1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp tăng cường quản lí nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn Hà Nội hiện nay

122 945 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà quản lý đang phải đối mặt trước những yêu cầu cấp thiết: Cần tăng cường hơn nữa vai trò chỉ đạo của cơ quan QLNN về dạy nghề, phát huy hơn nữa vai trò và vị thế của cơ quan QLNN,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

NGUYỄN LAN HƯƠNG

CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ

TRấN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

NGUYỄN LAN HƯƠNG

CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ TRấN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN Lí GIÁO DỤC

Chuyờn ngành: QUẢN Lí GIÁO DỤC

Mó số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tiến Đạt

HÀ NỘI - 2008

Trang 3

Lời cảm ơn

Sau hai năm được tham gia khoá học thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục tại Khoa Sư phạm - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, đến nay tôi đã hoàn thành khoá học

Có được thành quả ngày hôm nay, trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Sư phạm, các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy và truyền lại cho tôi những kiến thức bổ ích phục vụ cho công việc và học tập của tôi cũng như những ý kiến đóng góp cho bài luận văn của tôi được hoàn chỉnh

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Tiến Đạt, người đã tận tình hướng dẫn tôi từ khi hình thành đến khi hoàn thiện luận văn này

Xin cảm ơn gia đình đã tạo điều kiện về thời gian, tinh thần và vật chất

để tôi được tham gia khoá học

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội - 2008

Tác giả

Nguyễn Lan Hương

Trang 4

mục lục

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

6 Giả thiết khoa học 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 4

9 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về dạy nghề 5

1.1 Các khái niệm 5

1.1.1 Quản lý 5

1.1.2 Quản lý giáo dục 10

1.1.3 Dạy nghề 12

1.1.4 Một số vấn đề cơ bản về quản lý hành chính nhà nước 14

1.2 Quản lý nhà nước về dạy nghề 23

1.2.1 Vai trò, vị trí của dạy nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 23

1.2.2 Quan điểm, phương hướng chính sách và mục tiêu của Nhà nước về dạy nghề 27

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về dạy nghề 33

Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội 35

2.1 Sự phát triển của Hệ thống dạy nghề ở Việt Nam 35

Trang 5

2.2 Một số nét về địa bàn nghiên cứu 37

2.2.1 Đặc điểm về vị trí địa lý, kinh tế, xã hội của Hà Nội và yêu cầu của quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội 37

2.2.2 Các nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề của Hà Nội (Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội) 38

2.3 Những thành tựu về dạy nghề ở Việt Nam 39

2.4 Thực trạng quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2001 - 2006 43

2.4.1 Kết quả dạy nghề trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2001 - 2006 43

2.4.2 Kết quả đạt được trong lĩnh vực quản lý nhà nước về dạy nghề giai đoạn 2001 - 2006 50

2.4.3 Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân 54

2.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dạy nghề ở một số nước trên thế giới 61

Chương 3 Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội 68

3.1 Kế hoạch phát triển dạy nghề đến 2010 68

3.1.1 Mục tiêu 68

3.1.2 Quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề 68

3.2 Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về dạy nghề 70

3.2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển dạy nghề 70

3.2.2 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về dạy nghề 79

3.2.3 Qui định mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp dạy nghề; tiêu chuẩn giáo viên dạy nghề; danh mục nghề đào tạo ở các cấp trình độ; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị; qui chế tuyển sinh và cấp bằng, chứng chỉ nghề 80

Trang 6

3.2.4 Tổ chức thực hiện kiểm định chất lượng dạy nghề 83

3.2.5 Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động dạy nghề 83

3.2.6 Tổ chức bộ máy quản lí dạy nghề 85

3.2.7 Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lí dạy nghề 86

3.2.8 Huy động, quản lí và sử dụng các nguồn lực để phát triển dạy nghề 89

3.2.9 Tổ chức, chỉ đạo công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ về dạy nghề 94

3.2.10 Tổ chức, quản lí công tác hợp tác quốc tế về dạy nghề 95

3.2.11 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về dạy nghề; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về dạy nghề 96 3.3 Thăm dò ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 97

Kết luận và khuyến nghị 102

1 Kết luận 102

2 Khuyến nghị 102

Tài liệu tham khảo 106 Phụ lục

Trang 7

Hiện đại hoá Hội đồng nhân dân

Cơ quan kế hoạch giáo dục quốc tế của UNESCO

Tổ chức lao động thế giới Lao động Thương binh và Xã hội Nhà xuất bản

Phó giáo sư Quản lý giáo dục Quản lý hành chính Quản lý hành chính nhà nước Quản lý nhà nước

Trung học cơ sở Trung học chuyên nghiệp Trung học phổ thông Tiến sĩ

Uỷ ban nhân dân

Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục liên hợp quốc

Xã hội chủ nghĩa

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Tại Đại hội IX, Đảng đã định hướng phát triển GD&ĐT đến năm 2010 là: "Tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển GD&ĐT" Định hướng này đã được cụ thể hoá trong mục tiêu của Chiến lược phát triển giáo dục 2001 -

2010 với những nội dung chủ yếu là tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đẩy nhanh tiến độ thực hiện phổ cập THCS, đổi mới mục tiêu, nội dung phương pháp, chương trình giáo dục các cấp bậc học và trình độ đào tạo

Để đạt được các mục tiêu trên, cần tập trung thực hiện một hệ thống giải pháp đồng bộ có liên quan đến nguồn lực của giáo dục, động lực của đội ngũ, hiệu lực của bộ máy và năng lực của hệ thống Trong đó, đổi mới chương trình giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo là các giải pháp trọng tâm; đổi mới QLGD là khâu đột phá

Trong giai đoạn mới của sự nghiệp phát triển giáo dục, với bối cảnh quốc

tế hiện nay có nhiều thời cơ và thách thức, trước những yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội và xu thế hội nhập, đặc biệt khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO thì vấn đề chất lượng nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng Đội ngũ lao động có chuyên môn, tay nghề tốt, ứng dụng công nghệ tiên tiến sẽ đảm bảo năng suất lao động cao, sản xuất ra hàng hoá chất lượng tốt, đủ sức cạnh tranh với hàng hoá của các nước khác trên thị trường Yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ đặt ra đối với những người làm quản lý nói chung và công tác GDNN nói riêng Theo yêu cầu đặt ra của Chính phủ, năm 2010 đạt tỷ lệ lao động qua dạy nghề là 50%; với chất lượng đào tạo đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động trong nước và hội nhập quốc tế

Trang 9

Hiện nay, các văn bản nhà nước với các chính sách dành cho QLNN về dạy nghề cũng dần được hoàn thiện, Luật Dạy nghề cũng đã được ban hành điều đó chứng tỏ sự quan tâm của xã hội đến vấn đề dạy nghề, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đã được quan tâm

Tuy nhiên những hạn chế về số lượng, chất lượng dạy nghề, và đặc biệt

là sự QLNN về dạy nghề còn nhiều yếu kém và bất cập Bên cạnh đó sự nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc học nghề còn hạn chế, vẫn còn

sự đề cao việc học đại học và cao đẳng khiến cho tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” vẫn còn nặng nề trong xã hội ta, thực ra ở nước ta hiện nay “thiếu thầy giỏi, thiếu thợ giỏi” và thợ thiếu nhiều hơn Việc chấp hành sự QLNN ở các CSDN còn yếu kém, còn có hiện tượng coi thường các qui định trong hoạt động dạy nghề Cơ quan QLNN về dạy nghề còn mỏng về số lượng và yếu về chuyên môn làm hạn chế việc giám sát và chỉ đạo các CSDN

