc bố trí hoặc bổ nhiệm GV nhận các trọng trách trong quản lý, trưởng các đơn vị, đoàn thể trong trường phải gắn với quyền lợi của GV và với lợi ích của nhà trường
+ Tạo môi trường sư phạm lành mạnh trong nhà trường, xây dựng nhà trường thành tổ chức học tập, tham gia có hiệu quả việc thực hiện cuộc vận
động “học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và mỗi thầy cô giáo là
một tấm gương học tập, sáng tạo” Mở các lớp đào tạo liên kết với các trường
ĐH trong địa bàn, đồng thời tạo cơ hội để ĐNGV được đi học tập trao đổi kinh nghiệm thông qua các hội thảo khoa học
+ Trang bị đủ thiết bị kỹ thuật dạy học và thiết bị nghiên cứu KH & CN cho giảng viên và trên lớp học theo chuẩn hóa và hiện đại để GV đổi mới phương pháp dạy học và nghiên cứu KH & CN
+ Có chính sách đãi ngộ vật chất cho những cá nhân, tập thể sư phạm
đã có những đóng góp cho nhà trường; đồng thời quản lý hoạt động thi đua khen thưởng
1.2.7 Bối cảnh phát triển mới nhà trường từ nay đến năm 2015
Để đáp ứng được chương trình đổi mới về Giáo dục – Đào tạo trong thời gian 2012 – 2015, cần có ngay những chuyển biến lớn về chất lượng đào tạo, tăng cường cơ sở vật chất, thực hiện các biện pháp quản lý đồng bộ, trong
đó quan trọng nhất là hoàn thiện công tác phát triển ĐNGV
1.2.7.1 Phát triển quy mô đào tạo hợp lý
Mục tiêu ổn định quy mô của trường trong những năm sắp tới: Giữ vững chỉ tiêu tuyển sinh; tạo sự cân đối và hợp lý giữa tỉ lệ HSSV/GV, tỉ lệ giữa HSSV tuyển mới và tốt nghiệp Đặc biệt việc đảm bảo sinh viên được
Trang 21đào tạo liên thông thuận lợi phải là nhiệm vụ quan trọng trong liên kết các hình thức đào tạo đã có
1.2.7.2 Từng bước nâng cao chất lượng đào tạo
Mục tiêu này yêu cầu giữ vững và tăng cường kỷ cương trong thực hiện các quy chế: Quy chế tuyển sinh, quy chế dạy và học, quy chế kiểm tra, thi
cử, quy chế xử lý kết quả học tập của sinh viên, quy chế khen thưởng và kỷ luật, trong đó khâu thanh tra giáo dục phải xuyên suốt trong tất cả các khâu
Đối với ĐNGV việc đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy phải
là nhiệm vụ trọng tâm để đẩy mạnh công tác biên soạn tài liệu, giáo trình và xây dựng phương pháp giảng dạy tiên tiến
Trước mắt cần thực hiện tốt nề nếp làm việc nêu cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ ĐNGV đáp ứng yêu cầu giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học Kết quả giảng dạy phải thể hiện qua mức độ khá, giỏi cao của sinh viên tốt nghiệp và tỷ lệ sinh viên có việc làm ngay của khoá sau phải cao hơn khoá trước
1.2.7.3.Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học
Xác định công tác nghiên cứu khoa học phải là nền tảng để nâng cao chất lượng đào tạo giúp hoàn chỉnh, hoàn thiện chương trình, giáo trình, thiết
kế đề thi, cải tiến quy trình đào tạo, cách thức kiểm tra và xây dựng tiêu chí đánh giá phương pháp dạy và học
Cùng với việc đẩy mạnh phong trào nghiên cứu khoa học trong ĐNGV Nhà trường cần mở rộng phong trào nghiên cứu khoa học trong việc liên hệ với các Doanh nghiệp để nhận đề tài nghiên cứu giao cho ĐNGV và HSSV cùng thực hiện, chú trọng đánh giá tính thực tiễn và ý nghĩa của công trình nghiên cứu
Tăng cường nghiên cứu và ứng dụng các đề tài khoa học cần gắn với nhiệm vụ đào tạo các chuyên ngành trong nhà trường Việc bồi dưỡng, tập
Trang 22huấn, khai thác khai thác và sử dụng thư viện điện tử cần được tiến hành thường xuyên
1.2.7.4 Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
Chủ trương đa dạng hoá và tăng cường quy mô đào tạo gắn với mở rộng hợp tác quốc tế là một phần quan trọng trong chủ trương của Đảng nhà nước gắn với hội nhập kinh tế và đa dạng hoá các loại hình đào tạo
