Thực trạng công tác quản lý việc thực hiện các nội dung hoạt động của Dự án Đào tạo giáo viên THCS 53 2.2.2.. Mục tiêu nghiên cứu đề tài Tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu và bài học trong c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HỒNG
NHỮNG BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐÀO
TẠO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
SỬ DỤNG NGUỒN VỐN VAY NGÂN HÀNG PHÁT
TRIỂN CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2006
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HỒNG
NHỮNG BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐÀO TẠO GIÁO
VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
SỬ DỤNG NGUỒN VỐN VAY NGÂN HÀNG
PHÁT TRIỂN CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH:QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN QUỐC CHÍ
HÀ NỘI - 2006
Trang 3Chương 1 : Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 13
1.3.2 Yêu cầu đổi mới về công tác quản lý thực hiện các dự án về
giáo dục trong giai đoạn hiện nay
34
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc đổi mới công tác quản lý thực
hiện các dự án giáo dục cơ sử dụng nguồn vốn (ODA)
35
1.3.4 Vai trò của việc đổi mới công tác thực hiện các dự án giáo dục 35
Trang 4có hiệu quả hơn
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thực hiện dự án tại dự án
Đào tạo giáo viên Trung học cơ sở
2.2.1 Thực trạng công tác quản lý việc thực hiện các nội dung hoạt
động của Dự án Đào tạo giáo viên THCS
53
2.2.2 Nguyên nhân hạn chế của công tác quản lý thực hiện của Dự
án Đào tạo giáo viên THCS
61
Chương 3 Các biện pháp quản lý đổi mới việc thực hiện dự án Đào
tạo giáo viên Trung học cơ sở
Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng, nâng cao
năng lực cho đội ngũ cán bộ dự án
Trang 58
Biện pháp 6 : Tăng cường và cụ thể hoá vai trò trách nhiệm của
Ban Điều hành Dự án
80
Biện pháp 7 : Tăng cường tính chuyên nghiệp và tính chịu trách
nhiệm trên cơ sở phát huy tính chủ động sáng tạo của các thành viên tham gia dự án
81
Biện pháp 8 : Tăng cường bồi dưỡng kiến thức và năng lực thực
hiện dự án cho đội ngũ tham gia quản lý dự án
81
3.3 Bước đầu khảo sát tính khả thi, cần thiết của các biện pháp 82 3.2.1 Khảo sát tính cần thiết của các biện pháp 83 3.2.2 Khảo sát tính khả thi của các biện pháp 84 3.2.3 Tổng hợp về tính cần thiết và tính khả thi của các biên pháp 86
Trang 6Trung học cơ sở Ngân hàng phát triển châu á Quản lý giáo dục
Nguồn vốn hỗ trợ chính thức Nghị định
Chính phủ Giáo dục và Đào tạo Cao đẳng sư phạm Cán bộ giáo dục Trung học sư phạm
Sư phạm Khoa học giáo dục Trung ương
Trang 7Sơ đồ 2 Mối quan hệ giữa thông tin với các chức năng quản lý 20
Sơ đồ 4 Quản lý nhân sự và các yếu tố môi trường 28
Sơ đồ 5 Các yếu tố hình thành chức năng quản lý nhân sự 28
Sơ đồ 7 Hệ thống tổ chức của Dự án Đào tạo giáo viên THCS 53
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Trang
Bảng 2 Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp nâng cao
năng lực quản lý thực hiện dự án Đào tạo giáo viên THCS
sử dụng nguồn vốn ADB
83
Bảng 3 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp nâng cao
năng lực quản lý thực hiện dự án Đào tạo giáo viên THCS
sử dụng nguồn vốn ADB
85
Bảng 4 Kết quả tổng hợp về tính cần thiết và tính khả thi của các
biện pháp nâng cao năng lực quản lý thực hiện dự án đào tạo giáo viên THCS sử dụng nguồn vốn vay ADB
87
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam trong những năm vừa qua đã chứng kiến nhiều thay đổi cơ bản về kinh tế, và mỗi sự thay đổi về kinh tế này đã có những tác động cơ bản đối với xã hội Nền kinh tế mở cửa đã tạo điều kiện cho nhiều nhà tài trợ vào Việt Nam để giúp cho Việt Nam ngày càng phát triển
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển đã đặt nền móng cho sự thay đổi nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp của Việt Nam đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực phải đạt được hai mặt: Một là trí lực của nguồn nhân lực sẽ chiếm vai trò chủ đạo, tức là sẽ xuất hiện một tầng lớp lao động
có trí thức với số lượng đông đảo hợp thành đội ngũ lao động Hai là những nhân tố mới thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đó là thông tin, tri thức thông qua hệ thống giáo dục thường xuyên, suốt đời Giáo dục là một quá trình khai sáng cho con người và làm gia tăng khả năng đạt được cuộc sống
có chất lượng cao hơn Một hệ thống giáo dục tốt sẽ dẫn đến một nguồn nhân lực tốt và đó là một nhân tố làm phát triển nền kinh tế xã hội Nhận biết được tầm quan trọng đó mà giáo dục ngày nay đã được Đảng và Nhà nước quan tâm sâu sắc và coi giáo dục là quốc sách hàng đầu
Đảng và Nhà nước ta đã mạnh dạn mở cửa đón nhận đầu tư cho giáo dục thông qua các dự án Để sự đầu tư này có hiệu quả và không bị lãng phí thì vấn đề quản lý thực hiện các dự án cần phải được quan tâm hơn nữa Một trong những dự án về giáo dục là Dự án Đào tạo giáo viên THCS Bên cạnh những hiệu quả được các cơ quan cấp trên thừa nhận, Ban Điều hành Dự án vẫn luôn nhận thức rằng cần phải nỗ lực hơn nữa để hoàn thành sứ mạng của mình Do vậy, để nghiên cứu các biện pháp nâng cao năng lực quản lý thực hiện dự án cũng là nhiệm vụ của mỗi nhà quản lý và mỗi thành viên trong dự
Trang 92 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu và bài học trong công tác quản lý thực hiện Dự án , từ đó xây dựng các biện pháp nhằm thực hiện việc quản lý
Dự án Đào tạo giáo viên THCS có hiệu quả hơn
3 Khách thể, Đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý thực hiện Dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA)
Đối tƣợng nghiên cứu: Một số biện pháp về quản lý nhân sự, quản lý tài chính trong việc thực hiện Dự án Đào tạo giáo viên THCS
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Nhiệm vụ 1 : Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Những khái niệm công cụ : Quản lý, quản lý Dự án, năng lực quản lý
- Lý luận về quản lý và quản lý Dự án
- Đặc điểm của Dự án Đào tạo giáo viên THCS
Nhiệm vụ 2 : Nghiên cứu về thực trạng quản lý Dự án
- Tìm hiểu thực trạng trong công tác quản lý thực hiện Dự án có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) trong Dự án Đào tạo giáo viên THCS
Trang 10- Từ thực trạng rút ra các các mặt đã đạt được và chưa đạt được do năng lực quản lý tạo ra
Nhiệm vụ 3 : Đề xuất những biện pháp nâng cao năng lực quản lý thực
hiện Dự án có hiệu quả hơn
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn trong phạm vi nghiên cứu các biện pháp công tác quản