Thực trạng và nhiệm vụ trên đã đặt ra cho ngành dạy nghề nhiệm vụ rất nặng nề: Đòi hỏi phải có sự chuyển biến cơ bản toàn diện cả về số lượng và chất lượng dạy nghề; đồng thời thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp về QLNN đối với các CSDN nói riêng và đối với toàn bộ hệ thống dạy nghề nói chung Các nhà quản lý đang phải đối mặt trước những yêu cầu cấp thiết: Cần tăng cường hơn nữa vai trò chỉ đạo của cơ quan QLNN về dạy nghề, phát huy hơn nữa vai trò và vị thế của cơ quan QLNN, cần chú trọng thực hiện một số giải pháp nhằm tăng số lượng học sinh học nghề, CSDN, nâng cao chất lượng tay nghề cho học sinh khi tốt nghiệp ra trường và hiệu quả dạy nghề khi học sinh đi làm thực tế, thực hiện việc tuyên truyền trong xã hội và đề xuất phương

án phân luồng hệ thống giáo dục để cân bằng giữa “thầy” và “thợ” mới có khả năng thực hiện thắng lợi mục tiêu trên, đảm đương được sứ mệnh trong giai đoạn tới

Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng QLNN về dạy nghề là một nhu cầu thiết yếu; thông qua đó xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp

Trang 10

nhằm nâng cao vai trò QLNN về dạy nghề, góp phần nâng cao chất lượng dạy nghề trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước

Do đó, tôi lựa chọn đề tài: "Các giải pháp tăng cường QLNN về đào tạo

nghề trên địa bàn Hà Nội hiện nay" cho luận văn tốt nghiệp khoá học cao

học QLGD của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

Cho đến nay đã có nhiều cuộc hội thảo, đề tài, đề án về GD&ĐT, về dạy nghề, có nhiều nghiên cứu về giáo dục đào tạo trong đó liên quan trực tiếp và gián tiếp đến dạy nghề nhưng chưa có nghiên cứu sâu riêng về các giải pháp QLNN về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tìm một số giải pháp QLNN trong lĩnh vực dạy nghề nhằm chuyển biến cơ bản việc QLNN về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội trong công cuộc CNH - HĐH đất nước và trong bối cảnh hội nhập với quốc tế

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu: QLNN về dạy nghề

- Khảo sát, đánh giá thực trạng về QLNN về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội qua thực tế tại Sở LĐ-TB&XH Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp về QLNN về dạy nghề để áp dụng cho Sở LĐ-TB&XH Hà Nội, từ đó có thể đóng góp một phần vào công tác quản lý dạy nghề của toàn ngành dạy nghề nói chung

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động QLNN về dạy nghề

- Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp tăng cường QLNN về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội

6 Giả thuyết khoa học

Nếu thực hiện đầy đủ các giải pháp đã đề xuất (như kiện toàn bộ máy quản lý cả về số lượng và chất lượng; tăng cường sự kiểm tra giám sát hoạt

Trang 11

động của các CSDN công lập và ngoài công lập) thì sẽ tăng cường được

QLNN về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm thu thập những cơ sở lý thuyết liên quan đến chủ đề nghiên cứu, các chủ trương chính sách, thông tin, số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phi thực nghiệm như quan sát sự liên hệ trong công tác giữa các nhà quản lý với các CSDN, sự hoạt động của các CSDN; điều tra bằng phiếu hỏi hoặc phỏng vấn đối với các đối tượng có liên quan đến vấn

đề nghiên cứu

- Phương pháp xử lý thông tin: xử lý thông tin từ kết quả điều tra

Trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, đánh giá và đúc kết được các vấn đề

lý luận và thực tiễn phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài

8 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu vấn đề QLNN về dạy nghề (qua hoạt động QLNN

về dạy nghề trên địa bàn Thành phố Hà Nội của Sở LĐ-TB&XH Hà Nội) trong giai đoạn hiện nay

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận Quản lý nhà nước về dạy nghề

Chương 2: Thực trạng Quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội

Chương 3: Các giải pháp tăng cường Quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn Hà Nội

Trang 12

Chương 1: Cơ sở lý luận Quản lý nhà nước về Dạy nghề

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Quản lý

1.1.1.1 Khái niệm chung

Khái niệm quản lý đã hình thành rất lâu và ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành; khái niệm quản lý ngày càng được hoàn thiện Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý, quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội ở cả tầm vĩ mô và vi mô; chính vì lẽ đó trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng lên và phát triển Các Mác viết: "Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần tìm đến một sự chỉ đạo

để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một nghệ sĩ độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [25, tr 21]

Có nhiều khái niệm về quản lý theo các quan điểm khác nhau

- Theo quan điểm triết học, quản lý được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan để đạt mục tiêu nào đó

- Theo quan điểm kinh tế của F.Taylor (1956 - 1915): "Quản lý là cải tạo mối quan hệ giữa người với người, giữa người với máy móc" và "quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất" [29, tr 13]

Trang 13

- Theo quan điểm chính trị xã hội: "Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế , bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng" [26, tr 19]

- Theo quan điểm của hệ thống: Toàn thể thế giới vật chất đang tồn tại, mọi sự vật, hiện tượng là một chỉnh thể, một hệ thống Trong công tác điều hành xã hội thì quản lý cũng vậy, cũng là một hệ thống Theo quan điểm này thì quản lý là một đơn vị với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đề ra trong quá trình hoạt động

"Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi môi trường" [46, tr 38]

- Theo Henry Fayol (1994 - 1925) - nhà kinh tế học và chỉ đạo thực tiễn, trong quyển "quản lý chung và quản lý công nghiệp ": QLHC là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp kiểm tra [29, tr 15]

- Còn có một vài quan điểm thường gặp khác như:

+ Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc như thế nào? đánh giá

+ Quản lý là những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức, nhóm để đạt được mục tiêu

+ Quản lý là quá trình cùng làm việc của các cá nhân để hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức, nhóm

+ Quản lý là nghệ thuật đạt mục tiêu đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, chỉ huy hoạt động của người khác

- Qua những định nghĩa trên ta có thể hiểu:

Trang 14

+ Quản lý là sự tác động có tổ chức, có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt đến mục đích đúng với ý chí của nhà quản lý phù hợp với yêu cầu khách quan

Chủ thể quản lý và khách thể quản lý:

+ Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức, bộ máy

+ Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể như; đoàn xe, môi trường, thiên nhiên, vừa có thể là sự việc: Các quá trình, các hoạt động

Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý

Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp

lý các tác động nhằm đạt mục tiêu Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức và lao động Xét dưới góc độ điều khiển học, hành động quản lý chính là quá trình điều khiển, sắp xếp, tác động làm cho đối tượng quản lý thay đổi trạng thái (từ lộn xộn thành trật tự theo ý chí và mục tiêu của nhà quản lý)

Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng quản lý (đặc biệt là con người) thì phải có cơ chế quản lý đúng

Cơ chế quản lý là phương thức vận hành hệ thống hoạt động quản lý mà nhờ đó quản lý được diễn ra, chỉ đạo quan hệ tương tác giữa chủ thể và khách thể quản lý được thực hiện (vận hành và phát triển)

Để thực hiện quá trình quản lý phải có các điều kiện, phương tiện quản

lý Đó không chỉ là máy móc, kỹ thuật mà còn là nhân cách của nhà quản lý (phẩm chất, năng lực)

Kết quả quản lý là sản phẩm kép, nghĩa là quá trình quản lý, đối tượng quản lý phát triển và phẩm chất năng lực của nhà quản lý cũng phát triển

Sơ đồ 1.1 Quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý

Trang 15

1.1.1.2 Các chức năng quản lý

Henry Fayol coi "Chức năng quản lý là nhóm hoạt động để hoàn thành quản lý" "Chức năng quản lý là loại hình đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩm của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá việc quản lý" [29, tr 15]

Chức năng quản lý là những nội dung và phương thức hoạt động cơ bản

mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý trong quá trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý

Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý Chức năng quản lý được qui định một cách khách quan bởi hoạt động của khách thể quản lý

Có nhiều cách phân loại các chức năng quản lý [28] :