Chủ trương mở rộng hợp tác quốc tế của nhà trường đặt ra nhiệm vụ nặng nề đối với ĐNGV trong nhiệm vụ cầu nối để nâng cao chất lượng đào tạo một số chuyên ngành trụ cột của nhà trường việc học hỏi và tích luỹ kinh nghiệm từ các chương trình đào tạo tiên tiến sẽ góp phần củng cố và hiện đại hoá các chương trình đào tạo của nhà trường Thông qua các chương trình hợp tác quốc tế ĐNGV có điều kiện trao đổi kinh nghiệm thường xuyên với đội ngũ chuyên gia có trình độ cao và một số giảng viên sẽ được tham gia các khoá học quốc tế ngắn hạn
1.2.8 Đội ngũ giảng viên trưởng Cao đẳng Công nghệ Hà Nội trong bối cảnh mới
Trong bối cảnh mới: Bước sang giai đoạn cạnh tranh trong tuyển sinh giữa các trường CĐ, ĐH; giai đoạn Thanh tra kiểm tra mạnh mẽ của bộ Giáo dục và đào tạo về công tác đảm bảo chất lượng Tiêu chuẩn người giảng viên của trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội bao gồm các tiêu chí sau:
- Đảm bảo yêu cầu về phẩm chất chính trị, có cuộc sống lành mạnh, có đạo đức nghề nghiệp, trung thực, yêu nghề, hết lòng vì sinh viên thân yêu
- Có năng lực sư phạm, có khả năng khái quát, luận giải vấn đề súc tích, dễ hiểu
- Đủ sức khoẻ phục vụ lâu dài và đáp ứng yêu cầu ngày càng nâng lên
về nghề nghiệp
- Thích nghi nhanh chóng với yêu cầu đổi mới dạy học;
Trang 23- Có khả năng tự học và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
- Tạo phong cách giảng dạy riêng, đặc thù có hiệu quả thể hiện ở sức hút và sự ái mộ của sinh viên;
- Tạo khả năng mở rộng các kênh thông tin hướng nghiệp cho người học, góp phần vào việc phát triển và hoàn thiện nhân cách của cho sinh viên
- Đảm bảo yêu cầu chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo vể trình độ tối thiểu thạc sỹ đối với giảng viên đại học
- Nhà trường yêu cầu trình độ chuyên môn tiến sỹ cho các vị trí lãnh đạo của trường, khoa và bộ môn
- Giảng viên được phân công môn dạy theo đúng chuyên ngành được đào tạo
- Đảm bảo yêu cầu về trình độ học vấn nhất định, tối thiểu là đại học Bên cạnh những yêu cầu chung như trên, Trường Cao đẳng Công nghệ
Hà Nội, yêu cầu mỗi giảng viên phải am hiểu những kiến thức cơ bản về loại hình tổ chức trường Ngoài công lập, mô hình nhà trường trong doanh nghiệp, hiểu biết về các chuyên ngành có liên quan, nắm chắc kiến thức cơ sở ngành
và chuyên ngành Để có thể vận dụng những kiến thức khoa học trong luận giải, phân tích, hướng dẫn sinh viên học theo tín chỉ cũng như nghệ thuật giảng dạy và thực hành nghề nghiệp cho sinh viên
Việc nâng cao năng lực và chất lượng đội ngũ giảng viên luôn là một trong những vấn đề thời sự, là yêu cầu cấp thiết, một nhiệm vụ mang tính quyết định đến chất lượng giáo dục đào tạo Đây là yêu cầu khách quan đặt ra không chỉ đối với trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội mà còn là vấn đề của
cả ngành giáo dục Trong tình hình như vậy, sự hỗ trợ của toàn ngành giáo dục và xã hội nhất định sẽ có ảnh hưởng to lớn đối với mục tiêu xây dựng ĐNGV của trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội
Trang 24Tiểu kết chương 1
Tựu chung lại, công tác phát triển ĐNGV là một quá trình liên tục phát
triển nhằm hoàn thiện hoặc thay đổi tình hình hiện tại để làm cho đội ngũ
không ngừng lớn mạnh về mọi mặt Thực chất đó cũng là một quá trình cải
cách, cải tổ về ĐNGV Phát triển ĐNGV là một quá trình tích cực có tính hợp
tác cao, trong đó người giảng viên có vai trò quan trọng trong sự trưởng thành
về năng lực, trình độ về mặt nghề nghiệp cũng như nhân cách của bản thân họ
cùng hoà hợp và phát triển với đại gia đình nhà giáo của nhà trường
Đào tạo - bồi dưỡng phát triển ĐNGV là một khâu quan trọng của quá
trình quản lý ĐNGV Mục đích là nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ
sư phạm Mặt khác Đào tạo – bồi dưỡng là con đường chủ yếu nhằm làm giàu
kiến thức, kỹ năng, thái độ để giảng viên vững vàng về nhân cách nghề
nghiệp
Các khái niệm, cơ sở lý luận, thực tiễn về xây dựng và phát triển đội
ngũ giảng viên được nêu ra ở chương 1 sẽ tạo cơ sở khoa học để đề xuất các
biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, xây dựng và phát triển đội ngũ giảng
viên Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội giai đoạn hiện nay, góp phần thúc
đẩy chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục cao đẳng, đại học nói riêng
Trang 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
2.1 Khái quát tiến trình phát triển trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội
2.1.1 Quá trình xây dựng và phát triển nhà trường
Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội được thành lập ngày 03/08/2007 theo Quyết định số 3997/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường được thành lập theo mô hình Nhà trường gắn với doanh nghiệp,
do Tổng công ty CP Thiết bị điện Việt Nam đầu tư xây dựng
Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; trường hoạt động theo điều lệ trường cao đẳng và qui định của luật giáo dục
Tính đến ngày 15/9/2011 trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội đã có hơn 4 năm xây dựng và trưởng thành Từ khi ra đời đến nay trường đã hoàn thành giai đoạn 1 (2007 ~ 2012) và chuẩn bị bước sang giai đoạn 2 (2012 – 2017)
Sau hơn 4 năm thành lập trường được Bộ GD&ĐT quyết định cho mở ngành và hàng năm giao chỉ tiêu tuyển sinh cụ thể như sau: 07 ngành đào tạo Cao đẳng chính quy; 04 ngành đào tạo cao đẳng liên thông; 05 ngành đào tạo TCCN và ngày 28/01/2011 được Tổng cục dạy nghề cấp giấy chứng nhận cho đào tạo 04 nghề trình độ cao đẳng
Như vậy đến nay trường được phép đào tạo các ngành nghề và qui mô đào tạo được thống kê trong bảng sau:
Trang 26Bảng 2.1 Quy mô đào tạo
Chính qui (1)
LH khác (2)
Chính qui (3)
LH khác (4)
Chính qui (5)
LH khác (6)
(Nguồn: Báo cáo thống kê định kỳ Phòng TCHC – trường CĐ CNHN)
Nhìn vào bảng thống kê số lượng HSSV trong 3 năm học trở lại đây ta thấy số lượng sinh viên năm sau tăng hơn năm trước, tốc độ tăng bình quân năm là 0,8% Điều này cho thấy nhà trường cũng cần phải có một lực lượng đội ngũ tương xứng để thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo
2.1.2 Tổ chức quản lý đào tạo
Tuy là trường ngoài công lập, mới được thành lập nhưng lãnh đạo nhà trường có chủ trương xây dựng nhà trường thành trường chính quy, phát triển từng bước vững chắc Vì vậy để có thể tổ chức, quản lý đào tạo tốt trước hết
Trang 27trường quan tâm xây dựng và ổn định về tổ chức nhà trường và có chính sách hợp lý để quan tâm ổn định đội ngũ cán bộ, giáo viên
2.1.3 Cơ sở vật chất hiện có của nhà trường
Với diện tích khuôn viên 02 ha trường đã đầu tư xây dựng 9370 m2 cho các công trình:
+ Giảng đường: 7980 m2 gồm 48 phòng học, phòng hội thảo hội trường, phòng làm việc
Trang 28Cùng với việc quy hoạch và xây dựng diện tích đất hiện có, nhà trường đang tiếp tục đầu tư và hoàn thiện cơ sở vật chất đó là xây thêm 02 phòng thực hành điện tử có diện tích 270 m2 và làm thủ tục thuê đất để xây dựng cơ sở 2
2.2 Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của trường
Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội là tổ chức Ngoài công lập hoạt động theo Điều lệ trường cao đẳng và Quy chế tổ chức - hoạt động được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Trường chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển giáo dục, tiêu chuẩn giảng viên, mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, về tuyển sinh,
tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, về thanh tra giáo dục
Trường chịu sự quản lý hành chính của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội Mục tiêu của nhà trường là:
1 Đào tạo sinh viên học sinh phát triển toàn diện và đạt được các trình
độ sau:
Đào tạo trình độ Cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn, có
kỹ năng thực hành, có khả năng giải quyết những công việc thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo;