lý thực hiện Dự án Đào tạo giáo viên THCS
Phạm vi thời gian: Các số liệu dùng để phân tích thực trạng được lấy trong 3 năm 2004 – 2005 – 2006
Đối tượng khảo sát: Dự án Đào tạo giáo viên THCS
6 Các phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
để thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp tổng kết lý luận: Thu thập, phân tích và tổng hợp các các
tài liệu, văn kiện liên quan, các báo cáo kết quả đề tài khoa học cùng lĩnh vực nghiên cứu, từ đó rút ra những luận điểm quan trọng làm cơ sở lý luận cho
vấn đề nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn : Quan sát, phân tích thực trạng
quản lý việc thực hiện dự án (chú trọng các mặt QL nhân sự, quản lý tài
chính do Dự án Đào tạo giáo viên THCS triển khai)
Phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê và phân
tích thống kê nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu chủ yếu:
Trang 1112
Những điểm mạnh và điểm yếu trong công tác quản lý thực hiện Dự
án Đào tạo giáo viên hiện nay đó chính là Những yêú tố cơ bản ảnh hưởng
đến việc thực hiện đến công tác quản lý thực hiện Dự án;
Những biện pháp nhằm tạo động lực cho việc thực hiện Dự án Đào
tạo giáo viên THCS đạt hiệu quả tốt
Phỏng vấn (trao đổi trực tiếp): Ban Điều hành Dự án, một số cán bộ
nòng cốt của Dự án
7 Những đóng góp của luận văn
Luận văn được hoàn thành với hy vọng có những đóng góp sau đây:
- Về mặt lý luận: Luận văn hệ thống hoá được các cơ sở lý luận về công tác quản lý đối với việc thực hiện dự án;
- Về mặt thực tiễn: Đưa ra các biện pháp quản lý nhằm tăng cường công tác quản lý thực hiện Dự án Đào tạo giáo viên THCS đạt hiệu quả hơn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục Tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung gồm 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu;
Chương 2 : Thực trạng công tác quản lý thực hiện Dự án tại Dự án
Đào tạo giáo viên THCS ; Chương 3 : Các biện pháp nâng cao năng lực quản lý thực hiện Dự
án Đào tạo giáo viên THCS nhằm nâng cao hiệu quả của
Dự án
Trang 12Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhằm hỗ trợ cho công cuộc cải cách nền kinh tế và xã hội của Việt Nam phát triển và phát triển bền vững, cộng đồng các nhà tài trợ Quốc tế đã cam kết tài trợ hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam thông qua các chương trình, dự án tín dụng, viện trợ không hoàn lại và hỗ trợ kỹ thuật Trong số các nhà tài trợ cung cấp ODA cho Việt Nam thì Nhật bản, Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) là 3 nhà tài trợ lớn nhất Tổng số vốn cam kết của 3 nhà tài trợ này chiếm trên 70% tổng số vốn ODA của các nhà tài trợ cho Việt Nam
Trong những năm gần đây, có nhiều văn bản của Nhà nước, của các nhà Khoa học, các nhà quản lý thuộc Bộ ngành đã đầu tư nghiên cứu và xây dựng các quy trình quản lý thực hiện dự án Trong số đó đáng kể là các văn bản như :
- Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2006 của Chính Phủ ban hành quy chế Quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ;
Trang 1314
- Thông tư số 06/2001/TT-BKH ngày 20 tháng 9 năm 2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện qui chế quản lý sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ;
- Quyết định số 112/2001/QĐ-BTC do Bộ Tài chính ban hành này 09/11/2001 về việc ban hành một số định mức chi tiêu áp dụng cho các Dự án có sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vay nợ;
- Sổ tay hướng dẫn các vấn đề tài chính trong dự án hỗ trợ phát triển chính thức tại Việt Nam do Bộ Tài chính và Ngân hàng Phát triển Châu Á xây dựng ;
- Sổ tay hỗ trợ thực hiện dự án do ADB tài trợ tại Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng ADB xây dựng
Việt Nam được công nhận là thành viên chính thức của ADB vào năm
1976 Từ cuối năm 1993, tài trợ của ADB cho Việt Nam mới bắt đầu được thực hiện với quy mô lớn và trên diện rộng Tính đến tháng 12/2001, ADB
đã phê duyệt 34 khoản vay cho khu vực công cộng với tổng số vốn là 2,2 tỷ USD, 3 dự án đầu tư cho khu vực tư nhân với tổng số vốn là 72 triệu USD và
117 dự án hỗ trợ kỹ thuật với tổng số vốn viện trợ không hoàn lại là 82 triệu USD Với sự nỗ lực của cả ADB và Việt Nam, các chương trình, dự án do ADB tài trợ đang đóng góp có hiệu quả cho nỗ lực của Chính phủ và Nhân dân trong phát triển kinh tế và xã hội nói chung và phát triển giáo dục nói riêng
Các dự án được đề xuất phải xuất phát từ những mục tiêu phát triển tổng quát và phải được đặt trong bối cảnh của các mục tiêu đó Các mục tiêu này có thể được nêu rõ trong văn kiện kế hoạch của Chính phủ hoặc trong chương trình đầu tư của Nhà nước Các mục tiêu này sẽ tạo nên cơ sở của Nghiên cứu chiến lược hoạt động quốc gia Vì dự án được thực hiện trong điều kiện kinh tế vĩ mô và bối cảnh cụ thể, nên một Dự án đầu tư có thể được
Trang 14coi như là một sự thay đổi tăng dần về một cơ cấu hiện đang tồn tại Chẳng hạn như Dự án Đào tạo giáo viên THCS ra đời được cũng bắt đầu từ những bất cập về trình độ CBGD, về cơ sở vật chất, trang thiết bị của các trường cao đẳng sư phạm, từ chương trình và giáo trình, về công tác quản lý, công tác đào tạo giáo viên THCS Trong thời gian qua tuy có được nâng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu đổi mới của chương trình THCS, nhất là khi chúng ta tiến hành đổi mới chương trình này với những thay đổi lớn về mục tiêu, kế hoạch dạy học, nội dung và phương pháp dạy học Điều đó đòi hỏi một sự đầu tư lớn để nâng cao chất lượng và năng lực đào tạo của cả hệ thống sư phạm thông qua việc nâng cao trình độ đội ngũ CBGD, trang bị thêm các thiết bị, thí nghiệm, thư viện
1.2 Các khái niệm cơ bản về quản lý
1.2.1 Quản lý
Trong lịch sử phát triển xã hội, từ xa xưa con người đã biết hợp sức với nhau để tự vệ và kiếm sống, từ đó đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù có tổ chức, phối hợp, điều khiển các hoạt dộng theo những yêu cầu và mục tiêu chung Dạng lao động đặc thù đó được gọi là hoạt động quản
lý Theo K Marx, bất cứ lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung nếu được thực hiện trên một quy mô lớn thì ít nhiều đều cần đến sự quản lý Vậy lao động xã hội gắn liền với quản lý Quản lý là một hoạt động đặc biệt, nó điều khiển các hoạt động chung khi xã hội có sự phân công lao động, hoạt động quản lý ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển không ngừng của xã hội
Tuỳ theo những cách tiếp cận, thuật ngữ “quản lý” được các nhà khoa học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