+ Henry Fayol đã đưa ra 5 chức năng sau đây mà người ta gọi là 5 yếu tố của Henry Fayol: Kế hoạch hoá, tổ chức, ra lệnh, phối hợp, kiểm tra và đánh giá + Trong quyển "Cơ sở của khoa học quản lý" của Nxb Chính trị quốc gia, xuất bản năm 1997, có nêu các chức năng cơ bản của quản lý gồm:

Đối tượng quản lý

Trang 16

 Kiểm tra, hạch toán

+ Gần đây sau khi gộp một số chức năng lại, người ta cho rằng quản lý

có 4 chức năng cơ bản là 4 khâu có liên quan mật thiết với nhau, đó là:

Kế hoạch hoá: là việc xác định mục tiêu, mục đích, xác định các hoạt động và những biện pháp trong thời gian xác định nhằm đạt mục tiêu dự định

Tổ chức: là quá trình hình thành nên những cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, bộ phận nhằm đạt mục tiêu kế hoạch Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối nguồn lực, vật lực, nhân lực Chỉ đạo: Đó chính là phương thức tác động của chủ thể quản lý Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành để đạt mục tiêu của tổ chức

Kiểm tra: Thông qua một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, theo dõi giám sát thành quả lao động, tiến hành uốn nắn, sửa chữa những hoạt động sai Đây chính là quá trình tự điều chỉnh của hoạt động quản lý

Với những chức năng đó, quản lý có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội Nó nâng cao hiệu quả của hoạt động, đảm bảo trật tự, kỷ cương

bộ máy và nó là nhân tố tất yếu của sự phát triển

1.1.1.3 Mục tiêu quản lý

Mục tiêu quản lý là thể hiện ý chí của nhà quản lý (chủ thể) đồng thời phải phù hợp với sự vận động và phát triển của các yếu tố có liên quan Các yếu tố có liên quan đến quản lý là:

Yếu tố xã hội - môi trường: Là yếu tố con người cùng hoàn cảnh của họ Trong quản lý phải nắm đặc điểm chung nhất của con người đó là những đặc điểm: tâm sinh lý lứa tuổi, giới tính đặc biệt về đặc điểm dân tộc, giai cấp, đặc điểm vùng miền, địa phương

Yếu tố chính trị - pháp luật: Là chế độ chính trị, chế độ sở hữu, hệ thống luật pháp liên quan đến cơ chế quản lý

Yếu tố tổ chức: Là khoa học thiết lập mối quan hệ giữa các bộ phận, thành phần trong bộ máy Trong đó tổ chức nhân sự vẫn là vấn đề cốt lõi

Trang 17

Yếu tố quyền uy: Quyền uy chính là quyền lực và uy tín của nhà quản lý Đây là công cụ đặc biệt của nhà quản lý Quyền uy vừa do cơ chế quản lý vừa

do nhân cách của nhà quản lý tạo nên

Yếu tố thông tin: Đó vừa là tin tức vừa là mối liên hệ (liên lạc), thông tin

là cơ sở giúp nhà quản lý đề ra các quyết định để tác động tới đối tượng quản

lý Thông tin đầy đủ, chính xác thì tác động quản lý có hiệu quả

Tóm lại, quản lý là sự tác động có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các quá trình và các hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với các qui luật khách quan

1.1.2 Quản lý giáo dục

1.1.2.1 Khái niệm QLGD [26]

Nhà nước quản lý mọi hoạt động, trong đó có các hoạt động giáo dục Vậy QLGD là tập hợp những tác động hợp qui luật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ

Khái niệm về QLGD, cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng

cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung bản chất

QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội

- Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường, QLGD nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ và đối với từng học sinh" [34, tr 27]

- Theo Nguyễn Ngọc Quang: "QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường

Trang 18

XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến đến trạng thái về chất [48, tr 34] Trong khái niệm QLGD cũng bao gồm:

+ Chủ thể quản lý: Bộ máy QLGD các cấp

+ Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học

+ Quan hệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy, quan hệ giữa người quản lý và người dạy, người học; quan hệ giữa giáo giới, cộng đồng, Các mối quan hệ đó ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, chất lượng hoạt động của nhà trường, của toàn bộ hệ thống giáo dục

Nội dung QLGD bao gồm một số vấn đề cơ bản: xây dựng và chỉ đạo thực hiện chính sách chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục; ban hành tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất thiết bị trường học; tổ chức bộ máy QLGD; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên; huy động quản lý sử dụng các nguồn lực

- Chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh tế-

xã hội Như vậy, QLGD là hoạt động điều hành các nhà trường để giáo dục vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế

Từ hai chức năng tổng quát trên, QLGD phải quán triệt, gắn bó với bốn chức năng cụ thể là:

 Kế hoạch hoá

 Tổ chức

 Chỉ huy điều hành

Trang 19

 Kiểm tra

Hệ thống QLGD nhà trường hoạt động trong động thái đa dạng, phức tạp QLGD là quản lý các mục tiêu vừa tương minh vừa trong mối tương tác của các yếu tố chủ đạo:

 Mục tiêu đào tạo

 Nội dung đào tạo

 Phương pháp đào tạo

 Lực lượng đào tạo

 Đối tượng đào tạo

 Hình thức tổ chức đào tạo

 Điều kiện đào tạo

 Môi trường đào tạo

 Quy chế đào tạo

 Bộ máy tổ chức đào tạo

QLGD cũng là quá trình xử lý các tình huống có vấn đề phát sinh trong hoạt động tương tác của các yếu tố trên, để nhà trường phát triển, đạt tới chất lượng tổng thể bền vững, làm cho giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh của nền kinh tế

1.1.3 Dạy nghề (Đào tạo nghề)

Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc

tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học [11, tr 9]

Đào tạo nghề là một quá trình có mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và chịu sự tác động trực tiếp của nhiều yếu tố trong quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội Trong vài thập kỉ gần đây, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển với gia tốc cao, đã đưa ra những sản phẩm mới

mẻ với hiệu quả đáng kinh ngạc Sự bùng nổ thông tin và giao lưu văn minh nhân loại đã rút ngắn khoảng cách phát triển trí tuệ giữa các quốc gia, các thế

Trang 20

hệ Nền kinh tế - xã hội đang thừa hưởng các sản phẩm trên và biến chúng thành động lực thúc đẩy mạnh mẽ nhịp độ tăng trưởng của mình Trong điều kiện ấy, quá trình đào tạo nghề đang đứng trước những yêu cầu bức thiết: phải đáp ứng những đòi hỏi mới mẻ của sự phát triển kinh tế - xã hội hiện tại và tương lai [49, tr 129]

Đào tạo nghề là sự nghiệp của toàn xã hội, nhằm mục tiêu phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước và xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam [41, tr 1]

Quá trình đào tạo nghề là quá trình giáo dục tiếp tục thế hệ trẻ ở phổ thông và hình thành nhân cách người lao động kĩ thuật tương lai phát triển hài hoà, toàn diện nhằm đáp ứng với chất lượng cao những yêu cầu ngày càng mới mẻ của phát triển kinh tế - xã hội [49, tr 129]

Hình thức đào tạo nghề khá phong phú và đa dạng: Đào tạo dài hạn và ngắn hạn; đào tạo chính quy và không chính quy; đào tạo tại cơ sở sản xuất dịch vụ hoặc tại các trường, trung tâm dạy nghề, đào tạo từ xa, thông qua các kênh truyền hình, băng video hoặc phần mềm vi tính về dạy nghề v.v…Chương trình đào tạo được thiết kế theo truyền thống, thể hiện ở hệ thống các môn học, thực hành hoặc theo các môđun nghề, nhằm tạo tính linh hoạt, thiết thực, đáp ứng việc học tập có hiệu quả trước mắt và tạo điều kiện cho người lao động vừa có thể hành nghề, vừa tiếp tục học tập nâng cao trình

độ của mình theo phương châm học tập suốt đời

Hệ thống dạy nghề được hình thành do yêu cầu của thị trường lao động

và nhu cầu hoạt động nghề nghiệp, nhu cầu làm việc của người lao động trong

xã hội Hệ thống dạy nghề nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất

và quan hệ trực tiếp với các lĩnh vực ngành nghề trong nền kinh tế – xã hội quốc dân