Đào tạo trình độ Trung học chuyên nghiệp nhằm giúp cho học viên trở thành kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp trình độ trung cấp;
Dạy nghề nhằm đào tạo người lao động có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp như công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ và nghề nghiệp phổ thông, kể cả công nhân người lao động đi xuất khẩu lao động;
Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho công nhân, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên, cán bộ kỹ thuật của các doanh nghiệp
Trang 292 Nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến khoa học - kỹ thuật - công nghệ mới
3 Tổ chức sản xuất cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho xã hội
(Trích quy chế tổ chức và hoạt động)
Đứng trước bối cảnh mới lãnh đạo nhà trường luôn chủ trương phát triển từng bước vững chắc, quyết tâm đổi mới cơ bản và toàn diện, đảm bảo mang lại cho cán bộ và giảng viên trong nhà trường một môi trường công tác thuận lợi, có thể phát huy toàn bộ năng lực và trí tuệ của mình cho sự nghiệp đào tạo và phát triển
Tạo cho sinh viên môi trường học tập thuận lợi trong học tập và nghiên cứu, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng với những kiến thức khoa học –
xã hội, kỹ năng nghề nghiệp để sau khi ra trường người học có thể tự lập, lập nghiệp tiến thân và sáng nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Phấn đấu trở thành trường cao đẳng, đại học hàng đầu Việt Nam về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Nhiệm vụ của trường: “Xây dựng chiến lược phát triển nhà trường
Nghiên cứu mở những ngành đạo tạo mới khi có đủ điều kiện và được phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo Kết hợp với cơ sở đào tạo trong nước để đào tạo liên thông lên Đại học” [9, 13]
2.3 Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ giảng viên của nhà trường
2.3.1 Tình hình đội ngũ giảng viên
2.3.1.1 Về số lượng, cơ cấu giới, độ tuổi ĐNGV
Tổng số cán bộ, công nhân viên, giáo viên của trường hiện có là 118 người, trong đó đội ngũ giảng viên là 107 người thuộc 6 khoa khác nhau Đây
là lực lượng giảng dạy chủ yếu, được đào tạo tương đối hoàn chỉnh, số giảng viên đạt chuẩn tốt nghiệp đại học trở lên là 100%
Ngoài ra, ở khối các phòng ban chức năng còn có 9 người thuộc ngạch giảng dạy Số giảng viên này nhiệm vụ chính là làm công tác quản lý, hành chính và nghiệp vụ, chỉ tham gia giảng kiêm nhiệm thêm một số tiết nhất
Trang 30định Do vậy trong luận văn này khi nói đến đội ngũ chỉ đề cập đến bộ phận giảng viên ở các Khoa và bộ môn
Số lượng giảng viên, cơ cấu giới, cơ cấu độ tuổi theo từng đơn vị được thể hiện trong các bảng sau:
Bảng 2.2: Thống kê số lƣợng giảng viên, cơ cấu giới,
cơ cấu độ tuổi theo Khoa - Bộ môn
(Nguồn: Báo cáo thống kê định kỳ Phòng TCHC – trường CĐ CNHN)
Về giới tính: Một trong những điều kiện để đảm bảo cho các hoạt động
của tổ chức được diễn ra một cách hài hòa, thống nhất là phải có sự cân bằng
về giới tính Như vậy, tỉ lệ giảng viên nữ của nhà trường chiếm tới 65 % phản ánh sự mất cân bằng về giới tính, sự mất cân bằng giới tính thể hiện rõ nhất ở khoa Kế toán, khoa KHCB và tổ môn Ngoại ngữ tỉ lệ nữ chiếm số đông Do đó trong quá trình xây dựng và triển khai kế hoạch, thời khóa biểu của trường phải luôn tính đến các phương án đảm bảo chế độ đối với giảng
Trang 31viên nữ đặc biệt là số giảng viên nữ có tuổi đời dưới 35 (đang trong độ tuổi sinh đẻ) vì giảng viên nữ là những người vừa phải thực hiện trách nhiệm nặng nề với gia đình vừa phải hoàn thành tốt công tác chuyên môn được giao Điều này dẫn đến hạn chế là đội ngũ này ít có thời gian tham gia công tác đào tạo – bồi dưỡng
Về độ tuổi: Qua thống kê độ tuổi đội ngũ giảng viên cho thấy phần đông
giảng viên có độ tuổi dưới 30 chiếm tỉ lệ rất lớn (77/118 người) 65 % Nguyên nhân chủ yếu do trường mới thành lập (4 năm) nên đa số là giảng viên trẻ có thâm niên công tác không nhiều, phần đông là sinh viên tốt nghiệp các trường đại học đạt loại khá trở lên