- “Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung” (33,tr 175)
- ”Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục đích dự kiến” (15, tr 24 )
Trang 1516
- “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp
cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng‟‟
(11, tr.7)
- Hoặc “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người
có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và
sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” (10, tr.33)
Từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu khái niệm quản lý như sau:
Quản lý luôn có tính hướng đích: Có mục tiêu, có tổ chức và các tác
động tương ứng, phù hợp để hướng dẫn điều khiển đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu định sẵn
Quản lý luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống, hệ thống đó bao gồm: Chủ thể quản lý; Khách thể quản lý; Cơ chế quản lý; Công cụ quản lý;
Mục tiêu quản lý
Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật: Nó giúp nhà quản lý biết
khai thác, sử dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu với hiệu quả cao và chi phí thấp nhất Khoa học và nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, khoa học càng tiến bộ thì nghệ thuật càng phát triển hoàn thiện
và ngược lại khi nghệ thuật phát triển cao sẽ thúc đẩy khoa học phát triển
Quản lý tạo ra mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa chủ thể quản lý với khách thể quản lý và mục tiêu cần đạt
Nói một cách tổng quát: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” (19, tr.176)
Quá trình tác động này được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 16SƠ ĐỒ 1: Quan hệ chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý
Tóm lại, quản lý là sự tác động có hướng đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý thông qua các phương pháp quản lý, công cụ
quản lý, nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng), để đạt được những mục tiêu đã xác định trong điều kiện
môi trường biến động
Ngày nay, quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người, đến toàn xã hội nhằm tổ chức và phối hợp các hoạt động, động viên kích thích tập thể lao động, công tác, học tập, bảo vệ tổ quốc, làm cho dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh
1.2.1.1 Đối tượng quản lý
Yêu cầu của một khoa học là có đối tượng nghiên cứu và có hệ thống các phương pháp nghiên cứu riêng biệt Quản lý được gọi là một khoa học vì
nó có đối tượng nghiên cứu, các hệ quản lý được vận hành trong tiến trình giải quyết các nhiệm vụ quản lý Quản lý có cả một hệ phương pháp nghiên cứu riêng và phục vụ những yêu cầu cụ thể của thực tiễn
Tuy nhiên đối tượng của hoạt động quản lý chính là các bộ phận cấu thành của một tổ chức và hoạt động của hệ thống Quản lý tác động lên con người trong tổ chức, nên mọi hoạt động của tổ chức và cả điều kiện cơ sở vật
Trang 1718
chất để hệ vận động Có thể nói rằng „các hoạt động, các quan hệ „ quản lý
là đối tượng trực tiếp của quản lý Đối tượng trực tiếp của quản lý là người dưới quyền Người lãnh đạo phải hiểu được mọi khả năng, nguyện vọng của
cấp dưới để quản lý Người quản lý phải “biết nhìn xa, trông rộng, có tính quyết đoán và có sự kiên trì, điềm đạm”, các mệnh lệnh, chỉ thị đề ra phải
đảm bảo ngắn gọn, rõ ràng, chính xác phù hợp với nhiệm vụ, tạo bầu không khí tâm lý tích cực của mọi người trong công tác quản lý
Chức năng quản lý nhằm xác định mối quan hệ giữa các cấp, các bộ phận, các khâu, trong hệ thống quản lý Mỗi hệ thống quản lý lại có nhiều bộ phận, nhiều khâu, nhiều cấp khác nhau và nó gắn với một chức năng nhất định
Hiện nay có nhiều cách phân loại chức năng quản lý, trong các cách phân loại đều thể hiện 04 chức năng cơ bản, có quan hệ mật thiết bổ sung hỗ trợ cho nhau, đó là: Chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng lãnh đạo và chức năng kiểm tra
- Lập kế hoạch: Là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản
lý, lập kế hoạch là nhằm xác định mục tiêu, chương trình hành động và bước
đi cụ thể trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý Mục đích của việc lập kế hoạch là hướng mọi hoạt động của hệ thống vào các mục tiêu đã
Trang 18định để nhằm đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả, đồng thời cho phép người quản lý, kiểm soát được quá trình thực hiện nhiệm vụ của đối tượng
- Tổ chức: Là quá trình sắp xếp, phân bổ quyền hành và nguồn lực cho
các đơn vị, các thành viên để họ thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả Mục tiêu khác nhau, cấu trúc tổ chức của các đơn vị cũng khác nhau, người quản lý phải biết xây dựng tổ chức sao cho phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ và nguồn lực Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất, trong đó mỗi cá nhân đều góp công sức của mình vào việc thực hiện mục tiêu, nhiệm
vụ chung Mặt khác, một tổ chức được coi là có hiệu quả khi nó thực hiện hoàn thành mục tiêu của hệ thống với mức chi phí thấp nhất cho bộ máy
- Lãnh đạo: Là khả năng gây ảnh hưởng, động viên và chỉ dẫn/ chỉ thị
người khác nhằm đạt được mục tiêu mong muốn Động thải của sự lãnh đạo thông qua 5 kỹ năng chủ yếu sau
+ Phân quyền xảy ra khi nhà lãnh đạo chia xẻ ảnh hưởng sự kiểm soát với những người thuộc cấp của mình ;
+ Trực cảm là khả năng nhậy cảm trong phân tích, xem xét, rà soát tỉ
mỉ một tình thé, đoán trước được những biến đổi, dám mạo hiểm và biết hình thành niềm tin ;
+ Tự hiểu mình là khả năng nhận ra những mặt mạnh và mặt yếu của chính mình, đồng thời biết phát huy cái mạnh và khắc phục cái yếu đó ; + Tầm nhìn là khả năng hình dung về một tình thế tốt hơn, hay không giaống hiện tại Và khả năng nhận biết các con đường, biện pháp để đạt tới tình thế tốt hơn ;
+ Thống nhất giá trị là khả năng hiểu được những nguyên tắc chủ đạo của tổ chức, cũng như hiểu được cái giá trị của mỗi thành viên và biết cách làm cho chúng thống nhất với nhau
- Kiểm tra: Là chức năng nhằm đánh giá và xử lý kết quả đạt được của
tổ chức so với mục tiêu quản lý đặt ra, quá trình kiểm tra gồm 3 bước: +/ Bước 1: Xây dựng các chỉ tiêu, các chuẩn mực
Trang 1920
+/ Bước 2: Đo lường việc thực hiện nhiệm vụ theo các chỉ tiêu, các chuẩn mực
+/ Bước 3: Đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu so với kế hoạch, nếu
có sự chênh lệch thì điều chỉnh, trường hợp cần thiết có thể tăng giảm mục tiêu, kế hoạch
Ngoài bốn chức năng trên, hệ thống thông tin quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng, nếu thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch thì công tác quản lý sẽ gặp khó khăn, dễ dẫn đến những quyết định sai, làm cho công tác quản lý gặp khó khăn
Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý với hệ thống thông tin quản
lý được thể hiện qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ 2: Mối quan hệ giữa thông tin với các chức năng quản lý
LẬP KẾ HOẠCH
LÃNH ĐẠO KIỂM TRA THÔNG TỔ CHỨC
TIN
Trang 201.2.1.3 Nhiệm vụ quản lý
Như trên đã nêu, ở mức độ chung nhất “Quản lý là một quá trình lập
kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể” (20, tr.194)
Trong thực tế, để thực hiện những chức năng quản lý cơ bản, người quản lý phải thực thi những nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Nhà quản lý phải nhận thức được những yếu tố ảnh hưởng tới tổ chức của mình từ môi trường bên ngoài như: kinh tế, chính trị, xã hội, công nghệ
- Nhà quản lý phải duy trì sự phối hợp thông tin giữa các yếu tố tác động bên ngoài với các yếu tố bên trong của tổ chức và phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố đó tới nhiệm vụ cụ thể của cơ quan
- Nhà quản lý đại diện cho tổ chức để giới thiệu và trình bày những mục tiêu và hoạt động của tổ chức với cấp trên và các cơ quan có liên quan
để phối hợp, tạo các mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức, cũng như với các tổ chức khác
- Nhà quản lý xem xét và quyết định các mục tiêu hoạt động trong từng thời gian, từng giai đoạn thực hiện cụ thể Hướng dẫn việc thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ chi tiết cho các hoạt động, xây dựng các quy định chuẩn mực, hiệu quả và chất lượng cho từng hoạt động
- Nhà quản lý phải chuẩn bị đủ điều kiện nguồn lực cho việc thực hiện mục tiêu nhiệm vụ của cơ quan thuộc đơn vị quản lý Xây dựng quy hoạch
và kế hoạch quản lý nhân sự, sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ, đánh giá, khen thưởng và đào tạo, đề bạt cán bộ
- Giám sát các hoạt động, xây dựng môi trường làm việc thuận lợi, đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho cán bộ, công nhân nhân viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Theo dõi phát hiện
Trang 2122
những khó khăn, những vấn đề nảy sinh trong hoạt động để hỗ trợ, giúp đỡ
và tìm ra các phương án giải quyết phù hợp
- Nhà quản lý phải đánh giá việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, chất lượng và hiệu quả công việc của các đơn vị, các cá nhân trong tổ chức, đồng thời xác định phương hướng cải tiến công tác quản lý và đề ra những biện pháp quản lý hữu hiệu
Tóm lại: “ Nhiệm vụ của quản lý là biến các mối quan hệ trên thành các yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu, ở khía cạnh này, quản lý là nghệ thuật Đó là bí quyết làm việc với con người, bí quyết sắp xếp các nguồn lực của tổ chức, là sự sáng tạo khi đối phó với những tình huống khác nhau trong hoạt động của tổ chức’’(20, tr.178)
1.2.1.4 Phương pháp quản lý
Phương pháp quản lý là phương thức và quy trình mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định Phương pháp quản lý là yếu tố động, thường được thay đổi theo đối tượng và tình huống Mỗi phương pháp đặc trưng cho một thủ pháp, tạo động lực thúc đẩy đối tượng quản lý
Căn cứ vào sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, phương pháp quản lý được chia thành các nhóm cơ bản sau:
- Phương pháp tổ chức- hành chính : Phương pháp tổ chức- hành
chính là phương pháp tác động trực tiếp của hệ quản lý đến hệ bị quản lý bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định Phương pháp này dựa vào quyền uy tổ chức của người quản lý để bắt buộc người dưới quyền phải thực hiện mệnh lệnh quản lý, đó là phương pháp mang tính mệnh lệnh và tính kế hoạch, đây
là quan hệ chỉ huy - thực hiện
- Phương pháp kinh tế: Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động
của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế Hay nói một cách khác, phương pháp kinh tế là sự tác động một cách gián tiếp lên đối
Trang 22tượng quản lý bằng cơ chế kích thích, tạo ra sự quan tâm nhất định về lợi ích vật chất để người thực hiện, tự mình điều chỉnh hành động nhằm hoàn thành nhiệm vụ, hoặc tạo ra những lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể phù hợp với lợi ích chung
- Phương pháp tâm lý - giáo dục: Phương pháp tâm lý - giáo dục là
phươg pháp tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các
hệ tư tưởng, tình cảm Phương pháp này dựa vào uy tín của người quản lý để lôi cuốn các thành viên trong tổ chức hăng hái, tích cực tham gia công việc
Như vậy, phương pháp quản lý là một hoạt động sáng tạo của người quản lý, khi vận dụng các phương pháp, người quản lý phải biết sử dụng đúng người đúng việc, tuỳ hoàn cảnh điều kiện, thời gian cụ thể để lựa chọn các phương pháp phù hợp, giúp cho đối tượng quản lý thực hiện mhiệm vụ một cách tự giác và tích cực
Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, hoạt động giáo dục cũng được quản lý ngay từ khi có tổ chức giáo dục mới được hình thành Khoa học quản lý giáo dục trở thành một bộ phận chuyên biệt của khoa học quản lý nói chung nhưng là một khoa học tương đối độc lập vì tính đặc thù của nền giáo dục quốc dân TS Nguyễn Quốc Chí
Trang 23Tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó”[6]
Hệ thống giáo dục là một hệ thống mở, luôn vận động và phát triển theo quy luật chung và chịu sự quy định của KT-XH Các định nghĩa trên cũng cho thấy QLGĐ luôn luôn phải đổi mới, đảm bảo tính năng động, khả năng tự điều chỉnh, thích ứng của giáo dục đối với sự vận động và phát triển chung
Như vậy, quản lý giáo dục là những tác động có phương hướng, có mục đích rõ ràng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm hình
thành và phát triển nhân cách con con người “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu và hạnh phúc của bản thân và xã hội” [24,tr.200]
Trang 24Tuỳ theo việc xác định đối tượng quản lý mà QLGD có nhiều cấp
độ khác nhau ở cả tầm vĩ mô và tầm vi mô: Ở tầm vi mô, toàn quốc gia, người ta thường nói đến quản lý hệ thống giáo dục Ở tầm vi mô, trong phạm vi một thể chế, một cơ sở giáo dục, người ta đề cập tới quản lý nhà trường
1.2.3 Quản lý Dự án Giáo dục
Trước khi đi sâu vào lĩnh vực quản lý dự án Giáo dục, ta cần phải tìm hiểu thế nào là Dự án, và Giáo dục có những đặc điểm gì đặc biệt đối với sự
phát triển của Xã hội „ Dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù , một nhiệm
vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới‟ (23,Tr.6) hay được hiểu
Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất Như vậy việc Quản lý Dự án là cách nói tắt của quản lý thực hiện
Dự án là một quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian , nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép Từ xưa đến nay, giáo dục luôn gắn bó với loài người, định hướng và dẫn dắt sự phát triển của mỗi thế hệ con người Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, giáo dục cũng được đánh giá vai trò khác nhau và ngày nay, giáo dục đã được đánh giá vô cùng quan trọng, giáo dục có vai trò quyết định trong sự phát triển của mỗi quốc gia Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử –
xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển văn hoá dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở
đó mà xã hội không ngừng tiến lên Sản phẩm của giáo dục phải đồng thời đạt ba mục tiêu là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Giáo dục là hàng hoá công cộng thuần tuý không có đối thủ cạnh tranh Giáo dục là yếu tố vô cùng quan trọng đối với sự phát triển, sự tiến bộ xã hội, giáo dục tác động sâu sắc và toàn diện đến tất cả các lĩnh vực của xã hội Một xã hội muốn tồn tại và phát triển thì xã hội đó buộc phải thực hiện chức
Trang 2526
năng giáo dục và được coi là tính qui luật của xã hội và trở thành hoạt động tất yếu của xã hội, có nghĩa là cứ có xã hội là có giáo dục Một quốc gia muốn phát triển phải lưu tâm đến vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị và văn hoá Giáo dục là khoa học là kinh tế tri thức Với sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức, cơ cấu kinh tế, xã hội toàn cầu đang đứng trước một sự thay đổi sâu sắc
và bất ngờ nhất kể từ khi thế giới chuyển từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp vào thể kỷ 18 và 19 Các lý thuyết kinh tế truyền thống về tăng trưởng, về lợi thế cạnh tranh, về cạnh tranh hoàn hảo, và về bàn tay vô hình của sức mạnh thị trường, về sự phá huỷ sáng tạo để cần phải sửa đổi để phù hợp với các đặc điểm mới của nền kinh tế tri thức Các nguồn lực truyền thống của sản xuất và tăng trưởng như đất đai, lao động, vốn, và cả chính sách tài khoá và tiền tệ cũng đang giảm dần tầm quan trọng trong khi tri thức, tức là khả năng sáng tạo, phân phối và khai thác thông tin, kiến thức khoa học và công nghệ đang trở thành nhân tố so sánh lớn quyết định sức cạnh tranh của mỗi quốc gia Giáo dục đã được Đảng và Nhà nước quan tâm triệt để Chính vì tầm quan trọng của giáo dục nên trong luật giáo dục Việt nam đã khẳng định:” Giáo dục và đào tạo là Quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân.” Từ năm 1990 đến nay, Đảng và Nhà nước đã đầu tư rất nhiều cho giáo dục thông qua các dự án nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao trình độ của đội ngũ giáo viên Việc quản lý dự
án về giáo dục vẫn tuân thủ theo các bước quản lý dự án nói chung Tuy nhiên, sản phẩm đầu ra của các dự án về giáo dục sẽ trìu tượng và phong phú hơn sản phẩm của các dự án không thuộc lĩnh vực giáo dục Quản lý nhà nước đối với dự án giáo dục hay được hiểu là quản lý vĩ mô bao gồm tổng thể các yếu tố của quá trình hình thành, thực hiện và kết thúc dự án Công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước để quản lý dự án giáo dục bao gồm các chính sách, chế độ về tài chính, tiền tệ, tỷ giá, lãi suất, chính sách đầu tư, thuế, bảo hiểm, tiền lương…Quản lý dự án giáo dục ở tầm vi mô là việc quản lý các hoạt động cụ thể của dự án Nó bao gồm nhiều khâu công việc như quản lý
về tiến độ thời gian, quản lý về việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch chi tiết của một dự án cụ thể, quản lý việc sử dụng ngân sách đầu tư cho dự án, quản lý về mục tiêu và chất lượng dự án theo sơ đồ sau :
Trang 26- Quản lý thay đổi phạm vi
Quản lý thời gian
- Xác định công việc,
- Dự tính thời gian;
- Đảo bảo chất lượng;
- Quản lý chất lượng
Quản lý nhân lực:
- Lập kế hoạch nhân lực, tiền lương;
- Tuyển dụng, đào tạo;
- Kế hoạch cung ứng;
- Lựa chọn nhà cung cấp, tổ chức đấu thầu;
- Quản lý hợp đổng, tiến độ cung ứng
Quản lý rủi ro dự án:
- Xác định rủi ro;
- Đánh giá mức
độ rủi ro;
- Xây dựng chương trình quản lý rủi ro đầu
tư
SƠ ĐỒ 3 Các lĩnh vực của quản lý dự án
Và theo tác giả thì quản lý dự án nói chung và quản lý dự án giáo dục nói riêng thì có 3 yếu tố tác động đến hiệu quả trong quản lý đó là quản lý đội ngũ, quản lý tài chính và năng lực quản lý Tác giả xin được cụ thể hoá 3 yếu tố như sau :
1.2.3.1 Quản lý đội ngũ
Trang 2728
Làm thế nào để quản lý nguồn nhân lực trong dự án có hiệu quả thật
sự là một vấn đề vô cùng phức tạp và khó khăn từ khâu kế hoạch hoá, tuyển
mộ, lựa chọn, huấn luyện và phát triển các thành viên của tổ chức Việc biến động nguồn nhân lực là điều thường xuyên diễn ra trong bất kỳ xã hội nào, bất kỳ tổ chức nào và một vấn đề quan trọng luôn đặt ra cho chức năng quản
lý nguồn nhân lực là phải giữ sao cho tổ chức có : „ đúng người, đúng chỗ, đúng lúc‟
Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định Sự biến động mạnh mẽ của xã hội, tính chất khốc liệt của cạnh tranh công việc và yêu cầu đáp ứng công việc ngày càng cao của người cán
bộ trong nền kinh tế thị trường đã và đang tạo ra các sức ép lớn, đòi hỏi các nhà quản lý nhân sự phải có các quan điểm mới, lĩnh hội được những phương pháp mới và nắm vững được những kỹ năng mới về quản lý đội ngũ thì mới phát huy được tổ chức mình , đồng thời cũng sẽ thu hút được nhân tài, đào tạo và phát triển ; và duy trì được nguồn nhân lực Quản lý đội ngũ khác với các công tác quản lý khác là do chính bản chất của con người, các năng lực, đặc điểm các nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh Theo em, quản lý đội ngũ gồm 3 chức năng : Thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì nguồn nhân lực có tầm quan trọng như nhau, có mối quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau
Quản lý nguồn Văn
Trang 28Công nghệ, tự nhiên
SƠ ĐỒ 4 : Quản lý nhân sự và các yếu tố môi trường
SƠ ĐỒ 5 : Các yếu tố hình thành chức năng quản lý nhân sự
1.2.3.2 Quản lý tài chính
Sản xuất ra của cải vật chất là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành các hoạt động sản xuất thường xuyên và liên tục Đây là hoạt động tự giác và có ý
Thu hút nguồn nhân lực
Mục tiêu quản lý nguồn nhân lực
Đào tạo, PT nguồn nhân lực
Duy trì nguồn nhân lực
Trang 2930
thức của con người Khi sản xuất có quy mô lớn, có tính tập thể thì việc định hướng, tính toán càng đòi hỏi nghiêm ngặt Lúc này ngoài hoạt động định hướng, tính toán còn đòi hỏi cả những hoạt động sắp xếp, điều phối, kiểm tra, phân tích, và gọi chung là quản lý Hoạt động quản lý tách khỏi mọi hoạt động khác và trở thành một hoạt động độc lập, nó bao gồm ba yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể quản lý và thông tin