Mục tiêu của hệ thống dạy nghề là cung cấp cho xã hội, cho thị trường lao động những CNKT, nhân viên kỹ thuật có trình độ, năng lực hành nghề

Trang 21

thể hiện ở các kiến thức, kĩ năng, thái độ nghề nghiệp và kinh nghiệm làm việc được đào tạo trong các cơ sở đào tạo Đội ngũ này đáp ứng đòi hỏi của thị trường lao động về trình độ, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng miền, trong đó có cả việc đáp ứng thị trường lao động của các nước có nhu cầu ở khu vực và thế giới

Đặc trưng nổi bật của hệ thống dạy nghề là tập trung đào tạo người lao động có kĩ năng, kĩ xảo hành nghề trên cơ sở nắm vững lí thuyết Do đó vấn

đề dạy thực hành, luyện tập kĩ năng là những hoạt động cốt lõi trong quá trình đào tạo nghề Muốn vậy, việc trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho dạy

- học nghề là hết sức quan trọng Đồng thời cần có sự trợ giúp của các cơ sở sản xuất - dịch vụ về trang thiết bị và đội ngũ cán bộ kĩ thuật tham gia vào quá trình đào tạo Chính thông qua mối quan hệ này mà hệ thống dạy nghề có thể đáp ứng yêu cầu và tác động mạnh tới thị trường lao động bằng việc cung cấp người lao động kĩ thuật, chất lượng cao

Sức mạnh của hệ thống dạy nghề và chất lượng đào tạo cao là sự đảm bảo hoạt động có hiệu quả của thị trường lao động Đó cũng là cơ sở để thị trường lao động có thể thực hiện được các quy luật cung cầu, quy luật giá trị

và quy luật cạnh tranh

* QLHCNN là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã

Trang 22

hội theo luật pháp Quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật và tổ chức đời sống xã hội theo pháp luật Quyền hành pháp thể hiện bởi các thẩm quyền:

- Lập quy được thực hiện bằng việc ra các văn bản quy phạm pháp luật

cơ quan trong hệ thống chính phủ từ trung ương đến cơ sở tiến hành, để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ

xã hội, duy trì trật tự pháp luật, thoả mãn những nhu cầu chính đáng của nhân dân" Cần chú ý: các cơ quan quyền lực nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, tư pháp không thuộc hệ thống QLHC nhưng trong cơ chế vận hành bộ máy cũng

có công tác hành chính như chế độ công vụ, quy chế công vụ, quy chế công chức, công tác tổ chức cán bộ .Phần công tác hành chính của cơ quan này cũng tuân thủ những quy định thống nhất của nền hành chính nhà nước

Toàn diện là: Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ Tuy nhiên, các cơ quan hành chính nhà nước chỉ điều chỉnh các kế hoạch hoạt động do luật định

Trang 23

Bằng pháp luật là: QLHCNN được sử dụng pháp luật như một công cụ chủ yếu để xử lý hành vi của khách thể theo luật định một cách nghiêm minh

1.1.4.2 Tính chất và các nguyên tắc QLHCNN

a Tính chất của QLHCNN

- Tính lệ thuộc vào chính trị: nền hành chính nhà nước luôn phụ thuộc vào chính trị, phục tùng và phục vụ chính trị Nhà nước nào cũng do một Đảng lãnh đạo, do đó bản chất của nhà nước phụ thuộc vào bản chất của Đảng cầm quyền Đảng vạch ra đường lối, chủ trương và chương trình mục tiêu để phát triển xã hội Các cơ quan nhà nước thể chế hoá đường lối chính trị của Đảng thành văn bản pháp luật và các quyết định quản lý, tổ chức và điều chỉnh toàn bộ các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người

- Tính pháp quyền: Đặc trưng của nhà nước là nhà nước nắm lấy pháp luật và tự đặt mình dưới pháp luật QLHCNN phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, hoạt động trên cơ sở luật và để thi hành luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

- Tính hệ thống, thứ bậc chặt chẽ: Nền hành chính nhà nước là hệ thống thông suốt từ trên xuống dưới, cần phải thực hiện nghiêm túc chế độ quyền lực, trực thuộc theo thứ bậc: Nhân viên phục tùng thủ trưởng, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng trung ương

- Tính liên tục tương đối ổn định và thích ứng: Nhiệm vụ hành chính phục vụ công vụ và công dân là việc hàng ngày, thường xuyên nên cơ cấu tổ chức và hoạt động của nó phải liên tục với đội ngũ công chức ổn định QLHCNN phải thích ứng với mọi thay đổi của các điều kiện tự nhiên, xã hội

và quốc tế (xu hướng hội nhập quốc tế)

- Tính chuyên môn hoá nghề nghiệp cao: Công chức hành chính là nghề nên phải đào tạo theo ngạch với trình độ kiến thức tương ứng với chức vụ, phải qua thi tuyển trước khi tuyển dụng và bổ nhiệm

- Tính không vụ lợi: Nền hành chính nhà nước có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công và lợi ích của công dân Mọi hoạt động trong hệ thống hành chính

Trang 24

nhà nước đều mang tính chất phục vụ chứ không theo đuổi động cơ lợi nhuận

Do đó hành chính nhà nước phải vô tư, công tâm, trong sạch Công chức phải

"cần - kiệm - liêm - chính - chí công vô tư"

- Đảng lãnh đạo thông qua công tác cán bộ

- Đảng lãnh đạo QLHCNN nhưng không làm thay các cơ quan nguyên tắc

* Nguyên tắc nhân dân tham gia QLHCNN

- Sự tham gia của nhân dân (cá nhân hoặc tập thể) vào quyền lực chính trị là một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ Do đó phải xây dựng một cơ chế bảo đảm thu hút đông đảo nhân dân tham gia QLHCNN

- Nhân dân có quyền tham gia QLHCNN một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

Trang 25

- Quyền tham gia trực tiếp thể hiện ở chỗ nhân dân được tham gia phúc quyết những vấn đề lớn của đất nước và đóng góp ý kiến xây dựng Luật, kể

cả Hiến pháp

- Quyền tham gia gián tiếp thể hiện ở chỗ nhân dân bầu ra các cơ quan dân chủ (Quốc hội, HĐND các cấp), các cơ quan này lại bầu ra các cơ quan QLNN (Chính phủ, UBND các cấp); đồng thời nhân dân còn tham gia QLHCNN một cách gián tiếp thông qua tổ chức chính trị - xã hội

- Để thực hiện được nguyên tắc này phải thực hiện đúng phương châm

"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" và thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ cơ sở

* Nguyên tắc tập trung dân chủ

- Tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng chỉ đạo mọi tổ chức hoạt động, sinh hoạt nội bộ và phong cách làm việc của các cơ quan nhà nước

- Tập trung dân chủ là Nhà nước phải giữ quyền thống nhất quản lý những vấn đề cơ bản ở cấp trung ương, đồng thời phải giao quyền hạn và trách nhiệm giải quyết cho các địa phương, các ngành, tức là thực hiện phân cấp quản lý cho các cấp các ngành

Trong tổ chức và hoạt động QLHCNN, hai mặt tập trung và dân chủ là một hệ thống nhất không đối lập, hạn chế nhau

* Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ

Đây là nguyên tắc chung cho QLNN đối với mọi lĩnh vực

- Quản lý ngành: là sự chỉ đạo chuyên môn theo ngành dọc từ Bộ - Sở - Phòng - Đơn vị

- Quản lý theo lãnh thổ là quản lý theo cấp hành chính Quản lý ngành có chức năng, nhiệm vụ riêng, nhưng nó lại diễn ra trên một địa bàn cụ thể nên phải xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả

c Nội dung hoạt động QLHCNN

Trang 26

Nội dung hoạt động QLHCNN được cụ thể hoá thông qua các mục tiêu, chức năng hoạt động cụ thể của từng cơ quan hành chính nhà nước, từng cấp, từng ngành và toàn hệ thống hành chính nhà nước Các cơ quan hành chính nhà nước với quyền hạn, thẩm quyền xác định, với cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức tương ứng thực hiện chức năng hành pháp trong hành động trên các lĩnh vực và các mặt chủ yếu sau:

- QLHCNN về kinh tế (quản lý các ngành kinh tế - kỹ thuật, dịch vụ), văn hoá, y tế, GD, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh

- QLHCNN về tài chính, ngân sách nhà nước, kế toán, kiểm toán, thống

kế, chứng khoán, ngân hàng - tín dụng, bảo hiểm, công sản

- QLHCNN về khoa học, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và môi trường

- QLHCNN về tổ chức bộ máy hành chính

d Các công cụ QLHCNN

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn mà Nhà nước

đã giao, các cơ quan hành chính nhà nước phải có các công cụ chủ yếu sau:

* Công sở

Là trụ sở làm việc của cơ quan hành chính nhà nước, nơi lãnh đạo công chức và nhân viên thực thi công vụ, là nơi giao tiếp đối nội, đối ngoại, là nơi ban hành các quyết định hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người

* Công chức

Trang 27

Là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Điều 1 - Pháp lệnh cán bộ, công chức 26/2/1998)

e Hình thức QLHCNN: 3 hình thức

* Ra văn bản pháp quy

- Các cơ quan hành chính và các công chức lãnh đạo trong hoạt động QLHCNN đều ban hành các quyết định hành chính bằng chữ viết, bằng lời nói, bằng dấu hiệu, ký hiệu

- Văn bản pháp quy là một quyết định mang tính quy phạm pháp luật được ghi thành chữ viết, để cho các khách thể quản lý căn cứ vào đó thực hiện

và là chứng cứ để cơ quan hành chính và công chức lãnh đạo kiểm tra các khách thể có thực hiện đầy đủ và đúng luật không, tuỳ theo đó mà truy cứu trách nhiệm, hoặc xử lý theo pháp luật

* Hình thức hội nghị

- Hội nghị là hình thức tập thể lãnh đạo ra quyết định, hội nghị bàn công việc để có các nghị quyết hội nghị Cách nghị quyết này phải thể hiện được bằng văn bản mới có đầy đủ tính pháp lý

- Trong hoạt động QLHCNN, hội nghị là hình thức cần thiết và quan trọng Cần phải tổ chức hội nghị theo phương thức khoa học để tốn ít thời gian đạt hiệu quả cao

* Hình thức hoạt động thông tin điều hành bằng phương tiện kỹ thuật hiện đại

Trang 28

Theo hình thức này, máy móc có thể thay thế lao động chân tay và cả lao động trí óc cho công chức hành chính Hình thức này hiện nay đang phát triển mạnh trong các cơ quan nhà nước; sử dụng điện thoại, máy ghi âm, ghi hình, máy vi tính, internet Nói chung, công nghệ thông tin đang được sử dụng vào tác nghiệp điều hành QLNN

g Phương pháp QLHCNN

- Phương pháp QLHCNN là các biện pháp điều hành để đảm bảo việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của cơ quan và công chức lãnh đạo trong cơ quan hành chính nhà nước

- Các phương pháp QLHCNN mang tính quyền lực nhà nước nên chúng phải phù hợp với pháp luật Việc lựa chọn phương pháp nào hoặc kết hợp giữa các phương pháp ra sao là tuỳ thuộc vào điều kiện chủ quan và khách quan, vào trình độ năng lực và nghệ thuật quản lý lãnh đạo, nhưng nhất thiết không được trái với pháp luật, với cơ chế quản lý hiện hành và với nguyên tắc tập trung dân chủ trong QLHCNN

* Nhóm phương pháp của các khoa học khác được sử dụng trong QLHCNN

- Phương pháp kế hoạch hoá

Trang 29

Trong bốn phương pháp trên, theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay thì phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức nổi lên hàng đầu, phải làm thường xuyên, liên tục và nghiêm túc Phương pháp tổ chức là hết sức quan trọng có tính khẩn cấp Phương pháp kinh tế là cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động QLHCNN Phương pháp hành chính rất cần thiết

và khẩn trương, nhưng phải sử dụng một cách đúng đắn

1.1.4.3 Bộ máy và cơ quan hành chính nhà nước

a, Bộ máy hành chính nhà nước

- "Bộ máy hành chính nhà nước" là cách gọi ẩn dụ bắt nguồn từ quan điểm của nhà lý luận thuộc trường phái cổ điển xem tổ chức như một cỗ máy Ngày nay, thuật ngữ "Bộ máy hành chính nhà nước" được sử dụng thông dụng trong khoa học hành chính cũng như trong thực tiễn QLNN, mặc dù nó không được hiểu như nguyên nghĩa ban đầu Khi nghiên cứu tổ chức nhà nước, người ta mô tả hệ thống các tổ chức hành chính nhà nước là bộ máy hành chính nhà nước với mạng lưới chi tiết các bộ phận có chức năng, nhiệm

vụ được xác định rõ ràng, liên hệ với nhau theo một trật tự thứ bậc và trong hệ thống truyền đạt, điều phối, kiểm tra việc QLNN

- ở nước ta, bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức ra để thực hiện quyền hành pháp (thi hành pháp luật) Để thi hành pháp luật, bộ máy hành chính nhà nước có quyền lập quy và quyền hành chính [2]

+ Quyền lập quy là quyền được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của luật ban hành văn bản, quy phạm pháp luật (1996) nhằm hướng dẫn thi hành hay cụ thể hoá các quy định của văn bản pháp luật hoặc điều chỉnh quan hệ xã hội mà luật chưa có quy định

+ Quyền hành chính là quyền tổ chức ra bộ máy quản lý, sắp xếp nhân

sự, điều hành công việc, sử dụng nguồn tài chính và công sản để thực hiện những chính sách của đất nước Đó là quyền tổ chức quản lý, điều hành

Trang 30

thường xuyên, hàng ngày mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng đối ngoại theo quy định của pháp luật

- Để đảm bảo cho bộ máy hành chính được thông suốt từ trung ương đến các cơ sở, hệ thống hành chính nhà nước được chia ra: Một là, bộ máy hành chính trung ương, hoặc cũng có thể gọi là bộ máy hành chính nhà nước, tức là

bộ máy của Chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ có vai trò quản lý nền hành chính toàn quốc; Hai là, bộ máy hành chính địa phương, bao gồm toàn

bộ các cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương nhằm thực thi nhiệm vụ QLHCNN tại địa phương

+ Bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức như vậy vừa đảm bảo tuyến quyền lực theo chiều dọc, và tuyến quyền lực theo chiều ngang; vừa đảm bảo

sự kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ cũng như tính thứ bậc trong hệ thống hành chính xuyên suốt từ trung ương đến địa phương

+ Bộ máy hành chính nhà nước tại địa phương ở nước ta là UBND các cấp - cơ quan chấp hành của HĐND chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp

Như vậy, bộ máy hành chính nhà nước là thuật ngữ dùng để chỉ: Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước hợp thành chỉnh thể thống nhất chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ và UBND các cấp, các sở, phòng, ban, cơ quan trực thuộc của UBND, có chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định, được tổ chức theo một trật tự thứ bậc và hoạt động trong mối quan hệ truyền đạt, điều phối, kiểm tra, để thực hiện quyền hành pháp và quản lý, điều hành mọi mặt đời sống xã hội của một quốc gia

b Cơ quan hành chính nhà nước

Trong thực tiễn và trong khoa học đã xuất hiện nhiều cách hiểu và sử dụng khác nhau về thuật ngữ cơ quan hành chính nhà nước Trên cơ sở cách tiếp cận khác nhau, có thể kể ra một số cách hiểu chủ yếu như sau:

Trang 31

Trong các từ điển tiếng Việt có những giải thích như sau [2]:

- Cơ quan hành chính nhà nước là tổ chức cấu thành hệ thống hành chính nhà nước thống nhất, nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành của nhà nước Cơ quan hành chính nhà nước giữ vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước, có mối liên hệ chặt chẽ với các cơ quan nhà nước khác đồng thời là hệ thống thống nhất, trong đó, các cấp, các bộ phận có liên hệ hữu cơ với nhau và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ

- Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, trong phạm vi thẩm quyền của mình thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành và tham gia vào các quan hệ quản lý nhân danh quyền lực nhà nước [1]

- Trong giáo trình QLHCNN, thuật ngữ cơ quan hành chính nhà nước cũng được xác định "là một bộ phận của bộ máy nhà nước, do nhà nước lập ra

để thực hiện chức năng hành pháp và hành chính nhà nước" [37]

Như vậy, cơ quan hành chính nhà nước là thuật ngữ được sử dụng khi nói về một bộ phận (cơ quan) cấu thành của bộ máy hành chính nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện chức năng quản lý, điều hành (chức năng hành pháp) đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

1.2 Quản lý nhà nước về dạy nghề

1.2.1 Vai trò, vị trí của dạy nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

* Bối cảnh quốc tế

Toàn cầu hoá kinh tế đang là xu thế khách quan, tạo cơ hội phát triển nhưng cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố bất bình đẳng, khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam Cạnh tranh giữa các quốc gia về kinh tế - thương mại, kỹ thuật - công nghệ ngày càng quyết liệt; lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của AFTA và WTO,

Trang 32

nên cạnh tranh về lao động không chỉ diễn ra ở thị trường khu vực và thế giới

mà còn diễn ra ngay ở thị trường lao động trong nước Đây là thách thức lớn đối với dạy nghề và đòi hỏi dạy nghề phải đổi mới để đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới phát triển với tốc độ nhanh và có bước nhảy vọt Với việc sử dụng ngày càng nhiều kỹ thuật, công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại, nhiều ngành nghề mới sẽ ra đời đòi hỏi dạy nghề phải thường xuyên bổ sung, cập nhật hoàn thiện các chương trình dạy nghề hoặc xây dựng các chương trình dạy nghề mới để đào tạo đội ngũ nhân lực kỹ thuật trực tiếp làm việc với kỹ thuật, công nghệ mới đó

* Bối cảnh trong nước

Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, nước ta đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH và hướng tới nền kinh tế tri thức với nhiều thuận lợi và không ít khó khăn, thách thức phải vượt qua Nhân tố quyết định thắng lợi là con người Việt Nam phát triển toàn diện và nguồn nhân lực được đào tạo với chất lượng cao Để thực hiện mục tiêu đó, nền giáo dục Việt Nam cần được phát triển theo hướng chuẩn hoá, HĐH và xã hội hoá Đặc biệt coi trọng đào tạo nguồn nhân lực theo các chuẩn trình độ quốc gia, khu vực và quốc tế; đảm bảo sự cân đối, hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng miền, nhằm đáp ứng sự nghiệp CNH - HĐH đất nước và tạo năng lực hoà nhập với thị trường lao động quốc tế [49, tr 8]

Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt tốc độ tăng trưởng cao,

cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng CNH Các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các ngành kinh tế mũi nhọn ngày càng phát triển, đầu tư trong nước và quốc tế thời gian qua và dự kiến trong thời gian tới ngày càng tăng, kỹ thuật, công nghệ mới được đưa

Trang 33

vào sản xuất ngày càng nhiều, đòi hỏi nguồn nhân lực phải tăng về số lượng

và chất lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề đào tạo và cơ cấu trình độ đào tạo Hiện tại, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở nước ta còn thấp (khoảng 20% năm 2006) chưa đáp ứng kịp nhu cầu ngày càng tăng của thị trường lao động, nhất là lao động kỹ thuật có trình độ cao, đây là một trong những thách thức lớn để phát triển nền kinh tế nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Bảng 1.1 Dự báo dân số và số người trong độ tuổi lao động đến năm

2020

(Đơn vị : nghìn người)

2 Dân số trong tuổi lao động

- Tăng thêm sau 5 năm

48.500

83,20

49.500

81,14

50.000

79,74

4 Cơ cấu lao động:

- Nông, lâm, ngư nghiệp

- Công nghiệp, xây dựng

26 - 27%

30%

20-(Nguồn: Uỷ ban Dân số - KHHGĐ; Báo cáo của Chính phủ 2005)

Như vậy, theo dự báo thì mức tăng số lượng tuyệt đối dân số trong tuổi lao động sẽ giảm dần trong giai đoạn 2011 - 2020 do tỷ lệ sinh giảm

Trang 34

nhanh trong những năm 1985 - 1995 Như vậy sức ép về tạo việc làm cho

số lao động mới tăng thêm sẽ giảm dần, nhưng sức ép về lao động có trình

độ và chất lượng cao sẽ tăng lên

Hiện nay cho đến năm 2020 tiếp tục sẽ có nhu cầu lớn về đào tạo nghề

và giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông nghiệp và nông thôn trong quá trình CNH, HĐH và đô thị hoá Hàng năm số lao động trong khu vực nông nghiệp chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và dịch vụ là khoảng một triệu người, số lao động này phải được đào tạo nghề để làm ngành nghề phi nông nghiệp Nếu không chuyển dịch được số lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ thì không thể thực hiện được mục tiêu đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp Mặt khác, trong điều kiện kinh tế hội nhập, nếu chúng ta không chuyển dịch cơ cấu lao động kịp thời theo hướng CNH - HĐH thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và tình trạng kém phát triển, nghèo đói và bất bình đẳng vẫn không được giải quyết Nếu chúng ta không có được nguồn nhân lực có chất lượng cao, phù hợp thì lao động các nước khác sẽ đến làm việc ở Việt Nam trong khi lao động Việt Nam không tìm được việc làm, đó là nghịch lý và là thách thức lớn đối với sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực nói chung và dạy nghề nói riêng

CNH, HĐH và hội nhập phải có đủ lực lượng lao động kỹ thuật, chất lượng cao cho các ngành kinh tế, nhất là các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao như: tin học, tự động hóa, cơ điện tử, chế biến xuất khẩu v.v ; đòi hỏi lao động qua đào tạo trên 70%, trong đó trên 35% có trình

độ trung cấp trở lên, có như vậy các doanh nghiệp mới đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế [4]

Một nghiên cứu cho thấy ở Nhật Bản mới sử dụng 30% năng lực con người, ở ấn Độ chỉ số trên là 5%, nếu có nghiên cứu thì chắc ở Việt Nam còn

Trang 35

thấp Trí tuệ và năng lực của người lao động là vấn đề quan trọng nhất và cần được đầu tư đào tạo và sử dụng có hiệu quả Thực tiễn cho thấy không phải là vốn nhiều hay ít, tài sản nhiều hay ít, cái đó rất cần nhưng quan trọng nhất là biết khai thác, phát huy nguồn nhân lực và trí tuệ của người Việt Nam khi bước vào thế kỷ XXI

1.2.2 Quan điểm, phương hướng chính sách và mục tiêu của nhà nước về dạy nghề

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra chủ trương phát triển dạy nghề giai đoạn 2006 - 2010 là:

“Phát triển mạnh hệ thống GDNN, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho xuất khẩu lao động Mở rộng mạng lưới CSDN, phát triển trung tâm dạy nghề quận huyện Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt: dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề ; tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động học nghề, lập nghiệp Tổ chức dạy nghề, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ sản xuất phù hợp cho nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số ” “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục.” “Mở rộng quy mô dạy nghề, bảo đảm tốc độ tăng nhanh hơn đào tạo đại học, cao đẳng Quy mô tuyển sinh dạy nghề dài hạn tăng 17%/năm.”