* Ưu điểm: Nhìn chung, giảng viên trẻ rất nhiệt tình hăng say trong công việc, rất nhạy bén với công nghệ thông tin và kiến thức khoa học mới,
có khả năng tiếp thu nhanh, có đầu óc cầu tiến nên rất thuận lợi cho việc quy hoạch, bồi dưỡng trong mọi lĩnh vực
* Hạn chế: Với độ tuổi này, đa số giảng viên trẻ nên kinh nghiệm giảng dạy và công tác chưa nhiều vì vậy thường vướng mắc, lúng túng với các tình huống sư phạm và thường là không quyết đoán
Nếu được đầu tư có hiệu vào công tác đào tạo và bồi dưỡng chắc chắn đội ngũ sẽ phát triển và nhà trường sẽ phát triển
Số lượng giảng viên trong độ tuổi từ 31 - 40 tuổi là 24/118 người Ở độ tuổi này giảng viên vừa có kiến thức, kinh nghiệm giảng dạy vừa có điều kiện
đi thực tế để cập nhật kiến thức nâng cao tay nghề phục vụ giảng dạy
Số lượng giảng viên trong độ tuổi 41- 50 và ngoài 60 tuổi là 16/118 người Ở độ tuổi này giảng viên có nhiều kinh nghiệm và là lực lượng nòng cốt trong việc bồi dưỡng cho giảng viên trẻ để chuẩn bị tiếp quản Nhưng bên cạnh đó thì lực lượng này cũng có nhiều bất cập vì họ tham gia thỉnh giảng ở nhiều nơi nên chưa chú ý nhiều đến công tác bồi dưỡng thế hệ trẻ
Trang 322.3.1.2 Về trình độ đội ngũ giảng viên
Bảng 2.3: Thống kê trình độ giảng viên Tổng số P.GS Tiến sĩ Thạc sỹ Đại học
(Nguồn: Báo cáo thống kê định kỳ năm 2011-2012: Phòng TCHC)
Hiện nay, nhà trường dành ưu tiên cho việc xây dựng đội ngũ, nhiệm
vụ chuẩn hóa và nâng cao trình độ cho cán bộ, giảng viên vừa mang tính cấp thiết vừa mang tính lâu dài Đến nay 100% đội ngũ giảng viên của nhà trường
đã đạt chuẩn về trình độ trở lên và đang tích cực đẩy cao tỉ lệ trên đại học
Theo Luật giáo dục điều 77 nêu rõ: “Trình độ chuẩn đối với nhà giáo giảng
dạy các trường ĐH,CĐ phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên” [8]
Yêu cầu chuẩn đối với đội ngũ nhà giáo được chính phủ phê duyệt
trong chiến lược giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 nêu “chuẩn trình độ đào tạo
cho đội ngũ nhà giáo Đến năm 2020 có 35% số giáo viên ở các trường cao
đẳng nghề đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 80% giảng viên cao đẳng đạt trình độ
thạc sỹ trở lên, trong đó có 15% là tiến sỹ; 100% giảng viên đại học đạt trình
độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 30% là tiến sỹ”[5] Nhìn vào bảng thống kê
trên ta thấy số lượng giảng viên của nhà trường có trình độ từ thạc sỹ trở lên
là 25 % do vậy đang chưa dạt yêu cầu so với qui định
Mặt khác trình độ chuyên môn của giảng viên còn là 1 trong 2 tiêu chí
để xác định chỉ tiêu tuyển sinh mà Bộ GD & ĐT đưa ra trong thông tư 57/2011/TT-BGDĐT Quy định về việc xác định và giao chỉ tiêu tuyển sinh trình độ tiến sĩ, thạc sỹ, đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp dựa trên tỉ lệ HSSV/GV
Trang 33Bảng 2.4: Thống kê trình độ của giảng viên theo từng bộ môn
(Đơn vị: Người)
Tên bộ môn lƣợng Số
Trình độ Đại
(Nguồn: Báo cáo thống kê định kỳ Phòng TCHC – trường CĐ CNHN)
Nhìn vào bảng trên ta nhận thấy trình độ cán bộ giảng dạy ở các khoa,
bộ môn không đồng đều Khoa Kế toán, khoa Điện, Điện tử, khoa Cơ khí có
số lượng Thạc sỹ rất ít (mỗi khoa có 1 thạc sỹ) Chỉ có khoa KHCB là đạt tỷ
lệ thạc sỹ cao (50%) nhưng cũng chưa đạt yêu cầu Là một nhà trường chuyên nghiệp mà tỉ lệ GV có trình độ chuyên môn sau đại học thấp như vậy thì công tác đảm bảo chất lượng quả thật gian nan
Do vậy, trong những năm tới nhà trường cần phải có giải pháp để khuyến khích đội ngũ trẻ này đi học cao học, bồi dưỡng chuyên môn và tuyển mới sao cho lực lượng này đủ cả về số lượng, đảm bảo chất lượng, đồng bộ về
cơ cấu
2.3.1.3 Phẩm chất đội ngũ giảng viên
Phẩm chất đạo đức của đội ngũ giảng viên nhà trường được thể hiện là