Về vấn đề này Các Mác đã viết: "Trong tất cả các hình thái xã hội, người ta đều phải quan tâm đến thời gian cần dùng để sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, nhưng mức độ quan tâm khác nhau tuỳ theo trình độ của nền văn minh." [25, tr.152]
Để quản lý được các hoạt động tài chính cần có số liệu Song để có được các số liệu phục vụ cho hoạt động quản lý, giám sát đòi hỏi phải thực hiện quá trình xử lý thông tin, kiểm tra thông qua đo lường và tổng hợp các hoạt động đó Hay nói cách khác, để có được những quyết định chính xác trong quản lý cần loại trừ mọi điều nghi ngờ, bất định Vì vậy cần phấn đấu thu thập tối đa lượng thông tin Đó là cơ sở khách quan cho việc hình thành
và hoàn thiện không ngừng phân hệ thông tin trong hệ thống quản lý Có thể coi hoạt động xử lý thông tin như một hoạt động sản xuất đặc biệt: sản xuất
ra những thông tin có ích cho quản lý Trên góc độ đó, hoạt động xử lý thông tin cũng bao gồm ba yếu tố cơ bản: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Tuy nhiên đối tượng lao động ở đây lại không biểu hiện ra dưới dạng vật chất: đó là những tín hiệu đang được lan truyền, những thông tin thu thập được, biểu hiện dưới dạng số liệu là sản phẩm của lao động xử lý thông tin
Trang 30được hình thành một chu trình năng động từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án như trình bày tại sơ đồ dưới đây :
SƠ ĐỒ 6 : Chu trình quản lý dự án
Theo sơ đồ về chu trình quản lý dự án cho thấy để quản lý được một
dự án thành công và đạt hiệu quả thì đòi hỏi năng lực quản lý dự án phải cao ngay từ khâu lập kế hoạch đến khâu thực hiện và khâu giám sát dự án
Lập kế hoạch dự án là do những người có liên quan trực tiếp đén dự án thực hiện Tất cả các dự án đã hoàn thành đề bắt đầu từ việc định rõ kết quả cuối cùng, nghĩa là xác định được mục tiêu cũng như cấu trúc công việc, nghĩa là cần xác định đúng được kết quả mong muốn cuối cùng của dự án sẽ như thế nào Nhờ xác định rõ được mục tiêu, ta có thể nhận diện rõ được kết quả cuối cùng Trên cơ sở xác định mục tiêu của dự án, nhà quản lý lập kế hoạch phân phối nguồn lực một cách hợp lý Bộ phận lập kế hoạch sẽ tiến hành xây dựng lịch trình công việc và phân bổ ngân sách vào lịch trình công
Điều phối thực hiện
- Bố trí tiến độ thời gian;
- Phân phối nguồn lực;
- Phối hợp các hoạt động;
- Khuyến khích động viên
Trang 3132
Điều phối thực hiện dự án là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý về tiến độ thời gian Giai đoạn này chi tiết hoá thời, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp
Giám sát là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị các pha sau của dự án
Năng lực quản lý là khả năng thực hiện một công việc có tính đặc trưng trí tuệ và tiềm năng sáng tạo của một con người Trong tâm lý học, năng lực là một đặc trưng tố chất đặc biệt của con người về một lĩnh vực nào
đó Trong mỗi một khâu của chu trình quản lý dự án đòi hỏi năng lực quản lý
dự án ở những cấp độ khác nhau
Năng lực quản lý dự án là khả năng thực hiện thành công các hoạt động của dự án đạt mục tiêu dự án một cách có hiệu quả nhất Năng lực quản lý dự án giúp cho quá trình quản lý dự án thực hiện tốt các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra dự án nhằm đảm bảo các phượng diện thời gian, nguồn lực ( chi phí) và độ hoàn thiện (chất lượng) của dự án vì vậy năng lực quản lý dự án gắn với mức độ thực hiện có hiệu quả trong công tác quản lý dự án
1.2.4 Đặc điểm của Dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA)
ODA là nguồn vốn quan trọng của Ngân sách Nhà nước, được sử dụng
để hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội ưu tiên Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA trên cơ sở phân cấp, tăng cường trách nhiệm và bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các cơ quan quản
lý ngành và địa phương
Trang 32Quá trình thu hút, quản lý và sử dụng ODA phải tuân thủ những yêu câu dưới đây :
- Chính phủ nắm vai trò quản lý và chỉ đạo, phát huy cao độ tính chủ động và trách nhiệm của cơ quan chủ quản và cơ quan, đơn vị thực hiện ;
- Bảo đảm tính tổng hợp, thống nhất và đồng bộ trong công tác quản lý ODA ;
- Bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các bên có liên quan, trong đó có các đối tượng thụ hưởng ;
- Bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch về quyền hạn và trách nhiệm của các bên liên quan ;
- Bảo đảm hài hoà thủ tục giữa Việt Nam và nhà tài trợ ;
Quá trình thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA phải tuân theo các quy định của Luật ngân sách Nhà nước, Quy chế Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, quy chế Quản lý vay và trả nợ nước ngoài
và các chế độ quản lý hiện hành khác cả Nhà nước Trường hợp điều ước quốc tế về ODA đã được ký kết giữa Nhà nước hoặc Chinh phủ với Nhà tài trợ có quy định khác thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế
1.3 Cơ sở lý luận về quản lý thực hiện dự án có hiệu quả
1.3.1 Khái niệm hiệu quả trong quản lý
Năng lực quản lý dự án tốt thì hiệu quả quản lý dự án sẽ đạt kết quả cao Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả
đó trong những điều kiện nhất định
Hiệu quả trong quản lý là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án hành động Hiệu quả được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau chẳng hạn như : Hiệu quả tổng hợp là phản ánh kết quả thực hiện mọi mục tiêu mả chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với
Trang 3334
chi phí để có những kết quả đó Hiệu quả tổng hợp bao gồm : Hiệu quả kinh
tế mô tả mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà chủ thể nhận được và chi phí bỏ
ra để nhận được lợi ích kinh tế đó Hiệu quả chính trị xã hội là hiệu quả mà chủ thể nhận được trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội Hiểu quả trực tiếp là hiệu quả được xem xét trong phạm vi chỉ một dự án Hiệu quả gián tiếp là hiệu quả mà một đối tượng nào đó tạo ra một đối tượng khác như việc xây dựng một dự án này có thể kéo theo việc xây dựng hàng loạt những dự án khác Hiệu quả của dự án đang xem xét là hiệu quả trực tiếp còn hiệu quả của các dự án khác là hiệu quả gián tiếp Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối là hai hình thức biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Trong đó, hiệu quả tuyệt đối được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí, còn hiệu quả tương đối được đo bằng tỉ số giữa kết quả và chi phí