Thể chế hoá chủ trương của Đảng về phát triển dạy nghề, Quốc hội đã ban hành Luật Giáo dục - năm 2005, quy định dạy nghề có ba trình độ đào tạo

Trang 36

(sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề); Luật Dạy nghề - năm 2006,

quy định chi tiết về tổ chức, hoạt động của CSDN; quyền và nghĩa vụ của tổ

chức, cá nhân tham gia hoạt động dạy nghề Trong Luật Dạy nghề đã xác định chính sách đầu tư của Nhà nước về phát triển dạy nghề: “Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy nghề, phát triển đội ngũ giáo viên, HĐH thiết bị, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề; tập trung xây dựng một số CSDN tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới; chú trọng phát triển dạy nghề ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đầu tư đào tạo các nghề

thị trường lao động có nhu cầu, nhưng khó thực hiện xã hội hoá”.[4]

1.2.2.1 Quan điểm về dạy nghề

Công tác dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố góp phần quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH - HĐH Đây là vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội - thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Bởi vậy nhà nước cần quan tâm tới việc định hướng, quy hoạch, kế hoạch, đầu tư nguồn lực và quản lý có hiệu quả công tác này

Nhà nước thống nhất quản lý về quy hoạch, cơ cấu, chất lượng đào tạo, thông qua hệ thống tiêu chuẩn nghề, chương trình, giáo trình chuẩn, với từng cấp học, gắn với từng loại bằng, chứng chỉ nghề Cùng với việc mở rộng quy

mô, công tác dạy nghề cần phải lấy chất lượng là mục tiêu cơ bản, đặc biệt là khả năng thực hành nghề Chất lượng đào tạo phải được kiểm định và do người sử dụng đánh giá, thông qua tỷ lệ số học sinh ra trường có việc làm đúng nghề Bởi vậy trước mắt mặc dù sức ép về số lượng, quy mô đào tạo rất lớn, nhưng vẫn tập trung chủ yếu nguồn lực vào kiện toàn, củng cố các CSDN hiện có, việc mở thêm CSDN mới phải làm từng bước, trên cơ sở xây dựng quy hoạch tổng thể, kế hoạch hàng năm

Trang 37

Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá dạy nghề Các cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng, các trường công lập, ngoài công lập, cả quốc tế cần và có điều kiện tham gia vào sự nghiệp này [10, tr 31]

Phát triển GD&ĐT, trong đó có đào tạo nghề là quốc sách hàng đầu Phát triển đào tạo nghề là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH- HĐH, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, cần có nhận thức đúng về vị trí, vai trò của đào tạo nghề và phải được thể hiện bằng các hoạt động cụ thể, toàn diện; bằng việc tăng cường đầu tư, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phát triển đào tạo nghề; bằng việc thể chế hoá các chính sách về đào tạo nghề, đặc biệt là các chính sách đầu tư phát triển, chính sách thu hút, khuyến khích đối với người dạy, người học nghề

Hệ thống đào tạo nghề phải được đổi mới một cách cơ bản và toàn diện

để có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cho sự nghiệp CNH - HĐH và phổ cập nghề cho người lao động (đặc biệt là lao động nông nghiệp, nông thôn) Gắn đào tạo nghề với sản xuất - kinh doanh - dịch vụ, với các chương trình phát triển kinh tế xã hội trong từng ngành, từng vùng và từng địa phương Đào tạo nghề phải xuất phát từ yêu cầu của sản xuất, gắn với tạo việc làm, giảm thất nghiệp và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn

Đào tạo nghề là sự nghiệp của toàn xã hội, do vậy toàn xã hội có trách nhiệm và tham gia vào quá trình phát triển đào tạo nghề Đào tạo nghề đòi hỏi đầu tư và chi phí đào tạo lớn, vì vậy cùng với việc đẩy mạnh xã hội hoá, Nhà nước tăng cường đầu tư trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật, HĐH các CSDN đặc biệt là những CSDN cho những ngành nghề mũi nhọn, trọng yếu của nền kinh

tế quốc dân, cho xuất khẩu lao động và chuyên gia, cho những vùng khó khăn Khuyến khích các doanh nghiệp, mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia phát triển đào tạo nghề

Trang 38

Mở rộng quy mô đào tạo nghề đi đôi với việc chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng chuẩn hoá các điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nội dung chương trình và chuẩn các trình độ đào tạo Đào tạo nghề góp phần phân luồng học sinh sau THCS và PTTH và liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân [50, tr 13]

Dạy nghề có vị trí quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực Vì thế phải

mở rộng quy mô dạy nghề, đồng thời đáp ứng nhu cầu thay đổi nghề để thích ứng với công nghệ mới và nhu cầu của thị trường lao động Khâu đào tạo nghề cho thanh niên đang là một đòi hỏi rất cấp bách Vì thế, cần phát triển nhiều hình thức dạy nghề, đồng thời hình thành một mạng lưới dạy nghề rộng khắp

1.2.2.2 Phương hướng chính sách và mục tiêu của Nhà nước về dạy nghề

Hội thảo về Chiến lược phát triển đào tạo nghề do Ban khoa giáo trung ương và Bộ LĐ-TB&XH tổ chức là việc làm hết sức cần thiết, góp phần cụ thể hoá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 đã được Đại hội

IX của Đảng thông qua [41, tr 1]

- Một số căn cứ để xây dựng chiến lược đào tạo nghề giai đoạn 2001 - 2010:

+ Khi nghiên cứu, xây dựng chiến lược trước hết cần phải quan tâm đến khái niệm, cấu trúc và sự vận hành của cấu trúc Đào tạo nghề phải được hiểu rộng hơn và phải được coi là sự nghiệp của toàn xã hội Đào tạo nghề không chỉ bó hẹp trong các trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề, các lớp dạy nghề mà còn được thực hiện rộng rãi trong sản xuất, trong cộng đồng, trong các xã, bản, làng, và là công việc của toàn xã hội Chiến lược đào tạo nghề phải huy động cao nhất sức mạnh của toàn xã hội tham gia đào tạo nghề + Chiến lược phát triển đào tạo nghề phải xuất phát từ chiến lược phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn vốn quý nhất của đất nước và phải được phát huy không ngừng và không giới hạn Vì vậy, phải có chính sách phát huy cao nhất trí tuệ, năng lực của người lao động, phải phấn đấu

Trang 39

cho sự toàn dụng lao động, người lao động có quyền được học tập và quyền được làm việc

- Chiến lược phát triển đào tạo nghề được hoạch định trên cơ sở những căn cứ khoa học, có sự phối hợp của các cấp, các ngành, các địa phương sẽ có khả năng thực thi đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước

và góp phần thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đề ra

Vì vậy khi xây dựng chiến lược cần có sự tham gia, phối hợp giữa các ban của Đảng, cơ quan QLNN, các tổ chức quần chúng, các tổ chức xã hội, các nhà khoa học và những người làm công tác quản lý, chỉ đạo thực tiễn [49, tr 10]

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 - 2010 đã định hướng cho phát triển nguồn nhân lực Việt Nam với mục tiêu: "Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và CNKT lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế" [6, tr 10]

Với quan niệm đầy đủ về nguồn nhân lực, chiến lược phát triển giáo dục

2001 - 2010 đã đề cập khá đầy đủ các nội dung và mục tiêu cụ thể cho từng cấp bậc học Những chỉ tiêu về giáo dục phổ thông, GDNN và giáo dục đại học trình bày trong bản chiến lược đã thể hiện rõ bước đi thích hợp từ nay tới năm 2010 và tiếp theo trong bối cảnh phát triển nền giáo dục Việt Nam

Nội dung phát triển nguồn nhân lực đã bao hàm khá rõ trong mục tiêu phát triển các cấp, bậc học, trình độ và loại hình giáo dục sau đây " Tăng cường chất lượng và hiệu quả, tiếp tục mở rộng quy mô các cấp, bậc học và trình độ đào tạo, phù hợp với cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền của nhân lực Nâng tỉ lệ lao động đã qua đào tạo ở các trình độ vào năm