ở sự gắn bó với nghề dạy học, sự quan tâm và trách nhiệm trước học sinh, sinh viên, không có biểu hiện tiêu cực trong dạy học Người giáo viên có
Trang 34phẩm chất tốt thể hiện trước tiên ở việc đúng giờ trong việc lên lớp và chuẩn
bị hồ sơ bài giảng trước khi lên lớp
Phần lớn đội ngũ giảng viên của nhà trường rất nhiệt tình, năng động, sáng tạo, luôn gần gũi, hiểu, quan tâm và giúp đỡ sinh viên Đa số giảng viên trong trường thể hiện tính gương mẫu trong giảng dạy và sinh hoạt, có lối sống giản dị, chân thành, có sự quan tâm giúp đỡ đồng nghiệp Bên cạnh những phẩm chất tốt đẹp đó, còn một bộ phận giảng viên trẻ chưa thực sự yên tâm với nghề nghiệp, còn có những giao động trước sự tác động của cơ chế thị trường: thay đổi nghề nghiệp, chuyển công tác sang trường mới, chưa có ý thức xây dựng văn hóa tổ chức Tuy nhiên, cơ bản những phẩm chất tốt đẹp
về đạo đức, chính trị của đội ngũ giảng viên được giữ vững từ đó đã xác định đúng đắn mục đích nghề nghiệp
Trình độ chính trị của đội ngũ giảng viên trong nhà trường thể hiện trong bảng 2.5 dưới đây
Bảng 2.5: Thống kê trình độ lý luận chính trị, số đoàn viên, đảng viên
Trình độ lí luận chính trị Số đoàn viên – đảng viên Cao cấp Trung cấp Sơ cấp Đoàn viên Đảng viên
(Nguồn: Thống kê định kỳ Phòng TCHC – trường CĐ CNHN)
Các số liệu trên cho thấy trình độ chính trị của đội ngũ giảng viên nhà trường phần lớn là trình độ sơ cấp (95%) trình độ cao cấp đội ngũ chưa có điều kiện tiếp cận
Số giảng viên là Đoàn viên là 93 người chiếm 79% trong đó có 67 đồng chí đang trong tuổi sinh hoạt Đoàn Số giảng viên là đảng viên 25 người chiếm 21%
Trang 35Lãnh đạo nhà trường cho rằng ĐNGV phải am hiểu lý luận chính trị, hiểu đường lối chủ chương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước từ
đó mới nâng cao nhận thức tư tưởng vững vàng đào tạo thể hệ trẻ cả Đức – Trí – Thể - Mỹ, giúp cho HSSV hiểu một cách toàn diện các vấn đề trong thời đại mới Đồng thời phải đào tạo ĐNGV trẻ giác ngộ lý tưởng cách mạng đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng Sản Việt Nam
2.3.1.4 Năng lực đội ngũ giảng viên
Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Năng lực của người giảng viên được hình thành trên cơ sở hệ thống tri thức chuyên môn sư phạm và những hoạt động thực tiễn trong giáo dục, đào tạo và được thể hiện qua hệ thống các năng lực nền tảng chuyên biệt Năng lực của ĐNGV trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội
có thể đánh giá khái quát như sau:
* Về năng lực dạy học: Việc nâng cao trình độ chuyên môn cho ĐNGV
đã được lãnh đạo nhà trường đặc biệt quan tâm, bởi lẽ ngoài trình độ chuyên môn, giảng viên cần phải có trình độ sư phạm để truyền tải kiến thức, kỹ năng cho HSSV một cách tốt nhất Tuy nhiên, các số liệu ở bảng 2.6 cho ta thấy tỉ
lệ giảng viên tốt nghiệp từ các trường Đại học sư phạm là không nhiều Chính
vì vậy, đội ngũ giảng viên của trường đa số đều không được đào tạo cơ bản về
sư phạm Xuất phát từ thực tế trên, trong những năm qua nhà trường đã khuyến khích, động viên các giảng viên đi học các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ
sư phạm bậc I, bậc II
Trang 36Trình độ
SP bậc I
Trình độ SP bậc II Ghi chú
(Nguồn: Thống kê định kỳ Phòng TCHC – trường CĐ CNHN)
Từ số liệu trên cho thấy số lượng giảng viên được đào tạo tại các trường ĐH SP ít (26%), chủ yếu được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm bậc II (52%) hoặc mới được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm bậc I (22 %)
Do đã được tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm nên hầu hết giảng viên trong trường đều biết tự thiết kế bài giảng và lựa chọn nội dung theo mục tiêu bài giảng, phương pháp giảng dạy phù hợp với môn học Giảng viên đã thực hiện tương đối tốt công tác soạn bài, lập lịch giảng dạy theo đúng đề cương bài giảng trước khi lên lớp Biết quản lý lớp, thực hiện tốt qui chế đào tạo