Hoạt động của dự án là hoạt động có kế hoạch, được kiểm tra để đảm bảo cho một tiên trình chung với các nguồn lực và môi trường đã được tính toán nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định Dự án là điều kiện, tiền đề của sự đổi mới và phát triển Dự án cho phép hướng mọi sự nỗ lực có thời hạn để tạo ra một sản phẩm trên con đường phát triển của đất nước Dự án là một phương thức hoạt động có hiệu quả Có 5 nội dung cơ bản để phân tích hiệu quả của một dự án đó là :
Nội dung 1 là xác định mục tiêu : Mục tiêu thường là sự phát biểu tổng quát nhằm định hướng cho việc ra quyết định đầu tư Mục tiêu của dự
án thể hiện những lợi ích mà dự án cần đạt được Từ mục tiêu cần diễn đạt thành những mục tiêu chuẩn hiệu quả để đo mức độ đạt được mục tiêu của các phương án đem so sánh ;
Nội dung 2 là thiết lập chỉ số hiệu quả Trong phân tích kinh tế các dự
án, chỉ số đo hiệu quả thường có tính chất là giá trị của độ đo càng lớn (hoặc càng bé), phương án càng có lợi và khi nó lớn hơn (hoặc bé hơn) một giá trị chuẩn nào đó thì phương án được hiểu là có lợi về mặt kinh tế ;
Nội dung 3 là xây dựng các phương án Một vấn đề rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả dự án là xây dựng được các phương án Trước
Trang 34hết cần xây dựng tất các các phương án có thể có, phân loại chúng và chỉ để lại một số những phương án nhất định
Nội dung 4 là đánh giá các phương án hay có thể hiểu rằng cần phải phân tích dự án sau khi có đầy đủ các phương án và tiêu chuẩn hiệu quả để đánh giá chi phí và kết quả đạt được của phương án Đây chính là việc áp dụng các phương pháp khác nhau trong việc khẳng định tính có ích của một phương án nào đó theo những nhiệm vụ đặt ra
Nội dung 5 là việc lựa chọn các phương án là khi số phương án ít và các mục tiêu có thể phân tích được chỉ số hiệu quả
1.3.2 Yêu cầu đổi mới về phương thức quản lý thực hiện các dự án về giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Đổi mới về phương thức quản lý thực hiện các dự án về giáo dục trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề hết sức thiết thực và cần thiết trong giai đoạn hiện nay Phương thức quản lý thực hiện các dự án hiện nay đòi hỏi không được nguyên tắc quá và phải sáng tạo theo sự biến động của xã hội Các nhà quản lý dự án có phương pháp là người biết đặt ra các câu hỏi tương ứng, thích hợp khi được nhận nhiệm vụ như :
- Giám sát và đánh giá hiệu quả đầu tư ;
- Khả năng và phát triển dự án tiếp theo
Trang 3536
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc đổi mới các phương thức quản lý thực hiện các dự án giáo dục có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA)
Một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới việc đổi mới phương thức quản lý thực hiện các dự án giáo dục có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) đó là :
- Chính sách của Nhà nước về thu hút và sử dụng các nguồn vốn ODA
và mục tiêu đạt được của mỗi dự án ;
- Phân cấp, uỷ quyền quản lý dự án ;
- Lịch trình thực hiện dự án ;
- Sản phẩm của dự án
1.3.4 Vai trò của việc đổi mới các phương thức thực hiện các dự án về giáo dục có hiệu quả hơn
Vai trò của việc đổi mới phương thức thực hiện các dự án về giáo dục
có hiệu quả hơn ở tầm vĩ mô được hiểu là quản lý của Nhà nước đối với các
dự án nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất với một nguồn lực hạn chế của đất nước trong thời kỳ đang phát triển của đất nước, bảo đảm định hướng thống nhất cho dự án trong phạm vi quốc gia, trong phạm vi ngành và địa phương đổi mới phương thức thực hiện dự án tạo điều kiện thuận lợi về kinh tế, chính trị, xã hội để các dự án được hình thành, thực hiện và phát huy hiệu quả và bảo đảm các chủ dự án thực hiện đúng pháp luật về đầu tư và quản lý dự án Vai trò ở tầm quản lý vi mô là bảo đảm sự liên kết trong tất cả các hoạt động của dự án trên cơ sở thực hiện rất nhiều chức năng trong quản
lý dự án Bảo đảm phát hiện sớm và giải quyết nhanh chóng các khó khăn, vướng mắc nảy sinh Bảo đảm thời gian xây dựng và thực hiện dự án cũng như việc bảo đảm nguồn ngân sách chi cho hoạt động của dự án được chi tiêu đúng mục đích dự án Và cuối cùng là sản phẩm của Dự án đạt được
Trang 36chất lượng cao và được sử dụng có hiệu quả trong nhu cầu phát triển của xã hội
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THỰC HIỆN DỰ
ÁN TẠI DỰ ÁN ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
2.1 Vài nét về Dự án Đào tạo giáo viên Trung học cơ sở
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ
Dự án Đào tạo giáo viên được Chính phủ phê duyệt ngày 23/5/2000 theo quyết định số 494/QĐ-TTg về việc phê duyệt dự án Đào tạo giáo viên THCS Và ngày 28/6/2000, Chính phủ Việt Nam đã chính thức ký kết hiệp định vay với ADB tại khoản vay số 1718-VIE (SF)
Tên dự án: Dự án Đào tạo giáo viên THCS;
Cơ quan quản lý thực hiện Dự án: Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Cơ quan thực hiện: Ban điều hành Dự án đào tạo giáo viên trung học cơ
sở
Hiệp định tín dụng số: 1718 VIE (SF) ngày 28 tháng 6 năm 2000
Ngày Hiệp định có hiệu lực: ngày 21 tháng 9 năm 2000
Ngày kết thúc hoạt động Dự án: 30/9/2007 (Mới được gia hạn)
Ngày khóa sổ khoản vay: 31/3/2008
Tổng vốn đầu tư: 35,4 triệu USD, tương đương 493,3 tỷ đồng
Nguồn vốn:
- Vốn vay ADB : 25 triệu USD;
- Vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ New Zealand: 0,4 triệu USD
- Vốn đối ứng trong nước: 10 triệu USD
Dự án Đào tạo giáo viên thực hiện các chức năng và nhiệm vụ chính như sau:
Trang 3738
Nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả của hệ thống đào tạo giáo viên THCS trong cả nước bao gồm: Chỉnh lý chương trình CĐSP đào tạo giáo viên THCS; biên soạn lại giáo trình giảng dạy chương trình CĐSP, cung cấp giáo trình, tàI liệu giảng dạy cho các trường CĐSP; xây dựng cơ chế kiểm định, đánh giá ngoài về chất lượng đào tạo cho các trường CĐSP; nâng cấp và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giảng dạy của các trưởng CĐSP đáp ứng được yêu cầu của chương trình đào tạo mới theo yêu cầu của chương trình THCS mới
Khắc phục một phần tình trạng phát triển không đều về số lượng và chất lượng trong đào tạo giáo viên Trung học cơ sở giữa các vùng Trang thiết bị
và chất lượng đầu vào của 10 trường CĐSP thuộc 10 tỉnh đặc biệt khó khăn
Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Thanh Hoá, Quảng Nam, Quảng NgãI, Bình Định, Bình Phước, Trà Vinh và Sóc Trăn Tăng cường cơ sở vật chất và chất lượng đầu vào của 10 trường CĐSP thuộc 10 tỉnh đặc biệt khó khăn bằng cách xây dựng khu hỗ trơ học tập, cung cấp trang thiết bị và chương trình tạo nguồn để cải thiện chất lượng đầu vào dành cho học sinh dân tộc thiểu
số
Nâng cao năng lực tổ chức quản lý của các cơ quan các cấp tham gia vào công tác đào tạo giáo viên THCS Tăng cường năng lực thể chế liên quan tới hoạt động đào tạo giáo viên hệ chính quy bằng cách đào tạo kỹ năng quản lý và kỹ thuật cho những cán bộ có liên quan ở cơ quan trung ương và địa phương để hỗ trợ thực hiện và duy trì cải cách thông qua việc đào tạo nâng cao, đào tạo lại, học tập, tham quan, khảo sát
2.1.2 Bối cảnh và quá trình hình thành Dự án Đào tạo giáo viên Trung học cơ sở
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về định hướng chiến lược phát triển Giáo dục và Đào tạo
Trang 38đến năm 2000 đã nêu rõ : “Cùng với khoa học - công nghệ, Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu“
Xuất phát từ nhận thức sâu sắc Giáo dục và Đào tạo là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội; muốn tiến hành thắng lợi Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải phát triển mạnh Giáo dục và Đào tạo, phát huy
nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển mạnh và bền vững; Đầu
tư cho Giáo dục là đầu tư cho phát triển; Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn coi trọng phát triển Giáo dục
Một sự kiện hết sức trọng đại là ngày 2-12-1998 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Giáo dục tạo ra môi trường pháp lí để nền giáo dục phát triển một các ổn định, bền vững Từ 1.6.1999 Luật Giáo dục đã có hiệu lực
Việc triển khai dự án phát triển giáo dục THCS
Từ 6/1998 dự án phát triển giáo dục THCS được triển khai Một nhiệm vụ quan trọng của dự án là tổ chức biên soạn chương trình và sách giáo khoa mới cho cấp THCS để tạo sự đổi mới cùng với bậc tiểu học và trung học phổ thông Chương trình và sách giáo khoa mới khắc phục tình trạng quá tải, hàn lâm, nặng về lí thuyết của chương trình hiện hành Chương trình và sách giáo khoa mới chú trọng sự tích hợp, tính thực hành tạo khả năng thích ứng với cuộc sống của học sinh Bên cạnh đó yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học cũng được nhấn mạnh Dự án sẽ triển khai bồi dưỡng cho hơn 180.000 giáo viên THCS để có thể dạy được chương trình và sách giáo khoa THCS mới
Do đó, dự án đặt ra yêu cầu cấp bách là phải biên soạn lại chương trình, giáo trình CĐSP, nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy học mới trong trường CĐSP
Sau quá trình sắp xếp, cả nước còn 89 trường Sư phạm trong số khối
Sư phạm địa phương có 65 trường, khối Sư phạm trực thuộc có 24 trường
Trang 3940
Việc đào tạo giáo viên THCS được Bộ GD&ĐT phân cấp cho các tỉnh ngoại trừ một vài ngoại lệ: trường CĐSP Nhạc Hoạ TW đào tạo giáo viên cho cả nước, trường CĐSP thể dục TW1 đào tạo cho các tỉnh phía Bắc, trường CĐSP Thể dục TW2 đào tạo cho các tỉnh phía Nam, trường CĐSP Tây Bắc đào tạo cho 2 tỉnh Sơn La và Lai Châu
Giáo viên THCS nói chung được đào tạo trong các trường SP của Tỉnh theo chương trình đào tạo và theo các qui chế do Bộ GD & ĐT Ban hành
Năm học 1997 –1998 có 43 tỉnh đã có trường CĐSP Tất cả các trường này đào tạo giáo viên theo chương trình CĐSP 12+3 (chuẩn đào tạo của giáo viên THCS), đào tạo giáo viên tất cả các bộ môn văn hoá có trong
kế hoạch giảng dạy của trường THCS
Chỉ một số trường có điều kiện mới đảm nhận được việc đào tạo giáo viên các loại hình đặc thù (Nhạc, Họa, Thể dục, Kỹ thuật )
18 tỉnh còn lại chỉ có trường THSP (chủ yếu là các tỉnh mới tái lập hoặc vùng núi, vùng sâu vùng xa) Các trường THSP đào tạo giáo viên THCS hoặc theo hệ THSP 12+2, hoặc hợp đồng với một trường CĐSP để đào tạo theo chương trình CĐSP (sinh viên học ở trường THSP, CBGD trường CĐSP đến dạy hoặc phân công cho CBGD của trường THSP phụ trách một phần Việc tuyển sinh kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo và cấp bằng do trường CĐSP đảm nhiệm)
Xu hướng chung hiện nay là các trường THSP muốn liên kết đào tạo giáo viên THCS ở trình độ CĐSP, dù hình thức này tốn kém, phiền phức và việc dạy bị dồn ép do mời giáo viên nơi khác đến giảng đã ảnh hưởng đến sự tiếp thu của sinh viên Bởi vì bên cạnh các nhược điểm đó, việc đào tạo theo chương trình CĐSP lại có các ưu thế như; chất lượng cao hơn THSP; giáo viên đào tạo ra đạt chuẩn, không phải chuẩn hoá; CBGD của trường THSP được tập dượt giảng dạy theo chương trình CĐSP, cán bộ quản lý trường THSP được làm quen với cách quản lý trường CĐSP
Hình thức hợp đồng đào tạo chỉ thuận lợi đối với các bộ môn văn hoá
là những môn mà điều kiện đào tạo dễ đáp ứng hơn
Trang 40Đối với một số tỉnh mà nhu cầu giáo viên THCS quá căng thẳng, việc đào tạo bậc CĐSP có thể theo công đoạn nếu được Bộ đồng ý: sau hai năm học sinh viên ra dạy để khắc phục tình trạng thiếu giáo viên, năm thứ ba sẽ học trong hai ba hè tiếp theo
Tại thời điểm đó, các trường THSP còn lại đều đang tích cực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và nâng cao trình độ đội ngũ CBGD để sớm được Chính Phủ nâng cấp lên thành trường CĐSP Theo kế hoạch của Bộ GD-ĐT, đến năm 2000, mỗi tỉnh có một trường CĐSP
Chương trình mục tiêu "Xây dựng đội ngũ giáo viên và trường Sư phạm"
Từ năm 1994, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện chương trình mục
tiêu "Xây dựng đội ngũ giáo viên và trường Sư phạm" Trong 5 năm qua
(1994 - 1998) Nhà nước đã đầu tư 637 tỷ cho chương trình này và sẽ tiếp tục đầu tư trong các năm 1999 và 2000
Chương trình đã chú ý đầu tư xây dựng khu lớp học, khu ký túc xá để nhanh chóng nâng số chỗ đào tạo trong hệ thống trường Sư phạm lên 120.000 vào năm 1998 và dự kiến đạt 140.000 vào năm 2000 Nhờ thế qui
mô đào tạo của trường Sư phạm tăng lên không ngừng, chỉ tiêu tuyển sinh ngày một cao hơn Năm 1997 tuyển sinh vào các trường Sư phạm tăng thêm 12.335 người so với năm 1996
Một nội dung khác là việc xây dựng các chương trình chuẩn cho các
hệ Sư phạm mầm non, tiểu học, THCS Năm 1996, chương trình CĐSP đào tạo giáo viên THCS được ban hành Lần đầu tiên các chương trình ĐHSP âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục được xây dựng Đã tổ chức biên soạn 35.000 tiết giáo trình cho các hệ Sư phạm mầm non, tiểu học với hàng vạn trang bản thảo Tuy nhiên giáo trình cho CĐSP đào tạo giáo viên THCS mới được biên soạn một số học phần Đây là hệ Sư phạm thiếu nhiều giáo trình nhất
Đội ngũ CBGD của các trường SP