2010 đạt 40%, trong đó từ cao đẳng trở lên 6%, THCN 8%, CNKT 26%, thực hiện phổ cập THCS trong cả nước [49, tr 10]

Trang 40

Ngày 11/4/2002 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 48/QĐ-TTg phê duyệt "Quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề", đây là một quyết định rất quan trọng, khẳng định từ nay đến năm 2010 công tác dạy nghề được đặt trên

"đường ray" nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH, từng bước nâng cao chất lượng dạy nghề, tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề, khắc phục những bất hợp lý về cơ cấu nhân lực; tạo cơ hội cho đông đảo người lao động được trang bị những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực tiếp thu công nghệ mới để tự tạo việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập nghiệp Quy hoạch mạng lưới dạy nghề dựa trên chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của từng ngành, từng vùng kinh tế và từng địa phương; điều chỉnh hợp

lý cơ cấu ngành nghề, trình độ vùng miền; mở rộng qui mô đào tạo trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả, kết hợp giữa dạy nghề và tạo việc làm; Đảm bảo tính kế thừa và phù hợp với khả năng đầu tư của Nhà nước, của toàn xã hội; đẩy mạnh xã hội hoá; khuyến khích phát triển các CSDN ngoài công lập,

cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài; mở rộng đào tạo CNKT, kĩ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiều trình độ; liên thông giữa các ngành nghề, các trình độ đào tạo nghề và với các trình độ đào tạo khác trong hệ thống giáo dục quốc dân Trong quy hoạch này, Chính phủ đã cho phép hình thành hệ thống đào tạo kĩ thuật thực hành thực hiện các chương trình dạy nghề ngắn hạn dưới một năm và dài hạn từ một đến ba năm với 3 cấp trình độ bao gồm: Bán lành nghề: được trang bị một số kiến thức và kỹ năng nghề nhất định; Lành nghề: được trang bị kiến thức và kĩ năng nghề diện rộng hoặc chuyên sâu, có khả năng đảm nhận những công việc phức tạp; Trình độ cao: được trang bị kỹ năng nghề thành thạo và kiến thức chuyên môn kĩ thuật cần thiết dựa trên nền học vấn THPT hoặc THCN để có khả năng vận hành các thiết bị hiện đại và

xử lý được các tình huống phức tạp, đa dạng trong dây chuyền sản xuất tự động, công nghệ hiện đại Hệ thống đào tạo kĩ thuật thực hành với 3 cấp trình

Ngày đăng: 16/03/2015, 18:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban tổ chức cán bộ Chính phủ - Học viện Hành chính quốc gia (2004). Những vấn đề cơ bản về nhà nước, QLHCNN và một số văn bản pháp luật, pháp quy liên quan đến quản lý cán bộ công chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban tổ chức cán bộ Chính phủ - Học viện Hành chính quốc gia (2004)
Tác giả: Ban tổ chức cán bộ Chính phủ - Học viện Hành chính quốc gia
Năm: 2004
4. Bộ LĐ-TB&XH. Dự thảo Đề án Đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020. Hà Nội, 10 - 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ LĐ-TB&XH. "Dự thảo Đề án Đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020
5. Chính phủ. Đề án Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD giai đoạn 2005 - 2010. 01/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ. "Đề án Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD giai đoạn 2005 - 2010
6. Chính phủ. Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ
7. Chính phủ. Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002 - 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ
11. Quốc hội. Luật DN. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội. "Luật DN
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
12. Quốc hội. Luật GD. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội. "Luật GD
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
13. Sở LĐ-TB&XH Hà Nội. Báo cáo thực hiện kế hoạch đào tạo nghề 2001- 2005 và xây dựng kế hoạch giai đoạn 2006 - 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở LĐ-TB&XH Hà Nội
14. Sở LĐ-TB&XH Hà Nội. Báo cáo đánh giá thực trạng dạy nghề giai đoạn 2001 - 2006 kế hoạch giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng năm 2020.Số 439/SLĐTBXH-QLĐTN ngày 04 tháng 5 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở LĐ-TB&XH Hà Nội. "Báo cáo đánh giá thực trạng dạy nghề giai đoạn 2001 - 2006 kế hoạch giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng năm 2020
15. Sở LĐ-TB&XH Hà Nội. Kế hoạch ĐTN giai đoạn 2006 - 2010. Số 898/SLĐTBXH-QLĐTN ngày 30/8/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở LĐ-TB&XH Hà Nội. "Kế hoạch ĐTN giai đoạn 2006 - 2010
16. Sở LĐ-TB&XH Hà Nội. Báo cáo Xã hội hóa 5 năm (2001 - 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở LĐ-TB&XH Hà Nội
17. Sở LĐ-TB&XH Thành phố Hồ Chí Minh. QLNN về dạy nghề tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc san Đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển nhân lực.Hội nghị dạy nghề 6/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở LĐ-TB&XH Thành phố Hồ Chí Minh. "QLNN về dạy nghề tại Thành phố Hồ Chí Minh
19. Trường cán bộ quản lý GD&ĐT - Bộ GD&ĐT. Phần III - QLNN về GD&ĐT. Chương trình dùng cho cán bộ quản lý trường đại học, cao đẳng, quyển II, Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường cán bộ quản lý GD&ĐT - Bộ GD&ĐT. "Phần III - QLNN về GD&ĐT
20. Trung tâm thông tin và tư vấn phát triển - Hội khoa học kinh tế Việt Nam. GD Việt Nam 1945 - 2005. Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung tâm thông tin và tư vấn phát triển - Hội khoa học kinh tế Việt Nam. "GD Việt Nam 1945 - 2005
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
21. UBND Thành phố Hà Nội. Quyết định số 05/2003/QĐ-UB ngày 9/1/2003 của UBND Thành phố Hà Nội về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới trường học Thủ đô Hà Nội đến năm 2010 và định hướng đến năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND Thành phố Hà Nội
22. Viện chiến lược và Chương trình GD. Kỷ yếu Hội thảo GD Việt Nam và việc gia nhập WTO. Hà Nội, 11/2005.B. tác giả, tác phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện chiến lược và Chương trình GD. "Kỷ yếu Hội thảo GD Việt Nam và việc gia nhập WTO
23. Nguyễn Văn Anh. Mô hình phối hợp trong đào tạo nghề - Kinh nghiệm của một số nước ở châu á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Anh
24. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng. GD Việt Nam hướng tới tương lai - Vấn đề và giải pháp. Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng. "GD Việt Nam hướng tới tương lai - Vấn đề và giải pháp
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
25. Đặng Quốc Bảo(2003). Phát triển nhà trường. " Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (tài liệu phục vụ lớp cao học QLGD) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2003
26. Nguyễn Quốc Chí (2003). Những cơ sở của lý luận QL GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quốc Chí (2003)
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Các từ viết tắt - Các giải pháp tăng cường quản lí nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn Hà Nội hiện nay
ng Các từ viết tắt (Trang 7)
Bảng 1.1 Dự báo dân số và số người trong độ tuổi lao động đến năm  2020 - Các giải pháp tăng cường quản lí nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Bảng 1.1 Dự báo dân số và số người trong độ tuổi lao động đến năm 2020 (Trang 33)
Sơ đồ 2.1: Hệ thống Dạy nghề theo Luật Giáo dục 2005   và Luật Dạy nghề năm 2006 - Các giải pháp tăng cường quản lí nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Sơ đồ 2.1 Hệ thống Dạy nghề theo Luật Giáo dục 2005 và Luật Dạy nghề năm 2006 (Trang 45)
Bảng 2.1 Phân tích phân bổ kinh phí theo các năm - Các giải pháp tăng cường quản lí nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Bảng 2.1 Phân tích phân bổ kinh phí theo các năm (Trang 56)
Bảng 3.1: Tính cần thiết và khả thi của các giải pháp - Các giải pháp tăng cường quản lí nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Bảng 3.1 Tính cần thiết và khả thi của các giải pháp (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w