Bên cạnh đó, việc đổi mới phương pháp dạy – học lấy người học làm trung tâm nhằm phát huy tính tích cực của HSSV, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo còn rất hạn chế; Phương pháp dạy học vẫn là phương pháp truyền thống, thầy đọc trò chép Cá biệt lại có trường hợp “nhìn
- chép” (chiếu bằng máy lên cho sinh viên chép) Việc vận hành và sử dụng hiệu quả phương tiện dạy học như máy chiếu, máy trợ giảng còn thấp
* Về ngoại ngữ và tin học: Toàn thể giáo viên trong trường đều đạt từ chuẩn B trở lên Câu lạc bộ ngoại ngữ của trường vẫn thường tổ chức các buổi sinh hoạt, tọa đàm bằng Tiếng Anh rất hiệu quả Về Tin học cũng vậy hệ thống mạng ADSL được nối mạng LAN trong toàn trường nên rất tiện lợi cho
Trang 37việc cập nhật thông tin và trao đổi thông tin, mọi người đều có thể tìm cho mình những kiến thức rất bổ và mang tính thời sự hữu ích trong việc giảng dạy, đó cũng là một phương thức bồi dưỡng tích cực
* Về năng lực giáo dục: Đây là năng lực mà mỗi một giảng viên đều phải có và vận dụng nó vào việc thực hiện chức năng thứ 2 của người giảng viên đó là giáo dục Người giảng viên không chỉ cung cấp những kiến thức,
mà còn là tấm gương trong việc hình thành ở HSSV thái độ lý tưởng
Dạy học không chỉ dạy chữ mà còn quan trọng hơn là thông qua dạy chữ để dạy người Năng lực giáo dục được thể hiện ở khả năng nắm bắt được
tâm lý các em, khả năng thuyết phục, cảm hóa các em, khả năng làm công tác quần chúng
Với đặc điểm mô hình giáo dục đào tạo là trường cao đẳng ngoài công lập, chất lượng đầu vào của HSSV trung bình khá chiếm số đông nhưng đội ngũ giảng viên đã biết gắn kết công tác giáo dục tình cảm, ý thức vào bài giảng chuyên môn; “xây dựng mối quan hệ thầy trò mang tình bạn đạo đức” Đội ngũ giáo viên làm công tác chủ nhiệm hoạt động tương đối đồng bộ, có tinh thần trách nhiệm, một mặt am hiểu chức trách nhiệm vụ, mặt khác biết phối hợp giữa các tổ chức trong nhà trường và gia đình để kịp thời ủng hộ và uốn nắn HSSV
Nhờ vậy đại đa số HSSV trong trường luôn giữ được ý thức, thái độ, tổ chức, kỷ luật, ý thức học tập, rèn luyện nhân cách, lối sống lành mạnh Đặc biệt, các tệ nạn xã hội được phòng ngừa tích cực trong nhiều năm nhà trường không xảy ra tệ nạn xã hội như: nghiện hút, trấn lột, cờ bạc…
Mặc dù vậy, công tác giáo dục vẫn luôn cần phải liên tục đổi mới cả về hình thức tổ chức lẫn nội dung; các mặt đạt được cần được phát huy và đi vào chiều sâu
Trang 38* Năng lực tự học và nghiên cứu khoa học: Một trong những mục tiêu
cụ thể mà nhà trường đề ra đối với việc phát triển ĐNGV là duy trì, phát triển phong trào tự học, tự bồi dưỡng thường xuyên ở nhà trường Các giảng viên sau khi được tuyển dụng, bô trí, xắp xếp công việc hợp lý đều phải tham gia các lớp tập huấn do nhà trường tổ chức, phải tham gia các báo cáo, tham luận
về cách quản lý lớp, hàng năm tổ chức kiểm tra kiến thức và thi tìm hiểu qui chế đào tạo…
Nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ bắt buộc đối với GV đại học, cao đẳng Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu khoa học của trường hiện nay chưa mạnh mẽ, chưa đi vào nề nếp và còn nhiều bất cập: Đề tài nghiên cứu quá ít và chưa phong phú (chủ yếu trong lĩnh vực Điện – điện tử), cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu còn sơ sài, tuy có lợi thế về có mối liên hệ mật thiết với các doanh nghiệp nhưng chưa ký hợp đồng nào về nghiên cứu khoa học
Ngoài ra nhà trường cũng chưa đưa ra qui định bắt buộc đối với giảng viên trong việc NCKH NCKH vẫn là bắt buộc trong khối lượng công việc nhưng lại có thể bù bằng việc giảng dạy và công việc khác; chưa có chế độ khuyến khích việc nghiên cứu… nên chưa thúc đẩy được hoạt động nghiên cứu khoa học trong ĐNGV
2.3.2 Các biện pháp xây dựng đội ngũ giảng viên của nhà trường
Đối với nhà trường – đơn vị trực tiếp quản lý và sử dụng ĐNGV thì việc xây dựng đôi ngũ thông qua đào tạo - bồi dưỡng phải được nhận thức sâu sắc để thấy được vai trò và ý nghĩa to lớn của công tác này từ đó tổ chức thực hiện tốt
Việc đào tạo - bồi dưỡng ĐNGV mang tính chiến lược, đây là công việc phải làm thường xuyên, liên tục và lâu dài để xây dựng một đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu và phải có chất lượng cao, phục vụ cho chiến lược phát triển lâu dài của trường Tham gia hoạt động bồi dưỡng sẽ giúp cho giảng viên thuận lợi khi làm quen với chương trình
Trang 39mới, có thái độ tích cực và thích ứng với những thay đổi nhanh và thách thức của thời đại
Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng sẽ kích thích động cơ giảng viên làm việc chăm chỉ, tích cực để hoàn thành nhiệm vụ của mình Khi tham gia bồi dưỡng thường xuyên sẽ góp phần nâng cao ý thức, phương pháp, kỹ năng và thói quen tự học của giảng viên
2.3.2.1 Nguyên tắc bồi dưỡng
Nhu cầu bồi dưỡng giảng viên là việc cấp bách trước yêu cầu đổi mới giáo dục và và hội nhập quốc tế Trong quá trình đổi mới nội dung và phương pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở các cấp, một số nguyên tắc đã được đúc kết, được coi là sự vận dụng nguyên lý giáo dục của Đảng, Nhà nước trong nhà trường Khi tiến hành bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa bồi dưỡng tư tưởng, chính trị, đạo đức với chuyên môn, nghiệp vụ và các nhiệm vụ đặt ra từ thực tiễn
- Hoạt động bồi dưỡng không bao giờ kết thúc Mỗi giảng viên cần phải xác định rõ là phải học tập thường xuyên và học tập suốt đời;
- Mỗi nhà trường cần phải thiết kế chương trình bồi dưỡng riêng và phù hợp với thực tế của trường mình
- Bồi dưỡng thường xuyên giúp cho nhà trường luôn đổi mới và có khả năng đối mặt được với những thách thức mới
2.3.2.2 Nội dung bồi dưỡng
Trong nhà trường, người giảng viên có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện chương trình đào tạo, thực hiện nhiệm vụ rèn luyện trí tuệ và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ Ở tầm vỹ mô, đội ngũ giảng viên góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội năm 2001 – 2010 BCH TW nêu rõ: “Công nghiệp
Trang 40hóa gắn với hiện đại hóa ngay từ đầu và trong suốt giai đoạn phát triển Nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế tri thức ở nước ta” [5]
Ngay nay công nghệ thông tin phát triển nhanh, tạo ra những phương pháp, phương tiện giao lưu mới mở rộng các khả năng học tập tạo cơ hội cho mỗi người có thể học dưới nhiều hình thức khác nhau Nhà trường không còn
là nơi duy nhất đem đến cho HSSV những tri thức mới Tuy nhiên, giáo dục trong nhà trường với sự chỉ đạo trực tiếp của người giảng viên vẫn là con đường đáng tin cậy và có hiệu quả nhất làm cho thế hệ trẻ tiếp thu có mục đích, tri thức khoa học Vai trò của giảng viên là phải lựa chọn những tri thức
cơ bản, hiện đại, phù hợp với mục tiêu giáo dục, truyền tải đến người học với
sự hấp dẫn cao
Trong xã hội đang biến đổi nhanh, người giảng viên phải có ý thức, có nhu cầu và có tiềm năng, không ngừng hoàn thiện về đạo đức, nhân cách, chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy tinh thần chủ động sáng tạo trong hoạt động
sư phạm, biết phối hợp nhịp nhàng với tập thể nhà trường trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục
Trước yêu cầu đổi mới với người giảng viên như trên, nội dung bồi dưỡng giảng viên rất đa dạng, phong phú Nhiều kiến thức ở các lĩnh vực khác nhau cần được trang bị để nâng cao trình độ về mọi mặt Một số nội dung mà nhà trường cho là quan trọng trong công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên cụ thể là:
- Bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, đường lối phát triển, quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước, đạo đức lối sống người công dân trong tình hình mới;
- Bồi dưỡng những kiến thức pháp luật;
- Bồi dưỡng những kiến thức về quản lý;